Tìm Hiểu Ý Nghĩa Lễ Dâng Y Kathina

Thứ tư - 28/11/2012 11:29
Tìm Hiểu Ý Nghĩa Lễ Dâng Y Kathina

Tìm Hiểu Ý Nghĩa Lễ Dâng Y Kathina

ĐĐ. TS. Giác Hạnh nói về ý nghĩa Lễ Dâng Y Kathina.

 

Dẫn nhập:

Trong cuộc đời này không có chuyện gì xảy ra mà không có nguyên nhân. Thế gian thường có câu ngạn ngữ ở cửa miệng: “Không có lửa làm sao có khói”. Trong Phật giáo lại càng chú tâm về vấn đề này hơn, có nghĩa là luôn quan tâm về nhân quả của một vấn đề, có quả trong hiện tại đương nhiên là đã có nhân trong quá khứ. Trong ý nghĩa ấy, hôm nay chư Phật tử của chúng ta tại Việt Nam nói riêng và Phật tử trên khắp thế giới nói chung đang tưng bừng hân hoan tổ chức ngày đại lễ dâng y Kathina và chắc chắn rằng sự kiện tuyệt vời này đã có nguyên nhân từ ngàn xưa để lại, tạm thời chúng ta có thể kể từ khi đức Thế Tôn còn tại thế cho đến hôm nay và mãi mãi về sau cho đến khi nào mà Giáo pháp (Buddha Sāsana) của đức Từ Phụ Thích Ca vẫn còn thịnh hành trên thế gian này. Và cũng chính vì nguyên nhân đó có rất nhiều ngôi chùa theo truyền thống Nguyên Thủy trên khắp năm châu đang tưng bừng hoan hỷ cử hành đại lễ dâng y Kathina trong giờ phút thiêng liêng này. Với ý nghĩa cao thượng và tuyệt vời của đại lễ dâng y Kathina tôi xin mạo muội mời quý độc giả cùng tôi nhẹ bước lướt vào phần kế tiếp dưới đây để tìm hiểu nguyên nhân, ý nghĩa và lợi ích về đại lễ dâng y Kathina rất trang trọng và linh thiêng trong truyền thống Nguyên Thủy đã được Như Lai chỉ dạy và cho phép cử hành trên hai mươi lăm thế kỷ qua.

Nguyên nhân nào khiến cho đại lễ dâng y Kathina này được tổ chức hằng năm?

Vào thời đức Thế Tôn còn tại thế, có ba mươi chàng hoàng tử sống tại xứ Pàveyyaka, người mà đã trở thành những vị tu sĩ sau khi gặp và lắng nghe Giáo pháp của Như Lai. Tương truyền rằng,  sau khi trở thành bậc giác ngộ khoảng tầm một năm, đức Thế Tôn  đã đi đến khu rừng Ưu-lâu-tầng-loa (Uruvela), và trong khi nghỉ chân dưới một gốc cây cổ thụ trong rừng ấy, có ba mươi chàng hoàng tử cùng đi với những người vợ của họ vào rừng để hưởng lạc của tuổi thanh xuân đầy nhựa sống và hiếu kỳ. Trong khi họ đang hội hè, vui chơi đình đám, thì có một người vợ mà họ thuê đi chơi trong chuyến du ngoạn này chứ không phải người vợ chính thức cưới hỏi như hai mươi chín người vợ kia đã có chủ tâm và ăn cắp toàn bộ trang sức, châu báu của họ và đã trốn mất về xứ nào không một ai hay biết. Thế rồi, ba mươi chàng hoàng tử này sau khi phát giác ra thì liền đi tìm cô ấy, trên đường đi họ được gặp đức Thế Tôn, Ngài hỏi họ các con đi đâu mà vội vàn vậy? Họ trả lời với Ngài rằng:  “Thưa Ngài chúng con đang đi tìm người đàn bà, người mà đã cướp đi tất cả những đồ trang sức và y phục của chúng con.”

Nhân đây, đức Thế Tôn hỏi họ: “Này các hoàng tử, các con đi tìm người đàn bà kia lợi ích hơn hay là đi tìm chính các con thì lợi ích hơn?” Tuyệt thay, những chàng hoàng tử này Ba-la-mật (pàramì) đã chín muồi, cho nên họ trả lời  với đức Thế Tôn rằng: “Tìm chính chúng con là lợi ích hơn, thưa Ngài.” Nhân cơ hội vàng son ấy, đức Thế Tôn nói: “Nếu tìm chính các con là lợi ích hơn thì Như Lai sẽ thuyết cho các con một bài pháp.” Sau khi bài pháp của Ngài được chấm dứt, ba mươi chàng hoàng tử này đều chứng đắc Tu-đà-hoàn (sotapanna). Đức Thế Tôn gọi Ehibhikkhu (thiện lai tỳ khưu), này hỡi các con, các con sẽ trở thành những vị tỳ kheo y như nguyện ước. Sau khi  Ngài vừa dứt lời tất cả ba mươi chàng hoàng tử này đã trở thành ba mươi vị tỳ khưu với y phục, bình bát và những dụng cụ thường dùng của một vị tu sĩ tự nhiên sẵn sàng đầy đủ cho ba mươi vị tỳ kheo này. Thế rồi, ba mươi vị tỳ kheo này từ giả đức Thế Tôn và bắt đầu thực hành những hạnh tu đầu đà: như sống trong rừng sâu; đi khất thực thường ngày; mặc y phấn tảo; chỉ mặc tam y v.v… Họ sống trong rừng sâu suốt thời gian khoảng mười ba năm trường. Trong cuối năm ấy, khoảng trước mùa hạ thứ mười bốn một vài tháng, họ mong muốn đi đến thăm, đảnh lễ đức Thế Tôn và nhập hạ tại Kỳ Viên Tịnh Xá (Jetavana), trú xứ mà đức Thế Tôn đang sống. Sau khi quyết định, họ bắt đầu khởi hành từ chỗ họ trú ngụ đến thành phố Sāvatthi, nơi mà đức Thế Tôn đang sinh sống. Với một quãng đường quá dài, khoảng bảy mươi hai dặm (six yojanas) kể từ chỗ họ trú ngụ đến kinh thành Xá-vệ. Cho nên họ không đến kịp trước mùa mưa (mùa an cư), vì vậy họ phải vào mùa an cư hay nhập hạ tại một ngôi làng Sàketa.

Ngay sau khi mùa an cư chấm dứt, họ tiếp tục chuyến đi của mình đến Thành phố Xá-vệ nơi mà đức Thế Tôn đang sống. Bởi vì trời mưa quá lớn, cộng thêm bùn lầy trên đường cho nên y phục của những vị tỳ khưu này đã đẫm ước và dính bùn rất là bất tiện khi đến nơi Ngài đang sống. Đến đây, đức Thế Tôn hỏi ba mươi vị tỳ khưu này rằng: “Này chư đệ tử của ta, các con có khoẻ mạnh và hạnh phúc an lành không?” Bạch đức Thế Tôn, sức khoẻ của chúng con rất khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc đều tốt đẹp, và bạch Ngài, chúng con đã sống qua mùa (an cư) mưa có sự hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ nhau, và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực, sống trong tinh thần lục hoà (thân hoà đồng trú, khẩu hòa vô tranh, ý hòa đồng duyệt, lợi hòa đồng quân, giới hòa đồng tu và kiến hòa đồng giải). Nhưng chúng con bị đẫm ước y phục và có phần bị mệt mỏi bởi vì đi đường quá xa.

Thực ra, Ngài hỏi vậy thôi, nhưng Ngài cũng đã biết qua thiên nhãn của Ngài và thấy trực tiếp qua hình ảnh của chư tỳ khưu đã đến từ một quãng đường rất xa, mệt lữ, bất tiện với y phục đẫm ước. Vì lý do này, đức Thế Tôn cho phép tổ chức lễ dâng y Kathina. Sự cho phép này kể từ đó cho đến ngày hôm nay lễ dâng y Kathina được tiếp tục tổ chức hằng năm. Đây là lý do của sự xuất hiện lễ dâng y Kathina.Và người thí chủ dâng y Kathina đầu tiên đến chư Tăng là cô Visakhā.

Danh từ Kathina có nghĩa như thế nào?

Kathina là một danh từ trong ngôn ngữ Pàli hay là Phạn ngữ có rất nhiều nghĩa và rất khó để cắt nghĩa cho chính xác. Nghĩa của nó được cắt tùy theo mỗi tác giả, dịch giả hay là pháp sư khác nhau tùy theo bối cảnh. Như ngài Dhammarakkhita (Hộ Pháp) cắt nghĩa trong cuốn Lễ Dâng Y Kathina là “bền vững”, nhưng ngài Mahasi Sayadaw và ngài Kundalabhivaṁsa Sayadaw, hai vị thiền sư nỗi tiếng ở xứ Miến Điện cắt nghĩa trong cuốn Dhamma Padetha là “thường hằng”. Cho dù những ngài trưởng lão cắt nghĩa khác nhau, nhưng nghĩa nào nó cũng chứa tải một nội dung rất là chính xác. Tuy nhiên, trong bối cảnh này, tác giả xin chọn cái nghĩa  “thường hằng”. Có nghĩa là thường hằng về mặc đó là thời gian và lợi ích.

Như thế nào gọi là thường hằng về thời gian?

Bởi vì lễ dâng y Kathina chỉ được tổ chức trong vòng một tháng (từ 16/09 AL – 15/10 AL) hằng năm. Không thể chuyển đến tháng sau của năm đó. Cho nên gọi là thường hằng trong ý nghĩa dâng y Kathina thuộc về thời gian.

Như thế nào gọi là thường hằng về mặt lợi ích?

Bởi vì có năm điều lợi ích cho những vị tăng mà ở tại trú xứ được tổ chức lễ dâng y Kathina, và năm điều lợi ích này được kéo dài đến năm tháng kể từ ngày 16/09 AL cho đến rằm tháng 2 AL. Và những điều lợi ích này không thể nào chuyển đến thời gian khác. Cho nên gọi là thường hằng thuộc về sự lợi ích. Còn những vị tăng ở nơi tu viện nào mà không có tổ chức lễ dâng y Kathina thì sự ích lợi của họ chỉ được kéo dài một tháng mà thôi.

Năm Sự lợi ích trong lễ dâng y Kathina của vị tỳ kheo và năm sự lợi ích của thí chủ dâng cúng y Kathina:

Vị tăng được thí chủ dâng y Kathina dưới sự chỉ định của chư tăng sẽ được năm điều lợi ích như sau:

a)     Anàmantacàra: đi vào xóm chưa cáo từ vị sư bạn không phạm tội;

b)    Asamàdànacàra: việc ra đi không mang đủ ba y không phạm tội;

c)     Ganabhojana: rủ nhau thành nhóm thọ thực biết trước các món ăn không phạm tội;

d)    Yàvadattacìvara: cất giữ y dư quá mười ngày không phạm tội; và

e)     Yocatatthacivaruppàda: được hưởng bất cứ lợi lộc nào phát sinh tại trú xứ ấy.

Đó là năm điều lợi ích được hưởng cho cả vị thọ nhận y Kathina và những vị tùy hỷ y Kathina.

Thí chủ dâng y Kathina cũng được năm điều lợi ích sau đây:

a)     Thí chủ cúng dường y Kathina có thể đi bất cứ nơi đâu như ý mình đã ước muốn trong mỗi một kiếp không gặp điều chướng ngại gì;

b)    Thí chủ cúng dường y Kathina có thể đi đến bất cứ nơi đâu để thực hiện nhiệm vụ của mình một cách dễ dàng;

c)     Thí chủ cúng dường y Kathina trong mỗi một kiếp sống có thể ăn bất cứ thức ăn nào sẽ tiêu hóa thức ăn dễ dàng;

d)    Thí chủ cúng dường y Kathina trong mỗi một kiếp sống có thể giữ nhiều đồ trang sức khác mà không sợ kẻ cướp cướp lấy; và

e)     Thí chủ cúng dường y Kathina không thể bị ai lấy tài sản của mình đi bằng quyền lực. Trừ trường hợp họ muốn biếu tặng.

Nói tóm lại một vị thí chủ phát tâm dâng y Kathina thì sẽ có những phước báu rất là lớn lao. Tuy nhiên, cho dù phước báu phong phú và dồi dào đến đâu cũng vẫn còn nằm trong Tam giới mà mỗi khi còn nằm trong Tam giới thì vẫn còn sinh tử luân hồi vô tận. Cho nên vẫn còn khổ đau do định luật vô thường, khổ đau và vô ngã chi phối. Chính vì thế đức Thế Tôn đã dạy cho chúng ta hai câu Pháp cú vô cùng tuyệt vời:

“Thân này đẹp tựa bức tranh,

Thế nhưng chứa chất một vành khổ đau

Quán tưởng thấy nhiều khổ sầu

Không phần ổn định có đâu vĩnh hằng.” Pc.147

“Thân này già yếu mỗi giây

Mông mênh sóng nước bệnh dày thân tâm

Khối bất tịnh đổ vỡ dần

Chấm dứt hơi thở chết thần mang đi.” Pc. 148

Qua hai câu Pháp cú tuyệt tác ở trên chúng ta có thể thấu hiểu lời dạy vô cùng thâm thúy và tràn đầy tấm lòng từ bi của đức Thế Tôn đối với tất cả chúng sinh trong Tam giới này. Điều ước mong duy nhất của Ngài là làm sao để cho chúng ta thoát khỏi tấm thân tứ đại. Chính vì thế Ngài khuyên dạy chư Phật tử nên tạo phước thiện càng nhiều càng tốt đặc biệt là phước thiện dâng y Kathina với lời nguyện chân thật là kiếp sau trở thành một vị tỳ kheo tu hành tinh tấn để sớm đọan tận những phiền não ngủ ngầmvà chấm dứt con đường khổ đau sinh tử luân hồi.

“Ca sa oai đức chi bằng

Sắc vàng thanh bạch của hàng Sa Môn

Noi gương từ phụ Thế Tôn

Hoằng khai Giáo pháp tám muôn bốn ngàn

Ngày nay thiện tín các hang

Ca sa đại lễ nghiêm trang cử hành

Dâng y với tấm lòng thành

Ba vòng nhiễu Phật đồng thanh nguyện cầu

Chư Tăng hoan hỷ lãnh thâu

Căn lành gieo giống để hầu mai sau

Nguyện mau thoát khỏi trần lao

Tu hành tinh tấn tiêu dao đạo mầu

Chúc cho Phật pháp bền lâu

Thấm nhuần trăm họ năm châu thạnh hành

Chúc cho cả thảy chúng sanh

Hồi đầu hướng thiện tâm thành quy y

Noi theo gương đấng Từ bi

Xuất gia hành đạo mang y ngồi kề

Tu tâm dưỡng tánh mọi bề

Tham sân đoạn tuyệt bồ đề đến nơi.” KNT

Tại sao cúng dường y Kathina là cao thượng?

Điều này cũng rất dễ hiểu, thông thường vị tu sĩ mỗi khi cần y phục có thể hỏi xin cha mẹ và thân quyến, hoặc cũng có thể hỏi những vị thí chủ mà đã cho phép mình hỏi trước đây nếu như vị ấy mỗi khi cần y phục. Nhưng điều đặc biệt ở đây, y Kathina không thể xin được cho dù đó là cha mẹ, thân quyến hay là những người thiện nam tín nữ mà đã cho phép hỏi trước đây. Đây là lý do tại sao cúng dường y Kathina là cúng dường cao thượng. Mặc khác vị tăng nhận được y Kathina sẽ được năm điều lợi ích như đã đề cập ở trên, và năm điều lợi ích ấy được kéo dài từ một tháng đến năm tháng. Đây là một trong những lý do khiến cúng dường y Kathina là cúng dường cao thượng.Xa hơn nữa, dâng y Kathina chỉ được xảy ra một lần trong năm, trong năm chỉ có một tháng, và trong tháng đó chỉ có một ngày. Và đây cũng là một trong những lý do đặc biệt khiến đức Thế Tôn dạy cúng dường y Kathina là cúng dường rất cao thượng và thanh tịnh.Qua những lời dạy ở trên chúng ta nhận ra rằng cho dù có tiền tỷ mình cũng không mua được cái lễ dâng y Kathina này. Chúng ta không thể nào tổ chức đại lễ dâng y Kathina này vào một tháng khác. Cho nên mới gọi cúng dường y Kathina là cúng dường cao thượng.

Làm sao để đạt được phước báu một cách trọn vẹn trong lễ dâng y Kathina này?

-         Hoan hỷ trong ba thời:

Muốn đạt được phước báu trọn vẹn trong đại lễ dâng y Kathina này, thí chủ dân y Kathina phải phát tâm trong sạch hoan hỷ trong ba thời (tư tiền, tư trung và tư hậu) hay nói cách khác hoan hỷ trước lúc cúng dường, trong lúc cúng dường và sau khi cúng dường. Nếu thí chủ dâng y Kathina có được trạng thái tâm tư như vậy thì phước báu sẽ rất phong phú, dồi dào và vẹn toàn. Không những dâng y Kathina mà ngay cả cúng dường những tấm choàng bình thường cũng phước báu vô lượng vô biên. Nhân đây, xin chia sẻ đến quý độc giả một câu chuyện cúng dường tấm choàng đến đức Thế Tôn để quý vị được tận tường hơn. Chuyện tương truyền rằng, cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm về trước, lúc đức Phật đang ngự tại ngôi chùa Jetavana gần kinh thành Sāvatthi, Ngài thuyết giảng đề cập đến ông Bàlamôn tên Cūḷekasāṭaka vô cùng nghèo khó ở xứ Ấn Độ được tóm lượt như sau:

Trong kinh thành Sāvatthi, có ông Bàlamôn Cūḷekasāṭaka, ông Bàlamôn này chỉ có một tấm choàng. Tấm choàng ấy là tài sản chung của hai vợ chồng ông Bàlamôn. Mỗi khi ông hoặc bà đi ra khỏi nhà, thì mới mặc tấm choàng ấy.

Một hôm, nghe những người thân quyến báo tin rằng đức Phật sẽ thuyết pháp tại ngôi chùa Kỳ Viên (Jetavana), ông Bàlamôn nói với bà Bàlamôn rằng:

Này bà, hôm nay đức Phật thuyết pháp tại ngôi chùa Jetavana, vợ chồng chúng ta chỉ có một tấm choàng, cho nên, chúng ta không thể cùng nhau đi chung được. Vậy bà đi nghe pháp ban ngày hay ban đêm?

Bà Bàlamôn thưa với chồng rằng:

Này ông, tôi sẽ đi nghe pháp ban ngày, còn ông nên đi ban đêm.

Đêm hôm ấy, ông Bàlamôn đi đến ngôi chùa Jetavana, ngồi phía trước đức Phật. Khi nghe đức Phật thuyết pháp, ông liền phát sinh tâm hỷ lạc, có đức tin trong sạch nơi đức Thế Tôn, ông muốn cúng dường đến đức Thế Tôn tấm choàng mà ông đang mặc trên mình. Thế nhưng trong khi ấy, do tâm keo kiệt bủn xỉn gấp ngàn lần phát sinh, nên ông ta nghĩ lại rằng: “Nếu ta cúng dường tấm choàng này đến đức Thế Tôn, thì không chỉ có ta mà còn vợ của ta cũng sẽ không còn tấm nào để mặc nữa”.

Tuy nhiên một lần nữa, đức tin trong sạch nơi đức Thế Tôn lại phát sinh, tiếp theo tâm bủn xỉn keo kiệt ngàn lần lại phát sinh, đè bẹp đức tin ấy. Ông Bàlamôn suy đi xét lại rằng: “Ta có nên cúng dường hay không nên cúng dường tấm choàng này đến đức Thế Tôn?”. Suốt canh đầu đêm đã trôi qua, hễ đức tin phát sinh càng mạnh, thì tâm keo kiệt bủn xỉn cũng phát sinh không thua không kém, tự đấu tranh giằng co giữa đức tin với tâm keo kiệt bủn xỉn; bước sang canh giữa đêm vẫn chưa phân thắng bại. Đến canh chót, ông Bàlamôn suy xét kỹ càng và phân tích rõ ràng rằng: “Đức tin của ta với tâm keo kiệt bủn xỉn tranh đấu giằng co suốt 2 canh rồi, nếu để tâm keo kiệt bủn xỉn tăng trưởng thì nó chỉ dẫn dắt ta sa đọa trong 4 cõi ác giới: Địa ngục, atula, ngạ quỷ, và súc sinh mà thôi”. Suy xét và phân tích rõ ràng như vậy, đức tin trong sạch nơi đức Thế Tôn lại phát sinh mạnh hơn nhiều, lấn lướt được tâm keo kiệt bủn xỉn; ông Bàlamôn liền đưa hai tay cởi tấm choàng đặt dưới bàn chân của đức Thế Tôn, cung kính cúng dường đến Ngài. Ông Bàlamôn vô cùng hoan hỷ sung sướng lên tiếng 3 lần:

“Jitaṃ me! Jitaṃ me! Jitaṃ me!”

“Ta thắng được rồi! Ta thắng được rồi! Ta thắng được rồi!”

Trong khi ấy đức vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) thuộc nước Kiều-tát-la (Kosala) đang ngồi nghe đức Phật thuyết pháp, đức vua truyền gọi vị quan cận thần đến hỏi ông Bàlamôn kia: “Ông thắng ai?”.

Vị quan đến hỏi ông Bàlamôn và biết rõ sự việc, đến tâu lên đức vua. Đức vua nghĩ rằng: “Vị Bàlamôn này làm được việc khó làm, ta nên ban thưởng cho y”.

Đức vua truyền lệnh mang 2 tấm choàng đến để ban thưởng cho ông Bàlamôn. Ông Bàlamôn lại cung kính cúng dường 2 tấm choàng ấy đến đức Thế Tôn.

Thấy vậy, đức vua ban cho ông 4 tấm choàng, ông cũng cung kính cúng dường đến đức Thế Tôn. Cứ như vậy, đức vua ban cho ông 8 tấm choàng, 16 tấm choàng, 32 tấm choàng, 64 tấm choàng. Ông Bàlamôn nghĩ rằng: “Mỗi lần ta cung kính cúng dường hết các tấm choàng đến đức Thế Tôn, đức vua lại ban thưởng cho ta gấp đôi. Vậy lần này ta chỉ cung kính cúng dường đến đức Thế Tôn 60 tấm choàng, còn lại 4 tấm choàng, phần của ta 2 tấm choàng và vợ của ta 2 tấm choàng”.

Đức vua nghĩ rằng: “Vị Bàlamôn này làm được việc khó làm, trong cung điện của ta có 2 tấm gấm quý giá, 100 ngàn đồng kapàpana, ta sẽ ban thưởng đến vị Bàlamôn này”.

Ông Bàlamôn nhận 2 tấm gấm quý giá mà đức vua ban cho ông, ông nghĩ rằng: “Hai tấm gấm quý giá này ta không nên sử dụng, ta chỉ nên cúng dường đến đức Phật cùng chư Đại đức Tăng mà thôi. Vậy, một tấm gấm làm tấm trải chỗ nằm của đức Phật trong cốc Gadhakuṭi, và một tấm gấm còn lại làm tấm trải chỗ ngồi của chư Đại đức Tăng thọ thực trong nhà của ta”. Ông Bàlamôn thực hiện theo ý nghĩ của ông.

Vào một buổi chiều nọ, đức vua Pasenadi Kosala đến hầu đảnh lễ đức Thế Tôn tại cốc Gadhakuṭi trong ngôi chùa Jetavana, nhìn thấy tấm gấm quý giá trải trên chỗ nằm của đức Phật, đức vua bèn bạch hỏi đức Thế Tôn rằng:

-         Kính bạch đức Thế Tôn, thí chủ nào cúng dường tấm gấm quý giá ấy? Bạch Ngài.

Đức Thế Tôn truyền dạy rằng:

-          Này Đại vương, ông Bàlamôn Cūḷekasāṭaka cúng dường Như Lai tấm gấm quý giá ấy.

Đức vua Pasenadi Kosala nói rằng:

-         Vị Bàlamôn của ta thật đáng mến!

Đức vua ban cho ông Bàlamôn 4 con voi, 4 con ngựa, 4.000 đồng kahàpana, 4 người đàn bà, 4 người tớ gái, 4 người đàn ông, 4 làng để thâu thuế. Đức vua đã ban cho ông Bàlamôn gồm có 7 thứ, mà mỗi thứ có 4.

Tại giảng đường, chư Tỳ khưu tụ hội bàn luận về ông Bàlamôn Cūḷekasāṭaka rằng:

Thật lạ thường, ông Bàlamôn Cūḷekasāṭaka làm phước cúng dường một tấm choàng đến đức Thế Tôn, chỉ trong chốc lát sau, đức vua ban cho ông mỗi lần gấp đôi (2, 4, 8, 16, 32, 64 = 126 tấm choàng). Đức vua còn ban cho ông 7 thứ, mà mỗi thứ có 4. nghiệp thiện mà ông đã làm trong hiện tại này, nghiệp thiện ấy đã cho quả báu ngay hiện tại hôm nay”.

Chư Tỳ khưu đang bàn luận về ông Bàlamôn Cūḷekasāṭaka; khi ấy, đức Thế Tôn ngự lên chỗ cao quý đã trải sẳn, đức Thế Tôn bèn hỏi rằng:

-         Này chư Tỳ khưu, các con đang bàn luận về chuyện gì?

Chư Tỳ khưu bạch với đức Thế Tôn biết rõ câu chuyện như vậy, đức Thế Tôn truyền dạy rằng:

-         Này chư Tỳ khưu, nếu ông Ekasāṭaka làm phước dâng tấm choàng đến Như Lai vào canh đầu đêm, thì ông sẽ được quả báu mỗi thứ có 16.

 Nếu làm phước dâng tấm choàng đến Như Lai vào canh giữa đêm, thì ông sẽ được quả báu mỗi thứ có 8.

Hai canh (canh đầu và canh giữa đêm), ông chưa có thể dâng được, đến canh chót đêm, ông mới làm phước dâng tấm choàng đến Như Lai, cho nên ông được quả báu 7 thứ mà mỗi thứ có 4.

Thực ra, người tạo nghiệp thiện, khi tâm thiện đầu tiên phát sinh không để cho chậm trễ, mà nên tạo nghiệp thiện ấy, ngay lúc đó. Người tạo nghiệp thiện chậm trễ, thì quả của nghiệp thiện ấy cũng bị chậm trễ. Vì vậy, nên tạo nghiệp thiện liền sau khi thiện tâm phát sinh.

Đức Thế Tôn thuyết dạy câu kệ rằng:

“Abhittharetha kalyāṇe,

pāpacittaṃ nivāraye.

Dandhaṃ hi karato puññaṃ,

pāpasmiṃ raṃatī mano”

(Nhanh tay làm các điều lành

Cản ngăn ác pháp lộng hành trong tâm

Những ai thiện hạnh trì tầm

Như thế ác sự trong tâm thích hoài”.) Pc. 116

Thực sự, Tâm của hạng phàm nhân thường thích thú say mê trong những điều tội lỗi, tội ác; đó là tâm bất thiện, tâm ác trong đó có nghiệp ác mà nghiệp ác thì cho quả khổ trong kiếp hiện tại, trong kiếp kế tiếp (kiếp sau) và những kiếp vị lai. Bởi vậy cho nên, mỗi khi có tâm thiện phát sinh muốn làm phước thiện, tạo nghiệp thiện thì nên nhanh chóng thực hiện ngay ý định ấy. Nếu chậm trễ thì tâm sẽ dễ dàng thay đổi ý định ấy.

Cho nên, trong mọi phước thiện, mỗi người trong chúng ta nên tự mình động viên, khuyến khích mình rằng:

Ahaṃ pure! Ahaṃ pure! ...

Ta là người trước tiên! Ta là người trước tiên!...

Nghiệp thiện ấy chắc chắn có năng lực rất mạnh, thì quả báu của nghiệp thiện ấy chắc chắn rất đầy đủ và rất phong phú.

Nếu như ông Bàlamôn Cūḷekasāṭaka dâng cúng dường tấm choàng đến đức Phật vào canh đầu đêm, thì ông sẽ được quả báu mỗi thứ có 16. Nhưng canh đầu và canh giữa đêm, đức tin của ông chưa có đủ sức mạnh thắng được tâm keo kiệt bủn xỉn, cho đến canh chót đêm; ông nhờ có một nhận thức đúng đắn, tạo nên đức tin mạnh mẽ, có năng lực thắng được tâm keo kiệt bủn xỉn, ông liền làm phước thiện kính dâng tấm choàng đến đức Phật, do chậm trễ cho nên quả báu của nghiệp thiện bố thí ấy mỗi thứ chỉ có 4 mà thôi.

Ông Bàlamôn Cūḷekasāṭaka làm phước thiện bố thí cúng dường 1 tấm choàng đến Đức Phật, ngay sau đó, quả báu của nghiệp thiện bố thí là được Đức vua ban thưởng không những có được 164 tấm choàng, 2 tấm gấm quý giá, mà còn có 4 con voi, 4 con ngựa, 4.000 đồng kahàpana, 4 người đàn bà, 4 người tớ gái, 4 người đàn ông, 4 làng để thu thuế; gồm có 7 thứ mà mỗi thứ có 4. LDYK

-         Đừng để tâm ngã mạng sinh khởi:

Đừng để trạng thái tâm ngã mạn sinh khởi trong khi làm thí chủ Đại lễ dâng y Kathina. Lắm lúc bởi do thất niệm sinh khởi cộng thêm vô minh ngủ ngầm chi phối khiến mình tự cao tự đại trong công việc thiện sự của chính mình, và chính vì tâm cao ngạo này đã làm tổn hại đến phước đức của mình đã tạo. Điều hay nhứt như đức Thế tôn khuyên chư Phật tử nên giữ tâm bình thản trong lúc làm những thiện sự cho dù nhỏ hay lớn, luôn luôn khiêm tốn trong những công việc ấy. Có như vậy, phước đức mình tạo đó đã phong phú lại càng xum suê hơn. Vậy, là Phật tử chúng ta phải khôn ngoan, khéo léo, thành thực, nhã nhặn và nhẹ nhàng trong mọi Phật sự với mục đích để gặt hái những phước đức mỹ mãn cho hiện kiếp và hậu đời.

Kết luận:

Qua phần trình bày ở trên, tôi tin chắc rằng quý bạn đọc dễ dàng thâm hiểu những gì mà tôi đã mang hết khả năng và tâm huyết của mình để chia sẻ cùng quý bạn một trong những ý nghĩa của Đại lễ dâng y Kathina. Hy vọng rằng mỗi một chúng ta lấy đó làm tư lương cho lộ trình tiến thân trên con đường tâm linh. Đặc biệt, luôn chiến thắng được chính mình trong mọi thiện sự như đức Thế Tôn hằng dạy trong kinh Pháp cú sau đây:

“Dẫu cho chiến thắng ngàn quân,

Tại bãi chiến trận mỗi lần chiến tranh.

Thế nhưng chẳng chút hùng anh,

Thắng mình hiện tại thanh danh rạng ngời.” KNQC. 103

“Tự thắng lấy mình tuyệt thay,

Chinh phục kẻ khác chẳng hay chút nào.

Ai người điều phục cơ cao,

Hằng sống tự chế nhiệm mầu vĩ nhân.” KNQC. 104

Đây là món quà mà tôi đã làm được trong mùa Đại lễ dâng y Kathina với trí tuệ thiển cận của mình. Xin chia phần phước báu này đến cho tất cả chúng sanh trong Tam giới với mục đích nguyện cầu cho người còn được an vui, kẻ mất sớm siêu sinh về nơi nhàn cảnh.

 

Tài liệu tham khảo:

-         Dhamma Padethe, Volume (1). Tác giả: HT. TS. Kuṇḍalābhivaṁsa. Translated by Daw Khin Hla Hla, Myanmar

-         Lễ Dâng Y Kathina. Soạn giả: Ngài Hộ Pháp (Dhammarakkhita Bhikkhu)

-         Kinh Pháp Cú. Tác giả: HT. TS. Thích Minh Châu

-         Kinh Ngọc Quý. Tác giả: ĐĐ. TS. Giác Hạnh - Suối Nguồn

-         Kinh Nhật Tụng Của Cư Sĩ. Phật Giáo Nguyên Thủy - Theravāda

Vacaville Hill, 11/27/2012

Tác giả bài viết: ĐĐ. TS. Giác Hạnh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

top

Những tin cũ hơn

top