Về Bản Chất Của Niết Bàn

Thứ hai - 17/03/2014 11:41
Về Bản Chất Của Niết Bàn

Về Bản Chất Của Niết Bàn

Sách "Về Bản Chất Của Niết Bàn".

 

 

Tác giảNgài Đại đức Mahāsī – Tăng thống Phật Giáo Miến Điện

Nguyên bản tiếng Miến ĐiệnNibbānapatisamyutta Katha

Xuất bản: Trung tâm thiền Mahāsī, số 16 đường Sāsana Yeiktha, quận Bahan, Ngưỡng Quang, Miến Điện ( tái bản lần thứ hai – năm 2000)

Dịch sang tiếng Anh: U Htin Fatt ( tức Maung Htin)

Nguyên bản tiếng AnhOn the nature of Nirvana

Dịch sang tiếng Việt từ bản tiếng Anh:   Phạm Xuân Quang ( 2013)

                                                 Địa chỉ :24 A / 257 Chi Lăng – Huế - VN

                                                  Điện thoại NR: 0542460293

                                                  Điện thoại DĐ: 0948753810

                                                   Thư điện tử: sachthienhaiau@yahoo.com.vn

 

                                                         Nội dung

Tựa

Phần I

1. Lời giới thiệu                                                                                    Trang

2. Niết Bàn là gì ?                                                                                 Trang

3. Linh Bảo Kinh Hộ Trì ( Ratanā Sutta Paritta)                             Trang

4. Khuynh hướng chấm dứt của nghiệp

 -  Trạng thái tinh khiết của tâm trí

 -  Trạng thái tinh khiết của niềm tin

 -  Kiến thức về sự lãnh hội

 -  Kiến thức về trạng thái đang khởi lên và tan biến đi của năm uẩn

 -  Những đặc tính của Tu-Đà-Hườn

  - Đạt tới quả vị A-La-Hán bằng cách cúng dường

  - Đạt tới quả vị A-La-Hán bằng cách thực hành thiền nội quán

  5. Không mong muốn chết và cũng không khao khát sống

  6. Sự tái sanh phụ thuộc vào tâm khao khát

  7. Giống như một ngọn lửa đã tắt

  8. Ý nghĩa của Niết Bàn

  9. Ý nghĩa của santi

    -  Vòng quay của ô nhiễm ( Kilesa Vatta)

    -  Vòng quay của nghiệp ( Kamma Vatta)

    -  Tránh xa vô minh

    -  Vòng quay của nghiệp quả ( Vipāka Vatta)

   10. Tròn và tròn

   11. Làm cách nào để thoát khỏi ô nhiễm, nghiệp và kết quả của nghiệp

   12. Trạng thái tiêu hủy của hiện hữu

   13. Kinh Nối Liền ( Sammāsa Sutta)

   14. Giống như gốc của cây cọ

   15. Niết Bàn hạnh phúc

   16. Hạnh phúc đích thực

   17. Hạnh phúc trong thiền tốt hơn những cảm giác dễ chịu

   18. Những giai đoạn hạnh phúc khác nhau trong thiền

Phần II

 19. Pháp hữu vi và Niết Bàn

   -  Uppada và Anuppada

   -  Pavatta và Appavatta

   -  Nimitta và Animitta

 20. Cảm giác không có dấu hiệu biểu hiện đến từ Bhanga Nàna

 21. Niết Bàn : Đặc tính, chức năng và sự biểu lộ

 22. Niết Bàn không có hình dáng rõ rệt

 23. Nghiệp sẽ không chấm dứt nếu không có sự nổ lực

 24. Thiên về xác thịt là tội lỗi

 25. Nơi nào không có thiện nghiệp thì nơi đó ác nghiệp sẽ thống trị

 26. Những vị A-La-Hán không bao giờ từ bỏ thiện nghiệp

 27. Ba gánh nặng

    -  Gánh nặng của ô nhiễm

    -  Gánh nặng của nghiệp

    -  Gánh nặng của năm uẩn

  28. Mối ràng buộc của hiện hữu

  29.  Năm khả năng đặc biệt của các giác quan

  30. Trạng thái chấm dứt của tham dục

  31. Niết Bàn là sự chấm dứt trạng thái tâm đam mê năm uẩn

  32. Hai bài Kệ đáng chú ý

   Phần III

  33. Kệ- những lời tán tụng

  34. Câu chuyện về một Bậc Đáng Tôn Kính- Bāhiyadàruciriya

  35. Chỉ thấy đúng như nó đang là

  36. Bāhiya trở thành một A-La-Hán

  37. Mắt và nhãn thức

  38. Tai và nhĩ thức

  39. Mũi và tỷ thức

  40. Lưỡi và thiệt thức

  41. Thân thể và thân thức

  42. Tâm và ý thức

  43. Trạng thái chấm dứt chức năng của các xứ chính là Niết-Bàn

   44. Tập trung tâm trí trên Niết Bàn

   45. Phương pháp thực hành đúng đắn

   46. Cảm giác nhàm chán

   Phần IV

   47. Chú ý một cách nghiêm túc

   48. Về bản chất của Niết Bàn

   49. Niết Bàn là có thật

   50. Trong Niết Bàn không có những yếu tố khởi thủy

   51. Vật chất không hiện hữu trong Niết-Bàn

   52. Trạng thái vắng mặt của tâm vật chất

   53. Trạng thái vắng mặt của tâm vô sắc

   54. Cả tinh thần và vật chất đều vắng mặt trong Niết-Bàn

   55. Niết Bàn vượt ra khỏi giới hạn của những thế giới

   56. Những thuộc tính của Niết Bàn

        - Niết Bàn không có khối lượng

        - Niết Bàn là bất sanh bất diệt

        - Niết Bàn không phải là một nơi chốn

        -  Không có trạng thái xuất hiện của danh sắc

        -  Trong Niết Bàn không có các đối tượng của giác quan

        -  Niết Bàn có nghĩa là trạng thái chấm dứt của khổ đau

    57. Kinh Rohitassa

    58. Không thể đi bộ đến nơi tận cùng của thế giới

    59. Chấm dứt khổ đau và nơi tận cùng của thế giới

    60. Bốn Chân Lý Cao Thượng trú trong thân thể

    61. Vũ trụ trong chúng ta

    62. Quán niệm trên 4 yếu tố

    63. Một bước đi dễ dàng trong thiền

    64. Khổ và nguyên nhân của nó đã trở nên rõ ràng trong quan niệm

    65. Khám phá Niết Bàn – nơi tận cùng của vũ trụ

    66. Không có chỗ đứng chắc chắn - Appatittha

     Phần V

    67. Trạng thái chấm dứt của khao khát

    68. Hãy để tôi cân nhắc đến nó

    69. Bất đắc dĩ phải tìm kiếm phước báu để có thể đạt tới Niết Bàn

    70. Maung Kàla

    71. Tu-Đà-Hườn hơn xa một Đấng Quân Vương vũ trụ

    72.  Tu-Đà-Hườn cũng hơn xa một Chư-Thiên hay Phạm-Thiên

    73.  Tu-Đà-Hườn cũng hơn xa vua ở cõi trời Phạm Thiên

    74. Cuộc sống ở địa cầu khác xa với cuộc sống ở cõi Phạm Thiên

    75.  Sự sống trong thế giới hình thể không giống với sự sống tại cõi vô sắc

    76. Tâm khao khát không có quan hệ gì với Niết Bàn

    77. Chân Lý Cao Thượng về trạng thái chấm dứt của khổ đau

    78. Bốn nền tảng của sự tái sanh

    79. Sự dập tắt được giải thích trong Kinh Kevatta

     80. Về các phép màu

    81. Những năng lực huyền bí

     82. Những năng lực thần thông

    83. Nhận biết về ý nghĩ của người khác

    84. Năng lực sắp đặt

     85. Chấm dứt ở đâu

        Phần VI

      86. Niết Bàn bình yên là có thật

      87. Mahā Pajapati Gotami

      88.  Vua Tịnh-Phạn ( Suddhodana) và hoàng hậu Kiều-Đàm-Ni

             Trở thành Tu-Đà-Hườn

      89. Người bà con Nandà và con trai Rāhula của Đức Phật

      90. Vua Tịnh-Phạn trở thành A-La-Hán và nhập vào Đại-Niết-Bàn

      91. Sự thừa nhận nữ giới được gia nhập vào Tăng Đoàn

      92. Sự can thiệp của A-Nan-Đà ( Ānandā)

       93. Giả dụ được chấp nhận

       94. Trưởng Lão Kiều-Đàm-Ni nhập Đại-Niết-Bàn

              -  Kiều-Đàm-Ni thể hiện sự tôn kính đối với Đức Phật

              -  Ba bài Kệ mang lại hạnh phúc

              -  Tôn kính Tăng Già

              -  Trưởng Lão Kiều-Đàm-Ni an ủi A-Nan-Đà

              -   Những phép thần thông của Trưởng Lão Kiều-Đàm-Ni

              -   Lời thỉnh cầu cuối cùng

              -   Đại-Niết-Bàn

          95. Trong lời tán dương về Niết Bàn

          96. Lời động viên của Đức Phật

                 

                                                Tựa

 

Cuốn sách nói về Phật Pháp này có liên quan đến Niết Bàn một cách cụ thể. Cuốn “ Về bản chất của Niết Bàn” gói gọn phương pháp căn bản trong việc thực hành thiền nội quán, cũng như cách thức đạt tới Niết Bàn bình yên khi đang thực hành loại thiền này. Trong sách có một số thuật ngữ và chú giải Pāli rất khó hiểu được một cách đúng đắn. Tuy nhiên, Ngài Đại đức Mahāsī ( tác giả của sách) đã giải thích những thuật ngữ đó một cách rõ ràng và chính xác. Sách này được viết nhằm mục đích đưa ra một sự hướng dẫn rõ ràng cho những hành giả có quan kiến lầm lạc, cũng như chưa có khả năng bước đi trên một con đường đúng đắn. Ví dụ, bậc Trưởng thượng đã chỉ dạy một cách rõ ràng cho những người mới tập sự hành thiền rằng, khi tất cả các hiện tượng đang khởi lên qua sự cảm nhận của 6 giác quan, nếu họ chưa có khả năng tập trung chú ý đến các hiện tượng này một cách hoàn chỉnh thì việc đầu tiên là họ chỉ nên tập chú ý đến các hoạt động của thân thể mà thôi. Khi đang đi bộ, họ nên tập trung chú ý và quan sát đến hoạt động của tứ chi, cũng như những hoạt động khác của thân thể một cách chi tiết. Những hiện tượng thuộc về thân xác là dễ nhận biết nhất, cụ thể là trạng thái đang phồng lên và xẹp xuống của bụng. Do đó, hành giả nên đặc biệt lưu ý đến trạng thái này và thường xuyên tập luyện sự chú ý đến nó. Chỉ khi đã gặt hái được xung lực định tâm thì hành giả mới có khả năng chú ý đến tất cả những hiện tượng đang khởi lên thông qua sự cảm nhận của 6 giác quan. Trong sách này, khái niệm về Niết Bàn đã được giải thích một cách đầy đủ, kể từ khi hành giả mới bắt đầu khởi sự tập luyện thiền minh sát cho đến khi đã đạt tới trạng thái tâm thức gọi là Niết-Bàn-Hữu-Dư ( Sa-upādisesa Nibbāna). Cuối cùng là trạng thái tâm thức cao nhất khi hành giả xả bỏ nhục thân, tức Niết-Bàn-Vô-Dư hay Đại-Niết-Bàn (Parinibbāna). Xa hơn nữa là sự giải thích về những lời giáo huấn của Đức Phật như Ngài đã từng truyền bá : “ Chúng ta sẽ gặt hái được quả vị A-La-Hán khi tất cả những thứ ô nhiễm trong tâm đã hoàn toàn chấm dứt”. Đến lúc đó, bạn chỉ còn tồn tại dưới dạng sắc uẩn (Rūpakkhandha). Trạng thái tồn tại này được gọi là Sa-upādisesa. Sau khi một vị A-La-Hán đã nhập vào Đại-Niết-Bàn thì sắc uẩn của Ngài cũng sẽ hoàn toàn chấm dứt. Đến lúc đó, các hình thức vật chất và tinh thần sẽ hoàn toàn bị tiêu hủy. Trạng thái hoàn toàn chấm dứt và tiêu hủy này được gọi là Anupādisesa. Tất cả những bài thuyết Pháp trong sách này đã được Ngài Mahāsī trình bày theo lối kép, nghĩa là Ngài đã đề cập đến những lý thuyết căn bản của Pháp Học ( Pariyatti). Bên cạnh đó, Pháp Hành ( Patipatti) cũng được Ngài trình bày qua các bài tập thực hành thiền nội quán. Qua lối trình bày này, bạn sẽ có khả năng lãnh hội được những kiến thức về Phật Pháp như : Tâm bám víu vào gánh nặng của 5 uẩn, những nghiệp bất thiện, cách thức trút bỏ những gánh nặng để tiến đến trạng thái giải thoát khỏi khổ đau. Vấn đề tái sanh cũng được đề cập trong sách này. Bằng ngôn ngữ thẳng thắn, chất phác và giàu tính thuyết phục, Ngài Mahāsī đã giải thích một cách rõ ràng rằng, tái sanh chính là kết quả của nghiệp nói chúng. Những hành động thuộc về quá khứ đều được cho là nghiệp, kết quả hay tác động của nghiệp mà Phật Giáo gọi là Vikāpa. Tái sanh có nguyên nhân từ những thứ ô nhiễm do tiến trình hình thành danh uẩn và sắc uẩn mang lại.

Tất cả những hình thức khao khát ( tức tham ái- Tanhā) đều sinh ra từ nghiệp. Do đó, nghiệp quá khứ đã tạo nên những điều kiện làm nguyên nhân cấu thành hiện tại. Nghiệp hiện tại lại tạo ra những điều kiện làm nguyên nhân cấu thành tương lai. Tái sanh là hình thức hiện hữu của nghiệp lực có nguồn gốc rất xa xưa trong quá khứ. Để thoát khỏi những thứ ô nhiễm, nghiệp và kết quả của nghiệp, người ta nên thực hành bố thí ( Dāna- Alms giving), giữ gìn Giới Luật ( Sīla- Discipline) và tham thiền ( Bhàvanà- Meditation). Đặc biệt là các bài tập về thiền minh sát – Vipassanā Bhāvanā ( tức thiền nội quán – Insight Meditation) nhằm mục đích gặt hái được Đạo quả ( Magga phala) và Niết-Bàn

 ( Nibbāna). Một khi đã đạt tới Đạo quả A-La-Hán thì nghiệp và tác động của nó sẽ chấm dứt. Học thuyết về Niết Bàn đã được Đức Phật đề cập đến từ thuở xa xưa. Trong thuyết này, Ngài dạy chúng ta rằng Niết Bàn là một trạng thái tự nhiên và thiết yếu, như là kết quả của việc tiêu hủy được tất cả những hình thức khao khát. Trong những hình thức khao khát cần phải được nhổ bật gốc, khát vọng được tiếp tục hiện hữu trong kiếp sống hiện tại và những kiếp sống ở tương lai là dai dẳng và có nhiều mãnh lực tạo nghiệp nhất. Do đó, khát vọng này cần phải được dập tắt một cách hoàn toàn. Có một số quan điểm hiện hành thuộc về nhiều trường phái tư tưởng khác nhau liên quan đến Niết Bàn. Một vài trường phái khẳng định chắc chắn rằng, Niết Bàn là một nơi chốn hay là một cung điện nguy nga ở cõi trời, là một nơi cư trú có kích thước cực kỳ to lớn không thể đo được. Nơi đó cũng có thể là một thành phố vĩ đại với những luồng ánh sáng chói lọi rất ngoạn mục. Một vài trường phái khác lại nắm giữ quan điểm cho rằng, Niết Bàn là một đất nước mà ở đó linh hồn cá nhân đã hoàn toàn hòa nhập vào linh hồn của vũ trụ…Tất cả những tư tưởng mang tính khát vọng đó đều khởi lên từ vô minh. Ngài Na-Tiên ( Nāgasena), một nhà triết học vĩ đại của Phật Giáo đã so sánh Niết-Bàn với hoa sen và kết luận : “ Nếu như bạn hỏi bằng cách nào để nhận biết được Niết Bàn thì tôi sẽ trả lời rằng, chúng ta có thể đạt tới cảnh giới đó bằng cách thoát khỏi tất cả những mối khổ đau và nguy hiểm. Bạn có thể đạt tới Niết Bàn bằng niềm tin, bằng tâm thức bình yên và tĩnh lặng, bằng trạng thái sung sướng và hạnh phúc, bằng nét duyên dáng, tinh khiết và mát mẻ” ( Mi Tiên Vấn Đạo – Milindapanhā).

Do đó, người ta có thể nhận thức được Niết Bàn bằng một tâm trí tinh khiết, cao thượng, ngay thẳng, không còn nghi ngại và không còn những ham muốn trần tục. Niết Bàn là có thật, tuy nhiên chúng ta không thể nói nó màu gì hay hình dáng của nó như thế nào. Sau tất cả, mục đích đạt tới Niết Bàn là nhằm đạt tới một trạng thái bình yên vĩnh cửu bằng cách dập tắt tất cả những hình thức khao khát. Lý tưởng thật sự về Niết Bàn là trạng thái đồng hiện hữu của tâm trí với trạng thái bình yên vĩnh cửu. Theo quan niệm về Niết Bàn của Phật Giáo, bạn cần phải phân tích vũ trụ theo một cách thức hoàn chỉnh nhất. Không thể có bình yên và hạnh phúc thật sự khi chưa vượt thoát được tâm ích kỷ và cố chấp có nguyên nhân gốc từ khao khát. Đức Phật đã từng dạy rằng, theo học thuyết về Niết Bàn thì thoát khỏi khao khát để thành tựu được trạng thái bình yên vĩnh cửu là sứ mệnh cao cả nhất mà nhân loại vẫn hằng mong đợi. Lời nói đầu tiên cũng như cuối cùng về Niết Bàn của Ngài Na-Tiên là : “ Niết Bàn là cái đang là ! Tâm trí của con người là hữu hạn. Do đó, họ không thể nhận thức được cái vô hạn là Niết Bàn”. Nói cách khác, bạn chỉ có thể trải nghiệm Niết Bàn trong thực tế, chứ không thể hình thành bất cứ một quan niệm nào về nó. Hy vọng rằng sau khi đã đọc hết cuốn sách này, quí độc giả sẽ hiểu ra được Niết Bàn là gì và không còn một chút mơ hồ nào về nó nữa. Ngài Đại Đức Mahasi đã giải thích về Niết Bàn bằng lời lẽ rõ ràng qua sự tóm tắt sau đây : Niết Bàn là trạng thái bình yên vĩnh cửu. Nó đến từ con đường của những vị A-La-Hán. Bất cứ ai cũng có thể tìm kiếm được trạng thái tâm thức này bằng cách thực hành thiền minh sát. Tất cả những thứ ô nhiễm, nghiệp và kết quả của nghiệp sẽ hoàn toàn bị chặn đứng và xóa sạch khi người ta đạt tới Niết Bàn. Với sự thành tựu được trạng thái nhận thức cao thượng đó, tất cả những thứ khao khát sẽ biến mất trong Đại-Niết-Bàn ( tức Niết Bàn Vô Dư – Parinibbāna). Đây cũng chính là trạng thái tận diệt của tất cả những nổi khổ đau. Cầu chúc cho tất cả muôn loài được hạnh phúc và giác ngộ !

                                           

                                                                                 Min Swe

                                                          ( Thư ký tổ chức Phật Giáo Nuggaha)

                                                                                   

 

                                      

 

 

 

 

 

                                        

 

 

                                     Về bản chất của Niết Bàn

                                                      Phần I

Bài thuyết Pháp ngày mồng 8 trăng tròn tháng Tawthalin, năm 1326 theo lịch Miến Điện, tức nhằm ngày 14 tháng 9 năm 1964)

                                                     

                                                 Lời Giới thiệu

 

Tuần trước, trong phần cuối của bài thuyết Pháp nói về Kinh Culavedanlla, tôi có nhắc đến sách giáo lý của Lộc-Mẫu ( Visakha) – một tín nữ giàu có của Đức Phật, đồng thời bà cũng là Trưởng-Lão Ni của một tu viện Phật Giáo. Từ xa xưa, có một câu hỏi được đặt ra rằng “ Cảm giác dễ chịu giống như cái gì ?” Câu trả lời là “ cảm giác dễ chịu cũng giống như cảm giác khó chịu”. Đành rằng, theo nghĩa thông thường, cảm giác dễ chịu là đối nghịch với cảm giác khó chịu.

Tuy nhiên,  người sùng đạo muốn nhấn mạnh cho những người giàu có hiểu rằng cả hai loại cảm giác đó cũng chỉ là những hiện tượng mà thôi, chẳng có gì khác nhau cả. Những câu hỏi và câu trả lời dưới đây cũng nhằm để nói lên điều đó :

Câu hỏi: Tính lãnh đạm đối với cảm giác dễ chịu và cảm giác khó chịu giống như cái gì ?

Trả lời : Nó giống tính vô minh.

Khi cảm giác dễ chịu hay cảm giác khó chịu khởi lên trong thân tâm, chúng ta rất dễ nhận thức chúng. Tuy nhiên, tính lãnh đạm thì không thế, nó khó nhận biết hơn. Ví dụ, chúng ta có thể nhận biết được tham lam hay sân hận một cách ngay lập tức khi chúng vừa khởi lên trong tâm trí của chúng ta. Tuy nhiên, tính vô minh thường không tự biểu lộ nó một cách rõ ràng qua một công việc nào đó. Vì vậy, tính lãnh đạm rất giống tính vô minh trong cách biểu lộ.  

Câu hỏi: Tính vô minh giống như cái gì ?

Trả lời:  Nó giống sự hiểu biết.

Hiểu biếtở đây có nghĩa là sự hiểu biết về con đường của một bậc cao thượng ( Ariya-magga-Ñāna). Trong khi đó, vô minh có nghĩa là trạng thái che phủ nhận thức. Người xưa công nhận Bốn Chân Lý Cao Thượng ( tức Tứ Diệu Đế - Ariyasaccanī) và tất cả sự biểu lộ của chúng. Tuy nhiên, họ chưa nhận thức được và cố ý chôn vùi Bốn Chân Lý này. Sự hiểu biết ( tức kiến thức) ở đây là chính đềvô minhphản đề của nó.

Câu hỏi: Vậy trí tuệ là cái gì ?

Trả lời:  Nó là sự giải thoát ( Vimutti – Deliverance).

Vimutti- Giải thoátlà biểu hiện của Đạo quả. Sự thật, Đạo ( Magga) và Quả

( Phala) của nó là y hệt nhau, bởi vì tuy khác nhau về dáng vẻ bên ngoài nhưng cách thể hiện thì giống nhau. Quả ở đây là kết quả lợi ích đến từ việc nhận thức được con đường thành tựu của những bậc cao thượng. Quả luôn tái diễn đều đặn theo định kỳ. Do đó, trí tuệgiải thoát là đồng nghĩa.

Câu hỏi:  Thế thì sự giải thoát giống như cái gì ?

Trả lời:  Nó giống Niết Bàn.

Khi một người đã hòa nhập được với Đạo Quả thì người này đã hoàn toàn ở trong Niết Bàn bình yên. Vì vậy, Niết Bàn là bình đẳng với Đạo Quả.

Câu hỏi: Vậy Niết Bàn giống cái gì ?

Đối với câu hỏi này, chúng ta hãy tham khảo về bài Pháp thí của Lộc-Mẫu. Trong bài thuyết Pháp này bà đã nói rằng : “ Bạn đã đi quá xa, bạn đã thất bại trong việc dừng lại tại nơi mà mình nên dừng lại. Theo lời dạy của Đức Phật thì Niết Bàn là cao nhất. Đạo đức, năng lực tập trung tâm ý và trí tuệ sẽ chấm dứt trong Niết Bàn. Chúng không thể đi xa hơn nữa. Tuy vậy, bạn cũng không nên hỏi Niết Bàn giống như cái gì. Nếu chưa được thỏa mãn với sự giải thích trên thì bạn có thể đem chuyện này đến nhờ đích thân Đức Phật giải quyết”. Visakha đã từng tìm đến với Đức Phật và hỏi Ngài rằng làm cách nào để có thể đặt ra câu hỏi về Niết Bàn và có được câu trả lời cho câu hỏi đó. Đức Phật nói : “ Ta đã trả lời con rồi, ta muốn trả lời câu hỏi của con tương tự như bài Pháp thí mà con đã thuyết cho nhiều người khác nghe”. Sau đó, Đức Phật đã chúc phúc cho Visakkha. Đến đây thì bài thuyết Pháp của tôi cũng chấm dứt. Vào lúc đó, tôi có ý định gởi đến các bạn một bài thuyết Pháp nói về Niết Bàn. Tuy nhiên, thời gian đã không cho phép tôi làm điều này. Mãi đến ngày hôm nay tôi mới có thể thực hiện được bài thuyết Pháp nói trên nhằm mang lại lợi ích cho các bạn.

 

                                                 Niết Bàn là gì ?

 

Niết-Bàncó nghĩa là dập tắt hay tiêu hủy. Vậy chúng cần phải dập tắt hay tiêu hủy cái gì ? Chúng ta cần phải dập tắt hay thiêu hủy luân hồi khổ đau được tạo nên bởi vòng quay của ô nhiễm ( kilesa vatta – the round of defilements), vòng quay của nghiệp ( kamma vatta – the karma round  ) và vòng quay của nghiệp quả ( vipāka vatta – the round of karma ‘s result). Chức năng của ô nhiễm bao gồm vô minh ( avijja - ignorance), khao khát ( tanhā- craving) và bám víu chấp thủ ( upadana - clinging ). Thế giới của nghiệp luân hồi là những hành động thiện lành ( kusala dhamma- wholesome action) và những hành động bất thiện ( akusala dhamma - unwholesome action), các hành động này góp phần làm cho vòng tái sanh bất tận hiện khởi. Kết quả của hành động được gọi là kết quả của nghiệp hay nghiệp quả ( vipāka- action ‘s result). Kết quả của nghiệp có quan hệ với những hành động tốt hoặc xấu. Mọi hành động sẽ sản sinh ra những kết quả của chúng. Những kết quả đó có thể thuộc về tinh thần, vật chất, sáu giác quan hay sự cảm nhận… Thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và suy nghĩ là những kết quả của nghiệp. Khi đang thấy hay nghe… Nếu một người nào đó thất bại trong việc nắm lấy trạng thái nội quán để nhận thức được thực tính của hiện hữu thì người này được cho là vô minh. Khi đang thấy hay nghe một cái gì, người này cũng sẽ làm điều đó với một ý niệm lầm lạc rằng trong thực tế, chính bản ngã của anh ta đang thấy hoặc nghe. Tuy nhiên, sự thật là không hề có một bản ngã nào cả. Ý niệm lầm lạc nói trên đã lừa dối người này và làm cho anh ta tin rằng sự vật là thường còn hay có thể mang lại trạng thái thỏa mãn. Từ đó, khao khát đã khởi lên trong tâm của người này một cách mãnh liệt và làm cho anh ta gia tăng tính bám víu vào sự vật. Đây chính là cách mà ô nhiễm đã xây dựng nên thế giới của nó. Ngay khi tâm bám víu vào các đối tượng của giác quan đang phát triển, ngay lập tức nó đã cố gắng làm thỏa mãn nhu cầu đòi hỏi của các giác quan. Tiếp đến, những hoạt động thuộc về ý chí ( tức hành – Sankhāra – Volitional Action) sẽ bắt đầu tham gia vào tiến trình vừa xảy ra. Trong ngữ cảnh hiện tại, có thể gọi tiến trình này là sự hình thành của nghiệp. Chính tiến trình này có trách nhiệm định hình và tạo ra nghiệp. Như là kết quả của nghiệp, cái chết sẽ có mặt trong chuỗi hiện hữu, tiếp liền sau cái chết chắc chắn phải là sự tái sanh. Thức tái sanh ( Patisandhicitta) sẽ hiện khởi ngay sau thức cận tử ( Cuticitta) và cái chết sẽ xảy đến. Nói cách khác, một cuộc sống mới lại bắt đầu. Có thể nói đó là kết quả của nghiệp (Vipāka). Kết quả này cứ lập đi lập lại nhiều lần trong việc mang lại trạng thái nổ lực của ý thức, tinh thần, vật chất, 6 giác quan, sự xúc chạm, cảm giác…Do đó tùy thuộc vào vòng quay của nghiệp quả, vòng quay của ô nhiễm sẽ hiện khởi. Tùy thuộc vào vòng quay của ô nhiễm mà vòng quay của nghiệp sẽ hiện khởi. Chu kỳ của 3 vòng tròn này cứ xuất hiện liên miên không ngớt thông qua vòng luân hồi bất tận của hiện hữu. Chỉ khi kiến thức nội quán đã được ứng dụng trong việc thực hành sự chú ý đến các hiện tượng đang khởi lên và tan biến đi của năm uẩn, năng lực nhận thức sẽ phát triển. Khả năng ứng dụng đó sẽ mang bạn tiến gần lại với Niết Bàn. Đến lúc đó, vô minh sẽ vắng mặt và những thứ ô nhiễm sẽ dần dần bị triệt tiêu. Khi những thứ ô nhiễm đã vắng mặt thì nghiệp mới sẽ không còn hình thành nữa. Những nghiệp đã hình thành sẽ bị tiêu hủy sau khi những thứ ô nhiễm đã mất hiệu lực và tan biến đi. Đối với Bậc Cao Thượng như một vị A-La-Hán, sau khi ý thức của Ngài đã chấm dứt thì Ngài sẽ không còn tái sanh vào một kiếp sống mới nào nữa. Lúc này sợi dây hiện hữu đã hoàn toàn bị cắt đứt và tiêu hủy trong cảnh giới Niết Bàn.Vì vậy, Niết Bàn đã được định nghĩa như sau : Nibbāna vattamdukham etthati nibbanam, nibbati vattamdukham etasmim adhigateti va nibbanam. Trong Niết-Bàn, luân hồi khổ đau đã chấm dứt và lặng yên. Vì vậy, trạng thái chấm dứt của khổ đau chính là Niết-Bàn.

Nói cách khác, khi đã đạt tới con đường của một vị A-La-Hán thì luân hồi khổ đau sẽ chấm dứt. Do đó, trong Niết Bàn trạng thái bình yên đã được thiết lập bằng cách loại bỏ những khổ đau. Nói một cách ngắn gọn, Niết Bàn là đồng nghĩa với trạng thái bình yên tuyệt đối. Trạng thái tiêu hủy của những nổi khổ đau đã loại bỏ hoàn toàn vòng quay của ô nhiễm, vòng quay của nghiệp và vòng quay của nghiệp quả. Các nhà chú giải Kinh Điển nói rằng, trạng thái bình yên mát mẻ ( Santi) là đặc tính của Niết Bàn. Khi trạng thái mát mẻ hiện khởi thì lửa khổ đau đã bị dập tắt. Điều đáng chú ý là, bạn phải chuyên cần tu tập để có thể buông bỏ hoàn toàn những thứ ô nhiễm, nghiệp và nghiệp quả, bởi vì chúng là những nguyên nhân tạo nên tinh thần, vật chất, các hành động thuộc về ý chí… Trong Linh Bảo Kinh hay Kinh Ngọc Quí ( Ratanā Sutta), trạng thái buông bỏ nói trên được mô tả như là sự dập tắt lửa. “ Nibbanti dhira yathayam padipo”. Đây là một câu thơ được trích dẫn trong kho tàng Kinh Điển Pàli.

Đối với bậc trí tuệ như một vị A-La-Hán, tất cả đã bị tiêu hủy như một ngọn lửa đã bị dập tắt. Những nghiệp cũ của Ngài đã hoàn toàn mất hết hiệu lực, nghiệp mới sẽ không còn hình thành. Ngọn lửa hiện hữu vì vậy đã bị dập tắt.

 

                      Linh Bảo Kinh Hộ Trì ( Ratanā Sutta Paritta)

 

Có một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt rất thích hợp trong Linh-Bảo Kinh đã nói :

                               Khinam puranam nava natthi sambhavam

                               Virattacitta yatike bhavasmim

                               Te khinabija avirullhichanda

                               Nibbanti dhira yathayam padipo

Một vị A-La-Hán đã loại bỏ các thứ ô nhiễm bằng cách triệt tiêu những vết tích của chúng thông qua con đường gặt hái kiến thức nội quán. Ngài sẽ thực hành thiền nội quán bằng cách chú ý đến tiến trình đang khởi lên và tan biến đi của danh pháp ( tức tinh thần – Nāmadhamma) và sắc pháp ( tức vật chất- Rūpadhamma) khi 6 giác quan tiếp xúc với những đối tượng của chúng. Khi đã thoát khỏi gông cùm của tinh thần và vật chất, một vị A-La-Hán sẽ không còn phạm phải bất cứ một điều xấu ác nào nữa, mặc dù Ngài vẫn tiếp tục thực hiện những hành động phước thiện. Có thể Ngài sẽ thực hiện những hành động thiện lành giữa một đám người nào đó. Ngay lập tức, có thể Ngài sẽ truyền Pháp.

Một vị A-La-Hán cũng lắng nghe Giáo pháp được truyền bá từ những người khác. Ngài luôn luôn tôn kính Đức Phật và các Tỳ- Kheo-Trưởng-Lão ( Thera Bhikkhu). Một vị A-La-Hán sẽ chia xẻ những vật thực và y phục dư thừa cho những ai cần chúng. Ngài thực hành đạo đức, thiền định và thiền quán với tâm tự nguyện. Tuy nhiên, tâm thức của Ngài không bị ô nhiễm như những người bạn thế tục của Ngài. Những hành động phước báu mà một vị A-La-Hán đã thực hiện không bao giờ tạo ra bất cứ một nghiệp quả nào. Khi nghiệp mới đã không còn xuất hiện thì chắc chắn sự tái sanh cũng đã vĩnh viễn biến mất đối với Ngài. Đó là con đường của một vị A-La-Hán. Đối với những người thế tục chưa có sự hiểu biết đúng đắn về Giáo Pháp cũng như cách thức truyền bá, tôi cũng thường lưu ý rằng họ không nên truyền bá Giáo Pháp cho người khác như là những hành động phước thiện. Một vị A-La-Hán cũng vậy, Ngài không bao giờ truyền bá cho người khác bất cứ một điều gì mà Ngài chưa hiểu biết về nó một cách đúng đắn. Nếu người ta giảng dạy Giáo Pháp một cách mù quáng và chủ quan như vậy thì vô hình chung họ đã tạo ra một niềm tin lầm lạc cho nhiều người khác. Những người học tập và thực hành Giáo Pháp do những vị thầy lầm lạc đó truyền bá sẽ không bao giờ gặt hái được phước báu, dù chỉ là một mảy may nào. Thay vào đó, họ có thể thực hiện các hành động mà kết quả của chúng sẽ dẫn dắt họ đến với những cảnh giới thấp kém. Bạn có thể có chủ tâm né tránh những hành động thiện lành mà không bị tổn hại gì cả, bởi vì hành động né tránh đó không sản sinh ra những phản ứng ngược lại. Tuy nhiên, một khi đã thực hiện những hành động bất thiện, bạn sẽ có khuynh hướng muốn nuôi dưỡng chúng với tâm thức không hề ray rứt hay hối hận. Có thể nói, bạn đã bị xúi giục bởi tham lam, sân hận, vô minh, ngã mạn và những quan kiến lầm lạc. Theo luật cân bằng hay cân phương, những hành động xấu ác của bạn chắc chắn sẽ tạo ra những kết quả xấu ác. Với trường hợp này, sau khi qua đời, chắc chắn bạn sẽ bị đọa vào những cảnh giới thấp kém. Đó là một điều không thể tránh khỏi.

 

                           Khuynh hướng chấm dứt của nghiệp

 

Nếu thật sự mong muốn chấm dứt nghiệp để thoát khỏi tuổi già, bệnh tật và cái chết, bạn phải thực hành thiền nội quán với mục đích nhận thức được Đạo Quả từ loại thiền này. Tôi sẽ nói cho bạn biết cách thức để thực hành loại thiền này. Đầu tiên, bạn phải tự hoàn thiện chính mình trong việc tuân thủ Giới luật.

Với sự vun bồi đức hạnh, bạn cần phải gặt hái được kiến thức về sự định tâm để có thể hoàn thiện việc thực hành thiền của mình. Nếu một người thực hành thiền định- Samātha Bhāvanā một cách thành công, năng lực định tâm vững chãi được ví như một bậc cấp bằng đá sẽ làm nền tảng để người đó có thể tiếp tục thực hành thiền quán- Vipassanā Bhāvanā. Nếu không muốn thực hành thiền định, bạn có thể thực hành bài tập quan sát trạng thái cảm nhận của 6 giác quan bằng cách chú ý đến tiến trình đang khởi lên và biến mất đi của các hiện tượng

( thuộc về vật chất và tinh thần). Cách thức tập luyện này đã được nói đến trong Kinh Đại Niệm Xứ - Mahāsatipatthana Sutta. Sau tất cả, sự chú ý theo cách thức vừa nói được gọi là minh sát- Vipassanā, tức phương pháp thực hành thiền nội quán ( Vipassanā Bhāvanā - Insight Meditation). Trước hết, bạn cần phải có khả năng chú ý đến tất cả những gì đang xảy ra mà 6 giác quan có thể cảm nhận được. Lúc ban đầu khi mới khởi sự tập luyện, bạn nên tập luyện sự chú ý đến bất cứ chuyển động nào của thân thể mà bạn cho là dễ chú ý nhất.

Ví dụ khi đang đi bộ, bạn có thể bắt đầu thực hành thiền minh sát ( loại thiền này còn gọi là thiền quán, thiền nội quán, thiền tuệ, thiền quán niệm hay thiền tứ niệm xứ) bằng cách chú ý đến những hiện tượng đang xảy ra trong hành động đi bộ. Cụ thể hơn, bạn phải chú ý đến những chuyển động của thân thể như :  Hai bàn chân đang thay nhau dở lên, bước tới và đặt xuống như thế nào. Nếu đang ngồi, bạn cần nhận thức rõ bản chất của hành động ngồi để nhận biết được hành động này đang sản sinh ra những hiện tượng nào ? Như tôi đã nói, những chuyển động thuộc về thân thể là rất dễ nhận biết. Đối với những hành giả thực hành theo Hệ Thống Thiền Mahāsī( The Mahāsī Meditative System) , chúng tôi sẽ khuyên họ nên tập luyện sự chú ý đến tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng, cụ thể là chú ý đến thành bụng khi họ đang thở vào và thở ra. Khi đang chú ý đến trạng thái chuyển động của bụng, tâm trí của bạn có thể bị lang thang vô định. Có thể bạn sẽ suy nghĩ về điều này điều kia hay tưởng tượng ra các sự vật. Ngay lúc đó, bạn nên chuyển sang chú ý trực tiếp vào những suy nghĩ hay sự tưởng tượng vừa nói. Nếu bạn cảm thấy mệt mỏi, hãy chú ý vào chính sự mệt mỏi đó. Khi đang thực hành thiền minh sát, bạn cũng có thể cảm thấy nóng bức hay đau nhức. Ngay lúc đó, bạn cần phải chú ý trực tiếp đến những cảm giác khó chịu này. Khi đang thấy bất cứ một cái gì, bạn cần chú ý đến trạng thái đang thấy của mắt. Khi tình cờ nghe thấy bất kỳ một âm thanh hay tiếng động nào, bạn hãy chú ý đến trạng thái đang nghe của tai. Khi đang trải nghiệm những cảm giác dễ chịu, bạn cũng phải chú ý đến những cảm nhận này.

 

                                  Trạng thái tinh khiết của tâm trí

 

 Lúc ban đầu, khi mới khởi sự thực hành thiền minh sát, năng lực định tâm của bạn có thể đang còn yếu. Vì vậy, tâm trí có lúc sẽ vượt ra ngoài ý muốn của bạn. Khi tâm trí bị lang thang vô định, bạn hãy tập trung chú ý ngay trên trạng thái đang lang thang của nó. Khi bạn lập đi lập lại sự chú ý nhiều lần trên các hiện tượng, năng lực định tâm sẽ dần dần trở nên mạnh mẽ hơn. Đến lúc đó, tâm trí sẽ không còn bị trượt ra khỏi đối tượng mà bạn muốn chú ý nữa. Nó sẽ luôn luôn trú vững trên đối tượng quan sát. Trong khi đang thực hành thiền, có thể bạn cũng sẽ tưởng tượng ra nhiều sự vật khác nhau. Lúc đó, ngay lập tức bạn cần phải chú ý đến những trạng thái tưởng tượng của chính mình. Dần dần, bạn cũng sẽ quen với tiến trình tư duy của tâm trí. Ngay khi đã nhận thức được tiến trình này, bạn cần phải tạm dừng sự chú ý đến nó và mang tâm trí trở lại với đề mục quan sát căn bản ( tức tiến trình đang phồng lên và tiến trình đang xẹp xuống của bụng). Bấy giờ, bạn sẽ nhận thức được rằng, tâm trí đã có khả năng quan sát đối tượng một cách liên tục từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác. Khi tâm trí đã có khả năng chú ý một cách trọn vẹn, chính xác và liên tục trên đối tượng quan sát thì nó sẽ trở nên tinh khiết. Nói cách khác, khi tiến trình chú ý đến đối tượng quan sát của tâm trí không bị bất cứ một khoảng trống thời gian nào chen vào thì nó sẽ được tinh khiết. Đó chính là trạng thái tinh khiết của tâm trí – Citta Visuddhi ( The Purity of Mind ).  

 

                                Trạng thái tinh khiết của niềm tin     

 

Khi tâm trí đã được tinh khiết, nó sẽ trở nên trong sáng và có thể nhận thức được trạng thái cảm nhận của 6 giác quan một cách rõ ràng ( khi 6 giác quan tiếp xúc với bất cứ một đối tượng nào đó). Sau nhiều lần thực hành thiền, bạn sẽ có một sự nhận định chắc chắn rằng, trong suốt tiến trình chú ý của tâm trí, chỉ có hai thành phần, đó là : Trạng thái nhận biết của tâm tríđối tượng bị nhận biết. Thông qua khả năng chú ý để phân tích 2 thành phần vừa nói chứa đựng trong 5 uẩn ( tức tinh thần và vật chất), bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất – Namarūpapariccheda Ñāna. Một khi kiến thức này đã chín muồi trong tâm thức, bạn sẽ gặt hái được trạng thái tinh khiết của niềm tin – Ditthi visuddhi.  

 

                                       Kiến thức về sự lãnh hội

 

Khi niềm tin hay quan kiến của bạn đã được tinh khiết, nếu tiếp tục thực hành thiền nội quán bằng cách chú ý để nhận thức được bản chất của các hiện tượng, bạn sẽ nhận biết rõ các điều kiện đã làm nguyên nhân tạo ra tinh thần và vật chất. Như vậy, bạn đã gặt hái được kiến thức về nhân quả - Paccayapariggaha Ñāna. Loại kiến thức này có khả năng loại bỏ được trạng thái hoài nghi trong tâm trí của bạn. Trạng thái tinh khiết này được gọi là tinh khiết bằng cách vượt qua hoài nghi – Kankhavitarana visuddhi. Nếu tiếp tục phát triển việc thực hành thiền của mình xa hơn nữa, bạn sẽ nhận thấy rằng, những đối tượng quan sát vừa mới khởi lên đã biến mất đi ngay sau đó một cách nhanh chóng, khởi lên rồi biến đi, khởi lên rồi lại biến mất đi…nhiều lần. Khi chú ý đến những tiến trình này ( tiến trình khởi lên và tiến trình biến mất đi của đối tượng quan sát), hành giả sẽ có khả năng nhận thức được 3 giai đoạn trong tiến trình xuất hiện của bất cứ một hiện tượng nào. Ba giai đoạn đó là : Khởi lên, phát triểntan hoại. Có thể nói rằng : “ Tiến trình xảy đến của bất cứ một sự vật hay hiện tượng nào trong hiện tại cũng đều phát xuất từ những điều kiện trong quá khứ. Những sự vật hay hiện tượng đang xuất hiện trong hiện tại cũng chính là điều kiện làm nguyên nhân cho sự xuất hiện của các sự vật khác trong tương lai”. Sự hiểu biết đúng đắn về 5 uẩn sẽ khiến cho bạn nhận thức được rằng, chúng chỉ là những sự cấu thành. Bất cứ cái gì có sự khởi lên và biến mất đi cũng đều vô thường ( Annicca), khổ ( Dukkha) và vô ngã ( Anatta).

Đây chính là kiến thức về sự lãnh hội- Sammasana Ñāna.                           

 

                  

            Kiến thức về trạng thái đang khởi lên và tan biến đi của 5 uẩn

 

Khi tiếp tục thực hành sự chú ý, quán niệm về tiến trình đang khởi lên và tan biến đi của 5 uẩn thông qua trạng thái cảm nhận của 6 giác quan, năng lực chú ý của bạn sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Lúc này bạn sẽ nhận thức được rằng, các hiện tượng vừa mới khởi lên đã tan biến đi một cách ngay lập tức. Nhờ đó, bạn sẽ thiết lập được trạng thái tâm hoan hỷ và tĩnh lặng. Nói cách khác, bạn đã gặt hái được kiến thức về trạng thái khởi lên và tan biến đi của 5 uẩn ( tức tiến trình sanh diệt của tinh thần và vật chất) – Udayabbaya Ñāna. Xa hơn nữa, qua quá trình thực hành quán niệm, hành giả sẽ nhận thức được bản chất trống không của những điều kiện đã cấu thành nên sự vật hay hiện tượng. Những hình thức và chất liệu làm điều kiện cấu thành sự vật hay hiện tượng đã thật sự biến mất trong nhận thức của bạn. Sự nhận biết của tâm trí và đối tượng bị nhận biết cũng sẽ tan biến đi một cách nhanh chóng như khi chúng xuất hiện. Đây chính là kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu – Bhanga Ñāna.

 

                                Những đặc tính của Tu-Đà-Hườn

 

Khi đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu, bạn sẽ nhận thấy rằng mọi sự vật hay hiện tượng đã tan biến đi một cách cực kỳ nhanh chóng. Trạng thái tan biến đó có thể khiến cho bạn cảm thấy sợ hãi hay chán ghét đối với chúng. Một thời gian sau, khi cảm giác sợ hãi và chán ghét nói trên đã biến mất, tâm trí của bạn sẽ phát sanh kiến thức về trạng thái tâm thanh thản – Sankharùpekkha Ñāna. Kể từ đó, bạn sẽ cảm thấy rất thanh thản khi bắt gặp bất cứ một sự vật hay hiện tượng nào đó mà mình có thể nhận thức được, bởi vì bạn đã thật sự biết rằng trước sau gì hiện tượng này cũng tan hoại đi mà thôi. Bằng cách tiếp tục thực hành thiền nội quán, khi trí tuệ đã phát triển thì các hiện tượng thuộc về tinh thần hay vật chất, sự hình thành của nghiệp sẽ hoàn toàn biến mất trong tâm trí của bạn. Trạng thái nhận thức này chính là sự hiểu biết về Đạo quả. Việc gặt hái được sự hiểu biết về Đạo quả của bạn chỉ xảy ra trong một khoảnh khắc, ngay lập tức bạn sẽ trở thành một Tu-Đà-Hườn

( Sotāpanna – Stream Winner). Đến lúc đó, tất cả những nghiệp mà bạn đã từng tạo ra trong quá khứ ( có thể khiến cho bạn bị đọa vào những cảnh giới thấp kém) sẽ mất hết tác động của chúng và đi tới chỗ tận diệt. Nếu một Tu-Đà-Hườn tiếp tục thực hành thiền minh sát, kiến thức nội quán trong tâm thức của vị này sẽ tiếp tục phát triển. Đến một mức nào đó, tâm thức của vị này đã hoàn toàn thích nghi được với Đạo quả. Nói cách khác, vị này đã trở thành một Tư-Đà-Hàm ( Sakadāgāmi). Một Tư-Đà-Hàm chỉ phải trở lại luân hồi thêm một kiếp sống nữa mà thôi. Vì vậy, quả vị Tư-Đà-Hàm còn gọi là quả Nhất Lai.

Nếu tiếp tục thực hành thiền nội quán, một Tư-Đà-Hàm sẽ tiến đến một quả vị tu chứng cao hơn gọi là A-Na-Hàm ( Anāgāmi) và chuẩn bị đạt tới Niết Bàn. Người đã gặt hái được quả vị A-Na-Hàm sẽ vĩnh viễn không còn trở lại luân hồi nữa. Vì vậy, quả vị tu chứng này còn gọi là quả Bất Lai hay Bất Hoàn.

Đến đây, tất cả những nghiệp bất thiện trong quá khứ có thể dẫn dắt bạn đến với thế giới của cảm giác hay cõi luân hồi sẽ đi đến chỗ tận diệt. Những nghiệp bất thiện trong quá khứ có thể dẫn dắt một A-Na-Hàm trở lại luân hồi được gọi là nghiệp tái sanh – Kammabhava đã bị tiêu hủy. Đến đây nảy sinh ra một câu hỏi rằng :  “ Thế thì những nghiệp thiện lành mà một vị A-Na-Hàm đã từng thực hiện trong quá khứ ( có thể dẫn dắt vị này đến với những cảnh giới hạnh phúc trong luân hồi) có còn tồn tại hay không ?” Câu trả lời là những nghiệp này ( tức Kammavacara) cũng đã hoàn toàn chấm dứt và không bao giờ còn khởi lên nữa. Như vậy là không còn nghi ngờ gì nữa, thông thường, khi hành giả đã trở thành một A-Na-Hàm thì Kammabhava ( nghiệp tái sanh) và Kammavacara

( nghiệp thiện lành trong quá khứ có thể dẫn dắt người ta đến với những cảnh giới hạnh phúc trong luân hồi) sẽ tiến đến chỗ hoàn toàn tận diệt. Một sự thật rõ ràng rằng, khi đang sống trong luân hồi, nếu có thực hiện một hành động thiện lành nào đó thì trước sau gì bạn cũng sẽ gặt hái được một kết quả tốt đẹp tương ứng. Tuy nhiên, đối với một vị A-Na-Hàm, kết quả đó đã là Đạo Quả, chứ không phải là những cảnh giới hạnh phúc trong luân hồi. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng ta hãy theo dõi câu chuyện của Ugga dưới đây.

 

                    Đạt tới quả vị A-La-Hán bằng cách cúng dường

 

Một thời, Ugga là một người đàn ông giàu có đã từng cúng dường cho Đức Phật và những đệ tử của Ngài. Ugga nói rằng ông đã thực hiện việc cúng dường này với mong muốn sẽ gặt hái được những phần thưởng mà mình đang ấp ủ trong lòng. Vào thời điểm thực hiện việc cúng dường, Ugga đã thật sự là một A-Na-Hàm. Theo lẽ tự nhiên, những phước báu mà Ugga đã có được trong quá khứ chắc chắn sẽ đưa ông đến với quả vị A-La-Hán, một quả vị tu chứng cao hơn quả vị A-Na-Hàm một bậc. Những vị A-Na-Hàm luôn luôn có mong muốn đạt tới quả vị tu chứng này. Khi qua đời, Ugga tái sanh thành một Phạm-Thiên trú tại cõi Suddhāvāsa ( cõi trời trong sạch của những vị Phạm-Thiên có hào quang vững chắc không xao động, có tuổi thọ 64 kiếp trái đất. Âm Hán-Việt gọi cõi trời này là Tịnh Cư Thiên - ND). Nhớ tới Đức Phật, ông trở xuống trái đất để đảnh lễ Ngài. Lúc đó Đức Phật cất tiếng hỏi ông :  “ Bây giờ thế nào rồi ? Ông đã nhận thức được những gì ông mong muốn nhất chưa ?” Vị Phạm-Thiên trả lời rằng : “ Thưa vâng, con đã thực hiện được điều đó”. Không lâu sau đó, vị Phạm-Thiên này đã gặt hái được đạo quả và trở thành một A-La-Hán. Câu chuyện này đã chỉ ra rằng, một vị A-Na-Hàm sẽ nhận thức được đạo quả như là kết quả của nghiệp thiện lành ( Kusala Dhamma) mà vị này đã từng thực hiện trong quá khứ luân hồi.

 

         Đạt tới quả vị A-La-Hán bằng cách thực hành thiền nội quán

 

Như chúng ta đã biết, bạn có thể đạt tới quả vị A-La-Hán bằng cách cúng dường. Tuy nhiên, bạn cũng có thể đạt tới quả vị tu chứng này bằng cách thực hành thiền nội quán. Một vị A-Na-Hàm ( Anāgāmi) cần phải thực hành thiền với mong muốn nhận thức được Đạo Quả và trở thành một A-La-Hán. Nếu thực hành thiền theo cách như vậy, vị A-Na-Hàm này chắc chắn sẽ đạt tới Niết Bàn. Khi đã trở thành một vị A-La-Hán, tất cả những thứ ô nhiễm như vô minh và bám víu chấp thủ sẽ hoàn toàn bị tiêu hủy. Tất cả những nghiệp quá khứ mà một vị A-La-Hán đã từng thực hiện sẽ chấm dứt. Với trạng thái tâm thức như vậy, một vị A-La-Hán vẫn có thể thực hành bố thí, đạo đức và thiền nội quán…

 như là những thói quen của Ngài. Tuy nhiên, tất cả những hành động mà Ngài muốn thực hiện đều là thiện lành, vô nhiễm và không tạo nên bất cứ một kết quả nào nữa. Như vậy, chúng ta có thể nói rằng đối với một vị A-La-Hán, nghiệp lực đã trở nên bị suy yếu. Người trần tục thường bám víu mãnh liệt vào thế giới mà họ đang sống. Họ muốn sống một cuộc đời không phiền muộn hay lo lắng về tuổi già, bệnh tật và cái chết. Tuy nhiên, thông thường họ lại không xem trọng việc vun bồi đạo đức. Họ lại còn mong muốn khi chết sẽ được tái sanh vào một cảnh giới khác tốt đẹp hơn thế giới mà mình sẽ bỏ lại phía sau. Thậm chí, những vị Tu-Đà- Hườn hay Tư-Đà-Hàm cũng chưa thể hoàn toàn thoát khỏi tâm bám víu cố chấp. Cá biệt, có một số vị A-Na-Hàm vẫn mong muốn đạt tới cõi sắc giới và vô sắc giới. Đó là lý do tại sao khi qua đời, họ lại tái sanh vào những cảnh giới ấy. Một vị A-La-Hán là người đã hoàn toàn thoát khỏi tâm bám víu vào sự sống.

              

               Không mong muốn chết và cũng không khao khát sống                  

 

Bài thơ dưới đây thể hiện sự thành tựu tuyệt đối của những vị A-La-Hán :

                                  Nābinandāmi maranam,

                                  Nābinamdāmi jivitam,

                                  Kālanca patikhankāmi

                                  Nibbisam bhatako yathā

Tạm dịch là:

                                  Tôi không mong muốn chết

                                  cũng không khao khát sống,                           

                                  luôn hướng tới Đại-Niết-Bàn

                                  như người làm công ăn lương,

                                  đợi chờ đến lúc được trả lương.

Những người không có niềm tin đúng đắn thường tìm cách phỉ báng Niết Bàn bằng cách đề xuất ý kiến rằng : “ Người hay nói về Niết Bàn là những người chứa đầy trong tâm thức những mối nghi ngờ về sự có thật của nó”. Một người hay thực hiện những hành động thiện lành sẽ có những lời lẽ ngược lại khi nói rằng : “ Người ta có thể đạt tới Niết Bàn sau khi chết”. Nếu như vậy thì tại sao những người có đức hạnh không tự sát để có thể nhanh chóng đạt tới cõi Niết-Bàn hạnh phúc ? Thật ra, không có ai dám hy sinh cuộc sống của mình cho một cõi hạnh phúc ở tương lai. Điều này chỉ ra rằng trong thực tế, không có ai tin tưởng tuyệt đối vào những gì mà chính họ đã truyền bá. Ở đây, những người phê bình có ác ý đối với quan niệm về Niết Bàn đã thực hiện công việc của họ trên những giả thuyết lầm lạc. Một vị A-La-Hán không bao giờ ao ước về một cõi sống kế tiếp, ngoại trừ Đại-Niết-Bàn ( Pari-Nibbāna). Sự thật, Ngài không mong muốn chết và cũng không khao khát sống. Với sự kính trọng, chúng ta có thể nói rằng, Ngài giống như một người làm công ăn lương đã được đề cập trong bài thơ nói trên. Sự thật, một người làm công ăn lương hiếm khi làm việc với tinh thần yêu quí nghề nghiệp của chính mình. Anh ta chỉ yêu tiền lương của anh ta là chính. Đó là lý do duy nhất khiến anh ta sợ bị mất việc. Nếu nhỡ bị mất việc thì anh ta sẽ tìm đâu ra thức ăn để nuôi sống mình và quần áo để che thân ? Vì vậy anh ta sẽ hết sức cẩn thận để giữ chỗ làm của mình, bởi vì đó là cái cần câu cơm và quần áo, là cuộc sống, là phương tiện để tiến thân của anh ta… Tương tự như vậy, một vị A-La-Hán không bao giờ chứa chấp trong tâm trí Ngài cảm giác yêu thích cuộc sống hay cái chết. Ngài chỉ đợi chờ thời khắc đạt tới Đại-Niết-Bàn, trạng thái tận diệt của 5 uẩn. Chỉ khi đã đạt tới Đại-Niết-Bàn, Ngài mới thật sự có khả năng buông bỏ gánh nặng của 5 uẩn. Một vị A-La-Hán cho rằng 5 uẩn ( Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) như là những gánh nặng. Thân thể này được chăm sóc và bảo dưỡng, cho ăn và che chở bằng y phục. Nó không chỉ được nuôi dưỡng bằng thức ăn, nó còn được nuôi dưỡng bởi nhiều đối tượng khác mà những giác quan của nó cảm nhận. Thân thể luôn luôn phát ra những cung bậc khác nhau. Những cung bậc đó chính là bốn oai nghi ( đi, đứng, nằm, ngồi – Iriyapatha). Thân thể cũng phải luôn luôn thở để sống. Sự thật, nó luôn luôn chú ý đến trạng thái thịnh vượng của chính nó. Đối với một vị A-La-Hán, tất cả những những nhiệm vụ đó là một gánh nặng phiền toái. Trước khi đạt tới Niết-Bàn, một vị A-La-Hán chỉ còn sống một kiếp sống cuối cùng trong luân hồi. Ngài đã nhận lấy gánh nặng của 5 uẩn từ thời khắc thức tái sanh hiện khởi, khi Ngài đang được hình thành trong dạ mẹ. Kể từ thời khắc đó trở đi, hành uẩn – Sankhārakkhandhā bắt đầu hoạt động và liên tục sản sinh ra tinh thần và vật chất. Hành uẩn là điều kiện tất yếu để phát sanh các pháp hữu vi hay sự vật được cấu thành. Tái sanh chính là sản phẩm của nghiệp và những thứ ô nhiễm thừa hưởng được từ quá khứ. Kiếp sống hiện tại của một vị A-La-Hán là một sản phẩm có nguồn gốc từ hình thức 5 uẩn trong quá khứ. Sản phẩm này được xem như là kết quả của nghiệp và những thứ ô nhiễm thuộc về tiền kiếp của Ngài. Nếu nghiên cứu sâu hơn về kiếp sống quá khứ của một vị A-La-Hán, người ta sẽ khám phá ra vô số hiện tượng tương tự về trạng thái liên tục khởi lên của 5 uẩn. Do đó, người ta không thể biết được cuộc sống của Ngài bắt đầu từ đâu. Nếu cho rằng có thể biết được cuộc sống bắt đầu từ đâu thì chúng ta hãy tự hỏi :

“ Trứng gà và con gà cái nào có trước ? Hạt xoài và cây xoài cái nào có trước ?” Con gà mái đẻ trứng và ấp trứng cho nở thành gà con. Gà con khi lớn lên sẽ trở thành gà mái… Như vậy, tiến trình này cứ diễn ra một cách vô cùng tận…

Câu chuyện về cây xoài và hạt của nó cũng có tiến trình phát triển tương tự. Người ta có thể cho rằng con gà mái và cây xoài là cái sinh ra trước, cái hiện tồn là nguyên nhân đầu tiên của thế giới. Tuy nhiên, khi 5 uẩn được cho là bao gồm tinh thần và vật chất, bạn không bao giờ biết được điểm khởi đầu của chúng. Năm uẩn đã được sanh ra từ thuở xa xưa. Vị A-La-Hán chỉ mong muốn một điều duy nhất là nhập vào Đại-Niết-Bàn để có thể trút bỏ được gánh nặng 5 uẩn đang đè lên đôi vai của Ngài. Người thế tục luôn bị những thứ ô nhiễm thống trị. Họ bắt đầu chấp nhận gánh nặng của 5 uẩn kể từ khi thức cận tử kết nối với thức tái sanh, và cứ thế, họ mãi mãi bị trôi lăn trong vòng luân hồi sanh tử. Gánh nặng này chồng chất lên gánh nặng khác và cứ thế ngày càng nặng hơn qua tiến trình liên tục tái sanh, chết đi rồi lại tái sanh…Đối với những vị A-La-Hán, khi đã không còn mang tâm bám víu vào một kiếp sống ở tương lai, hạt giống khao khát trong các Ngài đã bị khô héo và sự sống mới sẽ không bao giờ còn xảy đến nữa. Vì vậy, gánh nặng 5 uẩn đã bị trút bỏ. Đây chính là điều mà các Ngài luôn luôn mong muốn.   

 

                         Sự tái sanh phụ thuộc vào tâm khao khát

 

Ngập tràn tâm khao khát, tất cả muôn loài chúng sanh đều có một sự bám víu mãnh liệt vào kiếp sống hiện tại của chính họ. Nếu được miễn chết, họ sẽ mong muốn được sống vĩnh viễn. Nếu phải chết, họ sẽ mong muốn một cuộc sống mới có nhiều lạc thú hơn. Vì vậy, họ khó có thể chấp nhận một quan niệm không còn tái sanh. Do đó đối với họ, cùng với thức tái sanh, nghiệp sẽ làm mới lại 5 uẩn sau khi thức cận tử đã theo dòng của nó. Không mang tâm bám víu vào một kiếp sống mới, vị A-La-Hán luôn luôn ước nguyện chấm dứt được 5 uẩn của chính Ngài. Khao khát về một kiếp sống mới là tham ái hay khao khát ( Tanhā).

Ước nguyện buông bỏ được 5 uẩn một cách thật sự là một tâm thức đã hết tác dụng tạo nghiệp ( Kiriyachanda). Hành động thiện lành của những vị Phật và A-La-Hán được gọi là Duy tác- Kiriya,  bởi vì nghiệp đã không còn tích lũy trong họ, mỗi khi họ đã vượt qua được thiện ác. Ở đây, chúng ta cần phải chú ý để có thể phân biệt được sự khác nhau giữa Tanhā ( khao khát hay tham ái) và Chanda ( ước nguyện). Khao khátchủ động, ước nguyệnbị động.

Một đằng muốn duy trì sự sống trong luân hồi, đằng kia lại muốn chấm dứt sự sống trong luân hồi. Đối với những vị A-La-Hán, khao khát và bám víu đã hoàn toàn vắng bóng trong tâm trí của các Ngài, hạt giống của nghiệp thức

( Kammavinnàna) đã bị khô héo và chết đi. Các hành động thiện lành hay bất thiện là đất, hành vi nhận thức là nước và phân bón. Khi một người sắp chết, anh ta sẽ nhớ lại những hành động tốt hay xấu mà mình đã từng thực hiện trong kiếp sống hiện tại. Lại nữa, có thể anh ta sẽ nhìn thấy những hình ảnh hay nghe thấy những âm thanh liên đới với những hành động mà mình đã từng thực hiện.

Lúc ấy, anh ta sẽ nhận biết rằng đó chính là những dấu hiệu của nghiệp.

Trong một vài trường hợp, người đang chết sẽ nhận được những dấu hiệu hay biểu tượng dự báo trước cảnh giới mà người đó sẽ tái vào sau khi qua đời. Đây chính là dấu hiệu của vận mệnh- Gati-nimitta. Đến đây, hãy để cho tôi giải thích một cách tỉ mỉ về ý nghĩa của từ nghiệp thức - Kammavinnàna. Từ này đồng nghĩa với từ Abhisankhāraviññāna. Tự nó xác định khoảnh khắc đang chết của một người nào đó (Maranāsañña javana). Nói cách khác, nghiệp thức bổ nghĩa cho hành động chết. Nghiệp thức có năng lực tạo tác rất mạnh, nó không yếu đuối như Kiriya CittaTâm duy tác. Nghiệp thức mang nghĩa chủ động và có thể nhận thức thời khắc chết của một người thông qua cảm nhận của 6 giác quan. Nghiệp thức có nguồn gốc từ thức tái sanh- Patisandhiviññāna. Nó khởi lên ngay sau khi khoảnh khắc chết xảy đến.

Như trong Kinh Điển Pāli đã nói : “ Tùy thuộc vào sự hình thành của nghiệp, nghiệp thức sẽ hiện khởi”. Nghiệp thức không tồn tại trong tâm trí của một vị A-La-Hán khi Ngài đang trải qua khoảnh khắc nhập Đại-Niết-Bàn. Tâm duy tác – Kiriya Citta là trạng thái tâm cuối cùng của một vị A-La-Hán khi Ngài nhập Đại-Niết-Bàn. Tâm này không có khả năng tạo quả. Khi Thức Đại-Niết-Bàn ( Parinibbāna Viññāna)hiện khởi trong thực tế, không có sự hiện diện của thức tái sanh. Tinh thần và vật chất cũng mất hết khả năng tái tạo. Do đó có thể nói rằng, trong trường hợp này không hề có sự trở thành nào hiện khởi, bởi vì nghiệp thức ( Kammaviññāna) đã hoàn toàn mất hết hiệu lực. Đây là thông tin rút ra được từ Kinh Điển Pāli. Khi một vị A-La-Hán đạt tới Niết-Bàn, Ngài không hề bị phiền nhiễu bởi nghiệp ( Kamma), dấu hiệu của nghiệp ( Kamma-nimitta) và dấu hiệu của vận mệnh ( Gati-nimitta). Hoạt động của thức đã hoàn toàn mất hết công hiệu. Do đó không có nghiệp quả- Vipāka xảy ra đằng sau nó. Chỉ có Tâm duy tác- Kiriya Citta kết hợp với tiến trình thực hành thiền nội quán của Ngài. Nếu phân tích thêm thì cũng không còn cái gì nữa cả, bởi vì thức cận tử đã hoàn toàn gắn liền với Đại-Niết-Bàn. Khi một vị A-La-Hán đạt tới Đại-Niết-Bàn, hạt giống của thức đã hoàn toàn mất hết hiệu lực. Do đó, sự sống đã hoàn toàn bị triệt tiêu.

 

                              

                                   Giống như một ngọn lửa đã tắt

 

Vào một thời, theo chỉ thị của Đức Phật, Tôn giả A-Nan-Đà đã tụng Kinh Patana khi Ngài đang đi thăm thành phố Tỳ-Xá-Lị ( Vesāli). Khi Tôn giả đang tụng Kinh, bổng nhiên lửa từ một cây đèn dầu bùng cháy lên vì dầu hỏa chứa trong cây đèn đã hoàn toàn hết sạch, bấc đèn cũng đã cháy hết. Tôn giả Ānandā đã quan sát hiện tượng này và nói : “Đúng là ngọn lửa này đã bị dập tắt. Tất cả những điều kiện tạo nên sự vật và hiện tượng đã bị dập tắt trong một vị A-La-Hán”. Ngọn lửa tùy thuộc vào bấc đèn và dầu hỏa. Nếu ngọn đèn được châm thêm dầu và thay bấc mới thì nó sẽ tiếp tục cháy sáng. Ngọn lửa cháy sáng do bấc đèn liên tục hút dầu để cung cấp năng lượng cho nó. Những người tình cờ quan sát hiện tượng này sẽ nhận thấy rằng đây là một tiến trình liên tục. Tương tự như vậy, 5 uẩn tích tụ lại do nghiệp ( Kamma) , tâm trí ( Citta), nhiệt độ hay điều kiện khí hậu ( Utu) và chất dinh dưỡng ( Āhāra) để tiếp tục tái tạo. Chúng hiện khởi và ngay sau đó sẽ biến mất đi một cách lập tức. Nếu bạn muốn biết về bản chất của 5 uẩn thì hãy chú ý đến bất cứ cái gì đang khởi lên qua trạng thái cảm nhận của 6 giác quan như : Thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác khi xúc chạm… Bạn sẽ nhận thấy rằng, bất cứ một hiện tượng nào đó cũng đều chấm dứt một cách lập tức ngay sau khi đã khởi lên. Khi sự năng lực chú ý đã trở nên mạnh mẽ, bạn sẽ nhận thức được trạng thái tan biến một cách tức thì của các hiện tượng thấy, nghe, ngửi…Đối với những người bình thường, mọi hiện tượng dường như xảy ra một cách liên tục. Vì vậy, cách vận hành của 5 uẩn cũng giống như cách vận hành của một ngọn lửa. Trạng thái chấm dứt của 5 uẩn ( Pañca Khandha) giống như một ngọn lửa đã bị dập tắt. Người bị ám ảnh bởi quan niệm về bản ngã thường suy nghĩ và nói rằng, một vị A-La-Hán giống như một người đã loại bỏ được hoàn toàn tính cách cá nhân. Thật ra trong thực tế, không hề có bất cứ một cái gì tồn tại theo nghĩa một cá thể riêng biệt. Những gì mà chúng ta đã mô tả chỉ là một thứ ngôn ngữ có tính qui ước. Sự thật, một cá nhân nào đó chính là một tập hợp được cấu thành và biểu lộ bởi vật chất và tinh thần. Đối với những vị A-La-Hán, năng lực cấu thành một tổ hợp đã hoàn toàn bị triệt tiêu. Trạng thái chấm dứt này không có nghĩa là sự biến mất của một tính cách cá nhân. Một người nào đó đã tin chắc rằng, tính cách cá nhân đã biến mất trong một vị A-La-Hán thì anh ta đã bị lạc vào Thuyết đoạn kiến –Uccheda diţţhi. Đoạn kiếnlà niềm tin của dị giáo. Nó là một quan niệm cho rằng sự sống sẽ chấm dứt khi cái chết xảy đến. Nói một cách ngắn gọn, quan niệm này cho rằng chết là hết. Như tôi đã nói, trong thực tế không hề có bất cứ một tính cách cá nhân nào tồn tại theo nghĩa riêng biệt. Chúng ta chỉ là một tiến trình xảy ra liên tục của vật chất và tinh thần. Vật chất và tinh thần khởi lên rồi tan biến đi, khởi lên rồi lại tan biến…vậy thôi. Vị A-La-Hán là một ví dụ hoàn hảo cho tiến trình liên tục khởi lên rồi tan biến đi của mọi hiện tượng. Nếu nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn về 5 uẩn, bạn sẽ không bao giờ tìm thấy một tính cách cá nhân nào cả. Do đó, đối với những vị A-La-Hán, trạng thái chấm dứt ở đây có nghĩa là sự tiêu hủy hoàn toàn tiến trình liên tục khởi lên và tan biến đi của 5 uẩn. Với trạng thái chấm dứt theo cách đó, Tôn giả A-Nan-Đà đã ám chỉ rằng nó giống như một ngọn lửa đã tắt.

 

                                       Ý nghĩa của Niết-Bàn

 

Từ nibbānti có nghĩa là sự dập tắt. Từ này xuất hiện trong Linh Bảo Kinh

( Ratanā Sutta). Nguyên nghĩa, nó phát xuất từ gốc “ni”, một tiếp đầu ngữ dùng để thành lập hình thức phủ định và gốc “ ba” có nghĩa là tâm khao khát.

Từ nibbānti biểu thị trạng thái tiêu hủy của lửa dục, sân hận và vô minh – những nguyên nhân gốc của khổ đau. Văn bản trong Kinh nói rằng : Nibbāti vattadukkham ettati nibbānam. Câu này có nghĩa là : “ Nơi nào có trạng thái chấm dứt của luân hồi khổ đau thì nơi đó có Niết-Bàn”. Trạng thái Niết-Bàn ( Nibbāna) được diễn tả là sự nhận thức về Đạo Quả, là kết quả của việc thực hành thiền minh sát. Ở đó ( trong Niết-Bàn), những thứ ô nhiễm như tâm khao khát và vô minh đã bị tận diệt. Vì vậy, hành động và kết quả của nó ( tức nghiệp và nghiệp quả) đã không còn cơ hội để trở thành các hình thức như tinh thần và vật chất, trạng thái xúc chạm, cảm giác... Nói cách khác, sự trở thành mới mẽ sẽ không còn xuất hiện. Đây chính là trạng thái tiêu hủy vòng quay của ô nhiễm ( Kilesa Vatta), vòng quay của nghiệp ( Kamma Vatta) và vòng quay của nghiệp quả ( Vipāka Vatta). Ở đây, trong sự định nghĩa này, những phẩm chất đặc biệt của Niết-Bàn đã được ẩn dụ để xác định vị trí của nó. Tuy nhiên trong thực tế, Niết-Bàn không phải là một nơi chốn. Nó là một cảnh giới hay là một trạng thái tâm thức. Kinh cũng nói rằng : “ Nibbāti vattadukkham etasmim adhigateti và nibbānam”. Câu này có nghĩa là : “ Khi đã đạt tới Niết-Bàn, luân hồi khổ đau đã bị tiêu hủy”. Ở đây, lời Kinh muốn nhấn mạnh rằng, Đạo và Quả của nó là phương tiện đã mang lại trạng thái chấm dứt của khổ đau. Vì vậy, Niết-Bàn cũng có thể được mô tả như là một phương tiện để đạt tới trạng thái chấm dứt của khổ đau. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một lối nói bóng bẩy, văn hoa thuộc về phạm trù ý thức mà thôi. Điều quan trọng nhất cần chú ý đến là :

Bản chất của Niết-Bàn là trạng thái tiêu hủy của tất cả những thứ ô nhiễm”. Với trạng thái chấm dứt của vòng quay ô nhiễm, sự trở thành mới mẽ sẽ không còn hiện khởi, tất cả đã trở nên lặng yên. Bây giờ, tôi sẽ trình bày một lời tuyên bố chính thức rất dễ nhớ về Niết-Bàn :

 Niết-Bàn là nơi chấm dứt của luân hồi khổ đau.

 Niết-Bàn làphương tiện mang lại trạng thái chấm dứt luân hồi khổ đau.

 Bản chất của Niết-Bàn chính là trạng thái chấm dứt của luân hồi khổ đau.

Đối với những hành giả đang thực hành thiền minh sát ( Vipassanā Yogis), trong từng khoảnh khắc thực hành nội quán, những thứ ô nhiễm càng lúc càng trở nên suy yếu. Họ chưa có khả năng nhổ bật gốc của ô nhiễm một cách hoàn toàn. Họ sẽ làm được điều đó chỉ khi đã nhận thức được Đạo Quả Cao Thượng qua quá trình thực hành thiền. Theo lối nói hoa mỹ, Niết-Bàn đã được diễn tả như là một nơi chốn vắng bóng khổ đau. Bản chất của Niết-Bàn cũng đã được diễn tả bằng phép ẩn dụ như là một nguyên tố vắng lặng, như là một kết quả khi khổ đau đã chấm dứt. Trong thực tế, Niết Bàn là một trạng thái có thể khiến cho luân hồi bị tiêu hủy một cách hoàn toàn. Theo các bậc thầy chú giải Kinh Điển, tính chất đặc trưng của Niết-Bàn là trạng thái yên tĩnh ( Santi).

 

                           Ý nghĩa của Santi ( trạng thái yên tĩnh)

 

Santi cũng có nghĩa là dập tắt luân hồi khổ đau. Bản chất của trạng thái này là vắng lặng. Khi tất cả những thứ khổ đau đã bị tiêu hủy một cách hoàn toàn, quyền trị vì tối cao đã thuộc về Niết-Bàn. Đến đây, tôi nghĩ rằng Niết-Bàn đã được xác định một cách quá rõ ràng và trong sáng. Để hiểu sâu hơn về vấn đề này, tôi sẽ giải thích một cách tỉ mỉ về bản chất của luân hồi.

 

                                Vòng quay của ô nhiễm- Kilesa Vatta    

 

Theo thuyết Nhân Duyên, vòng quay của ô nhiễm được thiết lập bởi vô minh

( Ajjiva), khao khát ( Tanhā) và bám víu chấp thủ ( Upādāna- Clinging).

Trạng thái liên tục khởi lên của những điều kiện tạo nên sự vật và hiện tượng như :  Vật chất, tinh thần, chức năng của 6 giác quan…được cho là bất toại nguyện do bản chất nhất thời của chúng. Trạng thái này không mang lại gì cả ngoài khổ đau ( Dukkha). Thuyết hiện thực nói rằng bản chất của hiện hữu đã bị che lấp bởi âm mưu của khao khát. Vì vậy, chân lý vẫn còn bị che phủ bởi lớp mây u ám và chúng sanh chưa hiểu được nó một cách đúng đắn. Sự chệch hướng ra khỏi chân lý là vô minh. Những cảm giác dễ chịu nhận được từ các hình ảnh đẹp và âm thanh êm tai, các loại kiến thức thú vị đều là khổ đau.

Tuy nhiên, vô minh chấp nhận chúng như là hạnh phúc. Một người chịu ảnh hưởng của vô minh tự nghĩ rằng “ tôi tồn tại, ông ấy tồn tại, cô ấy tồn tại…Sự tồn tại này là mãi mãi”. Các đối tượng của giác quan mà một người vô minh quan sát đã xuất hiện trước anh ta như là những thứ tốt đẹp và thiện lành, chúng quyến rũ khiếu thẩm mỹ của anh ta. Do đó, anh ta nắm giữ chúng, khao khát chúng. Sự khao khát của một người vô minh đã thúc dục người này tìm kiếm sự thỏa mãn trong những đối tượng của giác quan. Kết quả là anh ta sẽ khởi tâm bám víu cố chấp trên những đối tượng này.Những nổ lực mang tính tự nguyện của một người vô minh nhằm mục đích gặt hái được những đối tượng khao khát đã dẫn dắt anh ta đến với nghiệp ý chí  ( tức hành – Sankhāra), thọ nghiệp

( Kammabhava) như là những nghiệp quả- Vipāka ( có thể là thiện hoặc bất thiện).

                           Vòng quay của nghiệp- Kamma Vatta

 

Khi 3 loại ô nhiễm gốc là vô minh, khao khátbám víu chấp thủ đã tích tụ trong tâm của chúng ta, những loại tâm phụ thuộc vào chúng như sân hận

( Dosa), ngã mạn ( Mana) và tà kiến ( Michadiţţhi) cũng phải được tính đến.

Bị xúi giục bởi khao khát, tham lam ( lobha) đã tự khẳng định nó. Được sự động viên khuyến khích bởi tâm tham lam, bằng mọi giá và bất cứ một phương tiện nào được cho là thích hợp, một cá nhân nào đó sẽ cố gắng mãnh liệt để có được những gì anh ta khao khát. Khi lòng khao khát không được mãn nguyện, sân hận sẽ lập tức khởi lên trong anh ta. Một cách vô ý thức, cá nhân nói trên sẽ tìm cách giành giật cho được những đối tượng mà mình đang khao khát. Người này sẽ sẵn sàng tàn phá cuộc sống và của cải của đồng loại. Khi một hành động được dẫn dắt bởi vô minh, một hình thức vô minh khác đã nảy sinh qua những hành động bất thiện. Vì vậy, khi một người đã nuôi dưỡng sân hận và tham lam, vô minh trong anh ta lại càng gia tăng. Tính ngã mạn sẽ khiến cho người chứa chấp nó nghĩ rằng bản thân anh ta là cao thượng và quí phái hơn người khác.

 Khi không chịu bình đẳng với những người khác, anh ta sẽ cố gắng vươn lên để chiếm được vị trí tối cao. Những người có tính ngã mạn bị ám ảnh bởi những quan điểm lầm lạc sẽ luôn luôn khẳng định họ là đúng. Với thái độ ứng xử này, mãi mãi họ sẽ tìm cách thuyết phục người khác nghe theo những tư tưởng lầm lạc của họ. Những người có tính ngã mạn cũng có thể tuyên truyền cho người khác tư tưởng hung hăng và gây hấn. Tất cả những hành động phát xuất từ vòng quay của ô nhiễm đều có thể trở thành vòng quay của nghiệp – Kamma Vatta. Trộm cắp và nói dối là những hành động vô đạo đức của kẻ tối tăm. Trong khi đó, bố thí và thực hành Giáo Pháp là những hành động thiện lành của người đức hạnh. Ngoài trừ các vị A-La-Hán, những người thế tục và thậm chí là những vị chức sắc tôn giáo cũng đều là đối tượng của vòng quay ô nhiễm. Vì vậy, hành động của họ có thể là thiện lành hoặc bất thiện. Những hành động có chủ ý đều được xem là có liên quan đến tham lam, sân hận và vô minh, dù chúng là thiện hay bất thiện. Những hành động bất thiện sẽ mang lại kết quả xấu. Khi 3 cái gốc ô nhiễm là tham lam, sân hận và vô minh đã vắng mặt thì người ta sẽ gặt hái được phước báu. Hành động xấu ác sẽ dẫn đến những cảnh giới thấp kém, trong khi đó những hành động thiện lành sẽ dẫn đến cõi người, cõi Chư-Thiên và Phạm-Thiên. Thông thường, người có tâm tính tốt lành và tinh khiết sẽ sống rất lâu, có sức khỏe tốt và được thịnh vượng về mặt vật chất. Nếu mong muốn, người ta có thể gặt hái được Đạo Quả và Niết-Bàn bằng cách thực hiện những hành động thiện lành. Nếu không muốn bị tái sanh vào những cảnh giới thấp kém và buồn khổ, người ta phải kiêng cữ sát sanh, trộm cắp, tà dâm…Nếu muốn được tái sanh vào cõi người, Chư-Thiên và Phạm-Thiên, bước đi trên Chánh đạo và đạt tới Niết-Bàn, người ta cần phải thực hành bố thí, giữ gìn Giới luật và phát triển tinh thần. Người có mong muốn gặt hái được Đạo Quả và Niết-Bàn phải thực hành thiền nội quán. Ngày nay, một vài người nhận thức lầm lạc về Phật Pháp đã truyền bá những quan điểm sai trái của họ bằng cách nói rằng :  “ Tâm khao khát bất thiện không bao giờ tái diễn ở kiếp sau. Vì vậy không cần phải thực hành bố thí, giữ gìn Giới luật và phát triển tinh thần. Những hành động thiện lành như bố thí, giữ Giới và phát triển tinh thần không hề phát xuất từ vòng quay của nghiệp. Vòng quay của nghiệp cũng không phải là điều kiện phát khởi tính vô minh, khao khát và bám víu. Vòng quay của nghiệp cũng không mang lại thức tái sanh, tinh thần và vật chất, khả năng cảm nhận của 6 giác quan”… Bởi vì không tin rằng có nghiệp thiện lành hay bất thiện, những người chưa nhận biết được Phật Pháp một cách đúng đắn sẽ có trí tuệ rất thấp kém. Những đường lối suy nghĩ của họ thường lệch lạc, tà vạy. Nếu được giáo dục theo những cách thức lầm lạc như vậy, họ sẽ không thực hiện những hành động thiện lành, không thực hành bố thí, không giữ gìn Giới Luật, không phát triển tâm thương yêu tử tế. Thậm chí họ cũng không thực hiện những hành động tối thiểu mang tính mộ Đạo tại các chùa chiền hay tu viện. Nếu có thực hiện bố thí, họ cũng sẽ mang cảm giác tiếc nuối về những của cải đã đem ra giúp đỡ cho người khác. Đối với những người có tư tưởng lệch lạc như vậy, tất cả những phước báu mà họ đã tích lũy được thông qua các hành động thiện lành cũng sẽ cuốn bay theo chiều gió. Bấy nhiêu nghiệp bất thiện đã tích lũy đó cũng đủ dẫn đưa họ đến với địa ngục khổ đau như là một kết quả  không thể tránh được. Thậm chí đến lúc đó, họ cũng sẽ không còn cơ hội để tham lam, để nói năng hay suy nghĩ về những điều xấu ác mà mình muốn thực hiện nhằm mục đích thỏa mãn tâm khao khát. Họ cũng sẽ mất hết khả năng kiềm chế sân hận mỗi khi những khao khát của họ không được thỏa mãn. Tâm thiện lành ( Kusala Citta) có khuynh hướng thực hiện những hành động tốt đẹp. Tâm bất thiện ( Akusala Citta) không bao giờ hiện khởi đồng thời với tâm thiện lành. Nó thường khởi lên sau một số tâm khác. Khi đang thiền hành, chân trái đã dở lên trong khi chân phải vẫn còn tiếp xúc và đứng vững trên mặt đất. Khi chân phải đã dở lên thì chân trái vẫn còn đứng vững trên mặt đất. Hai chân không bao giờ đồng thời dở lên hay đặt xuống cùng một lúc. Hai tâm thiện lành và tâm bất thiện cũng vận hành theo cách tương tự. Khi những hành động thiện lành đang hoạt động thì những hành động bất thiện đang ngủ yên. Tuy nhiên, các hành động thiện lành luôn luôn là kết quả của những nổ lực mang tính tự nguyện. Trong khi đó, những hành động bất thiện hầu như không phụ thuộc vào bất cứ một ý chí tự nguyện nào. Chúng luôn xảy đến một cách tự nhiên theo mệnh lệnh của tính tham lam, sân hận và những thứ tương tự như vậy. Thậm chí, khi một người thực hành Giáo Pháp với mục đích đình chỉ những hành động bất thiện thì những hành động này vẫn cứ khăng khăng hoạt động theo cách riêng của chúng. Do đó, khi bạn buông bỏ điều thiện thì chắc chắn điều ác sẽ triển nở. Con đường dẫn đến những cảnh giới thấp kém luôn luôn mở rộng đối với những người làm ác. Vì vậy, khi những chức sắc tôn giáo hay người có vai vế trong xã hội dung chứa các quan kiến lầm lạc thì chắc chắn học trò của họ cũng không thể đi trên một con đường đúng đắn. Đối với những vị thầy lầm lạc như đã đề cập ở trên, trong Hạnh Phúc Kinh ( Mangāla Sutta), Đức Phật có nói rằng : “ Hãy tránh xa vô minh”.

 

                       Vòng quay của nghiệp quả- Vipāka Vatta

 

Một hành động dù thiện hay bất thiện cũng đều sản sinh ra kết quả của nó.

Vì vậy, chu kỳ luân chuyển của hành động trước sau gì cũng sẽ mang lại kết quả của nó. Kết quả này được gọi là vòng quay của nghiệp quảVipāka Vatta. Để có thể thoát khỏi vòng quay của nghiệp quả, người ta nên thực hành bố thí, giữ Giới và phát triển tinh thần, đặc biệt là sự phát triển văn hóa tinh thần thông qua việc thực hành thiền quán niệm. Mục đích của việc thực hành loại thiền này là để gặt hái được Chánh Đạo, trở thành người cao quí và đoạn tuyệt với trạng thái tái sanh vào luân hồi. Do đó, vòng quay của nghiệp quả được định nghĩa như là sự tái diễn của 5 uẩn, như là kết quả của những hành động thiện lành hay bất thiện.

 

                                                Tròn và Tròn

 

Từ Vatta trong tiếng Pāli chỉ có nghĩa đơn giản là đi vòng tròn. Vòng quay của ô nhiễm chắc chắc sẽ đi vào vòng quay của nghiệp theo chu trình của nó. Vòng quay của nghiệp chắc chắn sẽ đi vào vòng quay của nghiệp quả.

 Theo cách này, vòng quay của nghiệp sẽ diễn ra trong một chu kỳ bất tận, không có khởi đầu và cũng không có kết thúc (  vô thủy vô chung). Không có ai có thể làm cho bánh xe luân hồi dừng lại. Khi quan tâm đến bản chất của những hành động và kết quả của chúng, chúng ta có thể nói rằng bất cứ ai cũng có thể thực hiện những hành động tốt lành một cách dễ dàng, với điều kiện là họ phải dứt khoát từ bỏ những hành động xấu ác. Nếu thất bại trong việc thực hiện những hành động phước thiện thì gần như chắn chắn những hành động mà chúng ta đã làm là bất thiện. Những nghiệp quả phát xuất từ các hành động phước thiện sẽ mang lại lợi ích cao thượng cho bạn. Chúng có thể khiến cho bạn được tái sanh vào những cảnh giới cao thượng như cõi người, cõi Chư-Thiên và Phạm-Thiên. Trong khi đó, những nghiệp quả xấu xa được tích lũy từ các hành động bất thiện luôn luôn tạo ra áp lực đè nặng lên bạn bằng nhiều thứ ô nhiễm. Những nghiệp quả xấu xa này sẽ lôi kéo bạn xuống địa ngục. Nếu nghiệp của bạn là thiện lành thì bạn sẽ được kết giao với những người đức hạnh và có trí tuệ. Nếu nghiệp của bạn là bất thiện thì bạn sẽ phải gặp nhiều điều bất hạnh trên đường đời. Lúc đó, bạn sẽ trở thành người hợp tác với những phần tử bất thiện. Theo quá trình sống, có thể bạn sẽ tiếp tục phạm phải những hành động bất thiện khác. Trong một kiếp sống, một người nào đó có thể đã thực hiện hàng triệu triệu hành động khác nhau. Những hành động đó rồi cũng sẽ qua đi. Tuy nhiên, tác động hay kết quả của chúng thì vẫn còn lưu lại. Thậm chí khi người này đã qua đời. Dấu tích còn lại của những hành động bất thiện ( tức những nghiệp quả xấu ác) sẽ quay trở lại trừng phạt người đã tạo ra nó và dẫn đưa người này đến với những cảnh giới thấp kém. Người đã tạo ra nghiệp bất thiện có thể phải vĩnh viễn gánh chịu khổ đau tại những cảnh giới thấp kém mà họ bị đọa vào. Nếu bị trở thành ngạ quỷ ( Peta ), người này sẽ bị đói khát triền miên. Khi còn sống, anh ta có thể bị chết cháy, bị tổn thương do dao kiếm đâm phải hay có thể chết vì nhiều loại vũ khí gây hại khác. Nếu bị đọa vào cõi súc sanh, người này sẽ phải khóc than và sống một cách cực kỳ đau khổ trong cõi sống đó. Nếu bị tái sanh làm loài sâu bọ hay côn trùng, làm trâu bò, voi hay ngựa, anh ta sẽ phải đối mặt với biết bao khổ đau cùng cực không thể kể xiết. Như chúng ta đã thấy, loài vật thường dễ bị nhiễm bệnh tật, bị trêu chọc, hành hạ và cuối cùng trở thành bữa ăn của nhiều loài khác. Tôi đưa ra các ví dụ này nhằm mục đích gửi đến bạn đọc sự hiểu biết về những gì sẽ xảy ra đối với những người đã tạo ra nghiệp ác.

Thậm chí, khi nghiệp của một người nào đó là thiện lành và anh ta được tái sanh làm người. Tuy nhiên, người này vẫn chưa thoát được tuổi già, bệnh tật và cái chết – những nguyên nhân của buồn khổ và khóc than…Tất cả những thứ này đều là khổ đau. Nếu một người không may bị tái sanh vào một cảnh sống nghèo đói, anh ta có thể bị kẻ khác có thế lực hơn chèn ép, bóc lột… Một người lâm vào cảnh nghèo đói rất dễ bị người khác lợi dụng hay xúi giục làm những việc tội lỗi. Khi chết đi, như là một kết quả tất yếu, người này lại có thể tiếp tục bị đọa vào những cảnh giới thấp kém, khổ đau. Nếu gặp may, anh ta sẽ được tái sanh lên cõi trời. Tuy nhiên, khi đang sống tại cõi trời, người này vẫn cảm thấy buồn bã thay vì được vui vẻ. Anh ta cũng cảm thấy rằng những nổi khao khát của chính mình vẫn chưa được hoàn toàn mãn nguyện. Thậm chí đã là một Chư-Thiên. Người này vẫn cảm thấy buồn chán và thất vọng khi nghĩ đến cái chết. Một Chư-Thiên rất dễ bị quyến rủ bởi nhiều loại cảm giác dễ chịu khác nhau rồi bỏ quên không thực hành Phật Pháp. Do đó, một vị Chư-Thiên cũng có thể bị đọa vào những cảnh giới thấp kém hơn,  khi đã hưởng hết tuổi thọ tại cõi sống của mình. Vì vậy, muôn loài chúng sanh không có cách nào để thoát khỏi luân hồi, trừ khi họ có thực hành Bát Chánh Đạo – Ariya maggani. Trong Kinh Chuyển Pháp Luân – Dhammacakkapavattana Sutta, Bát Chánh Đạo đã được Đức Phật nói đến như là Trung Đạo. Người ta thực hành Bát Chánh Đạo nhằm phát triển đạo đức, năng lực định tâm và trí tuệ như là những đề mục văn hóa tinh thần chính yếu mà tôi đã nói đến trong phần đầu của bài thuyết Pháp này ( khi tôi nhấn mạnh đến việc thực hành thiền nội quán). Những hành giả đến tu học tại trung tâm thiền này đều thực hành thiền tứ niệm xứ - Satipatthāna Vipassanā Bhāvanā. Thiền tứ niệm xứ là phương pháp thực hành sự chú ý theo những qui trình bắt buộc. Trong quá trình thực hành loại thiền này, bạn cần phải tập luyện sự chú ý đến tiến trình đang khởi lên và tan biến đi của thân tâm ( tức vật chất và tinh thần), trạng thái cảm nhận của 6 giác quan khi bạn đang thấy một hình ảnh, đang nghe một âm thanh, đang ngửi một mùi, đang nếm một vị nào đó… Chính nghiệp ở quá khứ đã trở thành nghiệp quả trong kiếp sống hiện tại là nguyên nhân đã tạo ra những trạng thái cảm nhận của chúng ta.

 

     Làm cách nào để thoát khỏi ô nhiễm, nghiệp và kết quả của nghiệp

 

Hãy để cho tôi giải thích một cách tỉ mỉ về cách thực hành thiền nội quán này. Đang thấy, đang nghe, đang ngửi, đang nếm, đang xúc chạm và đang suy nghĩ là những công việc của 6 nhóm nhận thức, cụ thể là : Sự nhận thức của mắt

( nhãn thức), sự nhận thức của tai ( nhĩ thức), sự nhận thức của mũi ( tỷ thức), sự nhận thức của lưỡi ( thiệt thức), sự nhận thức của thân thể (  thân thức)và sự nhận thức của tâm trí ( ý thức). Nếu đi vào phạm trù tinh thần, người ta nhận thấy rằng,  trạng thái nhận thức ( hay Tâm – Citta) luôn luôn phát khởi đồng thời với tâm song hành của nó ( tức tâm sở hay trạng thái tâm – Cetasika ). Vị trí của các giác quan dĩ nhiên là ở nơi thân thể. Khi các giác quan tiếp xúc với ngũ trần hayngũ giới ( gồm có sắc, thanh, hương, vị, xúc) như :  Mắt thấy đối tượng của nó là hình ảnh, tai nghe đối tượng của nó là âm thanh, mũi ngửi đối tượng của nó là mùi…thì cảm giác sẽ phát sanh. Năm kiểu tiếp xúc này và những cảm giác phát sanh từ chúng được gọi là vòng quay của nghiệp quả- Vipāka Vatta. Vòng quay của nghiệp quả thuộc về hiện tại kể từ khi nó phát sanh trong đời sống hàng ngày. Nếu chúng ta không thực hành nội quán để nhận thức vòng quay của nghiệp quả, tâm khao khát sẽ phát sanh tùy theo từng loại cảm giác đã khởi lên ( ở đây là cảm giác dễ chịu). Khao khát hay tham ái là cha đẻ của tâm bám víu cố chấp. Không có ai có thể chú ý và nhận thức được vòng quay của nghiệp quả khi trong thực tế họ vẫn còn vô minh.

Vòng quay của nghiệp quả, khao khát và bám víu cố chấp sẽ tạo thành vòng quay ô nhiễm. Chính  vòng quay của ô nhiễm sanh ra vòng quay của nghiệp. Từ vòng quay của nghiệp lại phát sanh vòng quay của nghiệp quả. Để ngăn chặn vòng quay ô nhiễm, chúng ta cần phải quan sát và nhận thức đúng đắn về vòng quay của nghiệp quả, cụ thể là 3 tướng vô thường, bất toại nguyệnvô ngã. Khi bản chất thật sự của các điều kiện cấu thành sự vật đã được nhận thức một cách đúng đắn,  tất cả những thứ ô nhiễm sẽ bị xua tan. Khi vô minh vắng mặt, khao khát không thể khởi lên. Khi khao khát vắng mặt, bám víu cố chấp sẽ bị khô héo đi. Tiếp đến, vòng quay của nghiệp sẽ chấm dứt. Do đó, nghiệp quả cũng sẽ không còn phát sanh. Theo cách này, vòng quay của nghiệp quả, vòng quay của ô nhiễm, và vòng quay của nghiệp sẽ lắng xuống và dần dần tan biến đi. Đến đây, tôi mạn phép trích dẫn một đoạn Kinh trong Nidānavagga Samyutta (  Duyên Khởi Nghĩa Thích Tạp-A-Hàm Chương –  chuyên giải thích về duyên khởi - ND).“Katano ca bhikkhave lokassa samu-dayo. Cakkhunca paticca rupe ca uppajjati cakkhuviññānam : Tinnam sangati phasso, phassa paccaya vedanā, vedanā paccaya tanhā, tanhā paccaya upādānam : Upādāna paccaya bhavo, bhava paccaya jāti, paccaya, jāti paccaya jarāmaranam, soka, parideya, dukkhadomannassupāyāsā sambhavanti. Ayam kho bhikkhave lokassa samudayo. Đoạn Kinh này có nghĩa là : “ Hỡi các Tỳ-kheo ! Nguồn gốc của thế giới này là cái gì ? Tùy thuộc vào mắt và đối tượng quan sát của nó, trạng thái nhận thức về hình ảnh sẽ khởi lên. Sự gặp gỡ của mắt, hình ảnh và nhãn thức sẽ sản sinh ra trạng thái tiếp xúc. Thông qua tiếp xúc, cảm giác sẽ khởi lên. Thông qua cảm giác, khao khát sẽ khởi lên. Thông qua tâm khao khát, bám víu cố chấp sẽ khởi lên. Thông qua tâm bám víu cố chấp, các sự vật sẽ trở thành. Thông qua các sự vật đã trở thành, sự sống sẽ khởi lên. Phát khởi từ sự sống, tuổi già và cái chết sẽ có mặt thông qua buồn khổ, khóc than, đau đớn, tiếc thương và tuyệt vọng. Và như thế hỡi các Tỳ-kheo ! Cái đống khổ đau này được gọi là thế giới mà muôn loài chúng sanh đang sống trong đó.

Theo cách như vậy, từ hành động thấy, nguồn gốc của sự sống mà luân hồi khổ đau đã được thiết lập trong một vòng quay sanh diệt bất tận. Chết đi rồi tái sanh, tiếp tục chết rồi lại tái sanh…Hiện tượng mắt thu được đối tượng của nó đã khiến cho hình ảnh khởi lên. Từ hình ảnh sẽ phát sanh cảm giác tương ứng với những gì mà mắt đã thấy. Nếu hiện tượng này không được phân tích bởi thiền nội quán, nhằm mục đích rút ra được một sự đánh giá đúng đắn về bản chất của các sự vật hay hiện tượng, tính khao khát hay tham ái sẽ tàn phá cuộc sống của bạn khi bạn nổ lực để hoàn thành những điều mà mình ao ước với bất cứ giá nào và bằng bất cứ phương tiện gì. Sau đó nghiệp sẽ thúc đẩy bạn đến với sự tái sanh. Tiếp đến, sự sống vừa được tái tạo lại mang đến tuổi già, cái chết và khổ đau cùng cực. Qui luật trên cũng sẽ diễn ra một cách thích đáng và chi tiết đối với hiện tượng thu nhận đối tượng của những giác quan khác như : Tai, mũi, lưỡi, thân thể… Theo cách này, bánh xe của hiện hữu ( tức luân hồi sanh tử - Samsàra) sẽ quay mãi, quay mãi một cách bất tận.      

                               

                                

 

                           

 

                                Trạng thái tiêu hủy của hiện hữu

 

Chúng ta có thể làm thế nào để cắt đứt được luân hồi sanh tử ? Tôi sẽ nói cho bạn biết về trạng thái tiêu hủy của bánh xe hiện hữu. Vấn đề này cũng đã được trình bày trong Kinh Nidānavagga Samyutta. Kinh nói rằng : “ Katamo ca bhikkhave lokassa attha-gamo. Cakkhunca paticca rupe ca uppajjati cakkhuviññānam, tinnam sangati phasso, phassapaccaya vedanā, vedanāpaccaya tanhā, tassāyeva tanhāya asesavirāgani-rodho, bhāvanirodhā jātinirodho, jatinirodhā jarāmaranam, soka, pari-deva, dukkha, domanassupāyāsā nirujjhanti. Eva me tassa kevalassa dukkhakhandhassa nirodho hoti. Ayam kho bhikkhave lokassa atthangamo. Đoạn Kinh này có nghĩa là :

Hỡi các Tỳ-kheo ! Sự tiêu hủy của thế giới hiện hữu là cái gì ? Tùy thuộc vào mắt và đối tượng quan sát của nó, trạng thái nhận thức về hình ảnh sẽ khởi lên. Sự gặp gỡ của mắt , hình ảnh và nhãn thức sẽ sản sinh ra trạng thái tiếp xúc. Thông qua trạng thái tiếp xúc, cảm giác sẽ khởi lên. Thông qua cảm giác, khao khát sẽ khởi lên. Tâm khao khát sẽ bị tiêu hủy một cách hoàn toàn bởi con đường hiểu biết của bậc cao thượng. Khi khao khát đã chấm dứt thì bám víu cố chấp cũng sẽ chấm dứt. Khi bám víu cố chấp đã chấm dứt thì sự vật hay hiện tượng cũng không còn trở thành nữa. Khi sự vật hay hiện đã không còn trở thành thì sự sanh sẽ chấm dứt. Do đó tuổi già và cái chết cũng sẽ không còn khởi lên. Khi tuổi già và cái chết đã không còn khả năng khởi lên thì buồn khổ, khóc than, đau đớn, tiếc thương và tuyệt vọng đã bị xóa sạch. Theo cách này, tất cả luân hồi khổ đau sẽ đi đến chỗ chấm dứt. Hỡi các Tỳ-kheo ! Đây chính là cách thức tận diệt của thế giới đầy khổ đau.

Từ hành động thấy của mắt, cảm giác sẽ khởi lên. Vì vậy, khi cảm giác thấy này được chú ý quan sát và nhận thức một cách đúng đắn thông qua thiền nội quán, tất cả những thứ khổ đau như vòng quay ô nhiễm, vòng quay của nghiệpvòng quay của nghiệp quả sẽ bị tận diệt. Để có sự hiểu biết xa hơn nữa về vấn đề này, tôi sẽ trích dẫn Kinh Nối Liền- Sammāsa Sutta để bạn được mãn nguyện. Kinh này cũng nằm trong Tương Ưng Bộ Kinh hay Tạp-A-Hàm – Samyutta Nikāya.

 

                               Kinh Nối Liền – Sammāsa Sutta

 

Ye hi keci bhikkhave etarahi samanā và brahmanā và yam loke piyarupam sātarupam, tamaniccato passanti, dukkha-to rogato bhayato passanti, te tanham pajahanti - upadhim pajahanti – dukkham pajahanti, ye dukkham pajahanti, te pari-muccanti jātiyā jarāya maranena sokehi parivedehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, parimuccanti dukkhasmāti vadāmi.

Kinh này có nghĩa là : “ Hỡi các Tỳ-kheo ! Hiện tại có những Sa-Môn hay Bà-La-Môn luôn quán niệm rằng, bất cứ sự vật hay hiện tượng dễ chịu nào xuất hiện trong cuộc sống cũng đều vô thường, khổ và vô ngã. Vì cho rằng những sự vật hay hiện tượng đó chỉ có tính tạm bợ, vô giá trị, có hại cho tinh thần và đáng ghê tởm, họ đã từ bỏ tâm khao khát về những nền tảng đã tạo nên chúng sanh và cuối cùng triệt tiêu hết tất cả những nổi khổ đau. Tiếp đến, họ thoát khỏi tái sanh, chấm dứt buồn khổ, khóc than, đau đớn, tiếc thương và tuyệt vọng. Ta muốn nói với các ông rằng theo cách đó, họ đã được giải phóng khỏi những trạng thái khổ đau cùng cực”.Theo Kinh này, khi một người nào đó nhìn thấy một đối tượng bất kỳ và quán niệm hiện tượng đang thấy trong ánh sáng trí tuệ, anh ta sẽ nhận thức được rằng, 3 tướng vô thường, khổ và vô ngã ẩn chứa trong lòng đối tượng chính là bản chất của nó.Nhờ vậy, tâm khao khát trong anh ta sẽ bị tiêu hủy, ngay khi người đó đang thực hành nội quán. Tiếp đến, tất cả những thứ khổ đau luân hồi cũng sẽ chấm dứt. Những khoảnh khắc có liên quan với trạng thái nhận thức đúng đắn là những khoảnh khắc của chân lý. Khoảnh khắc nhập vào Niết- Bàn của một ai đó chính là lúc mà vòng quay ô nhiễm, vòng quay của nghiệpvòng quay của nghiệp quả – những nguyên nhân tạo ra khổ đau đang bị tận diệt.

                                 

                                     Giống như gốc của cây cọ

 

Khi kiến thức nội quán đã phát triển, bạn sẽ nhận thức được Đạo Quả.

Khi tất cả những thứ ô nhiễm đã bị tiêu hủy thì ảnh hưởng của nghiệp cũng sẽ chấm dứt và không còn hoạt động nữa. Do đó, sự hình thành nghiệp mới cũng sẽ chấm dứt luôn. Sau khi nhập Đại-Niết-Bàn, 5 uẩn luân hồi sẽ đi đến chỗ hoàn toàn tận diệt. Đây chính là Anupādisesa Nibbāna – Niết Bàn Vô Dư ( tức Niết-Bàn vắng bóng nền tảng của sự sống). Như vậy có nghĩa là 5 uẩn và dục vọng đã hoàn toàn bị dập tắt. Có một sự thật rằng, trong thời khắc nhận thức được Đạo của một người, tất cả mọi thứ trong người này đã hoàn toàn mất hết tác dụng tạo nghiệp. Tuy nhiên, trạng thái mất hết tác dụng đó không biểu lộ ra ngoài giống như khi người ta nhập Đại-Niết-Bàn. Khi một cây cọ bị gãy làm đôi, thân trên của nó sẽ rơi xuống đất, chỉ còn gốc của cây cọ là đứng thẳng mà thôi. Cái gốc này gây ra một ảo tưởng rằng cây cọ vẫn còn sống. Khi gốc của cây cọ đã mục nát và rơi xuống đất thì lúc này toàn bộ cây cọ đã biến mất. Một vị A-La-Hán giống như gốc của cây cọ. Ngài đã buông bỏ 5 uẩn và khao khát ngay trong thời khắc nhận thức được Đạo. Tuy nhiên, 5 uẩn cũ vẫn còn lại trong Ngài. Vì vậy, Ngài vẫn còn sống là một điều dễ hiểu. Tuy nhiên, khi đã đạt tới Đại-Niết-Bàn, Ngài sẽ hoàn toàn biến mất giống như thời khắc mà gốc của cây cọ đã hoàn toàn mục nát.

Trong phần đầu của sách này, tôi đã gửi đến quí độc giả bài Kệ tụng của Tôn Giả A-Nan-Đà. Bài Kệ này nói về trạng thái tiêu hủy của 5 uẩn giống như một ngọn lửa đã tắt. Tất cả những phóng dụ ( lời nói bóng gió - ND) này mô tả cách thức chấm dứt của 5 uẩn. Khi tất cả những thứ ô nhiễm đã bị trục xuất khỏi tâm trí thì khổ đau sẽ không còn hiện khởi. Tuy nhiên, khi thân thể chưa bị loại bỏ, vị A-La-Hán vẫn còn trải nghiệm những điều bất tiện thuộc về thân xác. Điều này có thể hiểu như là sự đau khổ thuộc về thân xác. Nghiệp vẫn tiếp tục làm công việc của nó trong lòng thân xác của vị A-La-Hán. Do đó, những khổ đau có liên quan đến thân thể của vị A-La-Hán vẫn còn đó. Tuy nhiên, ngay trong thời khắc đạt tới Đại-Niết-Bàn của một vị A-La-Hán, bình yên và mát mẻ đã đồng thời phát khởi cùng với Ngài.

                                           

                                            Niết-Bàn Hạnh Phúc

 

Tôn giả Xá-Lợi-Phất đã hoan hỷ nói rằng :  “ Hỡi anh em đồng Đạo ! Niết-Bàn quả thật là hạnh phúc ! Niết- Bàn quả thật là hạnh phúc !”. Lúc đó, vị Trưởng Lão tên là Kāludayi chưa được mãn nguyện với lời phát biểu của Tôn giả,.

Vì vậy ông đã hỏi rằng : “ Làm sao có thể được hạnh phúc trong Niết-Bàn,

khi ở đó người ta không có cảm giác và cũng không còn dục vọng ? Vâng thật vậy, trong Niết-Bàn không hề có cảm giác, Tôn giả Xá-Lợi-Phất trả lời.

Là một người ngu xuẩn và có tính hay đùa cợt, vị Trưởng Lão vội vàng xông tới và hỏi dồn : “ Nếu Niết-Bàn là một nơi vô vị như vậy thì e các thiên thần sẽ khiếp sợ và bỏ đi mất ? Người ta làm sao có thể tìm được hạnh phúc ở đó ?”

Tôn giả Xá-Lợi-Phất lại trả lời : “ Thật vậy ! Trong Niết-Bàn không hề có cảm giác và cũng không có dục vọng. Sự vắng bóng của bản ngã chính là hạnh phúc”. Có hai loại hạnh phúc, đó là : Hạnh phúc có cảm giáchạnh phúc không có cảm giác. Khi các giác quan được thỏa mãn, chúng ta gọi đó là Vedayita sukkha – Hạnh phúc đến từ giác quan. Trong thế giới cảm giác, 5 đối tượng thú vị nhất đối với các giác quan là hình ảnh đẹp, âm thanh êm tai, mùi thơm, vị ngon và cảm giác xúc chạm dễ chịu. Người có thói quen nhai trầu hay hút thuốc lá không thích sống trong một môi trường mà ở đó người ta cấm ăn trầu và hút thuốc lá. Người háu ăn không thích tái sanh vào cảnh giới Phạm-Thiên, bởi vì ở cõi đó người ta tuyệt đối không cần ăn. Ở cõi trời Phạm-Thiên không có sự phân biệt về giới tính, không có hoạt động tình dục. Vì vậy, 5 yếu tố cấu thành các cảm giác dễ chịu đã trở nên không cần thiết nữa. Tuy nhiên, các giác quan lại không thích những sự thiếu vắng vừa kể trên. Người bị ngập tràn trong vô minh và khao khát sẽ không muốn Niết-Bàn thiếu vắng những cảm giác dễ chịu. Kākudayi là một ví dụ cho hạng người không yêu thích Niết-Bàn. Tôn giả Xá-Lợi-Phất đã khuyên ông rằng : “ Trạng thái vắng bóng cảm giác tự nó đã là Niết-Bàn”. Trạng thái bình yên và hạnh phúc không đến từ những cảm giác dễ chịu. Nói cách khác, trạng thái này không đến từ sự thỏa mãn của các giác quan.

 

                                            Hạnh phúc đích thực  

 

Hạnh phúc đích thựctrong tiếng Pāli được gọi là Santi sukkha, tức loại hạnh phúc yên bình và vắng lặng. Bạn có thể nghĩ rằng những cảm giác dễ chịu sẽ mang đến cho mình hạnh phúc. Tuy nhiên, đó không phải là hạnh phúc đích thực. Cảm giác dễ chịu chỉ đơn thuần giống như trạng thái thỏa mãn của người hút thuốc lá. Sự thỏa mãn này đến từ thói quen hút thuốc lá. Nó cũng giống như trạng thái thỏa mãn của người bị ngứa khi hành động gãi ngứa đã khiến cho anh ta cảm thấy dễ chịu. Giả sử bạn đang thưởng thức ngoại hình đẹp trai của một người đàn ông, ngoại hình xinh xắn của một cô gái hay vẻ đẹp của một bức tranh tuyệt tác, bạn có thể thưởng thức những thứ ấy một cách liên tục không ngừng nghỉ hay không ? Dù chỉ là một phút hay một giây, dù là một tháng hay một năm ? Bạn có làm được như vậy không ? Giả sử bạn muốn nghe một loại nhạc hay, bạn  có thể nào nghe nó liên tục suốt ngày, suốt tháng hay suốt năm hay không ? Nếu bị ám ảnh bởi nét thanh cao của loại nhạc này, bạn có thể nghe nó liên tục suốt ngày suốt đêm, thậm chí là không ngủ luôn hay không ? Chắn chắn có một lúc nào đó, bạn cũng phải nghỉ ngơi một chút, dù là một khoảng thời gian rất ngắn, trong quá trình thực hiện việc đó ? Liệu hạnh phúc đích thực có phải là khoảnh khắc mà trong đó không có sự can thiệp của cảm giác ?

Một người có thói quen thích thú những cảm giác dễ chịu luôn đánh giá cao về những cảm giác này. Đối với anh ta, việc được thưởng thức những cảm giác đó là chí thiện. Trong thời Đức Phật còn tại thế, có một học thuyết rất thịnh hành vào thời ấy. Học thuyết này cho rằng người ta có thể dập tắt được khổ đau ngay trong kiếp sống hiện tại chứ không phải đợi đến kiếp sau. Những người theo học thuyết này được gọi là ditthadhammvādis. Họ truyền bá rằng : “ Hãy tận hưởng tất cả những loại cảm giác dễ chịu bất cứ nơi nào có thể. Đây chính là chí thiện”. Học thuyết này đã được đề cập đến trong Kinh Phạm Võng- Brahmajala Sutta. Những ditthadhammavādis chỉ tôn thờ duy nhất hạnh phúc ở cõi trời Phạm-Thiên. Họ bác bỏ tất cả những thứ hạnh phúc khác. Sự thật, Phạm-Thiên Baka cũng đã từng nói với Đức Phật rằng hạnh phúc ở cõi Phạm-Thiên là thú vị nhất. Những người đề cao hạnh phúc ở cõi Phạm-Thiên nghĩ rằng vật thực kiếm được trong các thành phố và thị trấn ngon hơn vật thực kiếm được trong các ngôi làng. Theo cách đó, người ta nghĩ rằng hạnh phúc trong thiền tốt hơn những cảm giác dễ chịu. Sự thật, hạnh phúc gặt hái được từ Đạo Quả là tốt hơn hạnh phúc ở trong thiền. Xa hơn nữa, Hạnh Phúc Niết-Bàn là tốt hơn hạnh phúc gặt hái được từ Đạo Quả.

 

               Hạnh phúc trong thiền tốt hơn những cảm giác dễ chịu

 

Liên quan đến sự bình luận của Tôn Giả Xá-Lợi-Phất đối với hạnh phúc trong thiền dưới đây, đầu tiên là việc chỉ ra bản chất của những cảm giác dễ chịu :

Những đối tượng hữu hình sẽ khiến cho nhãn thức khởi lên, những đối tượng có thể nghe thấy sẽ khiến cho nhĩ thức khởi lên, những đối tượng có thể ngửi thấy sẽ khiến cho tỷ thức khởi lên, những đối tượng có thể nếm được sẽ khiến cho thiệt thức khởi lên, những đối tượng có thể sờ mó được sẽ khiến cho xúc thức khởi lên. Tất cả những đối tượng của giác quan sẽ lôi cuốn tâm trí và khiến cho tâm trí nảy sinh cảm giác yêu thích. Chúng khuấy động dục tình và khơi dậy thú tính, tạo ra 5 loại cảm giác dễ chịu (Kāmmaguna). Dĩ nhiên, những cảm giác dễ chịu này phát sanh từ sự nhận thức của mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Trong thế giới cảm giác, những người có cơ hội thưởng thức những loại cảm giác cấu thành này thường cho rằng chúng đích thực là hạnh phúc. Trong sơ thiền, những cảm giác dễ chịu đã bị loại bỏ. Người đạt tới sơ thiền sẽ gặt hái được các thiền chi là tầm ( Vitakka, tức trạng thái gắn chặt tâm vào đối tượng quan sát) và tứ hay sát ( Vicàra, tức trạng thái duy trì của tâm trên đối tượng quan sát), hỷ ( Piti, tức trạng thái tâm hoan hỷ), lạc ( Sukha, tức trạng thái tâm vui sướng) và nhất điểm hay nhất tâm ( Ekaggatā, tức trạng thái tâm gom tụ vào một đối tượng duy nhất). Trong quá trình diễn biến của sơ thiền, hỷlạc trôi chảy một cách liên tục không gián đoạn, khác với cảm giác vui sướng phàm tục phát xuất từ sự thỏa mãn của các giác quan thường phát lên từng đợt và có tính nhất thời.

Trong thế giới cảm giác, người ta chỉ có thể nhận thấy biết được phúc trong khoảnh khắc hiện tại. Tuy nhiên, trong một khoảnh khắc khác người ta lại thấy buồn bã. Trong sơ thiền, trạng thái tâm vui sướng lại kéo dài liên tục trong một khoảng thời gian đáng kể. Khi đang tập trung sự chú ý trong sơ thiền, hành giả sẽ nhận thấy trạng thái tâm tự triệu hồi những cảm giác dễ chịu mà trước đó anh ta đã từng trải nghiệm. Anh ta sẽ cảm thấy ăn năn hối hận, đau khổ về tinh thần giống như một vết thương cũ bị tái phát. Điều này có nghĩa là hành giả đã vào được trong thiền ( Jhāna). Lúc bấy giờ, ký ức về những cảm giác dễ chịu có thể khiến hành giả nảy sinh tâm chán ghét và sự hãi. Do đó, hành giả sẽ hướng tâm về phía Niết-Bàn, nơi không có sự khởi lên của cảm giác ( Vedanā).

 

                 Những giai đoạn hạnh phúc khác nhau trong thiền

 

Khi gặt hái được nhị thiền, hỷlạc sẽ hòa vào trong nhất điểm ( Ekaggatā) đang chiếm ưu thế và trôi chảy một cách liên trong khoảng thời gian có thể lên đến 1 hay 2 giờ đồng hồ, không gặp bất cứ một chướng ngại nào. Nếu có sự thay đổi trạng thái tâm thì sơ thiền lại tái hiện khởi và duy trì như thế một cách liên tục. Khi tập trung sự chú ý trong nhị thiền, hành giả sẽ cảm thấy khổ sở trong tâm và trạng thái này sẽ càng gia tăng khi một vết thương cũ nào đó trong nhận thức lại tái hiện khởi. Trạng thái tâm khổ sở này cũng xuất hiện khi hành giả đạt tới tam thiềntứ thiền. Tuy nhiên, mức độ triệu hồi những nhận thức sai lầm trong quá khứ có phần yếu hơn so với sơ thiền và nhị thiền. Tới đây, chúng ta có thể nói rằng hạnh phúc đến từ sơ thiền vượt xa hạnh phúc đến từ những cảm giác dễ chịu. Hạnh phúc đến từ nhị thiền vượt xa hạnh phúc đến từ sơ thiền. Hạnh phúc đến từ tam thiền vượt xa hạnh phúc đến từ thị thiền. Hạnh phúc đến từ tứ thiền vượt xa hạnh phúc đến từ tam thiền. Nếu so sánh về hạnh phúc trong từng cõi thiền thì hạnh phúc đến từ cõithiền vô sắc- Arūpa Jhāna cao cấp hơn hạnh phúc đến từ 4 trạng thái thiền bình thường. Bốn cõi thiền vô sắc giới là : Akāsanāncā- yatana ( Không Vô Biên Xứ, tức trạng thái định tâm nơi tận cùng của không gian), Viññā-naancāyatana ( Thức Vô Biên Xứ, tức trạng thái định tâm nơi tận cùng của ý thức), Akincannāyatana ( Vô Sở Hữu Xứ, tức trạng thái định tâm nơi hư không), N’evasannàn’asannàyatana ( Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, tức trạng thái định tâm nơi không có sự tri giác và cũng không có không tri giác). Trong thứ tự của 4 cõi thiền này, cõi đứng sau tốt hơn cõi đứng trước nó. Riêng Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là cõi thiền cao nhất trong thiền vô sắc. Trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, cảm giác cực kỳ vi tế vẫn còn hiện khởi. Trong khi đó, Niết Bàn Hạnh Phúc là trạng thái mà ở đó tất cả những cảm giác đã chấm dứt hẳn. Vì vậy có thể nói, hạnh phúc của Niết Bàn vượt xa hạnh phúc nơi cõi thiền Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Nói tóm lại, hạnh phúc của Niết-Bàn là cao thượng hơn hạnh phúc trong thiền minh sát. Hành giả đều biết rằng trạng thái tâm hỷlạc mà họ sẽ trải nghiệm trong Sankharùpekkha Nàna ( Kiến thức về trạng thái tâm thanh thản) là vượt xa hỷlạc mà họ trải nghiệm trong Udayabbaya Ñāna ( Kiến thức về trạng thái đang khởi lên và biến mất đi của các hiện tượng). Khi Đạo và Quả đã được thiết lập, hỷlạc có tầm quan trọng rất lớn. Vì vậy chúng ta có thể nói rằng, hạnh phúc đích thực ( Santi Sukha ) vượt xa hạnh phúc đến từ giác quan

( Vedayita Sukha). Bây giờ, những người không thực hành thiền minh sát vẫn có thể đánh giá đúng về các cung bậc khác nhau của hạnh phúc, có thể liệt kê và đi đến kết luận rằng, hạnh phúc đích thực là có tầm quan trọng tột bậc. Họ cũng có thể nhận thức được rằng, trong thế giới Phật Giáo có nhiều quan niệm cao xa mà con người bình thường chúng ta không dễ gì nhận biết được, cũng như chưa thể cân đo đong đếm được. Điều này có thể rất có lợi cho sự nổ lực phát triển niềm tin vào Phật Pháp. Tất cả những vị Phật đều nói rằng Niết-Bàn có một ý nghĩa tối cao. Nó có khả năng dập tắt tất cả những loại cảm giác. Trạng thái vắng mặt những cảm giác là vương quốc của bình yên và mát mẻ. Ở đó, tất cả những thứ khổ đau có liên quan đến tuổi già, bệnh tật, cái chết và trạng thái tan hoại sẽ chấm dứt. Trong trạng thái bất tử, hạnh phúc không thể bị phá hủy.

Vì vậy, hạnh phúc trong Niết-Bàn là cao thượng nhất. Bây giờ tôi sẽ nhắc lại những gì mà mình đã nói. Niết-Bàn là trạng thái mà ở đó luân hồi khổ đau sẽ chấm dứt. Nó cũng là phương tiện để dập tắt, đồng thời cũng là trạng thái tiêu hủy của luân hồi khổ đau.Vô minh, khao khát và cố chấp bám víu đã cấu thành vòng quay của ô nhiễm. Những hành động xấu ác tuân theo mệnh lệnh của vòng quay ô nhiễm mà hiện khởi và tạo ra vòng quay của nghiệp ( có thể là thiện hoặc bất thiện). Năm uẩn đã khởi lên trong sự tái sanh như là kết quả của những hành động thiện lành hoặc bất thiện sẽ cấu thành vòng quay của nghiệp quả.

Hạnh phúc đến từ trạng thái xúc chạm của các giác quan với những đối tượng tương ứng của chúng được gọi là Vedayita Sukha. Bình yên và trầm tĩnh đã kết giao với trạng thái vắng mặt của cảm giác được gọi là Avedayita Sukkha hay Santi Sukha. Không phải lúc nào bạn cũng có cơ hội thuận tiện để được nghe thuyết Pháp về Niết-Bàn. Đối với những nhà truyền bá Phật Giáo cũng vậy, cơ hội thuận tiện để thuyết Pháp về Niết-Bàn là không thường xuyên, thậm chí là hiếm hoi. Khi còn sinh thời, Đức Phật vẫn thường thuyết bài Pháp có tên là Nibbāna Patisamyutta Kathā – Bài luận giải có liên quan đến Niết Bàn.

Bàiluận giải ( Kathā) này đã được ghi lại trong Kinh Điển Pāli. Nó được xếp vào loại sách có tên Udāna- Phật Tự Thuyết. Trong dịp tới đây, tôi sẽ nói một đôi điều về bài luận giải này. Cầu chúc cho tất cả những người đã lắng nghe bài thuyết Pháp ngày hôm nay sẽ tận hưởng được hạnh phúc của Niết-Bàn, một thứ hạnh phúc vượt xa hạnh phúc đến từ giác quan, nhanh chóng nhận thức được Đạo Quả Giải Thoát. Lành thay ! Lành thay! Lành thay !

 

                                  Về bản chất của Niết Bàn

                                                     Phần II

Bài thuyết Pháp vào ngày trăng tròn tháng Tawthalin, năm 1326 theo lịch Miến Điện, tức nhằm ngày 21 tháng 09 năm 1964.

Trong bài luận giải về Niết-Bàn tuần trước, tôi đã định nghĩa Niết Bàn là trạng thái chấm dứt vòng quay của ô nhiễm, vòng quay của nghiệpvòng quay của nghiệp quả. Hôm nay, tôi sẽ cố gắng phân biệt sự khác nhau giữa hành- Sankhāra ( điều kiện tất yếu phát sanh các pháp hữu vi) và Niết Bàn- Nibbāna như đã được đề cập trong tập chú giải Kinh Điển Pàli có tên là Vô Ngại Giải Đạo- Patisambhidā Magga. Hành-Sankhāra là một thuật ngữ Phật học có nhiều nghĩa. Theo nghĩa thông thường, nó được định nghĩa là tất cả những trạng thái thuộc về tinh thần. Hành-Sankhāra cũng thường được phiên dịch với nhiều nghĩa khác nhau như : Những hành động thuộc về ý chí, những hành động tự nguyện, những hành độngcó điều kiện, trạng thái hình thành của tinh thần, sự hình thành của nghiệp…Ở đây, chúng ta sẽ luận giải về hành-Sankhāra với nghĩasự vật được cấu thành hay pháp hữu vi ( đây cũng là một cách dịch khác).

 

                                      Pháp hữu vi và Niết-Bàn  

 

1. Khởi lên và không khởi lên ( Uppāda và Anuppāda )  

  Kinh nói : “ Uppādo sankhāra, anuppādo nibbānam”. Câu này có nghĩa là : “ Khởi lên là hành, không khởi lên là Niết-Bàn”. Người thực hành thiền minh sát thừa biết rằng mọi pháp hữu vi sẽ tái tạo mỗi khi nó đã tan hoại. Khi đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tâm thanh thản – Sankhārūpekkha Ñāna, bạn sẽ nhận thức về 5 uẩn một cách rõ ràng hơn. Đến lúc đó, bạn sẽ nhận biết được một cách sâu xa về trạng thái khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng. Khi đã có sự hiểu biết sâu xa về hành-Sankhāra, bạn sẽ tiến lại gần Niết-Bàn hơn. Hành đối chọi với Niết-Bàn một cách tuyệt đối. Hai trạng thái này không bao giờ tương hợp với nhau. Nếu cái này tồn tại thì cái kia sẽ biến mất. Khi không có “trạng thái khởi lên” thì Niết-Bàn sẽ xuất hiện. Ngược lại, nơi nào có “ trạng thái khởi lên” thì nơi đó không có Niết-Bàn. Điều này cũng có thể hiểu là “ không có ánh sáng trong bóng tối và không có bóng tối trong ánh sáng”. Đối với những chúng sanh có tri giác, tinh thần ( Ñāma) và vật chất

( Rūpa) sẽ tái tạo trạng thái của chúng trong thời gian khái niệm. Nghiệp tái tạo – Janaka Kamma sẽ tạo nên vật chất và tinh thần trong một khoảng thời gian rất ngắn mà khoa học chưa thể đo lường được. Theo cách này, ngay lập tức sau khi thức tái sanhPatisandhi Viññāna xuất hiện, dòng hộ kiếp- Bhavanga

( tức tâm thức thụ động hay tiềm thức- Subconsciousness) sẽ bị rung động.

Kể từ khoảnh khắc đó, tâm trí đã phát sanh từ dòng hộ kiếp và khiến cho những hiện tượng vật chất có mặt. Tiến trình này cứ tiếp tục diễn ra, tinh thần và vật chất sẽ đi vào trong lòng chúng sanh một cách liên tục, tùy theo những cách nhận thức thích hợp với các khách thể đã được lãnh hội từ trước. Ví dụ, tâm thức sẽ khởi lên khi một người nào đó suy nghĩ về một đối tượng, xúc thức sẽ khởi lên khi người đó tiếp xúc với đối tượng. Trạng thái nhận thức theo cách đó chính là điều kiện cấu thành tinh thần và vật chất. Trạng thái trở thành của tinh thần và vật chất có mặt khắp nơi trong sự sống sau khi chúng được xác định. Khi sự sống diễn ra theo tiến trình của nó. Nó sẽ được tái tạo trong kiếp sống kế tiếp. Tiến trình này cứ tiếp tục diễn ra một cách bất tận. Nói cách khác, những trạng thái cấu thành sự sống luôn luôn chịu ảnh hưởng một cách mật thiết bởi nghiệp. Những kiểu nhận thức thiện hay bất thiện , tâm trí, điều kiện khí hậu hay nhiệt độchất dinh dưỡng cọng lại chính là hành-Sankhàra. Người ta có thể lãnh hội được hành-Sankhāra bằng tuệ minh sát ( tức kiến thức nội quán – Vipassanā Ñāna). Sau khi đã lập đi lập lại các bài tập hành thiền, bạn sẽ trải nghiệm được rằng, sự nhận thức của mình đã trôi chảy như một dòng suối trong một cảnh giới không có bản ngã. Khoảnh khắc nhận thức về trạng thái tạn diệt của bản ngã đó chính là khoảnh khắc của Niết-Bàn hạnh phúc. Người ta sẽ tự nhận thức được Niết-Bàn hạnh phúc thông qua sự hiểu biết về Đạo Quả.

2. Xảy ra và không xảy ra ( Pavatta và Apavatta )

  Kinh nói rằng : “ Pavattam sankhāra, āpavattam nibbānam”. Câu này có nghĩa là :  “ Xảy ra là hành, không xảy ra là Niết-Bàn”. Nói đúng ra, Pavatti có nghĩa là tiến trình hiện hữu xảy ra giữa thức tái sanh và thức cận tử

 ( Āsaññā Viññāna hay Cuti Citta- là điều mà người ta làm hay nghĩ đến trước khi chết). Tinh thần và vật chất được cấu thành một cách liên tục thông qua tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng. Chúng trôi chảy như một dòng suối. Khi đối tượng của giác quan đi vào dòng suối này, những kiểu nhận thức khác nhau như tâm thức hay xúc thức, sẽ xuất hiện một cách thích hợp với những khách thể đã được lãnh hội từ trước. Pháp hữu vi đã được cấu thành theo cách này. Tiến trình liên tục của sự sống vẫn luôn luôn diễn ra như một dòng suối chảy. Do đó, những người thế tục tưởng nhầm rằng vật chất là thường còn bất biến, không hề có bất cứ một sự thay đổi nào. Họ nghĩ rằng thân thể của mình trong khoảnh khắc hiện tại so với  lúc còn trẻ cũng chẳng có gì khác nhau. Do đó, trong họ đã phát sanh tâm bám víu vào cái tôi tưởng tượng và quan niệm về tính thường còn của bản ngã. Trong thực tế, cái tâm bám víu này chẳng có giá trị gì cả. Tiếp đến, khi những cảm giác dễ chịu tấn công tâm trí của họ thì họ lại nhầm tưởng rằng chúng là hạnh phúc. Không có một chúng sanh thế tục nào có khả năng nắm bắt được Chân Lý Cùng Tột về tinh thần và vật chất. Do đó, tinh thần và vật chất đã dẫn đưa họ đến với niềm tin rằng chúng là thường còn, là hạnh phúc và có thể điều khiển được ( tức hữu ngã). Nếu có thực hành thiền minh sát, bạn sẽ nhận biết được tiến trình đang khởi lên và tan biến đi của pháp hữu vi thông qua việc thực hành nội quán. Vì vậy, niềm tin về trạng thái vô thường của pháp hữu vi đã đứng vững trong tâm thức của bạn. Bạn cũng sẽ nhận thức được rằng những gì vô thường là bất toại nguyện, những gì bất toại nguyện là khổ. Bạn sẽ hiểu rằng không hề có cái gọi là “ tôi ” hay “ thực thể” trong bất cứ một hiện tượng nào. Khi chú ý đến tiến trình đang khởi lên và tan biến đi của danh sắc ( tức tinh thần và vật chất), bạn sẽ lãnh hội được tiến trình bất tận của vòng quay cấu thành và tan hoại. Những gì bạn đã hiểu được về tiến trình sanh diệt của danh sắc nhờ vào sự giúp đỡ của thiền nội quán gọi là Pavatta. Nếu chú ý một cách liên tục vào cái gọi là Pavatta đó, bạn sẽ gặt hái được kiến thức về trạng thái tâm thanh thản- Sankhārūpekkha ñāna. Khi tâm thức của bạn đã có khuynh hướng nghiêng về phía bình yên – nơi dòng suối tinh thần và vật chất đã ngừng chảy. Một trạng thái mà trong đó không còn bất cứ một cái gì khởi lên nữa được gọi là Apavatta. Khoảnh khắc khi năng lực hiểu biết đã nở rộ thông qua trạng thái nhận thức được Đạo Quả chính là khoảnh khắc của Chân Lý – khi bạn và Niết-Bàn đã trở thành hợp nhất.

3. Sự hiện diện và vắng mặt của cảm giác ( NimittaAnimitta)

Kinh nói rằng : “ Nimittam sankhāra, animittam nibbānam”. Câu này có nghĩa là : “ Sự hiện diện của cảm giác là hành, trạng thái vắng mặt của cảm giác là Niết-Bàn”. Nói cách khác, Niết Bàn là vô vi. Những người không thực hành thiền nội quán tin rằng những đối tượng mà họ nhìn thấy là có hình dáng xác định, cũng như chiều kích có thể đo được.Thậm chí, một người mới tập sự thực hành thiền nội quán cũng nghĩ như vậy. Phù hợp với chuẩn mực của thiền tứ niệm xứ - Satipatthāna Vipassanā, khi đang đi bộ, bạn có thể nhận biết được rằng mình đang đi bộ. Tuy nhiên, bạn chưa có khả năng buông bỏ được sự nhận thức rằng, trong tiến trình đi bộ này, cẳng chân của bạn đã dở lên và thân thể của bạn đang chuyển động. Bạn sẽ có cảm giác rằng thật sự thân thể của mình đang chuyển động chứ không phải cái gì khác. Tương tự, khi bạn đang chú ý đến tiến trình phồng lên và xẹp xuống của bụng mình, bạn luôn luôn nhớ đến hình dáng của nó. Điều này có nghĩa là bạn đã nhận thức về trạng thái biểu hiện của những pháp hữu vi. Như chúng ta đã biết, pháp hữu vi là những đối tượng luôn luôn biến đổi. Vì vậy, những biểu hiện vừa nói chính là hành-Sankhāra.Tuy nhiên, khi đã gặt hái được sự hiểu biết trong một trạng thái nội quán cao hơn, bạn chỉ còn nhận biết nguyên tố gióVāyo như là một nguyên tố chuyển động mà thôi. Nguyên tố này đã khởi lên và biến mất đi. Bây giờ, bạn đã gặt hái được niềm tin chắc chắn rằng, vạn hữu đều vô thường. Theo cách này, bạn sẽ tiến đến chỗ gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng- Bhanga Ñāna.

 

       

           Cảm giác không có dấu hiệu biểu hiện đến từ Bhanga Ñāna   

 

Sách Thanh Tịnh Đạo – Visuddhi Magga có nói rằng : “ Nane tikkhe vahante sankkhara lahum upatthahantesu uppàdam và thitin pavattam và nimittam vā na sammapunāti, khaya vaya bheda nirodhe yeva sati santitthati. Đoạn chú giải Hậu Kinh Tạng này đã được Tỳ-kheo Nanamoli dịch sang tiếng Anh và trình bày trong tác phẩm do Ngài biên soạn với tựa đề “ Con đường tinh khiết”- R . Semage xuất bản tại Colombo năm 1956. Đoạn chú giải này có nghĩa như sau : “ Khi năng lực nhận thức của hành giả đã sắc bén, anh ta sẽ nhận thấy rằng trạng thái biểu hiện của các pháp hữu vi sẽ trở nên nhanh chóng hơn. Lúc đó, hành giả không còn hướng sự chú ý đến trạng thái biểu hiện của chúng nữa mà chỉ chú ý để triệt tiêu chúng”.

Mỗi khoảnh khắc tư duy của nhận thức được chia làm 3 giai đoạn, cụ thể là :  Uppādi – giai đoạn khởi lên hayhình thành ( được xem là giai đoạn khởi đầu), thiti- giai đoạn tĩnh tại hayphát triển ( được xem là giai đoạn giữa) và bhanga - giai đoạn chấm dứt haytan hoại ( được xem là giai đoạn cuối trong tiến trình nhận thức về một hiện tượng nào đó). Trước khi chưa thực hành thiền nội quán, có thể bạn sẽ chưa nhận biết được 3 giai đoạn trong một khoảnh khắc tư duy. Do đó đối với bạn, tất cả những hình dáng, những khái niệm qui ước và dấu hiệu biểu lộ của mọi hiện tượng được xác định như là một chuỗi sự kiện liên tục. Bạn nghĩ rằng những sự kiện đó trôi chảy liên tục như một dòng suối. Khi đã gặt hái được trạng thái nội quán đầu tiên, cụ thể là Nàmarùpa pariccheda Ñāna – Kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất, quan điểm nói trên của bạn sẽ dần dần thoái hóa và biến mất đi. Khi gặt hái được Sammāsana Ñāna – Kiến thức về sự lãnh hội, bạn sẽ nhận thức được tiến trình đang khởi lên và chấm dứt của những sự kiện thuộc về quá khứ, hiện tại và tương lai tương tự như là uppādi, thitibhanga. Tuy nhiên, đến lúc đó bạn vẫn chưa nhận biết được 3 giai đoạn trong một khoảnh khắc tư duy, bởi vì trong sự nhận thức của bạn, ba giai đoạn này vẫn chưa tách rời nhau mà vẫn còn kết nối như một chuỗi liên tục. Đến khi đã gặt hái được Udayabbhaya Ñāna – Kiến thức về trạng thái đang khởi lên và biến mất đi của các hiện tượng, bạn sẽ nhận thức được rằng uppādi, thitibhanga đang xuất hiện trong thực tế ( tức có xảy ra – Pavatta). Tuy nhiên, trạng thái xuất hiện của thiti là không được rõ ràng cho lắm, so với uppādibhanga. Khi đã gặt hái được Bhanga Ñāna- Kiến thức về trạng thái tan hoại của mọi hiện tượng, những dấu hiệu của hành- Sankhāra có liên quan đến uppādithiti đã giảm bớt, chỉ còn bhanga xuất hiện trong tâm thức của bạn mà thôi. Điều này không có nghĩa là bạn đã nhận thức được Niết-Bàn, bạn chỉ mới có khả năng nhận thức được hành-Sankhāra thông qua 3 tướng vô thường, khổvô ngã. Chỉ khi đã gặt hái được Sankhārūpekkha Ñāna- kiến thức về trạng thái tâm thanh thản, lúc đó bạn mới vun bồi được một tâm thức bình thản trước những dấu hiệu biểu lộ của hành-Sankhāra, cụ thể là uppādi, thitibhanga.

Cuối cùng, khi quán niệm về Paccavekkhana Ñāna- Kiến thức về sự nhìn lại quá khứ, dục vọng sẽ bị tiêu hủy và bạn sẽ bước vào Đạo Quả. Khi dục vọng thật sự đã bị tiêu hủy một cách hoàn toàn, bạn mới vào được Niết-Bàn - cảnh giới mà ở đó những dấu hiệu biểu lộ của hành-Sankhāra đã hoàn toàn biến mất.

 

                 Niết-Bàn : Đặc tính, chức năng và trạng thái biểu lộ

 

Các nhà chú giải Kinh Điển đã mô tả Niết-Bàn qua những đặc tính, chức năng và trạng thái biểu lộ của nó. Đặc tính của Niết-Bàn làbình yên, chức năng của nó là bất tử và trạng thái biểu lộ của nó là vô vi. Người ta chỉ có thể nội quán về vô vi thông qua sự hiểu biết về Đạo Quả, cụ thể là thông qua Paccavekkhāna Ñāna- Kiến thức về sự nhìn lại quá khứ. Khi một bậc cao thượng quán niệm về Đạo Quả thì các hình dáng, khái niệm qui ước và dấu hiệu biểu lộ sẽ vắng mặt.

 

                           

                             Niết-Bàn không có hình dáng rõ rệt

 

Trong tác phẩm Mi-Tiên-Vấn-Đạo ( Milinda Panhā), Trưởng lão Na-Tiên

( Nāgasena Thera) đã nói với vua Mi-Tiên ( Milinda Rāja) rằng không có cái gì có thể sánh bằng Niết-Bàn ( Nibbāna). Nó không có hình dáng, kích thước và chiều kích. Người ta không thể nhận thức được Niết-Bàn bằng cách lập luận, tranh luận hay đưa ra những ẩn dụ. Niết-Bàn không nằm trong phạm vi so sánh. Nó cũng không phải là màu trắng hay màu đen, không có độ tương phản sáng tối, không lớn không nhỏ. Niết-Bàn là trạng thái chấm dứt vòng quay của ô nhiễm, vòng quay của nghiệpvòng quay của nghiệp quả. Trong phần giới thiệu của một tác phẩm nói về thiền nội quán được phát hành năm 1943 ( tức năm 1305 theo lịch Miến Điện) của tôi có đoạn viết : Niết-Bàn không phải là một tòa lâu đài hay là một nơi chốn. Nó không phải là một thành phố, không phải là ánh sáng. Trong Niết-Bàn không hề có trạng thái phát sáng. Nó không có tính trong sáng cũng không mát mẻ. Những tòa lâu đài, những nơi chốn, những thành phố, trạng thái phát sáng, trạng thái trong sáng và mát mẻ không phải là Chân Lý Tuyệt Đối ( Paramattha).

Tôi đã viết đoạn văn đó với tâm khách quan, không hề có ý định công kích hay bài bác bất cứ một người nào. Tuy nhiên, sau đó tôi đã tìm thấy một cuốn sách khác cũng nói về Niết-Bàn. Cuốn sách này đã mô tả Niết-Bàn như là một luồng ánh sáng vĩ đại. Những độc giả có thể nghĩ rằng tôi đã viết đoạn văn nói trên nhằm mục đích đả kích tác giả của cuốn sách này. Thật ra không phải như vậy ! Tôi đã viết một cách vô tư và không hề suy nghĩ bất cứ một điều gì về cuốn sách vừa nói trên. Bây giờ tôi sẽ lập lại những từ ngữ trong tác phẩm Mi-Tiên-Vấn-Đạo với chủ đề Niết-Bàn không có hình dáng. Một hành giả tập trung sự chú ý đến Niết-Bàn với kiến thức về trạng thái tâm thanh thản ( Sankhàrupekkha Nàna), kiến thức về trạng thái thích nghi ( tức kiến thức thuận thứ - Anuloma Ñāna), kiến thức về trạng thái chuyển tánh ( Gotrabhu Ñāna, tức kiến thức về trạng thái vượt khỏi thế giới trần tục để nhập vào Niết-Bàn như là một đối tượng nhận thức) sẽ loại bỏ được dòng suối tâm thức. Sự loại bỏ này được xem như là trạng thái chấm dứt của hành-Sankhāra.

4. Tích lũy và không tích lũy ( Āyuhanā và Anāyuhanā)

Kinh nói rằng : “ Āyuhanà sankhāra, Anāyuhanā nibbānam”. Câu này có nghĩa là :  “ Trạng thái tích lũy của nghiệp là hành, không tích lũy nghiệp là Niết-Bàn”. Đúng theo ngữ pháp Pāli,  từ āyuhanā có nghĩa là “ xây dựng hay thu thập”. Ví dụ như việc xây dựng một căn nhà – nơi mà chủ thầu và những người thợ xây sẽ thu thập những loại vật liệu thích hợp cho công việc của họ. Những nổ lực tích lũy nghiệp đã cấu thành hành-Sankhāra. Nơi nào có những trạng thái nổ lực như vậy thì nơi có cũng sự ham muốn. Nơi nào có tâm ham muốn thì ngay tại nơi đó bạn sẽ tìm thấy Niết-Bàn. Chức năng của hành-Sankhāratích lũy, đặc tính của hànhcấu thành. Hành-Sankhāra có thể là bị động hoặc chủ động. Những điều kiện cấu thành cái gọi là chúng sanh bao gồm 4 nhân tố là nghiệp lực, tâm trí, khí hậuchất dinh dưỡng. Những nhân tố này chínhlà pháp hữu vi hay là hành bị động. Vì vậy, hành bị động là vô thường, bất toại nguyện và không phải là những thực thể. Tâm sở-Cetasika là trạng thái tâm phát khởi đồng thời với tâm. Tâm sở có tất cả 52 loại. Ngoại trừ 2 loại tâm sở được gọi là thọ ( Vedanà) và tưởng ( Sannà), 50 tâm sở còn lại được gọi chung là hành uẩn ( Sankhārakkhandhā), tức sự cấu thành tinh thần. Khi hành uẩn là nguyên nhân tạo nên tinh thần, lời nói và các hoạt động thuộc về thân xác, ta nói đặc tính của hành lúc này là chủ động. Tác ý hay ý muốn làm- Cetanà là một tâm sở khác tạo ra nghiệp quả- Vipāka ( có thể là thiện hoặc bất thiện) tương ứng với những hoạt động thuộc về tinh thần, lời nói và thân xác ( có thể thiện hoặc bất thiện). Thiện nghiệp và bất thiện nghiệp sẽ khởi lên theo cách này, nghiệp ở đây chính là hành chủ động- nguyên nhân của tái sanh sau khi 5 uẩn (Pañcakkhandhā) đã già đi và tan hoại. Nơi nào “không có tác ý” hay “ý muốn làm bị thất bại” thì tinh thần và vật chất sẽ không thể tái tạo. Như đã nói trên, nơi những thứ ô nhiễm vắng mặt, hành động sẽ mất hết chức năng và tác dụng tạo quả. Bằng cách thực hành thiền nội quán, những thứ ô nhiễm sẽ bị loại bỏ hoàn toàn khi hành giả đạt tới Đạo Quả. Khi hành giả đã hoàn toàn thoát khỏi những thứ ô nhiễm, các nghiệp quá khứ sẽ mất hết tác dụng trong việc cấu thành một kiếp sống mới. Đối với các vị A-La-Hán, tất cả các uẩn đã hoàn toàn chấm dứt cùng với dục vọng. Trạng thái giải thoát này được gọi là Niết-Bàn Vô Dư hay Niết-Bàn Tuyệt Đối- Anupādisesa hay Parinibbāna.

 

              

                   Nghiệp sẽ không chấm dứt nếu không có sự nổ lực

 

Có lời khuyên rằng không tích lũy- Anāyuhanā là đối nghịch với trạng thái nổ lực tích lũy các hành động có thể tạo nghiệp. Nếu không nắm rõ vấn đề này, bạn có thể hiểu sai rằng, mình không nên nổ lực để làm bất cứ cái gì cả bởi vì nếu làm như vậy nghiệp sẽ tích lũy. Những gì chúng ta muốn bàn ở đây là trong trạng thái vắng mặt của những thứ ô nhiễm, nghiệp sẽ không thể tích lũy. Do đó, những hành động phước báu của các vị A-La-Hán không có khả năng tạo nghiệp mới. Bạn đừng bao giờ nghĩ rằng nếu mình không làm bất cứ một điều gì thì nghiệp lực sẽ không xuất hiện, do đó sẽ không có nghiệp quả. Điều này khi mới nghe qua có vẻ hợp lý .Tuy nhiên trong thực tế thì không thể thực hiện. Có một số người đã hiểu sai về nghiệp và nói rằng : “ Tất cả những nổ lực sẽ dẫn đến khổ đau, không nổ lực gì cả là chấm dứt được khổ đau và đạt tới Niết-Bàn”. Thế thì chúng ta hãy tự hỏi rằng, những công việc mà chúng ta thường làm như cúng dường, giữ Giới và thực hành thiền nhằm mục đích phát triển tinh thần là dư thừa hay sao ? Để cho tâm trí bị trì trệ thì có thể đạt tới Niết-Bàn được hay không ? Vào năm 1952, khi đến Ngưỡng-Quang ( Rangon), tôi nghe trên tuyến truyền thanh ( Radio) người ta dạy rằng : “ Trong việc thực hành Phật Pháp, không nên khởi tâm nổ lực”.  Rõ ràng lời dạy này là đi ngược lại với sự giáo huấn của Đức Phật. Trong Tam Tạng Kinh Điển có nói rằng cần phải xa lánh tất cả những hành động xấu ác, nên thực hành bố thí, trì Giới và phát triển tinh thần. Không có nơi nào nói rằng cần phải xa lánh những hành động phước thiện ! Nếu không tích lũy những hành động thiện lành, bạn sẽ không bao giờ loại bỏ được những nghiệp xấu.

 

                                        Thiên về xác thịt là tội lỗi        

 

Những người muốn thực hiện các hành động thiện lành cần phải có niềm tin, ý chí và sự nổ lực. Thực hiện được hành động phước thiện là một điều khó khăn. Điều này giống như việc đi ngược lại với ngọn thủy triều. Tuy nhiên, làm điều ác thì dễ. Để thực hiện những điều xấu ác thì không cần phải có sự nổ lực đặc biệt nào cả. Người ta có thể làm chúng một cách tự nhiên. Do đó, chúng ta nói rằng thực hiện những hành động xấu ác là bị cuốn trôi theo ngọn thủy triều.

Khi có Giới luật và tính cẩn thận can thiệp vào, chắn chắn những hành động xấu ác sẽ bị kiểm soát. Đối với những người thế tục, chỉ có hai cách để lựa chọn, hành động tốt hoặc xấu. Nếu lâu ngày không thực hiện những hành động thiện lành thì hành động bất thiện sẽ có cơ hội phát triển và chiếm ưu thế. Nếu tiêu tốn 100 phút đồng hồ để thực hiện những hành động bất thiện với tâm xấu ác, sao bằng chỉ cần bỏ ra 10 phút đồng hồ để thực hiện những hành động phước báu với tâm thiện lành có phải lợi ích hơn không ? Một người không thực hành thiền và giữ gìn Giới luật sẽ không biết làm cách nào để kiềm chế những điều xấu ác. Khi đối diện với nhiều đối tượng đa dạng có thể khiến cho các giác quan cảm thấy dễ chịu, một người không thực hành thiền sẽ làm cách nào để điều khiển tâm trí của mình để không bị dính mắc vào chúng ? Người này sẽ mãi mãi hài lòng với những đối tượng dễ chịu mà mình nhìn thấy hay nghe được. Một người có gia đình với trách nhiệm nặng nề khó có thể kiềm chế được điều ác một cách hoàn hảo. Anh ta cần phải có một khoảng thời gian nào đó để nhận thức rõ về sự lợi ích của việc gìn giữ Giới luật. Một người độc thân không bị rằng buộc bởi hôn nhân cũng không có khả năng chống lại sự cám dỗ đến từ những đối tượng như ý. Kể từ khi có đặc quyền thưởng thức tất cả những gì có thể thưởng thức, người này đã bất cẩn trong việc điều khiển dục tình của chính mình như tính tham lam, sân hận và vô minh. Chắc chắn anh ta sẽ lơ là trong việc để cho sân hận tự do khởi lên khi chạm trán với những đối tượng được cho là khó chịu.

Có một câu chuyện kể về hai cậu cháu nọ có liên quan đến việc làm chủ tâm trí. Người cháu nói rằng : “ Hãy để cho tâm trí được tự do bằng cách nới lỏng sự kiểm soát đối với nó .Từ đó tâm trí sẽ tự loại bỏ được những thứ ô nhiễm theo cách riêng của nó”. Người cậu dường như đã nổi giận với lời nói lém lỉnh đó và giáng cho người cháu của ông ta một bạt tai vào bên má. Khi được hỏi tại sao lại hành động như vậy, ông ta giải thích rằng mình đã làm như vậy để thử xem lời phát biểu của người cháu có đúng với sự thật hay không. Người cháu đã tỏ ra rất tức giận và không muốn nói gì nữa cả. Thật ra, người ta có thể loại bỏ được sân hận một cách hoàn toàn khi đã trở thành một A-La-Hán bằng cách thực hành thiền nội quán. Vào thời Đức Phật còn tại thế, Tôn giả Xá-Lợi-Phất được biết đến như là một người trầm tĩnh. Ngài không bao giờ nổi giận. Có một vị Bà-La-Môn không tin vào khả năng chinh phục được dục tình của vị Trưởng lão đã lén đi theo phía sau Ngài và đánh Ngài một phát. Tuy nhiên, Xá-Lợi-Phất vẫn tiếp tục bước đi một cách rất bình thản. Sau đó, vị Bà-La-Môn nọ đã nhận ra được lỗi lầm của mình và tìm đến với Tôn giả để tạ lỗi. Một vị A-La-Hán có được tính trầm tĩnh phi thường vì tất cả những dục tình của Ngài như tính sân hận, vô minh… đã hoàn toàn bị tiêu hủy. Việc thực hành thiền nội quán đã mang lại cho Ngài một lối nhận thức sáng suốt và khôn ngoan. Khi bạn nhìn thấy những cái gì đáng ghê tởm, bạn có thể điều khiển cho tâm trí của mình không bị cảm thấy phẫn nộ, buồn bã hay thất vọng được hay không ? Nếu không thực hành thiền nội quán, bạn sẽ không giờ biết cách làm chủ tâm trí.

 

         Nơi nào không có thiện nghiệp thì nơi đó ác nghiệp sẽ thống trị

 

Nơi nào thiện nghiệp không được thi hành thì nơi đó ác nghiệp sẽ chiếm ưu thế. Nếu một người nào đó thực hành bố thí, giữ Giới và phát triển tinh thần thì người này có thể được tái sanh vào cõi người hay Chư-Thiên.Thậm chí, anh ta không hề mong muốn gặt hái được Đạo Quả. Một điều chắc chắn là sau khi tái sanh, anh ta sẽ không thể nhận thức được Đạo. Tuy nhiên, nếu thực hành sự phát triển tinh thần ngay tại nơi được tái sanh thì cuối cùng anh ta cũng đạt tới Đạo. Nếu người này không chú ý đến việc thực hiện những hành động phước báu thì anh ta sẽ không tích lũy được thiện nghiệp. Những hành động bất thiện sẽ dẫn đến những hậu quả  thích hợp với những gì mà người này đã làm và anh ta sẽ phải đau khổ vì chúng. Thậm chí, người này có thể bị đọa vào những cảnh giới thấp kém. Vì vậy, những lời dạykhông nên thực hiện những hành động thiện lànhphải được xem là một quan điểm đáng sợ. Đó là lý do tại sao, tôi luôn luôn khẩn khoản yêu cầu mọi người hãy cố gắng thực hiện những hành động thiện lành. Hãy để cho tôi lập lại rằng anāyuhanā không có nghĩa là tránh không làm những hành động thiện lành. Nó chỉ có nghĩa là từ bỏ những thiện nghiệp hay bất thiện nghiệp nào có thể khiến cho thức tái sanh- Patisandhi Viñāna hiện khởi. Những hành động phước thiện giúp chúng ta phát triển Bhaya Ñāna- kiến thức về cảm giác sợ hãi, Ādinava Ñāna- kiến thức về sự nhàm chán và kinh khiếp các pháp hữu vi, Nibbhidā Ñāna – kiến thức về những điều xấu ác đáng tởm.

 

               Những vị A-La-Hán không bao giờ từ bỏ thiện nghiệp

 

Thoát khỏi những thứ ô nhiễm như tham lam, sân hận và vô minh, những vị A-La-Hán không bao giờ phạm vào những hành động bất thiện. Đó là một điều khá rõ ràng. Tuy nhiên, vẫn còn một số người thắc mắc rằng : “ Liệu các vị A-La-Hán có tích lũy phước báu qua việc thực hành bố thí, trì Giới, thiền định và thiền minh sát, rải tâm từ, tuân giữ lời Phật dạy hay không ?” Câu trả lời là : “ Khi những thứ ô nhiễm đã vắng mặt thì những hành động như vậy sẽ không còn tạo quả”. Chắc bạn còn nhớ bài Kệ tán tụng Đức Phật có tên là  Namakāra. Bài Kệ này mô tả hành động của Đức Thế Tôn như là một trạng thái từ bỏ cả hai loại nghiệp, thiện lành và bất thiện. Nhờ đó, Ngài đã loại bỏ được vòng quay ô nhiễm và vòng quay của nghiệp. Những vị A-La-Hán cũng có thể làm được như vậy. Tuy nhiên, khác với Đức Phật, các Ngài chưa loại bỏ được ấn tượng về một quá khứ tốt đẹp hay những nghiệp xấu vẫn còn đọng lại trong tiềm thức. Ở đây, trong bài Kệ tán tụng Đức Phật, từ bỏ những nghiệp thiện lành có nghĩa là : “Những hành động mà Ngài vẫn còn làm đã hết năng lực tạo quả”, bởi vì những thứ ô nhiễm trong tiềm thức của Ngài đã bị tiêu hủy thông qua sự Thành Đạo. Những hành động của người thế tục, dù thiện hay bất thiện, dù ở quá khứ hay hiện tại đều tạo ra quả qua thức nối liền ( tức thức tái sanh- Patisandhi Ñāna). Theo cách này, những chúng sanh đang còn sống trong thế giới cảm giác sẽ đi xuyên qua vô lượng kiếp sống. Chừng nào 5 uẩn-Pañcakhdhā vẫn còn khởi lên thì chừng ấy khổ đau vẫn còn hiện hữu một cáchbất tận.

5. Nối liền và không nối liền ( PatisandhiAppatisandhi)

Về thức tái sanh hay thức nối liền, sách Vô Ngại Giải Đạo- Patisambhidā Magga có nói rằng : “ Patisandhi sankhāra, Appatisandhi nibbāna”. Câu này có nghĩa là : “ Nối liền là hành, không nối liền là Niết-Bàn”. Thức tái sanh- Patisandhi Viññāna được gọi như vậy bởi vì thức này băng qua kẻ hở giữa kiếp sống hiện tại và kiếp sống kế tiếp. Kiếp sống ở quá khứ được nối liền với kiếp sống hiện tại bởi vô lượng nghiệp đã tạo ra từ thuở xa xưa. Chính những nghiệp xấu ác trong quá khứ sẽ khiến cho người ta bị tái sanh vào những cảnh sống thấp kém như súc sanh, ngạ quỷ, a-tu-la và địa ngục. Khi đã gặt hái được quả vị A-La-Hán, người ta sẽ thoát khỏi luân hồi. Thậm chí, những vị Tu-Đà-Hườn

 ( Sotāpanna) vẫn phải tái sanh trở lại thế giới của cảm giác ( tức luân hồi sanh tử) thêm 7 kiếp sống nữa, kể từ khi đạt tới quả vị này. Một vị Tư-Đà-Hàm

 ( Sakadāgāmi) sau khi qua đời chỉ còn trở lại luân hồi sanh tử trong vòng một kiếp nữa. một vị A-Na-Hàm ( Anāgāmi) sẽ tái sanh vào cảnh giới mà vị ấy sẽ trở thành A-La-Hán ở đó trong tương lai. Tất cả những chúng sanh đang sống tại những cảnh giới bị ô nhiễm điều có cơ hội để chấm dứt tái sanh. Tuy nhiên, giống như tôi đã nói, dù sống bất cứ ở đâu, đối với những vị A-La-Hán, vòng quay của nghiệp, vòng quay ô nhiễm và vòng quay của nghiệp quả đã hoàn toàn chấm dứt. Đây chính là Appatisandhi – không nối liền, tức đặc tính của Niết-Bàn. Do đó, có thể nói rằng Niết-Bàn là không tái sanh. Những người đã gặt hái được kiến thức về cảm giác sợ hãi, kiến thức về trạng thái tâm nhàm chán và kinh khiếp luôn luôn cảm thấy buồn chán, kinh tởm cõi luân hồi khổ đau. Họ sẽ nhận thức được chân lý thông qua Đạo. Luôn luôn nhìn về phía Niết-Bàn, họ thực hành thiền nội quán nhằm mục đích loại bỏ những thứ ô nhiễm và đạt tới Đạo. Đây chính là trạng thái tự nhận thức được Niết-Bàn. Tuy nhiên, nền tảng của hiện hữu trong họ vẫn chưa bị loại bỏ. Trạng thái tâm này được gọi là Saupadisesa- Niết-Bàn Hữu Dư. Nó trái ngược với Anupadisesa Nibbāna – Niết Bàn Vô Dư , một cảnh giới mà ở đó 5 uẩn đã bị tiêu hủy hoàn toàn sau khi những dục vọng đã bị nhổ bậc gốc.

                                               

                                                    Ba gánh nặng      

 

Tất cả chúng ta đều phải mang lấy những gánh nặng như :  Gánh nặngô nhiễm

( Kilesa), gánh nặng củatàng trữ haynghiệp (Ābhisankhāra) và gánh nặng của5 uẩn (Pañcakhandhā).

1. Gánh nặng ô nhiễm

Ô nhiễm luôn luôn ôm chặt những dục vọng như :  Tham lam, sân hận và vô minh. Nó buộc chúng ta phải mang lấy gánh nặng tỗi lỗi như sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, xử dụng các chất say…bằng cách ra lệnh cho dục vọng phải thực hiện những yêu sách của nó. Những hành động xấu ác chính là nguyên nhân dẫn đến khổ đau.

2. Gánh nặng của nghiệp

Hình thức tích lũy những hành động ( có thể là thiện hoặc bất thiện) của một cá nhân được gọi là Ābhisankhāra. Hình thức này có một tên gọi khác là nghiệp-Kamma. Nghiệp là một gánh nặng. Khi những hành động được thực hiện là xấu ác. Những hành động này sẽ dẫn dắt người đã thực hiện chúng đến với một cảnh sống khổ đau nào đó, như địa ngục chẳng hạn. Một người nào đó sẽ được tái sanh vào cõi trời hạnh phúc - như là kết quả của những hành động thiện lành mà anh ta đã thực hiện trong quá khứ. Tuy nhiên, khi tái sanh vào cõi trời, người này vẫn còn phải buồn lo vì tuổi già, bệnh tật và cái chết. Dù có được mãn nguyện với nghiệp quả của mình hay không ( ở đây là được sanh vào cõi trời), anh ta vẫn không thể nào tránh được tuổi già, bệnh tật và cái chết. Vì vậy, dù muốn hay không, người này vẫn phải mang lấy gánh nặng của nghiệp. Nói cách khác, anh ta vẫn chưa thoát khỏi luân hồi khổ đau. Thậm chí, khi đã tái sanh làm người, anh ta vẫn có thể bị nghèo đói, khổ đau vì bệnh tật và buồn lo vì sức khỏe yếu kém. Mặc dù sẽ được tận hưởng những nghiệp quả tốt. Tuy nhiên, có khả năng người này sẽ không tận hưởng được những nghiệp quả tốt này, nếu sau đó những nghiệp quả xấu đã vượt lên và chiếm ưu thế trong tâm thức của anh ta. Những nghiệp quả xấu chiếm ưu thế sẽ bức bách người này phải sống cảnh nghèo đói cùng cực. Trong thực tế cuộc sống, một người nào đó vẫn có thể tránh được hình phạt của pháp luật dành cho tội lỗi mà anh ta đã phạm phải, nếu có được một luật sư tốt nhận bào chữa cho anh ta và chứng minh được rằng anh ta là người vô tội. Để giảm nhẹ tội trạng của chính mình, người này có thể hối lộ để được tự do. Sau đó, anh ta sẽ được ân xá. Tuy nhiên, đối với nghiệp đã tạo thì không có bất cứ cách nào để thoát khỏi được nghiệp quả. Không có bất cứ ai có thể thoát khỏi định luật nghiệp báo. Có thể nghiệp quả sẽ vĩnh viễn nằm ngủ im lìm trong tiến trình của luân hồi sanh tử. Tuy nhiên, khi có một cơ hội hậu thuẫn, nó sẽ phục hoạt và khởi lên. Vì vậy mới có gánh nặng của nghiệp. Người ta chỉ có một con đường duy nhất để loại bỏ được gánh nặng của nghiệp, đó là thực hành thiền nội quán. Nếu bạn gặt hái được quả vị Tu-Đà-Hườn, những nghiệp bất lợi sẽ chấm dứt. Nhờ đó, bạn không bao giờ bị đọa vào những cảnh giới thấp kém. Nếu trở thành một vị A-La-Hán, bạn sẽ trút bỏ được tất cả những gánh nặng trên vai mình. Đối với một vị A-La-Hán, kiếp sống mới sẽ không bao giờ còn xuất hiện. Tuy nhiên, trước khi một Bậc Cao Thượng nhập vào trạng thái Niết-Bàn, những nghiệp xấu mà vị này đã từng thực hiện trong quá khứ có thể vẫn còn phát huy tác động của chúng. Thậm chí, những vị Phật cũng không thể tránh khỏi kết quả của những hành động xấu xa trong những kiếp ở quá khứ.

3. Gánh nặng của 5 uẩn

Do gánh nặng của nghiệp, gánh nặng của 5 uẩn sẽ được di chuyển từ kiếp sống này sang kiếp sống khác. Những uẩn mới sẽ khởi lên như là kết quả của những uẩn cũ đã già cỗi. Chúng rất năng động, liên tục chuyển động khi người ta đi, đứng, nằm, ngồi. Chúng ra yêu sách phải được nuôi dưỡng, cho ăn, tắm rửa sạch sẽ và mặc áo quần…Chúng sẽ cảm thấy vui thích khi được dỗ dành bằng những đối tượng có thể mang lại cho chúng cảm giác dễ chịu. Trong trạng thái nổ lực để thỏa mãn những yêu sách của 5 uẩn, bạn có thể bị cưỡng bách làm những điều tội lỗi. Khi đã phạm tội, 5 uẩn không chỉ tác động xấu đến môi trường sống chung quanh nó mà còn khiến cho người phạm tội phải buồn khổ, lo lắng trong luân hồi bất tận. Để thoát khỏi 5 uẩn, bạn cần phải tích lũy được những hành động thiện lành để phát triển Chánh kiến, nghiệp thiện lành và năng lực nhận thức đúng đắn. Khi về già, một người nào đó sẽ cảm thấy có nhiều gánh nặng đè lên đôi vai của chính mình. Lúc đó, người này sẽ nhận thấy rằng ông ta không còn sức lực để mang nổi 5 uẩn thêm một khoảnh khắc nào nữa và muốn vứt bỏ chúng đi ngay tức khắc. Ông ta sẽ thừa nhận rằng 5 uẩn là một đống luân hồi bất tận, không có giới hạn, không thể đong đếm, không có khoảng cách và thời gian. Như vậy, tôi đã nói với bạn về 3 gánh nặng mà chúng sanh phải mang lấy, đó là : Vòng quay của ô nhiễm, vòng quay của nghiệpvòng quay của nghiệp quả. Tóm lại, tất cả những thứ ô nhiễm trong tâm trí như : Tham lam, sân hậnvô minh sẽ cấu thành gánh nặng ô nhiễm. Tất cả những hành động dù thiện hay bất thiện sẽ cấu thành gánh nặng của nghiệp. Tất cả các uẩn sẽ cấu thành gánh nặng của 5 uẩn.

                              

                                 Trút bỏ tất cả những gánh nặng

 

Khi những vị A-La-Hán đã loại bỏ được những thứ ô nhiễm thông qua trạng thái  nhận thức được Đạo, họ đã hoàn toàn trút bỏ được gánh nặng của ô nhiễm.

Vì vậy, những nghiệp quá khứ sẽ mất hết tác dụng sau khi họ nhập vào Niết-Bàn. Có thể nói, lúc đó nghiệp đã không còn khả năng tái tạo một kiếp sống mới. Tuy nhiên khi đang còn tại thế, những vị A-La-Hán vẫn phải tiếp tục đón nhận những nghiệp quả cũ còn sót lại. Các nhà chú giải Kinh điển nói rằng trước khi Thành Đạo, Đức Phật đã từng sống qua những ngày hạnh phúc và thịnh vượng nhờ vào những nghiệp quá khứ thiện lành mà Ngài đã từng thực hiện. Tuy vậy, Ngài cũng đã từng bị một nữ tu sĩ khổ hạnh tên là Sundari vu khống và cáo buộc như là một nghiệp quả xấu trong quá khứ của Ngài. Trước khi trở thành đệ tử của Đức Phật, Trưởng Lão Sivāli là một người có nhiều của cải và những ngôi biệt thự tráng lệ bởi vì trong tiền kiếp, Ngài là một thí chủ rất hào phóng. Lokasatissa là một người nghèo khổ và luôn luôn phải buồn lo bởi vì trong quá khứ ông là một người keo kiệt, bủn xỉn.

 

                                    Mối ràng buộc của hiện hữu

 

Người ta thường mô tả các vị A-La-Hán như là những Thánh nhân đã trút bỏ được những gánh nặng trên đôi vai của họ. Thành tựu của họ là sự nhận thức được Đạo Quả. Đối với họ, mối ràng buộc của hiện hữu chỉ là vấn đề thứ yếu. Theo lối nói hiện đại mà chúng ta vẫn thường xử dụng để biểu lộ một điều gì đó, có thể nói các vị A-La-Hán là những người đã cắt đứt được mối ràng buộc với nghiệp. Tuy nhiên, họ vẫn phải tiếp tục cắt đứt mối ràng buộc của họ với thế giới loài người đầy khổ đau. Samyojana ( tức thằng thúc hay dây trói buộc) là bản khế ước của dục vọng với nhân loại, là chướng ngại đã khiến cho họ không thể chấm dứt được sanh tử luân hồi giống như các vị A-La-Hán. Nếu con người có thể thoát khỏi mối ràng buộc của hiện hữu thì họ sẽ không còn phải chịu cảnh tái sanh. Một người chểnh mãng trong việc học tập và thực hành Phật Pháp sẽ không thể nào cắt đứt được mối rằng buộc với hiện hữu. Đến một lúc nào đó, sợi dây ràng buộc người này với hiện hữu sẽ kéo người này vào 4 cảnh giới thấp kém và khổ đau, nếu như nghiệp của anh ta là xấu ác. Vì vậy, Kinh Pháp Cú- Dhammapada đã nói : “ Một người thế tục chểnh mãng trong Giáo Pháp sẽ phải sống trong 4 cảnh khổ là súc sanh, ngạ quỷ, a-tu-la và địa ngục”.

Con người sống trong nhà riêng của họ. Trong những trường hợp bắt buộc, họ phải viếng thăm nhà của người khác. Có thể họ sẽ ở lại đó như là những người khách và trước sau gì cũng phải trở về nhà của mình. Tương tự như vậy, nếu địa chỉ thường xuyên của họ là địa ngục, khi đang ở đó có thể họ cũng muốn viếng thăm một cảnh sống cao hơn rồi sau đó lại trở về chỗ ở xứng đáng với chính mình. Thỉnh thoảng, họ được tái sanh vào thế giới của Phạm-Thiên nhờ vào những nghiệp thiện lành mà họ đã tích lũy được. Tuy nhiên, mối ràng buộc với hiện hữu sẽ kéo họ trở lại thế giới của loài người. Vì vậy, họ sẽ phải chết như những vị Phạm-Thiên khác để tái sanh làm đàn ông hay đàn bà trong thế giới này. Khi dây buộc ngắn, con bò không thể đi xa được. Nó không thể vượt ra khỏi phạm vi mà sợi dây cho phép. Tương tự như vậy, một người bị giam cầm trong một phạm vi chật hẹp bởi mối ràng buộc với hiện hữu không thể đi xa và vượt quá giới hạn mà mối ràng buộc này cho phép. Sợi dây ràng buộc với hiện hữu chỉ cho phép người này đi lại nội trong cảnh giới mà anh ta đang sống mà thôi. Anh ta sẽ không bao giờ có khả năng thoát ra khỏi giới hạn này để tiếp cận với Niết-Bàn. Vì vậy, người này phải tiếp tục một kiếp sống với khổ đau cùng cực, tuổi già, bệnh tật và cái chết. Tuy nhiên, những vị A-La-Hán lại khác, họ là những người đã cắt đứt được mối ràng buộc với hiện hữu và được tự do đi tới nơi mà mình mong muốn.

 

                      Năm khả năng đặc biệt của các giác quan

 

Các vị A-La-Hán được tán dương vì thành tựu của họ trong việc triệt tiêu những thứ ô nhiễm ( Āsava - từ này cũng đồng nghĩa với Kilesā - ND). Các thứ ô nhiễm tiềm ẩn trong tất cả những người thế tục. Cơ hội để chúng khởi lên là lúc mà người ta thực hiện những hành động đồi bại hay trụy lạc. Giống như những chúng sanh đang sống trong thế giới cảm giác, những vị A-La-Hán cũng thấy, nghe, ngửi, nếm và xúc chạm kể từ khi họ có những giác quan. Khi chưa bị hư hỏng, các giác quan của người ta sẽ phân biệt xấu tốt khi tiếp xúc với các đối tượng tương ứng của chúng. Khi nói về 5 khả năng của các giác quan, các vị A-La-Hán cũng giống như người bình thường, bởi vì các Ngài không thể tránh được những loại cảm giác hay cảm thọ- Vedanā. Các Ngài cũng nhận biết thế nào là khổ và thế nào là hạnh phúc. Tuy nhiên, khi đã loại bỏ được những thứ ô nhiễm như tham lam, sân hận… Các Ngài sẽ không còn cảm thấy bất hạnh nữa, mặc dù vẫn nhận thức được những điều bất tiện thuộc về thân xác. Khi thời tiết đổi mùa, các Ngài cũng cảm thấy nóng hay lạnh. Những vị A-La-Hán cũng cảm thấy sức khỏe của các Ngài thay đổi thất thường. Khi đối diện với những đối tượng khó chịu các Ngài cũng cảm thấy lúng túng về phương diện thể xác. Tuy nhiên, về phương diện tinh thần thì các Ngài không bị những đối tượng khó chịu này câu thúc hay gây ảnh hưởng. Hầu như, các vị A-La-Hán sẽ không bao giờ quan tâm đến những thứ dễ chịu hay khó chịu. Vô tham, vô sân và trí tuệ đã hiện khởi trong các vị A-La-Hán, mỗi khi họ bắt gặp những cảm giác dễ chịu được tạo nên bởi các đối tượng của giác quan.

 

                               Trạng thái chấm dứt của tham dục

 

Trong tiếng Pāli, những từ như tham lam (Lobha), tham muốn ( Abhijhā), tham dục ( Ràga) và tham ái haykhao khát ( Tanhā) đều có nghĩa giống nhau. Những từ này được gọi chung là dục tình hay dục vọng, tức sự ham muốn những đối tượng có thể làm thỏa mãn những đòi hỏi của các giác quan. Trong các vị A-La-Hán, tham dục đã không còn khởi lên, sân hận và vô minh cũng đã chấm dứt. Khi một vị A-La-Hán nhìn thấy một đối tượng có hình dáng thì nhãn thức của Ngài sẽ khởi lên. Ngài vẫn nhận biết đối tượng đó, tuy nhiên Ngài không cảm thấy tham muốn nó, sân hận vì nó hay có những ý nghĩ hão huyền về nó. Tất cả những dục tình trong một vị A-La-Hán đã bị loại bỏ hoàn toàn. Sự chấm dứt dục tình theo cách này được gọi là Saupādisesa nibbāna – Niết Bàn Hữu Dư. Nói cách khác, đối với một vị A-La-Hán, nền tảng của chúng sanh

( bao gồm lửa dục, lửa sânlửa vô minh) đã hoàn toàn bị dập tắt. Dù chỉ một lần nhận thức được Đạo, vị A-La-Hán sẽ được tận hưởng Niết-Bàn-Hữu-Dư cho đến khi vào được Niết Bàn Vô-Dư ( tức Niết Bàn Tuyệt-Đối – Parinibbāna). Như vậy, Ngài đã đạt tới trạng thái hạnh phúc tuyệt đối bởi vì đã loại bỏ được tất cả những thứ ô nhiễm - nguyên nhân gây ra khổ đau. Tuy nhiên, nếu còn sống trong thế giới của loài người, một vị A-La-Hán vẫn hiện hữu với thân xác được tạo nên bởi 5 uẩn. Nếu một người nào đó nhận thức được Đạo khi đang sống tại cõi trời Phạm-Thiên thì người này vẫn phải còn tiếp tục sống với thân xác được tạo nên bởi 5 uẩn thêm 1000 hay 2000 kiếp nữa, bởi vì tuổi thọ ở cảnh giới đó rất cao so với địa cầu . Những ai đã nhận thức được Đạo tại cõi người vẫn phải chịu đựng những loại bệnh thuộc về thân xác phát xuất từ những nghiệp cũ còn sót lại. Hàng ngày họ vẫn phải đi khất thực, rửa mặt hay tắm rữa… Theo cách này, sự thật những vị A-La-Hán nhận thức được Đạo tại cõi người vẫn còn mang gánh nặng của 5 uẩn. Tuy nhiên, các Ngài không hề bị dính mắc vào chúng. Trưởng Lão Bakula, người nổi tiếng có sức khỏe tốt nhất so với những đệ tử đương thời của Đức Phật. Ngài trở thành A-La-Hán vào năm 80 tuổi và viên tịch lúc đã 160 tuổi. Như vậy, khi đã là một vị A-La-Hán, Ngài phải sống thêm 80 năm nữa mới vào được Niết-Bàn. Điều này có nghĩa là Trưởng lão Bakula đã phải mang gánh nặng của 5 uẩn trong khoảng thời gian là 160 năm. Ngài chỉ thoát khỏi được gông cùm của 5 uẩn khi đã nhập Đại-Niết-Bàn.

Thật ra, Ngài cũng không muốn sống thêm và cũng không muốn chết đi khi tuổi đời đã quá già. Tuần trước, tôi đã nói với bạn rằng, một vị A-La-Hán không mong muốn sống và cũng không mong muốn chết. Ngài chỉ thiết tha chờ đợi lúc được nhập vào Đại-Niết-Bàn. Anupādisesa nibbāna – Niết Bàn Vô Dư là trạng thái tiêu hủy của dục tình5 uẩn. Do đó, trạng thái này đã được giải thích trong loại Kinh có tên Phật Thuyết Như VậyItivuttaka. Loại Kinh này thường được bắt đầu bằng câu Như vậy tôi nghe…Kinh nói rằng : “ Như vậy tôi nghe, một vị Tỳ-kheo cao thượng là người đáng tôn kính. Vị này đã từ bỏ những thứ đồi bại và ô nhiễm, đã thực hành tất cả những Pháp đáng thực hành, đã hoàn thành được những điều đáng hoàn thành, đã buông bỏ gánh nặng của 5 uẩn, đã cắt đứt mối ràng buộc với hiện hữu, đã được giải thoát thông qua sự hiểu biết đầy đủ và đúng đắn, đã loại bỏ được cảm thọ hay cảm giác, không còn đam mê những pháp hữu vi, đã gặt hái được trạng thái bình yên vắng lặng trong tâm trí khi đang còn tại thế”.

Ở đây có điểm quan trọng cần chú ý là cảm giác sẽ chấm dứt khi một vị A-La-Hán đạt tới Đại-Niết-Bàn. Đối với người thế tục bình thường và thậm chí đối với những hành giả đang thực hành thiền minh sát, cảm giác vẫn chưa bị loại bỏ.

Họ muốn chấp nhận những cảm giác dễ chịu như là một thứ hạnh phúc. Do đó, khi cảm giác dễ chịu khởi lên, họ sẽ bám víu vào nó. Chúng sanh thường có thói quen bám víu vào cảm giác nói chung, thậm chí trong khoảnh khắc cận tử hay thức cận tử ( ĀsannāViññāna). Vì vậy, tâm bám víu vào cảm giác sẽ trôi theo thức tái sanh hay thức nối liền ( Patisandhi Viññāna) ngay sau khi thức này khởi lên. Đối với một vị A-La-Hán, mặc dù khi đang còn tại thế nhưng cảm giác trong Ngài đã hoàn toàn bị tiêu hủy. Chúng ta có thể nhớ lại rằng trạng thái chấm dứt của cảm giác trong khoảnh khắc hấp hối của một vị A-La-Hán có thể ví như một ngọn lửa đã tắt. Tuy nhiên trong thực tế, đối với một vị A-La-Hán, trạng thái hấp hối này đã bắt đầu từ khi Ngài vẫn còn sống trên thế gian. Kể từ khi cảm giác đã bị đốt cháy, nó sẽ không còn bất cứ một cơ hội nào để quay trở lại sau khi Ngài đã nhập vào Đại-Niết-Bàn. Những gì tôi đã nói về cảm giác hay cảm thọ - Vedanā cũng có thể áp dụng một cách chi tiết đối với tưởng – Sannā ( tức khả năng tri giác thông qua giác quan), hành-Sankhāra ( sự cấu thành tinh thần) và thức – Viññāna ( tức trạng thái nhận thức của tâm trí). Tất cả những loại dục tình này cũng sẽ chấm dứt tương tự như cách thức mà cảm giác đã tiêu hủy. Cùng với vật chất, tùy thuộc vào nghiệp quả- Vipāka, tất cả những dục tình này sẽ cấu thành 5 uẩn và đi vào trong lòng của chúng sanh. Cùng với trạng thái vắng mặt của 5 uẩn và nghiệp quả, cuối cùng vị A-La-Hán đã hoàn thành được mục đích tối hậu của Ngài, đó là : Thoát khỏi luân hồi.

 

                                        

 

                                       

 

                                       Hai bài Kệ đáng chú ý

 

Đối với vấn đề hai yếu tố của Niết-BànKinh Phật Thuyết Như Vậy – Itivuttaka có nói tới vấn đề này qua hai bài Kệ - Gàtha ( tức lời Phật dạy được trình bày bằng thơ) rất đáng chú ý. Dưới đây là bài Kệ thứ nhất : 

                                  Duve imācakkhumatā pakāsita,

                                  Nibbànadhātu anissitena tādinā,

                                  Ekā hi dhātu idha ditthadhammikā,

                                  Saupādisesā bhavanettisankhayā.

                                  Anupādisesā pana samparāyikā,

                                  Yamhi nirujjhanti bhavāni sabbaso.

                                  Ye etadannāya padam asankkhatam,

                                  Vīmuttacitta bhavanettisankhayā,

                                  Te dhammasārādhigamā khaye rāte,

                                   Pahamsu te sabbabhavāni tādino.

Có một quan niệm lầm lạc do khao khát tạo ra, đó là việc không tin vào khả năng thản nhiên của con người trước những đối tượng của giác quan. Quan niệm này cũng không tin vào bài tập về trí tuệ mà Đức Phật đã từng chỉ dạy một cách rõ ràng. Trong bài tập này, Đức Phật đã chỉ ra 2 yếu tố của Niết-Bàn. Yếu tố thứ nhất là Saupādisesa Nibbāna – Niết Bàn Hữu Dư. Đây chính là trạng thái chấm dứt của những thứ ô nhiễm. Tuy nhiên, trong trạng thái này nền tảng của hiện hữu thì vẫn còn tồn tại. Điều này còn mang ý nghĩa biểu lộ trang thái cắt đứt mối ràng buộc với hiện hữu nhưng chưa được rõ ràng cho lắm. Yếu tố thứ hai là Anupādisesa Nibbāna sẽ trở nên rõ ràng hơn sau khi một bậc cao thượng nào đó đã đạt tới Niết Bàn Vô Dư – Parinibbāna. Trong yếu tố này, trạng thái tiêu hủy của năng lực cấu thành các pháp hữu vi đã trở nên hoàn toàn. Bằng cách lãnh hội được Đạo, vị A-La-Hán sẽ nhận thức được 2 yếu tố Saupādisesa NibbānaAnupādisesa nibbāna một cách rõ ràng. Những vị A-La-Hán là những người đã thoát khỏi những chủ thể dẫn đến trạng thái cấu thành các pháp hữu vi. Vì đã nhận thức được cốt tủy của Giáo Pháp và gặt hái được trạng thái thanh thản trong tâm trí khi đối diện với những đối tượng của giác quan, những vị A-La-Hán sẽ được hạnh phúc trong trạng thái hủy diệt của sự cấu thành tinh thần và vật chất. Trong buổi thuyết Pháp cuối cùng về Anupādisesa Nibbāna, tôi đã diễn tả trạng thái tâm thức này như là một nơi chốn mà ở đó, yếu tố bình yên đã trú ngụ. Đây chỉ là một lối nói văn hoa bóng bẩy hay ẩn dụ mà thôi.

Thật ra, Anupādisesa Nibbāna không phải là một nơi chốn nào cả. Nó không phải là một địa điểm. Nó không có vị trí. Anupādisesa Nibbāna không phải là nguyên nhân cũng không phải là kết quả. Nếu nói rằng, nó là một cảnh giới hay là một trạng thái thì điều này có thể tạm chấp nhận được. Trong các loại sách chú giải Kinh điển, Saupādisesa Nibbāna đã được chỉ ra như là trạng thái tiêu hủy và vắng mặt của tham dục – Rāga. Các sách này không hề nói rằng Saupādisesa Nibbāna là một nơi chốn, là nguyên nhân hay kết quả gì cả.

Thật không đúng đắn khi nói rằng, Đạo và Quả có khuynh hướng thiên về đối tượng của chúng là Niết-Bàn. Thật ra, Niết-Bàn chính là nguyên nhân và cũng là trạng thái chấm dứt của những thứ ô nhiễm trong sự tác động của Đạo và Quả. Chúng ta cũng cần chú ý rằng, trạng thái bình yên của tâm trí đang hướng tới Đạo và Quả chính là Niết Bàn Hữu Dư. Trạng thái khi Đạo và Quả đã được xét lại chính là Niết Bàn Vô Dư. Niết-Bàn không chịu ảnh hưởng của thời gian.

Nói cách khác, nó vượt cả thời gian. Thật không thích hợp chút nào khi có người hỏi về chức năng của Đạo rằng : “ Trong khoảnh khắc Đạo đang thiết lập trạng thái của nó để tiêu hủy những thứ ô nhiễm, nó có khuynh hướng thiên về phía Niết-Bàn hay không ? Trong khoảnh khắc đó, với chức năng triệt tiêu 5 uẩn của nó, Đạo có nhìn về một Niết-Bàn ở tương lai sau khi vị A-La-Hán đạt tới Đại-Niết-Bàn hay không ?” Tuy nhiên, Niết-Bàn là trạng thái giải thoát vượt thời gian – Kālavimutti. Khi cho rằng khuynh hướng thiên về phía Niết Bàn của Đạo – Anussaya như là một yếu tố góp phần cấu thành tham dục, sân hận và vô minh thì có lẽ những người thế tục đã sở hữu khuynh hướng này một cách tràn lan. Khuynh hướngthiên về phía Niết-Bàn của Đạo sẽ khởi lên khi có điều kiện thuận lợi. Vì vậy, nó không thể thuộc về quá khứ, hiện tại hay tương lai. Khi trạng thái thiên về phía Niết Bàn - Anussaya không chịu ảnh hưởng của thời gian thì khoảnh khắc mà Đạo đang triệt tiêu những thứ ô nhiễm cũng vượt thời gian. Cũng như khi nói về trạng thái chấm dứt của các hiện tượng, sự chấm dứt đó không phải là một trạng thái xảy đến và cũng không phải là một trạng thái đang khởi lên. Bạn không thể nói nó đã khởi lên, đang khởi lên hay sẽ khởi lên. Nó không có liên quan đến thời gian. Vì vậy, một cách đúng đắn, chúng ta không nên nói rằng trạng thái chấm dứt đó đã hoàn tất. Trạng thái chấm dứt của những thứ ô nhiễm sẽ khởi lên ngay trong khoảnh khắc mà vị A-La-Hán nhận thức được Đạo. Khi những thứ ô nhiễm đã chấm dứt thì những cái phụ thuộc vào chúng, tức 5 uẩn sẽ không còn cơ hội để khởi lên nữa. Hiện tượng này chính là trạng thái giải thoát vượt thời gian – Kālavimutti. Do đó, việc hỏi rằng liệu trạng thái nhận thức được Đạo có khuynh hướng thiên về Niết-Bàn ngay khi nó đang khởi lên hay nó có khuynh hướng thiên về một Niết-Bàn ở tương lai sau khi vị A-La-Hán đạt tới Đại- Niết-Bàn là câu hỏi không thích hợp, bởi vì nó không mang lại sự lợi ích nào cả. Tại nơi mà trạng thái khởi lên - Upāda, trạng thái phát triển- Thititrạng thái chấm dứt – Bhanga đang hoạt động theo chu kỳ của chúng. Đối với một vị A-La-Hán, cách tốt nhất khi đang sống ở đó là các Ngài luôn luôn định tâm và thực hành thiền nội quán ngay trên Đạo Quả. Khi trạng thái tuyệt đối đang xảy đến với sự biến mất của 3 khoảnh khắc tư duy trong Đạo quả ( khởi lên, phát triển và chấm dứt) thì vị A-La-Hán đã nhận thức được Niết-Bàn. Đây chính là trạng thái giác ngộ cao nhất. Khi những vị A-La-Hán đang gặt hái Đạo Quả và khởi tâm nhập vào Niết-Bàn, họ thường nói rõ niềm hạnh phúc của mình như sau : “ Susukham vata nibbāna, sammāsam-buddha desitam : Asokam virajam, kheman yattha dukkham nirujjhati”. Đoạn văn này có nghĩa là : “ Tất cả những nổi khổ đau đã bị tiêu hủy tại Niết Bàn – cảnh giới không có phiền não, không có dục tình và hiểm nguy. Hạnh phúc thay ! Niết Bàn đã chỉ ra sự toàn giác !” Do đó, những vị A-La-Hán đã thật sự đượchạnh phúc trong Niết Bàn Vô Dư- Anupādisesa Nibbāna, trạng thái mà trong đó tất cả những yếu tố như vật chất, tâm trísự cấu thành tinh thần ( tức Hành- Sankhāra) đã bị tuyệt chủng. Kể từ khi những yếu tố này đã hoàn toàn chấm dứt cùng với luân hồi khổ đau, chúng sẽ vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Cầu chúc cho những người đã kính cẩn lắng nghe bài thuyết Pháp này sẽ nhanh chóng đạt tới Niết-Bàn thông qua trạng thái nhận thức về Đạo quả ! Lành thay !

 

                                        Về bản chất của Niết Bàn

                                            Phần III

Bài thuyết Pháp vào ngày trăng khuyết thứ 8 tháng Tawthalin năm 1326 theo lịch Miến Điện, tức nhằm ngày 29 tháng 09 năm 1964.

Lần trước tôi đã giải thích về 2 yếu tố trong Niết Bàn. Hôm nay tôi sẽ bắt đầu thuyết lại bài Pháp này qua bài Kệ nói về sự chiến thắng tuyệt đối khi Bậc Đáng Tôn Kính- Bāhiyadāruciriya nhập vào Niết Bàn Vô Dư- Anupādisesa Nibbāna.

                                             

                                            Kệ - Những lời tán tụng

 

                          Yattha āpo ca pathavi, tejo vāyo na gādhati,

                           Na tattha sukkā jotanti, adicco nappakāsati,

                           Na tattha candimābhāti, tamo tattha ba vijjati.

                           Yadā ca attanā vedi, muni monena brāhmano,

                          Attha rūpa arūpa ca, sukhadukkhū pamuccati.

 

Trong trạng thái Niết-Bàn không có những yếu tố nguyên thủy như : Đất, nước, lửakhông khí , không có các ngôi sao lấp lánh, không có mặt trời chiếu sáng và cũng không có mặt trăng. Thậm chí bóng tối cũng đã vắng mặt trong Niết-Bàn. Một hiền nhân nhập vào Niết-Bàn bằng nổ lực của chính mình khi Ngài đã giác ngộ thông qua việc gặt hái được năng lực hiểu biết về Đạo và trở thành A-La-Hán. Tiếp đến, Ngài được giải phóng khỏi vật chất và tinh thần. Từ đó, Ngài sẽ không còn cảm thấy hạnh phúc hay khổ đau nữa. Tùy thuộc vào 4 yếu tố nguyên thủy là đất ( có tính vững chắc), nước ( có tính trôi chảy), hơi nónghơi lạnh (  trạng thái có nhiệt độ) và không khí ( có tính chuyển động mạnh), vật chất khởi lên sẽ bám víu vào những đối tượng của giác quan có hình dáng hay thuộc dạng âm thanh. Khi những đối tượng của giác quan đã bị triệt tiêu thì vật chất cũng sẽ tan hoại. Trong Niết-Bàn không có vật chất. Nơi nào không có vật chất thì nơi đó cũng không có ánh sáng và bóng tối. Tôi đã nhấn mạnh rằng Niết-Bàn không có vị trí ở đâu cả, bởi vì nó không thể tọa lạc tại những nơi mà trạng thái khởi lên của tinh thần và vật chất đã chấm dứt. Trong phần mở đầu của Bài Kệ có nói rằng Niết-Bàn không phải là một nơi chốn. Nói cách khác, trong quá trình nghiên cứu lâu dài, có 4 sự thật về Niết-Bàn đã được công bố.

Vi Diệu Pháp – Abhidhamma  nói rằng Niết-Bàn không có sự liên quan với thể xác. Bạn sẽ tìm thấy được lời giải thích về điều này khi tôi nói về chủ thể

( có tính hướng nội), khách thể ( có tính hướng ngoại) và các giác quan.

Vật chất tồn tại trong thế giới hình thể, tâm trí không có hình thể. Tuy nhiên, Đại- Niết-Bàn đón nhận một vị A-La-Hán khi Ngài đã hoàn toàn làm chủ được tinh thần và vật chất. Vì vậy, tôi sẽ nói về Đại-Niết-Bàn của một bậc đáng tôn kính như là sự giải thoát khỏi luân hồi khổ đau.

 

                            Câu chuyện về một Bậc Đáng Tôn Kính   

 

Trong thời Đức Phật còn tại thế, có một thương gia tên là Bāhiya. Vị thương gia này đã 7 lần dùng thuyền buồm đi lại trên biển để buôn bán. Trong tất cả những chuyến mạo hiểm đầu tiên, Bāhiya đều buôn bán rất thành công. Tuy nhiên vào chuyến thứ 7, tức chuyến buôn bán cuối cùng, thuyền buồm của ông đã gặp một cơn bão và bị đắm. Tất cả thủy thủ đoàn và nhiều người khác trên thuyền đều chết đuối, chỉ có duy nhất Bāhiya là sống sót. Ông bị trôi dạt vào bờ biển và tấp lên một vùng đất có tên là Supparaka. Do bị những đợt sóng biển hất tung lên nhiều lần, Bāhiya đã mất hết áo quần. Khi đã lên được đất liền, ông tự làm cho mình một cây gậy, một tấm y và quấn nó vào người để che thân. Ông tình cờ nhặt được một bình bát trong một ngôi điện thờ đã đổ nát. Với chiếc bình bát nhặt được, Bāhiya đi loanh quanh trong làng để khất thực. Do tấm y đang mặc trên người, những cư dân sinh sống trong làng đã nhầm tưởng ông là một vị A-La-Hán. Do đó, họ đã dâng cúng cho Bāyahi vật thực và y phục. Mặt khác, Bāhiya tự nghĩ rằng nếu ông mặc những y phục đã được dâng cúng vào người, cư dân ở Supparaka sẽ tôn kính ông như một vị A-La-Hán. Điều này sẽ gây ra một trạng thái xáo trộn lớn trong cộng đồng. Vì vậy, Bāhiya đã sửa tấm y mà ông đang mặc thành ra một cái áo dài. Tuy vậy, mọi người dân sinh sống ở đó vẫn tiếp tục tôn kính ông như một vị A-La-Hán. Từ đó, tiếng tăm của Bāhiya ngày càng vang xa và rộng hơn. Một thời gian sau, ông tự tin rằng mình đã thật sự là một vị A-La-Hán. Vào thời đó, có một vị Phạm-Thiên ( Brahma) đã đạt tới quả vị A-Na-Hàm nghe tin về Bāhiya. Do đó, vị này đã độn thổ đến và tìm gặp ông. Sau đó, vị Phạm-Thiên đã biết ra sự thật rằng Bāhiya không phải là một A-La-Hán và nói rằng : “ Bāhiya ! Trong thời Đức Phật Ca Diếp – Kassapa Buddha, ông là một trong 7 người thuộc về chúng tôi. Chúng ta đã từng cùng nhau thực hành Phật pháp. Trong 7 người đó, tôi là anh cả. Bây giờ tôi đã tái sanh làm A-Na-Hàm ( Anāgāmi) trong cõi Phạm-Thiên. Trong những ngày ấy, khi đang còn tu hành bên nhau, ông đã có niềm tin mãnh liệt rằng, khi được dâng cúng nhiều thứ vật thực như một vị A-La-Hán thì ông sẽ từ chối thọ nhận chúng, bởi vì việc thọ nhận này là một chướng ngại cho tiến trình nhận thức được Đạo. Bây giờ ông đã trở thành một kẻ lừa đảo. Bằng cách dối trá, ông đã được sung túc và thỏa thích với những thứ đã có. Ông không phải là một vị A-La-Hán, ông chưa có phẩm chất đạo đức của một vị A-La-Hán. Khi nghe thấy những lời nói của vị Phạm-Thiên, Bāhiya cảm thấy cực kỳ nhục nhã vì bị mất thể diện. Ông đã thỉnh cầu vị Phạm-Thiên nọ hãy nói cho ông biết rõ thế nào là một vị A-La-Hán. Sau đó, Bāhiya được biết rằng Đức Phật đích thực là một vị A-La-Hán, Ngài hiện đang trú tại tu viện Kỳ -Viên ( Jetavana Rāma). Tiếp đến, Bāhiya đã đi thẳng đến tu viện nói trên. Khi vừa đến nơi, ông không thấy Đức Phật ở đó, Ngài đã ra ngoài và đi khất thực trong thành phố. Ngay lập tức, Bāhiya đã đi vào trong thành Xá-Vệ ( Savātthi) để tìm Đức Phật. Khi vừa gặp được Đấng Giác Ngộ, ông liền thỉnh cầu Ngài truyền Pháp. Tuy nhiên, lời thỉnh cầu của Bāhiya đã bị từ chối bởi vì thời gian và cơ duyên chưa được thích hợp. Mặc dù vậy, Bāhiya vẫn cứ khăng khăng thỉnh cầu Đức Phật truyền Pháp cho ông đến lần thứ ba. Cuối cùng, Đức Phật vẫn không chấp nhận sự thỉnh cầu của Bāhiya. Ngài chỉ cho ông một lời khuyên mà về sau đã hợp thành Kinh Bāhiya ( Bāhiya Sutta).

 

                                   Chỉ thấy đúng như nó đang là

 

Trong Kinh Bāhiya, chúng ta thấy có sự xuất hiện đoạn văn dưới đây :

Tamātiha te Bāhiya evam sikkhitabbam : “ Ditthe ditthamattam bhavissati, sute sutamattam bhavissati, mute mutamattam bhavissati, viññāte viññātamattam bhavissati” ti, evanhi te Bāhiya sikkhitabbam. Đoạn văn này có nghĩa là : “ Bāhiya ! Vì ông cứ khăng khăng thỉnh cầu, bây giờ ta yêu cầu ông hãy thực hành Pháp này : Khi đang nhìn thấy bất cứ một vật gì ông hãy nhìn nó đúng theo cách mà nó đang là , khi đang nghe bất cứ một âm thanh nào ông hãy nghe âm thanh đó đúng theo cách mà nó đang là, khi đang nhận biết bất cứ một điều gì ông hãy nhận biết nó đúng theo cách mà nó đang là, khi đang nghĩ đến bất cứ điều gì ông hãy suy nghĩ về điều đó đúng theo cách mà nó đang là”. Đây chính là phương pháp minh sát được biết đến dưới tên gọi ditthe ditthamattam- chỉ thấy đúng như nó đang là . Sáu giác quan sẽ nhận thức 6 đối tượng tương ứng của chúng. Ở đây, để có thể trình bày một cách vắn tắt, tôi chỉ đưa ra 4 ví dụ để bạn có thể hiểu được điều vừa nói. Khi một người nào đó đang nhìn thấy một đối tượng, anh ta thường không nhìn nó như là một đối tượng duy nhất. Anh ta cũng chưa biết cách điều khiển trạng thái nhìn của chính mình. Xa hơn nữa, tâm trí của người này đã bị dính mắc vào đối tượng mà anh ta tình cờ nhìn thấy khi hành động thấy đang xảy ra. Ví dụ, qua hình dáng và cách thức của đối tượng, tâm trí của người này sẽ cân nhắc xem thử đối tượng là có đáng ao ước hay không. Tùy theo bản chất của đối tượng, tâm trí của người đó có thể bị khổ sở hoặc cảm thấy hài lòng. Dĩ nhiên, người này sẽ được hài lòng khi đối tượng có thể mang lại cho anh ta cảm giác dễ chịu.Tuy nhiên, khi đối tượng tình cờ nhìn thấy bị cho là xấu xí, anh ta không những cảm thấy bị xáo trộn tâm lý mà còn sanh tâm chán ghét và sân hận. Thậm chí, khi người này đã thờ ơ với đối tượng nhưng hình ảnh của nó vẫn còn đọng lại trong bản ngã giả tạm của anh ta. Anh ta nghĩ rằng “ Tôi thấy nó” và  “cái

 tôi” ở đây đã xuất hiện trong anh ta như là một thực thể thường còn. Nếu người này chỉ nhìn đối tượng mà anh ta tình cờ nhìn thấy một cách khách quan như thể nó đang là, nhận biết rằng mình đang nhìn thấy nó, không suy xét về tính chất của nó, lúc đó anh ta mới có khả năng nhìn đối tượng một cách đơn thuần, nghĩa là chỉ nhìn mà không xử dụng ý thức để can dự vào trạng thái đang xảy ra của đối tượng quan sát. Tuy nhiên, khi bạn đang nhìn một vật gì đó và có khả năng điều khiển được trạng thái đang nhìn của mình để tâm trí không bị dính mắc vào đối tượng quan sát là một điều tương đối khó. Nếu chưa có khả năng nhìn các sự vật một cách đơn thuần thì bạn không thể nào nhận thức được chúng một cách đúng đắn. Lúc đó tâm trí của bạn sẽ nảy sinh hành động suy xét xem thử đối tượng được nhìn thấy có dễ chịu hay không. Nếu cảm thấy thích thú với đối tượng quan sát thì trạng thái yêu mến sẽ khởi lên trong tâm của bạn. Tuy nhiên, nếu bạn cảm thấy khó chịu với đối tượng đó thì trạng thái tâm chán ghét sẽ khởi lên. Thậm chí, khi bạn đã tỏ ra thờ ơ đối với một ai đó thì tính cách của người này vẫn được tích lũy trong tâm trí của bạn, cũng như bạn đã nghĩ rằng tính cách của anh ta là một cái gì đó thường còn bất biến. Bạn sẽ thấy khó khăn trong việc phá vỡ bản ngã tưởng tượng của chính mình, mặc dù vẫn biết quan niệm cho rằng vạn hữu đều có bản ngã là một sự nhận thức lầm lạc. Bằng cách thực hành thiền nội quán, bạn sẽ biết cách nhìn sự vật một cách khách quan như thể nó đang là, ngoài ra không thêm cái gì khác vào trong trạng thái nhìn của chính mình.  Những người thế tục không thực hành thiền nội quan sẽ không có khả năng điều khiển trạng thái đang nghe của chính họ ( nhằm mục đích để cho tâm trí không bị dính mắc vào một âm thanh hay tiếng động bất kỳ nào đó mà họ tình cờ nghe thấy). Tương tự, họ cũng không có khả năng điều khiển được trạng thái ngửi khi đang ngửi một mùi nào đó, trạng thái nếm khi đang nếm một vị nào đó, trạng thái xúc chạm khi đang xúc chạm với một pháp nào đó… Khó nhất là gặt hái được khả năng điều khiển được trạng thái đang suy nghĩ của chính mình khi bạn đang nghĩ đến một điều gì đó. Vì vậy, có lời khuyên rằng, bạn hãy chú ý một cách liên tục ngay trên đối tượng nào đó khi nó đang xảy đến. Trong giai đoạn đầu lúc mới khởi sự tập luyện, hầu như bạn chưa có khả năng chú ý đến tất cả những hiện tượng như :  Đang thấy, đang nghe, đang ngửi…Vì vậy, trong lúc đang thực hành thiền nội quán, bạn có thể chọn một loại hiện tượng nào đó có liên quan đến việc tập luyện của chính mình để thực hành. Ví dụ trạng thái đang thấy của chính bạn chẳng hạn… Trong những lời giáo huấn về thiền tứ niệm xứ- Catu Satipathāna Jhāna ( tức thiền minh sát), người ta dạy rằng bạn nên tập luyện sự chú ý đến trạng thái đi bộ của chính mình khi đang đi bộ. Phương pháp tập luyện này hướng dẫn cho bạn cách quan sát các đối tượng đang chuyển động trong trạng thái đang đi bộ. Ví dụ gió-Vāyo là một đối tượng cần phải quan sát khi đang đi bộ, bởi vì nó là một yếu tố có tính chuyển động. Khi đang đứng lên, bạn phải nhận biết được trạng thái đang đứng lên của chính mình. Khi đang ngồi xuống bạn cũng phải nhận biết được trạng thái đang ngồi xuống. Khi nhận biết được những xúc chạm nào đó đang xảy đến với thân thể của mình, bạn hãy chú ý đến chúng ! Đối với những người đang thực hành thiền tọa, chúng tôi đề xuất rằng họ nên chú ý quan sát trạng thái đang phồng lên và xẹp xuống của bụng. Khi thực hành phương pháp quan sát trạng thái đang phồng xẹp lên xuống của bụng, tâm trí của bạn có thể bị lang thang vô định. Những lúc tâm trí đang bị tản mác, bạn có thể suy nghĩ về điều này điều kia…Hãy chú ý đến những gì mà bạn đang suy nghĩ. Lúc đang thiền tập, có thể bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi, nóng bức, ngột ngạt hay đau nhức trong thân thể… Bạn cũng nên chú ý đến những cảm giác này. Khi đang thực hành thiền và cảm thấy mệt mỏi, có thể bạn sẽ thay đổi tư thế. Những lúc như vậy, bạn hãy chú ý đến mọi chuyển động đang xảy ra khi mình thay đổi tư thế để tìm sự thoải mái. Khi đang thiền tập, có thể bạn sẽ tình cờ nghe thấy một âm thanh hay tiếng động nào đó. Những lúc như thế, bạn hãy chú ý đến âm thanh hay tiếng động đó khi nó đang xảy đến. Nói một cách vắn tắt, bạn cần phải chú ý đến những cảm giác, những hoạt động thuộc về tinh thần và thể xác tình cờ xảy đến khi đang thực hành thiền. Lúc mới tập sự hành thiền, bạn chỉ nên tập trung sự chú ý đến trạng thái đang phồng xẹp lên xuống của bụng mà thôi, chưa cần chuyển sang những đề mục hành thiền khác. Khi năng lực định tâm đã phát triển, bạn sẽ nhận thấy rằng khi mình đang thấy, trạng thái thấy vừa mới khởi lên đã tan biến đi một cách rất nhanh chóng chỉ trong một khoảnh khắc sau đó. Tương tự, trạng thái nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và suy nghĩ cũng sẽ tan biến đi rất nhanh chóng khi vừa mới khởi lên.

Với khả năng chú ý ở mức độ cao, khi bạn vừa chú ý đến hành động nghe thì âm thanh được nghe thấy và trạng thái nhận thức về âm thanh đó liền biến mất ngay lập tức. Khi đang cảm thấy bị đau, nếu bạn chú ý trực tiếp lên cảm giác đau thì cảm giác này sẽ lập tức biến mất, cả nguyên nhân dẫn đến trạng thái đau đó cũng biến mất luôn. Khi đang tập trung đến trạng thái thấy của chính mình, bạn hãy niệm thầm trong tâm “ đang thấy, đang thấy”… Sau đó, trạng thái đang thấy , sự chú ý và sự nhận thức về cái thấy cũng sẽ tan biến đi. Tiếp đến, bạn sẽ nhận thức được rằng bất cứ một hiện tượng nào đã khởi lên thì chắc chắn nó cũng sẽ tan biến đi mà thôi. Do đó, trạng thái thấy là vô thường. Sự hiểu biết về bản chất phù du của vạn hữu gọi là Aniccānupassanā Ñāna. Bất cứ hiện tượng nào khởi lên rồi tan biến đi cũng đều là bất toại nguyện, do đó nó là khổ. Sự hiểu biết và nhận thức được chân lý có liên quan đến khổ đau gọi là Dukkhānypassanā Ñāna. Xa hơn nữa, khi bạn đã hiểu rằng bản chất của vạn hữu là luôn luôn xảy đến theo cách riêng của chúng. Đến lúc đó, Anattānupassanā Ñāna ( kiến thức nhận biết được bản chất hão huyền của vạn hữu) sẽ phát triển. Với những hạnh nguyện Ba-La-Mật  (Pārami), Bāhiya đã gặt hái được năng lực nội quán khi ông lắng nghe những lời dạy của Đức Phật.

Khi nhìn một đối tượng nào đó, ông chỉ chú ý một cách đơn thuần để có thể thấy đúng như nó đang là, ngoài ra không thêm cái gì khác. Khi quan sát một hiện tượng đang xảy đến, tâm trí Bāhiya không khởi lên một điều gì khác, ngoài sự vật mà ông đang thấy. Khi quan sát nó ông không nghĩ rằng “ tôi thấy” hay

 “ chính bản ngã của tôi đang thấy”. Khi tâm trí đã thoát khỏi trạng thái bám víu cố chấp, tự cao, vị kỷ và những quan kiến lầm lạc thì ý niệm về bản ngã sẽ bị xua tan. Đức Phật còn nói thêm với Bāhiya rằng : “ Tato tvam bāhiya nevidha na huram na ubbhaya-mantarena esevanto dukkhassa”. Câu này có nghĩa là : “ Bāhiya ! Khi tâm bám víu cố chấp đã vắng mặt thì đối với ông, ý niệm về thế giới này hay thế giới kia cũng không còn. Lúc đó ông sẽ nhận thấy rằng trạng thái hiện hữu trong luân hồi khổ đau là không có thật. Trong trạng thái tâm đó, ông sẽ đạt tới Niết-Bàn Tối Thượng”. Khi một người đã loại bỏ được tâm bám víu cố chấp, tự cao, vị kỷ và những quan kiến lầm lạc thì tất cả những thứ ô nhiễm trong tâm trí của người này sẽ chấm dứt. Nơi nào những thứ ô nhiễm đã vắng mặt thì dù là ở hiện tại hay tương lai, trạng thái hiện hữu tự nó sẽ tiến đến chỗ hoại diệt. Không còn trở thành nghĩa là chấm dứt trạng thái khổ đau trong Niết-Bàn-Vô-Dư (Anupādisesa Nibbāna ). Trong tập chú giải Phật Tự Thuyết- Udāna atthakathā, các nhà chú giải Kinh Điển có nêu thêm vấn đề là 6 nội xứ-Āyatana luôn luôn đi đôi với 6 đối tượng của chúng ( tức 6 ngoại xứ). Sáu nội xứ bao gồm : Mắt, tai, mũi, lưỡi, thâný – là nhóm ở bên trong thân thể.Sáu ngoại xứ-Ārammana bao gồm : Sắc, thanh, hương, vị, xúcpháp ( chữ pháp ở đây có nghĩa là tư tưởng) – là nhóm ở bên ngoài thân thể. Qua sự thực hành chú ý để phát triển kiến thức nội quán, khi một người đã tách khỏi những thứ ô nhiễm như : Tâm bám víu cố chấp, tâm phân biệt chủ thể ( cái nằm bên trong thân thể) và khách thể ( cái nằm bên ngoài thân thể) thì ý niệm về bản ngã  đã không còn tồn tại trong các nội xứ, các ngoại xứ và sự nhận thức. Trạng thái tiêu hủy chức năng của các giác quan là bản chất của Niết-Bàn. Vấn đề này sẽ được những hành giả thực hành thiền nội quán chấp nhận và cho là đúng thông qua tiến trình trải nghiệm thực tế. Trong thời gian đầu lúc mới khởi sự tập luyện thiền minh sát, tâm trí của bạn thường bị cong vẹo theo các ngoại xứtrạng thái chú ý để nhận thức về tiến trình sanh diệt của danh sắc. Lúc đó, bạn sẽ nhận thấy rằng, 5 uẩn luôn luôn khởi lên và biến mất đi trong từng khoảnh khắc. Khi kiến thức nội quán đã trở nên chín muồi, tâm trí của bạn sẽ trở nên trôi chảy và thông suốt. Với sự chấm dứt của các hiện tượng như : Trạng thái đang thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và nhận thức, lúc đó có thể nói rằng bạn đã đối diện với Niết-Bàn.

 

                                  Bāhiya trở thành một A-La-Hán   

 

Khi đang lắng nghe những lời dạy của Đức Phật, Bāhiya đã trở thành một A-La-Hán. Khi Đức Phật đang trên đường trở về để dùng bữa trưa, Bāhiya đã thay đổi y phục khác. Ông quấn lên người tấm y mà những Tỳ-kheo vẫn thường mặc với ý định muốn được thọ Giới với Đức Phật. Tuy nhiên thật không may, một con bò cái đang nuôi con đã bất ngờ tấn công Bāhiya, ông đã ngã lăn ra và chết ngay tại chỗ. Khi Đức Phật về đến tu viện Kỳ-Viên, Ngài tìm thấy xác của Bāhiya, lúc bấy giờ ông đã là một A-La-Hán. Do đó, Đức Phật đã cho người làm lễ hỏa táng Bāhiya theo nghi thức của một vị A-La-Hán và nói với những đệ tử của Ngài hãy xây dựng một ngôi Bảo-tháp để tưởng nhớ ông. Lúc bấy giờ, những vị Tỳ-kheo đang sống tại tu viện Kỳ-Viên hỏi Đức Phật rằng Bāhiya đã tái sanh ở đâu. Đức Phật đã trả lời : “ Trước khi qua đời, Bāhiya đã trở thành một A-La-Hán”. Vì vậy, ông đã nhập vào Đại-Niết-Bàn sau khi đã tụng hết bài Kệ nói về Niết-Bàn, nơi 4 yếu tố nền tảng đã không còn hiện hữu. Những nhà chú giải Kinh Điển nói rằng Bāhiya đã qua đời do bị một con bò cái húc phải. Trong tiền kiếp, con bò cái đó là một phụ nữ, Bàhiya đã cướp và hãm hiếp người phụ nữ này. Khi qua đời, người phụ nữ này đã mang tâm hận thù Bāhiya. Sau đó, trong nhiều kiếp bà đã tái sanh làm loài quỷ cái ăn thịt người, Bāhiya đã từng tái sanh làm một người đàn ông và bị con quỷ cái này giết chết. Như vậy, Bāhiya đã nhiều lần chết dưới tay con quỷ cái ăn thịt người. Những hành động bất thiện của Bāhiya đã theo ông như cái bóng và khiến cho ông phải chịu không biết bao nhiêu là đau khổ trong những cảnh giới thấp kém. Tất cả những nổi khổ đau đó chính là kết quả của nghiệp bất thiện mà Bāhiya đã từng thực hiện. Sau khi gặp Đức Phật, ông vẫn chưa gặt hái được quả vị A-La-Hán. Vì vậy, ông vẫn tiếp tục chịu khổ đau vì những hành động bẩn thỉu mà mình đã làm. Đến bây giờ, mặc dù nguyên nhân dẫn đến cái chết của Bāhiya đã được cho là do bị một con bò cái húc. Tuy nhiên ông đã đạt tới Niết-Bàn, một cảnh giới không còn sự xuất hiện của 5 uẩn. Điều đó có nghĩa là đối với ông, tất cả những nổi khổ đau đã thật sự chấm dứt. Vì vậy, Đức Phật đã xem cái chết của Bāhiya như là một sự thắng lợi. Sự thật, Đức Phật đã vinh danh cái chết của ông giữa các đệ tử có nhiều phép thần thông của Ngài như là một hành động ưu việt nhất.

 

                                         Mắt và nhãn thức giới

 

Trong Tương Ưng Bộ Kinh- Samyutta Nikāya , phẩm Lục căn- Salāyatana có nói rằng : “ Tasmātiha bhikkhave se āyatane veditabbe, Yattha cakkhu ca nirujjhati, rupasannā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe”. Đoạn Kinh này có nghĩa là : “ Hỡi các Tỳ-kheo ! Các ông nên vun trồng sự hiểu biết về khuynh hướng của những giác quan trong Niết-Bàn, nơi mà chức năng của nhãn xứ ( tức thị giác), nhãn thức (sự nhận thức của mắt, nơi tiến trình tinh thần dựa vào đó mà phát sanh)và các đối tượng của thị giác sẽ đồng thời chấm dứt. Trạng thái chấm dứt căn nguyên của thị giác chính là Niết-Bàn”. Vì vậy, Đức Phật đã nhắc đến trạng thái chấm dứt chức năng của nhãn xứcác đối tượng có hình dáng. Đây chính là cách để nhận thức Niết-Bàn thông qua việc thực hành thiền ngay trên trạng thái đang thấy. Trong quá trình thiền tập, khi hành giả quan sát toàn bộ trạng thái đang phồng lên và xẹp xuống của bụng, trạng thái chuyển động của thân thể khi đang ngồi xuống hay đứng lên, tiến trình của trạng thái đang thấy, đang nghe…Anh ta sẽ nhận thức được trạng thái tan hoại trong những tiến trình này. Vì vậy, kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu – Bhanga Ñāna đã phát triển trong tâm thức của hành giả. Từ quan điểm về chủ thể đang thấy, hành giả sẽ rút ra được một điều rằng,không có bất cứ một cái gì có thể gọi là “ tôi”. Từ quan điểm về khách thể

( ở đây là cái bị thấy), hành giả cũng nhận thức được rằng không hề có bất cứ cái gì có thể gọi nó là một vật hay một cá thể”. Từ đó, hành giả không thể tìm thấy bất cứ một cái gì xứng đáng để bám víu. Khi sự thật này được hình thành thông qua thiền, hành giả sẽ gặt hái được kiến thức về trạng thái tâm thanh thản – Sankhārupekkha Ñāna ( một trạng thái nhận thức đúng đắn về sự cấu thành của thân và tâm). Cuối cùng, hành giả sẽ nhận thức được trạng thái chấm dứt của 5 uẩn. Khi đã đạt tới trạng thái nội quán này, bạn sẽ nhận thấy rằng tất cả những thứ vật chất thuộc về thân xác đã hoàn toàn biến mất. Đó là lý do tại sao có câu nói “ Cakkhu canirujjhati”, câu này có nghĩa làchức năng thấy đã chấm dứt”. Khi tiếp tục thực hành thiền, bạn sẽ nhận thấy rằng hình dáng, tâm trí và sự nhận thức – những thứ có liên quan với trạng thái thấy của chính bạn điều là vô giá trị. Đoạn Kinh trích dẫn câu “ Rūpasannā ca nirujjhati” có nghĩa là sự nhận thức thuộc về thị giác đã không còn khởi lên. Tất cả những trạng thái chấm dứt này đã chứng tỏ rằng chức năng của nhãn xứ và các đối tượng của nó đã hoàn toàn biến mất. Khi chức năng của nhãn xứ và các đối tượng của nó đã hoàn toàn chấm dứt, có thể nói rằng hành giả đã nhận thức được Niết-Bàn.

 

                                        

                                         Tai và nhĩ thức giới    

 

Yattha sotanca nirujjhati, saddasannā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe.

Trong Niết-Bàn chức năng của nhĩ xứ đã chấm dứt và vì vậy nhĩ thức cũng hoàn toàn chấm dứt.  Kinh chú giải nói rằng trạng thái chấm dứt chức năng của nhĩ xứnhững đối tượng của nó chính là Niết-Bàn. Khi kiến thức về trạng thái tâm thanh thản- Sankhārupekkha Ñāna đã phát triển, nếu tình cờ nghe thấy một âm thanh hay tiếng động nào đó, bạn hãy chú ý đến nó ngay khi nó đang xảy đến. Nhờ đó, bạn sẽ nhận thấy trạng thái tan hoại của thức uẩn, vật chấtsự cấu thành tinh thần ( tức hành – Sankhāra). Trong trạng thái nội quán này, bạn sẽ nhận thấy rằng toàn bộ thân thể vật chất của chính mình và chức năng của nhĩ xứ sẽ đồng thời biến mất trong sự nhận thức. Như vậy có nghĩa là bạn đã không hề nghe thấy đối tượng của nhĩ xứ ( tức âm thanh hay tiếng động). Do đó, bạn cũng không hề nhận thức nó.   

 

                                           Mũi và tỷ thức giới        

 

Yattha ghànanca nirujjhati, gandhasannà ca nirujjhati, se āyatane veditabbe. Trong Niết-Bàn chức năng của tỷ xứ đã chấm dứt và vì vậy tỷ thức  (tức sự nhận thức của mũi)cũng hoàn toàn chấm dứt. Kinh chú giải nói rằng trạng thái chấm dứt chức năng của tỷ xứ và các đối tượng của nó giới chính là Niết-Bàn. Khi kiến thức về trạng thái tâm thanh thản đã phát triển, nếu thực hành nội quán ngay trên một mùi nào đó, bạn sẽ nhận thức được trạng thái chấm dứt của nhĩ thức, vật chất và sự cấu thành tinh thần. Lúc đó, toàn bộ tiến trình nhận thức của khứu giác ( tức nhĩ thức) đã chấm dứt một cách đồng thời khi bạn chú ý đến nó.  

 

                                           Lưỡi và thiệt thức giới

 

Yattha javhā ca nirujjhati, rasasannā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe. Trong Niết-Bàn chức năng của thiệt xứ đã chấm dứt và vì vậy thiệt thức cũng hoàn toàn chấm dứt. Kinh chú giải nói rằng trạng thái chấm dứt của thiệt thứccác đối tượng của nó chính là Niết-Bàn. Khi kiến thức về trạng thái tâm thanh thản đã phát triển, lúc đang ăn, nếu chú ý đến vị của thức ăn, bạn sẽ nhận biết được tiến trình chấm dứt của thiệt thức giới, vật chất và sự cấu thành tinh thần. Các nhà chú giả đã đề cập đến trường hợp có nhiều vị Tỳ-kheo đã gặt hái được quả vị A-La-Hán khi họ đang thực hành nội quán trên vị của món cháo gạo. Khi chú ý đến vị này, họ đã nhận thức được trạng thái chấm dứt của thiệt thức, vật chất và sự cấu thành tinh thần.

 

                                     Thân thể và thân thức giới

 

Yattha kāyo ca nirujjhati, photthabbasannā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe. Trong Niết-Bàn, chức năng của thân xứ đã chấm dứt và vì vậy thân thức cũng sẽ hoàn toàn chấm dứt. Kinh chú giải nói rằng trạng thái chấm dứt chức năng của thân xứ và các đối tượng của nó chính là Niết-Bàn. Đối với một hành giả đang thực hành nội quán, thân thể là đối tượng cần phải quan sát. Trong thực tế, đề mục hành thiền này đã được các hành giả xử dụng nhiều nhất. Khi kiến thức về trạng thái tâm thanh thản đã phát triển, nếu chú ý đến cảm giác xúc chạm của thân thể ( tức xúc giác), bạn sẽ nhận thấy rằng tiến trình nhận thức về cảm giác xúc chạm ( tức thân thức), vật chất, sự cấu thành tinh thần và sự chú ý đã tan hoại một cách đồng thời.

 

                                            Tâm và ý thức giới

 

Yattha mano ca nirujjhati, dhammāsannā ca nirujjhati, se āyatane veditabbe. Trong Niết-Bàn, ý thức và tư tưởng đã chấm dứt một cách đồng thời. Kinh chú giải nói rằng trạng thái chấm dứt của ý thứctư tưởng chính là Niết-Bàn. Đây là sự khám phá Niết-Bàn thông qua tiến trình nhận thức của tâm. Đối với những người thực hành thiền nội quán, có lẽ sự khám phá này là thường xuyên nhất. Khi kiến thức về trạng thái tâm thanh thản đã phát triển, nếu chú ý đến tiến trình đang khởi lên và tan biến đi của một hiện tượng nào đó, hành giả sẽ nhận thấy rằng các đối tượng nhận thức của tâm ( ở đây là những trạng thái tư tưởng về một cái gì đó) đã trở nên hư ảo và không còn nhận biết được nữa, thậm chí chúng đã biến mất hoàn toàn. Đến đây, hành giả sẽ nghĩ rằng toàn bộ thân thể của anh ta đã tan biến đi, chỉ còn sót lại trạng thái nhận thức mà thôi. Khi liên tục chú ý đến tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng, hành giả sẽ nhận thấy rằng tiến trình này sẽ biến mất đi. Lúc đó, hành giả chỉ còn nhận biết được trạng thái nhận thức của chính anh ta mà thôi. Khi tiếp tục tập trung chú ý, hành giả sẽ thấy rằng sự nhận thức của tâm trí, vật chất và sự cấu thành tinh thần đã hoàn toàn chấm dứt. Sự nhận thức được toàn bộ trạng thái chấm dứt này chính là Niết-Bàn.

 

                 Sự chấm dứt chức năng của các xứ chính là Niết-Bàn

 

Nói tóm lại, sự chấm dứt chức năng của các xứ chính là Niết-Bàn. Những lời chú giải về Kinh Pañcattaya đã nói rằng trạng thái vắng mặt chức năng của giác quan và những đối tượng của chúng chính là Niết-Bàn. Tôn giả A-Nan-Đà đã xác nhận điều này và nói rằng theo lời dạy của Đức Phật, Niết-Bàn nghĩa là trạng thái chấm dứt chức năng của 6 nội xứ ( nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ và ý xứ) và 6 ngoại xứ  ( sắc pháp, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ và pháp xứ. Chữ pháp xứ ở đây có nghĩa là tư tưởng hay là đối tượng nhận thức của tâm ý-ND ). Dĩ nhiên, trạng thái chấm dứt ở đây có nghĩa là chấm dứt các hoạt độngcủa 6 nội xứ6 ngoại xứ. Tùy thuộc vào hoạt động của 6 nội xứ mà quan niệm về bản ngã sẽ khởi lên. Khi quan niệm này còn tồn tại, chúng ta sẽ nói rằng : “ Đây là một cá nhân, đây là một người đàn ông, đây là một người đàn bà” … Khi những ý tưởng về tự ngã đã bị xua tan, bình yên sẽ được thiết lập với trạng thái chấm dứt của khổ đau, tuổi già và cái chết. Sự chấm dứt chức năng của 6 ngoại xứ chỉ là thứ yếu, bởi vì khái niệm về chúng phụ thuộc vào trạng thái hoạt động của các giác quan ( tức nội xứ). Khi sự hoạt động của 6 nội xứ đã chấm dứt thì dĩ nhiên chức năng của 6 ngoại xứ cũng sẽ chấm dứt theo.

Vì vậy, trạng thái chấm dứt chức năng của6 nội xứhay 6 nội giới chính là Niết-Bàn. ( Chữ giới ở đây không có nghĩa là Giới luật - Sīla. Nó có nghĩa là nguyên tố - Dhātu hay cảnh giới, nơi tiến trình của tinh thần dựa vào đó mà phát sanh-ND).      

 

                                    Tập trung tâm trí trên Niết-Bàn

 

Tác phẩm Mi-Tiên Vấn Đạo- Milanda Panhā có đoạn nói đến sự chú ý trực tiếp trên Niết-Bàn như sau : “ Tassa tam citta aparāparam manasikaroto pavattam smatikkhamivā appavattam okkamati, appavattamanuppatto mahārāja sammāpattipanno nibbaxnaam sacchikarotiti vuccati”.

 Khi hành giả chú ý một cách liên tục đến đối tượng nhận thức của tâm trí thì sự chú ý của anh ta sẽ đi xuyên qua dòng suối hiện hữu để vươn tới trạng thái không hiện hữu. Với phương pháp thực hành đúng đắn, hành giả sẽ tiến vào trạng thái vô vi. Như vậy có thể nói rằng anh ta đã đối diện với Niết-Bàn.

Khi quan sát tiến trình đang khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng, hành giả sẽ nhận thức được trạng thái tan hoại của chúng. Đến lúc đó, những cảm giác chán ghét sẽ tấn công tâm trí của hành giả và anh ta bắt đầu khởi tâm ao ước muốn buông bỏ chúng đi. Tinh thần và vật chất liên tục khởi lên rồi tan biến đi như một dòng suối bất tận. Khi chú ý đến trạng thái trôi chảy bất tận của tinh thần và thể xác, hành giả sẽ nhận thấy rằng trạng thái này đang diễn ra một cách tự động. Ngoài ra, anh ta không còn nhận thức được một điều gì khác. Tiếp đến, hành giả sẽ khởi tâm thờ ơ lãnh đạm với trạng thái đang trôi chảy bất tận của tinh thần và vật chất, bởi vì ở trình độ thực hành thiền này, hành giả đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tâm thanh thản. Khi tiếp tục tập trung tâm ý trên một đối tượng nào đó, hành giả sẽ khám phá ra rằng, tâm trí và đối tượng nhận thức của nó đang đồng thời tiến đến trạng thái chấm dứt. Đây chính là sự chuyển đổi từ trạng thái hiện hữu sang trạng thái không hiện hữu. Lúc đó, tâm trí của hành giả sẽ chuyển sang một trạng thái không có vị trí xác định. Nó không còn ở đâu nữa cả. Nói cách khác, hành giả đã đạt tới Niết-Bàn. Cái gì còn xuất hiện chính là Hành- Sankhāra, cái gì không còn xuất hiện nữa chính là Niết Bàn – Nibbāna.

 

                                Phương pháp thực hành đúng đắn

 

 Trưởng Lão Na-Tiên ( Nāgasena Thera) đã từng giải thích cho đức vua Mi-Tiên ( Milinda) hiểu về phương pháp thực hành đúng đắn để đạt tới Niết-Bàn. Một người mong muốn đạt tới Niết-Bàn cần phải nổ lực để gặt hái được giới thanh tịnh- Sīla visuddhi và đây cũng là điều trước tiên mà người đó phải thực hiện cho bằng được. Một người thế tục tối thiểu cũng phải giữ gìn 5 Giới Luật và có tư cách đạo đức đứng đắn- Ajjvatthamaka Sīla. Điều này có liên quan đến việc thực hành Chánh ngữ, Chánh nghiệpChánh mạng. Chánh ngữ có thể phát triển thông qua việc kiêng cữ nói lời vu khống, lời lỗ mãng đe dọa và lời nhảm nhí vô nghĩa. Chánh nghiệp được thiết lập thông qua việc kiêng cữ sát sanh, trộm cắp và tà dâm. Chánh mạng có nghĩa là lối sống đúng đắn thông qua phương kế sinh nhai thích hợp với pháp luật và đạo đức. Để gặt hái được một tâm trí tinh khiết – Citta Visuddhi, người ta phải luyện tập năng lực chú ý hay thiền định. Khi năng lực chú ý đã phát triển một cách hoàn hảo, hành giả có thể tuần tự thực hành sơ thiền, nhị thiền, tam thiềntứ thiền. Khi đã gặt hái được các trạng thái thiền định, những chướng ngại tinh thần – Nivarana  (Hindrance) sẽ bị loại bỏ. Những chướng ngại tinh thần có thể kể như : Tâm khao khát được thỏa mãn các đòi hỏi của giác quan, tâm ganh ghét, hôn trầm thụy miên ( trạng thái tâm lười biếng và uể oải), trạo cử bất an, chán chường và hoài nghi. Sau khi đã nhận thức được các trạng thái thiền định, hành giả phải thực hành thiền nội quán (tức thiền minh sát). Tuy nhiên, nếu không có ước muốn gặt hái các tâm thiền – Jhāna Citta, hành giả có thể nổ lực để đạt tới trạng thái cận định – Upācāra samādhi. Thậm chí, nếu chưa có khả năng thực hành thiền để đạt tới trạng thái cận định, hành giả nên bắt đầu bằng các bài tập định tâm trên 4 nền tảng cấu thành chúng sanh, còn gọi là Tứ đại ( đất, nước, gió, lửa). Hành giả cũng có thể thực hành sự chú ý trên 18 giới hay 12 xứ ( gồm có 6 nội xứ6 ngoại xứ), 5 uẩn ( sắc, thọ, tưởng, hành, thức) hay tối thiểu cũng phải phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất –Nàmarùpa. Mười tám giới tức 18 nguyên tố hay 18 nơi mà tiến trình tinh thần dựa vào đó để phát sanh, bao gồm nhãn giới ( tức con mắt có khả năng nhận thức), nhĩ giới, tỷ giới, thiệt giới, thân giới, ý giới, sắc giới ( sắc giới còn gọi là sắc pháp, tức những sự vật hữu hình làm đối tượng nhận thức của mắt), thanh giới ( tức âm thanh, đối tượng nhận thức của tai),vị giới, xúc giới, pháp giới ( tức tư tưởng, đối tượng nhận thức của tâm ý hay ý giới), nhãn thức giới ( tức sự nhận thức của mắt), nhĩ thức giới ( tức sự nhận thức của tai), tỷ thức giới ( tức sự nhận thức của mũi), thiệt thức giới ( tức sự nhận thấy của lưỡi), thân thức giới  (tức sự nhận thức của thân thể) và ý thức giới ( tức sự nhận thức của tâm ý). Sáu nội xứ gồm có nhãn xứ ( tức con mắt có khả năng nhận thức), nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứý xứ. Sáu ngoại xứ gồm có sắc xứ ( thường gọi là sắc pháp), thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứpháp xứ ( tức tư tưởng, đối tượng nhận thức của tâm ý hay ý xứ). Theo Kinh Đại Niệm Xứ - Mahā Satipatthāna Sutta, hành giả cần phải tập trung tâm ý trên tứ đại, cảm giác và tâm trí…Văn bản trong Kinh nói rằng : “ Khi đang đi quí vị phải biết mình đang đi”. Theo cách này, khi đang đứng, bạn cũng phải chú ý để biết mình đang đứng. Khi đang ngồi, bạn phải chú ý để biết mình đang ngồi. Nhờ đó, tâm trí của bạn sẽ không bị lang thang vô định mà trở nên hăng hái khi chú ý đến các đối tượng quan sát. Chúng ta nên biết rằng, khi những chướng ngại tinh thần đã bị loại bỏ thì tâm trí sẽ trở nên tinh khiết. Trạng thái tinh khiết của tâm trí này được gọi là Vipassanā khanika samādhi – một loại chú ý được thiết lập trong từng khoảnh khắc, tức trạng thái có thể dẫn đến cận định- Upācāra samādhi. Nói tóm lại, trạng thái tinh khiết của tâm trí có nghĩa là trạng thái tâm không bị cản trở bởi tư cách đạo đức thấp kém và những thứ ô nhiễm khác. Một hành giả gặt hái được trạng thái tâm trí tinh khiết sẽ có khả năng chú ý đến tiến trình đang khởi lên và tan biến đi của danh sắc- Nāmarupa để nhận biết rằng, chúng có liên quan đến vô thường ( Anicca), khổ ( Dukkha) và vô ngã ( Anatta). Hành giả sẽ luôn luôn suy niệm rằng : “ Vật chất là không thường còn, cảm giác cũng không thường còn”… Tiếp đến, hành giả sẽ khởi tâm chán ghét đối với tinh thần và vật chất. Khi đã mang tâm thành thật muốn từ bỏ tinh thần, thể xác và những trạng thái cấu thành tinh thần, hành giả sẽ không còn bám víu vào chúng nữa. Khi đã quá mệt mỏi đối với cuộc sống, anh ta sẽ khởi tâm chán ghét nó, từ bỏ những tham muốn và cuối cùng đạt tới trạng thái giải thoát. Đến lúc này, Đạo đã trở thành Quả. Phương pháp suy xét và nhận thức đúng đắn

( tức Vô Ngại Giải Đạo)– Patisambhidā Magga đề cập đến nhiều trạng thái nội quán mà những người thực hành thiền sẽ nhận thức được chúng một cách dần dần. Tuy nhiên, những người thực hành thiền một cách miễn cưỡng, thiếu ý chí sẽ không bao giờ gặt hái được một sự lợi ích nào cả. Thậm chí, họ còn khuyến khích những người khác đừng bao giờ thực hành thiền. Họ sẽ nói rằng : “ Bây giờ chúng tôi đã biết rằng bản chất bất toại nguyện của nghiệp, thực hành thiền là một điều không cần thiết. Nếu tập trung tâm ý trên trạng thái khổ đau, bạn sẽ phải đương đầu với nó. Nếu để cho tâm trí được tự do thì nó sẽ tự làm tất cả. Bạn không cần phải chú ý đến nó cho nhọc công”. Một lời khuyên như vậy là trái ngược với học thuyết mà Đức Phật đã chỉ dạy. Vậy thật ra những nhà cố vấn lầm lạc này đã biết được những gì ? Sự thật, họ đã biết rằng các pháp hữu vi chính là khổ đau. Tuy nhiên, đó chỉ là một sự hiểu biết suông trên bề mặt của các pháp này. Họ không thể khám phá sâu hơn về phía thực tại tuyệt đối.

Nếu thật sự đã nhận thức được khổ là gì, họ sẽ nảy sinh tâm nhàm chán đối với nó. Từ đó, chắc chắn họ sẽ cố gắng thoát khỏi nó. Họ xác định rằng mình đã có sự hiểu biết về khổ. Tuy nhiên trong thực tế, họ chưa biết được rằng, chính tinh thần và thể xác là một nhà máy liên tục sản xuất ra sự khổ một cách bất tận. Trạng thái tâm nhàm chán đối với cuộc sống thế tục đã không thể phát triển trong tâm thức của họ. Vì vậy trong thực tế, họ không cảm thấy nhàm chán đối với những pháp hữu vi. Do đó, họ cũng không có ao ước muốn từ bỏ chúng.

Sự thật, họ muốn ôm lấy các pháp hữu vi và chấp nhận chúng như là những gì đáng mong muốn.

 

                                           Cảm giác nhàm chán       

 

Sự hiểu biết rằng những thứ độc hại và xấu xa là đáng ghét được gọi là Nibbidā Ñāna. Cảm giác chán ghét này đã được mô tả trong các Kinh chú giải. Nó tương tự như một ngư phủ với bàn tay mở rộng đưa vào trong lưới để bắt cá. Khi người ngư phủ nghĩ rằng mình đã bắt được một con cá, anh ta sẽ đưa tay vào lưới để mang nó ra ngoài. Tuy nhiên sau đó, anh ta khám phá ra rằng mình đã bắt được một con rắn có 3 khoanh tròn trên cổ. Nhận thức rõ hành động sai lầm của mình, anh ta tự cảm thấy chán ghét và kinh tởm đối với loài bò sát độc hại này. Lúc đó, người ngư phủ sẽ cầm lấy con rắn và quay tròn trên đầu mình 3 lần, cuối cùng anh ta sẽ dùng hết sức để ném nó ra thật xa. Những người chấp thủ 5 uẩn như là những gì đáng mơ ước rất giống với người ngư phủ bắt rắn bằng tay không nói trên. Trước khi biết được mình đã bắt được cái gì, anh ta đã vui mừng khôn xiết. Tuy nhiên, khi đã khám phá ra thứ bắt được là một con rắn độc có 3 khoanh tròn trên cổ thì anh ta đã quá khiếp đảm. Khi một hành giả chú ý đến tiến trình đang khởi lên và tan biến đi của 5 uẩn, anh ta sẽ nhớ về 3 cái khoanh tròn là vô thường, khổvô ngã. Khi đặt chúng vào trong trạng thái quan sát, hành giả sẽ tiến đến chỗ nhận thức được rằng tất cả những pháp hữu vi là nhàm chán và đáng ghét. Không có một người thế tục bình thường nào ( ở đây có ý nói đến những người không có thực hành Giáo pháp – ND) có khả năng quan tâm đến thân thể 5 uẩn của riêng họ và xem nó như là một con rắn độc. Khi chưa có sự hiểu biết đầy đủ về thân thể 5 uẩn như là một vật cấu thành đáng ghê tởm, bạn vẫn chưa có khả năng khởi tâm nhàm chán đối với thân thể của chính mình.

Vì vậy, bạn chỉ mới có khái niệm trừu tượng rất mù mờ về sự khổ đau của con người trong thực tế. Chỉ khi đã gặt hái được kinh nghiệm nội quán về bản chất thật sự của thân và tâm, đến lúc đó bạn mới cảm thấy nhàm chán chúng và cho rằng trạng thái bám víu vào thân tâm của chính mình hay của người khác đúng là một việc làm vô ích. Cuối cùng, bạn sẽ phát khởi tâm thờ ơ lãnh đạm đối với tiến trình đang khởi lên và tan biến đi của 5 uẩn. Nhờ đó, bạn sẽ gặt hái được kiến thức về trạng thái tâm thanh thản – Sankhārūpekkha Ñāna. Đến lúc đó, bạn đã có khả năng xem xét tất cả các pháp hữu vi với một tâm trí thanh thản và thoải mái. Trong giai đoạn đầu lúc mới khởi sự thực hành thiền, hành giả phải có một sự nổ lực đặc biệt để có thể gặt hái được trạng thái nội quán này. Tuy nhiên, với sự thực hành liên tục, trạng thái tâm thanh thản sẽ khởi lên một cách tự nhiên, ngay khi hành giả đang quán niệm về tiến trình đang khởi lên và tan biến đi của pháp hữu vi. Khi đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tâm thanh thản, bạn sẽ cảm thấy rằng ngay lập tức, mình đã hiểu rõ bản chất của các hiện tượng và không bị ảnh hưởng bởi tính giả tạo của chúng. Tâm trí của bạn sẽ phát khởi ý muốn buông bỏ khi nó đang trú trên những đối tượng dễ chịu. Bạn cũng sẽ không cảm thấy bối rối hay lúng túng trước những đối tượng khó chịu. Đến lúc này, bạn đã phát triển được “chủ nghĩa khắc kỷ”, biết chấp nhận nghịch cảnh với cung cách của những vị A-La-Hán. Trong trạng thái phát triển của tinh thần, đôi khi tâm trí cũng muốn đi lang thang và bám vào một đối tượng nào đó. Tuy nhiên, bạn sẽ trải nghiệm được rằng tâm trí của chính mình luôn luôn từ chối bất kỳ đối tượng nào mà nó đang trú ngụ trên đó.Với phương pháp thực hành thiền nội quán đúng đắn này, từ kiến thức về trạng thái tâm thanh thản- Sankhāra, bạn sẽ tiến đến chỗ gặt hái được kiến thức về sự thích nghi – Anuloma Nàna ( có nơi dịch là kiến thức thuận thứ- ND). Kiến thức về sự thích nghi là trạng thái tâm thức chuẩn bị để nhận thức về Bốn Chân Lý Cao Thượng. Bình yên sẽ được thiết lập khi bạn đã loại bỏ được trạng thái hiện hữu để tiến đến trạng thái tâm thức vô vi. Niết-Bàn không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Người ta có thể nhìn thấy nó trong tâm một cách thầm kín, khi tất cả những hiện tượng đã hoàn toàn chấm dứt. Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp này với ý định tôn kính, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành thiền theo một phương pháp đúng đắn nhằm mục đích chấm dứt những nguyên nhân gây ra khổ đau như 6 nội xứ, 6 ngoại xứý thức… được giải phóng khỏi xiềng xích của 12 xứ, đạt tới trạng thái giải thoát cùng tột –  nơi tinh thần và vật chất đã chấm dứt sự trôi chảy liên tục và bất tận của chúng ! Lành thay !   

 

                                   Về bản chất của Niết Bàn   

                                                               Phần IV

Bài thuyết Pháp vào ngày trăng khuyết thứ 15 tháng Tawthalin năm 1326 theo lịch Miến Điện, tức nhằm ngày mồng 6 tháng 10 năm 1964.

Niết-Bàn là trạng thái chấm dứt của dục vọng và ganh ghét. Nó hoàn toàn tương phản với những thứ ô nhiễm. Thuật ngữ sankhāra – nirodho có nghĩa là chấm dứt sự cấu thành nghiệp. Đây chính là sự ám chỉ đến Niết-Bàn. Do đó, Niết-Bàn là đối lập với hành-Sankhāra. Giải thích về Niết-Bàn cũng có nghĩa là giải thích về những thứ ô nhiễm- Kilesāhành-sankhāra. Tối nay, tôi sẽ cố gắng gửi đến quí vị sự giải thích này.

 

                                       Chú ý một cách nghiêm túc   

 

Một thời khi Đức Phật đang trú tại tu viện Kỳ-Viên ở thành Xá-vệ ( Sāvatthī). Vào buổi chiều tối, Ngài đã truyền bá về Niết-Bàn cho các đệ tử trong căn phòng nằm trước buồng ngủ đầy hoa của Ngài. Về sự kiện này, Kinh điển Phật Giáo có nói lại như sau : “Khi đang lắng nghe thuyết Pháp, với lòng chân thật mong muốn trở thành bậc có trí tuệ, khả năng hội tụ sự chú ý và định tâm trên một đối tượng, những Tỳ-kheo đã dùng vật nhọn đâm thủng lỗ tai của họ”. Bây giờ, tôi sẽ cố gắng thúc giục và động viên quí vị thông qua bài Pháp nói về cách mà những Tỳ-kheo thể hiện sự chú ý nghiêm túc của họ đối với những lời dạy của Đức Phật, cũng như sự dồn hết tâm trí cho Giáo pháp.

Có một thời, khi Đức Phật đang truyền Pháp, một con quỷ cái có trí tuệ đang đi lang thang gần tu viện nơi Ngài đang trú cùng với hai đứa con để tìm kiếm thức ăn. Mặc dù loài quỷ cái – Yakkas được xếp hạng như là những vị thần.

Tuy nhiên, địa vị của chúng rất thấp. Chúng không có chỗ ở thích đáng.

Chúng không bao giờ thỏa mãn với áo quần và thức ăn đã kiếm được. Punabbasumàtà là tên của con quỷ cái, con gái của nó tên là Uttarà và con trai của nó tên là Punabbasu. Khi con quỷ đến gần cổng chính dẫn lên tu viện, khung cảnh xung quanh đều vắng tanh như nơi không có người ở. Nó nghĩ rằng đây là nơi có thể khất thực và đi vào trong tu viện với hy vọng sẽ kiếm được cái gì đó để ăn. Khi đã vào sát bàn thờ của tu viện, nó kiếm cho mình một chỗ ngồi ngay giữa Giáo đoàn Tỳ-kheo và những người thế tục đang lắng nghe bài Pháp của Đức Phật. Khi Đức Phật đang truyền Pháp với một giọng nói dịu dàng, con quỷ lắng nghe Ngài rất chăm chú và say mê. Bổng nhiên, hai đứa con của nó bị đói bụng. Chúng đã cắt ngang không khí trang nghiêm và yên tĩnh của buổi thuyết Pháp, chúng không còn khả năng giữ im lặng được nữa và gào lên : “ Mẹ ơi ! Cho chúng con thức ăn ! Chúng con đói quá !”. Lúc đó, Punabbasumātā lên tiếng khẩn nài : “ Các con thân yêu của mẹ ! Hãy giữ im lặng khi Bậc Thầy Vĩ Đại của loài người và Chư-thiên đang thuyết Pháp. Ngài đang thảo luận về Niết-Bàn, cái có thể cắt đứt chuỗi khổ đau. Tình yêu và sự thành tâm đã lớn mạnh trong mẹ đến mức cực kỳ !”. Niết-Bàn là sự chấm dứt khổ đau. Do đó, khi bị khổ đau dày vò với sự nghèo khổ cùng cực và buồn lo, người ta thường ao ước về Niết-Bàn. Điều đó là tự nhiên, không có gì phải bàn cãi. Khi một người đang sống trong trạng thái sức khỏe tốt đẹp, anh ta không hề quan tâm đến thuốc men. Khi đang có sức khỏe tốt, anh ta không nghĩ rằng đó là một điều quan trọng.

Tuy nhiên, khi đã trở nên già yếu và bệnh hoạn, người này mới nghĩ đến những lợi ích của sức khỏe trong sự tiếc nuối. Khi muốn điều trị một căn bệnh nào đó, lúc bấy giờ anh ta mới chịu nghe lời chỉ dẫn của những người hảo tâm về phương thuốc cần có cho căn bệnh mà anh ta đang mắc phải. Tương tự như vậy, Punabbasumātā đã lắng nghe bài Pháp nói về Niết-Bàn của Đức Phật một cách say mê, mặc dù trong những khoảnh khắc đang lắng nghe Đức Phật thuyết Pháp, nó đang bị cảm giác đói hành hạ đến cùng cực. Khi đang nghèo đói cơ cực, nó phải đi xin ăn cho bản thân và hai đứa con. Sanh ra trong thế giới cảm giác này, nó luôn bị con nhỏ quấy rầy đòi được chăm sóc. Để thoát khỏi cảnh khổ đau cùng cực, nó ao ước về Niết-Bàn. Con quỷ đã nói với các con của nó rằng nó rất yêu thương chúng. Tuy nhiên, con quỷ cũng nhấn mạnh rằng tình yêu và sự thành tâm của nó đối với Niết-Bàn còn lớn hơn tình mẫu tử.

                                          Piyo loke sako putto,

                                           Piyo loke sako pati,

                                          Tato piyatarà mayham,

                                          Assa dhammassa magganā.

Đây chính là cách mà người thế tục yêu thương chồng con của họ. Tuy nhiên, tôi thích tìm kiếm Giáo pháp hơn thứ tình yêu đó. Tình yêu dành cho chồng con không thể giải thoát tôi ra khỏi khổ đau. Chỉ bằng cách lắng nghe Giáo Pháp, tôi sẽ được giải phóng khỏi luân hồi khổ đau. Hầu hết những người mẹ mộ Đạo đều chú ý một cách nghiêm túc đến Giáo Pháp. Tuy nhiên, họ liên tục bị quấy rầy bởi con cái khi chúng khóc lóc, đòi ăn, bị bệnh… Tuy nhiên, hai đứa con của con quỷ này đã tỏ ra rất ngoan ngoãn và biết vâng lời mẹ. Chúng đã chịu khó lắng nghe bài Pháp của Đức Phật với tâm tôn kính, sau khi bị mẹ chúng cho ăn đòn. Đức Phật đã nhìn thấy trước rằng ba mẹ con quỷ cái sẽ trở thành Tu-Đà-Hườn, sau khi đã lắng nghe thuyết Pháp. Vì vậy, Ngài đã truyền Pháp môn Tứ-Diệu-Đế ( tức Bốn Chân Lý Cao Thượng). Quả thật sau đó, cả 3 mẹ con Punabbasumātā đã trở thành Tu-Đà-Hườn. Khi đã trở thành Tu-Đà-Hườn, cuộc đời của Punabbasumàtà đã thay đổi hoàn toàn. Nó tức khắc chuyển đổi thành một vị thần tao nhã, xinh đẹp, có nhiều y phục và thức ăn. Uttarà, đứa con gái của quỷ Punabbasumātā đã trở thành một thiếu niên am tường Phật Pháp, được thừa hưởng phước báu mà mẹ nó đã dày công tích lũy được.

 

                                      Về bản chất của Niết Bàn    

 

Trong loại sách Phật Tự Thuyết-Udāna thuộc Kinh Điển Pāli, Đức Phật đã từng phát biểu về sự chiến thắng tuyệt đối của Ngài. Sự chiến thắng này có liên quan đến bản chất của Niết-Bàn. Về sau, lời phát biểu đó của Đức Phật đã hợp lại thành bài Kinh có tên Nibbāna-Patisamyutta Udāna. Bài Kinh có nội dung như sau : “ Atthi bhikkhave tadāyatanam, yattha neva pathavi na àpo, na tejo, na vāyo, na ākāsānancāyatanam, na vinnanancāyatanam, na ākincannāyatanam, na nevasānnācāyatanam, nāyam loko na para loko, na ubho candimasuriyā, tatrāpāham bhikkave neva āgatim vadāmi, na gatim, na thitim, na cutim, na upapattim, appatittham appavattam anāramman mevetam, esevanto dukkhassa”. Bài Kinh này có nghĩa là : “ Hỡi các Tỳ-kheo ! Niết Bàn là có thật. Tuy nhiên, nó không có các yếu tố đất, nước, lửa và không khí. Nó không phải là một cõi không gian vô tận (  không vô biên xứ - ākāsānancāyatana), không phải là một cõi ý thức vô tận (  thức vô biên xứ- Viññānancāyatana), không phải là hư vô ( vô sở hữu xứ- ākincannāyatana), không phải là cõi không có ý thức và cũng không có cái gọi là không có ý thức ( phi tưởng phi phi tưởng xứ - nevasannānāsannāyatana). Sự biểu hiện của nó không phải ở trong thế giới này cũng không ở trong những thế giới khác. Trong Niết-Bàn không có sự chiếu sáng của mặt trăng và mặt trời.

Ta không bao giờ xác nhận rằng trong Niết-Bàn có đến và đi. Nó không có vị trí cụ thể. Nó bất sanh, bất tử và không có hình dáng. Nó không trú ở đâu cả. Trong Niết-Bàn không có cái gì cả. Niết Bàn không có các đối tượng của giác quan. Nó chính là trạng thái chấm dứt của khổ đau”.  

 

                                              Niết Bàn là có thật 

 

Khi Niết-Bàn có nghĩa là trạng thái chấm dứt của tinh thần, thể xác và sự cấu thành tinh thần, có nhiều ý kiến cho rằng nó không biểu hiện một cái gì cả.

Do đó, nó vô vi. Tuy nhiên, Niết-Bàn là thực tại tuyệt đối. Nói theo nghĩa tương đối mà ngôn ngữ có thể diễn tả được, Niết Bàn là một cảnh giới mà ở đó các hoạt động thuộc về tinh thần, vật chất và sự cấu thành tinh thần đã trở nên vô hiệu. Các hoạt động này đã có xu hướng tiến đến sự hiểu biết về Đạo Quả.

Niết-Bàn là đối tượng trực tiếp của tâm trí, không cần thông qua một trung gian nào cả. Đức Phật, các vị A-La-Hán và những người cao thượng đã từng xác nhận trong thực tế, Niết-Bàn là có thật. Về mặt lý luận, hãy cho phép tôi nói rằng, thật ra trong vũ trụ này cũng không có một loại Niết-Bàn mà ở đó những thứ ô nhiễm, nghiệp và kết quả của nghiệp đã chấm dứt. Vì vậy, trong vũ trụ này, không có ai có thể tìm thấy trạng thái bình yên đích thực. Khi không có sự xuất hiện của Niết-Bàn, những thứ ô nhiễm sẽ tàn phá cuộc sống của chúng ta bằng cách sản sinh ra nghiệp. Khi đã có trạng thái xuất hiện của nghiệp thì dĩ nhiên phải có kết quả của nghiệp. Từ đó, nghiệp quả sẽ tạo ra các điều kiện cấu thành thân thể mới với thành phần là 5 uẩn và dẫn đến khổ đau. Chỉ có Đạo và Quả là có thể triệt tiêu được những thứ ô nhiễm. Sự triệt tiêu này sẽ khiến cho luân hồi khổ đau đi đến chỗ tận diệt. Trạng thái chấm dứt của khổ đau là có thật. Trong thực tế, Đức Phật và những vị A-La-Hán đã đạt tới trạng thái này. Sau khi các Ngài đã nhập vào Đại-Niết-Bàn thì tất cả những thứ khổ đau đã hoàn toàn chấm dứt.

 

                     

 

                    Trong Niết Bàn không có những nguyên tố khởi thủy   

 

Trong Niết-Bàn không có nguyên tố đất, nước, lửa và gió. Nói cách khác, Niết-Bàn không có thể rắn, lỏng, nhiệt lượng và sự chuyển động - những trạng thái mà chúng ta có thể bắt gặp trong thế giới cảm giác hay thế giới có hình thể như cõi người, cõi Chư-thiên, Phạm-Thiên… Trạng thái chấm dứt ở đây có nghĩa là chấm dứt các hình thức, hình dáng và khối. Khi hình thức, hình dáng và khối đã vắng mặt thì trạng thái rắn, lỏng, nhiệt lượng và chuyển động cũng sẽ không có.

 

                               Vật chất không hiện hữu trong Niết-Bàn

 

Khi bốn nguyên tố khởi thủy ( đất, nước, lửa và gió) đã vắng mặt thì hình thức vật chất – Upāda rūpa được cấu thành bởi 4 nguyên tố này cũng sẽ không có. Các hình thức vật chất ở đây là mắt và đối tượng của mắt, tai và đối tượng của tai… Do đó, hiện tượng thấy cũng sẽ không xuất hiện, hiện tượng nghe cũng vậy… Nói cách khác, thế giới cảm giác và sự nhận thức về thế giới này, thế giới hình thể và sự nhận thức về thế giới này cũng không xuất hiện. Như vậy, nếu không có mắt thì người ta không thể thấy được, không có tai thì không thể nghe được, không có mũi thì không thể ngửi được, không có lưỡi thì không thể nếm được, không có thân thì không thể gặt hái cảm giác xúc chạm. Pasāda rūpa là 5 giác quan làm nền tảng cho sự nhận thức. Nếu không có 5 giác quan này thì sự nhận thức sẽ không thể hiện khởi. Trong thế giới của Phạm-Thiên, nhãn căn – Cakkhu pasādanhĩ căn –Sota pasāda vẫn còn tồn tại, trong khi đó tỷ căn-Ghāna pasāda, thiệt căn-Jivhāthân căn- Kāya pasāda đã vắng mặt. Vì vậy, những Phạm-Thiên chỉ có mũi và lưỡi theo hình thức phôi thai, họ không nhận biết được mùi và vị. Tuy nhiên họ vẫn có trung tâm nhận thức, cái mà chúng ta thường gọi là tâm vật chất  - Hadaya vatthu. Trong các chúng sanh có cảm giác như người, Chư-Thiên hay Phạm-Thiên đều có trung tâm này.

Vì vậy, trong cõi người, Chư-thiên và Phạm-Thiên, sự suy nghĩ, khả năng hiểu biết và trạng thái định tâm trong thiền có thể xảy ra.

 

                            Trạng thái vắng mặt của tâm vật chất

 

 Như tôi đã nói, khi Niết-Bàn không có 4 nguyên tố khởi thủy. Do đó, tất cả những thứ vật chất tùy thuộc vào 4 nguyên tố này cũng không hiện hữu. Bởi vì không có vật chất nên không có tâm hướng về thế giới cảm giác hay thế giới hình thể. Ví dụ trạng thái sơ thiền chẳng hạn. Để được ngắn gọn, tôi chỉ nói về tâm. Chúng ta nên nhớ rằng, bất cứ khi nào nói về tâm thì phải nói đến trạng thái tâm xảy ra đồng thời với nó, đó chính là tâm sở - Cetasika. Bây giờ nảy sinh ra một câu hỏi là : “ Liệu trong Niết-Bàn, tâm thức hay trạng thái nhận thức của tâm có còn hiện khởi hay không, bởi vì tâm thức - Ārupavacara không tùy thuộc vào vật chất ?

 

                                 Trạng thái vắng mặt của tâm vô sắc

 

Ở đây, Kinh Phật Tự thuyết cũng nói một cách dứt khoát rằng trong Niết-Bàn, trạng thái không hình thể - ArupĀvacara cũng không có mặt. Vậy thì liệu tâm thức- Citta có hướng về cõi không gian vô hạn – ākāsānancāyatana, cõi ý thức vô hạn – Viññànancāyatana, cõi hư vô – Akincannāyatana hay cõi không có nhận thức và cũng không có cái gọi là không nhận thức- Nevasannāsannayatana ? Trong không vô biên xứ, thức tái sanh-Patisandhi Viññāna bắt đầu xuất hiện khi tâm quả- Vipāka citta ( tức trạng thái nhận thức có liên quan với nghiệp quả), tâmtâm sở xảy đến một cách đồng thời.

Thông thường trong thế giới trần tục, tâm thức thiện lành hay bất thiện đứng giữa thức tái sanhcái chết, chúng khởi lên đồng thời với tâm sở của chúng. Những người thế tục có giữ Giới một cách thích đáng được biết đến như là các Sekkha – Học giả hay bậc thánh hữu lậu. Các Sekkha có thể trở thành A-La-Hán khi họ tái sanh vàokhông vô biên xứ. Trong trường hợp tái sanh đó, chỉ có thiện nghiệp-Kusalatâm duy tác- Kiriya Citta khởi lên đồng thời với tâm sở tương ứng của chúng. Tuy nhiên, trong không vô biên xứ không hề có sự xuất hiện của vật chất, chỉ có sự hiện diện của tâm duy tác và tâm sở trong trạng thái liên tục trôi chảy. Trong cảnh giới này, tất cả các hiện tượng đều thuộc về tâm linh hay tinh thần. Những chúng sanh sống tạikhông vô biên xứ đều tồn tại dưới dạng tinh thần, họ không cần đến thức ăn, y phục hay chỗ ở.

Các họa sĩ, nhạc sĩ, nhà thơ…thường mô tả cảnh giới này và nhiều cảnh giới không có hình thể khác như là những nơi có các tòa lâu đài, biệt thự tráng lệ… Chúng ta nên lưu ý tới điểm này. Trở lại với vấn đề Niết-Bàn, chúng ta nên nhớ rằng trong Niết-Bàn không hề có tinh thần và vật chất. Những người không phải là Phật tử thường rất thích những cảnh giới trong không gian. Tuy nhiên, không gian mà họ thường mơ tưởng đến là thứ không gian tinh thần có liên quan đến cảm giác vật chất. Do đó, họ không thể nào “ tiêu hóa” nổi ý tưởng vềkhông vô biên xứ. Tuy nhiên, Đức Phật đã phân biệt một cách rõ ràng từ cảnh giới tinh thần với trạng thái cấu thànhtâm thiền- Jhāna của nó cho đến cảnh giới vô thức – nơi tất cả những tâm sởtâm thiền của nó đã trở thành vô hiệu. Một hành giả thực hành thiền nội quán tập trung tâm trí của mình trên tiến trình đang khởi lên và tan biến đi của 5 uẩn có thể đạt tới trạng thái tâm thức gọi là Sankhārūpekkha Ñāna – Kiến thức về trạng thái tâm thanh thản. Nếu đã đạt tới trạng thái đó, anh ta sẽ nhận thấy rằng thân thể vật chất của mình đã biến mất. Hành giả chỉ còn trải nghiệm được một dòng suối tâm thức đang trôi nổi trong không gian. Khi sankhārūpekkha Ñāna đã phát triển mạnh, dòng suối tâm thức này sẽ ngày càng trở nên rõ ràng hơn. Nói đúng ra, đây không phải là tâm thiền trong không vô biên xứ, nó chỉ na ná với trạng thái tâm đó mà thôi. Như trên đã đề cập, chúng ta có thể nói rằng trong Niết-Bàn, không hề có việc tâm và tâm sở hướng về thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ hay phi tưởng phi phi tưởng xứ. Mức độ cao nhất của sự sống là cảnh giới mà ở đó tâm thức đã trở nên vi tế. Trạng thái tâm thức vi tế này có thể diễn tả như là sự trung gian giữa trạng thái có nhận thứckhông có nhận thức. Những trạng thái tương đương với trạng thái tâm thức vi tế này là trạng thái xúc chạm – Phassa, cảm giác – Vedanā, tâm- Cittatâm sở. Chúng ta có thể bắt gặp tất cả những trạng thái vi tế đó trong những cảnh giới vừa nói. Trong Niết-Bàn, những tâm thức vi tế như vậy đã hoàn toàn vắng mặt. Những người còn ngây ngô trong niềm tin về Giáo Pháp và chưa thể nhận thức được tâm thiền – Jhāna, những trạng thái ngây ngất trong thiền sẽ cự tuyệt hay không quan tâm đến những lời dạy về các cảnh sống vừa được mô tả ở trên. Những người có tâm hoài nghi như thế nên thực hành thiền nội quán theo phương pháp mà Đức Phật đã chỉ dạy. Nếu làm theo như vậy, họ sẽ gặt hái được tâm thiền thuộc về phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đến lúc đó, họ sẽ tự nhận thức và phân biệt được sự khác nhau giữa trạng thái thiền vô thức và Niết Bàn - nơi trạng thái vô thức đã trở nên thừa thải.

Niết-Bàn không còn dẫn tới một quả thiền nào nữa cả. Khi đã đạt tới Niết-Bàn, người ta sẽ không cần tới bất cứ một sự nghiên cứu hay thực hành nào nữa, bởi vì nó là mục đích cuối cùng của người Phật tử.

 

                Cả tinh thần và vật chất đều vắng mặt trong Niết-Bàn

 

Trong Niết-Bàn không có những hiện tượng tinh thần mà chúng ta có thể bắt gặp trong thế giới cảm giác. Một cách tự nhiên, tinh thần và vật chất thuộc về 31 cõi sống trong vũ trụ đã hoàn toàn vắng mặt trong Niết-Bàn. Tuy nhiên, vẫn có một lời tuyên bố khác thường cho rằng, sau khi Đức Phật và các vị A-La-Hán nhập vào Đại-Niết-Bàn, họ sẽ gặt hái được một loại tinh thần và vật chất đặc biệt. Một đường lối suy nghĩ khác thường như thế có thể hấp dẫn những người chưa có khả năng triệt tiêu được bản ngã của chính họ. Quan tâm đến lời tuyên bố này, một Bậc Trưởng Thượng có trí thức đã lập luận rằng, nếu có một loại tinh thần và vật chất đặc biệt trong Niết-Bàn thì cũng phải có một loại tái sanh đặc biệt có thể dẫn đến một loại tuổi già đặc biệt. Như vậy, bệnh tật và cái chết  cũng sẽ mang lại một loại buồn rầu đặc biệt, một sự than khóc đặc biệt, một trạng thái khổ đau đặc biệt, một nổi đau đớn và tuyệt vọng đặc biệt…

 Khi những lời dạy của Đức Phật đã khẳng định một cách dứt khoát về trạng thái chấm dứt của khổ đau, việc bàn thảo xa hơn về trạng thái chấm dứt đó là không thích hợp. Ý tưởng về một cõi sống đặc biệt là một hình thức đóng khung xơ cứng đối với Niết-Bàn. Trạng thái dập tắt khổ đau theo quan niệm của Phật Giáo có nghĩa là không còn gì nữa. Thậm chí trong trạng thái đó, “cái không có” cũng không còn tồn tại. Niết-Bàn không rắc rối phức tạp như tinh thần và vật chất. Nó cũng không gây thêm rắc rối phức tạp cho thế giới này cũng như những thế giới khác.

 

                   Niết-Bàn vượt ra khỏi giới hạn của những thế giới

 

Vì vậy Kinh nói rằng : “ Nayam loko, na paroloko”. Câu nói này có nghĩa là :

Không ở trong thế giới này và cũng không ở trong những thế giới khác”. Trong trạng thái vắng mặt của vật chất sẽ không có khái niệm về bóng tối, đã không có khái niệm về bóng tối thì sẽ không có khái niệm về ánh sáng. Vì vậy, trong Niết-Bàn không có mặt trời và cũng không có mặt trăng. Nơi không có thân thể 5 uẩn khởi lên thì ở đó cũng không thể có ánh sáng hay bóng tối.

Có câu hỏi rằng, liệu có phải cách thức mà những chúng sanh có cảm giác đi tới Niết-Bàn cũng giống như cách thức mà những chúng sanh trong các cảnh giới thấp kém đi tới cõi người ? Cách thức mà những chúng sanh từ cõi người đi tới cảnh giới Chư-thiên có giống như cách thức mà họ đi tới Niết-Bàn hay không ? Câu trả lời là : Trong Niết-Bàn không hề có trạng thái đi tới giống như thế.

Sự mô tả mang tính hữu hạn về cách nhận thức Niết-Bàn đã nói rằng, Đức Phật và những vị A-La-Hán “ đi vàoNiết-Bàn hay một cách cụ thể hơn là Anupādisesa Nibbāna – Niết Bàn Vô Dư. Đạt tới Đại- Niết-Bàn không có nghĩa là đi tới một thân thể 5 uẩn mới. Một cách chính xác, điều này có nghĩa là sự cắt đứt dòng trôi chảy của tinh thần và vật chất hay cắt đứt những nguyên nhân phát sanh sự sống. Đó là trạng thái tận diệt hoàn toàn của 5 uẩn. Trạng thái tận diệt này được công nhận như là Niết Bàn Vô Dư. Niết-Bàn không phải là một nơi chốn mà ở đó muôn loài chúng sanh có thể đổ bộ đến từ những cõi sống khác. Không có ai có thể di chuyển từ những cõi sống khác đến với Niết-Bàn. Muôn loài chúng sanh với thiện nghiệp có thể xuất phát từ cõi người rồi đi tới cõi Chư-Thiên. Những chúng sanh từ cõi trời cũng có thể giáng xuống địa cầu để làm người. Những chúng sanh với nghiệp bất thiện có thể bị đọa xuống những cảnh giới thấp kém. Tuy nhiên, trong Niết-Bàn không hề có những trạng thái di chuyển giống như thế.

 

                                 Những thuộc tính của Niết-Bàn    

 

1.Niết Bàn không có khối lượng

Người ta thường hỏi rằng liệu có phải các vị Phật và A-La-Hán đã trở thành những cá thể trong Niết-Bàn hay không ? Trong Niết-Bàn không có khối lượng. Nó không phải được xây dựng lên bởi một loại vật chất hay tinh thần đặc biệt. Nó không phải là một núi cá thể có vị trí vững chãi như cõi trời hay địa cầu.

2. Niết-Bàn là bất sanh bất diệt

Trên 31 cõi sống trong vũ trụ, người ta sanh ra và chết đi, tái sanh rồi lại chết đi… Niết-Bàn là bất sanh bất diệt. Trong thế giới của Chư-thiên và Phạm thiên, sanh có nghĩa xuất hiện một cách đột nhiên ( còn gọi là hóa sanh- ND) và chết có nghĩa là biến mất một cách đột xuất. Niết-Bàn là trạng thái chấm dứt của 5 uẩn. Một trạng thái chấm dứt giống như thế sẽ không còn sanh hay tử nữa.

3. Niết-Bàn không phải là một nơi chốn

Niết-Bàn không phải là một nơi chốn. Do đó, nó không trú tại một nơi nào cả. Nó không phải ở đây và cũng không phải ở kia. Nó không phải ở trên những cõi trời. Trở lại vấn đề danh sắc ( tức tinh thần và vật chất), đành rằng Niết-Bàn bao trùm cả danh, tuy nhiên trong ngữ cảnh đó Niết-Bàn không phải là tâm-Citta hay tâm sở- Cetasika. Vì vậy 3 diện mạo của tâm, cụ thể là trạng thái khởi lên- Upāda, trạng thái phát triển- Thititrạng thái tan hoại – Bhanga không hiện hữu trong Niết-Bàn. Nói một cách văn hoa bóng bẩy, Niết-Bàn vẫn còn hiện hữu trong một thân thể sâu thăm thẳm không thể đo lường nổi.  

4. Không có sự xuất hiện của danh sắc

Trong thân thể 5 uẩn này, tinh thần và vật chất liên tục ở trong trạng thái trôi chảy. Vì vậy, có thể nói rằng chúng trôi chảy như một dòng suối bất tận. Một hành giả đã gặt hái được kiến thức về tiến trình dang khởi lên và tan biến đi của các pháp hữu vi sẽ nhận thấy rằng, trong khoảnh khắc này danh sắc đã khởi lên và sẽ tan biến ngay lập tức trong khoảnh khắc kế tiếp. Khi đã phát triển được kiến thức về trạng thái tâm thanh thản, anh ta sẽ tự nhận thấy rằng toàn bộ dòng suối danh sắc đã ngừng chảy. Đây chính là trạng thái dập tắt.

5. Trong Niết-Bàn không có các đối tượng của giác quan

Khi tinh thần và vật chất, tâm và tâm sở đã vắng mặt… thì sẽ không có các đối tượng của giác quan. Khi các đối tượng của giác quan đã vắng mặt thì sự cấu thành tinh thần ( tức hành- Sankhāra ) sẽ không còn cơ hội để khởi lên.

6. Niết-Bàn nghĩa là trạng thái chấm dứt của khổ đau

Khi không có các nguyên tố khởi thủy làm nền tảng và không có danh sắc, mọi thứ sẽ chấm dứt. Trạng thái chấm dứt này sẽ mang lại bình yên vĩnh viễn. Tất cả những khổ đau sẽ vĩnh viễn chấm dứt.

 

                                                 Kinh Rohitassa     

 

Niết-Bàn không có vị trí ở đâu cả. Tuy nhiên, nói một cách văn hoa bóng bẩy, Niết-Bàn trú bên trong thân thể của một vị A-La-Hán. Điều này đã được đề cập đến trong Kinh Rohitassa thuộc Tương Ưng Bộ Kinh ( còn gọi là Tạp A HàmSamyuta Nikāya -ND) và trong Tăng Chi Bộ Kinh ( còn gọi là Tăng-Nhất-A-Hàm – Anguttara Nikāya - ND). Khi Đức Phật đang trú tại tu viện Kỳ Viên- Jetavana Rāma ở thành Xá Vệ- Sāvatthī, có một vị Chư-thiên tên là Rohitassa tiến lại gần Ngài và hỏi rằng : “ Bạch Ngài Đại đức ! Người ta có thể đi tới tận cùng của thế giới – nơi không có đi, không có trở lại, không có chết và không có tái sanh được chăng ?”  

 

                        Không thể đi bộ đến nơi tận cùng của thế giới

 

Đức Phật đã trả lời câu hỏi trên như sau : “ Yutta kho āvuso na jāyati, na jiyati, na miyati, na cavati, na upappajjati, nāham “tam gamanena lokassa antam nāteyyam dattheyum patteya” yanti vadàmi”. Đoạn Kinh này có nghĩa là : “ Hỡi anh bạn trẻ ! Ta chưa bao giờ xác nhận rằng người ta có thể đi bộ tới nơi tận cùng của thế giới – nơi không có đi, không có trở lại, không có chết và không có tái sanh. Ta cũng không bao giờ nói rằng, bằng cách đó người ta có thể đến được nơi tận cùng của thế giới”.

Rohitassa đã rất hài lòng và hoan hỷ với lời giải thích của Đức Phật. Trước kia, ông là một tu sĩ khổ hạnh có nhiều phép thần thông- Abhinnā và đã từng thử tìm kiếm nơi tận cùng của thế giới. Ông đã từng bước đi trong vũ trụ từ hành tinh này đến hành tinh khác trong khoảng thời gian một thế kỷ. Tuy nhiên, ông đã không tìm được nơi mình muốn đến. Khi sứ mệnh đã chấm dứt, ông đã qua đời và tái sanh thành một Chư-thiên sống trong vũ trụ. Ông đã nhiều lần xử dụng phép thần thông đi ngang qua vũ trụ với những khoảng cách rất xa và rộng. Tuy nhiên, ông vẫn không tìm thấy điều mình muốn thấy, ngoài vũ trụ vật chất bao la. Đức Phật đã nói cho ông biết rằng, nguyên nhân của luân hồi khổ đau là dòng suối danh sắc đang trôi chảy một cách bất tận. Luân hồi chỉ chấm dứt khi người ta đạt tới nơi tận cùng của thế giới.  

 

                       Chấm dứt khổ đau và nơi tận cùng của thế giới    

 

Đức Phật nói tiếp : “ Na kho panāham āvuso appatvā lokassa antam dukkhassa antakiriyam vadāmi, api ca khvāham āvuso imasmimyeva vyāmamatte kalevare sosannimhi samanake lokanca pannapemi lokasam-udayanca lokanirodhanca lokanirodhagàmininca patipadam. Đoạn Kinh này có nghĩa là : “ Anh bạn trẻ ! Ta không nói rằng tất cả những khổ đau sẽ chấm dứt khi chưa đạt tới nơi tận cùng của thế giới. Ta chỉ nói rằng, trong sự nhận thức có tính qui ước, thế giới hay vũ trụ nằm trong một thân thể sâu thẳm có tinh thần và sự nhận thức. Ta cũng dạy về nguồn gốc của vũ trụ, trạng thái chấm dứt của vũ trụ và con đường dẫn đến trạng thái chấm dứt này”. Nếu người ta không thể tới được nơi tận cùng của vũ trụ thông qua những nổ lực thuộc về thân xác thì họ có thể tới được nơi đó bằng sự rèn luyện về tinh thần, cụ thể là sự hiểu biết và trí tuệ. Đức Phật muốn nói vũ trụ chính là khổ đau. Người thất bại trong việc rèn luyện trí tuệ với mục đích tới được nơi tận cùng của vũ trụ sẽ không gặt hái được trạng thái chấm dứt của khổ đau. Toàn thể vũ trụ hữu vi được cấu thành bởi tinh thần và vật chất là một vũ trụ khổ đau. Nó cách Niết-Bàn rất xa.

                    

                        Bốn Chân Lý Cao Thượng trú trong thân thể

 

Trong thân xác sâu thẳm này, người ta có thể tìm ra bản chất của vũ trụ. Thân xác của chúng ta chứa đựng tất cả những nổi khổ đau.Vì vậy, nó cũng biểu lộ Chân Lý về sự khổ đau. Từ trong thân xác, người ta có thể tìm thấy nguyên nhân của khổ đau. Thân xác cũng dạy chúng ta Chân Lý về nguyên nhân của khổ đau. Cũng từ trong thân xác này, bạn sẽ tìm thấy trạng thái giải thoát khỏi khổ đau. Thân xác cũng chỉ ra cho chúng ta thấy Chân Lý về trạng thái chấm dứt khổ đau. Người ta có thể nhận thức được trạng thái chấm dứt này từ trong thân xác. Do đó, thân xác chỉ ra cho chúng ta con đường dẫn đến trạng thái chấm dứt của khổ đau. Vì vậy, tất cả Bốn Chân Lý Cao Thượng có thể được khám phá ngay trong thân xác của chúng sanh thuộc về vũ trụ này. Bạn không thể nào xác định được vị trí của Niết-Bàn. Trước khi nhập vào Đại-Niết-Bàn, những vị A-La-Hán vẫn còn mang gánh nặng của 5 uẩn. Sau khi họ đã đạt tới Đại-Niết-Bàn, 5 uẩn mới chấm dứt hẳn. Có thể nói rằng, trạng thái chấm dứt này được xác định là ngay trong thân thể của những vị A-La-Hán. Vì vậy, chúng ta có thể phát biểu một cách qui ước rằng, Niết-Bàn hiện hữu bên trong thân xác 5 uẩn của chính mình. Tuy nhiên, đúng theo Vi Diệu Pháp- Abhidhamma, Niết-Bàn không hề có sự liên quan với thân xác. Đó là lý do tại sao trong Kinh điển Pāli, tác phẩm Phật Tự Thuyết-Udāna đã mô tả Niết-Bàn là Appatitthamkhông đứng tại một nơi nào cả. Chân Lý về khổ đau có liên quan đến khổ đau cố hữu nằm trong tâm bám víu vào 5 uẩn – Upādānakkhandhā. Tâm bám víu này sẽ khởi lên trong trạng thái hoạt động của giác quan, khi những đối tượng quan sát đi vào trong các xứ. Khi bạn nhìn một vật gì, nhãn xứ sẽ thu nhận hình ảnh của đối tượng quan sát thông qua nhãn thức. Trạng thái tiếp xúc giữa nhãn xứ và đối tượng của nó sẽ cho bạn biết rằng mình đang thấy sự vật. Trạng thái thấy này là khá rõ ràng. Bạn đã biết mình có hai mắt và cảm thấy rằng như vậy là nhiều quá. Như vậy, bạn đã thật sự là những nhà tiên tri rồi ! Đối tượng mà bạn thấy là rất rõ ràng và có thể dễ chịu đối với tâm trí. Tương tự như vậy, nguyên lý thu nhận các đối tượng trong trạng thái thấy cũng giống như trạng thái nghe, ngửi, nếm … Bất cứ khi nào các đối tượng của giác quan khởi lên, qua sự quan sát của giác quan, tâm bám víu đã phát khởi. Khi thấy một ai đó, qua nét mặt của người ta, bạn sẽ nhận ra đó là đàn ông hay đàn bà. Nếu cảm thấy ưng ý với dáng vẻ của người đó thì ngay lập tức bạn sẽ khởi tâm bám víu vào đối tượng. Mắt và đối tượng của mắt cấu thành tâm bám víu vào vật chất- Rūpupādānakhandhā. Khi biết mình đang thấy, bạn nên biết đó là trạng thái nhận thức- Viññāna đang hoạt động. Lúc bấy giờ, bạn đã tích tụ  tâm bám víu vào cảm giác- Viññànupādānakkhandhā. Khi thấy một đối tượng, bạn cảm thấy trạng thái hài lòng hoặc bất mãn khởi lên trong tâm trí. Đó chính là cảm thọ hay cảm giác- Vedanā. Bấy giờ, bạn đã phát triển tâm bám víu vào sự nhận thức – Vedanupādānakhandhā. Bạn thường chú ý đến những cái gì mình thấy. Vì vậy, bạn có thể hồi tưởng nó trong tâm trí khi có nhu cầu. Sự tri giác hay khả năng nhận biết bằng giác quan- Sannā ( còn gọi là tưởng) đã phát triển trong tâm bạn. Bấy giờ bạn đã có tâm bám víu vào sự tri giác – Sannupādānakkhandhā. Tiếp đến, những hoạt động thuộc về ý chí hay sự cấu thành tinh thần – Sankhāra ( còn gọi là hành) đã được xác định nơi tâm trí trong mối tương quan với những hành động thiện hoặc bất thiện mà bạn đã thực hiện. Những trạng thái tinh thần như thế nằm ngoài phạm vi của cảm giác và sự nhận biết qua giác quan. Chúng sẽ khiến cho bạn bị trói buộc trong hành- Sankhāra. Vì vậy, trạng thái tích tụ tâm bám víu vào sự cấu thành tinh thần đã phát khởi. Bấy giờ, từ các hành động thấy, nghe, ngửi… tâm bám víu vào 5 uẩn sẽkhởi lên. Những trạng thái tích tụ ( tức các uẩn) này luôn luôn khởi lên trong chúng ta. Tuy nhiên, trạng thái khởi lên này xảy đến một cách tức thì, khi chúng ta vừa chú ý đến nó. Đa số chúng ta đều thất bại trong việc nắm bắt từng khoảnh khắc của thời gian, khi một hiện tượng nào đó xảy đến. Tuy nhiên, thiền nội quán có thể giúp bạn chú ý đến tiến trình đang khởi lên và tan biến đi của tâm bám víu vào các uẩn – Upādānakkhandhā. Nếu tập luyện loại thiền này, bạn sẽ có khả năng nhận thức được một sự thật rằng, trạng thái trôi chảy của các uẩn là bất toại nguyện. Trong thực tế, trạng thái bất toại nguyện chính là khổ - Dukkha. Trạng thái hiện hữu của vũ trụ chính là tâm bám víu vào 5 uẩn. Những uẩn này biểu lộ cho chúng ta thấy Chân Lý về sự khổ đau. Khi một người bình thường nào đó đã thất bại trong việc chú ý đến trạng thái thấy của chính mình khi anh ta đang thấy một đối tượng được cho là dễ chịu, anh ta sẽ không có khả năng nắm bắt được bản chất thật sự của đối tượng dễ chịu này ngay trong khoảnh khắc nó đang khởi lên. Do đó, người này sẽ có cảm tưởng rằng trạng thái đang thấy của chính mình là dễ chịu. Thật ra, người này đã lấy khổ-Dukkha làm hạnh phúc-Sukkha. Đến mức độ như thế, tâm ưa thích cảm giác dễ chịu đã phát triển trong người này. Tâm bám víu này sẽ ngày càng gia tăng cường độ và trở thành tâm khao khát hay tham ái- Tanhā Citta. Khi ra sức nổ lực để thỏa mãn tâm mong muốn được gắn bó với cảm giác dễ chịu, trạng thái cấu thành tinh thần- Sankhāra ( tức Hành) đã được xác định.

Bây giờ hành- Sankhāra đã hình thành. Bởi vì những hành động được thực hiện do sự xui khiến của hành, một người đang hấp hối thông qua tâm thức sẽ nhận biết đượcnghiệp- Kamma mà anh ta đã từng thực hiện, những dấu hiệu của nghiệp- kamma nimittadấu hiệu của nơi sẽ tái sanh vào- Gati nimitta. Tâm trí của người đang hấp hối sẽ có khuynh hướng nghiêng về những đối tượng này do tâm đã quen bám víu vào cảm giác của chính mình. Lúc này, người đang hấp hối rất giống như một người sắp chết đuối. Như chúng ta đã biết, người sắp chết đuối sẽ túm lấy bất kỳ cái gì trôi gần anh ta với hy vọng được sống sót. Người đang hấp hối sẽ túm lấy những đối tượng đang hiện hữu trong tâm trí của anh ta ( Àrammana). Tiếp đến, thức cận tử- Āsannā Viññāna hay Cuti Citta Viññāna sẽ khởi lên. Khi người đang hấp hối từ bỏ 5 uẩn của anh ta, thức cận tử này sẽ lùi xa vào quá khứ. Tuy nhiên khi chết đi trong vô minh, người ta cũng không thể vứt bỏ được tâm bám víu vào các đối tượng của giác quan. Tâm bám víu của một người trong hiện tại có nguồn gốc từ thức cận tử của kiếp sống trước. Tâm bám víu phát huy tác dụng và gây ảnh đối với thức tái sanh- Patisandhi Viññāna. Sự ảnh hưởng này sẽ xuất hiện một cách rõ ràng trong kiếp sống hiện tại. Vì vậy, một kiếp sống mới sẽ bắt đầu với một tâm mới. Cái tâm mới này là mắc xích nối liền quá khứ với hiện tại. Do đó, người ta gọi nó là tâm tái sanh- Patisandhi Citta hay thức tái sanh- Patisandhi Viññānam. Thức tái sanh sẽ tiếp tục hoạt động do được sự tiếp sức của những nhân tố tinh thần trong kiếp sống hiện tại. Khi tâm-Citta xuất hiện, tâm sở- Cetasika ( tức trạng thái tâm)luôn luôn xảy ra đồng thời với nó. Vật chất sẽ tùy thuộc vào tâm và tâm sở mà khởi lên. Nếu cònkhao khát hay tham ái- Tanhā, người ta sẽ không bao giờ cắt đứt được dòng suối danh sắc đang liên tục trôi chảy xuyên qua những kiếp sống. Vì vậy, khao khát chính là nguyên nhân cấu thành vũ trụ này. Kể từ khi vũ trụ này là một đống khổ đau. Nó đã chỉ ra cho chúng ta thấy được Chân Lý về nguyên nhân của khổ đau đang tồn tại trong vạn hữu. Sự thấy, nghe, ngửi, nếm và xúc chạm là những nhân tố của khổ đau. Trong tổng thể khổ đau đó, khao khát hay tham ái đã trở thành nguyên nhân của khổ đau – Samudaya. Do tham ái, chúng ta thích nhìn, nghe, ngửi, nếm và xúc chạm. Từ đó, khổ lại khởi lên. Đến đây, chúng ta đã thảo luận xong phần Chân Lý về khổ đauChân Lý về nguyên nhân của khổ đau.

                                    

                                       Quán niệm trên 4 yếu tố

 

Sự nhận thức sẽ xảy đến khi trạng thái xúc chạm được thiết lập giữa các giác quan và những đối tượng quan sát. Một người thực hành thiền sẽ bắt đầu với việc tập trung tâm trí trên những trạng thái nhận thức của chính mình. Trong khi đó, các đối tượng nhận thức thường khởi lên từ 4 loại vật chất chính yếu, cụ thể là : Đất- Pathavī( có tính rắn chắc), nước- Āpo ( có tính trôi chảy), lửa- Tejo

 ( có tính nhiệt lượng) và gió-Vāyo ( có tính chuyển động). Kinh Đại Niệm Xứ - Mahāsatipathāna Sutta nói rằng : “ Khi đi tôi biết tôi đang đi”. Đây là một cách chỉ dẫn trực tiếp cho hành giả biết rằng, sở dĩ yếu tố chuyển động đã phát khởi là do trạng thái tiếp xúc của thân thể với không khí. Tiếp đến, trạng thái tiếp xúc này đã kích thích sự nhận thức khởi lên. Khi đang ngồi, bạn phải biết rằng mình đang ngồi, đồng thời cần chú ý đến trạng thái căng thẳng của thân thể do hành động ngồi mang lại. Sau đó, bạn có thể tiếp tục nhận thức những hiện tượng thuộc về thể xác hoặc tinh thần có liên kết với tư thế mà bạn đang biểu hiện. Ví dụ, bạn có thể nhận ra rằng hai bàn tay của mình đang cài vào nhau, quần áo mà bạn đang mặc bó sát vào thân thể… Khi quan sát những hiện tượng này với trạng thái chú ý nghiêm túc, bạn sẽ nhận thức được bản chất của những hành động thuộc về thân xác mà mình đang thực hiện khi các giác quan tiếp xúc với những đối tượng tương ứng của chúng.

 

                                  Một bước đi dễ dàng trong thiền      

 

Cả người trẻ tuổi lẫn người lớn tuổi đều có thể thực hành thiền. Theo qui định, chúng tôi đã đưa ra một qui trình thiền nội quán rất dễ tập luyện. Qui trình tu học này sẽ bắt đầu bằng bài tập chú ý đến trạng thái đang phồng lên và xẹp xuống của bụng. Khi bạn đang thở vào, bụng sẽ phồng lên và khi thở ra thì bụng sẽ xẹp xuống. Ở đây, bạn sẽ trải nghiệm chuyển động đang phồng lên và xẹp xuống của thành bụng và nhận thức các hoạt động này như là những yếu tố chuyển động ( tức gió- Vāyo). Bạn sẽ tập luyện sự chú ý đến yếu tố này. Bạn sẽ tập trung tâm trí của mình một cách vững chãi trên tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng với sự đánh giá đúng đắn về bản chất của hiện tượng.

Sự chú ý phải được thực hiện một các chính xác và liên tục trên các chuyển động tự nhiên của bụng. Nói cách khác, bạn đừng để cho sự chú ý bị ngắt quãng giữa 2 tiến trình đang phồng lên và đang xẹp xuống của bụng. Bạn phải giữ sự chú ý một cách thường xuyên nơi thành bụng, kể từ khi bụng bắt đầu chuyển động phồng lên cho đến khi nó đã phồng hết mức. Tiến trình chú ý này cũng được tiếp nối một cách liên tục với thời điểm bụng bắt đầu chuyển động xẹp xuống cho đến khi đã xẹp hẳn. Tuy nhiên, trong tiến trình thực hành sự chú ý này, nếu trạng thái chú ý của bạn bị ngắt quãng sau khi thở vào hay sau khi thở ra, ngay lúc đó bạn phải quay sang chú ý để nhận biết rằng mình đang ngồi

( nếu đang tọa thiền). Khi những ý nghĩ đã cấu thành trong tâm trí. Bạn có thể nghĩ về một điều gì đó. Bạn cũng có thể có một vài ý định muốn làm điều này hay điều kia. Hãy chú ý đến tất cả những ý định này ! Như người Miến Điện vẫn thường nói, bất cứ khi nào tâm trí của bạn bị “ bơi ra xa”. Lúc đó, bạn nên tìm cho mình một xu hướng chú ý có tính chủ đạo và theo sát nó. Đừng nên để cho tâm trở nên luông tuồng và vượt khỏi sự kiểm soát của bạn. Những lúc tâm trí đang suy nghĩ lan man, bạn hãy tập trung chú ý vào hiện tượng suy nghĩ này, bất luận nó đang suy nghĩ về cái gì. Sau đó, hãy phục hồi sự chú ý lên chuyển động đang phồng xẹp lên xuống của bụng. Thỉnh thoảng, bạn cũng sẽ chạm trán với những cảm giác, hầu hết là cảm giác khó chịu, bởi vì bạn sẽ cảm thấy tù túng và mệt mỏi, nóng nực và đau nhức trong quá trình thực hành thiền tọa. Trongtrường hợp đó, bạn hãy chú ý một cách chính xác ngay trên cảm giác mệt mỏi và đau nhức cho đến khi chúng tan biến đi. Tiếp đến, bạn quay trở lại chú ý đến tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng. Nói tóm lại, hãy vui lòng chú ý đến những chuyển động của bụng. Các hoạt động thuộc về thân xác hay tinh thần phải được chú ý một cách chính xác và liên tục, không để cho trạng thái chú ý bị ngắt quãng trong suốt tiến trình thực hành thiền. Nếu không có một đối tượng đặc biệt nào để chú ý, bạn cứ giữ sự chú ý thường xuyên trên tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng, chủ yếu là chú ý đến trạng thái căng, trạng thái giãn nở và mềm nhũn của bụng trong từng khoảnh khắc. Khi năng lực chú ý đã có sự tiến bộ, bạn sẽ nhận ra rằng, trong mỗi chuyển động của bắp thịt có nhiều trạng thái hoạt động riêng biệt, mặc dù chúng liên quan mật thiết với nhau. Những trạng thái hoạt động riêng biệt đó khởi lên và rồi sẽ biến mất đi. Bạn có thể nhận thấy rằng sự khởi lên hay biến mất đi của những trạng thái vừa nói là xảy ra một cách liên tục và kế tiếp nhau. Nguyên lý quan sát này có thể áp dụng cho những đối tượng khác của tâm trí. Sự chú ý của tâm trí trong vai trò là chủ thể nhận thức cũng hoạt động theo một nguyên lý tương tự như đối tượng nhận thức. Tất cả chúng đã liên tục khởi lên và biến mất đi trong một khoảng thời gian cực ngắn. Khi năng lực chú ý quan sát đã trở nên sắc bén từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác, bạn sẽ nhận ra rằng, từng bộ phận riêng lẽ của một hiện tượng đã lần lượt khởi lên và biến mất đi. Trong tiến trình đang xảy ra của một hiện tượng, mỗi bộ phận riêng lẽ của nó đều có một khoảng cách nhất định với một bộ phận khác trong cùng một tiến trình. Sự chú ý của tâm trí và đối tượng nhận thức sẽ lần lượt trôi qua trong từng khoảnh khắc và dẫn đến trạng thái tan hoại. Chúng khởi lên trong trạng thái nhận thức của bạn với một khoảng thời gian cực kỳ ngắn ngủi ( có thể ví như một ánh chớp) và tan biến đi ngay lập tức. Chúng luôn luôn ở trong trạng thái trôi chảy liên tục. Bản chất cố hữu của chúng là khởi lên và biến mất đi. Trạng thái hiện hữu ngắn ngủi và nhất thời là bất toại nguyện. Những gì bất toại nguyện chính là khổ đau. Đến lúc này, bạn sẽ gặt hái được Chân Lý về sự khổ đau. Trạng thái giác ngộ này sẽ xóa tan vô minh-Avijjā. Do đó, khao khát hay tham ái-Tanhā sẽ thất bại trong việc khẳng định sự tồn tại của nó như là một đối tượng của tâm trí. Khi khao khát đã vắng mặt, tâm bám víu- Upādāna sẽ không thể hoạt động với vai trò đồng lõa với khao khát. Khi tâm bám víu đã không còn khởi lên thì những hành động thuộc về ý chí ( tức hành- Sankhāra) đã mất hết năng lực hoạt động ( nhằm thỏa mãn tâm khao khát có nguồn gốc từ trạng thái tiếp xúc giữa tâm trí và đối tượng của nó). Điều này có nghĩa là sự cấu thành nghiệp-kamma đã chấm dứt. Khi sự cấu thành nghiệp đã chấm dứt thì dĩ nhiên thức tái sanh- Patisandhi Viññāna cũng đã mất hết vai trò của nó. Vì vậy, sẽ không có một kiếp sống mới nào nữa xảy ra. Điều này cũng có nghĩa là, không còn sự xuất hiện của một uẩn nào nữa cả. Trạng thái vắng mặt của các uẩn đã cho thấy sự chấm dứt củakhổ đaunguyên nhân dẫn đến khổ đau. Khoảnh khắc khi bạn nhận thức được trạng thái chấm dứt này cũng chính là khoảnh khắc mà bạn đã đạt tới Niết-Bàn. Trạng thái đạt tới Niết-Bàn chỉ xảy ra trong một khoảnh khắc. Tuy nhiên khoảnh khắc đó là quí giá nhất. Sự chú ý để nhận biết được bản chất rốt ráo của các hiện tượng cũng tương đương với trạng thái chấm dứt của thế giới trần tục- Lokiya thông qua sự hiểu biết được Chân Lý về con đường chấm dứt khổ đau. Do đó, theo nghĩa thông thường, có thể nói rằng, Bốn Chân Lý Cao Thượng thường xuyên trú trong thân thể của những hành giả thực hành thiền nội quán. Khi đã gặt  hái được kiến thức về trạng thái tâm thanh thản đối với 5 uẩn – Sankhārupekkha Nàna, người sẽ đạt tới năng lực định tâm trong thiền.

Đến lúc đó, hành giả sẽ nhận thấy rằng thân thể của chính mình, trạng thái tiếp xúc của các giác quan với những đối tượng của chúng và sự nhận thức đã hoàn toàn chấm dứt. Vì vậy, Kinh nói thêm rằng : “ Niết-Bàn nằm ngay trong thân thể này. Người ta cần phải chấm dứt được trạng thái tiếp xúc và hoạt động của các giác quan. Kết quả của trạng thái chấm dứt này chính là sự nhận thức được Niết-Bàn bình yên, thông qua con đường hiểu biết của những Bậc Cao Thượng. Các nhà chú giải Kinh điển cũng nói thêm rằng : “ Trong thân thể sâu thăm thẳm này, người ta có thể tìm ra bản chất của vũ trụ - nơi Chân Lý về khổ đau, Chân Lý về nguyên nhân của khổ đau, Chân Lý về trạng thái chấm dứt của khổ đau và Chân Lý về Bát Chánh Đạo có thể được khám phá. Bạn thân mến của tôi ! Bạn nên biết rằng với những lời lẽ này, tôi không nói là Bốn Chân Lý Cao Thượng hiện hữu trong những đối tượng vô tri vô giác như cỏ cây. Tôi chỉ nói rằng trong thực tế, thân thể của người ta luôn luôn chứa đựng Bốn Chân Lý nền tảng này”. Chân Lý về sự khổ đau xuất hiện một cách hiển nhiên khắp mọi nơi. Tuy nhiên, Chân Lý về nguyên nhân của khổ đau có thể trích dẫn ra từ bản chất cố hữu của những người trần tục - những người chưa có khả năng loại bỏ được những thứ ô nhiễm trong tâm trí. Trước khi có khả năng bước đi trên Đạo, người ta có thể nhận ra nguyên nhân của khổ đau thông qua việc thực hành nội quán về thân thể của riêng họ. Nói theo ngôn ngữ qui ước, Chân Lý về trạng thái chấm dứt nguyên nhân của khổ đau luôn luôn hiện hữu trong những người cao thượng. Họ luôn cảm thấy chán ghét đối với những thứ cặn bã ô nhiễm và các uẩn còn sót lại trong tâm trí của họ. Tuy nhiên, đối với các vị A-La-Hán, ô nhiễm đã bị loại bỏ hoàn toàn. Bốn Chân Lý Cao Thượng nằm trong Bát Chánh Đạo có thể khám phá được ngay trong thân thể của những vị A-La-Hán đã gặt hái được Đạo Quả. Điều này có ý nói rằng, người ta chỉ có thể nhận thức được Niết-bàn  bằng cách loại bỏ hoàn toàn danh sắc và những thứ phát khởi đồng thời với chúng.

 

       

 

     Khổ đau và nguyên nhân của nó đã trở nên rõ ràng trong quan niệm

 

Như đã nói ở trên, tôi đã chỉ ra thế nào là trạng thái tâm bám víu vào 5 uẩn thông qua sự tương tác qua lại giữa mắt, tai, mũi… và các đối tượng của giác quan như hình ảnh, âm thanh, mùi…Bây giờ với ngôn ngữ thông thường, tôi sẽ nói về sự tương tác qua lại giữa tâm trí và các đối tượng của nó, tâm bám víu vào 5 uẩn, trạng thái nội quán về bản chất của tư tưởng sẽ chỉ ra chân lý có liên quan đến khổ đau và nguyên nhân của khổ đau. Chắc hẳn bạn đã biết được tư tưởng nằm ở đâu !  Dĩ nhiên, tư tưởng phải nằm trong thân thể và trong tâm của chúng ta. Cũng có thể nói, tư tưởng nằm trong các đối tượng của tâm trí. Tùy thuộc vào 3 nhân tố thuộc về một tiến trình tư tưởng ( khởi lên, phát triểntan hoại), trạng thái suy nghĩ, ý định và khao khát…sẽ khởi lên. Nếu thất bại trong sự chú ý để nhận thức được bản chất thật sự của tiến trình này, có thể bạn sẽ tin rằng toàn bộ thân thể vật chất và tinh thần chính là bản thân bạn. Ở đây, bạn có thể nói về bản ngã của mình như “ tôi là” hoặc “ đây là thân thể của tôi”, “ tôi là người đang suy nghĩ”, “ đây là tư tưởng của tôi”, “ tôi là đối tượng của tâm trí”… Bạn có thể trình bày những quan niệm giống như thế đang hiện hữu trong tâm của mình. Tuy nhiên, thật ra tất cả những pháp đã khởi lên khi bạn suy nghĩ và cố gắng nhận biết những gì mình đang suy nghĩ đều là những trạng thái tâm bám víu vào 5 uẩn- Upādānakkhandhā. Năm uẩn chính là một đống khổ đau. Bây giờ, bạn sẽ hiểu về Chân Lý của khổ đau.

Tâm bám víu vào 5 uẩn có thể được phân loại theo cách trình bày dưới đây :

1. Vào lúc quan niệm xảy ra, tinh thầnthân xác là những hình thức mà ở đó tâm trí bắt đầu hoạt động. Chúng cấu thành tâm bám víu vào sắc uẩn – Rūpupādanakkhandhā.

2. Tiếp đến là sự xuất hiện của tư tưởng. Tất cả những tư tưởngquan niệm cấu thành trạng thái bám víu vào nhận thức – Viññānupādānakkhandhā.

3. Tiếp đến cảm tưởng sẽ khởi lên. Cảm tưởng là sự phân biệt giữa trạng thái dễ chịu và khó chịu thông thường. Cảm tưởng cấu thành tâm bám víu vào cảm giác- Vedanupādā-nakkhandhā. Tiếp đến,những khả năng tri giác ( tức tưởng- Sannā) sẽ phát khởi sự chú ý đến các đối tượng của tâm trí. Những khả năng tri giác lại cấu thành tâm bám víu vào tưởng –Sannupādānakkhandhā.

4. Tiếp đến những trạng thái cấu thành tinh thần ( tức hành-Sankhāra) sẽ xảy đến. Những trạng thái cấu thành tinh thần lại cấu thành tâm bám víu vào hành - Sankhārupādānakkhandhā. Cuối cùng là các uẩn sẽ sản xuất ra ý muốn hay ý chí rất dễ nhận biết. Bạn có thể tìm thấy ý muốn ở khắp mọi nơi. Khi năng lực nhận thức đã phát triển thông qua các hành động nhìn , nghe, ngửi… Trạng thái cấu thành tinh thần sẽ được xác định thông qua tư duycảm xúc. Đây chính là cách mà tâm khao khát và bám víu vào cảm giác dễ chịu đã khởi lên. Khi nhìn hay nghe một cái gì, bạn sẽ phân biệt được rằng nó tốt hay xấu, dễ chịu hay khó chịu, thiện lành hay bất thiện. Khi những sự vật nào có khả năng hấp dẫn và lôi cuốn được sở thích của bản thân thì bạn sẽ cho rằng chúng là dễ chịu. Tuy nhiên, khi bắt gặp những đối tượng không ưng ý, thì tâm trí của bạn sẽ phát khởi trạng thái sân hận, chán ghét và ghê tởm. Điều này sẽ khiến cho bạn phát triển tính ích kỷ và tự cao ngã mạn. Một cách tự nhiên, tính ích kỷ và tự cao ngã mạn sẽ thuyết phục và trói buộc bạn vào những quan điểm lầm lạc. Tiếp đến, tính hoài nghi, ganh tị, lo âu và bồn chồn sẽ theo sau và làm cho bạn buồn khổ. Nói cách khác, nếu muốn, bạn vẫn có thể phát triển được những tư tưởng thiện lành như :  Có niềm tin sáng suốt, biết thực hành bố thí, luyện tập sự chú ý… Thậm chí bạn cũng có thể trở thành người ôn hòa, tử tế, giàu lòng trắc ẩn… Khi bạn đã có năng lực nhận thức đúng đắn về các đối tượng của giác quan mà mình quan sát được, lức đó đối với bạn, tất cả những xu hướng tư tưởng, dù thiện lành hay bất thiện cũng đều là trạng thái cấu thành tinh thần – Sankhārakkhandhā ( tức hành uẩn). Khi bạn có ý định muốn ngồi xuống hay đứng lên, bước đi hay nói năng một điều gì thì hành sẽ bắt đầu hoạt động. Nếu ý chí của bạn là thiện lành thì nghiệp thiện lành- Kusala kamma sẽ được hình thành. Nếu ý chí là bất thiện thì nghiệp bất thiện- Akusala kamma sẽ được hình thành. Thế giới của những hình thức bám víu vào 5 uẩn đích thực là vũ trụ này. Vì vậy, vũ trụ này đúng là một đống khổ đau. Những người không thực hành thiền nội quán để gặt hái được năng lực hiểu biết đúng đắn về thực tại tuyệt đối của khổ đau sẽ có thói quen thích phát triển những cảm giác vui vẻ lầm lạc, thông qua tư tưởng và quan niệm của chính họ. Thậm chí, khi đang đối diện với khổ đau cùng cực, họ không chịu nhìn nhận bản chất thật sự của đời sống là như vậy mà còn hy vọng sẽ cải thiện được hoàn cảnh đó một cách mù quáng, cũng như mong đợi những cảm giác vui vẻ và phấn khởi hơn sẽ xảy đến. Họ tỏ ra hài lòng với quan niệm về trạng thái hiện hữu của bản ngã. Từ lâu, họ đã làm cho quan niệm về trạng thái hiện hữu của bản ngã ngày càng phát triển thêm và nhầm tưởng rằng khổ đau là hạnh phúc. Theo cách này, tâm bám víu sẽ dần dần lớn mạnh trong họ. Do đó, họ sẽ tận dụng tất cả những khả năng của bản thân trong sự nổ lực làm thỏa mãn những khao khát của chính mình. Để tự an ủi chính mình, họ không hề do dự thực hiện những hành động sát sanh, trộm cướp, lừa đảo và nhiều tội lỗi khác. Tuy nhiên trên một phương diện khác, họ vẫn có thể thực hiện những hành động thiện lành với quan điểm tích lũy phước báu cho kiếp sống tương lai trong sanh tử luân hồi. Trạng thái cấu thành của nghiệp sẽ khởi lên đúng theo những hành động thiện lành hay bất thiện mà họ đã từng thực hiện. Khi đang hấp hối, nghiệp, những dấu hiệu của nghiệpdấu hiệu nơi sẽ tái sanh vào sẽ xuất hiện như là các đối tượng của giác quan. Hình thức xuất hiện của các dấu hiệu hay sự báo trước này sẽ tùy thuộc vào những gì mà họ đã từng chứa chấp trong tâm trí. Theo cách nói thông thường, thức tái sanh đã được hình thành trong một kiếp sống mới là nơi sẽ làm sống lại sự tương tác qua lại giữa các giác quan với những đối tượng của chúng, trước khi sản sinh ra trạng thái tâm bám víu, khao khát và dính mắc. Chính những trạng thái tâm bất thiện này đã khiến cho khổ đau luân hồi phát khởi. Toàn bộ sợi dây khao khát, bám víu, nghiệp và trạng thái đang hiện hữu không nói lên được một điều gì có ý nghĩa. Nó đích thực là Chân Lý về sự khổ đau. Chỉ khi sợi dây này đã bị cắt đứt bằng trạng thái tâm thanh thản đối với các pháp hữu vi thì Niết-Bàn sẽ được thiết lập. Vì vậy, Đức Phật đã từng nói : “ Những người thực hành thiền nội quán nên biết rằng, nơi nào tâm và trạng thái nhận thức của nó đã chấm dứt, nơi ấy sẽ có trạng thái chấm dứt chức năng của tất cả các giác quan. Trạng thái chấm dứt này chính là Niết-Bàn”. Trong Kinh, từ Màna- tự cao tự đại cũng được xử dụng. Ở đây, từ này cần phải được giải thích một cách rõ ràng và dễ hiểu hơn. Từ Mana được xử dụng với quan điểm phối hợp hai kiểu nhận thức, cụ thể là Bhavanga ( Dòng hộ kiếp hay nhận thức thụ động, có thể tạm gọi là tiềm thức-ND)  và Avajjana ( Nhận thức chủ động hay nhận thức nắm bắt, tức ý thức - ND). Bhavanga là trạng thái tâm xuất hiện khi chúng ta nằm mơ hay nữa tỉnh nữa mơ. Nó không đóng vai trò quan trọng như Avajjana. Trong khi đó, Avajjana tiến lại gần đối tượng và quan sát đối tượng một cách chặt chẻ, nhờ nó mà chúng ta có thể nhận biết được trạng thái chấm dứt của đối tượng. Trong Kinh, từ Dhamma sannā- Tưởng pháp cũng được xử dụng đến. Từ này có nghĩa là nhận biết các đối tượng của giác quan hay khả năng tri giác thông qua giác quan. Tuy nhiên, chúng ta thường dịch từ này là Tâm trí- Citta cho dễ hiểu. Vì vậy, tôi đã định nghĩa sự nhận thức chủ động- Avajjanatâm trí cho đơn giản và dễ hiểu. Vậy trạng thái chấm dứt ở đây có nghĩa là gì ? Nó có nghĩa là loại bỏ tâm trí ra khỏi đối tượng của nó hay loại bỏ tâm trí theo cách nói chung chung ? Hay loại bỏ trạng thái nắm bắt đối tượng của tâm trí ? Đây chính là 3 phương diện hoạt động chủ yếu của tâm.

Sự chấm dứt 3 phương diện hoạt động của tâm biểu thị trạng thái tiêu hủy của tất cả những sự cấu thành. Trong khi đó, trạng thái tiêu hủy của tất cả những sự cấu thành lại nằm trong Niết-Bàn. Vì vậy, trạng thái chấm dứt này chỉ có thể nhận thức được bằng cách thực hành thiền nội quán. Khi tâm trí có khuynh hướng thiên về Niết-Bàn, tất cả những cách thế nhận thức sẽ chấm dứt. Điều này có nghĩa là hành giả đã gặt hái được Đạo Quả.

 

                       Khám phá Niết-Bàn, nơi tận cùng của vũ trụ

 

Trong phần thứ ba của bài thuyết Pháp, tôi đã chỉ ra rằng, khi bạn chú ý đến trạng thái thấy của chính mình thì chức năng của nhãn xứ hay nhãn thức sẽ bị tan hoại. Khi bạn chú ý đến trạng thái nghe của chính mình thì chức năng của nhĩ xứ hay nhĩ thức sẽ bị tan hoại. Khi bạn chú ý đến trạng thái ngửi thì chức năng của tỷ xứ hay tỷ thức sẽ bị tan hoại. Khi bạn chú ý đến hiện tượng nếm thì chức năng của thiệt xứ hay thiệt thức sẽ bị tan hoại. Khi bạn chú ý đến trạng thái xúc chạm của thân thể thì chức năng cảm giác của thân thể hay thân thức sẽ bị tan hoại. Khi bạn chú ý đến ý tưởng trong tâm trí thì chức năng hoạt động của tâm trí hay ý thức sẽ bị tan hoại. Chúng ta biết rằng những trạng thái tan hoại này chính là sự chấm dứt của hình ảnh, âm thanh hay tiếng động, mùi, vị, xúc giác và ý thức tại 6 nội xứ. Những trạng thái tan hoại này biểu thị sự nhận thức được Chân Lý về sự chấm dứt nguyên nhân của khổ đau. Chân lý này không thể khám phá ra bằng cách suy nghĩ hay tưởng tượng mà bằng thực tế hành thiền trên đề mục danh sắc, cho đến khi gặt hái được kiến thức về trạng thái tâm thanh thản. Chân lý đã nhận thức được sẽ khiến cho bạn tin chắc rằng, tất cả các pháp hữu vi đều là khổ đau. Bạn sẽ đi tới kết luận rằng khao khát tự nó đã là khổ đau. Khi khao khát đã bị xua tan thì một kiếp sống mới sẽ không còn khởi lên nữa. Trạng thái toàn giác của Đức Phật biểu thị một sự chiến thắng tuyệt đối qua quá trình chinh phục tham ái hay khao khát của chính Ngài : “ Anekajati samsāram, sandhāvissam anibbisam Gahakāram gavesanto, dukkhā jati punoppunam. Gahakāra ditthosi, puna geham na kāhasi, Sabbā te Phāsukā bhaggā, gahākutam visnakkhatam. Vīsakharagatam, cittam, tanhānam khayamajjhagā”. Đoạn Kinh này có nghĩa là : “ Tôi đã đi xuyên qua vòng tái sanh luân hồi, cố tìm cho được người thợ đã xây ngôi nhà 5 uẩn này nhưng không có hiệu quả vì còn thiếu trí tuệ. Thay vào đó là trạng thái khổ đau cùng cực triền miên ! Hỡi người thợ xây ! Ta đã chịu ơn nhà ngươi ! Bây giờ nhà ngươi sẽ không còn xây được một ngôi nhà nào nữa, xà và rui trong ngôi nhà của ngươi đã bị kéo đổ, nóc nhà đã bị dở bỏ. Tâm trí của ta đã có khuynh hướng nghiêng về trạng thái tiêu hủy của tất cả những hình thức cấu thành nghiệp, tận diệt những khao khát”. Phải nói thêm rằng người thợ xây nhà nói trên chính là khao khát hay tham ái. Chính người thợ này đã xây dựng ngôi nhà 5 uẩn trong luân hồi sanh tử, đã mang đến sự trở thành. “Ông ta” chính là nổi kinh hoàng nhất trong những khổ đau cùng cực mà muôn loài chúng sanh có thể gặp phải. Nếu như bạn không khám phá ra người thợ xây này, “ông ta” sẽ tiếp tục xây dựng những căn nhà khổ đau và mãi mãi sẽ làm như thế. Có lẽ bạn không hề muốn mình bị đọa xuống những cảnh giới thấp kém. Tuy nhiên, tâm khao khát cứ khăng khăng nài nỉ bạn hãy vào trú trong căn nhà do nó dựng lên. Chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy khao khát nếu thất bại trong việc gặt háiTrí Tuệ Chánh Giác- Sammāsambhodhi Ñāna. Trước khi nhận thức được loại trí tuệ này, bạn đã đi lòng vòng nhiều lần trong vô lượng kiếp tái sanh. Cho đến giờ khi những ngôi Bảo-Tháp đã được Thánh hóa, theo truyền thống, những Phật tử Miến Điện vẫn thường có thói quen tụng đọc 2 bài Kệ trong tác phẩm Phật Tự Thuyết- Udāna. Trái lại, những người thế tục ( không theo Giáo Hội Phật Giáo) cũng thường tụng đọc bài Kinh nói về luật nhân quả- Paticcasamuppāda trong khi cử hành các nghi lễ. Định luật này đã từng được Đức Phật lấy làm đề mục hành thiền trong suốt 7 ngày cuối cùng khi Ngài đạt tới Toàn Giác. Nghi Lễ Thánh Hóa – được người Miến Điện gọi là Anekazatin. Cách thực hành này không thịnh hành ở Thái Lan và Tích Lan.

 

                       Không có chỗ đứng vững chắc - Appatittha

 

Điều quan trọng là bạn cần phải chú ý đến cái gì khi Niết-Bàn không có chỗ đứng chắc chắn. Nó không tọa lạc ở đâu cả. Khi chúng ta nói Niết-Bàn trú trong thân thể sâu thẳm này, có nghĩa là chúng ta muốn nói về nó theo phép ẩn dụ. Điều này đã được nhấn mạnh nhiều lần. Không còn nghi ngờ gì nữa, trong thực tế, Chân Lý về khổ đauDukkha SaccaChân Lý về nguyên nhân của khổ đau – Samudaya Sacca xuất hiện một cách hiển nhiên trong thân thể của tất cả mọi người. Magga Sacca – Chân Lý về Đạo tiềm tàng trong hành giả thực hành thiền nội quán có tâm hướng đến Con Đường Cao Thượng- Ariya Maggani ( tức Bát Chánh Đạo). Chân Lý về trạng thái chấm dứt nguyên nhân của khổ đau – Nirodha Sacca chính là Niết-Bàn. Chân lý này nằm trong thân thể của một Bậc Cao Thượng nào đó. Bậc Cao Thượng này là người có khuynh hướng nghiêng về phía Đạo Quả. Vì vậy có thể nói rằng, nó luôn luôn hiện diện trong thân thể của những vị A-La-Hán. Tuy nhiên, ở đây không có ý nói rằng Niết-Bàn thực sự tồn tại trong thân thể của một Bậc Cao Thượng như là một loại vật chất thuộc về thế giới cảm giác. Trong tâm của một Bậc Cao Thượng, tất cả những thứ ô nhiễm đã bị tiêu hủy. Trạng thái tiêu hủy này đã tạo ra một nơi chốn trong lối nói văn hoa bóng bẩy. Nó được đề cập đến một cách dứt khoát trong sách Thanh Tịnh Đạo- Visuddhi Maggani như sau : “ Niết-Bàn không có vị trí. Tuy nhiên, khi nói về trạng thái chấm dứt của những thứ ô nhiễm thì nơi mà chúng tan hoại đi đã được đề cập tới như là một vị trí xác định. Vì vậy, vị trí được xác định ở đây chỉ có tính ẩn dụ”. Theo cách nói thông thường thì chức năng đáng yêu của đôi mắt và lòng khao khát về nó đã bị dập tắt. Trong thực tế, bạn không thể tọa lạc tại một nơi chốn không hề có. Do đó, tọa lạc tại Niết-Bàn chỉ là cách nói văn hoa bóng bẩy mà thôi. Vi Diệu Pháp đã nói về điểm này một cách dứt khoát. Rõ ràng, trạng thái Niết-Bàn là nằm ngoài thân thể. Trạng thái này đã hoàn thành bên ngoài thân thể

( Bahiddha). Vì vậy chúng ta nói, Niết-Bàn là không trú tại đâu cả, nó không có nơi cư trú và vị trí. Khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp về Niết-Bàn một cách nghiêm túc và tôn kính, cầu chúc cho tất cả quí vị nhanh chóng đạt tới Niết-Bàn để chấm dứt khổ đau, thông qua việc khám phá ra chân lý về khổ đau và thực hành thiền minh sát.

 

 

                                 Về bản chất của Niết-Bàn   

                                                               Phần V

Bài thuyết Pháp ngày mồng 8 trăng tròn tháng Thadingyut năm 1326 theo lịch Miến Điện, tức nhằm ngày 14 tháng 10 năm 1964.

Đây là phần diễn thuyết về Niết-Bàn tiếp theo của tôi. Phần này mô tả trạng thái chấm dứt của tất cả các nguyên nhân cấu thành nghiệp, khi những thứ ô nhiễm đã mất hết khả năng tạo thành những uẩn mới.

 

                             Trạng thái chấm dứt của khao khát

 

Vānalà một từ có nguồn gốc từ Nibbāna- Niết-Bàn. Từ này có nghĩa là khao khát được sống còn trong khoái lạc- Kāmmabhava, khao khát được sống còn trong cõi vật chất – Rūpabhava, khao khát được sống trong cõi tinh thần- Arūpabhava. Đây là trạng thái tâm ham muốn những đối tượng của cảm giác và tư tưởng. Trạng thái tâm này có thể xảy đến như là một đối tượng có qui trình hoạt động hoặc không có qui trình hoạt động. Nó di chuyển như con thoi dệt vải. Thật ra, nghĩa gốc của từ vūna cũng có liên quan đến ngành dệt. Theo sự tưởng tượng mà con người có thể nghĩ ra, kiếp sống quá khứ, hiện tại và tương lai là một mẫu dệt có nhiều màu sắc sặc sỡ. Mục đích của Niết-Bàn là giải phóng muôn loài chúng sanh ra khỏi nanh vuốt của khao khát hay tham ái.

Kinh nói rằng “ Vānato nikkhantanti nibbānam”. Câu này có nghĩa “ Niết-Bàn là trạng thái thoát khỏi tâm khao khát”. Một sự bình luận có tính tôn giáo khác nói rằng : “ N’ atthi vanam etthati Nibbānam”. Câu này có nghĩa là “ Khao khát không ở trong Niết-Bàn”. Những điều này chỉ ra rằng Niết-Bàn không phải là đối tượng của khao khát. Dục tình là trạng thái tâm khao khát những cảm giác, có phần khác với tình dục là trạng thái hoạt động thuần túy về giới tính. Việc ham muốn những cảm giác dễ chịu có nguồn gốc từ các giác quan như : Mắt, tai, mũi, lưỡi… Dục tình sẽ cảm thấy mệt mỏi khi thiếu vắng 5 trạng thái cấu thành các cảm giác dễ chịu. Khao khát phát triển trong thế giới vật chất và cả trong thế giới tinh thần. Những người bị khao khát ám ảnh sẽ không thể nhận thức được trạng thái bệnh hoạn của tâm tham muốn được sống còn.

Vì vậy, họ không có liên quan gì với Niết-Bàn, nơi không có sự trở thành. Con người thường hay cầu nguyện cho mình có thể đạt tới Niết-Bàn. Tuy nhiên, một đằng họ nói rằng muốn di chuyển đến đó ngay lập tức, một đằng khác họ lại tỏ ra ngập ngừng vì tiếc nuối kiếp sống hiện tại. Họ chưa có thái độ dứt khoát khi hướng đến Niết-Bàn như câu chuyện kể về một người mộ Đạo được trình bày dưới đây :

 

                                            

                                       

                                  Hãy để tôi cân nhắc đến nó

 

Một người thế tục mộ Đạo cầu nguyện trước ảnh tượng của Đức Phật rằng, anh ta mong muốn đạt tới Niết-Bàn càng sớm càng tốt. Vì thường xuyên nghe lời cầu nguyện của anh ta, một người thích đùa nọ đã nấp sau bức tượng Phật và giả giọng nói vang vang như sấm của các vị Thánh nhân ở cõi trên : “ Nhà ngươi  cầu nguyện như thế là đủ rồi. Hôm nay ta sẽ gửi nhà ngươi đến với Niết-Bàn”. Người khao khát đạt tới Niết-Bàn nọ đã trả lời : “ Tốt quá ! Nhưng hãy để cho tôi trở về nhà hỏi ý kiến của vợ tôi đã”. Khi vừa về đến nhà, người mộ Đạo nọ liền đem câu chuyện vừa chứng kiến thuật lại cho vợ của anh ta nghe để tìm kiếm lời khuyên. Người vợ nói : “ Ông quả là một người may mắn ! Đừng do dự gì nữa, hãy nhanh chân lên !”. Người mộ Đạo ngờ nghệch nọ lại hỏi tiếp :

“Tôi đang cân nhắc rằng khi mình đã tới Niết-Bàn rồi không biết bà ở nhà có quán xuyến công việc của gia đình hay không nữa ?” Người vợ lại nói : 

“ Cứ đi đi ! Đừng lo gì cả ! Nếu tôi là ông thì tôi chẳng cần cân nhắc điều gì nữa đâu !”. Người chồng vặn vẹo : “ Mặc dù bà không muốn cân nhắc về chuyện đó nhưng hãy để cho tôi cân nhắc chứ !”. Thật ra, câu chuyện vừa kể là không có thật. Tuy nhiên, nó cũng thoang thoảng hương vị của chủ nghĩa hiện thực phải không quí vị ?

 

           Bất đắc dĩ phải tìm kiếm phước báu để có thể đạt tới Niết-Bàn

 

Tích lũy phước báu bằng cách thực hành thiền nội quán sẽ mang người ta lại gần Niết-Bàn hơn. Tuy nhiên, trong thực tế rất ít người làm như vậy. Chúng ta thường gặp nhiều khó khăn trong việc thuyết phục một người mộ Đạo thực hành thiền. Ví dụ như trường hợp của hoàng hậu Khemà, vợ của Đức vua Bình Sa- Bimbisāra chẳng hạn. Mặc dù nhà vua là một người rất mộ Đạo. Tuy nhiên, hoàng hậu vẫn chưa một lần viếng thăm Đức Phật. Nhà vua đã từng xử dụng nhiều mưu kế để thúc giục bà đi đến tu viện, nơi Đức Phật đang trú ở đó. Trong một lần diện kiến Đức Phật, Khemà đã trở thành A-La-Hán trong khoảnh khắc khi bà đang lắng nghe Ngài thuyết Pháp. Cũng có một câu chuyện tương tự khác kể về Kàla, con trai của Đức ông Cấp Cô Độc – Anāthapindika. Theo cách nói của người Miến Điện, hãy để chúng tôi gọi tên anh ta là Maung Kāla

 

                                           

 

 

                                               Maung Kāla

 

Triệu phú Cấp Cô Độc – Ānathapindika nghe tin về Đức Phật khi ông đang làm ăn buôn bán tại Vương Xá- Rājagaha. Ông đã đến viếng thăm Đức Phật và lắng nghe Ngài thuyết Pháp. Ngay lập tức, Cấp-Cô-Độc đã trở thành một Tu-Đà-Hườn và cung thỉnh Đức Phật đến trú tại Xá Vệ- Sāvatthī. Ông đã mua lại ngôi vườn của thái tử Kỳ Đà- Jeta với giá 180 triệu đồng bạc để xây dựng một ngôi tu viện. Ông cũng đã bỏ ra khoảng chừng ấy tiền nữa cho việc xây dựng ngôi tu viện này và tổ chức một buổi lễ thảy rượu cúng để khánh thành. Buổi lễ này cũng tiêu tốn khoảng 180 triệu đồng bạc. Sau đó, Cấp- Cô-Độc đã dâng cúng ngôi tu viện nói trên cho Đức Phật và các đệ tử của Ngài. Trong các ngày Xa-Bát ( Sabbath – Vào các ngày này thường có Lễ Bố Tát- Uposatha. Ngoài các ngày lễ lớn của Phật Giáo như :  Tam Hợp, Dâng Y Kathina…Hàng tháng có 4 ngày Xa-Bátmồng 1, mồng 8, ngày 15ngày 23 âm lịch. Đối với Do-Thái Giáo thì ngày Xa-Bát là thứ bảy, đối với Thiên-Chúa Giáo là ngày chủ nhật. Vào các ngày Xa-Bát, những tín đồ Do-Thái giáo và Thiên-Chúa Giáo nghỉ ngơi để thờ phụng Chúa. Những tín đồ Phật giáo thì đi đến các ngôi chùa hay tu viện để lễ Phật, thực hành giữ Giới, bố thí và thiền…ND), ông thường dâng cúng vật thực cho 500 vị Tỳ-kheo và khuyến khích những người trong gia đình của ông hãy thực hành giống như vậy. Mặc dù Cấp-Cô-Độc đã trở thành thí chủ - Kyaungdagā của tu viện Kỳ-Viên, nhưng con trai của ông là Maung Kāla vẫn chưa quan tâm đến Phật Pháp. Maung Kāla viện ra đủ lý do để nói rằng mình không có khả năng lãnh hội được Giáo Pháp của Đức Phật. Vào thời đó, đa số người ta đều theo dị giáo của Phú Lâu Na Ca Diếp – Purāna Kassapa. Ngoài ra cũng có rất nhiều giáo phái khác theo Thuyết Vật Linh.

Một số người thờ phụng Phạm-Thiên như là Chúa của họ. Trước khi Đức Phật Thành Đạo, Cấp-Cô-Độc cũng đã từng theo nhiều tôn giáo đa dạng khác.

Maung Kàla cũng đã từng theo nhiều trường phái dị giáo, anh ta cảm thấy thật bất tiện trong việc cải Đạo để theo một tôn giáo khác. Cấp-Cô-Độc đã suy nghĩ về sự thịnh vượng của con trai ông như sau : “ Con trai của ta không biết tôn kính Đức Phật. Nó không thể đánh giá đúng về Giới luật và Tăng đoàn của Ngài. Nó không có ý muốn đến thăm tu viện của Ngài. Tư tưởng của nó không có khuynh hướng muốn lắng nghe Giáo Pháp của Ngài. Nó không chịu làm bất cứ một việc gì vì lợi ích của các Tỳ-kheo, dù là một công việc vặt vãnh. Nếu chết đi như một kẻ dị giáo, chắc chắn nó sẽ bị đọa xuống A tỳ địa ngục- Avici. Con trai của một Phật tử mà không chịu theo Phật Giáo thì đúng là một điều cực kỳ không phải phép. Nếu con trai của ta bị đọa xuống địa ngục khi ta đang còn sống, nó sẽ trở nên tồi tệ nhất. Thông thường thì đồng tiền có thể thay đổi được tư tưởng của nhiều người. Để nó chịu đến tu viện nghe Đức Phật thuyết Pháp, ta phải liều lĩnh hối lộ cho nó một số tiền mới được”. Vì suy nghĩ như vậy, nhà triệu phú bèn nói với con trai của ông rằng ông sẽ cho anh ta 100 đồng bạc nếu anh ta chịu đến tu viện để nghe Đức Phật thuyết Pháp. Sau đó, Maung Kàla đã chấp nhận lời đề nghị của cha mình. Khi đã đến tu viện mà Đức Phật đang cư trú, anh ta chọn cho mình một góc ấm cúng và nằm ngủ ngon lành, không hề chú tâm lắng nghe thuyết Pháp. Khi Maung Kāla trở về đến nhà, Cấp-Cô-Độc sai người dọn cho con trai mình một bữa ăn thịnh soạn và tin rằng anh ta đã giữ gìn ngày Xa-Bát theo Luật định. Maung Kāla luôn luôn quan tâm tới số tiền mà cha mình hứa cho, anh ta chỉ chịu dùng bữa ăn sau khi đã nhận được 100 đồng bạc. Ngày hôm sau, Cấp-Cô-Độc lại nói với con mình rằng, lần này ông sẽ cho Maung Kāla 1000 đồng bạc nếu anh ta chịu đến nghe Đức Phật thuyết Pháp, sau đó trở về nhà và thuật lại cho ông nghe một bài Kệ mà Ngài đã thuyết. Tiếp đến, Maung Kāla lại viếng thăm tu viện nơi Đức Phật đang cư trú. Lần này anh ta lắng nghe những lời thuyết Pháp của Đức Phật một cách cẩn thận. Lúc đó, Đức Phật đã đọc được tư tưởng của Maung Kāla, Ngài bèn cố ý thuyết ra nhiều bài Pháp đa dạng, bài này tiếp nối bài kia nhằm mục đích để cho Maung Kāla không thể nhớ nổi một bài nào cả. Như điều kiện đã cam kết với cha mình, Maung Kāla đã lắng nghe những bài thuyết Pháp của Đức Phật rất cẩn thận với một sự nổ lực đặc biệt nhằm nắm bắt được ý nghĩa của chúng. Khi đạt tới trạng thái hiểu biết một cách đúng đắn về những bài Pháp mà Đức Phật đã thuyết ra, niềm tin trong Maung Kāla đã phát triển một cách mạnh mẽ. Với trạng thái tinh thần đó, khi đang lắng nghe Đức Phật thuyết Pháp, cùng với những phước báu đã tích lũy được trong quá khứ, Maung Kāla đã trở thành một Tu-Đà-Hườn. Khi đã trở thành Tu-Đà-Hườn, niềm tin vào Phật pháp của Maung Kàla tự nhiên trở nên kiên định, tất cả những mối hoài nghi và quan kiến lầm lạc trong tâm trí của anh ta đã bị xua tan.Vào ngày ấy, Maung Kāla đã không trở về nhà sớm như mọi khi. Thay vào đó, anh ta đã ở lại với Đức Phật và những đệ tử của Ngài.

Khi Đức Phật và Tăng đoàn của Ngài đến thăm nhà Cấp-Cô-Độc để khất thực, Maung Kāla đã đi theo họ. Tuy nhiên khi vừa về đến nhà, Maung Kāla đã lo lắng rằng không biết cha của mình có vội vàng và cho anh ta 1000 đồng bạc một cách thiếu tế nhị hay không, khi có sự hiện diện của Đức Phật ? Bởi vì Ngài sẽ tỏ ra không vừa ý khi biết được rằng, sở dĩ Maung Kāla đã chịu đến tu viện nghe thuyết Pháp chỉ vì tiền. Lúc đó, một cảm giác xấu hổ đã xảy đến và bao trùm lên tâm trí của Maung Kāla. Như thường lệ, sau khi Đức Phật và các Tỳ-kheo đã được dâng cúng vật thực, Maung Kāla đã nhận lấy bữa ăn của mình nhưng không còn quan tâm đến số tiền mà cha anh ta đã hứa cho. Tuy vậy, Cấp-Cô-Độc đã tìm đến với con trai mình để cho anh ta số tiền như đã hứa và nói rằng đó là phần thưởng cho việc đã chịu đến tu viện để lắng nghe Giáo Pháp trong ngày Xa-Bát của anh ta. Maung Kāla đã tỏ ra vô cùng hối hận và từ chối số tiền 1000 đồng bạc từ tay cha mình đưa ra. Sau đó, Cấp-Cô-Độc đã đem câu chuyện của cha con ông thuật lại với Đức Phật và nói rằng vào ngày đó, con trai của ông đã tỏ ra rất hạnh phúc, thái độ của nó không giống như những lần trước, khi đang bị khao khát thống trị. Tiếp đến, Đức Phật đã nói rằng : “ Con trai của ông đã trở thành một Tu-Đà-Hườn, người cao thượng hơn cả một Đấng Quân Vương của vũ trụ, một Chư-thiên hay Phạm-thiên”.

 

               

 

 

             Tu-Đà-Hườn hơn xa một Đấng Quân Vương của vũ trụ    

 

Hầu hết mọi người đều thích làm vua. Làm một vị hoàng đế tốt hơn làm một người đứng đầu bộ lạc. Được làm một vị hoàng đế vĩ đại càng tốt hơn nữa.

Một vị hoàng đế có nhiều quyền lực hơn một vị lãnh chúa. Một Đấng Quân Vương cai trị toàn bộ một cõi trời có quyền lực lớn hơn một vị hoàng đế.

 Nếu trở thành một Đấng Quân Vương của vũ trụ- Cakkhavatti, người ta có thể cai quản cả 4 cõi trời, quyền lực của vị này thật không thể kể xiết.

Đấng Quân Vương của vũ trụ nắm giữ những quyền lực huyền bí và phát ra một thứ đức hạnh tinh khiết. Tất cả những vị hoàng đế đều phải thần phục ông ta. Bởi vì có đức hạnh cao cả, tất cả những gì mà một Đấng Quân Vương vũ trụ sở hữu đều phong phú, thống nhất và đúng đắn. Đấng Quân Vương vũ trụ tận hưởng một kiếp sống xa hoa lộng lẫy. Tuy nhiên, nếu so sánh với trạng thái tinh thần bình yên của một Tu-Đà-Hườn thì kiếp sống xa hoa lộng lẫy đó chỉ là một thứ tầm thường. Hạnh phúc của một Đấng Quân Vương của vũ trụ cũng phải chấm dứt khi thọ mạng của vị này đã hết. Nếu đã từng cai quản vũ trụ như một minh quân, sau khi chết, ông ta có thể được tái sanh vào cõi trời. Tuy nhiên, không có ai có thể nói một cách chắc chắn rằng, ông ta sẽ đạt tới Niết-Bàn hay bị đọa vào 4 cảnh giới thấp kém. Mặt khác, đối với một người mộ Đạo đã trở thành Tu-Đà-Hườn, tất cả những cánh cửa dẫn đến các cảnh giới thấp kém đã bị đóng lại. Nếu tái sanh vào cõi trời, một Tu-Đà-Hườn chỉ còn phải sống trong luân hồi tối đa là 7 kiếp. Sau đó, vị này sẽ trở thành A-La-Hán, thoát khỏi luân hồi khổ đau sau khi đạt tới Đại-Niết-Bàn. Do đó, Đức Phật đã tán dương Maung Kàla, người đã sở hữu một kiếp sống hơn xa một Đấng Quân Vương của vũ trụ.

 

           Tu-Đà-Hườn cũng hơn xa một Chư-Thiên hay Phạm-Thiên

 

Một Tu-Đà-Hườn cao thượng hơn một Chư Thiên - Deva hay một Phạm Thiên- Brahma. CõiTứ Đại Thiên Vương- Catumaharajika nơimà các vị Chư-thiên trú ở đó là cảnh giới thấp nhất so với nhiều cõi trời khác trong vũ trụ. Tuy nhiên tại cõi trời đó, các vị Chư-thiên cũng hưởng được tuổi thọ rất cao. Một ngày trên cõi trời này tương đương với 50 năm ở địa cầu. Một Chư-thiên sống tại Catumaharajika có tuổi thọ là 500 tuổi trời, tương đương với 9 triệu năm trong cõi người. Con người có tuổi thọ là 100 tuổi địa cầu. Các Chư-thiên có tuổi thọ gấp 90 ngàn lần tuổi thọ của loài người. Những Chư- thiên không những hưởng được tuổi thọ cao mà còn có diện mạo rất xinh đẹp. Họ được tận hưởng hạnh phúc hơn con người của chúng ta gấp nhiều lần. Những Chư-Thiên sống tại cõi trời Đạo Lợi- Tāvatimsa ( còn gọi là cõi Tam thập tam thiên) hơn xa những Chư-Thiên sống tại Catumahārajika. Tuổi thọ của họ dài gấp 3 lần tuổi thọ của những Chư-Thiên sống tại Catumahārajika. Nếu tính theo tuổi địa cầu thì những Chư-thiên sống tại cõi Tāvatimsa có tuổi thọ tương đương 36 triệu năm. Tuổi thọ tại cõi trời Dạ Ma – Yāma gấp 4 lần tuổi thọ tại cõi Tàvatimsa và tương đương với 144 triệu năm trên địa cầu. Nếu tính theo tuổi địa cầu thì tuổi thọ tại cõi trời Đẩu Xuất- Tusita là 576 triệu năm, tại cõi trời Nimmānarati là 2304 triệu năm và tại cõi trời Paranimmitavassavati là 9216 triệu năm. Mặc dù có tuổi thọ cao như vậy nhưng khi chết đi, những vị Chư-thiên sống tại các cõi trời nói trên cũng có thể bị tái sanh vào cõi người. Khi đã làm người, nếu phạm phải nhiều tội lỗi nghiêm trọng họ cũng sẽ bị đọa xuống 4 cảnh giới thấp kém. Không có một chúng sanh bình thường nào chưa đạt tới quả vị Tu-Đà-Hườn có thể đạt tới Niết-Bàn, mặc dù họ đã gặt hái được nhiều phép thần thông. Họ cũng chưa thoát khỏi luân hồi khổ đau. Do đó, chắc chắn họ sẽ trở thành đối tượng của tuổi già, bệnh tật và cái chết. Tu-Đà-Hườn là người đã vĩnh viễn thoát khỏi 4 cảnh sống thống khổ sầu muộn ( bao gồm cõi súc sanh, ngạ quỷ, a-tu-lađịa ngục). Họ chỉ còn sống trong luân hồi tối đa là 7 kiếp, trước khi đạt tới Niết-Bàn. Các vị Phạm-Thiên có cuộc sống cao thượng và tốt đẹp hơn những Chư-Thiên. Họ đã thoát khỏi sự lừa đảo của những trạng thái cấu thành các cảm giác dễ chịu. Họ cũng tận hưởng được một kiếp sống bình yên. Tuổi thọ tối đa của họ là 84 ngàn chu kỳ sanh diệt của thế giới ( tức 84 ngàn Đại Kiếp – ND). Tuy nhiên, những vị Phạm-thiên cũng không tránh khỏi cái chết. Họ sẽ trở lại thế giới cảm giác. Khi sống trong thế giới cảm giác, nếu vi phạm tội lỗi, họ cũng có thể bị đọa vào 4 cảnh giới thấp kém. Họ cũng sẽ là đối tượng của luân hồi khổ đau như tuổi già, bệnh tật và cái chết. Mặt khác, đối với những vị Tu-Đà-Hườn thì chẳng còn một cảnh giới thấp kém nào chờ đợi họ nữa cả. Họ sẽ đạt tới Niết-Bàn sau khi tiếp tục sống trong luân hồi tối đa là 7 kiếp.

 

              Tu-Đà-Hườn cũng hơn xa vua ở cõi trời Phạm-Thiên

 

Nếu vua của cõi trời Phạm-thiên không phải là một chúng sanh có khuynh hướng nghiêng về phía Phật Pháp, ông ta cũng không thể thoát khỏi luân hồi, cũng như 4 cảnh sống thấp kém. Một Tu-Đà-Hườn sẽ không còn sợ hãi bất cứ một cảnh giới thấp kém nào nữa. Vị này chỉ còn phải sống trong luân hồi thêm 7 kiếp nữa là tối đa, trước khi đạt tới Niết-Bàn và chấm dứt tất cả những nổi khổ đau. Những gì tôi muốn nhấn mạnh trong câu chuyện kể về Maung Kàla là :

 Đầu tiên, thật ra anh ta đã được dỗ ngọt và vỗ về để chịu lắng nghe Giáo Pháp của Đức Phật, mặc dù trong một thời gian dài ở quá khứ anh ta đã gặt hái được phước báu để chuẩn bị cho việc trở thành một Tu-Đà-Hườn. Thứ hai, khao khát là loại tâm bị Niết-Bàn cự tuyệt và tiêu hủy. Một người ôm ấp khao khát không thể nào biết lắng nghe những lời dạy dẫn đến Niết-Bàn. Ở đây, tôi cũng muốn nhắc nhở với bạn rằng, một Tu-Đà-Hườn đã thuộc về phạm vi của Niết-Bàn.

 Dĩ nhiên qua 7 kiếp sống còn lại trong luân hồi của một Tu-Đà-Hườn, vị này sẽ vẫn còn phải chịu đựng những nổi khổ đau. Tuy nhiên, cuối cùng một Tu-Đà-Hườn sẽ trở thành một A-La-Hán, người đã loại bỏ được tất cả những thứ ô nhiễm trong thân tâm. Những chúng sanh đang sống trong thế giới cảm giác luôn luôn khao khát những cảm giác dễ chịu sẽ khởi lên để thỏa mãn các giác quan. Những vị Phạm-thiên đã chấm dứt hết dục tình. Vì vậy, họ không còn bất cứ một khao khát nào đối với những cảm giác dễ chịu. Họ rất hạnh phúc trong trạng thái tinh thần đó. Tuy nhiên, đó không phải là thứ hạnh phúc phát xuất từ dục tình. Họ xem trạng thái vắng mặt của những cảm giác dễ chịu cũng giống như trạng thái vắng mặt của khổ đau. Những vị Phạm-thiên chỉ sống mà không cần ăn. Nơi không cần đến thức ăn, không có khao khát khởi lên là nơi tự nó đã là hạnh phúc. Nơi không cần phải đi khất thực hàng ngày là nơi không còn buồn lo. Mặc dù vậy, những chúng sanh có cảm giác thường rất yêu thích các loại vị giác dễ chịu. Nếu thiếu vắng chúng thì họ sẽ cảm thấy rất buồn khổ. Nơi nào vắng bóng trạng thái xúc chạm thì ở nơi đó, người ta không thể tận hưởng những cảm giác xúc chạm dễ chịu. Tuy nhiên, với trạng thái này, muôn loài chúng sanh vẫn có thể tận hưởng được hạnh phúc mà không cần đến tâm khao khát. Bởi vì theo tự nhiên, những người đã vào được trạng thái thiền khi đang còn sống trong thế giới hình thể sẽ cảm thấy hạnh phúc. Tuy nhiên, trạng thái hạnh phúc này không giống với thứ cảm giác dễ chịu mà những chúng sanh trong thế giới khổ đau thường quan tâm đến. Những người thế tục ( không quan tâm đến Phật Pháp) thường bị ám ảnh bởi lòng khao khát những cảm giác dễ chịu phát xuất từ sự đòi hỏi của các giác quan.

 

 Sự sống trong thế giới hình thể không giống với sự sống trong cõi vô sắc

 

Thế giới vô sắclà nơi tinh thầný chí giữ vai trò điều phối. Có bốn loại thế giới vô sắc, cụ thể là Ākāsānancāyatana – Không vô biên xứ, Viññanancāyatana – Thức vô biên xứ, Akinvannayatana – Vô sở hữu xứ,

Nevasannānāsansanāyatana – Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Những người đã vào được cõi thiền vô sắc- Arāpa Jhāna sẽ trú tại một trong bốn cảnh giới này, nơi vật chất hoàn toàn vắng mặt. Họ sống trong thế giới khái niệm, nơi không có trạng thái đau khổ thuộc về vật chất. Những người mang nghiệp khao khát cảm giác dễ chịu và bám víu vào vật chất thường không thích tái sanh vào thế giới vô sắc. Tuy nhiên, những người cư trú tại các cảnh giới vô sắc lại khá hạnh phúc với những điều kiện tâm lý của họ. Mặc dù vậy, cuối cùng họ cũng phải chết. Họ không nhận biết được sự xuất hiện của Đức Phật. Họ cũng không có khả năng đạt tới trạng thái Giác Ngộ Tối Thượng. Vì không có thân thể vật chất, họ thiếu các giác quan. Do đó, họ không thể giảng dạy hay học tập Phật Pháp. Không có vị Phật nào có thể dạy Giáo Pháp cho họ. Những chúng sanh trong cõi vô sắc có tuổi thọ rất cao, có thể là 20, 40, 60 hay 84 chu kỳ sanh diệt của thế giới. Tuy nhiên khi qua đời, họ có thể tái sanh vào thế giới cảm giác. ĀlaraUdaka là  những vị thầy tôn giáo đầu tiên của Bồ-Tát Cồ-Đàm, trước khi Ngài tu theo phương pháp khổ hạnh. Những vị thầy này đã đánh mất cơ hội quí giá được nhìn thấy ánh sáng của Giáo Pháp khi Đức Phật đạt tới toàn giác, bởi vì khi đó họ đã tái sanh vào một trong 4 cõi vô sắc – những cảnh giới cách xa con đường giải thoát. Nếu tái sanh vào một trong 4 cõi vô sắc như một người bình thường, chắc chắc họ sẽ không gặp được Đạo. Tuy nhiên, nếu tái sanh vào một trong 4 cảnh giới vô sắc như là một Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm hay A-Na-Hàm, bằng hạnh minh sát, họ có thể trở thành A-La-Hán và cuối cùng sẽ đạt tới Niết-Bàn.  

 

                       Khao khát không có quan hệ gì với Niết-Bàn

 

Trong Niết-Bàn Vô-Dư, 5 uẩn đã hoàn toàn tận diệt. Ở đó không còn xuất hiện bất cứ một loại khao khát ( tức tham ái – Tanhā) nào nữa, ví dụ như khao khát dục tình, khao khát vật chất hay tinh thần. Đa số người ta đều không tin rằng 5 uẩnsự cấu thành nghiệp là vô giá trị. Chúng là những yếu tố không được Niết-Bàn yêu thích. Khi chết đi, người ta cũng không thể bỏ chúng lại phía sau. Ngày hôm qua, tôi đã nói về Lākudāyi, một người còn thắc mắc rằng : “ Loại hạnh phúc nào trong Niết-Bàn có thể tránh được các cảm giác ?” Đối với ông ta, Niết-Bàn xuất hiện như là một đống khổ đau trong trạng thái vắng mặt của những cảm giác. Những người không có niềm tin vào Phật Pháp thường phát triển tâm bám víu vào 5 uẩn và sự cấu thành nghiệp. Họ tỏ ra đùa cợt khi quan niệm rằng Niết-Bàn cũng chỉ là một cái chết giống như bao cái chết khác. Quan điểm của họ là quan điểm khao khát Niết-Bàn. Tôi đã từng đề xuất ý kiến rằng khao khát không thể khởi lên trong Niết-Bàn. Ở đây, tôi muốn nói thêm :

Natthi vānametasmim adhigateti nibbāna – Khi đạt tới Niết-Bàn thì khao khát đã không còn hiện hữu”.

 

              Chân lý Cao Thượng về trạng thái chấm dứt của khổ đau

 

Trong Kinh Chuyển Pháp Luân – Dhammacakkapavattana Sutta. Chân lý về trạng thái chấm dứt của khổ đau – Nirodha sacca đã được chỉ ra như sau :

Katamancā bhikkhave dukkhanirāodho ariyasaccam ? Yo tassāyeva tanhāya asesavirganirodhoi cago pantinissaggo mutti anālayo. Ayam vaccat bhikkhave dukkhanirodho ariyasaccam”. Đoạn Kinh này có nghĩa là : “ Các Tỳ-kheo ! Chân Lý về trạng thái chấm dứt của khổ đau là cái gì ? Dứt khoát rằng sự giảm bớt và chấm dứt khao khát là thường xuyên chú ý đến nó, từ bỏ nó, thoát khỏi nó và tách rời khỏi nó. Hỡi các Tỳ-kheo ! Ta nói rằng đây chính là Chân Lý về trạng thái chấm dứt của khổ đau”.Ở đây, khao khát đã hoàn toàn bị tận diệt thông qua việc gặt hái được Đạo Quả A-La-Hán. Khi khao khát hay tham ái đã vắng mặt, những hành động sẽ không còn khởi lên và cuối cùng sẽ không có sự trở thành mới mẻ nào nữa, cũng như sẽ không còn tinh thần, vật chất và các uẩn. Vào ngày thứ 15 sau khi Thành Đạo, Đức Phật thực hành thiền với đề mục là “ Cốt tủy của Niết-Bàn”, một đề mục cực kỳ vi tế và khó hiểu. “ Idampi kho thànam duddasam, yadidam sabbasankhārasamatho sabbupadhipatinissaggo tanhākhayo virāgo nirodho nibbānam”. Đoạn Kinh này có nghĩa là : “ Trạng thái hiện hữu của Niết-Bàn được xác nhận là nơi mà tất cả những sự cấu thành đã chấm dứt, nơi mà tất cả những nền tảng của sự sống đã bị loại bỏ, nơi mà tất cả những khao khát đã bị tiêu hủy, nơi mà tất cả những nổi đam mê đã qua đi và nơi mà một đống khổ đau đã thật sự chấm dứt”.

 

                                  Bốn nền tảng của sự tái sanh 

 

Nền tảng của tái sanh- Upadhilà cái tạo nên chúng sanh hay trạng thái thành lập nơi trú ngụ của thân thể. Nơi trú ngụ đó có thể là dễ chịu hay khó chịu, hạnh phúc hay khổ đau. Có bốn loại nền tảng của tái sanh, đó là : Kāmupadhi, khandhupadhi, kilesupadhiabhisankhārupadhi. Kāmupadhi là 5 sự cấu thành những cảm giác dễ chịu. Năm sự cấu thành thành này chính là nguyên nhân của bệnh tật và bất hạnh. Tuy nhiên, những người thế tục thường cho rằng chúng có thể đem lại niềm hạnh phúc cho họ. Khandhupadhi có liên quan đến 5 uẩn và mang lại khổ đau cho chúng ta. Tuy nhiên, những người thế tục thường nói rằng 5 uẩn cũng là những nguồn hạnh phúc. Đối với họ, nhìn thấy những hình ảnh đẹp mắt hay nghe được những âm thanh êm tai, ngửi được mùi thơm hấp dẫn hay nếm được vị dễ chịu, có được cảm giác xúc chạm êm ái và những ý tưởng đắc chí là những điều đáng hưởng thụ. Tuy nhiên, đối với những vị A-La-Hán, đây chính là những cái gốc của khổ đau nói chung. Người ta thường lý luận rằng con người nổ lực làm việc là để sống và để thỏa mãn những nhu cầu, nếu không phải thế thì chúng ta nổ lực làm việc vì mục đích gì ? Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường cẩn thận gìn giữ những cái mà mình đã kiếm được bằng bất cứ mọi giá, thậm chí phải hy sinh cả mạng sống. Khi đã nhận thức được bản chất của nhu cầu ham muốn và khao khát, bạn sẽ thấy rằng những mối quan tâm của chúng ta thường mâu thuẫn lẫn nhau, nhất là khi có sự tranh chấp khởi lên giữa một nhóm bạn bè, hay anh chị em trong gia đình. Đối với chúng ta, mối quan tâm về tài sản vật chất thường được đặt lên hàng đầu. Khi mối quan tâm này đã đi quá mức cho phép thì nó có thể gây ra sự rạn nứt trong mối quan hệ giữa anh chị em ruột, giữa bạn bè với nhau, thậm chí là giữa cha mẹ và con cái… Quyền thừa kế dân sự cũng có thể diễn biến theo xu hướng tồi tệ này. Nguyên nhân chính của tất cả những bi kịch khổ đau giống như thế thường có nguồn gốc từ trạng thái tâm bám víu vào 5 loại cấu thành những cảm giác dễ chịu. Tất cả những nổi khổ đau đều phát xuất từ tinh thần và vật chất. Nơi 5 uẩn không còn khởi lên chính là nơi trạng thái chấm dứt của khổ đau sẽ hiện khởi. Vì vậy, 5 uẩn được nhìn nhận như là Khandhupadhi. Tính tham lam, sân hậnvô minh là nền tảng của những thứ ô nhiễm. Trong khi đó, những thứ ô nhiễm lại luôn luôn sản sinh ra khổ đau trong luân hồi. Chúng hoạt động trong tất cả những thế giới như : Cõi Chư-thiên, cõi người, cõi súc sinh, ngạ quỷ hay địa ngục. Khi những thứ ô nhiễm này tạo ra một nền tảng cho khổ đau khởi lên, chúng được biết đến như là Kilesupadhi. Tích lũy những hành động thiện lành hay bất thiện được gọi là Abhisankhāra. Bằng cách thực hành bố thí, trau dồi đạo đức và văn hóa tinh thần, người ta có thể được tái sanh vào cõi trời. Khi đã trở thành một Chư-thiên hay Phạm-thiên, người ta có thể suy nghĩ rằng cuộc sống là một niềm hạnh phúc hoàn hảo. Chúng sanh sống tại cõi Chư-thiên được tận hưởng kết quả của những hành động thiện lành mà họ đã từng thực hiện.

Họ cũng suy nghĩ rằng mình đang tận hưởng được hạnh phúc.Tuy nhiên, các vị A-La-Hán đều xem những thứ hạnh phúc đó chính là đối tượng của khổ đau.

Số phận của muôn loài chúng sanh được xác định bởi Abhisankhāra. Khi chết đi, tùy theo nghiệp đã tạo, họ có thể bị đọa vào những cảnh giới thấp kém. Vì vậy, sự cấu thành nghiệp được nói đến như là Abhisankhārupadhi. Trong Niết-Bàn, bốn nền tảng tạo nên chúng sanh đã bị loại bỏ một cách hoàn toàn.

 

                        Trạng thái dập tắt được giải thích trong Kinh Kevatta    

 

 Thuyết Nhân Duyên – Paticcasamuppāda đã chỉ ra rằng, trạng thái chấm dứt của vô minh sẽ mang lại sự chấm dứt của tiến trình cấu thành nghiệp. Trạng thái chấm dứt của nghiệp cấu thành sẽ mang lại sự chấm dứt của nhận thức. Từ đó, thức tái sanh và đời sống mới cũng sẽ chấm dứt theo. Vì vậy, trong các loại Kinh chú giải, trạng thái chấm dứt- Nirodha được giải thích là đồng nghĩa với Niết-Bàn. Tuy nhiên, ở đây chỉ cần nói rằng trạng thái chấm dứt chính làtrạng thái được giải phóng khỏi khao khát và dục tình. Bây giờ để giải thích rõ hơn về trạng thái chấm dứt, tôi sẽ trích dẫn Kinh Kevatta trong Phẩm Giới Tạng- Sīlakkhandha Vagga. Kinh này có nội dung như sau : “ Viññānam anidassanam, anantam sabbatopabham, etthaaxpoca pathavi tejo vāyo na gādhati. Ettha dighanca rassanca, anum thulam subhasubham, ettha nāmanca, rupanca, asesam uparujjhati. Viññānassa nirodhena, etthetam uparujjhati”. Đoạn Kinh này có nghĩa là :  “ Người ta không thể nhìn thấy được ý thức bằng mắt thường (chỉ có thể nhận biết được trạng thái này qua Con Đường Cao Thượng). Ý thức không có giới hạn. Nó luôn phát ra tính thuần khiết. Nó không có những yếu tố nền tảng như đất,nước, lửa và gió. Nó không dài cũng không ngắn, không to cũng không nhỏ. Nó không mang lại niềm vui thích cũng không gây ra sự khó chịu cho mắt. Trong Niết-Bàn, tất cả những thứ vật chất có khuynh hướng nghiêng về phía ý thức đã chấm dứt hoàn toàn. Khi ý thức đã không còn nữa thì danh sắc cũng chấm dứt một cách đồng thời”.Quả thật, người ta không thể nhìn thấy được Niết-Bànbằng mắt thường. Người ta chỉ có thể nhìn thấy nó bằng “con mắt trí tuệ”. Do đó, không thể so sánh Niết-Bàn với bất cứ cái gì cả. Niết-Bàn không có khởi đầu và cũng không có kết thúc. Nó không khởi lên và cũng không biến mất đi. Bạn không thể nào nói rằng Niết-Bàn khởi lên ở chỗ này và biến mất đi ở chỗ kia. Nơi không có đất thì có ai có thể khám phá ra trạng thái khởi đầu hay chấm dứt của một hiện tượng khi sự cấu thành nghiệp đã bị tiêu hủy một cách hoàn toàn ? Niết-Bàn là trạn thái tinh khiết ban sơ. Trạng thái ô nhiễm của tâm trí và thân xác đã phát sanh tâm tham lam, sân hận và vô minh. Từ đó, tâm, tâm sở và tinh thần đã bị vẫn đục. Thật ra, người ta có thể xóa sạch trạng thái ô nhiễm bằng cách thực hiện những hành động thiện lành. Tuy nhiên trong Niết-Bàn, trạng thái ô nhiễm như thế không thể khởi lên. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng tính tinh khiết của Niết-Bàn là trong sáng và sạch sẽ. Lối nói văn hoa bóng bẩy có thể dẫn đến sự mô tả Niết-Bàn là ánh sáng. Tuy nhiên, ánh sáng là kết quả của trạng thái xúc chạm giữa nhãn xứ với sắc pháp. Do đó, ánh sáng biểu lộ tính vật chất. Trong Niết-Bàn, vật chất đã hoàn toàn vắng mặt. Vì vậy, nói Niết-Bàn là ánh sáng theo nghĩa giác quan là đi ngược lại với lời dạy của Đức Phật. Từ Sabbatopabham xuất hiện trong đoạn trích dẫn Kinh Kevatta còn có một nghĩa khác, nó nhấn mạnh rằng người ta chỉ có thể đạt tới Niết-Bàn bằng cách thực hành sự tu dưỡng tinh thần – Kammatthāna Bhāvanā.

Sách Thanh Tịnh Đạo – VissuddhimaggaVi Diệu Pháp – Abhidhamma đề cập tới 40 phương pháp tu dưỡng tinh thần. Tuy nhiên, Kinh điển Pàli chỉ nói đến 38 phương pháp tu dưỡng theo lối này mà thôi. Ba mươi tám phương pháp này bao gồm cả biến xứ ánh sáng – Āloka kasinabiến xứ không gian – Ākasa kasina. Theo nghĩa đen, biến xứ- kasina có nghĩa là toàn thểtrọn vẹn. Nó là một hình ảnh khái niệm được những người thực hành thiền tạo ra trong tâm thức như là một trạng thái ánh sáng hay không gian trải rộng khắp nơi đến mức vô giới hạn. Nói cách khác, nó là một phương pháp quán chiếu về một khái niệm được tưởng tượng ra. Vì vậy, Āloka kasina thường được gọi là thiết bị ánh sángĀkasa kasinathiết bị không gian. Thực hành sự tu dưỡng tinh thần với những đề mục hành thiền này có thể dẫn đến trạng thái nhận thức được Niết-Bàn. Nếu muốn tắm biển, người ta phải đi tới một bờ biển nào đó. Nếu muốn tắm mát trong một hồ nước, bạn phải ngâm mình xuống một chỗ nào đó trong hồ nước này. Tương tự, nếu muốn đạt tới Niết-Bàn, bạn có thể xử dụng một trong 38 loại biến xứ đã được qui định để làm đề mục thực hành thiền định- Samātha Bhāvanā. Dĩ nhiên bạn không thể nào đạt tới Niết-Bàn một cách trực tiếp qua thiền định. Sau khi đã thiết lập được trạng thái định tâm qua thiền định, bạn phải thực hành thiền quán- Vipassanā Bhāvanā ( tức thiền minh sát), bởi vì chỉ có loại thiền này mới có thể đưa bạn đến vớitâm thiền-Jhāna Citta. Từ trạng thái này, bạn có thể đạt tới Niết-Bàn Tối Thượng thông qua việc nhận thức được Đạo Quả. Một thời, có một vị Tỳ-kheo trẻ tuổi đi vào trong rừng với một người bạn của mình. Người bạn của vị Tỳ-kheo này là một Giới Tử. Họ đi vào rừng để tìm kiếm đồ chà răng. Trên đường đi, Giới Tử nọ nhìn thấy một xác chết. Ngay lập tức, anh ta đã thực hành thiền với đề mục là tử thi và đạt tới sơ thiền. Chàng Giới Tử đã tiếp tục thực hành thiền với đề mục là trạng thái đang khởi lên và tan biến đi của 5 uẩn cho đến khi đạt tới nhị thiền và tam thiền. Dần dần vượt qua từng trạng thái thiền, cuối cùng anh ta đã gặt hái được Đạo Quả. Khi đang nổ lực để đạt tới tứ thiền và dẫn đến Đạo Quả A-La-Hán, bổng nhiên nghe thấy tiếng gọi của bạn mình. Vì vậy anh ta đã đứng dậy, rời bỏ xác chết và đi về phía vị Tỳ-kheo trẻ tuổi- người đã trở thành một A-Na-Hàm. Câu chuyện cho thấy rằng cả vị Tỳ-kheo trẻ tuổi lẫn chàng Giới Tử kia đã quá quen thuộc với phương pháp thực hành thiền nội quán, tức thiền minh sát.

Nhờ đó, họ đã trở thành A-Na-Hàm. Điều này đã chỉ ra rằng, bất cứ phương pháp nào trong 38 phương pháp tu dưỡng tinh thần nói trên đều có thể khiến người ta đạt tới Đạo quả và Niết-Bàn.

 

                                           Về các phép màu

 

Bây giờ tôi sẽ nói lý do tại sao Đức Phật lại truyền bá Kinh Kevatta. Một thời, Kevatta tiến lại gần Đức Phật và thỉnh cầu Ngài cho phép các Tỳ-kheo được xử dụng thần thông để làm ra những phép màu. Kevatta đã nói với Đức Phật rằng : “ Thành phố Na-Lan-Đà này thật thịnh vượng. Những công dân ở đây đều tỏ ra tận tụy với Đức Giáo Chủ. Tuy nhiên, sự tận tụy của họ sẽ trở nên hoàn thiện hơn nếu Ngài chọn ra một vị Tỳ-kheo và cho phép vị này biểu diễn thần thông với năng lực tinh thần của ông ta. Việc biểu diễn có thể diễn ra hàng ngày, hàng tuần hoặc hàng tháng. Tuy nhiên, Đức Phật đã từ chối lời thỉnh cầu này. Mặc dù vậy, Kevatta vẫn lập đi lập lại sự thỉnh cầu của ông đến 3 lần, bởi vì ông tin rằng thông qua việc biểu diễn thần thông thì những người chứng kiến sẽ càng tin tưởng vào Đức Phật hơn. Ngược lại, Đấng Giác Ngộ đã nhìn thấy trước sự phản tác dụng phát xuất từ việc xử dụng thần thông của các Tỳ-kheo. Vì vậy, Ngài đã thuyết một bài Pháp nói về 3 loại thần thông.

 

                                   

 

 

                                    Những năng lực huyền bí

 

Trong tiếng Pàli, thần thông nói một cách đầy đủ là Iddhividha Abhinnā. Người hiểu biết cao về những năng lực huyền bí ( tức có thần thông) có thể làm ra nhiều trò ảo thuật đa dạng. Trong Kinh điển, điều này đã được nói rõ như là việc “ một người có thể tự biến mình ra thành nhiều người”. Người làm chủ được thần thông có thể biến ra 100 người giống hệt như mình, thậm chí là 1000 người. Người này có thể bay trong không trung, đi bộ trên nước, độn thổ, thu hút các vật thể từ xa tiến lại gần mình hay gửi chúng đi từ chỗ mình đang ngồi đến một nơi nào đó. Khi Đức Phật chế ngự Vô Não- Angulimāla, hắn đã biến hành một mảnh đất nhỏ nằm trong một dải đất rộng với một cục đá to bằng quả đồi. Với việc thực hiện phép thần thông này, cọng với trước đó đã chạy đuổi theo Đức Phật để giết Ngài trên một quãng đường khá xa, tên sát nhân đã kiệt sức. Hắn hét lớn : “ Ông thầy tu kia ! Hãy dừng lại ! Ta đã dừng lại rồi tại sao ông vẫn còn chạy !” Nói đoạn hắn đứng lại hẳn. Đức Phật đã trả lời : “ Ta đã dừng lại rồi thì đúng hơn ! Trong khi ngươi vẫn đang còn chạy kia mà !” Angulimāla vô cùng lúng túng khi nghe Đức Phật nói rằng chính hắn ta mới là người vẫn còn chạy, trong khi vị Tỳ-kheo vĩ đại đã dừng lại từ lâu. Hắn tự nghĩ : “ Trong thực tế thì sự việc lại khác, tại sao ông ta lại nói như vậy, thật là kỳ lạ?” Tiếp đến, Angulimāla đã đòi Đức Phật giải thích cho hắn hiểu về câu nói của Ngài. Đức Phật nói : “ Angulimāla ! Ta đã chấm dứt cuộc hành trình xuyên qua luân hồi khi đã dập tắt được những thứ ô nhiễm trong tâm trí. Ngươi là người vẫn còn ôm ấp những thứ ô nhiễm và chạy lòng vòng trong xoáy nước luân hồi”.

Ngay lập tức, Angulimāla đã nhìn thấy ánh sáng trí tuệ và thỉnh cầu Đức Phật hãy nhận hắn ta vào trong Tăng Đoàn. Đức Phật bèn nói : “ Lại đây Tỳ-kheo !” Ngay lập tức, tên sát nhân đã trở thành một Tỳ-kheo. Đây chính là một trường hợp xử dụng phép thần thông để thu hút một đối tượng từ xa tiến lại gần mình.

Trước kia Tôn giả Đại Mục Kiền Liên – Moggalāna là một lão buôn bán tơ lụa bủn xỉn. Về sau Ngài đãcải Đạo theo Phật Giáo. Cùng với người vợ, từ làng SakkaraVương Xá - Rājagaha, Ngài đã xử dụng thần thông để bay đến tu viện Kỳ Viên- Jetavana. Ngài đã bay đến cổng chính của tu viện và hạ xuống với dáng vẻ của một người đàn ông giàu có. Đây chính là trường hợp xử dụng thần thông để di chuyển vật thể từ chỗ mình ngồi đến một nơi khác. 

 

                                 

                                   Những năng lực thần thông

 

Không còn nghi ngờ gì nữa, những năng lực thần thông có thể góp phần làm phát triển tính mộ Đạo. Tuy nhiên, chúng có thể gây ra nhiều tai tiếng khi những người không tin chúng có thể nói với bạn rằng :  “ Trong xứ Gandhāra có nhiều phù thủy có thể thực hiện những phép màu kỳ lạ. Thầy của bạn ( ở đây muốn ám chỉ Đức Phật – ND) có thể là một người rất thông thạo ma thuật của xứ này”.

Sự thật, Kevatta đã hỏi ý kiến của Đức Phật về vấn đề này và tai tiếng do phép thần thông gây ra đã xảy đến. Theo lời dạy của Đức Phật, đây là một điều không tốt. Cũng có một vài trường hợp khác, việc biểu diễn phép thần thông đã trở thành chướng ngại cho quá trình tu tập của các Tỳ-kheo. Việc biểu diễn này có thể trở thành cái cớ để các Tỳ-kheo chấp nhận quà cúng dường của thí chủ.

Như vậy là chống lại sự tuân thủ giới luật – Āgiva Sīla. Nếu phép thần thông có thể làm cho những người mộ Đạo gia tăng niềm tin vào Phật Pháp thì những Tỳ-kheo sẽ thường xuyên thực hành chúng. Từ đó, họ có thể xa rời việc tu dưỡng đạo đức. Trong trường hợp này, Giới Luật của Tăng Đoàn sẽ bị phá vỡ và điều này được cho là bất thiện. Một Tỳ-kheo có thể tu hành để gặt hái Đạo Quả A-La-Hán. Tuy nhiên, ông ta không được phép sở hữu thần thông. Thật ra, phép thần thông cũng có thể khiến cho niềm tin vào Phật Pháp của người thế tục và những người mộ Đạo trở nên yếu kém đi. Điều này có thể ảnh hưởng xấu đến Giáo Pháp của Đức Phật. Do đó, trường hợp những Tỳ-kheo xử dụng thần thông được cho là vi phạm Giới Luật. Họ sẽ bị quy cho tội đã thực hiện hành động bất thiện. Theo lời đề nghị của Tôn giả Đại-Mục-Kiền-Liên, Trưởng lão Tỳ-kheo Pindola đã thi thố phép thần thông để nhận phần thưởng là một chiếc bát khất thực bằng gỗ đàn hương. Khi biết được tin này, Đức Phật đã ra Giới Luật ngăn cấm Tăng Già không được xử dụng thần thông.

 

                                Nhận biết ý nghĩ của người khác     

 

Cetopariya Abhinnātrí tuệ nhận biết được ý nghĩ của người khác.

 Nhận biết được ý nghĩ của người khác tự nó đã là một phép thần thông. Có một câu chuyện kể về việc Đức Phật đã chuyển hóa những tu sĩ khổ hạnh đệ tử của Âu Lưu Tần Loa Ca Diếp – Aruvela Kassapa. Một thời, người đứng đầu giáo phái dị giáo này đã mời Đức Phật đến dự một buổi tiệc. Tuy nhiên, khi đến ngày đã định,  Đức Phật đã không đến dự buổi tiệc này. Ngày hôm sau bữa tiệc, Aruvela Kassapa đã đến hỏi xem tại sao Đức Phật lại không đến dự tiệc. Đức Phật đã trả lời rằng : “ Thật không đúng đắn khi nói rằng vào ngày mà buổi tiệc xảy ra, một ý tưởng đã khởi lên trong đầu ông. Lúc đó, ông nghĩ rằng nếu tôi không đến dự tiệc thì có lẽ sẽ tốt hơn, bởi vì nếu tôi đến dự tiệc và biểu diễn thần thông thì những người mộ Đạo sẽ ngày càng hướng về phía tôi hơn là về phía ông !”. Kể từ dạo đó, Kassapa đã biết rằng Đức Phật có thần thông khi Ngài có thể đọc được ý nghĩ của người khác. Vì vậy, Kassapa đã được Đức Phật chuyển hóa bằng phép thần thông có tên là Cetopariya Abhinnā. Một thời, Đức Phật đang đi khất thực quanh làng Uttaraka cùng với Sunakkhatta, một Tỳ-kheo thuộc về thị tộc Lê Xa- Lecchavi. Lúc đang trên đường đi, họ nhìn thấy Korakkhattiya, một tu sĩ thực hành theo lối tu tự hành xác kỳ lạ có tên là Khuyển hành. Trong quá trình tu tập, người tu theo lối này sẽ thường xuyên bắt chước và thực hành theo những hành động của con chó như :  Sủa, đi bốn chân, bò cằn…Trong tiền kiếp, Sunakkhatta đã tỏ ra thích thú lối tu hành này khi trông thấy nhiều người đi bốn chân trên đường theo kiểu đi của loài chó. Vì vậy, khi trông thấy Korakkhattiya, vị Tỳ-kheo người Lê-Xa đã phát khởi một cảm giác có liên quan với lối tu Khuyển hành. Ngay lúc đó, Đức Phật đã mắng ông ta rằng : “ Quả thật ta quá ngạc nhiên khi thấy ông tự xưng là một Tỳ-kheo Phật Giáo !” Vị Tỳ-kheo đã phản ứng lại bằng cách hỏi Đức Phật lý tại sao Ngài đã làm ông mất thể diện như vậy. Đức Phật lại tiếp tục quở trách ông :

Sunakkhatta ! Ông ôm ấp lối tu Khuyển hành một cách quý trọng. Sự sùng kính của ông đối với những tu sĩ tự hành xác bằng cách ăn như loài chó là không đúng chỗ !”. Đây cũng là một ví dụ về năng lực nhận biết được ý nghĩ của người khác thông qua hành động quở trách đệ tử của Đức Phật. Bên cạnh phép thần thông, sự quở trách như thế có lẽ sẽ khiến cho những người mộ Đạo càng thêm tin tưởng vào Giáo Pháp của Đức Phật. Mặc dù vậy, thần thông cũng có những điểm bất lợi. Đức Phật nói : “ Những người đã có niềm tin vào Giáo Pháp sẽ tỏ ra tán dương loại thần thông này. Tuy nhiên, những người chưa có niềm tin có thể nói với bạn rằng “ vị thầy thành thạo ma thuật của bạn đã áp dụng thần chú Manika”. Sau đó, Đức Phật đã ra Giới Luật ngăn cấm các Tỳ- kheo không được phép xử dụng thần thông, bởi vì chúng ta không nên tạo ra bất cứ một cái cớ gì để người khác có thể vin vào đó và thực hiện hành động vu khống.

                     

                                            Năng lực sắp đặt

 

Trong việc truyền bá Giáo Pháp, Đức Phật thường dựa vào năng lực sắp đặt của Ngài hơn là việc xử dụng phép thần thông. Những lời dạy của Đức Phật dành cho các đệ tử của Ngài luôn luôn có liên quan đến Chánh tư duy- Sammāsankappa. Việc thúc giục và động viên của Ngài chủ yếu có liên quan đến sự chú ý và quan sát các hiện tượng. Những lời dạy của Ngài luôn luôn khuyến khích người khác thực hiện những hành động thiện lành và tránh xa tội lỗi. Phương pháp khiển trách của Ngài rất hoàn mỹ. Bất cứ một người nào thực hành những lời Ngài dạy đều có thể trở nên thành thạo trong việc thiết lập đạo đức, năng lực chú ý và trí tuệ cho đến khi nhận thức được Đạo Quả. Năng lực thần thông cũng có thể hiệu nghiệm trong nghệ thuật làm cho người ta tin vào một điều gì đó. Tuy nhiên, nó không thể loại bỏ được những thứ ô nhiễm. Đây là một trong những lời dạy quan trọng nhất của Đức Phật. Ngài cũng đã từng nói đến trường hợp một vị Tỳ-kheo nọ đã tìm kiếm thần thông để biết được 4 nguyên tố nền tảng ( đất, nước, lửa, gió) chấm dứt ở đâu.

 

                                             Chấm dứt ở đâu    

 

 Một Tỳ- kheo đã sở hữu thần thông nhằm mục đích biết được toàn bộ 4 nguyên tố đất, nước, lửa, gió sẽ chấm dứt ở đâu.Vì vậy, ông ta đã đi lên 6 cõi trời Chư-thiên và cố tìm cho được câu trả lời. Những Chư-thiên đang sống tại cõi Catumahārāja, Tāvatimasā, Yāma, Tusitā Nimmānārati và Paranimmitavassavati đã nói cho ông biết rằng hãy đến gặp Đại-Phạm-Thiên để tìm lời giải đáp về 4 nguyên tố nền tảng ( đất, nước, lửa, gió). Sau đó, ông đã tìm gặp Đại-Phạm-Thiên và hỏi rằng 4 nguyên tố này sẽ chấm dứt ở đâu. Đại-Phạm-Thiên nói :

“ Ồ ! Hỡi vị Tỳ-kheo! Ta là bậc vĩ đại nhất. Ta đứng trên tất cả muôn loài, không có bất cứ cái gì có thể sánh bằng ta. Ta hiểu hết tất cả mọi sự. Vạn hữu đều do ta sinh ra. Ta là chủ nhân của thị tộc Sākya ( Thích-Ca) và là niềm kiêu hãnh của họ. Thích-Ca-Mâu-Ni chỉ là con cháu thuộc đời thứ 36 của thị tộc này. Những người bà con lớn tuổi của Thích-Ca-Mâu-Ni không muốn đảnh lễ ông ấy. Vì vậy, họ thích đứng lui phía sau, khi những người anh em trẻ tuổi, cháu trai gọi bằng chú bác và cháu gọi bằng ông của họ tỏ ra tôn kính ông ấy. Toàn bộ thị tộc Sākya đều biết về tư cách đạo đức của Thích-Ca-Mâu-Ni. Ông ấy đã xử dụng thần thông để tạo ra một hành lang khổng lồ và bước đi trên đó, đồng thời thân thể của ông ấy phun ra lửa và nước. Khi nhìn thấy cảnh tượng đó, vua Tịnh Phạn- Suddhodana đã tỏ ra bái phục con trai mình và sau đó đã noi theo gương của Thích-Ca-Mâu-Ni. Câu chuyện này chứng tỏ Đại-Phạm-Thiên cũng không thể biết được 4 nguyên tố nền tảng ( đất, nước, lửa, gió) sẽ chấm dứt ở đâu. Vì vậy, ông đã tìm cách nói lãng đi theo một lối khác, đồng thời có ý phê phán và chê bai về phẩm chất đạo đức của Đức Phật.

 

    Vua Tịnh-Phạn và hoàng hậu Kiều-Đàm-Ni trở thành Tu-Đà-Hườn

 

Sáng ngày hôm sau, Đức Phật đã cùng 20 ngàn Tỳ-kheo đi dạo quanh thành phố Ca Tỳ La Vệ - Kapilavatthu để khất thực. Gia Du Đà La – Yasodharā đã nhìn thấy cảnh tượng đó từ cửa sổ nơi cung điện bà đang ở và nói lại cho vua Tịnh-Phạn biết về hành động ăn xin thấp kém của con trai ông. Vua Tịnh-Phạn đã cảm thấy vô cùng xấu hổ, Ngài bước ra khỏi ngai vàng và tìm gặp Đức Phật để phản đối. Nhà vua nói : “ Tại sao con lại làm cho ta xấu hổ bằng cách đi ăn xin quanh thành phố như thế ?” Đức Phật đã nói với cha mình rằng tất cả những vị Phật trong quá khứ đều thực hành Pháp môn khất thực như thế khi không có một thí chủ nào thỉnh cầu họ đến viếng thăm nhà để cúng dường. Nói đoạn, Ngài bèn đọc lên đoạn Kệ sau đây một cách dứt khoát : “ Người ta không nên chủ quan tuyên bố về đức hạnh của các Tỳ-kheo khi họ đi khất thực. Người ta nên thực hành pháp môn này bởi vì nó tốt đẹp và cao thượng. Người thực hành pháp môn khất thực có thể ngủ ngon không chỉ trong thế giới này mà cũng ngủ ngon trong những thế giới khác”. Khi nghe Đức Phật nói như vậy, tâm trí của vua Tịnh-Phạn đã xoay chiều theo lời phát biểu này. Ngài đã nhìn thấy ánh sáng của Phật Pháp và trở thành một Tu-Đà-Hườn chỉ trong một khoảnh khắc.Các bậc thầy chú giải Kinh Điển đã chỉ ra rằng, trạng thái phát tâm hoan hỷ về những phẩm hạnh cao quí của Đức Phật có thể khiến cho người ta gặt hái được trí tuệ nội quán và nhận thức được bản chất nhất thời của các hiện tượng. Ngày nay, có nhiều người dành ra cả ngày để thực hành thiền. Tuy nhiên, họ vẫn chưa thể phát triển được năng lực định tâm. Có đôi lúc, người ta đã dành ra cả tuần lễ để thực hành thiền nhưng cũng chưa cải thiện được khả năng chú ý. Tuy nhiên, vua Tịnh-Phạn đã nhận thức được Phật Pháp chỉ trong một khoảnh khắc bởi vì trong một kiếp sống ở quá khứ, Ngài đã từng nhận thức được như vậy. Vì vậy, nhà vua đã nhận thức được rằng với tư cách đạo đức cao thượng của một tu sĩ và Tăng đoàn đáng trân trọng của Đức Phật, hành động đi khất thực của Ngài và các đệ tử không phải là đi xin ăn. Họ chỉ đứng trước nhà của người khác để mọi người có cơ hội trở thành thí chủ cúng dường cho Chư Tăng. Ai có hảo tâm muốn cúng dường thì cúng, nếu không có ai cúng thì họ sẽ đi nơi khác chứ không hề xin xỏ gì cả. Từ đó, vua Tịnh-Phạn đã tỏ ra công nhận Pháp Môn Khất Thực là một hành động tốt đẹp và cao thượng. Nhờ vậy, nhà vua đã phát tâm hoan hỷ. Ngài đã thực hành thiền trên trạn thái tâm hoan hỷ đó và nhận thức được bản chất ban sơ cũng như sự tan rã tất yếu của các hiện tượng. Trong khoảnh khắc năng lực nội quán đang nở rộ, vua Tịnh-Phạn đã trở thành một Tu-Đà-Hườn. Ngay sau đó, nhà vua đã cầm lấy bát khất thực từ tay Đức Phật và mời tất cả những vị Tỳ-kheo đệ tử đến thăm cung điện của Ngài. Tại đó, Ngài có ý định thực hiện một cuộc đại cúng dường. Tại cung điện của vua Tịnh-Phạn, với sự xuất hiện của hoàng hậu Kiều Đàm Ni – Gotami ( dì ruột và đồng thời là kế mẫu của Đức Phật) và triều thần, Đức Phật lại tán dương đức hạnh của các tu sĩ. Khi nghe Đức Phật nói những lời tán dương đó, hoàng hậu Kiều-Đàm-Ni cũng đã trở thành một Tu-Đà-Hườn.

 

             Người bà con Nandà và con trai Rāhulā của Đức Phật        

 

Ngày kế tiếp, vua Tịnh-Phạn tổ chức một buổi lễ phong chức cho hoàng tử Nandà, con trai của hoàng hậu nhiếp chính Kiều-Đàm-Ni. Đồng thời đây cũng là dịp để hoàng gia cúng dường vật thực cho Đức Phật và những đệ tử của Ngài. Theo phong tục lâu đời, Đức Phật đã đưa bát khất thực của Ngài cho hoàng tử Nandā ( người bà con bạn con dì của Ngài) và trở về tu viện. Khi thấy Nandā đi theo Đức Phật đến tu viện , vị hôn thê bất đắc dĩ của chàng là Janapadakalyāni đi theo sau và cố khẩn nài:“ Hãy trở về sớm nhé Nandā yêu quí!” Khi vừa đến tu viện, Nandā đã hỏi ý Đức Phật về việc chàng mong muốn trở thành một Tỳ-kheo. Chàng thổ lộ với Đức Phật tâm tư miễn cưỡng khi phải chấp nhận Janapadakalyāni như là vị hôn thê của mình và tỏ ra tôn kính Ngài. Khi cơ duyên đã đến, Nandā được nhận vào Tăng Đoàn. Một tuần sau đó, theo lệnh của mẹ mình, con trai của Đức Phật ( La Hầu La - Rāhulā) cũng đến tu viện hỏi xin quyền thừa kế nơi Ngài. Tuy nhiên, Đức Phật đã nói với Tôn giả Xá-Lợi-Phất hãy làm Lễ Thọ Giới cho cậu bé. Vì vậy, La Hầu La - Rāhulā đã trở thành một Giới Tử - Sāmanera. Không lâu sau đó, Đức Phật đã thuyết cho vua Tịnh- Phạn nghe một bài Pháp nói về Chuyện Bổn Sanh - Jataka của Ngài. Ngay tức khắc, nhà vua đã trở thành một A-Na-Hàm (Anāgāmi). Rời Ca-Tỳ-La-Vệ, Đức Phật đến trú tại làng Anupiya Nigama nằm trong vương quốc Malla. Khi Ngài đang ở đó, vua của xứ Malla là Bhaddiya, Anuruddha, Kimila và Đề-Bà-Đạt-Đa

( Devadatta) cùng tất cả các hoàng tử đồng thỉnh cầu Đức Phật cho họ được thọ Giới xuất gia. Trong mùa an cư đầu tiên của Tăng Đoàn ( xảy ra tại Lộc Uyển- Isìpatana thuộc xứ Ba La Nại – Benares), Bhaddiya đã trở thành một A-La-Hán. Trong khi đó, Anuruddha đã gặt hái Thần nhãn – Dibacakkhu Ñāna. Ānandā đã trở thành một Tu-Đà-Hườn. Đề-Bà-Đạt-Đa cũng đã gặt hái được thần thông.

 

         Vua Tịnh-Phạn trở thành A-La-Hán và nhập vào Đại-Niết-Bàn

 

Sau đó, Đức Phật lại rời khỏi làng Anupiya Nigama để đến Vương-Xá

 ( Rājagaha). Ngài đã trải qua mùa an cư thứ 2 tại Vương-Xá cùng với Tăng Đoàn. Khi Đức Phật đang trải qua mùa an cư thứ 5 tại tu viện Kutāgārasāla nằm trong Đại Lâm- Mahāvana ở gần Tỳ Xá Lị - Vesāli ( tức Vệ-Xá), đức vua Tịnh-Phạn đã băng hà tại cung điện của Ngài ở Ca-Tỳ-La-Vệ. Trước khi băng hà, nhà vua đã thực hành thiền, gặt hái Đạo Quả và trở thành một A-La-Hán. Khi vừa trút hơi thở cuối cùng, Ngài đã nhập vào Đại-Niết-Bàn. Đức Phật đã tham dự buổi Lễ Trà Tỳ ( tức lễ hỏa táng) của cha mình.

 

                 Sự thừa nhận nữ giới được gia nhập vào Tăng Đoàn

 

Sau khi đức vua Tịnh-Phạn nhập Đại-Niết-Bàn, hoàng hậu Kiều-Đàm-Ni đã tìm đến gặp Đức Phật và xin Ngài cho phép nữ giới được gia nhập vào Tăng Đoàn. Hoàng hậu đã 3 lần thỉnh cầu Đức Phật về điều đó nhưng cả 3 lần bà đều bị từ chối. Sau đây là lời phát biểu có uy tín nhất của những bậc thầy chú giải Kinh Điển về vấn đề hoàng hậu Kiều-Đàm-Ni đã thỉnh cầu với Đức Phật. Lời phát biểu này được trích dẫn từ Trưởng Lão Ni Kệ - Theri Gāthā: Có nhiều phiên bản Kinh Điển đề xuất ý kiến rằng, hoàng hậu Kiều-Đàm-Ni đã xin Đức Phật cho phép nữ giới được gia nhập vào Tăng Đoàn, sau khi Đức Phật trở về Ca-Tỳ-La-Vệ để dự lễ trà tỳ của đức vua Tịnh-Phạn. Các nhà chú giải Kinh Điển đều cho rằng thời điểm sự kiện được đưa ra như vậy là rất đáng tin cậy. Câu chuyện như sau : Khi đang trú tại tu viện Kutāgārasāla ở gần Tỳ-Xá-Lị ( tức thời điểm mà mùa an cư thứ 5 của Tăng Đoàn đang xảy ra), Đức Phật đã trở về Ca-Tỳ-La-Vệ để tham dự lễ trà tỳ của cha mình. Vào khoảng thời gian đó, Ngài đã ngăn chặn được một cuộc chiến tranh sắp sửa xảy ra giữa hai thị tộc Thích-Ca ( Sākya) và Câu-Lị ( Koliya) do việc tranh dành nguồn nước tưới từ con sông có tên là Rohini. Sau đó, 500 vị hoàng tử của cả hai thị tộc đã thỉnh cầu Đức Phật cho họ được phép xuất gia. Đức Phật đã chấp nhận cho họ gia nhập vào Tăng Đoàn. Tiếp đến, những người vợ của các hoàng tử này đã tỏ ra chán nản và mệt mỏi với cuộc sống không chồng. Họ đã tìm gặp hoàng hậu Kiều-Đàm-Ni và đề xuất ý kiến với bà rằng, hãy xin phép Đức Phật cho nữ giới được gia nhập vào Tăng Đoàn. Họ đã nói với hoàng hậu rằng, họ mong muốn được trở thành những Tỳ- kheo Ni – Bhikkhuni. Hoàng hậu Kiều-Đàm-Ni và 500 bà hoàng này đã tự cạo đầu, mặc y màu vàng và đi bộ trên một quãng đường dài 51 do tuần – yojana ( một do tuần bằng 8 dặm Anh. Một dặm Anh tương đương 1609 mét - ND) từ Ca-Tỳ-La-Vệ đến Tỳ-Xá-Lị trong khoảng thời gian 2 tháng. Khi đến nơi, tất cả họ đều bị bong chân. Khi vừa đến trước cổng tu viện Kutāgārasāla, hoàng hậu Kiều-Đàm-Ni đã khóc vì nghĩ rằng nếu bà và 500 bà hoàng nói trên thất bại trong việc xin phép được xuất gia, tất cả họ sẽ lâm vào hoàn cảnh khó khăn tại một vùng đất ngoại quốc với những cái đầu đã cạo sạch tóc và những tấm y màu vàng mà họ đã tín nhiệm.

 

                                     Sự can thiệp của Ànandà

 

Khi nhìn thấy tất cả những cảnh tượng này, Tôn giả A Nan Đà - Ānadā đã nói với hoàng hậu Kiều-Đàm-Ni rằng họ hãy chờ đợi, trong khi Ngài đi tìm Đức Phật để xin phép giùm cho. Như lệ thường, Đức Phật đã từ chối lời thỉnh cầu của Ānandā. Sau đó, Ānandā lại tiếp tục hỏi xin Đức Phật : “ Bạch Ngài Đại Đức ! Chẳng lẽ nữ giới không thể gặt hái được Đạo Quả Cao Thượng khi họ được che chở dưới những lời dạy bảo của Ngài sao ?” Đức Phật đã thừa nhận rằng họ có thể. Ānandā lại tiếp tục khẩn nài : “ Hỡi Ngài Đại Đức của tôi ! Nếu như thế thì Ngài hãy đồng ý cho phép họ được thọ Giới Tỳ-kheo-ni trong Giáo Pháp của Ngài đi ! Kiều-Đàm-Ni đã có công nuôi nấng và chăm sóc Ngài, cho Ngài bú mớm chính dòng sữa của bà ấy !” Theo lệ thường, đây là lần đầu tiên phái nữ được thọ Giới và trở thành Tỳ-kheo-Ni trong Giáo Pháp của Đức Phật. Tuy vậy, thật ra Đức Thế Tôn đã miễn cưỡng đáp ứng lời mong ước được xuất gia của những phụ nữ thế tục, bởi vì Ngài đã nhìn thấy trước rằng nếu những nữ giới được nhận vào Tăng Đoàn của Ngài chắc chắn họ sẽ gặp nhiều khó khăn khi phải tuân thủ các Giới Luật nghiêm khắc. Mặt khác, Đức Phật cũng nhìn thấy trước sự lợi ích cho Giáo Pháp của Ngài nếu nữ giới được phép xuất gia và gia nhập vào Tăng Đoàn.

 

                                        Giả dụ được chấp nhận

 

Sau đó, Đức Phật đã ban hành Giới Luật Tỳ-kheo-Ni : “Ānandā ! Nếu Kiều-Đàm-Ni có ý chí gìn giữ 8 Giới Luật nghiêm khắc gọi là Garudhamma, hãy để cho bà ấy được thọ Giới !” Vì vậy, hoàng hậu Kiều-Đàm-Ni đã thọ Giới Tỳ-kheo-Ni và thừa nhận 8 Giới Luật nghiêm khắc. Tuy nhiên, những người khác chỉ đồng thọ Giới theo thủ tục bình chọn của Tăng Đoàn. Thủ tục này được gọi là Kammavācā. Sau đó, những Giới Luật dành cho nữ tu đã được thông qua tại vòng bình chọn thứ nhất bởi các Tỳ-kheo-ni và vòng bình chọn thứ hai bởi các Tỳ-kheo. Từ đó, người mẹ kế của Đức Phật được biết đến với Pháp Danh Kiều Đàm Ni – Gotami. Một thời gian không lâu sau đó, bà đã gặt hái được quả vị A-La-Hán dưới sự hướng dẫn về Giáo Pháp của Đức Phật. Khi các vị A-La-Hán đã loại bỏ tất cả những thứ ô nhiễm thì những hành động của họ, dù là thiện lành đi chăng nữa cũng đã mất hết tác dụng tạo quả. Do đó, đối với họ, nghiệp mới đã hoàn toàn chấm dứt. Vì vậy, có thể nói rằng những hành động thiện lành mà các vị A-La-Hán đã thực hiện là không phải nhằm mục đích gặt hái phước báu. Điều này không có nghĩa là từ bỏ những hành động thiện lành, nó nhấn mạnh rằng đối với các vị A-La-Hán, trạng thái tích lũy nghiệp quả đã hoàn toàn chấm dứt. Các vị A-La-Hán chỉ còn thực hiện các hành động phước báu như là nghĩa vụ phải tôn kính Đức Phật và Tăng Già. Họ vẫn thực hành thiền định và thiền minh sát. Tuy nhiên, những hành động thiện lành này đã không còn tác dụng tạo ra nghiệp mới. Khi Kiều-Đàm-Ni trở thành Tỳ-kheo-Ni, bà đã quá chín chắn với tuổi 94. Lúc đó, Đức Phật chỉ mới 40 tuổi. Những người tùy tùng góa bụa của Kiều-Đàm-Ni đã gia nhập Tăng Đoàn và trở thành những vị A-La-Hán sau khi nghe Trưởng Lão Nandaka ( trước kia là một hoàng tử thuộc thị tộc Thích-Ca) thuyết Pháp.

                        Trưởng lão Kiều-Đàm-Ni nhập Đại-Niết-Bàn

 

 Khi Trưởng-Lão-Ni Kiều-Đàm-Ni trải qua 26 tuổi Hạ, bà đã 120 tuổi đời. Lúc đó Đức Phật đã 66 tuổi. Vào khoảng thời gian này bà đang trú trong một tu viện cùng với 500 Tỳ-kheo-Ni. Tu viện này cũng không cách xa tu viện Kutāgārasāla - nơi Đức Phật đang cư trú bao nhiêu. Một ngày nọ, Kiều-Đàm-Ni nhập định và gặt hái được Quả. Vào lúc đó, bà nhận thấy rằng toàn bộ thân thể của mình bị rung lắc dữ dội. Các đệ tử của bà, những người đã 60 hay 70 tuổi đều có đồng một ý kiến cho rằng, đó là thời điểm báo trước vị thầy thông thái của họ sắp sửa giã từ cõi đời để nhập vào Đại-Niết-Bàn. Khi biết được tin buồn này, những nữ đệ tử của Trưởng Lão Kiều-Đàm-Ni đã trở nên suy nhược tinh thần và khóc than thảm thiết. Lúc đó, vị Trưởng-Lão-Ni đã an ủi họ : “ Ruditena alam putta, hasakalo ‘ yamajjavo. Cirappabhuti yam mayham, patthitam ajja sijjhate Ānandabherikāloyam, kim vo assuhi puttika”. Đoạn văn này có nghĩa là :

Hỡi những người em gái ! Xin đừng khóc ! Đây có thể là một ngày hoan hỷ đối với các người ! Từ lâu ta đã mong muốn đạt tới Niết-Bàn. Ngày hôm nay, ước nguyện của ta đã trở thành sự thật. Bây giờ ta có thể gióng lên tiếng trống mãn nguyện và hoan hỷ. Các người có khóc than cũng chẳng mang lại ích lợi gì cả !

Tuy nhiên theo lẽ tự nhiên, những nữ Tỳ-kheo kia vẫn sẽ khóc lóc khi thần chết sẽ lấy đi người mà họ yêu quí, mặc dù cái chết cũng không có gì lạ đối với họ. Vậy điều quan trọng nhất đối với họ là gì ? Đó là khi từ giã cõi đời, người ta không bị đọa vào những cảnh giới thấp kém ở tương lai. Quả thật, cái chết có thể khiến cho người ta khởi tâm buồn khổ và tuyệt vọng. Vì vậy, khi đang còn sống, ai cũng muốn tìm kiếm những nghiệp thiện lành. Tuy nhiên, nếu được chết trong một trạng thái nhận thức tinh khiết thì cái chết cũng cung cấp cho chúng ta một nguyên nhân tốt đẹp khiến tâm hoan hỷ phát sanh. Để được chết trong một trạng thái tâm tinh khiết, khi còn sống chúng ta cần phải tích lũy được những nghiệp thiện lành. Trông trường hợp này, cái chết đối với chúng ta chỉ là một sự di chuyển chỗ ở từ một căn nhà cũ sang một căn nhà mới mà thôi. Khoảng một ngàn kiếp về trước, khi Bồ-Tát Padummuttara đạt tới Giác ngộ và trở thành Phật, Kiều-Đàm-Ni lúc đó là con gái của một vị bộ trưởng đang phục vụ cho hoàng gia. Vào một ngày nọ, khi đang tham dự một buổi lễ tôn giáo do Đức Phật chủ trì, bà trở nên đầy nghị lực khi noi gương một Trưởng-Lão-Ni nhận nuôi một em bé bị mất mẹ. Đức Phật Padummuttara đã vinh danh bà như một người Danh Dự Bậc Nhất ( Etadagga), có địa vị cao trong Tăng Đoàn. Khi về già, bà là người cao tuổi nhất trong tất cả Tỳ-kheo-Ni đang phục vụ trong Tăng Đoàn. Tiếp đến, con gái của vị bộ trưởng đã suy nghĩ về cuộc đời làm mẹ của một vị Phật như là công đức cao thượng nhất. Vì vậy, bà ao ước rằng trong những kiếp sống ở tương lai, bà sẽ được tái sanh làm mẹ kế của một vị Bồ-Tát. Cuối cùng vào thời Đức Phật Cồ-Đàm, lời ước của bà đã trở thành sự thật. Khi thời khắc giã từ cõi đời đã gần kề, Kiều-Đàm-Ni đã có lời khuyên đối với những Tu Nữ đang khóc than thảm thiết : “ Hỡi những người em gái ! Nếu các người thật sự yêu quí ta thì hãy quyết tâm gìn giữ những lời Phật dạy cho đến hơi thở cuối cùng. Ngài đã cho phép chúng ta gia nhập vào Tăng Đoàn và ta đã cảm thấy rất hạnh phúc với ân huệ này. Ta tin rằng các người cũng được hạnh phúc như vậy.

Nếu đã như vậy thì hãy thực hành Phật Pháp như là một lối tu hành hạnh phúc.

 

                 Kiều-Đàm-Ni thể hiện sự tôn kính đối với Đức Phật    

 

Để an ủi những người mộ Đạo, Kiều-Đàm-Ni đã tìm gặp Đức Phật và thể hiện sự tôn kính Ngài qua những lời lẽ dưới đây : “ Bạch Ngài Đại Đức ! Tôi đã được mọi người biết đến như là mẹ của Ngài. Tuy nhiên, đứng trên quan điểm của Giáo Pháp thì Ngài là cha của tôi. Được che chở dưới đôi cánh của Ngài, tôi đã trở thành một người cao thượng. Tôi đã nuôi nấng Ngài bằng chính dòng sữa của mình. Ngài đã nuôi nấng tôi bằng chính dòng sữa của Giáo Pháp. Sữa của tôi dỗ dành Ngài khi đói khát. Sữa của Giáo Pháp vĩnh viễn lấp đầy cơn đói của tâm khao khát trong tôi. Nói đoạn, Kiều-Đàm- Ni đã đọc lên bài Kệ dưới đây :

Ranno mātā mahesiti, sulabham nāma mitthinam. Buddhamātāti yam nāmam, etam paramadullabham. Parinibbātu micchāmi vihāyemam kalevaram, Anujanahi me vira, dukkhantakara nāyaka. Cakkankusadha te, karissam puttauttame.” Đối với một người phụ nữ, làm một hoàng hậu hay làm mẹ của một Đấng Quân Vương vũ trụ vẫn còn dễ. Làm mẹ của một vị Phật là một điều cực kỳ khó khăn và vinh dự tột bậc. Hỡi Đức Phật ! Đấng diệt trừ khổ đau ! Con người dũng cảm ! Ông chủ của thế giới này ! Hỡi vị Giáo Chủ vĩ đại ! Hãy cho phép tôi loại bỏ thân xác này và nhập vào Đại-Niết-Bàn ! Hỡi con trai của ta ! Hãy truyền bá dấu chân cao thượng của Người đến với mọi nơi một cách mềm mại như cánh hoa sen, rõ rệt như lằn vết của bánh xe, bền bỉ và trường tồn. Với phẩm chất đó, ta có thể cúi rạp mình để thể hiện sự tôn kính Người.

 

                                   Ba bài Kệ mang lại hạnh phúc

 

Kiều-Đàm-Ni cũng đã đọc lên 3 bài Kệ dưới đây nhằm báo trước một điềm tốt lành cho những ai biết tôn kính Đức Phật khi Ngài còn tại thế.  

1. Nadato pairsàyam te, vāditabbapahārino,

    Ye te dakkanti vadanam, dhannā tenarapungava.

2. Dighanguli tambanakhe, sube ayatapanhike.

    Ye pāde panamissanti, tepi dhannā gunandhara.

3. Madhurāni pahatthāni, dosagghāni hitāni ca.

    Ye te vākyāni sossyanti, tepi dhannā naruttama.

Ba bài kệ này có nghĩa là:

1. Hỡi ông chủ của loài người ! Khi Ngài thuyết Pháp cho người khác nghe, tiếng nói của Ngài vang dội như âm thanh của những cái trống. Thật may mắn và triển vọng thay cho những ai nhìn thấy đôi môi của Ngài phát ra tiếng nói.

2. Hỡi Con Người Đức Hạnh ! May mắn và triển vọng thay cho những ai ôm bình bát một cách cung kính trên tay, bước đi với bàn chân có ngón thon dài, móng và gót đỏ hồng.

3. Hỡi Đấng Cao Thượng nhất của muôn loài ! May mắn và triển vọng thay cho những ai được nghe giọng nói ngọt ngào của Ngài. Giọng Ngài truyền cảm hứng khiến cho người khác được hoan hỷ. Ngài là người xua tan thất bại và là chỗ dựa của thành công.

Những gì Trưởng lão Kiều-Đàm-Ni đã nhấn mạnh trong 3 bài Kệ nói trên là những lời nói phát ra trong những giây phút cuối cùng bà còn nhìn thấy mặt Đức Phật. Những lời nói này tỏ ra cung kính và biết lắng nghe Giáo Pháp của Ngài. Những bài Kệ mà bà để lại giống như lời chúc phúc tốt đẹp của bà đối với tương lai của Giáo Pháp. Bây giờ đây, khi đang lắng nghe lời Phật qua bài thuyết Pháp này, bạn hãy khởi tâm hoan hỷ ! Tuy nhiên, những người đã từng sống trong Giáo Pháp khi Đức Phật còn tại thế hưởng được nhiều may mắn hơn những chúng ta ngày hôm nay. Họ có hai niềm may mắn lớn, thứ nhất là được nghe chính giọng nói của Đức Phật, thứ hai là gặt hái được lợi ích từ Giáo Pháp do chính Đức Phật truyền giảng. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất hiện nay là bạn nên phát tâm hoan hỷ khi có cơ hội lắng nghe và hiểu biết về những lời dạy của Đức Phật được truyền bá bởi các vị đệ tử của Ngài. Nếu trí tuệ nội quán phát triển và nhận thức được Đạo Quả, tối thiểu người ta cũng có thể trở thành Tu-Đà-Hườn. Nếu tốt hơn, người ta sẽ trở thành Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm hay A-La-Hán. Vì vậy, những người đang lắng nghe Giáo pháp hãy tự an ủi mình bằng một sự thật rằng, họ cũng may mắn không kém gì những đệ tử của Đức Phật trong thời Ngài còn tại thế. Bài Kệ có ý nói rằng giọng nói của Đức Phật rất dịu dàng. Kinh Điển Phật giáo đã mô tả giọng nói đó giống như tiếng hót của loài chim Ca Lăng Tần Già – Karavīka. Liên quan đến vấn đề này, có một câu chuyện kể về hoàng hậu Asandhimittā– vợ của vua Siridhammaśoka ( tức vua A-Dục). Khi đang nghe giọng hót của chim Ca-Lăng-Tần-Già ( Karavīka) bà đã nhớ lại giọng nói của Đức Phật với tâm hoan hỷ và lấy tâm thức đó làm đề mục thực hành thiền. Kết quả bà đã trở thành một Tu-Đà-Hườn. Bài Kệ cũng nói rằng giọng nói của Đức Phật có thể khiến cho những người lắng nghe Ngài phát tâm hoan hỷ. Một thời, có một người nông dân trở nên đau buồn cùng cực khi cánh đồng lúa mì của anh ta bị lụt lội tàn phá. Với lòng trắc ẩn, Đức Phật đã tìm đến gặp người nông dân nọ và truyền cho anh ta bài Pháp có tên là Kāma Sutta- Kinh Thỏa Thích. Bài Pháp của Đức Phật không chỉ làm cho người nông dân nọ phát tâm hoan hỷ mà vợ của anh ta cũng được như vậy. Sau đó, cả hai vợ chồng người nông dân đã gặt hái được năng lực hiểu biết của một Tu-Đà-Hườn. Cái chết của vua Bình Sa- Bimbisāra đã khiến cho A Xà Thế - Ājatasattu bị khổ đau dày vò bởi tội giết cha. Đức Phật đã truyền cho ông bài Pháp có tên Kinh Sa Môn Quả - Sāmannaphala Sutta. Bài Kinh này nói về sự diễm phúc lớn lao của cuộc sống không nhà. Nhờ đó, vua A-Xà-Thế đã hồi phục được tâm trí và xóa sạch được sự mặc cảm về nghiệp ác giết cha. Cuối cùng ông đã trở thành một Tu-Đà-Hườn. Sau hết, bài Kệ đã chỉ ra rằng, giọng nói của Đức Phật có thể xua tan những thất bại của loài người như tính sân hận, căm thù…

Nếu biết lắng nghe lời dạy của Đức Phật, người ta sẽ có khả năng loại bỏ được những nghiệp xấu, một khi đã nhận thức được những hành động xấu ác của chính mình và quyết tâm tự cải thiện bản thân. Sự chú ý đến những lời dạy của Đức Phật sẽ dẫn dắt người ta đến với việc thực hành thiền nội quán. Loại thiền này có thể xóa sạch tất cả những tội lỗi hay nghiệp bất thiện. Tambadāthika trước kia là một kẻ giết người. Tuy nhiên, khi lắng nghe Tôn giả Xá-Lợi-Phất thuyết Pháp, tâm trí của anh ta đã trở nên đổi hướng về phía thiền nội quán.

Khi qua đời, anh ta được tái sanh làm một Chư-thiên sống tại cõi trời Đẩu Xuất – Tusitā. Angulimāla còn xấu ác hơn cả Tambadāthika. Anh ta đã giết chết rất nhiều người. Tuy nhiên, khi lắng nghe những lời dạy của Đức Phật, anh ta đã trở thành một Tỳ-kheo và cuối cùng đã đạt tới quả vị A-La-Hán. Những lời dạy của Đức Phật mang đến sự thịnh vượng cho cuộc đời. Nếu một ai đó thực hành Phật Pháp thì người này có thể gặt hái được phước báu ngay bây giờ và ở đây, không cần phải đợi đến kiếp sống mai sau. Nếu thường xuyên thực hành thiền nội quán ( tức thiền minh sát), người ta có thể đạt tới Đạo.

                                         

                                           Tôn kính Tăng Già      

 

Trưởng- Lão-Ni Kiều-Đàm-Ni đã tiếp cận với Tăng Già, trong đó có người cháu nội của bà là La Hầu La – Rāhulā, con traiNan Đà – Nandā của bà và cháu trai A Nan Đà – Ānandā. Cuối cùng bà đã nói lên bài Kệ thể hiện sự kính trọng họ. Bài Kệ có nội dung như sau :

Āsivisālayasame, rogāvāse kalevare,

   Nibbindā dukkhasanghāte, jarāmaranagocare.

Ñānākali malākinne, parāyatte nirihake,

   Tena nibbàtumicchāmi, anumannatha puttakā.

Bài Kệ có nghĩa là :

“  Con trai và cháu trai của ta ! Ta đã quá nhàm chán với thân thể này – nơi thường xuyên chất đầy nọc độc của loài rắn, là kho chứa tất cả các loại bệnh tật, ngôi nhà của khổ đau, nơi nghỉ dưỡng của tuổi già và cái chết, bãi chứa rác và các thứ bẩn thỉu. Thân thể luôn luôn phụ thuộc vào những cái khác và không bao giờ tự duy trì được. Hãy bằng lòng cho ta chấm dứt khổ đau. Hãy cho phép ta được mãn nguyện !” 

Thân thể này được làm nên bởi 4 nguyên tố nền tảng là : Đất ( Pathavī), nước

( Āpo), lửa( Tejo) và gió ( Vāyo). Đất biểu thị tính cứng hoặc mềm của vật chất và được biểu trưng trong thân xác qua 20 loại vật chất đa dạng bao gồm :  Tóc, móng, răng, da, thịt, gân, tim, phổi, gan, dạ dày, ruột non, ruột già ( tức ruột thẳng hay trực tràng), não bộ…Nước cũng được biểu trưng bởi 12 chức năng sinh lý như : Mủ, mật, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước tiểu… Lửa được biểu trưng bởi 4 loại hơi nóng. Trong khi đó, gió bao gồm 6 loại có liên quan mật thiết với nhau trong hơi thở. Đối với tất cả những chúng sanh có cảm giác, những nguyên tố này chính là nguồn khổ đau khi chúng có biểu hiện khác thường như bệnh tật và cái chết. Vì vậy, chúng giống như nọc độc của loài rắn. Thân thể này là kho chứa nhiều loại bệnh tật. Trưởng-Lão-Ni Kiều-Đàm-Ni đã biểu lộ ước muốn của bà là muốn giã từ thân thể của mình – nơi chứa chấp tuổi già, bệnh tật và cái chết. Ba mươi hai bộ phận trong thân thể của chúng ta

( Kottoāsa) luôn luôn là đối tượng của bệnh tật. Chúng bị con người gọi là các thứ rác rưởi bẩn thỉu. Tuy nhiên, chúng ta nên quan tâm đến trạng thái tinh khiết của tâm trí hơn là thân thể vật chất. Những hành động bất thiện là cha đẻ của những nghiệp quả bất thiện. Các vị A-La-Hán không còn lo lắng về những hành động này nữa. Tuy nhiên, kể từ khi trạng thái cấu thành tinh thần chính là vũ trụ mà trong đó tất cả chúng ta đang sống, chúng ta cần phải chú ý đến sự bộc phát của những thứ ô nhiễm tựa như rác rưởi có thể làm cho mình bị nhơ bẩn. Chúng ta thường có thói quen nói rằng : “ Thân thể này là của tôi”. Tuy nhiên,thật sự nó có phải là của chúng ta hay không? Theo các nhà hiền triết ngày xưa, thân thể là nơi sinh sống của 84 loại ký sinh trùng. Thật ra, chúng ta phải gọi thân thể là ngôi nhà của những loại ký sinh trùng này mới đúng. Nó chính là con muồi của những loài côn trùng như : Ruồi, muỗi và rệp. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng thân thể luôn luôn phụ thuộc vào những cái khác. Nó không phải là của chúng ta. Thân thể của loài người không có khả năng tự duy trì được chính nó. Ví dụ như vấn đề sức khỏe, thức ăn, y phục…Chúng ta có thể nhìn thấy điều này một cách rõ ràng hơn khi thân thể bị đau đớn do bị bệnh. Nó không thể tự điều trị bệnh cho nó được. Vì vậy, khi muốn làm ông chủ của thân thể, bạn phải gọi bác sĩ. Thân thể không thể tự chống đỡ bằng nổ lực của chính nó. Nó luôn luôn phụ thuộc vào những yếu tố bên ngoài để được thịnh vượng. Khi Trưởng lão Kiều-Đàm-Ni đang còn nổ lực phục vụ cho sự thịnh vượng của Tăng Già, Nandà và Rāhulā đã trở thành những vị A-La-Hán. Vì vậy, họ không hề tỏ ra xúc động với việc nhập Đại-Niết-Bàn của Kiều-Đàm-Ni. Tuy nhiên, Ānandā vẫn còn là một Sekha – Học giả đang tiếp tục tu hành để gặt hái Đạo Quả. Vì vậy, ông đã bị suy nhược tinh thần và khóc lóc thảm thiết : “ Hā santim Gotami yāti, numa Buddhopi nibbutim, Gacchati na cireneva, aggiriva nirindhano.Chao ôi ! Trưởng Lão Kiều-Đàm-Ni đang nhập vào Niết Bàn – nơi trạng thái bình yên đang thống trị. Chẳng bao lâu nữa Đức Phật cũng sẽ diệt độ giống như ngọn lửa bị dập tắt khi bấc đèn đã cháy hết ! Khi nghe Ānandā than khóc nhiều quá, Trưởng lão Kiều-Đàm-Ni đã an ủi ông bằng những lời lẽ dưới đây :

Sutta sāgaragambhira, Buddhopatthāna tappara, Na yuttam socitum putta, hāsakāle upatthite, tayā tāya samijjhittho, pabbajjam anujāgatam no, mā putta vimano hohi, saphalo te parissamo, Yam na dittham purānehi, titthikācariyehipi Tam padam sukumārihi, sattavassāhi veditam.

Đoạn Kinh này có nghĩa là :

Ānandā! Ông đã có sự hiểu biết sâu rộng như đại dương và đã tự mình thực hiện được nhiệm vụ chăm sóc cho Đức Phật. Ông không nên buồn bã với cơ hội đáng hoan hỷ này. Với tất cả sự giúp đỡ của ông, tôi đã lấy Niết-Bàn làm nơi ẩn náu. Hãy để cho tôi thực hiện điều đó. Ānandā ! với sự thỉnh cầu của ông vì lợi ích của chúng tôi, Đức Phật đã cho phép những phụ nữ thế tục được thọ Giới Tỳ-kheo-Ni. Ông không nên đau buồn như thế. Cầu chúc cho sự nổ lực lớn lao của ông được viên mãn. Ānandā ! Trước đây chưa từng có một tu sĩ khổ hạnh nào khám phá được Niết-Bàn mặc dù họ đã thực hành tôn giáo. Bây giờ đây, một bà già đã nhận thức được nó.

Bằng cách đó, Kiều-Đàm-Ni đã tỏ lòng kính trọng Ānandā vì ông đã thành côngtrong việc thỉnh cầu Đức Phật cho phép nữ giới gia nhập vào Tăng Đoàn. Để trở thành các vị A-La-Hán, Kiều-Đàm-Ni và những người tùy tùng của bà đã phải trải qua rất nhiều khó khăn mới đạt được. Dù sao đi nữa bà cũng phải cám ơn Ānandā. Bây giờ họ đã trở thành những A-La-Hán. Sau khi Đức Phật diệt độ, rất nhiều Tỳ-kheo-Ni khác đã có cơ hội thực hành Giáo Pháp với mục đích nhận thức được Đạo. Trước khi Đức Phật Thành Đạo, đã có những tu sĩ khổ hạnh như : Sarabhanga, Ālāra và Udaka sở hữu được thần thông. Tuy nhiên, họ chưa nhận biết được Niết-Bàn. Khi những phụ nữ thế tục được phép gia nhập Tăng đoàn, thậm chí một bà già cũng có thể nhận thức được Niết-Bàn. Do đó, Ānandā đã làm được một điều vĩ đại trong đời ông và điều này có thể khiến cho ông được hạnh phúc.

                 

                Những phép thần thông của Trưởng Lão Kiều-Đàm-Ni    

 

Khi thời điểm nhập Đại-Niết-Bàn của Kiều-Đàm-Ni đã đến gần, Đức Phật đã yêu cầu bà xử dụng phép thần thông :“Thinam dhammābhisamaye, ye bālā vimatim gatā, tesam ditthippahānatham, iddim dossehi Gotami.”Đoạn Kinh này có nghĩa là : “Kiều-Đàm-Ni ! Vô minh đã khiến cho người ta nghi ngờ về khả năng lãnh hội Ánh Sáng Phật Pháp của những phụ nữ thế tục.Theo trình tự xua tan sự nghi ngờ này, bà nên vui lòng xử dụng phép thần thông.” Vào thời Đức Phật còn tại thế, những kẻ dị giáo không cần đếm xỉa đến những lời dạy của Ngài. Họ không chịu chấp nhận một sự thật rằng, những người phụ nữ thế tục thực hành thiền định hay thiền quán đã nhận thức được Đạocó thể gặt hái được tâm thiền và thần thông. Đối với việc Đức Phật hỏi Kiều-Đàm-Ni về thần thông, vì muốn trục xuất những kẻ bất lương ra khỏi Tăng Đoàn, Ngài đã nói rằng những Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-Ni được phép xử dụng thần thông. Vì vậy, khi sắp qua đời, Kiều-Đàm-Ni đã thi thố thần thông nhằm mục đích đả phá quan điểm phê phán Phật Giáo của những kẻ ngoại đạo. Tiếp đến, vị Trưởng-Lão- Ni đã thi thố thần thông bằng cách biến một người thành nhiều người, biến nhiều người thành một người. Điều này đã chỉ ra rằng, Kiều-Đàm-Ni đã tạo ra được nhiều người giống hệt như bà, cũng như biến tất cả những người đó trở thành một người như cũ. Bà đã bay trong không trung rồi bất thần đâm nhào xuống mặt đất. Bà đã biến bản thân mình thành ra nhiều vật thể đa dạng, ngạo nghễ biến ra Đấng Quân Vương của vũ trụ và đoàn tùy tùng của ông đi hộ tống cho bà. Việc biểu diễn năng lực thần thông của Kiều-Đàm-Ni hùng mạnh đến nổi có thể phát triển niềm tin nơi những người ngưỡng mộ Phật Pháp, đồng thời xóa tan tâm trí nghi ngờ Giáo Pháp của những kẻ ngoại đạo. Đây là một lời phát biểu có tính phổ thông khi nói về thần thông. Tuy nhiên, nó có tính võ đoán mà những người theo chủ nghĩa giáo điều thường xử dụng để kêu gọi niềm tin nơi tín đồ của họ. Thậm chí, nếu đã có khả năng thể hiện cho mọi người thấy rằng bạn có thể bay thì đó cũng là một thứ chủ nghĩa giáo điều có thể nguy hại đến tiến trình tu tập Đạo Giải Thoát, hãy cẩn thận !

 

                                      Lời thỉnh cầu cuối cùng

 

Sau khi đã thi thố năng lực thần thông theo lời yêu cầu của Đức Phật, Kiều-Đàm-Ni đã có lời thỉnh cầu cuối cùng với Ngài : “  Sā visavassasatikā, jatiyāhan mahāmune, Alamettāvatāvira, nibbāyissāmi nāyaka”.

Đoạn Kinh này có nghĩa là : “ Hỡi Con Người Vĩ Đại ! Tôi đã 120 tuổi. Thi thố thần thông như vậy là đủ rồi. Hãy cho phép tôi nhập vào Niết-Bàn, nơi tất cả những nổi khổ đau đã tận diệt”. Đức Phật đã thể hiện sự đồng ý của Ngài bằng cách im lặng. Tiếp đến, Trưởng Lão Kiều-Đàm-Ni và 500 người tùy tùng của bà đã quay trở về tu viện của họ. Đức Phật đi theo họ cho đến cuối chặng đường. Khi đoàn người về đến trước cổng tu viện, Kiều-Đàm-Ni và những người tùy tùng của bà đã cung kính đảnh lễ Đức Phật lần cuối cùng.

 

                                                Đại Niết-Bàn

 

Tất cả những Tu Nữ dưới sự lãnh đạo của Trưởng-Lão Kiều-Đàm-Ni đã mệt lữ sau cuộc hành trình dài. Họ trở về chỗ riêng của mình và quì xuống theo cung cách của một hành giả thực hành thiền. Những người phụ nữ mộ Đạo đứng vây chung quanh họ và hầu hết đều khóc lóc. Kiều-Đàm-Ni tiến lại gần và vỗ nhẹ lên đầu từng người để an ủi họ, vị Trưởng -Lão đã đưa ra lời khuyên sau đây :

Alam puttā visadena, mārapāsānuvattinā. Aniccam sankhatam sobbam, viyogantam calācalam”. Lời khuyên này có nghĩa là : “ Hỡi những người em gái ! Các người không nên tự đầu hàng trước sự xúi giục của những thứ ô nhiễm. Tất cả những trạng thái cấu thành tinh thần và thân xác là ngắn ngủi và nhất thời. Chúng ta nên xem xét kỹ lưỡng về bản chất của chúng. Trên đời này không có bất cứ một cái gì có thể trường tồn vĩnh viễn”. Tiếp đến, Kiều-Đàm-Ni yêu cầu những người phụ nữ mộ Đạo trở về nơi cư trú của họ. Ngay sau đó bà bắt đầu nhập thiền. Lần lượt đạt tới sơ thiền rồi nhị thiền, tam thiền rồi tứ thiền theo một trình tự thích hợp. Tiếp đến, bà đảo ngược tiến trình và trở lại sơ thiền. Sau đó, bà lại bắt đầu tiến trình từ sơ thiền cho đến khi đạt tới tứ thiền. Tất cả 5 uẩn của bà đã đi đến chỗ chấm dứt giống như một ngọn lửa bị dập tắt khi dầu và bấc đèn của nó đã hoàn toàn cạn kiệt. Tất cả 500 Tỳ-kheo-Ni đệ tử của bà cũng đã nhập vào Niết-Bàn theo cách tương tự. Sau khi lễ hỏa táng của Trưởng Lão Kiều-Đàm-Ni đã hoàn thành. Ānandā đã thu nhặt xương và tro cốt của bà rồi đặt chúng vào trong một cái tráp. Tôn giả đã mang cái tráp này dâng lên Đức Phật. Đức Thế Tôn đã cầm cái tráp chứa Xá-lợi của vị Trưởng- Lão-Ni trên tay, tỏ lòng biết ơn đối với người mẹ kế của Ngài và nói rằng : “ Cái chết của bà giống như việc bẽ gãy một cành cây ra khỏi một cây to. Bà đã vượt qua đại dương luân hồi. Khi tất cả những thứ ô nhiễm đã tận diệt thì tất cả những thứ khổ đau cũng đã bị loại bỏ. Khi đang còn sống, bà là một người phụ nữ có trí tuệ cao thượng nhất trong những Tu Nữ lớn tuổi khác đang sống bên cạnh bà. Sở hữu 5 loại thần thông, thông suốt loại trí tuệ có liên quan đến trạng thái dập tắt dục tình ( Āsavakkhaya Ñāna).

Bà đúng là một Tỳ-kheo-Ni hoàn mỹ”.

                             

                               Trong lời tán dương về Niết-Bàn

 

Tiếp đến, Đức Phật đã nói ra bài Kệ dưới đây một cách dứt khoát :

Ayoghanahatasseva, jalato jātavedassa, anupubbupasantassa, yathā na nayate gati. Evamsammā vimuttānam, kāmabandhoghatārinam, paññāpetum gati natthi, Pattānam acalam sukham”. Bài Kệ này có nghĩa là : “ Khi một nhát búa tạ giáng xuống cái đe, thật đúng là không có cách nào nhận biết được những tia lửa nhỏ vừa lóe lên một lần ở đó rồi biến đi đâu mất. Thậm chí, cũng không có cách nào để nhận biết được cơn lũ khao khát cảm giác đã đi về đâu khi bị những vị A-La-Hán vượt qua và bình yên đã được thiết lập một cách chắc chắn”.

Khi người thợ rèn nắm lấy chiếc búa tạ và giáng xuống cái đe, những tia lửa nhỏ đã lóe lên trong vỏn vẹn một khoảnh khắc rồi tan biến đi ngay lập tức. Không có cách nào để nhận biết được những tia lửa đó đã đi về đâu. Trạng thái vượt qua được cơn thủy triều ô nhiễm của những vị A-La-Hán cũng giống như thế. Nghĩa là không thể biết được tâm khao khát cảm giác đã đi về đâu. Trong trạng thái vắng mặt của tâm bám víu, nghiệp và những dấu hiệu của nghiệp, những dấu hiệu của nơi sẽ tái sanh vào đã thất bại trong việc tái lập sự cấu thành các đối tượng của giác quan. Trong trạng thái thiền nội quán, thức cận tử đã thuộc về Đại-Niết-Bàn. Tinh thần và vật chất đã chấm dứt một cách êm thấm trong trạng thái nhận thức được Niết-Bàn bình yên. Tất cả những trạng thái cấu thành nghiệp đã trở nên tĩnh lặng. Vì vậy, không có cách nào để nhận biết được các vị A-La-Hán đã đi về đâu trong 31 cõi sống của vũ trụ. Trong sự phân tích này, những tia lửa nhỏ nói trên là vô thường và không có thật. Do đó, chúng cũng không hiện hữu. Một cách tương tự, tinh thần và vật chất đã tạo ra nền tảng của sự sống ( trước khi qui tụ về Đại-Niết-Bàn) là vô thường, không có thật và không hiện hữu. Tâm bám víu vào ý tưởng về tự ngã cuối cùng cũng phải dẫn đến một lời xác nhận rằng, cá tính của các vị A-La-Hán đã không đi về đâu cả. Tuy nhiên, trước tiên chúng ta nên nhớ rằng không hề có một cá thể nào cả. Những gì chúng ta thường gọi là một cá thể là không có thật. Đó chỉ là một trạng thái biểu lộ hiện tượng khởi lên và tan biến đi của các uẩn mà thôi. Tùy thuộc vào hiện tượng này, tâm bám víu – Upādāna sẽ khởi lên. Tuy nhiên, thật ra 5 uẩn là một đống khổ đau. Khi đạo đức, thiền định và thiền quán được thực hành một cách đúng đắn. Trạng thái tâm nhàm chán như Trưởng lão Kiều-Đàm-Ni đã nói sẽ phát triển. Sau đó, sợi dây ràng buộc là tinh thần và vật chất sẽ bị cắt đứt hoàn toàn. Vì vậy, sau khi thức cận tử khởi lên, tất cả nền tảng của sự sống đã bị tiêu hủy. Điều này không có nghĩa là không còn gì cả, nó có nghĩa là trong thực tế, toàn bộ luân hồi khổ đau đã chấm dứt. Khi sự trở thành đã không còn khởi lên trong trạng thái chấm dứt của khổ đau thì tuổi già, bệnh tật và cái chết cũng đã đồng thời biến mất đi. Có người hỏi rằng nếu chúng ta có thể đi lên trời, nơi không có tuổi già, bệnh tật và cái chết có phải tốt hơn chăng ? Tuy nhiên, đây chính là chủ nghĩa duy tâm trong mức độ cao nhất của nó. Loại trời theo kiểu này chỉ có trong sự tưởng tượng. Bất cứ cái gì đã khởi lên đều phải tan hoại đi. Nơi cư trú của các Chư-thiên và Phạm-thiên quả thật là các cõi trời. Tuy nhiên, ở đó người ta sẽ tìm thấy loại tinh thần và vật chất luôn luôn ở trong trạng thái tuôn chảy mạnh. Chúng khởi lên và sẽ biến mất đi một cách tức thì ngay sau đó. Vì vậy, khi đã hết tuổi thọ, họ cũng phải chết ! Chỉ với trạng thái chấm dứt hoàn toàn của tinh thần và vật chất mới có thể biểu lộ cho chúng ta thấy rằng, Chân Lý Về Khổ Đau và hạnh phúc thật sự là có thể đạt tới. Bằng phương tiện Đạo và Quả, khao khát biểu lộ cho chúng ta thấy rằng, Chân Lý Về Nguyên Nhân Của Khổ Đau có thể tiêu hủy được. Năm uẩn sẽ không còn khởi lên sau khi thức cận tử đã kết nối với Niết-Bàn. Khi Chúng ta đạt tới Niết Bàn Vô Dư – Anupādisesa Nibbāna, 5 uẩn sẽ hoàn toàn chấm dứt một cách vĩnh viễn.

 

                                     Lời động viên của Đức Phật     

 

Kinh Thí Dụ Ba-Lị - Āpādāna Sutta Pālithuộc Tiểu Bộ Kinh – Khuddaka Nikāya, nơi Trưởng Lão Kiều-Đàm Ni được nói đến. Kinh này có ghi lại Bài Kệ Động Viên – Uyyojana Gāthā mà Đức Phật đã thuyết cho các đệ tử của Ngài nghe. Bài kệ như sau : “ Atta dipā tato hotha, satipatthāna gocarā. Bhavetvā satta bojjhange, sukkhassantaam karissatha”. Bài Kệ này có nghĩa là : “ Hãy an trú trên hải đảo tự thân, nơi tứ-niệm-xứ  được quan tâm, bạn sẽ đạt tới trạng thái giải thoát. Phát triển thất-giác- chi, quí vị sẽ gặt hái được Đạo Quả, nơi tất cả những thứ khổ đau đã hoàn toàn chấm dứt”. Kāyānupassanā là sự quán niệm về thân thể, Vedanānupassanā là sự quán niệm về cảm giác, Cittānupassanā là sự quán niệm về tâm tríDhammānupassanā là sự quán niệm về các pháp ( chữ Pháp ở đây có nghĩa đối tượng của tâm ý hay là trạng thái tư tưởng về một cái gì đó - ND).

Đức Phật đã động viên các đệ tử của Ngài hãy thực hành quán niệm theo qui phạm đã được ghi lại trong Kinh Đại Niệm Xứ- Mahā Satipatthāna Sutta và lấy những lãnh vực được ghi trong Kinh này làm đề mục quán niệm. Đây chính là sự phát triển hải đảo tự thân, nơi những lãnh vực này đang cư trú. Nếu 4 lãnh vực quán niệm ( thân, thọ, tâm, pháp) này được thực hành một cách đúng đắn thì sẽ dẫn đến trạng thái viên mãn của thất-giác-chi ( tức 7 nhân tố dẫn đến giác ngộ - ND). Trạng thái viên mãn của thất-giác-chi sẽ dẫn đến sự hiểu biết cùng tột, mở đường cho trạng thái nhận thức được Niết-Bàn. Để kết thúc bài thuyết Pháp này, hãy để tôi cầu nguyện cho những thính giả đang lắng nghe Phật Pháp một cách tôn kính và chăm chú. Cầu chúc cho tất cả họ sẽ có khả năng đạt tới Niết-Bàn một cách nhanh chóng bằng những suy nghĩ và hành động thiện lành trong quá trình thực hành quán niệm. Điều đó sẽ khiến cho họ có thể đạt tới trạng thái nhận thức cùng tột về thất-giác-chi. Lành thay !

 

                                              * * * Hết * * *           

                                                                             

 

                                            

 

  

           

 

                              

             

 

 

                                    

 

 

                 

 

                       

 

 

 

                    

 

 

         

 

 

 

 

                           

            

                                        

 

 

 

 

 

                                

 

               

                                               

 

                                             

 

  

 

 

 

                                                                        

 

                                  

 

                           

                                                                              

 

                            

    

 

                                                    

 

                

 

                                    

 

                                                                  

 

                          

  

 

 

               

 

                                                  

 

  

 

              

 

  

 

 

 

                                                        

 

       

 

                                                                                                                               

 

 

     

                                    

 

 

 

 

                                                               

 

         

 

         

       

 

                                  

 

              

 

        

 

   

                                    

                                         

 

  

                                    

 

     

 

                               

 

                                     

 

 

 

                                                             

    

 

                         

 

                                                 

 

 

 

        

       

                                   

 

                                 

                     

 

                                                    

                                                     

                                                          

 

                                                          

                                 

                                                                      

Tác giả bài viết: Admin

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

top

Những tin cũ hơn

top