Tưởng nhớ ngài K. Sri Dhammananda

Thứ ba - 04/02/2014 12:16
Tưởng nhớ ngài K. Sri Dhammananda

Tưởng nhớ ngài K. Sri Dhammananda

Tưởng nhớ nhà lãnh đạo tôn giáo đáng kính, người cha tinh thần của Phật giáo. Nguyên thuỷ Đại Tịnh Xá ( Maha Vihara Theravàda) – Mã Lai Á. Đại diện tập đoàn điện tử Tiên Phong ( Pioneer) tại Mã Lai Á phỏng vấn ( 2001).

 

                 Ngài Trưởng Lão Tăng thống – Tiến sĩ Phật học

                             K. Sri Dhammananda

                                 ( 1918 – 2006 )

        Người phỏng vấn         :   Ling Ching Ching

       Nguyên bản tiếng Anh :   Remembering Chief Reverend

       Ấn tống :                           Sasana Abhiwurdhi Wardhana Society

                                                  ( Phật giáo Nguyên thuỷ Đại Tịnh Xá – Mã Lai Á )

                                                  123 Jalan Berhala – Brickfields 50470

                                                  Kuala Lumpur – Malaysia

        Nhà tài trợ :                     Hai Tao life foundation

        Sách được miễn phí bản quyền , có thể tự do sao chép.

        Ghi lại từ CD Video và dịch sang tiếng Việt :  Phạm Xuân Quang ( 2010)

                                                - Địa chỉ : 24 A Kiệt 257 Chi Lăng – Huế- VN

                                                - Điện thoại NR :  0542460293

                                                - Điện thoại DĐ :0948753810

                                                - Thư điện tử :sachthienhaiau@yahoo.com.vn

                                                       

                                                       Phỏng vấn

     

Ling Ching Ching

Bạch Ngài Tăng Thống đáng kính ! Ngài có thể cho biết một điều gì đó về Mã-Lai-Á mà Ngài đã thấy từ lúc mới đặt chân lên đất nước này ? Mã-Lai-Á trong quá khứ và ngày nay khác nhau như thế nào ?

 Ngài K. Sri Dhammananda

Vâng, Tôi đã chứng kiến nhiều đổi thay trên đất nước này, Mã-Lai-Á đã phát triển và vươn lên từ những cánh đồng nông nghiệp. Tôi đã từ Tích Lan ( Sri Lanka) đến đây bằng thuyền vào tháng giêng năm 1952 và cập bến tại Penang. Từ Penang, tôi đã phải đi máy bay để đến Kuala Lumpur bởi vì tuyến đường sắt nối liền 2 thành phố này vào thời điểm đó không hoạt động được. Nó đã bị chiến tranh phá huỷ. Khi tôi đến đây ( Kuala Lumpur) thì ngôi đền này đã có trước đó hơn 100 năm. Tuy nhiên, tôi không có phòng riêng để ngủ. Chúng tôi chỉ có độc nhất một ngôi chánh điện cũ kỹ dùng để thờ Phật và xử dụng cho mục đích truyền giáo. Vì vậy, mọi sinh hoạt hằng ngày của tôi như : Ăn, ngủ, truyền giáo… đều diễn ra trong ngôi chánh điện này (cười !). Tôi nhớ là khoảng gần 15 năm sau thì chúng tôi mới có điều kiện để xây dựng một toà nhà mới, cũng tại chỗ cũ. Bây giờ, chỗ chúng tôi đang ở là toà nhà Wisma Sri Dhamma có 3 tầng. Hồi tôi mới đến ở đây, Brickfields street  là con đường duy nhất dẫn đến toà nhà Wisma Sri dhamma bây giờ. Tất cả những con đường khác chỉ mới phát triển sau này.Vào thời đó, cũng có khoảng 2 hay 3 ngôi nhà mọc lên phía trước mặt ngôi đền này. Phật Giáo Nguyên Thuỷ ( Theravàda) thường gọi các ngôi chùa ( pagodas) là đền ( Caitya - temples, tức nơi có chánh điện thờ Phật). Nơi ở của Chư Tăng (chiền) thì gọi là tu viện hay tịnh xá

( Rāma hay Vihara - Monasteries). Lúc đó, xung quanh vùng này không có nhà cửa gì cả. Tuy nhiên cô biết đó,  đường xá lúc bấy giờ quanh co khúc khuỷu, nhỏ và rất khó đi, chứ không thẳng và to lớn như đường xá bây giờ. Ở nhiều khúc cua trên đường đi, người ta đặt một tấm biển giao thông để hướng dẫn cho xe cộ qua lại. Trên tấm biển ghi chữ Stop - look – go ( Dừng lại – chú ý nhìn – đi). Vào thời đó, ở đây không có một chiếc cầu vượt ( cầu được bố trí băng ngang qua các tuyến giao thông – xe cộ có thể di chuyển phía dưới gầm cầu) nào cả. Mảnh đất 2 mẫu Anh này ( đất nằm trong khuôn viên của Wisma Sri Dhammma – một mẫu Anh bằng khoảng 0,4 hecta) là do chính phủ Liên Hiệp Anh cấp. Nguyên nhân cấp đất là vì thời đó có nhiều người Tích-Lan ( Sri Lanka - Sinhalese) di cư đến Mã Lai Á. Khi đến đây, họ cần có một chỗ để thờ phụng đúng theo truyền thống của mình. Sau đó, những người Tích-Lan di cư này đã đi thăm các ngôi đền của cộng đồng người Trung Quốc và Thái Lan nhưng họ không thể hiểu được ngôn ngữ, tập tục và truyền thống tôn giáo…của các cộng động này. Đó là lý do tại sao, họ đã thỉnh cầu chính phủ Liên Hiệp Anh cấp cho họ một mảnh đất để xây cất nơi thờ phụng. Sau đó, những người Tích Lan đầu tiên di cư đến Mã Lai Á đã được chính phủ Liên Hiệp Anh đáp ứng lời thỉnh cầu nói trên.Dần dà, họ ( những người Tích Lan di cư) đã mời những vị Tỳ-kheo tại Tích Lan đến ở và truyền giáo tại ngôi đền này. Tuy nhiên, những Tỳ kheo đó không hoàn thành được sứ mệnh truyền giáo và chỉ hoạt động được trong phạm vi cộng đồng người Tích Lan ( Sinhalese- người Tích-Lan, cũng có nghĩa là tiếng Tích Lan). Bởi vì những Tỳ-kheo nói trên chỉ nói được tiếng Tích Lan nên khả năng truyền giáo của họ rất hạn chế. Có rất nhiều người đang sinh sống tại Mã Lai Á thời bấy giờ không biết đây là một ngôi đền thờ Phật. Ngôn ngữ là một vấn đề khó khăn và trở ngại trong sứ mệnh truyền giáo của những Tỳ-kheo Tích-Lan thời đó. Các hoạt động truyền giáo của họ bị bó buộc nội trong cộng đồng người Tích-Lan và cứ duy trì như thế suốt gần 50 năm, trước khi tôi đến đây ( tháng giêng năm 1952). Khi mới đến Mã Lai Á, tôi cũng không thể kết giao với những cộng đồng khác ngoài cộng đồng người Tích Lan, đặc biệt là những người Trung Quốc. Lúc đó, chúng tôi cũng không làm được gì nhiều trên đất nước này bởi vì người Trung Quốc chiếm đến 98% dân số Mã Lai Á và đa số họ là Phật tử. Những sắc dân khác tại Mã Lai Á chỉ chiếm 2% dân số toàn quốc. Vì vậy, ngôn ngữ lại trở thành một chướng ngại lớn trong sứ mệnh truyền giáo của chúng tôi. Vào thời đó, tại Mã Lai Á rất ít người Trung Quốc xử dụng tiếng Anh, đặc biệt là khi họ đến thăm viếng ngôi đền này. Họ nói tiếng Trung Quốc, chúng tôi nói tiếng Tích Lan nên như thể bò với gà nói chuyện với nhau vậy. Chúng tôi và những người Trung Quốc không thể hiểu nhau được. Tuy nhiên, chúng tôi cũng đã làm cho họ hiểu được tí chút khi nói với họ thông qua một thông dịch viên. Vì vậy, mỗi khi cần tiếp xúc và nói chuyện với những người Trung Quốc chúng tôi đều phải cần một thông dịch viên. Sau đó, dần dần những người Trung Quốc bắt đầu đến đây ( Wisna Sri Dhamma) để học Phật Pháp. Tiếp đến, chúng tôi bắt đầu tổ chức các nhóm dạy và học tiếng Anh vào ngày chủ nhật hàng tuần cho cộng đồng người Trung Quốc ở Mã Lai Á. Họ chưa bao giờ được tham gia các khóa học tiếng Anh. Sau đó, họ bắt đầu gởi con em của mình đến học tiếng Anh và học Phật Pháp tại các lớp học của chúng tôi vào các ngày chủ nhật. Chúng tôi cũng mở thêm các lớp dạy và học tiếng Trung Quốc nhưng chúng tôi chủ yếu phát triển các lớp tiếng Anh. Những người mộ Đạo và nhiều người khác cũng đến với chúng tôi để học Phật Pháp bởi vì trong những ngày ấy ở Mã Lai Á, các ngôi đền thờ Phật khác không có hệ thống truyền giáo như chúng tôi. Ở những ngôi đền đó, người ta chỉ đến và làm một vài việc như dâng cúng hoa quả, thắp nhang và đốt giấy vàng mã…Tất cả các ngôi đền khác cũng không có gì hơn, tất cả đều thực hành Phật Pháp theo kiểu như vậy, ngoại trừ ngôi đền của chúng tôi thì khác. Vì vậy, chúng tôi bắt đầu dạy cho các trẻ nhỏ hiểu đúng về Phật Giáo. Sau đó, chúng tôi bắt đầu tổ chức các hoạt động thanh niên và cho phép họ tách ra từng nhóm nhỏ để hoạt động. Tiếp đến, chúng tôi lại tổ chức các buổi nói chuyện trong từng cộng đồng. Vào những ngày ấy ở Mã lai Á, người ta không có các buổi sinh hoạt cộng đồng tương tự như hội đoàn Phật tử . Sau nữa, chúng tôi bắt đầu viết sách về Phật Pháp và dịch chúng sang tiếng Trung Quốc.  Ngày nay, trong rất nhiều ngôi đền khác ở Mã Lai Á người ta cũng bắt đầu có những hoạt động tương tự như thế, sau khi đã học được cách thực hành Phật Pháp của chúng tôi. Họ bắt đầu có nhiều hội đoàn Phật tử mới phát sinh, ví dụ như : Hội đoàn Phật tử Subang Jaya, Cempaka, Bandar Utama…Tất cả những thành viên trong các hội đoàn Phật tử mới mẽ này đều là những người đã từng theo học Phật Pháp ở chỗ chúng tôi trước đây. Cho đến nay, họ vẫn thường xuyên liên lạc với chúng tôi. Chúng tôi và họ cùng làm việc chung với nhau. Chúng tôi cũng đang tài trợ và giúp đỡ họ trong nhiều lãnh vực để họ có thể phát triển thêm những hoạt động Phật giáo. Đồng thời, hiện nay chúng tôi cũng đã thiết lập những hội đoàn Phật tử trong các trường đại học ở Mã Lai Á. Chúng tôi cũng thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyện tại các trường đại học ở Mã- Lai-Á như : Đại học UKM ( United Kingdom Malaysia), USM ( United states Malaysia), UPM… Những sinh viên ở các trường đại học nói trên cũng thường xuyên tìm đến với chúng tôi hoặc có khi chúng tôi tìm đến họ để tổ chức các hoạt động về tôn giáo. Chúng tôi muốn giúp đỡ các sinh viên tổ chức các hoạt động tôn giáo cho đến khi họ có khả năng tự tổ chức được những hoạt động này.

Ling Ching Ching

Theo quan điểm của Ngài thì có gì giống nhau và khác nhau khi so sánh cách thực hành Phật giáo tại Mã Lai trong quá khứ và ngày nay ?  

Ngài K. Sri Dhammananda

Trong thời tôi mới đến đây, người ta chỉ mộ Đạo qua hình thức bên ngoài. Họ đi tới các ngôi đền thờ Phật để dâng cúng và lễ bái là chủ yếu. Đó là cách để họ phát triển sự sùng kính của mình. Tuy nhiên, họ không có kiến thức và chưa hiểu đúng về Phật Pháp. Họ chưa biết rõ Đức Phật là ai và Ngài là người như thế nào ? Ngài đã truyền bá những điều gì ? Họ cũng chưa biết những người Phật tử cần phải làm những điều gì ? Những hành động nào mà họ đã làm là không đúng với lời dạy của Đức Phật ?Nói tóm lại, họ chưa biết Đạo Phật một cách đúng đắn và hoàn chỉnh.

Tuy nhiên ngày nay, sau khi đã tham dự vào các lớp học về tôn giáo, các buổi thuyết Pháp hay các buổi nói chuyện về Đạo Phật , đọc các loại sách nói về Đức Phật mà chúng tôi đã xuất bản… thì họ đã trở nên nhận biết được Phật Giáo là gì. Bây giờ họ lại cố gắng giới thiệu và quảng bá Đạo Phật cho những người trẻ tuổi và những người lớn tuổi trong các hội đoàn Phật tử của họ. Ngày nay tại Mã Lai Á, tôi nghĩ rằng có hơn 200 hội đoàn Phật tử. Ở những nơi đó, họ thực hành Phật Pháp đúng theo những lời dạy của Đức Phật. Vào thời tôi mới đến đây, trên đất nước này chỉ có duy nhất một hội đoàn Phật tử. Hội đoàn này được người Tích-Lan thành lập cách đây hơn 100 năm (1894).  Những ngôi đền khác tại Mã Lai Á không phải là những hội đoàn Phật tử, cách thực hành tôn giáo của họ không phải là cách thực hành Phật Pháp, mặc dù họ đã hiểu nhầm rằng họ chính là những hội đoàn Phật tử. Ngày nay, hơn 200 hội đoàn Phật tử tại Mã Lai Á vừa nói đang trên đà phát triển rất mạnh. Đa số họ là những người trẻ tuổi rất năng động. Họ đã học Phật Pháp trong các trường đại học và trung học, như trường trung học TAR và nhiều nơi khác. Sau khi tốt nghiệp tại các trường này, họ trở về địa phương của mình và cố gắng giới thiệu Phật Pháp bằng cách tổ chức một vài hoạt động tôn giáo nào đó. Một vài hoạt động truyền bá Đạo Phật của họ đã có ảnh hưởng trên toàn lãnh thổ Mã Lai Á, kể cả vùng Sabak và Sarawak ( 2 vùng chịu ảnh hưởng nặng của Hồi giáo – ND).

Ling Ching Ching

Như Ngài đã nói, tại Mã-Lai- Á trong quá khứ, lối hiểu biết và thực hành Phật Pháp bằng cách lễ bái cầu nguyện là khác xa với lối thực hành Phật Pháp ngày nay.Vậy Ngài có thể vui lòng nói về truyền thống Phật giáo Đại Thừa ( Mahayana) và Phật giáo Nguyên thuỷ ( Theravàda )?

Ngài K. Sri Dhammananda

Đúng là cách thực hành Phật Pháp  tại Mã lai Á trong quá khứ và ngày nay là khác nhau xa. Những ngày ấy ( trong quá khứ) người ta không bao giờ cùng nhau tổ chức các nhóm hoạt động tôn giáo với mục đích từ thiện để giúp đỡ hay phục vụ cho các trẻ em mồ côi, người tàn tật, người già neo đơn… Họ chỉ đến các ngôi đền để làm một vài việc như dâng cúng hoa quả, tụng kinh hay bái lạy…xong rồi thì họ ra về. Tuy nhiên ngày nay, tất cả các người Phật tử Mã Lai Á đều cùng nhau tổ chức các hoạt động từ thiện như hình thức mà các nhà thờ Anh Giáo vẫn thường làm. Chính xác là như thế! Chính chúng tôi đã dạy họ cách tổ chức các hoạt động từ thiện. Trước đây, họ chưa bao giờ có hệ thống từ thiện đó, bởi vì Mã Lai Á không có những cái tương tự như nền văn hoá Phật giáo. Mã Lai Á là một đất nước được pha trộn bởi nhiều sắc dân như người Mã Lai, Ấn Độ, Trung Quốc…Vì vậy, nền văn hoá Mã Lai Á là một nền văn hoá hỗn hợp.Ở đây không có bất cứ một người dân nào là theo một nền văn hoá tách biệt. Vì vậy từ thế kỷ XIV, Phật Giáo ở Mã Lai Á cũng là quốc giáo của đất nước này. Phật Giáo cùng làm việc chung với Ấn Độ Giáo. Người dân ở Mã Lai Á, đảo Java, đảo Sumatra và nhiều vùng khác đều sống chung và làm việc với nhau. Vào năm 1411, Sultan thuộc đảo Malacca đã trở thành lãnh địa đầu tiên của Hồi giáo tại Mã lai Á. Sau đó, toàn bộ người dân trên đất nước này đã chấp nhận đạo Hồi ( Islam – từ này trong tiếng A rập có nghĩa là phục tùng. Về sau ở Trung quốc có dân tộc Hồi ở vùng Tân cương theo Đạo này. Đến khi người Trung Quốc đô hộ Việt Nam, do ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc nên người Việt Nam thường gọi Đạo Phục Tùng là Đạo Hồi – ND ). Dĩ nhiên số tín đồ Hồi Giáo vào thời đó ( 1411) ở Mã Lai Á là rất ít ỏi, nhưng sau đó, Hồi giáo lại phát triển rất nhanh và có ảnh hưởng mạnh tại đây. Vì vậy, tiếng tăm của Phật Giáo dần dần bị mai một tại Mã lai Á cho đến khi mất hẳn trên lãnh thổ của quốc gia này. Sau đó, vào khoảng thế kỷ XIX hay thế kỷ XX , người Trung Quốc ở tại nước họ bắt đầu nhập cư vào Mã Lai Á và định cư hẳn ở đây. Họ là những người đã giới thiệu và quảng bá Phật giáo trở lại tại Mã Lai Á sau nhiều thế kỷ vắng bóng trên đất nước này. Từ đó, Phật giáo lại được phục hưng tại Mã lai Á.

Sở dĩ có cái gọi là Phật giáo Đại thừa hay Phật giáo Trung Quốc là do cách thực hành Phật Pháp của người Trung Quốc mà ra. Người Trung Quốc đã thực hành Phật Pháp dựa theo truyền thống văn hoá và tập tục của họ. Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy rất nhiều nét văn hoá Trung Quốc được lồng ghép trong các hoạt động Phật giáo của họ. Văn hoá Trung Quốc là một nền văn hoá to lớn, phong phú và đa dạng. Người Trung Quốc thường giới thiệu họ là Phật Giáo Đại Thừa. Dĩ nhiên Trung Quốc đã là một quốc gia theo Phật Giáo Đại Thừa ( Mahayana). Từ đó, Phật Giáo Đại Thừa của người Trung Quốc đã tồn tại ở Mã Lai Á. Tiếp theo là giai đoạn những Phật tử Tích Lan, Miến Điện và Thái Lan bắt đầu đến và định cư tại Mã Lai Á. Nếu nhìn trên bản đồ hành chính thế giới, chúng ta sẽ thấy các quốc gia Tích Lan, Miến Điện và Thái Lan rất gần với Mã Lai Á. Các Phật tử của 3 quốc gia vừa nói trên khi đến đây ( Mã Lai Á), họ đã tiếp tục thực hành Phật Pháp với tính cách cá nhân hoặc tập thể . Tại Mã Lai Á, chúng tôi cùng thực hành Phật Pháp với những người Trung Quốc theo Phật Giáo Đại Thừa mà không hề phân biệt ai đúng ai sai và chẳng có vấn đề gì xảy ra cả .Cách thức thực hành Phật Pháp của người Trung Quốc rất phức tạp. Trong khi đó, chúng tôi thực hành Phật Pháp rất đơn giản. Tuy nhiên, chúng tôi và những người Trung Quốc cùng làm việc với nhau rất tốt.  Chúng tôi cố gắng giải thích một cách rõ ràng để họ hiểu rằng, các hoạt động tôn giáo của họ chính là truyền thống văn hoá và tập tục của Trung Quốc chứ không phải là của Phật giáo truyền thống. Vì vậy, mọi người nên hiểu được khía cạnh này. Hãy để chúng tôi cho một ví dụ về một đám tang của người Trung Quốc : Trong một đám tang của người Trung Quốc, người ta  thực hiện những điều mà Phật giáo không bao giờ làm như vậy. Do đó, những người theo Anh Giáo và một số người khác nghĩ rằng những nghi lễ mà người Trung Quốc đã làm trong các đám tang của họ là của Phật giáo. Từ đó, họ cố gắng tìm cách chỉ trích hay lên án các hoạt động của Phật giáo. Đặc biệt chỉ có thế hệ trẻ người Trung Quốc ở Mã Lai Á là hiểu được phải thực hành Phật Pháp như thế nào trong những đám tang và trong tất cả những hoạt động tôn giáo khác của họ. Lúc ban đầu, vì muốn giải thích cho những người Trung Quốc ở Mã Lai Á hiểu được thế nào là Phật giáo, chúng tôi đã phải chiều theo truyền thống văn hoá và tập tục của nước họ, mặc dù chúng tôi vẫn biết đó không phải là Phật giáo truyền thống.Khi thực hành Phật Pháp, chúng tôi cũng lồng một số truyền thống văn hoá và tập tục của Trung Quốc vào trong các hoạt động tôn giáo của chúng tôi. Từ đó, họ đã hiểu được thế nào là Phật Giáo đích thực. Ngày nay, trong ngôi đền này ( Wisna Sri Dhamma), người ta muốn đốt giấy vàng mã. Chúng tôi không hề khuyến khích bất cứ một người nào làm như vậy. Tuy nhiên, người ta có thể tới đây và đốt tự nhiên. Chúng tôi không bao giờ quan tâm đến điều đó. Chúng tôi cho phép họ làm điều đó để họ được thoả mãn. Tuy nhiên, trong các buổi nói chuyện hay thuyết Pháp, trong các hình thức xuất bản sách, báo, băng, đĩa về Phật Pháp, chúng tôi cố gắng giải thích thế nào là cách thực hành Phật Pháp đúng đắn. Dần dần, bằng cách giáo dục, chúng tôi làm cho mọi người ở đây hiểu được việc đốt giấy vàng mã là không cần thiết, cũng như có nhiều hình thức thực hành Phật Pháp không cần thiết khác mà họ đã thực hiện. Bằng cách như thế, chúng tôi không tạo ra bất cứ một sự hiểu lầm đáng tiếc nào.Bây giờ, chúng tôi cũng đang kết giao và làm việc chung với những Tỳ-kheo người Trung Quốc theo Phật Giáo Đại Thừa và Kim Cương Thừa ( Vajrayana) của Tây Tạng. Chúng tôi mời họ, họ mời chúng tôi. Thỉnh thoảng chúng tôi và họ cũng làm việc chung. Tuy nhiên, mỗi khi có lễ lớn như : Lễ Tam Hợp, lễ dâng Y Kathina, tất cả những đêm tụng kinh…  chúng tôi làm việc riêng với những hoạt động tôn giáo đặc thù của Phật Giáo Truyền Thống ( Theravàda). Họ cũng mời chúng tôi đến dự khi tổ chức một vài hoạt động tôn giáo nào đó. Vì vậy, chúng tôi và họ không bao giờ có bất cứ một sự xung đột hay phân biệt đối xử nào.

Ling Ching Ching    

Ngài đã từng theo đuổi sự nghiệp phát triển Phật Giáo trong vòng 50 năm qua. Ngài có suy nghĩ gì về tương lai của Phật giáo tại Mã Lai Á ? Chúng ta có thể làm được những gì cho quê hương đất nước ?

Ngài K. Sri Dhamma    

Không có ai có thể tiên đoán trước được điều gì, bởi vì mọi thứ trên toàn thế giới đang thay đổi trong từng khoảnh khắc. Hôm nay chúng ta đang đứng ở đây như thế này, nhưng ngày mai nơi đây có thể có nhiều đổi thay không thể biết trước được. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải luôn luôn thay đổi cách sống của mình cho phù hợp với những đổi thay ấy. Mặt khác, chúng ta không thể làm việc, chúng ta không thể sống nếu không sửa chữa cách thức làm việc của mình cho phù hợp với những tình huống luôn luôn đổi thay trong cuộc sống. Từ đó, tình trạng thất vọng , xung đột sẽ dần dần được chuyển hoá. Chúng ta cũng cần phải lưu tâm đến những lãnh vực còn yếu kém thật sự trong cộng đồng Phật tử của mình khi so sánh với các cộng đồng Anh Giáo và Hồi Giáo. Anh Giáo và Hồi Giáo có được tính thống nhất mạnh mẽgiữa các tín đồ của họ như : Tình huynh đệ và hiểu biết để cùng nhau hợp tác khi làm một việc gì đó. Thái độ thiện chí này trong cộng đồng Phật Tử và các tín đồ Ấn Độ Giáo rất yếu kém. Cộng đồng Anh Giáo và Hồi Giáo đã có được tính thống nhất quí báu trong tôn giáo của họ, bởi vì họ luôn luôn cổ vũ, truyền bá và động viên những người khác, bạn bè hay những người đi theo họ thực hành đạo đức với tính tập thể cao. Trong khi đó, đa số những người Phật Tử thực hành Phật Pháp chỉ thuần tuý mang tính cá nhân nhỏ lẻ. Đó là sự yếu kém của chúng ta.Ví dụ, khi chúng ta chú ý quan tâm chăm sóc cho một người bệnh thuộc về cộng đồng của mình đang ở trong tình trạng nguy ngập bằng cách quyên tiền, thuốc men… Tuy nhiên chúng ta chưa bao giờ viếng thăm người bệnh đó một cách có hệ thống. Chúng ta cũng chưa có được một hệ thống mạnh mẽ để cổ vũ cho đạo đức, chưa thể hiện được sự cảm thông sâu sắc đối với nhiều người khác. Mặc dù chúng ta vẫn có thể làm được những điều này. Chúng ta có thể phát triển được tình bằng hữu của mình, thiện chí và hiểu biết để cùng nhau làm việc. Như khi có một đám tang thì tất cả mọi người đều phải tập họp lại để làm những việc gì đó mà mình có thể làm. Những tập tục như vậy trong cộng đồng Phật Tử và cộng đồng các tín đồ Ấn Độ Giáo còn tương đối hiếm, đặc biệt là trong thế hệ trẻ. Đa số các công nhân Anh giáo tại Mã Lai Á là những sinh viên, học sinh trẻ tuổi xuất thân từ các trường trung học, đại học và nhiều nơi khác. Họ luôn cố gắng tạo được những ảnh hưởng tốt nhất đối với nhiều sinh viên hay học sinh khác. Họ luôn tìm cách tuyên truyền, khuyến khích và động viên những sinh viên hay học sinh khác đi theo tôn giáo của họ. Trong khi đó, những Phật Tử và các tín đồ Ấn Độ Giáo thì không bao giờ làm điều đó, bởi vì họ nghĩ rằng việc tuyên truyền, khuyến khích và động viên nhiều người khác đi theo tôn giáo của mình là không cần thiết. Những tín đồ Anh Giáo trẻ tuổi nói trên đã có ý thức và nhận biết được một cách mạnh mẽ rằng, bằng cách nào họ có thể bảo vệ được tôn giáo của mình, bằng cách nào họ có thể duy trì được tôn giáo của mình. Đó chính là một đường lối đúng đắn. Chính vì vậy mà những người Phật Tử cần phải có một sự hợp tác mạnh mẽ để cùng nhau làm việc. Họ cần phải có những hoạt động tuyên truyền, cổ vũ, động viên cho đạo đức và sự hiểu biết để tiến tới một sự thống nhất cao trong nội bộ tôn giáo của chính mình. Từ đó, họ sẽ phát huy được sức mạnh. Đây là những khía cạnh quan trọng và thiết yếu để bảo vệ, duy trì và phát triển tôn giáo của mình mà nhiều người Phật Tử vẫn còn ngây ngô chưa thể nhận biết được hoặc đã nhận biết được nhưng vẫn cố lờ đi vì một lý do nào đó. Tôi có viết một cuốn sáchvới tựa đề “ Buddhist attitude towards other religion” ( Quan điểm của Phật Tử trong mối quan hệ vớinhiều tôn giáo khác). Trong cuốn sách này, tôi đã đề cập đến việc thực hành Phật Pháp của những người Phật Tử. Chúng tôi đã và đang tổ chức các hoạt động Phật Giáo theo đường lối được đề cập trong cuốn sách này như : Tinh thần bất bạo động, không kích động quần chúng, không phiền nhiễu đến người khác…giống như nhiều tôn giáo khác đã làm. Từ đó, chúng ta sẽ duy trì được sự hoà hợp, hiểu biết để cùng nhau chung sống và làm việc. Chúng ta có những truyền thống văn hóa và tập tục khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta không thể viện cớ để nói rằng, chúng ta có quyền tự do để làm bất cứ một điều gì mà mình muốn và đúng theo truyền thống của mình. Nếu làm như vậy, những hoạt động thực hành tôn giáo của chúng ta sẽ trở thành sự khó chịu đối với những tôn giáo khác như : Hồi giáo, Anh giáo hay Ấn Độ Giáo…Từ đó, những việc làm bất chấp lợi ích chung và thiếu sự tôn trọng của chúng ta sẽ trở thành tâm điểm để họ tìm cách chỉ trích và lên án. Vì vậy, chúng ta cần phải tổ chức được những hoạt động tôn giáo theo một cách nào đó để không phiền nhiễu đến họ. Ví dụ, tại một đám tang tại nhà của những người Trung Quốc. Tang chủ mời mọi người đến làm các việc như : Tụng kinh gõ mõ và đánh chuông, bang, bang,bang… Trong khi những người Hồi Giáo hoặc Anh Giáo ở gần đó suốt đêm không thể ngủ được vì âm thanh của người tụng kinh và chuông mõ cứ liên tiếp bang, bang, bang… Vâng, dĩ nhiên quí vị có thể làm những điều đó trong nhà riêng của quí vị. Tuy nhiên, quí vị không nghĩ rằng mình đang quấy rầy những người hàng xóm- những người không cùng tôn giáo với quí vị. Vì vậy, quí vị cần phải tổ chức những hoạt động tôn giáo của mình theo một cách nào đó để không phiền nhiễu đến những người hàng xóm của mình. Mặt khác, quí vị có thể tạo nên sự hiểu lầm. Gần đây, quí vị đã nhìn thấy sự xung đột giữa người Mã lai và người Ấn Độ tại Mã Lai Á. Cuộc xung đột bắt nguồn từ một việc rất nhỏ nhặt. Một bên đang có một đám tang và một bên kia đang có một tiệc cưới. Bên phía những người có đám tang muốn đi băng qua chỗ đang có tiệc cưới. Những người đang có tiệc cưới đã nói với ý bắt buộc : “ Không, đây là tiệc cưới tại tư gia, làm ơn đi lối khác”. Thế là sự buồn khổ đã xảy ra. Chúng ta cần phải biết rằng, dù chỉ là một chuyện nhỏ nhặt nhưng nó cũng có thể lan rộng trên phạm vi toàn quốc như một sự kiện lớn. Chúng ta cần phải kiên nhẫn và khoan dung để hiểu biết rằng, chúng ta đang chung sống với nhau trong một xã hội đa tôn giáo. Một sự việc nhỏ nhặt nào đó bất ngờ xảy đến cũng có thể khuấy động tính kiêu hãnh của một chủng tộc và dẫn đến bạo lực.

 Ling Ching Ching

Khi Mã Lai Á đang hướng cái nhìn về năm 2020, chúng ta nên làm gì bên cạnh những vấn đề có liên quan đến sự hoà hợp chủng tộc ? Ngày nay, chính phủ đang chú trọng đến lãnh vực khoa học và kỹ thuật nhưng đó không phải là yếu tố duy nhất mà chúng ta cần đến trong quá trình xây dựng đất nước. Vậy Ngài có thể vui lòng cho biết những yếu tố cần thiết khác là những yếu tố nào trong quá trình xây dựng Mã Lai Á thành một nước tiên tiến ?

 Ngài K.Sri Dhammananda

 Thật là tốt khi chúng ta có ý thức để phát triển quê hương và đất nước. Tuy nhiên, vẫn có nhiều thứ mà chúng ta cần phải học tập và thực hành chúng để duy trì sự hoà bình và trật tự. Mỗi người và mọi người đều có thể sống trong an vui mà không phải là sợ hãi.

Cô cũng đã từng thấy một cách rõ ràng trong nhiều quốc gia khác trên thế giới, người ta luôn luôn sống trong sợ hãi vì bạo lực bùng phát, đổ máu và nhiễu loạn. Những quốc gia như thế rất dễ xảy ra tình trạng chiến tranh. Tuy nhiên trong thực tế, chúng ta đã rất may mắn không bị rơi vào những tình trạng thảm hại như thế. Mặc dù Mã Lai Á là một quốc gia đa chủng tộc, đa tôn giáo, đa văn hoá nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn còn khả năng để duy trì được hoà bình, ít nhất là trên một vài lãnh vực nào đó. Những mâu thuẫn nhỏ nhặt có thể xảy ra trên đất nước này nhưng chúng ta không cho phép chúng lan rộng trên toàn quốc. Bây giờ những gì đang xảy đến cho Nam-Dương ( Indonesia) cũng đang xảy đến với những quốc gia khác ở châu Phi. Những xung đột và bạo lực xảy ra ở những nơi đó đã bắt nguồn từ văn hoá chủng tộc và truyền thống, chúng bùng phát lên giữa những tín đồ Anh Giáo và Hồi Giáo ở Nam Dương. Người ta đã xử dụng danh nghĩa Anh Giáo chỉ để đặt tên cho những lợi ích của họ. Đó không phải là những xung đột vì tôn giáo mà vì một vài lợi ích kinh tế thuần tuý, cô hiểu không ? Khi họ mang những xung đột đó lồng vào trong tôn giáo thì chúng có thể khuấy động tình cảm trong nhiều người khác. Từ đó, vấn đề xung đột đã trở nên nghiêm trọng và dẫn đến tấn công, nhiễu loạn và tự vệ…

Vì vậy, chúng ta cần phải ngăn chặn được những tình huống, hoàn cảnh thuận lợi cho bạo lực hay nhiễu loạn bùng phát do hiểu lầm. Chúng ta đang sống trong một đất nước đa tôn giáo. Cô biết không, trong cuốn sách do tôi viết mà tôi vừa đưa cho cô xem có nguyên một chương nói về Chúa, chính xác là quan niệm về Chúa. Sau đó, một nhà báo đã phải xem lại cuốn sách mà anh ta đã viết. Tác giả của cuốn sách này đã viết quan niệm về Chúa với sự hiểu biết của anh ta về Ngài trong tư cách là một tín đồ Hồi giáo đang sinh sống tại một quốc gia Hồi giáo. Sở dĩ anh ta đã phải xét lại cuốn sách của mình bởi vì tôi đã viết về Chúa theo một tinh thần vô tư không thiên vị. Cuốn sách của tôi không có sự xuất hiện của bản ngã hay quan điểm cá nhân. Điều này cho phép tất cả mọi người đều có thể hiểu được và chấp nhận nó. Vì vậy, tôi luôn luôn khuyên nhủ những Bổn Đạo của mình rằng, quí vị đừng nên nói là mình không tin vào Chúa. Nếu quí vị nói như thế thì có thể quí vị sẽ tạo ra một sự hiểu lầm không cần thiết, bởi vì quan niệm về Chúa trong mỗi người có thể khác nhau. Từ đó, chắc chắn quí vị sẽ gặp phải những điều rắc rối. Mặt khác, tất cả chúng ta đều tin vào Chúa. Tuy nhiên, quan niệm về Chúa của Hồi Giáo khác với quan niệm về Chúa của Anh Giáo, quan niệm về Chúa của Anh Giáo khác với quan niệm về Chúa của Ấn Độ giáo… Nói tóm lại, có nhiều quan niệm về Chúa và những quan niệm đó khác nhau. Vì vậy, chúng có thể tạo ra những vấn đề rắc rối không cần thiết. Khi quí vị quan niệm về Chúa theo kiểu như vậy thì thật ra là quí vị đang nói về chính bản ngã của mình chứ không phải đang nói về Chúa.

 Ling Ching Ching :

Bạch Ngài ! Vậy là Ngài không có bản ngã sao ?

 Ngài K,Sri Dhammananda

Vâng, tôi không có bản ngã.

 Ling Ching Ching

 Khi Ngài quyết định chọn con đường tu hành, ai là người đã có ảnh hưởng lớn nhất lên Ngài trong việc này ? Thầy cô giáo của Ngài, mẹ Ngài hay cậu của Ngài ?

 Ngài K. Sri Dhammananda

Cậu của tôi là một Tỳ-kheo trú trì trong một ngôi đền ở làng tôi. Tôi thường xuyên đến đó với mẹ mình. Cha mẹ tôi có tất cả 3 con trai và 3 con gái. Tôi là con trưởng trong gia đình. Vì vậy, vị sư trú trì là cậu tôi đã để mắt đến tôi từ hồi tôi còn là một đứa trẻ theo mẹ đến ngôi đền thờ Phật trong làng. Cậu tôi thường hỏi mẹ tôi rằng, tại sao bà không cho tôi trở thành một Tỳ-kheo. Mẹ tôi không thể từ chối lời đề nghị của vị sư trú trì được, bởi vì ông là anh cả của mẹ tôi. Sau đó, bà đã thảo luận chuyện này với cha tôi. Cha tôi sau khi nghe mẹ tôi nói chuyện thì ông không được vui lắm. Ông đã nói với mẹ tôi rằng : “ Nó là con cả trong gia đình, chúng ta còn thêm 2 đứa con trai nữa. Tại sao bà không hỏi 2 đứa kia xem có đứa nào thích trở thành Tỳ-kheo và thay thế cho nó có được không, bà nên thay thế như vậy mới phải !”. Sau đó, mẹ tôi đã đến thảo luận với vị sư trú trì là cậu tôi về chuyện bà muốn một trong 2 em trai của tôi sẽ đi tu thế cho tôi. Cậu tôi nói : “ Không, tôi chỉ muốn cậu con trai này ( tức ông muốn ám chỉ tôi), tại sao lại có chuyện thay thế như vậy được ?”. Mặc dù cậu tôi nói như vậy nhưng ông đã  hiểu rõ về lý do tại sao mẹ tôi đã nói với ông như vậy. Sau đó, cha tôi đã giữ thái độ im lặng và ông không cho mọi người biết ý kiến riêng của mình. Vào tuổi 12, cậu tôi, mẹ tôi và nhiều người khác đã nói với tôi rằng, nếu thích trở thành Tỳ-kheo thì hãy đi tu, còn nếu không thích thì có thể xin tu gieo duyên để tìm lợi ích trong Giáo Pháp của Đức Phật. Tôi đã nói : “ Vâng, tôi thích trở thành một Tỳ-kheo”. Mặt khác vào thời đó, thật sự tôi không hiểu được tại sao trong cuộc sống này người ta lại đi tu. Tuy nhiên tôi đã thọ giới sa di  vào năm 1930, lúc mới được 12 tuổi. Thế là tôi đã theo học Phật Pháp trong vòng 5 năm tại ngôi đền ở làng tôi. Sau đó, tôi đã đến Colombo ( thủ đô của Tích Lan) để tiếp tục học tập trong vòng 7 năm. Ở đó, tôi đã học về nhiều thứ ngôn ngữ, tôn giáo, triết học, tâm lý học và nhiều lãnh vực khác thuộc về một tôn giáo. Tiếp đó, tôi nhận được học bổng cao học để đến học tại Ba-La-Nại ( Benares) ở Ấn độ. Tại một trường đại học ở Ba-La-Nại, tôi lại học thêm 4 năm nữa về triết học Ấn Độ Giáo được giảng dạy bằng tiếng Sanskrit ( tiếng Bắc Phạn cổ). Sau đó, tôi trở về Tích Lan. Rồi thì một lá thư của hội đoàn Phật tử ở đây ( Wisna Sri Dhamma) đã được gửi đến cho Ngài hiệu trưởng của trung tâm hoá đạo tại Colombo, nơi tôi đã từng theo học trước đó. Trong lá thư này, người ta đã thỉnh cầu Ngài hiệu trưởng nọ thỉnh cho họ một Tỳ-kheo đến đây ( Wisna Sri Dhamma) để tổ chức các hoạt động truyền giáo. Tuy nhiên vào thời đó, Ngài hiệu trưởng của trung tâm hoá đạo ở Colombo đang quản lý tới 400 Tỳ-kheo trẻ. Cuối cùng, Ngài đã chọn tôi và phái tôi đến Mã Lai Á với sứ mệnh truyền bá Phật Pháp. Lúc đó, tôi đã hỏi Ngài hiệu trưởng nọ : “ Tại sao người ra đi lại là tôi, tôi phải làm như thế nào đây ?”. Ngài hiệu trưởng nọ lại nói với tôi rằng : “ Anh có biết là anh  đã được chọn lọc từ 400 vị Tỳ-kheo trẻ tuổi không và anh có nhận ra đó là một vinh dự cho anh không ? Bây giờ anh hãy trả lời dứt khoát là có muốn đi hay không ?”.Tôi đã trả lời : “ Vâng, tôi muốn đi”. Thế là vào năm 1952, tôi đã đến đây ( Wisna Sri Dhamma). Lúc ban đầu, tôi dự định chỉ ở lại Mã Lai Á trong vòng khoản 2 hay 3 năm thôi. Tuy nhiên, sau khi đến đây thì mọi người đã không cho tôi trở về Tích- Lan nữa. Vì vậy, tôi đã ở đây ( Wisna Sri Dhamma) được 50 năm.  Khi mới đến Mã lai Á, tôi chưa bao giờ biết được điều gì về đất nước này và tôi đã ở lại đây cho đến khi đạt được điều đó. Tôi đã kết giao với nhiều cộng đồng ở đây và điều đó đối với tôi là rất thú vị. Vào thời tôi đang học tập tại Ấn Độ và Tích Lan thì cả 2 quốc gia này đều đang có chiến tranh. Họ chiến đấu để giành lại độc lập từ tay chính phủ Liên Hiệp Anh. Đặc biệt là ở Ấn Độ. Lúc đó, tình hình rất căng thẳng và nghiêm trọng, tôi đã học tiếng Anh nhưng tôi không có cơ hội để nói tiếng Anh vì mọi người dân Ấn độ vào thời điểm đó không có ai nói tiếng Anh. Nếu lúc đó tôi nói tiếng Anh thì người ta sẽ chú ý để nhận xét và bình phẩm với ý xấu. Họ có thể hỏi : “ Tại sao những Tỳ-kheo lại muốn nói tiếng Anh ?”. Họ làm như vậy là vì họ ghét người Anh, bởi vì chính phủ Liên Hiệp Anh lúc đó đang cai trị họ. Rồi thì dù sao tôi cũng đã đến Ấn Độ để học tiếng Anh, tình hình xã hội càng ngày càng tệ hơn nữa, nhất là đối với tôi. Nếu chúng tôi nói tiếng Anh thì những người Ấn Độ sẽ la mắng và chửi rủa chúng tôi. Vì vậy, tôi đã học tiếng Anh, tôi có thể viết và đọc tiếng Anh nhưng không thể nói tiếng Anh. Chúng tôi không thể mở miệng để nói một từ tiếng Anh nào, thậm chí là một từ rất đơn giản ( cười lớn !..). Cho đến khi tôi đến Ấn Độ, thỉnh thoảng tôi cũng có cơ hội để nói tiếng Anh ở nơi này nơi khác nhưng không phải là nơi công cọng. Kiến thức là điều cần phải đem ra thực hành. Vì vậy, tôi đã bỏ ra tối thiểu cũng là từ 1 đến 2 năm để tự thực hành vốn liếng tiếng Anh của mình như : Phân biệt thế nào là những đại từ, làm cách nào để viết một câu tiếng Anh, làm cách nào để làm cho người khác hiểu mình qua tiếng Anh…Khi tôi 18 tuổi, tôi không biết gì về Ấn Độ. Tôi đã từng nghĩ rằng, cuộc sống tu hành là một cách sống trì trệ, uể oải, nhất là khi thấy những người trẻ tuổi khác đang tận hưởng cuộc sống của họ một cách thú vị. Lúc đó, tôi đã nghĩ là mình không hơn gì một tù nhân khi phải sống trong các ngôi đền. Ở đây không có tự do, tôi không thể uống rượu bia, không thể khiêu vũ, không thể đùa vui, không có gì thú vị, không có gì cả… Sau đó, tôi đến gặp mẹ tôi và nói với bà rằng, thực tế là tôi không thích lối sống tu hành, tôi muốn trở về nhà. Mẹ tôi là một người đàn bà không có học hành gì cả, bà không thể đọc, không thể viết. Ngày xưa, những người cùng thời với mẹ tôi ở Tích lan rất ít người có học hành. Họ chưa bao giờ đi học. Giống như A-Phú-Hãn (Afghanistan) bây giờ vậy, đàn bà và các thiếu nữ không thể đi học. Sau rồi bà cũng nói : “ Nếu con trở về nhà, con chỉ có thể chăm sóc cho vợ và con cái của con. Nếu con tiếp tục đi tu thì con  không thể chăm sóc cho cha mẹ nhưng cha mẹ đây vẫn còn 2 đứa con trai và 3 đứa con gái nữa. Chúng có thể chăm sóc cho cha mẹ nhưng chúng không có gì để làm cho cha mẹ hạnh phúc. Còn con, khi con đi tu thì con có thể làm cho cha mẹ hạnh phúc, bởi vì con là một tu sĩ Phật giáo. Con làm việc để phục vụ cho nhiều người khác, trong lúc những đứa con khác của cha mẹ thì không làm được điều đó. Vì vậy, khi cha mẹ thấy con làm những công việc tôn giáo của con thì cha mẹ đã gặt hái được niềm tin vào Đức Phật, chỉ khi con vẫn còn mang Y. Nếu con trở về nhà thì con chỉ có thể chăm sóc cho vợ con của con, nhưng nếu con đi tu con sẽ phục vụ được cho nhiều người trong thế giới này. Vì hiểu được lời nói sâu sắc của mẹ tôi, nên tôi đã quyết định ở lại tu viện để tiếp tục tu học.

Ling Ching Ching

  Ngài có thể vui lòng nói về những kinh nghiệm của mình trong các năm từ 1970 đến 1975, khi ngài thực hiện một chuyến đi truyền giáo ở nhiều quốc gia trên thế giới ?

 Ngài K. Sri Dhamma

 Thực tế thì không có điều gì đặc biệt. Tôi đã đi qua  nhiều quốc gia trên thế giới như : Mỹ Quốc, Vương Quốc Anh, Úc-Đại-lợi, Tân-Tây-Lan, Hàn-Quốc, Nhật-Bản, Mông Cổ…Tại tất cả những quốc gia này, tôi đã tham dự rất nhiều cuộc hội nghị và gặp mặt đa dạng. Tôi đã quan sát và học được rất nhiều cách sống của con người trên các quốc gia này, cách thực hành Phật pháp của họ mỗi nơi mỗi khác. Ở những nơi đó, chúng tôi đã tham gia đóng góp được một số ý kiến về những lời dạy của Đức Phật. Chúng tôi cũng đã đưa ra được cách phát triển các mối quan hệ và tình bằng hữu. Hầu như ngày nào chúng tôi cũng nhận được rất nhiều thư từ những quốc gia khác nhau hỏi chúng tôi về cách tổ chức xuất bản các ấn phẩm như sách vở, báo chí, băng hình về Phật Pháp…

Sự xuất bản các ấn phẩm về Phật Giáo của chúng tôi rất được nhiều người ưa chuộng và có mặt tại nhiều quốc gia trên thế giới. Có một hội đoàn Phật tử ở Đài Loan, tính cho đến bây giờ ( 2001), họ đã in khoảng từ 50 ngàn đến 70 ngàn bản sao chép từ những ấn phẩm mà chúng tôi đã cho xuất bản. Sau đó, họ đã ấn tống hết những bản sao chép này trên toàn thế giới. Chúng tôi đã nhận được nhiều thư gửi đến từ nhiều quốc gia như I-ran, I-rắc, châu Phi… Sau khi những người gửi thư này đã đọc các sách bỏ túi của chúng tôi.

Thậm chí ngày hôm qua, chúng tôi cũng vừa nhận được thư. A ! đây rồi ! Sau khi họ đọc cuốn sách này đây. Ông ấy đã viết thư để hỏi xin chúng tôi các sách tụng kinh và những chuỗi hạt. Tôi đang gửi những thứ đó bằng đường hàng không đến những vùng có các bộ phận xuất bản của chúng tôi. Tại nhiều quốc gia trên thế giới, người ta đã dịch những ấn phẩm đã xuất bản của chúng tôi sang ngôn ngữ của nước họ. Những ấn phẩm Phật Giáo của chúng tôi đã được dịch ra tới 14 thứ tiếng như : Nam Dương ( Indonesia), Đài loan, Hàn Quốc, Tích Lan, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Nga sô…Những ấn phẩm của chúng tôi chủ yếu được xuất bản bằng tiếng Anh. Người ta rất thích chúng bởi vì chúng dễ hiểu.

Ling Ching Ching

 Ngài rất phóng khoáng, điều gì đã giúp cho Ngài hình thành được tính phóng khoáng của mình ?

  Ngài K. Sri Dhamma

Cái đó gọi là sự hiểu biết hay trí tuệ. Khi chúng ta muốn phát triển và mở rộng tâm trí hẹp hòi của mình, chúng ta phải điều khiển và hạn chế những hành động của mình sao cho chúng hội tụ được trên một phạm vi hay lãnh vực nhất định, chỉ một lãnh vực mà thôi. Lúc đó, chúng ta không nên mở rộng tâm trí của mình sang một lãnh vực khác và cũng không cần để ý tới những lãnh vực khác. Từ đó, chúng ta mới nhận biết được là mình cần phải làm việc như thế nào. Chúng ta phải cần đến sự hợp tác của nhiều người khác, cũng như phải cần mở rộng sự hợp tác của chính chúng ta để hiểu về những đối tác mà mình sẽ làm việc với họ. Vì vậy, sự hoà hợp, hiểu biết và thiện chí là những yếu tố mà chúng ta cần phải quan tâm để phát triển chúng trong quá trình làm việc của mình. Đồng thời chúng ta phải có niềm tin vào những công việc mà mình đang làm, không sợ hãi và lo lắng về những công việc đó, cố gắng vượt qua tất cả những trở ngại để công việc được tiếp diễn một cách liên tục và trôi chảy.

 Ling Ching Ching

  Là những người Phật tử, làm cách nào để chúng ta có thể cân bằng được cuộc sống của chính mình qua việc học tập và thực hành Phật Pháp ?

Ngài K. Sri Dhamma

 Bây giờ, cô có thể thấy tại rất nhiều ngôi đền, người ta đang học tập và thực hành Phật Pháp. Họ đang tổ chức nhiều cô nhi viện, các nhà dưỡng lão, những trung tâm y tế miễn phí, các lớp học miễn phí và nhiều hoạt động khác…Trước đây, người ta chưa bao giờ có những hoạt động theo kiểu này. Tuy nhiên, dần dần các tổ chức từ thiện của Phật Giáo đã đi vào hoạt động sẽ thẩm thấu những công việc của họ sang những hội đoàn Phật tử khác. Nếu cứ tiếp tục như thế thì các hoạt động từ thiện của Phật Giáo sẽ đi lên một cách mạnh mẽ. Vì vậy, chúng ta cần phải sẵn sàng để bắt tay vào việc ngay, như việc tiến hành giáo dục và truyền bá Phật Pháp trong tầng lớp thanh niên. Chúng ta phải khuyến khích họ tổ chức các cuộc hội họp có tính xã hội nơi công cọng để truyền bá Phật Pháp và nhiều hoạt động khác. Phật Pháp không phải chỉ có việc thờ phụng và cầu nguyện. Nó còn bao gồm cả những hình thức giải trí lành mạnh như : Thể thao, âm nhạc, hội họa, điêu khắc…

Chúng ta cần phải tổ chức những hoạt động giải trí lành mạnh như thế để tạo ảnh hưởng đối với những người trẻ tuổi. Hiện nay, Anh Giáo đang làm những việc này rất tốt. Họ tạo được ảnh hưởng đối với tầng lớp thanh niên thông qua việc tổ chức cho tầng lớp này các hoạt động giải trí như là các sân chơi lành mạnh và bổ ích. Đó là cách tạo ra sự thăng bằng trong việc học tập và thực hành Phật Pháp. Thật sự là không dễ dàng để tạo được sự thăng bằng này. Tuy nhiên, chúng ta có thể cố gắng hết mình với những gì chúng ta có thể. Phải sẵn sàng bắt tay vào việc ngay tại nhiều nơi để làm một vài việc gì đó phục vụ cho người khác. Đó là Phật Giáo ! Nếu chúng ta không phục vụ cho người khác thì chúng ta không thể phục vụ cho chính mình. Khi phục vụ cho người khác, chúng ta có thể phát triển được những phẩm chất tốt đẹp như tâm Từ hay yêu thương tử tế ( Loving -  kindness), sự cảm thông ( Sympathy), sự hiểu biết để hợp tác ( Understanding for co-operation)…Khi đã vun trồng được những phẩm chất tốt đẹp nói trên, chúng ta lại tiếp tục trở lại với việc phục vụ cho người khác…Tôi xin nhấn mạnh, khi chúng ta không phục vụ được cho người khác thì chúng ta sẽ không thể phục vụ được cho chính mình.Bây giờ, chúng ta quan sát và giữ gìn 5 Giới như : Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không xử dụng các chất say. Bằng cách đó, chúng ta để cho những người khác được sống trong bình yên. Đó cũng là một cách phục vụ cho người khác! Chúng ta có thể sống trong an vui mà không một chút sợ hãi, bởi vì chúng ta không làm phiền hay quấy nhiễu người khác. Đó cũng là phục vụ !

Ling Ching Ching

Ngài có lời khuyên gì cho những người Phật tử không ?

Ngài K. Sri Dhamma

Vâng, Chúng ta phải hiểu một cách đúng đắn rằng, Phật Giáo đã được cả thế giới công nhận đây là một tôn giáo được hình thành bởi trí tuệ. Bất cứ một người nào có sự hiểu biết đúng đắn như : những tín đồ của nhiều tôn giáo khác, các nhà khoa học, tâm lý học, các nhà đại tư tưởng, các nhà triết học, những người theo chủ nghĩa duy lý và thậm chí là những người tự do tư tưởng đều phải công nhận rằng, Đạo Phật là Đạo trí tuệ bởi vì họ đã tìm thấy được sự thật và sự thông thái trong tôn giáo này. Khi chúng ta tìm hiểu các học giả hay các nhà bác học nổi tiếng thế giới trong nhiều lãnh vực như nhà vật lý Albert Eienstein và nhiều người khác, tất cả họ đều có nói về Phật Giáo. Cô hiểu không? Vì vậy, nếu những nhà thông thái đó có thể hiểu được Đạo Phật một cách rốt ráo thì họ đã không đầu hàng và qui phục tôn giáo này một cách dễ dàng như thế đâu ! Cũng như họ có thể dễ dàng từ bỏ Phật Giáo để chấp nhận một tôn giáo khác. Tuy nhiên, họ đã không làm thế bởi vì họ đã tìm thấy được sự thoả mãn trong Đạo Phật, điều mà các tôn giáo khác chưa đáp ứng được cho họ. Vì vậy, chúng ta không thể tìm thấy được sự thoả mãn trong bất cứ một tôn giáo nào, khi chúng ta chưa tìm thấy được điều đó trong những lời dạy của Đức Phật. Nếu các học giả hay các nhà bác học đó có thể hiểu và giải thích được Đạo Phật một cách rốt ráo thì điều đó đã là quá đủ cho họ rồi. Lý do thứ hai, có nhiều người Phật tử đã trải nghiệm được sự tự do trong Đạo Phật khi họ theo tôn giáo này, điều mà họ không thể tìm thấy khi theo bất kỳ một tôn giáo nào khác. Sở dĩ người ta không tìm thấy được tự do là vì, họ đã phải tuân theo những luật lệ được đưa ra bởi những tôn giáo được xây dựng trên nền tảng quyền lực, những luật lệ này được đặt ra với một tính cách bắt buộc phải tuân thủ. Những kẻ phản bội sẽ bị trừng phạt khi họ phá vỡ những luật lệ bắt buộc này, bởi vì sợ hãi nên người ta phải tuân theo những người lãnh đạo đầy quyền uy trong tôn giáo của họ.  Đức Phật đã không truyền bá một tôn giáo gắn liền với những luật lệ bắt buộc. Giới luật trong Phật giáo chỉ có tính hướng dẫn và đánh thức chứ không phải được đặt ra nhằm để trừng phạt những người vi phạm các Giới luật ấy. Chúng ta không nên thực hành Phật Pháp vì sợ hãi mà nên thực hành Phật Pháp thông qua sự hiểu biết hay trí tuệ. Đức Phật đã từng chỉ rõ cho chúng ta nhận biết được sự sai lầm của những luật lệ được đặt ra theo một đường lối bắt buộc, thế mà nhiều người khác vẫn cứ tuân thủ những Giới luật trong Phật giáo như thể những Giới luật này được đặt ra bởi Chúa trời. Những người giữ Giới theo lối này chưa thể nhận biết được họ làm như thế là sai lầm, cũng như họ chưa hiểu được đây là một mấu chốt quan trọng khi Giới luật của Đức Phật được hình thành.Chúng ta chỉ thực hành Phật Pháp qua sự hiểu biết hay trí tuệ, còn những hình phạt trong tôn giáo, những Giới luật bắt buộc… là những điều thật sự không cần thiết. Đức Phật đã khởi sự đặt ra Giới luật bằng Chánh kiến hay trí tuệ hiểu biết đúng đắn

( Sammà Ditthi -  Right view or Right understanding ) chứ không phải Ngài khởi sự sứ mệnh này bằng niềm tin ( Saddhà - Faith) hay Bát Chánh Đạo ( Ariyamagganì - 8 Fold Noble Path). Khi chúng ta theo học Phật Pháp, việc đầu tiên mà chúng ta phải thực hiện là đạt được trí tuệ hiểu biết đúng đắn. Nếu có khả năng hiểu biết đúng đắn thì chúng ta mới nhận biết được một cách thật sự giá trị cao thượng của Đạo Phật. Một điều khác mà chúng ta cũng cần phải biết rõ, Đạo Phật tuy là một tôn giáo đã tồn tại cách đây hơn 2500 năm nhưng ngày nay tôn giáo này vẫn còn là một bộ phận không thể thiếu được trong công cuộc duy trì nền hoà bình của thế giới. Cô không thể tìm ra được bất cứ một trường hợp đổ máu nào mang danh nghĩa Phật Giáo, dù chỉ là một sự đổ máu có tính đơn lẻ, cá nhân trong suốt hơn 2500 năm lịch sử mà tôn giáo này đã trải qua. Ngược lại, trong tất cả những tôn giáo hiện hành khác đều khởi đầu bằng sự đổ máu rồi kéo dài tình trạng ấy trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của họ, mãi đến bây giờ ( 2001) tình trạng đau thương này vẫn đang còn tiếp diễn, máu đã đổ không phải trong những chuyện lặt vặt mà trong chiến tranh…Trong những tôn giáo được khởi sự và tồn tại qua những trang sử đẫm máu đó, biết bao nhiêu lần người ta đã tuyên bố những cuộc chiến tranh giữa tôn giáo này với tôn giáo khác bằng cách nhân danh tôn giáo của mình. Lại nữa, những người trong cùng một tôn giáo hiếu chiến cũng tự chia rẽ và tàn sát lẫn nhau bằng cách đặt ra nhiều phe phái với nhiều tên gọi khác biệt. Ấn Độ Giáo cũng đã từng có nhiều tên gọi khác nhau. Thậm chí, Hồi giáo cũng đã có ít nhiều chia rẽ với những tên gọi do họ tự đặt ra trên nhiều quốc gia khi họ chia thành 2 nhóm : Hồi Giáo Chính Thống và Không Chính Thống. Tuy nhiên, đối với Phật giáo thì cô chưa hề thấy một giọt máu nào đổ xuống trên danh nghĩa của tôn giáo này, bởi vì Đạo Phật là phải như thế, bất bạo động ! Đây là một thành tích đáng chú ý mà Phật giáo đã làm được hay đúng hơn là đã giữ gìn được. Hãy để chúng tôi cho một ví dụ : Gần đây, người ta đã nguyền rủa và phá huỷ 2 bức tượng của Đức Phật Thích-Ca tại A-Phú-Hãn (Afghanistan). Đây là 2 bức tượng Phật cỡ lớn và có lịch sử lâu đời nhất của Phật giáo. Nếu người ta làm như thế với một tôn giáo khác thì cô có thể thấy bạo lực và đổ máu chắc chắn phải xảy ra trên nhiều vùng của thế giới. Tuy nhiên, những Phật tử đã chấp nhận giữ sự im lặng một cách thanh thản mà không quấy rối hay nhiễu loạn những người khác. Đây là những con người độc nhất vô nhị đã thấm nhuần những lời giáo huấn của Đức Phật. 

Ling Ching Ching

Ngài có thể vui lòng miêu tả về cuộc sống của Ngài, Ngài đã làm cách nào để tạo nên ý nghĩa cho cuộc đời của mình ?

Ngài K. Sri Dhamma

  Tôi làm nên giá trị cho cuộc đời mình bằng cách này. Tôi không bao giờ lo nghĩ cho bản thân mình nhưng tôi phải lo nghĩ cho nhiều người khác. Khi nhiều người khác có những vấn đề khó khăn, bị bệnh tật hay bị quấy nhiễu… Họ thường đến và trình bày với tôi. Sau đó, tôi phải suy nghĩ để xem thử nên nói với họ như thế nào hay cần phải làm cho họ cái gì. Cũng như tôi phải tìm ra cách để điều chỉnh giúp những khó khăn trở ngại mà họ đang gặp phải. Tôi cổ vũ, khuyết khích động viên để truyền sức mạnh cho họ. Đó là cách thức mà tôi xử dụng để tạo ra ý nghĩa cho cuộc đời mình. Lại nữa, khi so sánh cuộc sống của mình với 2 em trai và 3 em gái của mình, tôi có thể thấy một sự khác biệt rõ rệt. Họ làm việc cả ngày cả đêm như những nô lệ. Trong khi đó, tôi thì được độc lập, không lệ thuộc vào cái gì cả. Tôi có thể ngồi xuống đây và đong đưa 2 cẳng chân hoặc rung đùi một cách rất thoải mái để tiếp tục suy nghĩ mình cần phải nói cái gì và viết cái gì. Tôi luôn luôn có những ý nghĩ thiện lành, không ghen tị, không tức giận, không thù hằn, không đố kỵ, không mang những ý nghĩ tiêu cực thiếu thiện chí trong tâm của mình. Không có  một lý do gì để những điều ấy xuất hiện trong tâm của tôi. Tâm trí của con người luôn luôn được tự do nhưng người ta thường không chịu hiểu như vậy mà cứ cố gắng chiến đấu, cạnh tranh để tìm kiếm của cải hay bảo vệ sự giàu có mà họ đang sở hữu. Tôi không phải lo nghĩ về lợi tức, con cái và cháu chắt. Tôi cũng không phải chăm sóc vợ tôi vì tôi đâu có vợ. Tôi được độc lập, sự tự do này là điều mà nhiều người khác chưa thể trải nghiệm được. Đó là tự do thực sự. Nếu là tôi, cô có hối tiếc về những điều đó hay không thì tôi không biết, nhưng riêng tôi thì tôi không hề hối tiếc chút nào về chuyện vợ con, cháu chắt, lợi tức…Tôi chỉ đánh giá đúng về những điều đó. Ngày mai, tôi có thể đi dạo vòng quanh thế giới nếu thích và không cần phải nói với ai về điều đó. Một người khác không thể hay chưa thể làm điều đó giống như tôi. Anh ta phải cần tối thiểu cũng một vài tháng chuẩn bị để làm điều đó…

Ling Ching Ching

 Những việc sắp tới mà Ngài dự định sẽ làm là gì ? Hay Ngài cảm thấy rằng cuộc sống của mình như thế là đủ rồi ?

Ngài K. Sri Dhamma

 Không, tôi không có một mục đích nào cả. Tôi cũng không có tham vọng nào cả. Tôi làm việc tuỳ thời hay đúng theo những trường hợp mà tôi đang thấy trong hiện tại. Vì vậy, tôi không có một mục đích nào cho cuộc sống của mình, không có một kế hoạch to lớn nào để tôi hướng tới. Tôi làm việc khi người ta đang cần một cái gì đó. Tôi đi và tham dự vào việc giúp đỡ người khác, chỉ có vậy thôi. Hôm nay tôi làm việc đó, ngày mai tôi cũng làm việc đó và những ngày sau nữa cũng đều giống như thế… Tôi không bao giờ có ý nghĩ đi lên trời để tận hưởng cuộc sống thú vị của mình ở đó. Tôi làm công việc của tôi. Kiếp sống kế tiếp của tôi tại một nơi nào đó sẽ giống và đúng như những điều mà tôi đã suy nghĩ, giống và đúng như những lời tôi đã nói, giống và đúng như những hành động tôi đã làm trong kiếp sống này. Nó không giống và đúng như những tham vọng của tôi. Những ý nghĩ, những lời nói và những hành động thiện lành hay bất thiện mà chúng ta đã thực hiện trong kiếp sống này sẽ tái hiện trong kiếp sống kế tiếp của chúng ta, đúng và giống như cách chúng đã diễn ra trước đó. Vì vậy, tôi không đặt ra cho mình một mục đích nào cả như :  Muốn cái này hay muốn cái kia…

 Ling Ching Ching

 Những công việc gì kế tiếp mà Ngài muốn làm cho những người Phật Tử mộ đạo ?

  Ngài K. Sri Dhamma

 Vâng, tôi phải tiếp tục. Cũng có nhiều việc cần phải làm. Tuy nhiên, chúng tôi chưa thể bắt tay vào những dự án mới mẽ, bởi vì còn rất nhiều hoạt động mà chúng tôi đã làm từ lâu nay vẫn chưa hoàn tất. Vì vậy, chúng tôi phải tiếp tục thực hiện những công việc đã khởi sự này như : Vấn đề các lớp học, truyền giáo, giáo dục phổ thông, xuất bản các ấn phẩm Phật Giáo, giúp đỡ và động viên nhiều người khác bằng mọi cách mà chúng tôi có thể…Chỉ có vậy thôi !..

                                                        *  * * Hết * * *

Tác giả bài viết: Admin

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

top

Những tin cũ hơn

top