Pháp Như Ý (Tập 6)

Thứ ba - 18/02/2014 10:04
Pháp Như Ý (Tập 6)

Pháp Như Ý (Tập 6)

Pháp Như Ý (Tập 6). Những đề mục thực hành thiền cao quí nhất của người Phật Tử theo phương pháp của Ngài Trưởng Lão Tăng Thống Mahāsī.

      

 

     Biên soạn:  Ngài  Kundalābhivamsa  ( Trưởng Lão trung tâm thiền Saddhammaramsī) 

     Biên tập:  Hội đồng biên tập trung tâm thiền Saddhammaramsì

     Nguyên bản tiếng Miến Điện:   Dhamma Padetha

     Dịch sang tiếng Anh:  Daw Khin Hla Hla ( Kanbawza Myitzu )

      Xuất bảnLt. Col Tin Aung Saddhammaramsi Sapei, Số 7 đường Zeiyakhemar, quận Mayangone,  Ngưỡng Quang – Miến Điện

      Dịch sang tiếng Việt từ bản tiếng Anh:  Phạm Xuân Quang

                                         Địa chỉ24 A / 257 Chi Lăng – Huế- Việt Nam

                                         Điện thoại (NR):     0542460293

                                         Điện thoại di động : 0948753810

                                         Thư điện tửsachthienhaiau@yahoo.com.vn

 

 

                                           Mục lục

                   

1. Ước ao buông bỏ những gánh nặng                                                             

2. Một Tu-Đà-Hườn gặt hái được 6 lợi ích                                                                  

3. Hãy làm những người con xứng đáng                                                                     

4. Những nhân tố dẫn đến thiện nghiệp                                                                       

5. Những sự hiểu biết khác nhau thuộc về cá nhân                                                     

6. Những điều kiện thích hợp để nhận thức Phật Pháp                                             

7. Những huấn từ đáng học hỏi và thực hành theo                                                     

8. Bảy cảnh giới thiện và ác                                                                                           

9. Tu dưỡng Bát Chánh Đạo sẽ dẫn đến Niết Bàn                                                       

10. Thẩm định để gặt hái kiến thức                                                                               

11. Những câu trả lời cho 2 câu hỏi                                                                               

12. Bốn Chân Lý Cao Thượng                                                                                            

13. Những chỉ dẫn về cách thực hành thiền nên học theo                                           

14. Kinh Chuyển Pháp Luân                                                                                          

15. Mười hai loại trí tuệ rút ra từ Kinh Chuyển Pháp Luân                           

16. Tiểu sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni                                                                        

17. Thuyết Pháp trong buổi lễ họp mặt nội bộ                                                              

18. Sứ mệnh truyền giáo ở hải ngoại                                                                              

19. Những điểm cần chú ý khi thuyết Pháp                                                                   

20. Những sự thật về nhà sư khổ hạnh                                                                           

21. Một và chỉ một nhà sư khổ hạnh                                                                              

22. Động đất                                                                                                                    

23. Thực hành thiền minh sát                                                                                       

24. Tám điều kỳ diệu của Phật Pháp                                                                         

25. Danh sách các thí chủ hùn phước ấn tống sách ( bản tiếng Anh)                                                    

                    

                         Ước ao buông bỏ gánh nặng

 

Con người đang sinh sống trong thế giới này đã nhận thức rõ gánh nặng của thân xác mà họ phải chịu đựng khi về già. Những nhu cầu cần thiết hàng ngày mà những người già sẽ phải tự phục vụ cho thân xác của chính họ là một gánh nặng thật sự. Họ không hề mong muốn gánh nặng đó, dù chỉ là một mảy may nào. Họ luôn ao ước muốn trút bỏ được gánh nặng đó. Con người luôn tìm kiếm một phương pháp có thể làm cho họ thoát khỏi được gánh nặng thân xác khi tuổi đã xế chiều. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã thuyết về 4 Pháp dành cho những ai ao ước muốn buông bỏ gánh nặng vừa nói trên.

1. Bhāra  -  Một gánh nặng

2. Bhārahāra - Người mang một gánh nặng

3. Bhāradāna -  Người tự bó buộc và mang một gánh nặng

4. Bhāranikkheypana -  Một nơi chốn để buông bỏ gánh nặng

   Trên đây là 4 Pháp vừa đề cập đã được Đức Phật thuyết ra.

                                                                 ( Sam 2, 21)

1. Một gánh nặng

 Một gánh nặng ( Bhāra – Burden) nghĩa là 5 uẩn tạo nên con người chúng ta (Upādānakkhandha – alternative renderings ), 5 uẩn đó là : Sắc

( tức vật chất tạo nên thân thể- Rūpa – Matter ), thọ ( tức cảm giác - Vedanā – Feeling or sensation), tưởng

( tức năng lực tri giác hay khả năng nhận biết – Saññā – Perception), hành ( tức hành động thuộc về ý chí-  Sankhāra – Volitional activities) và thức

( tức ý thức – Viññnā -  Consciousness ). Những ai đã mang gánh nặng ngũ uẩn này thì không thể nào thoát khỏi được nó, thậm chí chỉ là một ngày hay chỉ là một khoảnh khắc. Gánh nặng đó luôn luôn có mặt trong tâm thức họ. Nó khiến cho họ cảm thấy mệt mỏi khi đang ngồi, khi đang đứng, khi đang đi bộ, khi đang ngồi xuống sau khi đứng, khi đang đứng lên sau  khi đã ngồi, khi đang nằm xuống sau khi ngồi, khi đứng lại lúc đang đi bộ…Gánh nặng đó cũng làm cho họ cảm thấy mệt mỏi khi phải chuẩn bị một bữa ăn, khi đang ăn uống, khi phải trả lời một câu hỏi bình thường nào đó, khi đi tắm để tẩy sạch những mùi hôi khó chịu, khi mặc áo quần để chống lại cái lạnh hay cái nóng, khi tập thể dục và xử dụng các loại thuốc bổ để có một sức khoẻ tốt…Khi tuổi đời đã già, con người càng cảm thấy thấm thía với sự nhận thức về gánh nặng của thân xác mà họ đã mang lấy. Đó là lý do tại sao ngũ uẩn quả thật là một gánh nặng.

2. Người mang một gánh nặng

 Người mang một gánh nặng ( Bhārahāra –  Person who bear a burden) nghĩa là người đang sở hữu vật chất, cảm giác, năng lực tri giác, hành động thuộc về ý chí và ý thức. Mang thân tâm do ngũ uẩn tạo thành là mang một gánh nặng. Những ai đã mang thân tâm ngũ uẩn nghĩa là đã mang một gánh nặng kể từ khi đang còn nằm trong dạ mẹ. Họ mang gánh nặng của chính họ trong 10 năm, 20 năm , 60 năm hay suốt cả cuộc đời. Họ đã mang gánh nặng này khi đi tắm rửa, khi đang ăn uống hay khi đang nằm trên một chiếc giường êm ái. Khi qua đời, họ sẽ vứt bỏ thân xác của mình lại trong kiếp sống này. Theo quan niệm về tái sanh, họ lại mang một thân xác mới trong kiếp sống kế tiếp. Vì vậy, con người đã mang một gánh nặng không thể tưởng tượng nổi qua vô lượng kiếp sống ở quá khứ. Nếu không thực hành Phật Pháp cho đến khi trở thành một A-La-Hán thì họ sẽ còn phải mang gánh nặng của thân xác ( Khandha – The burden of the body) của chính mình trong vô lượng kiếp sống ở tương lai.

3. Người tự bó buộc và mang một gánh nặng

 Người tự bó buộc và mang một gánh nặng nghĩa là người khao khát những hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, sự xúc chạm có thể khiến cho anh ta cảm thấy hài lòng. Như vậy, người này đã bám víu vào những đối tượng của giác quan và  khao khát được thoả mãn. Nói cách khác, người này đã khao khát được hiện hữu. Do ảnh hưởng của sự bám víu vào các đối tượng của giác quan và tính khao khát khởi lên, con người ta đã trở nên bị dính mắc vào những đối tượng đó và tâm khao khát của chính họ. Đang khi bám víu và khao khát được hiện hữu, con người bị giam nhốt trong nghiệp. Do ảnh hưởng của nhiều loại nghiệp đa dạng, họ đã sở hữu gánh nặng của thân xác qua nhiều hình thức hiện hữu. Do ảnh hưởng của nguyên nhân tham ái

( tức khao khát - Tanhā – Craving), con người đã sở hữu gánh nặng của thân xác. Đó là lý do tại sao, người ta đã tự ý tạo nên gánh nặng thân xác của chính họ và phải mang lấy gánh nặng này.Tham ái là một mãnh lực phá hoại cực kỳ khủng khiếp. Nó là một trong những nguyên nhân chính dẫn dắt con người đến với những cảnh sống thấp kém và làm cho họ phải mang lấy gánh nặng của thân xác. Một ví dụ rất rõ ràng là nàng Upari – hoàng hậu của vua Assaka, người đã bị gắn chặt với những cảnh sống thấp kém do đã mang tính tham ái. Một thời, đức vua Assaka đang cai quản toàn bộ thành phố Patali ở xứ Kasit. Lúc bấy giờ, người được nhà vua yêu quí nhất là hoàng hậu Upari. Một hôm, hoàng hậu đột nhiên qua đời. Vì quá yêu thương hoàng hậu, nhà vua đã ra lệnh ướp xác bà bằng những chất thơm và đặt vào trong một quan tài bằng thuỷ tinh. Sau đó, Nhà vua lại cho người đặt chiếc quan tài này ngay dưới giường ngủ của mình. Mỗi khi nhà vua nhìn thấy thi hài của hoàng hậu, Ngài lại không thể nào ăn và ngủ được vì quá buồn khổ. Cũng vào thời ấy, có một vị Bồ- Tát đang tu hành theo lối khổ hạnh tại Hy-Mã-Lạp-Sơn đã đạt tới trình độ sở hữu được những năng lực siêu phàm ( tức thần thông - Abhiññā sampatti – Supernatural power). Bằng năng lực phi thường của mình,  vị Bồ-Tát biết được rằng bởi vì do cái chết của hoàng hậu Upari mà đức vua Assaka đã không thể nào ăn ngon ngủ yên được. Nhà vua ngày càng trở nên suy sụp vì buồn khổ. Lúc đó, vị Bồ-Tát đã đến vườn hoàng gia và cho một người báo tin đến với đức vua Assaka rằng : “  Một vị tu sĩ khổ hạnh có thể nói cho nhà vua biết được hiện nay hoàng hậu Upari đã đầu thai ở đâu. Vì vậy, nhà vua hãy mau mau đến vườn hoàng gia để diện kiến vị tu sĩ đó”. Ngay lập tức, vua Assaka đã đến khu vườn nói trên và hỏi vị tu sĩ khổ hạnh rằng : “ Có thật là Đại Đức có khả năng biết được chỗ ở hiện nay của hoàng hậu Upari không ?”. Vị tu sĩ khổ hạnh đã trả lời : “ Quả thật như thế, hoàng hậu đã trở thành một con gián và đang ở trong khu vườn của Ngài ”. Nhà vua nói : “ Ta không thể tin điều đó là sự thật ”. Vị tu sĩ khổ hạnh lại nói : “ Tâu bệ hạ, bần tăng sẽ gọi con gián này ra cho bệ hạ trông thấy ”. Nhà vua hối thúc : “ Thế thì hãy làm ngay đi !”. Nói đoạn, vị tu sĩ bắt đầu xử dụng năng lực thần thông của mình để gọi những con gián đực và gián cái chạy đến. Một lúc sau, có một con gián đực chạy đến trước mặt nhà vua và rồi một con gián cái cũng chậm chạp chạy theo sau. Vị tu sĩ liền nói : “Con gián cái chạy đến sau chính là hoàng hậu Upari”. Nhà vua lại nói : “ Ta vẫn chưa thể tin được !”. Vị tu sĩ lại tiếp lời : “ Nếu bệ hạ vẫn chưa tin, bần tăng sẽ làm cho con gián cái này cất giọng nói ! ”. Vừa nói xong vị tu sĩ bèn hỏi con gián cái rằng : “ Này con gián cái kia ! Trong kiếp sống trước mày là ai ?”. Con gián cái liền trả lời : “ Kiếp trước tôi là hoàng hậu Upari , vợ của đức vua Assaka”. Vị tu sĩ lại nói : “ Hiện bây giờ mày có còn yêu thương đức vua Assaka nữa không hay đã chuyển sang yêu thương con gián đực ? Trong 2 sinh vật đó mày yêu ai hơn ?”. Con gián cái đã trả lời rằng : “ Hiện bây giờ tôi yêu con gián đực gấp một  ngàn lần đức vua Assaka. Nếu được, tôi ước gì mình có thể rửa chân cho con gián đực bằng máu thoát ra từ cổ họng của nhà vua ”. Kể từ đó, tình yêu lớn lao của đức vua Assaka dành cho hoàng hậu Upari đã không còn nữa và tất cả nổi buồn khổ của Ngài cũng tự nhiên biến mất. Sau đó, Ngài đã ra lệnh cho thuộc cấp mang quan tài của hoàng hậu Upari đi nơi khác. Trên đây là một ví dụ rất rõ ràng rằng, tính tham ái đã làm cho  người ta bị đày đọa xuống những cảnh sống thấp kém. Chính tính tham ái đã khiến cho người ta phải mang lấy gánh nặng của thân xác mình. Vì vậy, họ phải khổ đau và đó là nghiệp xấu mà họ phải gánh chịu.

4. Một nơi chốn để buông bỏ gánh nặng

Một nơi chốn để buông bỏ gánh nặng nghĩa là phải buông bỏ ngũ uẩn. Trên tất cả 31 cõi sống trong toàn vũ trụ không có nơi nào là không có gánh nặng. Muôn loài chỉ có thể buông bỏ gánh nặng của chính họ tại cõi Niết Bàn. Đó là lý do tại sao Niết Bàn là nơi chốn duy nhất để buông bỏ gánh nặng của thân xác.Khi tuổi đã về già thì con người sẽ nhận thức được gánh nặng thân xác của chính họ và mong muốn buông bỏ gánh nặng này. Mỗi khi những con người già nua đó đã nhận thức được rằng Niết Bàn là cảnh giới duy nhất có thể giúp họ buông bỏ được gánh nặng của thân xác,  họ sẽ thực hành Giáo Pháp Cao Thượng để đạt tới cảnh giới ấy. Đức Phật cũng đã từng thuyết rằng, để đạt tới cõi Niết Bàn, chúng ta cần phải thực hành thiền minh sát. Thiền minh sát là cách thực hành duy nhất và cao thượng nhất mà con người có thể thực hiện để đạt tới Niết-Bàn. Vì vậy, những ai có mong muốn buông bỏ được gánh nặng của thân xác thì họ phải thực hành thiền minh sát. Một hành giả đang khi thực hành thiền minh sát và gặt hái được con đường trí tuệ của Tu-Đà-Hườn ( Sotāpatti magga ñāna – The wise way of the Stream- winner) thì anh ta sẽ có khả năng loại bỏ được tất cả những thứ ô nhiễm có thể khiến cho mình bị đọa xuống địa ngục. Vì vậy, gánh nặng của thân xác trong cõi địa ngục mà người này sẽ phải mang lấy trong những kiếp sống ở tương lai đã bị loại bỏ. Một hành giả đang khi thực hành thiền minh sát và gặt hái được con đường trí tuệ của Tư-Đà-Hàm ( Sakadāgāmi magga ñāna – The wise way of the Once-returner) thì tính tham ái trong chính anh ta đã bị làm cho yếu đi. Điều này có thể giúp cho hành giả loại bỏ được một phần lớn gánh nặng của thân xác mình ở cõi người hay 6 cõi trời Chư Thiên trong kiếp sống kế tiếp. Hành giả này chỉ còn trở lại luân hồi trong một kiếp sống nữa mà thôi. Vì vậy, anh ta đã làm cho gánh nặng thân xác của chính mình càng thêm nhỏ lại gấp bội phần. Khi hành giả này tiếp tục thực hành thiền minh sát và gặt hái được con đường trí tuệ của A-Na-Hàm ( Anāgāmi magga Ñāna – The wise way of the Non-returner) thì anh ta sẽ có khả năng loại bỏ được hoàn toàn tất cả những thứ ô nhiễm dẫn đến gánh nặng thân xác ở cõi người và 6 cõi trời Chư Thiên trong kiếp sống kế tiếp. Nếu hành giả nói trên vẫn tiếp tục thực hành thiền minh sát và gặt hái được con đường trí tuệ của  A-La-Hán

( Arahatta magga ñāna – The wise way of the Arhat) thì anh ta  đã loại bỏ được tất cả những thứ ô nhiễm đã làm nên gánh nặng thân xác trên 31 cõi sống trong vũ trụ. Nói cách khác, hành giả này sẽ không còn trở lại luân hồi. Do đó, anh ta sẽ đạt tới cõi Niết Bàn.Vì vậy, tất cả những ai có mong muốn buông bỏ được gánh nặng thân xác của chính mình một cách hoàn toàn phải thực hành thiền minh sát.

Tóm tắt: Gánh nặng lớn nhất chính là ngũ uẩn. Người nào đã hoàn toàn buông bỏ được gánh nặng này, người đó chắc chắn sẽ đạt tới Niết Bàn.          

   

                        Một Tu-Đà-Hườn gặt hái được 6 lợi ích

 

Những Phật tử mộ Đạo chắc chắn sẽ nhận thức được trên một mức độ nào đó về ý nghĩa trọng đại rằng, một Tu-Đà-Hườn đã có khả năng thoát khỏi địa ngục luân hồi một cách hoàn toàn. Vì vậy, họ có ước muốn mãnh liệt được làm một Tu-Đà-Hườn. Họ cũng mong muốn có được sự hiểu biết đầy đủ về những lợi ích mà một Tu-Đà-Hườn sẽ gặt hái được. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã thuyết về 6 lợi ích của một Tu-Đà-Hườn :

1. Saddhammaniyato – Được sống một cách tinh khiết trong Giáo Pháp Cao Thượng của Đức Phật

2. Aparihāna dhammo – Không bị suy đồi và thoái hoá.

3. Pariyantakata dukkham – Hạn chế được những nổi khổ đau.

4. Asadārananāno – Có trí tuệ khác xa với những người thế tục.

5. Hetucasudittho –  Nhận biết được những nguyên nhân tạo ra nghiệp quả một cách một cách đúng đắn.

6. Hetusamuppannāca  -  Nhận biết được một cách rõ ràng tác động của những nguyên nhân đã tạo ra nghiệp quả.

 Trên đây là 6 lợi ích của một Tu-Đà-Hườn mà Đức Phật đã thuyết ra.

1. Được sống một cách tinh khiết trong Giáo Pháp Cao Thượng Được sống một cách tinh khiết trong Giáo Pháp Cao Thượng nghĩa là những người đã trở thành Tu-Đà-Hườn sẽ có được những phẩm chất cao thượng và đúng đắn như : Có khả năng giữ gìn 5 Giới, 10 Giới, có được 4 nền tảng của thiền tứ niệm xứ ( tức thiền minh sát)… Những người đã trở thành Tu-Đà-Hườn sẽ không còn cơ hội nào để sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và xử dụng các chất say. Họ có khả năng giữ gìn những điều vừa nêu trên và sẽ không bao giờ còn bị phạm Giới, dù đang ở trong bất cứ trường hợp nào. Họ sẽ luôn luôn sống trong sự quan sát và giữ gìn 5 Giới. Những người đã trở thành Tu-Đà-Hườn vẫn có thể bị các thế lực đối nghịch đe dọa rằng, nếu họ không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không xử dụng các chất say thì họ có thể bị giết chết hoặc bị đàn áp. Tuy nhiên, khi đứng trước một sự đe dọa và áp bức như thế, họ vẫn không hề sợ hãi. Nhờ vậy, họ sẽ không bị vi phạm Giới luật. Họ luôn nghĩ rằng thà chết còn hơn là vi phạm Giới luật. Do đó, những Tu-Đà-Hườn luôn luôn được sống một cách tinh khiết trong Giáo Pháp đúng đắn và Cao Thượng của Đức Phật.

Tóm tắtTình trạng được sống một cách tinh khiết trong Giáo Pháp đúng đắn và cao thượng đã được thiết lập trong một Tu-Đà-Hườn.

2. Không bị suy đồi và thoái hoá

 Lợi ích của những người đã trở thành Tu-Đà-Hườn là :  Kể từ gặt hái được quả vị tu chứng này, cuộc sống của họ sẽ không còn bị suy đồi và thoái hoá. Họ cũng gặt hái được 7 loại đức hạnh, đó là : Có niềm tin sáng suốt ( Saddhà), năng lực giữ Giới

( Sīla), bố thí ( Cāga), biết hổ thẹn ( Hiri), ghê sợ tội lỗi ( Ottapa), năng lực học tập Giáo Pháp ( Suta) và trí tuệ ( Paññā). Cuộc sống của họ kể từ đó sẽ luôn luôn được phát triển và thịnh vượng. Niềm tin sáng suốt, năng lực giữ Giới, bố thí… là 7 loại đức hạnh mà những người thế tục cũng đã có trong tâm thức của họ. Tuy nhiên, đối với những người thế tục, các loại đức hạnh này có thể bị phá huỷ do ảnh hưởng của những tình huống mà họ sẽ gặp phải trong cuộc sống ở thế gian. Nếu chúng không bị phá huỷ trong kiếp sống này thì chúng cũng có thể bị phá huỷ trong những kiếp sống ở tương lai. Bảy loại đức hạnh vừa kể trên sẽ không bao giờ bị suy đồi và thoái hoá trong tâm thức của những Tu-đà-hườn, bất luận là họ đang ở trong trường hợp nào - thuộc kiếp sống này hay những kiếp sống ở tương lai. Những đức hạnh đó sẽ tiếp tục được phát triển và ngày càng thịnh vượng trong cuộc sống của họ. Những đức hạnh này sẽ là nguồn cổ vũ và động viên để họ có thể sở hữu một năng lực sống mạnh mẽ ( Pakatūpanīssaya – A well-being ability). Vì vậy, những Tu-Đà-Hườn sẽ gặt hái được những Đạo Quả cao hơn trong tương lai.

Tóm tắtTình trạng không bị suy đồi và thoái hóa đạo đức đã được thiết lập trong một Tu-Đà-Hườn.

3. Hạn chế được những nổi khổ đau

 Những Tu-Đà-Hườn sẽ hạn chế được những nổi khổ đau nghĩa là : Những Tu-Đà-Hườn chỉ còn phải chịu đựng những nổi khổ đau như tuổi già, bệnh, chết… trong cõi người và 6 cõi trời Chư Thiên nữa mà thôi. Sau khi đã tiếp tục sống thêm tối đa là 7 kiếp, kể từ khi trở thành Tu-Đà-Hườn, họ sẽ thoát khỏi luân hồi. Vì vậy, họ đã hạn chế được những nổi khổ đau của mình.

Tóm tắtNăng lực có thể hạn chế được những nổi khổ đau trong luân hồi đã được thiết lập trong một Tu-Đà-Hườn.

Vào một thời, khi đang trú tại tu viện Kỳ-Viên ở Xá-Vệ, Đức Phật đã từng bốc một nhúm bụi đất đặt lên móng tay của Ngài và hỏi các đệ tử rằng : “ Hỡi các Tỳ-kheo ! Bụi ở trên móng tay của ta và bụi trên toàn trái đất này, nơi nào nhiều hơn? Các Tỳ-kheo đã trả lời : “ Bạch Giáo Chủ ! Bụi ở trên móng tay của Ngài quá ít so với bụi trên toàn trái đất này!”. Tiếp đến Đức Phật đã chỉ dạy : “ Hỡi các Tỳ-kheo ! Những nổi khổ đau trong luân hồi như tuổi già, bệnh tật và cái chết…chỉ còn tồn tại trong tâm thức của một Tu-đà-hườn tối đa là 7 kiếp sống nữa mà thôi. Vì vậy, chúng như bụi ở trên móng tay của ta. Những khổ đau trong luân hồi đã bị một Tu-Đà-Hườn loại bỏ là vô số kể, chúng giống như tất cả bụi ở trên trái đất này”. Như vậy, Đức Phật đã chỉ ra cho các Tỳ-kheo thấy rằng, một Tu-Đà-Hườn đã có khả năng hạn chế được những nỗi khổ đau như thế nào.

4. Có trí tuệ khác xa với những người thế tục

Một Tu-Đà-Hườn sẽ có được trí tuệ khác xa với những người thế tục nghĩa là : Những người thế tục thường có những quan kiến lầm lạc

( Micchadiţţhi – Wrong view) và không có khả năng phân biệt được những đối tượng của giác quan (Vicikiccha- Sense objects) nào là xấu và những đối tượng của giác quan nào là tốt. Họ chưa thể loại bỏ được tính tham lam, sân hận và vọng tưởng. Họ lấy vô thường làm thường còn ( Anicca to be nicca), lấy khổ đau làm hạnh phúc ( Dukkha to be Sukkha), lấy vô ngã làm tự ngã ( Anatta to be atta). Họ chưa có được trí tuệ và chưa tìm thấy ánh sáng của Phật Pháp khi đang còn sống trên thế gian .Vì vậy, họ đã có những quan kiến lầm lạc. Những người đã trở thành Tu-đà-hườn có thể loại bỏ được tất cả những quan kiến lầm lạc, những sự phán đoán chưa đúng đắn về các đối tượng của giác quan. Họ có thể loại bỏ được tính tham lam, sân hận và vọng tưởng bằng con đường trí tuệ của một Tu-đà-hườn ( Sotāpatti magga Ñāna). Họ cũng có thể nhận biết một cách đúng đắn thế nào là vô thường, khổvô ngã. Ngoài ra, một Tu-đà-hườn còn có một sự hiểu biết đặc biệt về cõi thế gian và những mối quan hệ của vạn hữu mà một người thế tục chưa thể nào hiểu biết được.

Tóm tắt: Những lợi ích khác thường đã được thiết lập trong một Tu-Đà -Hườn. 5. Nhận biết những nguyên nhân tạo ra nghiệp quả một cách đúng đắn

 Lợi ích thứ 5 của một Tu-Đà-Hườn là có thể nhận biết được một cách đúng đắn về những nguyên nhân đã tạo ra nghiệp quả. Họ đã có khả năng phân tích và nhận thức những hành động thuộc về thân, khẩu, ý ( hành động thuộc về thân xác, lời nói và ý nghĩ) tốt hơn những người thế tục. Họ có thể nhận biết một cách đúng đắn hành động nào sẽ dẫn đến thiện nghiệp và những hành động nào sẽ dẫn đến bất thiện nghiệp. Tóm tắtNhững Tu-Đà-Hườn là những người đã có khả năng nhận biết một cách đúng đắn về các nguyên nhân tạo ra nghiệp quả tốt hoặc xấu.

 6.Nhận biết được một cách rõ ràng tác động của những nguyên nhân tạo nghiệp

 Những Tu-Đà-Hườn có khả năng nhận biết được rằng, những hành động thiện lành sẽ mang lại hạnh phúc bởi vì chúng là những nguyên nhân tốt. Từ đó, chúng sẽ mang lại kết quả tốt. Những Tu-Đà-Hườn cũng có khả năng nhận biết được rằng, khi những nghiệp xấu làm nguyên nhân thì chúng sẽ mang lại kết quả là những mối nguy hiểm và khổ đau. Do đó, những Tu-Đà-Hườn đã lãnh hội được tác động tốt và xấu của nghiệp một cách rõ ràng hơn những người thế tục.

Tóm tắtNhững Tu-Đà-Hườn là những người đã có khả năng nhận biết được những điều khó lãnh hội như tác động tốt hoặc xấu của những nguyên nhân đã tạo ra nghiệp

Vì vậy, những Tu-Đà-Hườn đã có được 6 lợi ích to lớn mà những người thế tục chưa thể có được. Nếu quí vị thiện nam, tín nữ là những bậc cha mẹ thiện lành mong muốn có được 6 lợi ích vừa nêu trên thì họ phải thực hành thiền tứ niệm xứ ( Satipatthāna vipassanā). Những nền tảng của thiền tứ niệm xứ là những nền tảng thực hành cao thượng và duy nhất có thể giúp cho họ trở thành một Tu-Đà-Hườn.

 

                          Hãy làm những người con xứng đáng

 

 Giữa xã hội loài người có những bậc cha mẹ đáng kính và những người làm con cái. Những người làm con luôn luôn mong muốn mình có cha mẹ là những người thiện lành. Trong khi đó, những bậc làm cha mẹ lại mong muốn con cái của họ là những người con xứng đáng. Các bậc cha mẹ thường nuôi con cái của họ từ lúc còn thơ ấu cho đến khi trưởng thành với một tấm lòng tận tụy vô bờ bến, bởi vì họ luôn mong muốn con cái của mình sẽ trở thành những người xứng đáng. Bên cạnh đó, không có bất cứ một người con nào lại mong muốn mình trở thành một người con hư hỏng, không xứng đáng với lòng mong đợi của cha mẹ. Các nhà hiền triết ngày xưa đã từng dạy rằng, những người nào mong muốn mình trở thành những người con xứng đáng thì phải thực hành 5 yếu tố sau đây :

1. Phải có thói quen hay bố thí      

2. Phải có thói quen thực hành Phật Pháp

3. Phải có lòng dũng cảm dám đứng về phía lẽ phải

4. Phải có tính kiên định trong việc học tập nghề nghiệp

5. Phải bền chí trong việc tìm kiếm của cải

 - Phải có thói quen hay bố thí nghĩa là :  Kể từ những đứa trẻ đã đủ tuổi đến trường cho đến các em lớn hơn nữa cần phải có thói quen chia xẻ những đồ ăn thức uống mà chúng có được cho bạn bè của mình. Chúng cũng cần phải có thói quen có thể cho đi hết sạch túi tiền của mình mỗi khi có ai đó hỏi xin. Những đứa trẻ nào có thể làm được như thế thì chúng là những đứa con xứng đáng với cha mẹ của mình. Đối với những đứa trẻ chưa có thói quen bố thí thì ông bà, cha mẹ hay những người trông nom chúng phải dạy dỗ, động viên và thúc giục chúng nên có thói quen đó. Trẻ nhỏ nên có thói quen bố thí, dù nhiều dù ít cũng phải nên có bởi vì đây là một thói quen tốt và đáng khen. Những đứa trẻ có thói quen bố thí thì trong chính kiếp sống ở hiện tại và những kiếp sống ở tương lai chúng sẽ có một cuộc sống thịnh vượng, dồi dào… Chúng cũng sẽ có khả năng thực hành việc bố thí, giữ Giới và thực hành tâm thức thiện lành. Những việc làm vừa nói sẽ khiến cho những đứa trẻ đó được hạnh phúc cho đến khi đạt tới Niết Bàn. Vì vậy, trẻ nhỏ phải khẩn trương rèn luyện để có được thói quen thích bố thí.

- Phải có thói quen hay thực hành Phật Pháp nghĩa là kể từ những đứa trẻ đã đến tuổi tựu trường cho đến những em khác lớn hơn cũng nên có thói quen giữ Giới, tụng kinh và lần tràng hạt, thực hành thiền minh sát. Chúng cần phải có thói quen hay đi đến các ngôi chùa hoặc tu viện Phật Giáo cùng với ông bà, cha mẹ, người nuôi dưỡng chúng …để thực hành Phật Pháp. Nếu có được thói quen đó nghĩa là chúng đã có được một trong những nhân tố chính yếu để trở thành người con xứng đáng. Mặt khác, những đứa trẻ nào chưa có hứng thú đối với việc giữ Giới hoặc thực hành Phật Pháp thì ông bà, cha mẹ hay những người trông nom chúng cần phải nhanh chóng dạy cho chúng có được hứng thú để thực hành những điều đó. Chỉ khi đã thực hành những đường lối đúng đắn trong việc giữ Giới và thực hành Phật Pháp thì trẻ nhỏ mới có thể dễ dàng tìm kiếm được sự thịnh vượng, có tiếng tốt, được nhiều người khác yêu thương và tôn trọng. Sau khi chết chúng sẽ được tái sanh lên những cảnh giới tốt đẹp và cuối cùng sẽ đạt tới Niết Bàn. Vì vậy, trẻ nhỏ cần phải khẩn trương thực hiện việc giữ Giới và thực hành Phật Pháp.

 - Phải có lòng dũng cảm dám đứng về phía lẽ phải nghĩa là : Kể từ lúc còn thơ ấu cho đến khi lớn lên những đứa trẻ cần phải có được tính công bằng và dũng cảm. Chúng cần phải có thói quen nói đúng với sự thật. Những đứa trẻ nào có thể có được những đức tính vừa nêu thì chúng mới thật sự là những người con xứng đáng. Những đứa trẻ có tính nhút nhát, yếu đuối thì ông bà, cha mẹ và những người trông nom chúng cần phải dạy cho chúng biết được thế nào là tính dũng cảm và dám đứng lên bênh vực cho lẽ phải. Những đứa trẻ đó cần phải hiểu rằng chúng không nên sợ hãi bất cứ một điều gì và nếu chúng không có tính dũng cảm thì cuộc sống của chúng về sau sẽ không thể phát triển và thịnh vượng được. Vì vậy, những đứa trẻ nói trên cần phải khẩn trương học tập và rèn luyện để có được tính dũng cảm.

 - Phải có tính kiên định trong việc học tập nghề nghiệp nghĩa là :  Những đứa trẻ ngay từ lúc còn nhỏ cần phải có tính kiên nhẫn, bền chí khi học tập một nghề nghiệp nào đó. Chúng cần phải có khả năng học những bài học của chúng một cách tuần tự và có hệ thống. Nếu làm được như thế thì chúng là những đứa trẻ đã có phẩm chất xứng đáng với cha mẹ của mình. Những đứa trẻ chưa có được tính kiên nhẫn, bền chí khi đang học tập một nghề nghiệp nào đó là những đứa trẻ có thói quen lười biếng. Chúng không học những bài học của mình một cách tuần tự và có hệ thống. Nếu như thế thì ông bà, cha mẹ hay những người trông nom chúng cần phải dạy cho chúng biết được rằng : “ Chỉ khi các con có được một nền tảng giáo dục tốt đẹp thì lúc ấy các con mới có thể mang lại lợi ích cho chính các con và những người khác. Nếu các con không có một nền tảng giáo dục tốt thì các con sẽ trở thành đầy tớ của những người khác. Một nền tảng giáo dục tốt chính là sự thịnh vượng cao thượng nhất. Nền tảng đó là một chiếc bình bằng vàng, các con đừng nên làm cho nó tan vỡ đi…”. Vì vậy, ngay từ lúc còn ấu thơ, những đứa trẻ cần phải được hấp thụ một nền tảng giáo dục tốt đẹp và vững chắc càng sớm càng tốt.

-  Phải bền chí trong việc tìm kiếm của cải nghĩa là những đứa trẻ sau khi đã có được một nền tảng giáo dục tốt đẹp và đã đến tuổi phải tìm kiếm của cải thì chúng cần phải cố gắng thực hiện điều đó một cách hợp pháp. Nếu làm được như vậy thì chúng đã có được một nhân tố để làm người con xứng đáng. Những đứa trẻ đã được hấp thụ một nền tảng giáo dục tốt và đã đến tuổi phải tìm kiếm sự thịnh vượng nhưng chúng vẫn chưa có được tính kiên nhẫn, bền chí thì ông bà, cha mẹ hay những người trông nom chúng cần phải dạy cho chúng biết rằng : “ Mọi người sinh sống trên cuộc đời này đều phải biết tìm kiếm sự thịnh vượng một cách hợp pháp. Chỉ khi đã bỏ thời gian để thực hành bố thí, giữ Giới và thiền minh sát thì lúc đó, các con mới có được sự thịnh vượng. Chỉ khi đã có thói quen hay bố thí, giữ Giới và tạo được nhiều phước thiện thì lúc đó

 các con mới được hạnh phúc trong kiếp sống này và trong những kiếp sống ở tương lai cho đến khi các con đạt tới Niết Bàn. Vì vậy, các con hãy mau mau khẩn trương thực hành việc bố thí, trì Giới và tạo được nhiều phước thiện”.

Tóm tắtCó thói quen hay bố thí và thực hành Phật Pháp, dũng cảm đứng về phía lẽ phải, kiên định khi học tập một nghề nghiệp nào đó và bền chí khi tìm kiếm sự thịnh vượng là 5 nhân tố làm nên những người con xứng đáng.

Khi những người làm con cái đã có được 5 nhân tố vừa nêu trên thì họ sẽ có khả năng làm việc để mang lại lợi ích cho chính bản thân họ, cho cha mẹ họ và cho những người thân của họ. Ngoài ra, họ cũng có khả năng làm việc vì lợi ích cho tôn giáo và giáo đoàn của họ.

 

                            Những nhân tố dẫn đến thiện nghiệp

 

 Những người Phật tử nhận thấy một sự thật rằng thiện nghiệp và ác nghiệp luôn luôn hiện hữu trong chuỗi sống liên tục ( từ quá khứ đến hiện tại và từ hiện tại cho đến khi trở thành một A-La-Hán) của họ. Thiện nghiệp mang lại nhiều lợi ích cho đến khi họ đạt tới Niết Bàn. Thiện nghiệp cũng bảo vệ họ giống như họ đã từng nhận được sự bảo vệ từ phía các bậc cha mẹ, họ hàng thân quyến và bạn bè. Ngược lại, ác nghiệp sẽ mang lại cho họ những tác động xấu giống như những kẻ thù và là nguyên nhân sinh ra những điều phiền muộn cho đến khi họ đạt tới Niết Bàn. Đó là lý do tại sao thiện nghiệp phải được chúng ta thực hiện càng nhiều càng tốt, đồng thời phải biết cách né tránh ác nghiệp với hết khả năng có thể. Có 5 nhân tố dẫn đến thiện nghiệp :

1. Yonisomanasissaya –  Có quan kiến đúng đắn

2. Sabbūrisūpanissaya -  Tuỳ thuộc vào đức hạnh của từng người

3. SaddhammassavanaBiết lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng

4. Pattirupā desāvāsa Cư trú tại một nơi thích hợp

5. Pubbeca kata puññatāCó những hành động đặc biệt xứng đáng trong những kiếp sống ở quá khứ.

1. Có quan kiến đúng đắn

Có quan kiến đúng đắn nghĩa là phải biết tự suy ngẫm về những nguyên nhân đúng đắn để có thể cải thiện được tâm thức của chính mình, phải biết cách tìm kiếm của cải và sự thịnh vượng một cách hợp pháp, phải có những ước muốn và niềm tin đúng đắn khi bố thí, phải biết tôn trọng người nhận bố thí dựa trên nền tảng Giới luật, năng lực định tâm và trí tuệ. Quan kiến đúng đắn là một nhân tố mà chúng ta cần phải luôn luôn có trong tâm thức mỗi khi thực hành bố thí. Đang khi còn sống trong kiếp người ở trần gian, bạn là người đang có cơ hội để thực hành Giáo Pháp Cao Thượng. Khi đang còn sống trong khoảng thời gian mà Giáo Pháp của Đức Phật vẫn còn tồn tại, bạn là những người đang có cơ hội được dẫn dắt đến với Đạo Quả Niết Bàn. Khi vẫn còn sống trong một trạng thái sức khoẻ tốt đẹp và sự thịnh vượng của Phật Pháp, bạn nên thực hành việc giữ Giới, thiền định và thiền minh sát bởi vì đó là những điều đúng đắn. Vì vậy, bạn cần phải biết suy niệm để có được thiện nghiệp trong tâm thức của mình qua việc giữ Giới, thiền định và thiền minh sát.

2. Tuỳ thuộc vào đức hạnh của từng người

Tuỳ thuộc vào đức hạnh của từng người nghĩa là tuỳ duyên mà mỗi người trong chúng ta sẽ được sống và chịu sự ảnh hưởng về mặt đức hạnh của những bậc cha mẹ, thầy cô giáo, bạn bè và những người quen biết khác nhau. Nếu được sống với những người có thói quen hay bố thí, trì Giới, thực hành thiền định và thiền minh sát thì bạn cũng sẽ có khả năng thực hiện những điều đó. Vì vậy, đức hạnh mà chúng ta chịu ảnh hưởng từ phía cộng đồng chúng ta đang sinh sống là một nhân tố dẫn đến thiện nghiệp, mỗi người mỗi khác, không có ai giống ai. 

3. Biết lắng nghe Giáo Pháp cao thượng

Biết lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng nghĩa là chúng ta cần phải biết lắng nghe những lời Phật dạy dựa trên nền tảng của việc bố thí, giữ Giới, thực hành thiền định và thiền minh sát. Bằng cách thực hành Phật Pháp dựa trên những nền tảng vừa nêu, bạn sẽ được trường thọ, có diện mạo xinh đẹp, có của cải dồi dào, có nhiều quyền hạn… ngay trong kiếp sống này và trong những kiếp sống ở tương lai. Bằng cách giữ giới nghiêm túc, bạn sẽ kiếm được của cải một cách dễ dàng ngay trong kiếp sống này và trong những kiếp sống mai sau, trở nên có tiếng tốt, được nhiều người tôn trọng và yêu mến, sẽ được chết một cách bình yên và sau khi chết sẽ được sanh lên cõi trời. Bằng cách thực hành thiền định và thiền minh sát chúng ta sẽ đạt tới cõi Niết Bàn hạnh phúc. Những người nào biết lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng sẽ có được những lợi ích vừa nêu trên. Bằng cách lắng nghe Giáo Pháp để biết được lợi ích của việc bố thí, người ta sẽ tạo được nghiệp bố thí thiện lành. Bằng cách lắng nghe Giáo Pháp để biết được những lợi ích của việc giữ Giới, bạn sẽ thực hành giữ Giới và gặt hái được nghiệp giữ Giới thiện lành. Bằng cách lắng nghe Giáo Pháp để biết được những lợi ích của việc thực hành thiền định và thiền minh sát, người ta sẽ thực hành những loại thiền này. Đó là lý do tại sao biết lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng là một trong những nhân tố dẫn đến thiện nghiệp.  

4. Cư trú tại một nơi thích hợp

Cư trú tại một nơi thích hợp nghĩa là bạn cần phải cư trú tại một nơi có khí hậu đừng nóng quá và cũng đừng lạnh quá, nơi mà bạn có thể tìm kiếm của cải một cách hợp pháp và dễ dàng, nơi mà Giáo Pháp của Đức Phật đang hưng thịnh. Những ai cư trú tại một nơi thích hợp thì họ sẽ có khả năng bố thí, trì Giới, thực hành thiền định và thiền minh sát cho đến khi gặt hái được phước báu. Thậm chí, họ có thể gặt hái được Bát Chánh Đạo và đóng cánh cửa địa ngục lại một cách vĩnh viễn đối với chính họ. Đó là lý do tại sao cư trú tại một nơi thích hợp là một nhân tố dẫn đến thiện nghiệp.

5. Có những hành động đặc biệt xứng đáng trong những kiếp sống ở quá khứ

Có những hành động đặc biệt xứng đáng trong những kiếp sống ở quá khứ nghĩa là : Trong những kiếp sống ở quá khứ một người nào đó đã có những hành động bố thí hay giữ Giới dựa trên nền tảng của Giới luật, thiền định và thiền tuệ. Theo Kinh Anamataga đã được Đức Phật thuyết giảng, chuỗi sống của con người là dài vô tận, không thể đếm được là bao nhiêu kiếp và cũng không thể biết được nó bắt đầu từ đâu. Trong một vài kiếp sống trong chuỗi sống đó, người nói trên đã thực hiện vô số hành động bố thí, giữ Giới, thiền định và thiền tuệ. Những người mà trong những kiếp sống ở quá khứ đã có những hành động tốt lành như vậy thì họ đã gặt hái được phước báu bố thí, phước báu giữ Giới, phước báu thiền định và thiền tuệ ( tức thiền minh sát). Những phước báu đặc biệt này được gọi là pubbeca kata puññatā. Những người đã từng có phước báu đặc biệt trong những kiếp sống ở quá khứ thì trong kiếp sống này họ sẽ có nhiều ước muốn được thực hành bố thí, giữ Giới, thực hành thiền định và thiền minh sát. Đó là lý do tại sao việc có được những phước báu thiện lành trong những kiếp sống ở quá khứ là một nhân tố dẫn đến thiện nghiệp. Mặc dù được xếp là nhân tố thứ 5 dẫn đến thiện nghiệp và là một nguyên nhân đã thuộc về quá khứ xa vời nhưng pubbeca kata puññatā là một nhân tố có năng lực mạnh mẽ bậc nhất. Những người đã gặt hái được nhân tố này thì trong kiếp sống hiện tại họ sẽ có khả năng được cư trú tại những nơi có khí hậu thích hợp và thực hiện những công việc thiện lành. Những người đã có pubbeca kata puññatā thì trong kiếp sống này họ sẽ có ước muốn được lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng. Bởi vì đã ước muốn như vậy nên họ sẽ được mãn nguyện. Những người đã có pubbeca kata puññatā thì trong kiếp sống này họ sẽ được làm con của những bậc cha mẹ thiện lành, làm học trò của những thầy cô giáo đáng kính, làm bạn bè với những người xứng đáng…Những người đã có pubbeca kata puññatā thì trong kiếp sống này họ sẽ có khả năng khám phá ra những nguyên nhân đúng đắn để cải thiện tâm thức của họ. Trong kiếp sống này, bạn có thể thực hiện việc bố thí, trì Giới, thiền định và thiền minh sát là vì trong những kiếp sống ở quá khứ, bạn đã từng thực hiện những hành động đặc biệt thiện lành. Nếu xét cho cùng, bạn sẽ biết được rằng, những phước báu mà mình đã gặt hái được trong kiếp sống này là có nguồn gốc từ những hành động phước thiện mà bạn đã từng thực hiện trong những kiếp sống ở quá khứ. Bạn cũng sẽ biết rằng những hành động phước thiện mà mình đã thực hiện trong kiếp sống này sẽ dẫn dắt bạn đến với những cảnh giới cao thượng trong những kiếp sống ở tương lai. Bạn cũng sẽ biết rằng cuối cùng rồi mình cũng sẽ đạt tới Niết Bàn Cao Thượng.

Tóm tắtBởi vì những hành động thiện lành trong quá khứ mà hiện tại đã được tốt đẹp và tương lai cũng sẽ trở nên tươi sáng.

Khi đã biết được những lợi ích của thiện nghiệp, chúng tôi cầu chúc cho những người con của các bậc cha mẹ thiện lành sẽ có khả năng phát triển 5 nhân tố vừa nêu trên để gặt hái được phước báu. Chúng tôi cũng cầu chúc cho bạn sẽ có khả năng thực hành thiền minh sát cho đến khi đạt được phước báu cao thượng nhất.

 

             Những sự hiểu biết khác nhau thuộc về cá nhân

           

 Mặc dù trong thế giới của loài người có hàng triệu, hàng tỷ người… Tuy nhiên theo lời Phật dạy, nói tóm lại chỉ có 2 hạng người được xếp theo những phạm trù sau đây : Người có trí nhớ tốt và người chóng quên, người thông minh và người ngu muội, người siêng năng và người lười biếng… Ngoài ra Đức Phật đã từng thuyết về những hoàn cảnh bất lợi và thuận lợi của hai hạng người lười biếng và siêng năng.

1. Người không thực hành thiền minh sát do có tính lười biếng

2. Người có thực hành thiền minh sát do có tính siêng năng và cần mẫn

Những người không thực hành thiền minh sát do có tính lười biếng sẽ gặp phải những hoàn cảnh bất lợi như có một cuộc sống nghèo khổ, gặp nhiều khó khăn khi tìm kiếm của cải.

Nghèo khổ do lười biếng

Trong thế gian này, những người không làm việc để tìm kiếm của cải và sự thịnh vượng thì dĩ nhiên họ sẽ không có nhiều của cải và không được thịnh vượng. Vì vậy, họ sẽ bị nghèo khổ. Từ đó, cha mẹ, con cái và những người thân đang sống chung với họ cũng sẽ bị thiếu thốn thức ăn và chỗ ở. Những người không thực hành Phật Pháp do có tính lười biếng sẽ có những hành động bất thiện như : Tham lam, sân hận, vọng tưởng, ngã mạn, ghen tị và bủn xỉn… Vì vậy, thiện nghiệp sẽ không có cơ hội để hiện khởi trong tâm thức của họ. Do đó, họ sẽ trở nên bất hạnh trong kiếp sống này và những kiếp sống mai sau.

 Bị sa đọa do lười biếng

Những người không làm việc để phát triển xã hội và kinh tế bởi vì  họ có tính lười biếng.Vì vậy, họ sẽ không có được sự thịnh vượng mà đáng ra họ phải có và sẽ bị sa đọa trong cuộc sống. Do lười biếng, những người này cũng không thực hành thiền minh sát. Vì vậy, họ sẽ không gặt hái được quả vị Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-hàm, A-Na-Hàm, A-La-Hán mà đáng ra họ cần phải gặt hái được. Do đó, họ đã đánh mất đi những lợi ích quí báu. Sau đây là một ví dụ về sự sa đọa của một người đàn ông giàu có tên là Mahādāna trong thời Đức Phật còn tại thế : Một ngày nọ, Đức Phật đang thọ thực cùng với Tăng Đoàn tại nhà của một thí chủ. Lúc đó, Ngài đã mĩm cười khi trông thấy một người đàn ông với một bình bát trên tay đang đứng xin ăn tại cửa ra vào của ngôi nhà nói trên. Tôn giả A-Nan-Đà đã hỏi Đức Phật  lý do tại sao Ngài lại mĩm cười như vậy. Đức Phật đã trả lời rằng : “ Ta cười vì trông thấy người đàn ông kia. Anh ta và vợ của mình đã không chịu nổ lực làm việc và cũng không chịu thực hành Phật Pháp.Vì vậy, họ đã đánh mất hết những lợi ích trên thế gian và niềm hạnh phúc của Phật Pháp. Nếu trước đây, trong giai đoạn đầu tiên khi mới chung sống với nhau, người đàn ông này và vợ của anh ta chịu khó làm ăn thì họ đã trở nên hạng người giàu có bậc nhất. Nếu trước đây, trong giai đoạn đầu tiên khi mới chung sống với nhau họ chịu khó thực hành Phật Pháp thì bây giờ người chồng đã trở thành A-La-Hán và người vợ đã trở thành A-Na-Hàm rồi. Trước đây, trong giai đoạn thứ hai khi đang chung sống với nhau, nếu họ chịu khó làm ăn để tìm kiếm của cải thì bây giờ họ đã trở nên hạng người giàu có bậc nhì. Nếu trong giai đoạn này họ chịu khó thực hành Phật Pháp thì bây giờ người chồng đã trở thành A-Na-hàm và người vợ đã trở thành Tư-Đà-Hàm rồi. Trước đây, trong giai đoạn thứ ba khi đang chung sống với nhau, nếu họ chịu khó làm ăn để tìm kiếm của cải thì bây giờ họ đã trở nên hạng người giàu có bậc ba. Nếu trong giai đoạn này họ chịu khó thực hành Phật Pháp thì bây giờ người chồng đã trở thành Tư-Đà-Hàm và người vợ đã trở thành Tu-Đà-Hườn rồi. Vì lười biếng, không chịu làm ăn để phát triển kinh tế và cũng không chịu thực hành Phật Pháp, nên bây giờ đôi vợ chồng này đã trở nên nghèo khổ, thiếu thốn và không thể trở thành A-La-Hán, A-Na-Hàm, Tư-Đà-Hàm và Tu-Đà-Hườn. Họ đã đánh mất những lợi ích có được từ Đạo Quả Phật. Nhà văn Loka Nīti cũng đã từng chỉ ra rằng, những người lười biếng, không chịu nổ lực sẽ bị sa đọa như thế nào. Một người lười biếng cũng thường là một người không có giáo dục. Một người không có giáo dục thì không thể có nhiều của cải. Một người không có nhiều của cải là người không thể có nhiều bạn tốt. Một người không có nhiều của cải và không có những người bạn tốt là người không thể nào hạnh phúc được. Một người không có hạnh phúc là người không thể thực hiện được các hành động phước thiện. Một người đã không có phước báu là người không thể nào đạt tới Niết Bàn được. Vì vậy, người này sẽ đánh mất những lợi ích trên thế gian và niềm hạnh phúc trong Phật Pháp mà đáng ra anh ta phải được hưởng.

Tóm tắt:  Một người lười biếng có thể làm cách nào để tìm kiếm sự giáo dục ?  Một người vô giáo dục có thể làm cách nào để tìm kiếm của cải ?  Một người không có của cải có thể làm cách nào để có những người bạn tốt ? Nếu không có những người bạn và những người thân thiện lành thì làm cách nào để người ta được hạnh phúc ? Nếu không có một thân tâm hạnh phúc thì làm cách nào để người ta có thể thực hiện được những hành động phước thiện ? Nếu không thực hiện được những hành động phước thiện thì làm cách nào để người ta có thể đạt tới Niết Bàn ?

 Đức Phật đã từng truyền bá rằng, những người siêng năng, cần mẫn sẽ có một cuộc sống hạnh phúc và tìm kiếm được nhiều của cải. Ngài cũng đã giải thích một cách chi tiết rằng những người siêng năng, cần mẫn sẽ gặt hái được 2 loại lợi ích trong cõi thế gian và xuất thế gian.

Được hạnh phúc do ảnh hưởng của năng lực tinh tấn

Những người làm việc siêng năng, cần mẫn để tìm kiếm của cải một cách hợp pháp sẽ có một cuộc sống hạnh phúc, thịnh vượng và có nhiều của cải. Họ cũng được chung sống một cách hạnh phúc với cha mẹ, con cái và những người thân của họ. Những người siêng năng thực hành Phật Pháp sẽ tránh được những hành động bất thiện như tham lam, sân hận, vọng tưởng, ngã mạn, ghen tị và bủn xỉn… Vì vậy, họ sẽ có cơ hội gặt hái được phước báu, được hạnh phúc trong kiếp sống này và những kiếp sống mai sau.

Những lợi ích do năng lực tinh tấn mang lại

Trong cõi thế gian, những người nào làm việc với năng lực tinh tấn sẽ thành công và gặt hái được những lợi ích mà họ mong muốn. Trong cõi xuất thế gian, những người có thực hành thiền định và thiền minh sát với tinh thần hăng hái, nhiệt tình sẽ có cơ hội trở thành Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm và A-La-Hán đúng theo những hạnh nguyện Ba-La-Mật ( Pārāmita – Perfections) của họ. Những bậc thầy chú giải Kinh Điển đã từng chỉ ra rằng những người siêng năng thực hành thiền minh sát với tinh thần hăng hái, nhiệt tình sẽ gặt hái được nhiều lợi ích. Những người thực hành thiền minh sát một cách chuyên cần là những người sống theo ước muốn cao nhất của Đức Phật. Thực hành bố thí, giữ Giới và thiền định là thiện lành. Tuy nhiên, chỉ chừng đó thôi thì cũng chưa đủ để gọi là sống theo ước muốn cao nhất của Đức Phật. Nếu có tâm nguyện sống theo những ước muốn cao nhất của Đức Phật thì bạn hãy thực hành thiền minh sát, bởi vì chỉ có loại thiền này mới có thể khiến cho bạn được mãn nguyện. Đức Phật khi còn là một vị Bồ-Tát, Ngài đã hy sinh cả cuộc đời mình để dày công tích luỹ những hạnh nguyện Ba-La-Mật trong khoảng thời gian là  4 A-tăng- kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Trong khoảng thời gian dài tưởng như vô tận đó, Đức Phật đã sống và liên tiếp thực hiện những công việc bố thí, giữ Giới, thực hành thiền định, tận hưởng những kiếp sống sung sướng ở cõi người, Chư Thiên và Phạm Thiên. Cuối cùng, Ngài đã thoát khỏi địa ngục và đoạn tận những khổ đau trong luân hồi sanh tử để đạt tới Niết Bàn Cao Thượng và hạnh phúc. Đó là lý do tại sao, nếu có tâm nguyện được sống theo ước muốn cao nhất của Đức Phật và gặt hái được những gì giống như Ngài đã đạt được, bạn cần phải thực hành thiền minh sát với một tinh thần hăng hái, nhiệt tình. Như đã nói ở trên, những người nào không chịu nổ lực tinh tấn do ảnh hưởng của tính lười biếng sẽ phải sống một cuộc đời nghèo khổ, thiếu thốn của cải vật chất và sẽ bị sa đọa. Những người nào siêng năng thực hành thiền minh sát sẽ có được nhiều lợi ích trong cuộc sống thế gian và gặt hái được những lợi ích đáng mơ ước của một A-La-Hán. Khi đã biết được sự khác nhau giữa hai hạng người vừa được đề cập trong bài thuyết Pháp này, những người con của các bậc cha mẹ thiện lành chắc chắn sẽ siêng năng thực hành thiền minh sát. Nhờ vậy, họ sẽ trở  nên cao thượng giống như những Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm, A-Na-hàm và A-La-Hán.

 

            Những điều kiện thích hợp để nhận thức Phật Pháp

                                

Những người thực hành thiền minh sát chắc chắn sẽ nhận thức được rằng Giáo Pháp Cao Thượng mà họ thiết tha mong mỏi nhận thức được sẽ trở thành hiện thực chỉ khi họ đã hội đủ những điều kiện thích hợp. Khi chưa có khả năng hội đủ những điều kiện thích hợp đó thì chắn chắn những hành giả nói trên sẽ không thể nào kinh nghiệm, gặt hái và phát triển được Phật Pháp trong tâm thức của họ. Đó là lý do tại sao những bậc thầy chú giải Kinh Điển đã từng chỉ ra  5 loại điều kiện thích hợp

( Sabbāya – Suitability) cần phải có khi thực hành thiền minh sát. Năm điều kiện đó là :

1. Utu sabbāya  - Phải có điều kiện khí hậu thích hợp

2. Bojana sabbāyaPhải có các loại vật thực thích hợp

3. Puggala sabbāyaPhải có những người bạn thích hợp

4. Senāsana sabbāya  - Phải có những tiện nghi thích hợp

5. Dhammassavana  -  Phải lắng nghe thuyết Pháp một cách thích hợp

 Phải có điều kiện khí hậu thích hợp

Những người thực hành thiền minh sát trong những nơi có khí hậu lạnh thì khi thời tiết đã trở nên quá lạnh, họ sẽ không thể nào đạt được trạng thái định tâm. Mặt khác, những người đi đến những nơi có thời tiết quá nóng để thực hành thiền minh sát cũng sẽ không đạt được sự định tâm bởi vì họ phải chịu đựng cái nóng thiêu đốt. Vì vậy, những người này phải biết lựa chọn một nơi chốn có khí hậu thích hợp, nghĩa là khí hậu ở đó phải ôn hoà, đừng nóng quá hay lạnh quá. Khí hậu ôn hoà giúp cho những hành giả thực hành thiền minh sát dễ dàng đạt được trạng thái định tâm. Chỉ khi hành giả đã định tâm thì tuệ minh sát ( Vipassanā Ñāna –  Insight knowledge) mới phát triển được. Chỉ khi đã có tuệ minh sát thì người thực hành thiền mới gặt hái được Đạo Quả Trí Tuệ. Đấng giác ngộ đã thuyết rằng, khí hậu thích hợp là một nguyên nhân liên hệ cực kỳ quan trọng dẫn đến năng lực nhận thức Phật Pháp. Những người thực hành thiền minh sát mong muốn đạt tới Đạo Quả Trí Tuệ cần phải đặc biệt chú trọng đến những lợi ích do khí hậu thích hợp mang lại. Những hành giả thực hành thiền minh sát trong một điều kiện khí hậu thích hợp sẽ dễ dàng nhận thức được Phật Pháp. Một điều kiện khí hậu thích hợp sẽ làm cho họ trở nên siêng năng mà không lười biếng. Nếu tiếp tục thực hành thiền một cách siêng năng, cần mẫn thì đến một lúc nào đó, họ sẽ kinh nghiệm, gặt hái và phát triển được Giáo Pháp trong chính tâm thức của họ.

 Phải có các loại vật thực thích hợp

Phải có những loại vật thực thích hợp nghĩa là : Những người thực hành thiền minh  sát không nên xử dụng các loại vật thực khó tiêu hoá, có chứa nhiều chất độc hay những loại vật thực có thể làm cho họ vi phạm Giới luật ăn uống, bởi vì những loại vật thực không thích hợp đó có thể ngăn cản không cho họ phát triển được năng lực định tâm. Khi chưa thể định tâm được thì những hành giả thực hành thiền minh sát cũng không thể có được tuệ minh sát. Vì vậy, họ cần phải xử dụng những loại vật thực thích hợp trong quá trình thực hành thiền của mình. Chỉ khi những hành giả nói trên biết cách xử dụng những loại vật thực thích hợp thì lúc đó, họ mới có thể phát triển được năng lực định tâm ( Samādhi – Concentration). Chỉ khi những người thực hành thiền minh sát đã có được sự định tâm thì lúc đó, họ mới có thể gặt hái được tuệ minh sát. Chỉ khi đã gặt hái được tuệ minh sát thì lúc đó, họ mới nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng và đạt tới Đạo Quả Trí Tuệ ( Magga phala Ñāna) như đã mong ước. Vì vậy, Đấng Giác Ngộ đã thuyết rằng, có được các loại vật thực thích hợp để xử dụng là một nguyên nhân liên hệ cực kỳ quan trọng dẫn đến năng lực nhận thức Giáo Pháp Cao Thượng. Những người thực hành thiền minh sát mong muốn đạt tới Đạo Quả Trí Tuệ đặc biệt phải chú trọng đến lợi ích mà những loại vật thực thích hợp mang lại. Đó là lý do tại sao, những hành giả thực hành thiền minh sát chỉ có thể kinh nghiệm được Phật Pháp khi họ đã có những loại vật thực thích hợp để xử dụng. Nếu trong quá trình thực hành thiền minh sát, bạn biết cách xử dụng những loại vật thực thích hợp thì những loại vật thực này sẽ khiến cho bạn trở nên siêng năng, cần mẫn mà không lười biếng. Nếu cứ tiếp tục thực hành thiền minh sát một cách siêng năng và cần mẫn thì đến một lúc nào đó, bạn sẽ gặt hái được phước báu, kinh nghiệm và phát triển được Giáo Pháp Cao Thượng trong chính tâm thức của mình.

Phải có những người bạn thích hợp

Thỉnh thoảng những người thực hành thiền minh sát cũng trở nên bối rối vì không được tâm đầu ý hợp với những người đang chung sống với họ. Bởi vì lúc đó họ và những người kia không có cùng một đối tượng để quan sát và cũng không có một mục đích chung. Lúc đó, năng lực định tâm mà họ đã gặt hái được có thể bị phá huỷ. Năng lực định tâm mà những người thực hành thiền minh sát đã gặt hái phải được phát triển một cách liên tục, nếu không nó sẽ bị tản mác và không thể phát triển được. Nếu không có sự định tâm thì tuệ minh sát cũng sẽ không phát triển được. Vì vậy, trong quá trình thực hành thiền minh sát. Bạn nên kết giao và sống chung với những người bạn thích hợp, đồng thời phải biết cách tránh né những người bạn không thích hợp. Chỉ khi đã kết giao với những người bạn thích hợp thì lúc đó, bạn mới có thể định tâm được. Chỉ khi đã có năng lực định tâm thì tuệ minh sát mới phát triển được trong tâm thức của bạn. Chỉ khi tuệ minh sát đã được phát triển thì lúc đó, bạn mới có cơ hội gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng và Đạo Quả Trí Tuệ như đã mong muốn. Đức Phật cũng đã từng thuyết rằng, những người bạn thích hợp là nguyên nhân liên hệ có thể khiến cho chúng ta nhận thức được Phật Pháp. Sự kết giao với những người bạn thích hợp và có quan kiến đúng đắn là một trợ duyên lớn lao để những người thực hành thiền minh sát có thể gặt hái được Đạo Quả Trí Tuệ. Những người có quan kiến đúng đắn sẽ nói rằng : “ Hỡi những hành giả thực hành thiền minh sát ! Khi có những người bạn thích hợp thì điều đó sẽ khiến cho quí vị trở nên siêng năng trong công việc của mình hơn”. Chừng nào bạn đã tự phản tỉnh được trong sự kết giao với những người khác và thực hành thiền minh sát một cách siêng năng thì đến lúc đó, bạn mới có thể gặt hái được phước báu, có kinh nghiệm và có khả năng phát triển Phật Pháp trong chính tâm thức của mình.

Phải có những tiện nghi thích hợp

 Những người thực hành thiền minh sát sẽ không gặt hái được năng lực định tâm nếu những tiện nghi mà họ đang xử dụng không được thích hợp, bởi vì họ sẽ lo âu khắc khoải và không được hài lòng về những tiện nghi đó. Nếu tâm thức vẫn còn vọng động như vậy thì họ không thể nào định tâm được. Do đó, họ cũng không gặt hái được tuệ minh sát. Đó là lý do tại sao, những người thực hành thiền minh sát cần phải có những tiện nghi thích hợp để xử dụng. Những người thực hành thiền minh sát cần phải biết né tránh những tiện nghi không thích hợp. Chỉ khi những tiện nghi mà họ đang xử dụng đã trở nên thích hợp với họ thì lúc đó, họ mới có thể định tâm được. Chỉ khi đã định tâm được thì lúc đó, họ mới gặt hái được tuệ minh sát. Chỉ khi đã có tuệ minh sát thì lúc đó, những người thực hành thiền mới có thể nhận thức và phát triển được Phật Pháp trong tâm thức của họ, cũng như sẽ gặt hái được Đạo Quả Trí Tuệ như đã mong muốn. Đức Phật cũng đã từng thuyết rằng, những tiện nghi thích hợp là một nguyên nhân liên hệ quan trọng có thể trợ duyên cho tiến trình nhận thức Phật Pháp của những người thực hành thiền minh sát. Họ cần phải có được một quan kiến đúng đắn để có thể nói : “ Hỡi những hành giả thực hành thiền minh sát ! Khi đã có được những tiện nghi thích hợp để xử dụng thì điều đó sẽ khiến cho quí vị trở nên siêng năng hơn trong công việc của mình”. Chừng nào đã có khả năng chiêm nghiệm được như thế và thực hành thiền minh sát một cách siêng năng thì đến lúc đó, bạn sẽ nhận thức được Phật Pháp, có kinh nghiệm và có khả năng phát triển Phật Pháp trong tâm thức của chính mình.

Phải biết lắng nghe thuyết Pháp một cách thích hợp

 Những người thực hành thiền minh sát không thể thực hành thiền bằng những bài tập luyện thân thể, họ cũng không thể thực hành thiền bằng lời nói. Họ chỉ có thể thực hành thiền bằng tâm thức của chính họ mà thôi. Xử dụng tâm thức để thực hành thiền là một công việc khó khăn, nó đòi hỏi ở người thực hành một khả năng nhận biết sâu sắc và tinh tế. Khi đang thực hành thiền, bạn sẽ nhận thấy rằng tâm thức của chính mình là cực kỳ năng động và một lúc nào đó, nó có thể trở nên lang thang vô định. Vì vậy, năng lực tập trung tâm ý của bạn sẽ bị tản mác và không được chính xác. Phật Pháp sẽ không thể phát triển được trong tâm thức nếu khả năng chú ý của bạn không được tốt. Điều đó có thể khiến cho bạn trở nên chán nản và thất vọng. Khi năng lực chú ý đang bị tản mác và khiến bạn không thể gom tâm được thì ngay lúc đó, nếu biết cách lắng nghe Giáo Pháp một cách thích hợp thì năng lực chú ý của bạn sẽ được phục hồi và hoạt động tốt trở lại. Nói như vậy có nghĩa là bạn cần phải biết cách lắng nghe thuyết Pháp về thiền minh sát một cách thích hợp trong suốt quá trình thực hành thiền của mình. Sau một thời gian thực hành thiền minh sát, năng lực định tâm của bạn sẽ phát triển tựa như một cây non vừa mới được trồng xuống.Việc lắng nghe thuyết Pháp một cách thích hợp tựa như việc tưới nước cho cây mới trồng. Nếu cây non mới trồng không được tưới nước đầy đủ thì nó có thể bị khô héo và chết đi. Điều này cũng tựa như khi đã có khả năng định tâm nhưng bạn vẫn chưa biết cách lắng nghe thuyết Pháp một cách thích hợp. Vì vậy, bạn cũng không thể kinh nghiệm và phát triển được Phật Pháp. Cây non vừa mới trồng đã chết cũng tựa như việc bạn không còn khả năng tiếp tục thực hành Phật Pháp nữa. Vì vậy, bạn phải biết lắng nghe thuyết Pháp về thiền minh sát và thực hành thiền một cách thích hợp. Sau khi đã biết cách lắng nghe thuyết Pháp về thiền minh sát một cách thích hợp thì những trạng thái tản mác, lang thang và buông lung trong tâm thức của bạn sẽ không còn xuất hiện nữa. Từ đó, bạn sẽ kinh nghiệm được Phật Pháp, có khả năng phát triển Phật Pháp trong tâm thức của chính mình và gặt hái được Đạo Quả Trí Tuệ. Những thiện nam tín nữ là các bậc cha mẹ thiện lành nào có ước muốn gặt hái được Đạo Quả Trí Tuệ ngay trong kiếp sống này cần phải thực hành thiền Minh sát đúng theo 5 điều kiện thích hợp đã nêu trên. Nếu làm như vậy, cuối cùng họ sẽ gặt hái được Phật Pháp và được mãn nguyện.      

  

                 Những huấn từ đáng học hỏi và thực hành theo

 

Tại Miến Điện, nơi Giáo Đoàn Phật Giáo Nguyên Thuỷ đang rất hưng thịnh. Khắp nơi trên quốc gia này, rất nhiều tu viện, chùa chiền Phật Giáo, Bảo Tháp thờ Xá-Lợi Phật, trung tâm thiền minh sát, các toà nhà được dựng lên với mục đích quảng bá Phật Giáo Nguyên Thuỷ… đã được những vị quốc vương Miến Điện thiết lập từ thời rất xa xưa. Ngày nay, những trung tâm tôn giáo cổ xưa này đã được uỷ thác cho nhiều hội đoàn Phật tử để họ đảm trách việc phụng vụ, bảo vệ, duy trì và phát triển chúng…Những người được uỷ thác và những hội đoàn Phật tử phụng vụ nói trên luôn luôn hoạt động dưới sự hướng dẫn của NgàiOvādacariya - một vị Trưởng Lão cao hạ, người có khả năng giáo huấn Tăng Đoàn Phật Giáo Nguyên Thuỷ Miến Điện và truyền bá những lời dạy của Đức Phật đến với tất cả những người Phật tử trên quốc gia này. Trong các buổi lễ gặp mặt thường niên, Ngài Ovāda thường có những huấn từ thích hợp dành cho tất cả mọi người. Trung tâm thiền Saddhammaramsī - là một chi nhánh của trung tâm thiền Mahāsī tọa lạc tại đường Zeyakhema, quận Mayangon, Ngưỡng Quang , Miến Điện. Tại đây, người ta đã tổ chức một hội đoàn Phật tử chuyên về công tác phụng vụ với mục đích bảo vệ, duy trì và phát triển Giáo Pháp bất diệt. Cũng giống như Ngài Ovāda, trong các buổi lễ gặp mặt thường niên, Ngài Saddhammaramsī cũng thường có những huấn từ thích hợp dành cho tất cả thiện nam tín nữ Phật tử và tất cả mọi người. Vào hôm Chủ nhật, ngày 11 tháng Pyatho, năm 1355 theo lịch Miến Điện ( tức nhằm ngày mồng 6 tháng 2 năm 1994). Vào lúc 1 giờ chiều, buổi lễ gặp mặt thường niên của trung tâm thiền Saddhammaramsī đã được tổ chức. Trong buổi lễ này, đúng theo chương trình nghị sự của Giáo Đoàn Phật Giáo Miến Điện, Ngài Saddhammaramsī đã đảm trách việc thuyết Pháp với chủ để là 5 Giới luật trong Phật Giáo. Sau đó, bậc Trưởng Thượng trung tâm thiền Saddhmmaramsì đã ban bố những huấn từ thích hợp cho tất cả mọi người. Như mọi năm trước, tại buổi lễ gặp mặt thường niên của hội đoàn phụng vụ trung tâm thiền Saddhammaramsì, bậc Trưởng Thượng của trung tâm đã có những huấn từ thích hợp. Năm nay cũng vậy, Ngài đã ban bố một huấn từ được tóm tắt như sau : “Hỡi tất cả những thành viên trong hội đoàn phụng vụ, các thiện nam tín nữ Phật tử trung tâm thiền Saddhmmaramsī và tất cả những người đang có mặt ở đây. Tất cả quí vị đều biết rằng trung tâm thiền của chúng ta đã được dựng lên và đã tiếp tục phát triển trong nhiều năm. Dưới những bàn tay và khối óc tuyệt vời của các thành viên mộ Đạo tại trung tâm, những khu nhà tại đây ngày càng mọc lên nhiều hơn. Chúng ta cần phải biết được lý do tại sao trung tâm thiền Saddhammaramsì lại trở nên phát triển và thịnh vượng được như thế. Chỉ khi chúng ta đã biết được điều đó thì trung tâm thiền này mới được bền vững dài lâu. Nếu như chúng ta chưa thể biết được một cách rõ ràng điều vừa nêu trên thì vào một lúc nào đó, trung tâm thiền này sẽ bị hoang tàn đổ nát. Chúng ta có thể biết được một cách rõ ràng lý do tại sao trung tâm thiền Saddhammaramsī đã được phát triển như như ngày hôm nay - bởi vì chúng ta đã làm việc một cách rất đúng đắn. Những bài thuyết Pháp và những phương pháp thực hành thiền mà bậc Trưởng Thượng và Tăng Già đã chỉ giáo cho các hành giả đến với trung tâm thiền là rất thích hợp. Nơi cư trú và các loại vật thực thích hợp đã được hội đoàn phụng vụ cung cấp một cách đầy đủ. Do ảnh hưởng của 2 nhân tố này, trung tâm đã trở nên phát triển và thịnh vượng như quí vị đã thấy. Bất cứ một cá nhân hay một tập thể nào đó tại trung tâm này đều làm việc một cách tự nhiên và vô vị lợi vì mục đích phát triển của trung tâm. Tôi tin chắc rằng, dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, trung tâm cũng sẽ được thịnh vượng, nếu tất cả mọi người đều mang trong tâm thức mình một thiện chí như thế.Vì vậy, chúng ta cần phải biết cách bảo vệ và duy trì trung tâm thiền này để nó được bền vững dài lâu. Những bậc thầy chú giải Kinh Điển đã từng nói rằng, xây dựng một trung tâm thiền chưa phải là việc khó lắm, bảo vệ, duy trì và phát triển nó mới chính là công việc khó hơn nhiều. Vunnuppatti kho pana na bāriyā , Uppnnassa vanna rakkhanameva bāriyā . Nhận được lời khen ngợi không khó, duy trì được lời khen ngợi đó và đừng để cho nó bị tiêu tan là một việc khó hơn nhiều.

Tóm tắtNhận được một lời khen ngợi xứng đáng chưa phải là khó lắm, duy trì được lời khen ngợi đó mới chính là việc khó hơn.

 Trung tâm thiền Saddhammaramī đã phát triển bằng 2 hình thức. Thứ nhất là số lượng những người mộ Đạo, những người trẻ tuổi, những người lớn tuổi đáng kính và khách ngoại quốc là 3 dạng người đến với trung tâm ngày càng gia tăng rõ rệt. Thứ hai, những chi nhánh của trung tâm thiền Saddhmmaramsì đã được thiết lập, cụ thể là trung tâm thiền Sukhà- pātipadà Saddhammaramsī, trung tâm thiền Nyaunglebin vivekatawya Saddhammarāmsītrung tâm thiền Nyaunglebin. Trung tâm thiền Saddhammaramsī ngày càng tiếp nhận thêm nhiều hành giả trẻ tuổi, bởi vì ngày nay giới trẻ trên toàn thế giới đã nhận biết được những lợi ích của việc thực hành thiền minh sát. Nhiều người lớn tuổi và các bậc đáng kính đã nhận thức được rằng, thiền minh sát là con đường duy nhất dẫn đến yên bình và hạnh phúc ngay trong kiếp sống hiện tại và trong những kiếp sống ở tương lai. Vì vậy, họ đã đến thực hành loại thiền này tại trung tâm mỗi ngày mỗi đông hơn. Người ngoại quốc cũng vậy, khi tình cờ nghe được tiếng tăm tốt lành của trung tâm thiền Saddhammaramsī, sau đó họ đã đến với trung tâm để thực hành thiền. Vì những lý do vừa nêu trên mà số lượng người mộ Đạo đến với trung tâm lại càng gia tăng nhiều hơn nữa. Do đó, nhiệm vụ của các bậc Trưởng Thượng, hội đoàn phụng vụ, những hành giả đến thực hành thiền, những người mộ Đạo tại trung tâm thiền Saddhammaramsī là phải bảo vệ, duy trì và phát triển trung tâm sao cho số lượng người mộ Đạo đến đây không bị giảm sút. Để có thể gìn giữ và phát triển trung tâm thiền Saddhammaramsī và để những hành giả đến thực hành thiền minh sát tại đây có cơ hội gặt hái được Phật Pháp, những thành viên trong hội đoàn phụng vụ cần phải thực hiện 3 nhân tố ủng hộ thích hợp sau đây :

1. Āvasa sabbāya -     Phải bố trí được những nơi cư trú thích hợp                    

2. Bojana sabbāya –   Phải cung cấp đầy đủ các loại vật thực thích hợp và bổ dưỡng

3. Dhammassavana  - Phải bố trí để các hành giả đến với trung tâm được lắng nghe thuyết pháp một cách thích hợp

 Āvasa sabbāya

Phải bố trí được những nơi cư trú thích hợp nghĩa là đừng để cho các hành giả đến thực hành thiền tại trung tâm phải lo lắng và cảm thấy bất tiện trong việc tìm kiếm một nơi cư trú thích hợp. Bởi vì điều đó sẽ khiến cho họ không thể nào gặt hái được trạng thái định tâm. Như chúng ta đã biết, nếu một hành giả thực hành thiền minh sát không thể định tâm được thì người này cũng sẽ không gặt hái được tuệ minh sát. Nếu chưa có tuệ minh sát trong tâm thức thì những hành giả thực hành thiền sẽ không gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng mà họ hằng mong ước. Đó là lý do tại sao, cần phải bố trí những nơi cư trú thích hợp cho các hành giả đến thực hành thiền tại trung tâm.

 Bojana sabbāya

Phải cung cấp đầy đủ các loại vật thực thích hợp và bổ dưỡng nghĩa là : Nếu những hành giả đến thực hành thiền tại trung tâm bị buộc phải xử dụng những loại vật thực không thích hợp và kém bổ dưỡng thì họ sẽ không thể nào đạt được trạng thái định tâm. Ở đâu chưa có sự định tâm thì ở đó sẽ không có tuệ minh sát, ở đâu chưa có tuệ minh sát thì ở đó những hành giả thực hành thiền cũng chưa thể gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng mà họ hằng mong ước. Đó là lý do tại sao, cần phải cung cấp đầy đủ các loại vật thực thích hợp và bổ dưỡng cho các hành giả đến thực hành thiền tại trung tâm.

Dhammassavana

Phải bố trí để các hành giả đến với trung tâm được nghe thuyết Pháp một cách thích hợp nghĩa là : Nếu những hành giả tìm đến với trung tâm để thực hành thiền nhưng không có cơ hội để lắng nghe thuyết Pháp một cách thích hợp thì có thể họ sẽ chán nản, thối chí do không kinh nghiệm và phát triển được Phật Pháp trong chính tâm thức của mình. Đến lúc đó, họ có thể rời khỏi trung tâm và không còn mong muốn tiếp tục thực hành thiền nữa. Những người mới đến với trung tâm để thực hành thiền minh sát có tâm thức mềm yếu giống như một cây non vừa mới được trồng xuống. Việc họ được lắng nghe thuyết Pháp một cách thích hợp trong quá trình thực hành thiền tại trung tâm tựa như việc tưới nước cho cây non đó. Nếu cây non mới trồng không được tưới nước đầy đủ thì nó có thể bị khô héo và chết đi. Tương tự như vậy, những người mới tập sự thực hành thiền sẽ trở nên chán nản, thối chí nếu họ không có cơ hội được nghe thuyết Pháp thích hợp với căn cơ của họ. Do đó, họ sẽ không kinh nghiệm được Phật Pháp, không gặt hái và không phát triển được Giáo Pháp Cao Thượng trong tâm thức của chính mình. Giống như cây non vừa mới trồng xong đã chết, họ sẽ rời khỏi trung tâm và không còn muốn thực hành thiền một chút nào nữa. Đó là lý do tại sao, cần phải bố trí để họ có cơ hội được lắng nghe thuyết Pháp một cách thích hợp. Trung tâm thiền Saddhammaramsīđã phát triển và thịnh vượng trong nhiều năm liên tiếp bởi vì :

-  Có những nơi cư trú thích hợp ( Āvasa sabbāya – suitable boarding places)

-  Có những loại vật thực thích hợp ( Bojana sabbāya) đã được chuẩn bị kỹ lưỡng để dâng cúng. Đức Phật đã từng thuyết rằng, những loại vật thực thích hợp và bổ dưỡng là một nhân tố quan trọng giúp cho các hành giả thực hành thiền gặt hái được Phật Pháp.

- Đã có phương pháp bố trí hợp lý để các hành giả đến thực hành thiền minh sát tại trung tâm có cơ hội được lắng nghe thuyết Pháp một cách thích hợp ( Dhamma savana sabbāya). Đức Phật cũng đã từng giải thích một cách chi tiết rằng, được lắng nghe thuyết Pháp một cách thích hợp là nhân tố trợ lực rất quan trọng giúp cho các hành giả thực hành thiền minh sát gặt hái được Phật Pháp. Nếu hội đoàn phụng vụ có được phương pháp bố trí hợp lý và thực hiện được 3 nhân tố ủng hộ thích hợp vừa nêu trên thì trung tâm thiền Saddhammaramsī sẽ trở nên ngày càng thịnh vượng hơn. Đối với những kế hoạch phát triển trung tâm thiền Saddhammaramsī trong tương lai thì 3 nhân tố ủng hộ thích hợp này cần phải được chú trọng một cách đặc biệt và thực hiện chúng ở một mức độ hoàn hảo nhất. Tại buổi lễ gặp mặt thường niên này, huấn từ thích hợp nhất nhằm mục đích phát triển trung tâm thiền Saddhammaramsī đã được trình một cách đầy đủ. Qua hạnh lắng nghe huấn từ với mục đích phát triển trung tâm thiền Saddhammaramsī, qua sự thực hành những điều đã được lắng nghe, cầu chúc cho quí vị sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng như đã hằng mong ước, có khả năng làm việc thật tốt vì tinh thần phụng vụ để Giáo Pháp ngày càng phát triển và thịnh vượng.

 

                                         Bảy cảnh giới thiện và ác

 

 Đấng Toàn Giác đã từng nói một cách tóm tắt về 2 loại cảnh giới mà muôn loài chúng sanh đang hiện hữu, 2 loại cảnh giới đó là : Nhàn cảnh ( Sugati bhava – Good existence) và khổ cảnh ( Duggati bhava – Bad existence). Trong 2 loại cảnh giới này thì cảnh giới mà loài người đang sinh sống được cho là nhàn cảnh. Trên thế gian, có một số người được sanh ra trong một hoàn cảnh sống tốt đẹp và cao thượng. Tuy nhiên, cũng có một số người lại bị sanh ra trong một hoàn cảnh sống tồi tệ và thấp kém.Vào thời Đức Phật đang trú tại tu viện Kỳ-Viên ( Jetavana vihara), có một người đàn ông trẻ tên là Suba đã hỏi Ngài rằng, tại sao trên đời này lại có những con người tồi tệ và thấp kém, trong khi đó một số người khác lại tốt đẹp và cao thượng.

1. Có một số người bị đoản thọ,những người khác lại được trường thọ

2. Có một số người bị phiền não triền miên, những người khác thì không

3. Có một số người có diện mạo xấu xí, những người khác lại có diện mạo đẹp đẽ

4. Có một số người có rất ít quyền hành, những người khác lại có nhiều quyền hành

5. Có một số người bị thiếu thốn mọi thứ, những người khác lại rất dồi dào của cải

6. Có một số người bị sanh ra trong một hoàn cảnh tồi tệ và thấp kém, những người khác lại được sanh ra trong một hoàn cảnh tốt đẹp và cao thượng

7. Có một số người có rất ít trí tuệ, những người khác lại có nhiều trí tuệ

                                                                   ( Uparipannāsa – 243)  

 

 Như vậy, chúng ta đã thấy rằng, một số người được sinh ra trong một hoàn cảnh sống tốt đẹp và một số người khác lại sinh ra trong một hoàn cảnh sống tồi tệ. Tại sao họ lại sanh ra trong những hoàn cảnh sống khác nhau như thế ? Đức Phật đã trả lời rằng, sở dĩ con người ta được sinh ra trong những hoàn cảnh sống khác nhau là do sự ảnh hưởng của nghiệp riêng mà mỗi người đã tạo trong nhiều kiếp sống ở quá khứ.

1.Một vài người đã sát sanh ( Pānātipātā – Kill) và vì vậy họ đã bị giam nhốt trong nghiệp ( Kamma – Actions) này. Khi chết đi, họ sẽ phải tái sanh vào địa ngục. Tuy nhiên nếu gặp may mắn, họ sẽ tái sanh vào cõi người mà không phải là địa ngục ( Niraya – Hell). Cũng có trường hợp người đã sát sanh khi chết bị đọa xuống địa ngục và sau khi đã chịu thật nhiều khổ đau ở đó, họ được tái sanh làm người cao thượng. Tuy nhiên, trong kiếp sống được làm người đó họ sẽ bị đoản thọ. Có một số người khác không sát sanh sẽ không bị giam nhốt trong nghiệp sát sanh ( Pānātipātā Kamma). Do tác động của nghiệp không sát sanh, khi chết đi họ sẽ được tái sanh lên cõi trời. Tuy nhiên, nếu không được tái sanh lên cõi trời mà lại tái sanh vào cõi người hoặc sau khi đã tái sanh lên cõi trời rồi lại tái sanh vào cõi người thì trong kiếp sống làm người đó, họ sẽ được trường thọ.

Tóm tắtSát sanh sẽ bị đoản thọ, không sát sanh sẽ dẫn đến trường thọ

2. Có một số người chưa bao giờ biết được hoan hỷ là gì, họ luôn luôn buồn rầu vì phải sống trong một kiếp sống bị bạc đãi. Vì vậy, họ bị giam nhốt trong nghiệp phiền não ( Vihethaka Kamma). Do tác động của nghiệp này, khi chết đi họ sẽ bị đọa xuống địa ngục. Tuy nhiên, nếu có đủ may mắn họ sẽ được tái sanh vào cõi người hoặc sau khi đã bị đọa xuống địa ngục rồi lại được tái sanh lên cõi người thì trong kiếp sống làm người đó, họ sẽ bị nhiều loại bệnh tật làm cho đau đớn, khổ sở. Sức khoẻ của họ cực kỳ yếu kém. Có một số người khác luôn luôn có được trạng thái tâm hoan hỷ, vui thích và không bị giam nhốt trong nghiệp phiền não. Bởi vì không bị nham nhốt trong nghiệp phiền não, nên khi chết đi họ sẽ được tái sanh lên thế giới của Chư Thiên và Phạm Thiên. Tuy nhiên, nếu không được tái sanh lên thế giới của Chư Thiên và Phạm Thiên mà lại tái sanh vào cõi người hoặc sau khi đã tái sanh lên thế giới của Chư Thiên và Phạm Thiên rồi lại tái sanh vào cõi người thì trong kiếp sống làm người đó, họ sẽ thoát được nhiều loại bệnh tật và có một sức khoẻ tốt.

Tóm tắtBuồn rầu sẽ dẫn đến bệnh tật, tránh được buồn rầu sẽ có một sức khoẻ tốt.

3. Có một số người luôn chứa đầy sân hận ( Dosa -  Anger) trong tâm thức của họ. Như vậy, họ đã bị giam nhốt trong những hành động bất thiện thuộc về thân xác và lời nói. Bởi vì bị giam nhốt trong nghiệp sân hận cho nên khi chết đi, họ phải bị tái sanh vào địa ngục. Tuy nhiên, nếu có đủ may mắn họ sẽ được tái sanh vào thế giới của loài người hoặc sau khi đã chịu nhiều khổ đau ở địa ngục họ lại được tái sanh lên cõi người. Trong kiếp sống làm người đó, họ sẽ không có được một diện mạo xinh đẹp mà chỉ có một diện mạo xấu xí. Có một vài người khác không thường mang tâm sân hận, họ luôn luôn thực hiện những hành động thuộc về thân thể và lời nói với một từ tâm ( Mettà – Loving kindness). Do tác động của thiện nghiệp ( Kusalakamma - Good Karma) đã tạo, khi chết đi họ sẽ được tái sanh lên thế giới của Chư Thiên và Phạm Thiên. Tuy nhiên, nếu không được tái sanh lên thế giới của Chư Thiên và Phạm Thiên mà tái sanh vào thế giới của loài người hoặc sau khi đã tái sanh lên thế giới của Chư Thiên và Phạm Thiên rồi lại tái sanh vào thế giới của loài người thì trong kiếp sống làm người đó, họ sẽ gặt hái được nhiều điều như ý và có một diện mạo xinh đẹp.

Tóm tắtSân hận sẽ dẫn đến một diện mạo xấu xí, tránh được sân hận sẽ có một diện mạo xinh đẹp.      

4. Có một số người không được thoả mãn khi nhìn thấy những người khác được sống trong vinh dự và có nhiều quà tặng chúc mừng. Những người này đã trở nên ghen tị

( Issā – jealousy). Do đó, họ đã bị giam nhốt trong những hành động xấu xa. Khi chết đi họ sẽ bị tái sanh vào địa ngục. Tuy nhiên, nếu có đủ may mắn, những người nói trên sẽ được tái sanh vào cõi người hoặc sau khi đã chịu nhiều khổ đau ở địa ngục họ lại được tái sanh làm người thì trong kiếp sống làm người đó, họ sẽ không có quyền hành gì cả, phải sống trong những hoàn cảnh thấp kém và bất mãn vì chẳng được ai kính trọng. Một số người khác không hề có tính ghen tị vì sự vinh dự và có nhiều quà tặng chúc mừng của người khác. Họ là những người hạnh phúc, do tác động của thiện nghiệp đã tạo, khi chết đi họ sẽ được tái sanh lên thế giới của Chư Thiên và Phạm Thiên. Tuy nhiên, nếu không được tái sanh lên cõi trời mà lại tái sanh vào cõi người hoặc sau khi đã tái sanh lên cõi trời rồi lại tái sanh vào cõi người thì trong kiếp sống làm người đó, họ sẽ có rất nhiều quyền hành. Đi đến đâu họ cũng nhận được sự ưu ái, hoan hỷ và hạnh phúc.

Tóm tắt  :  Ghen tị sẽ dẫn đến việc có rất ít quyền hành, tránh được tính ghen tị thì luôn luôn có nhiều quyền hành.

5. Có một số người không bao giờ bố thí cho những người đáng được bố thí. Họ có thói quen thủ giữ và chẳng bao giờ bố thí cho ai một cái gì cả. Do tác động của nghiệp này, họ có thể bị đọa xuống địa ngục. Bởi vì có thói quen bám víu vào của cải của mình nên họ có thể bị trở thành ngạ quỷ, tức loài quỉ đói có cuống họng chỉ lớn bằng ruột cây bút bi, mỗi lần ăn chỉ nuốt được một hạt cháo mà thôi. Tuy nhiên, nếu có đủ may mắn họ sẽ không bị đọa xuống địa ngục mà được tái sanh vào cõi người hoặc sau khi đã chịu nhiều khổ đau ở địa ngục họ lại được tái sanh lên cõi người. Trong kiếp sống làm người đó, họ phải chịu sự thiếu thốn đủ thứ, họ sẽ rất nghèo khổ và cơ cực. Một số người khác lại có thói quen bố thí cho những người đáng được bố thí. Do tác động của nghiệp bố thí thiện lành, khi chết đi những người này sẽ được tái sanh lên cõi trời. Tuy nhiên, nếu không được tái sanh lên cõi trời mà lại được tái sanh vào cõi người hoặc sau khi đã tái sanh lên cõi trời rồi lại tái sanh vào cõi người thì trong kiếp sống làm người đó, họ sẽ có của cải rất dồi dào.

Tóm tắtÍt khi bố thí sẽ bị thiếu thốn đủ thứ, có thói quen hay bố thí sẽ có nhiều của cải.

6. Một số người có thói quen kiêu căng ( Mana – Pride) và ngã mạn ( Udhacca – Self conceited), họ không giờ đảnh lễ hay vinh danh những người xứng đáng được đảnh lễ và vinh danh. Do tác động của nghiệp kiêu căng( Manakamma – The pride ‘s karma) hay nghiệp ngã mạn ( Udhaccakamma – The self conceited karma), khi chết đi, họ sẽ bị tái sanh vào địa ngục. Tuy nhiên, nếu có đủ may mắn, họ sẽ được tái sanh vào cõi người hoặc sau khi đã chịu nhiều khổ đau ở địa ngục họ lại được tái sanh làm người. Trong kiếp sống làm người đó, họ sẽ trở thành hành khất và phải làm con của những bậc cha mẹ thấp kém. Một số người khác không có tính kiêu căng ngã mạn, họ thường tỏ ra tôn kính và hay vinh danh những người đáng được tôn kính và vinh danh. Do tác động của nghiệp tôn kính. Khi chết đi họ sẽ được tái sanh lên cõi trời. Tuy nhiên, nếu không được tái sanh lên cõi trời mà tái sanh vào cõi người hoặc sau khi đã tái sanh lên cõi trời rồi lại tái sanh vào cõi người thì trong kiếp sống làm người đó, họ sẽ được sanh ra trong một gia đình hoàng gia cao thượng và giàu có.

Tóm tắtNếu có tính kiêu căng ngã mạn thì sẽ bị tái sanh vào khổ cảnh, nếu khiêm tốn nhún nhường sẽ luôn luôn được tái sanh vào những cảnh giới cao thượng.

7. Có một số người không muốn tiếp cận những nhà sư hiền từ và khôn ngoan sáng suốt để học hỏi, để nhận biết được thế nào là những hành động thiện lành hay bất thiện, thế nào là những hành động lầm lạc hay đúng đắn, thế nào là những người tốt nên kết giao và thế nào là những người xấu nên xa lánh… Vì vậy họ sẽ đi từ sai lầm này đến sai lầm khác. Do tác động của nghiệp đã tạo, khi chết đi, họ sẽ bị đọa xuống địa ngục. Tuy nhiên, nếu có đủ may mắn họ sẽ không bị đọa xuống địa ngục mà được tái sanh vào cõi người hoặc sau khi đã chịu nhiều khổ đau ở địa ngục họ lại được tái sanh lên cõi người. Trong kiếp sống làm người đó, họ sẽ có rất ít trí tuệ hoặc bị đần độn và hoàn toàn không có trí tuệ. Một số người khác có thói quen hay gần gũi những nhà sư hiền từ và khôn ngoan sáng suốt để học hỏi, nhận biết được thế nào là những hành động thiện lành hay bất thiện, thế nào là những hành động sai lầm hay đúng đắn, thế nào là những người tốt nên kết giao và thế nào là những người xấu nên xa lánh… Do tác động của thiện nghiệp đã tạo, khi chết đi, họ sẽ được tái sanh lên cõi trời. Tuy nhiên, nếu không được tái sanh lên cõi trời mà lại tái sanh vào cõi người hoặc đã tái sanh lên cõi trời rồi lại tái sanh vào cõi người thì trong kiếp sống làm người đó, họ sẽ có trí tuệ rất cao. 

Tóm tắtNếu không biết học hỏi thì sẽ có rất ít trí tuệ, nếu biết học hỏi thì sẽ có được trí tuệ cao.

Vì vậy, Đức Phật đã từng nói rằng, con người ta được sinh ra trong những cảnh giới cao thượng hay thấp kém là do tác động của nghiệp riêng mỗi người. Do đó, những người làm con cái của các bậc cha mẹ đáng kính phải biết thực hiện những hành động thiện lành để tạo nên 7 loại thiện nghiệp vừa nêu trên. Những loại thiện nghiệp này sẽ giúp cho họ được tái sanh vào những cảnh giới cao thượng.

 

                                                         

              

              Tu dưỡng Bát Chánh Đạo sẽ dẫn đến Niết Bàn

 

 Những người Phật tử có cơ hội gặt hái được Niết Bàn hạnh phúc ngay trong kiếp sống này, kể từ khi họ được làm người. Có 4 nhân tố rất khó đạt được, đó là : Được làm người, có khả năng gìn giữ giá trị của chính mình, được lắng nghe những bài thuyết Pháp hiếm hoi, được sống trong thời đại mà Giáo Pháp của Đức Phật vẫn còn tồn tại. Tuy nhiên, họ chỉ có thể gặt hái được Niết Bàn hạnh phúc bằng cách tu dưỡng Bát Chánh Đạo

( Ariyamaggani – 8 Fold Noble path).  Vì vậy, bạn nên tu dưỡng Bát Chánh Đạo. Những ai có ước muốn tu dưỡng Bát Chánh Đạo phải thực hành thiền tứ niệm xứ ( Satipatthāna Vipassanā Bhāvanā). Tám chi trong Bát Chánh Đạo đều có liên quan chặt chẻ với việc thực hành thiền tứ niệm xứ. Vì vậy, khi thực hành thiền tứ niệm xứ, chúng ta sẽ phải chú ý đến tất cả những gì đang xảy ra trong thân tâm mình qua từng giây phút ở hiện tại. Đó là phương pháp để phát triển Bát Chánh Đạo trong tâm thức của chúng ta. Những người thực hành thiền minh sát đúng theo phương pháp của Ngài Đại đức Trưởng Lão Mahāsī phải tìm đến một nơi yên tĩnh và lựa chọn cho họ một tư thế thực hành thiền thích hợp để có thể ngồi thiền trong một quãng thời gian dài. Bạn có thể thực hành thiền theo thế ngồi khổ hạnh ( Bajrasana - The folding knees ‘s Posture) haythế ngồi hoa sen ( Padmasana- The cross-legged posture). Bạn phải nhắm mắt lại, đồng thời giữ đầu và lưng cùng nằm trên một đường thẳng, tâm trí phải hội tụ một cách chính xác lên bụng. Khi thở vào thì bụng sẽ dần dần phồng lên. Ngay lúc đó, bạn phải tập trung sự chú ý vào trạng thái chuyển động đang dần dần phồng lên của bụng, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang phồng lên, đang phồng lên...”. Bạn không cần chú ý đến hình dáng của bụng vì nó chỉ là một khái niệm ( Paññātti), bạn chỉ cần chú ý theo dõi trạng thái đang chuyển động dần dần căng lên của bụng thôi. Khi thở ra thì bụng dần dần xẹp xuống, lúc này bạn phải tập trung chú ý một cách chính xác vào trạng thái chuyển động đang dần dần xẹp xuống của bụng, kể từ khi bụng bắt đầu xẹp xuống cho đến khi đã xẹp hẳn, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang xẹp xuống, đang xẹp xuống…”. Trong tiến trình thở ra, bạn cũng không cần chú ý đến hình dáng của bụng mà chỉ cần chú ý theo dõi trạng thái đang chuyển động dần dần xẹp xuống của nó. Khi năng lực định tâm đã phát triển, nếu hướng sự chú ý vào tiến trình đang dần dần phồng lên của bụng, bạn sẽ nhận thức được rằng, hiện tượng nàysự chú ý của tâm trí là hai phương diện tách rời nhau. Chúng là hai chứ không phải là một. Khi chú ý vào hiện tượng đang từ từ xẹp xuống của bụng, bạn cũng sẽ nhận thức được rằng, hiện tượng này và sự chú ý của tâm trí là hai phương diện tách biệt. Chúng là hai chứ không phải là một. Hiện tượng phồng lên và xẹp xuống của bụng có thuộc tính vật chất nên chúng không hề có sự nhận thức. Hiện tượng nhận biết được chuyển động đang dần dần phồng lên và xẹp xuống của bụng  (tức sự chú ý để nhận thức của tâm trí) có thuộc tính tinh thần. Vì vậy, nó có sự nhận thức. Bạn cần phải phân biệt được rằng, những đối tượng bị chú ý nói trên là thuộc về vật chất và sự chú ý của tâm trí để nhận thức là thuộc về tinh thần. Nói cách khác, bạn cần phải gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất ( Nāma Rūpa pariccheda Ñāna – The distinguish for difference between spirits and material knowledge).Trong quá trình tọa thiền, nếu tiến trình chuyển động đang phồng lên và xẹp xuống của bụng hiện khởi không được rõ ràng và khó nhận thấy, bạn phải đặt sự chú ý vào “  trạng thái đang ngồi” hay “  trạng thái đang xúc chạm của thân thể”. Lúc này, bạn không cần chú ý đến hình dáng của đầu, thân thể, chân và tay mà phải lờ đi như thể không nhận thấy sự hiện diện của chúng. Hình dáng vật chất bên ngoài của bụng chỉ là một khái niệm ( Paññātti – Conception). Hình dáng này không phải là đề mục để thực hành thiền minh sát. Bạn chỉ cần phải hội tụ tâm ý một cách chính xác để nhận biết bản chất của trạng thái đang căng lên của bụng, bởi vì đây chính là thực tại cùng tột ( Paramattha – Ultimate reality). Khi đang tập trung chú ý vào “ trạng thái đang xúc chạm của thân thể” cũng vậy, bạn không cần phải chiêm nghiệm về hình dáng của trạng thái này mà chỉ cần nhận biết độ cứng và sức nóng được sinh ra do sự xúc chạm của thân thể với sàn tọa. Bạn cứ tiếp tục thực hành sự chú ý như thế, đến một lúc nào đó, khi năng lực định tâm của đã phát triển thì đến lúc đó, bạn sẽ nhận thức được rằng : “ Trạng thái đang ngồi”, “ trạng thái đang xúc chạm của thân thể” và “sự chú ý để nhận thức của tâm trí” là hai phương diện tách biệt. Chúng là hai chứ không phải là một. Trạng thái đang ngồi và trạng thái đang xúc chạm có thuộc tính vật chất. Vì vậy, chúng không hề có sự nhận thức. Trong khi đó, sự chú ý của tâm trí có thuộc tính tinh thần. Vì vậy, nó có sự nhận thức. Những hành giả thực hành thiền minh sát cần phải phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Nói cách khác, là họ cần phải gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Trong lúc đang thiền hành, bạn cần phải tập trung chú ý đến “ trạng thái chuyển động đang dở  lên”, “ trạng thái chuyển động đang bước tới” và “ trạng thái chuyển động đang đặt xuống” của bàn chân. Khi bàn chân đang dở lên, bạn không cần chú ý đến hình dáng của nó, chỉ cần hội tụ tâm ý một cách chính xác lên tiến trình chuyển động đang dần dần dở lên của nó để nhận biết được bản chất của tiến trình chuyển động này. Khi đang bước tới cũng vậy, bạn không cần chú ý đến hình dáng của bàn chân, chỉ cần hội tụ tâm ý một cách chính xác để nhận biết được bản chất của chuyển động đang dần dần bước tới của nó. Khi đặt bàn chân xuống, bạn phải lờ đi như thể không thấy hình dáng vật chất bên ngoài của bàn chân, chỉ cần hội tụ tâm ý một cách chính xác để nhận biết bản chất của chuyển động đang từ từ đặt xuống của nó. Bạn cũng cần tập trung sự chú ý một cách chi tiết vào các hoạt động khác của thân thể như : Trạng thái đang ngồi, đang đứng, đang co duỗi tay chân… Bạn cứ tiếp tục thực hành chú ý như thế…Khi năng lực định tâm của một hành giả thực hành thiền minh sát đã phát triển, lúc đang chú ý đến trạng thái chuyển động dở chân lên, hành giả sẽ nhận thức được rằng “ chuyển động đang dần dần dở lên của bàn chân” và “ sự chú ý để nhận thức của tâm trí” là hai phương diện tách biệt. Chúng là hai chứ không phải là một. Lúc đang chú ý vào trạng thái bước tới, hành giả sẽ nhận thức được rằng “ chuyển động đang từ từ bước tới của bàn chân” và “ sự chú ý để nhận thức của tâm trí” là hai phương diện tách biệt. Chúng là hai chứ không phải là một. Lúc đang chú ý vào trạng thái chuyển động đặt bàn chân xuống, hành giả sẽ nhận thức được rằng “ chuyển động đang dần dần đặt xuống của bàn chân” và “ sự chú ý để nhận thức của tâm trí” là hai phương diện tách biệt. Chúng là hai chứ không phải là một. Vì vậy, hành giả đã phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Nói cách khác, hành giả này đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Tám chi của Bát Chánh Đạo đều có liên quan chặt chẻ với  mọi tiến trình chú ý khi bạn thực hành thiền tứ niệm xứ . Bằng cách thực hành sự chú ý liên tục, kiến thức nội quán ( Vipassanā Ñāna - Insight knowledge) trong tâm thức của bạn sẽ dần dần được phát triển. Đến một lúc nào đó, bạn sẽ đạt tới Niết Bàn thông qua Đạo Quả Trí Tuệ ( Magga phala Paññā) đúng như hạnh nguyên Ba-La-Mật của chính mình. Theo Tạng Vi Diệu Pháp ( Abbhidhammà), việc thực hành thiền tứ niệm xứ không chỉ gặt hái được 3 chi thuộc về Giới trong Bát Chánh Đạo mà có thể gặt hái tới 5 chi trong Pháp môn này. Thật ra, đúng theo trong Kinh đã thuyết ( Suttanta Desanā) thì cả 8 chi trong Bát Chánh Đạo đều có liên quan chặt chẻ với tiến trình thực hành thiền tứ niệm xứ. Bằng cách thực hành thiền tứ niệm xứ, 8 chi trong Bát Chánh Đạo đã được vun trồng trong tâm thức của bạn. Vì vậy, bạn sẽ gặt hái được Niết Bàn hạnh phúc. Bát Chánh Đạo được chia thành 3 nhóm :

1. Ba chi thuộc về Giới ( Sīla)

2. Ba chi thuộc về Định ( Samādhi)

3. Hai chi thuộc về Tuệ  ( Paññā)

 Ba chi thuộc về Giới trong Bát Chánh Đạo

Ba chi thuộc về Giới trong Bát Chánh Đạo là kiêng cữ 4 hành động bất thiện thuộc về lời nói. Việc kiêng cữ này sẽ dẫn đến kết quả là có cung cách nói năng chân thật và đúng đắn ( tức Chánh ngữ - Sammāvācā magganga - Right speech). Kiêng cữ 3 hành động bất thiện thuộc về thân thể sẽ dẫn đến kết quả là có những hành động đúng đắn ( tức Chánh nghiệp - Sammākammanta magganga – Right action). Có một lối sống đúng đắn bằng cách kiêng cữ 4 hành động bất thiện thuộc về lời nói và 3 hành động bất thiện thuộc về thân xác là đã có Chánh mạng ( Sammājīva magganga – Right livelihood).

  Ba chi thuộc về Định trong Bát Chánh Đạo

Ba chi thuộc về Định trong Bát Chánh Đạo là Chánh tinh tấn ( Sammāvāyama magganga – Right effort), Chánh niệm ( Sammāsati magganga – Right mindfulness) và Chánh định ( Sammā sammādhi – Right concentration).

  Hai chi thuộc về Tụê trong Bát Chánh Đạo  

Hai chi thuộc về Tuệ trong Bát Chánh Đạo là Chánh kiến ( Sammādiţţhi magganga – Right understanding) và Chánh tư duy ( Sammāsankappa – Right thought)

Ba chi thuộc về Giới có liên quan đến sự chú ý khi bụng đang phồng lên

Những người thực hành thiền tứ niệm xứ cần phải quan sát 5 Giới, 8 Giới và 9 Giới một cách vững vàng. Do ảnh hưởng của việc giữ Giới, khi hành giả đang chú ý đến tiến trình phồng lên của bụng, chánh ngữ, chánh nghiệpchánh mạng có thể bị phá huỷ nếu tinh thần của hành giả đang bị giam nhốt trong những hành động bất thiện thuộc về thân xác và lời nói. Vì vậy, ba chi thuộc về Giới trong Bát Chánh Đạo sẽ được duy trì một cách tinh khiết nếu hành giả có khả năng giữ Giới một cách vững vàng.

 Ba chi thuộc về Định có liên quan đến sự chú ý khi bụng đang phồng lên

Khi hành giả đang nổ lực chú ý đến tiến trình phồng lên của bụng tức là anh ta đang nhận thức hiện tượng đó trong một tâm thức Chánh tinh tấn. Khi bụng đang từ từ phồng lên, hành giả lập tức hội tụ tâm ý một cách chính xác lên hiện tượng này nghĩa là anh ta đang thực hành Chánh niệm. Tiến trình hội tụ tâm ý một cách chính xác lên bụng trong từng giây phút ở hiện tại, kể từ khi nó bắt đầu phồng lên cho đến khi đã căng hết mức là thực hành Chánh định. Vì vậy, ba chi thuộc về Định trong Bát Chánh Đạo có liên quan chặt chẻ với tiến trình chú ý khi bụng của hành giả đang dần dần phồng lên.

Hai chi thuộc về Tụê có liên quan đến sự chú ý khi bụng đang phồng lên

Khi hành giả đang tập trung sự chú ý một cách chính xác lên đối tượng bị chú ý là “tiến trình đang dần dần phồng lên của bụng” tức là anh ta đang thực hành Chánh tư duy. Lúc đang hội tụ tâm ý một cách chính xác vào  “ tiến trình đang dần dần phồng lên của bụng”, hành giả sẽ nhận thức được rằng “chuyển động đang dần dần phồng lên của bụng” và “sự chú ý của chính anh ta” là hai phương diện hoàn toàn tách biệt. Chúng là hai chứ không phải là một. Chuyển động phồng lên của bụng không hề có sự nhận thức. Vì vậy, nó có thuộc tính vật chất ( Rūpam – Material). Sự chú ý của tâm trí hành giả là có sự nhận thức. Vì vậy, nó có thuộc tính tinh thần ( Nāmam – Spiritual). Sự nhận biết đúng đắn vừa nêu trên của hành giả chính là Chánh kiến. Vì vậy, hai chi thuộc về Tụê trong Bát Chánh Đạo có liên quan chặt chẻ với tiến trình chú ý khi bụng của hành giả đang dần dần phồng lên. Cuối cùng, chúng ta có thể kết luận rằng, 8 chi trong Bát Chánh Đạo đều có liên quan chặt chẻ với tiến trình chú ý khi bụng của hành giả đang dần dần phồng lên. Tương tự như vậy, trong sự chú ý đến tiến trình đang dần dần xẹp xuống của bụng, trạng thái đang ngồi, đang xúc chạm, đang đi bộ, đang dở bàn chân lên, đang bước tới, đang đặt bàn chân xuống và nhiều chi tiết khác trong những hoạt động của chúng ta đều có liên quan chặt chẻ với Bát Chánh Đạo. Nếu bạn đang thực hành thiền tứ niệm xứ tức là bạn đang tu dưỡng Bát Chánh Đạo. Vì vậy, những hành giả đang thực hành thiền tứ niệm xứ tức là họ đang thực hành Bát Chánh Đạo. Mỗi khi đã có khả năng thực hành sự thấy bằng nhiều cách ( tức minh sát - Vipassanā) đến mức hoàn hảo trên nền tảng Bát Chánh Đạo thì đến lúc đó, bạn sẽ gặt hái được Đạo Quả Niết Bàn đúng theo hạnh Ba-La-Mật của chính mình.Vì vậy, những thiện nam tín nữ nào là các bậc cha mẹ thiện lành có mong muốn gặt hái được Niết Bàn hạnh phúc trong cuộc sống này thì họ phải thực hành thiền tứ niệm xứ

( tức thiền minh sát hay thiền quán niệm). Nói cách khác, họ phải thực hành Bát Chánh Đạo. 

 

                                                             

                                 Thẩm định để gặt hái kiến thức

 

Những thành viên của Hiệp Hội Đức Tin Luân Đôn Tịnh Xá ( The Trust Association of The London Vihàra) đã thỉnh cầu bậc Trưởng Thượng trung tâm thiền Saddhammaramsì đến  thuyết Pháp và giảng dạy về phương pháp thực hành thiền minh sát. Vì vậy, Ngài Saddhammaramsì đã cùng với tiến sĩ U Mya Aung và U Htun Kyi rời khỏi Ngưỡng-Quang ( Yangon) để đến Tân-Gia-Ba ( Singapore) vào ngày mồng 5 tháng 6 năm 1994. Sau đó, phái đoàn hoằng Pháp do Ngài Saddhammaramsī dẫn đầu đã tiếp tục hành trình đến Luân Đôn Tịnh Xá vào ngày mồng 8 tháng 6 cùng năm. Tại Luân Đôn Tịnh Xá, bắt đầu từ ngày mồng 9 tháng 6 năm 1994 Ngài Saddhammaramsī đã thuyết Pháp và giảng dạy thiền minh sát. Chương trình thuyết Pháp dành cho những thính giả Miến Điện

( Myanmar) và những người ngoại quốc đã diễn ra một ngày 2 lần. Sau các thời thuyết Pháp là chương trình hỏi đáp dành cho những người ngoại quốc. Những câu hỏi và các câu trả lời trong chương trình này là rất hữu ích cho những người Phật tử mộ Đạo. Vào ngày 13 và 14 tháng 6 năm 1994, từ 6 giờ chiều đến 7 giờ 30 tối, bậc Trưởng Thượng đã thuyết Pháp về những lợi ích của thiền minh sát. Tiến sĩ U Mya Aung đã đảm trách việc thông dịch những lời thoại trong bài thuyết Pháp này sang tiếng Anh. Thực hành thiền tứ niệm xứ là một công việc mang lại nhiều lợi ích và tốt đẹp nhất. Việc thực hành thiền tứ niệm xứ đơn giản chỉ là cách thực hành sự chú ý đến những hoạt động hàng ngày của chúng ta. Tuy nhiên, nó mang lại 2 lợi ích được tóm tắt sau đây : Bằng cách thực hành thiền tứ niệm xứ, những thứ ô nhiễm như tính tham lam, sân hận và vọng tưởng sẽ bị loại trừ. Nếu những thứ ô nhiễm đó không bị loại trừ thì chúng có thể dẫn đưa chúng ta xuống địa ngục khổ đau. Bằng sự chú ý một cách trọn vẹn đến tất cả những hiện tượng đang xảy ra trong thân tâm mình qua từng giây phút ở hiện tại, năng lực định tâm của bạn sẽ được chín muồi. Từ đó, bạn sẽ gặt hái được Niết Bàn hạnh phúc. Đó là 2 lợi ích mà thiền tứ niệm xứ sẽ mang lại cho những ai thực hành loại thiền này. Bằng cách thực hành thiền tứ niệm xứ, trong mọi sự chú ý, hành giả ngày càng tránh xa được địa ngục luân hồi khổ đau, đồng thời càng lúc càng tiến lại gần Niết Bàn hạnh phúc. Vì vậy, thực hành thiền tứ niệm xứ chắc chắn là một công việc mang lại nhiều lợi ích và tốt đẹp nhất. Mặc dù việc thực hành thiền tứ niệm xứ  là cách thực hành mang lại nhiều lợi ích nhất. Tuy nhiên, lúc ban đầu mới khởi sự thực hành loại thiền này, chúng ta không thể nhìn thấy được những lợi ích đó bằng mắt thường. Những lợi ích mà thiền tứ niệm xứ mang lại chắc chắn sẽ ngày càng trở nên rõ ràng hơn trong giai đoạn giữa và giai đoạn cuối của quá trình tu tập. Mặc dù trong giai đoạn đầu thực hành thiền tứ niệm xứ, những lợi ích mà loại thiền này mang lại chưa xuất hiện một cách rõ ràng. Tuy nhiên, qua cách tính bằng toán học, những lợi ích này sẽ trở nên rất dễ nhận thấy.Ví dụ, một người thực hành thiền tứ niệm xứ bất kỳ nào đó tối thiểu cũng có khả năng tập trung tâm ý trong vòng một giây đồng hồ. Nếu người này có thể thực hành sự chú ý trong một phút thì nghĩa là anh ta đã thực hiện được 60 lần chú ý. Nhiều hơn nữa, khi anh ta có thể ngồi thiền trong một giờ liên tiếp. Điều này có nghĩa là anh ta đã thực hiện được ba ngàn sáu trăm lần chú ý. Như vậy, ba ngàn sáu trăm lần chú ý này hết thảy đều là những phước báu thiện lành mà người thực hành thiền minh sát kia sẽ được hưởng. Những phước báu thiện lành đó sẽ dẫn dắt anh ta đến với Niết Bàn hạnh phúc đúng như đã mong đợi. Trong mọi sự chú ý, khi  đang thực hành thiền tứ niệm xứ, tham ái  không thể có bất cứ một cơ hội nào để hiện khởi trong tâm thức của bạn. Vì vậy, nó đã bị triệt tiêu. Bởi vì tham ái đã bị triệt tiêu nên tính bám víu ( Upadāna – attachment) có nguyên nhân từ tham ái

( Tanhā – Craving) cũng đã bị loại bỏ. Tất cả các loại nghiệp ( Kamma – action) đều có nguyên nhân thúc đẩy hay kích động của chúng. Tính bám víu chính là nguyên nhân thúc đẩy của nghiệp. Khi tính bám víu đã bị loại bỏ thì đương nhiên nghiệp cũng sẽ bị tiêu tan. Khi nghiệp đã bị tiêu tan thì sự hiện hữu ( Bhava – Existence) có nguyên nhân từ nghiệp cũng sẽ bị triệt tiêu luôn. Bởi vì tính hiện hữu đã không còn nữa, nên các quan niệm, tuổi già, bệnh tật, cái chết, buồn rầu, than khóc… và tất cả những nổi khổ đau khác cũng đều bị loại bỏ. Vì vậy, trong một giờ đồng hồ thực hành thiền tứ niệm xứ, bạn sẽ triệt tiêu được ba ngàn sáu trăm sự hiện hữu. Đây chính là những lợi ích mà thiền tứ niệm xứ hay thiền minh sát mang lại. Đây cũng là những gì mà chúng tôi muốn nói đến trong bài Pháp thoại này. Khi bài thuyết Pháp đã chấm dứt, một phu nhân đến từ Tích Lan ( Sri Lanka) đang đứng giữa những thích giả đã hỏi rằng : “ Những nhân tố trong bài thuyết Pháp này như việc thực hành thiền minh sát, ba ngàn sáu trăm sự hiện hữu, tuổi già, bệnh tật, cái chết, buồn rầu, than khóc… và tất cả những nổi khổ đau đã bị loại bỏ kia được tìm thấy trong Kinh Tạng ( Sutta Pitaka) hay trong Tạng Vi Diệu Pháp

( Abbhidhamma Pitaka) ?” Câu hỏi này liền được trả lời ngay lập tức. Bằng cách thực hành thiền minh sát liên tục trong một giờ đồng hồ, ba ngàn sáu trăm sự hiện hữu, tuổi già, bệnh tật, cái chết, buồn rầu, than khóc… và tất cả những nổi khổ đau đã bị loại bỏ kia không phải được nói ra trực tiếp từ Kinh Tạng hay Tạng Vi Diệu Pháp. Chúng có xuất xứ từ thuyết Thập-Nhị Nhân-Duyên, còn gọi là Thuyết Tùy Thuộc Phát Sanh hay Thuyết Nhân Quả Tương Liên

( Paticcasamuppāda – The doctrine Dependent Origination). Theo thuyết này, khi những nguyên nhân đã chấm dứt thì mọi tác động của những nguyên nhân đó cũng chấm dứt. Vì vậy, ba ngàn sáu trăm sự hiện hữu

( bhava – Existences) nói trên đã bị triệt tiêu. Đây chính là lợi ích mà bạn đã gặt hái được trong bài thuyết Pháp này.

 

                              Những câu trả lời cho hai câu hỏi

 

Nhận được sự cung thỉnh của Hiệp Hội Đức Tin Luân Đôn Tịnh Xá đến thuyết Pháp và giảng dạy về phương pháp thực hành thiền minh sát, bậc Trưởng Thượng trung tâm thiền Saddhammaramsī đã cùng với tiến sĩ U Mya Aung và  U Htun Kyi đi từ Ngưỡng Quang (Yangon) đến Tân-Gia-Ba ( Singapore) vào ngày mồng 5 tháng 6 năm 1994. Từ Tân-Gia-Ba, bậc Trưởng Thượng và phái đoàn hoằng Pháp đã đến Luân Đôn Tịnh Xá vào ngày mồng 8 tháng 6 cùng năm. Sau đó, theo sự cung thỉnh của U Vijava đến từ Cọng Hoà Pháp, Ngài Saddhammaramsī, tiến sĩ U Mya Aung và U Paññāsiha ( sống tại Luân Đôn) đã đến Cọng Hòa Pháp vào ngày 30 tháng 6 năm 1994. Tại Cọng Hoà Pháp, bậc Trưởng Thượng đã thuyết Pháp và giảng dạy về thiền minh sát tại Trung tâm Thích Ca Mâu Ni

( Sakyāmuni Centre) thuộc làng Montbeon. Trung tâm này do vị sư người Việt Nam có Pháp danh là U Vijava sáng lập. Vào ngày mồng 1 tháng 7 năm 1994, từ 9 giờ đến 10 giờ sáng tại trung tâm nói trên, bậc Trưởng Thượng đã thuyết Pháp về những lợi ích của thiền minh sát. Vào ngày mồng 2 tháng 7 cùng năm, từ 8 giờ đến 10 giờ sáng, bậc Trưởng Thượng đã lắng nghe những tường trình của các hành giả thực hành thiền minh sát trong một cuộc phỏng vấn. Vào ngày mồng 3 tháng 7 cùng năm, sau khi dùng điểm tâm xong, những hành giả tại Trung Tâm Thích Ca Mâu Ni và những người mộ Đạo đã đảnh lễ bậc Trưởng Thượng trong một buổi lễ thể hiện sự tôn kính ( Pujā – Venerational ceremony). Trong buổi lễ này, có một nữ hành giả người Việt Nam (đã từng thực hành thiền minh sát trong vòng một tháng tại Ngưỡng-Quang và trong một khóa tu thiền 10 ngày tại Cọng Hoà Pháp) đã thỉnh cầu bậc Trưởng Thượng cho phép bà đặt một câu hỏi với Ngài như sau : “ Con đã từng thực hành thiền minh sát và bây giờ con vẫn đang tiếp tục công việc đó, vậy con có thể nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng ngay trong kiếp sống này hay không ?” Bậc Trưởng Thượng đã trả lời rằng : “ Kể từ khi thí chủ đã có được 4 Pháp hiếm hoi trong tiềm thức liên tục ( Bhavanga santāna – Continuity of subconsciousness) của mình thì kể từ đó, thí chủ đã có khả năng nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng ngay trong chính kiếp sống này”. Đó là câu trả lời tóm tắt đầu tiên của bậc Trưởng Thượng. Sau đó, Ngài đã có những câu trả lời ngắn gọn và súc tích để đáp lại những câu hỏi của các hành giả thực hành thiền minh sát và những thính giả đang có mặt tại hiện trường. Ngài đã nói rằng, để có một khả năng nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng là điều mà ai cũng mong muốn. Khi bạn đã có 4 Pháp hiếm hoi trong tiềm thức liên tục của mình, bạn sẽ được mãn nguyện về điều đó. Bốn Pháp hiếm hoi đó là :

1. Đặc quyền được làm con người

2. Đặc quyền được tận hưởng cuộc sống

3. Đặc quyền được lắng nghe Phật Pháp

4. Đặc quyền được sống trong thời mà Phật Pháp vẫn đang còn tồn tại             

Để có những câu trả lời chi tiết và tinh tế dành cho các hành giả có ước muốn mãnh liệt rằng họ sẽ nhận thức được Phật Pháp ngay trong chính kiếp sống này. Bậc Trưởng Thượng đã miêu tả một cách chi tiết về 4 điều kiện khó đạt được nhằm giúp cho họ có thể lãnh hội được Phật Pháp :

1. Đức Phật đã từng dạy rằng, được làm con người là một điều cực kỳ khó khăn.Vào một thời, Đức Phật đã bốc một ít bụi đất và đặt chúng lên móng tay của Ngài. Tiếp đến, Ngài đã nói với các Tỳ Kheo rằng : “ Hỡi các Tỳ Kheo ! Những người đã chết và được tái sanh vào cõi người này thật ít ỏi như bụi đất đang nằm trên móng tay của ta đây. Những người đã chết và bị đọa xuống địa ngục sầu muộn thống khổ là nhiều vô số kể như thể bụi trên toàn trái đất vĩ đại này”. Qua sự việc đó, chúng ta đã biết được rằng những người được tái sanh vào cõi người sau khi chết là rất hiếm hoi.

2. Được làm một con người là điều cực kỳ hiếm hoi. Mặc dù ngày hôm nay, bạn đang sống ở đây nhưng ngày mai liệu bạn có còn sống hay không ? Tại sao lại như vậy ? Bởi vì khi được làm người, bạn có tới 96 loại bệnh nội tại ( tức bệnh phát xuất từ trong thân tâm mà ra). Về phương diện ngoại giới, có nhiều rất nhiều nguyên nhân khác có thể giết chết bạn như : Dao, kiếm, giáo mác và và các loại độc dược… Đó là lý do tại sao, mặc dù ngày hôm nay bạn đang sống đây nhưng ngày mai bạn có thể không còn sống nữa. Đức phật đã từng nói đến điều này trong Kinh Bhaddekaratta. Khi cân nhắc về điều này, chúng ta biết rằng được sống trong kiếp người là một điều cực kỳ hiếm hoi.

3. Được lắng nghe Giáo Pháp cao siêu là một điều cực kỳ hiếm hoi. Giáo Pháp cao siêu nói về thiền tứ niệm xứ có thể đóng lại cánh cửa dẫn xuống địa ngục và giúp cho bạn nhận thức được Niết Bàn. Một ngày nào đó, người ta sẽ không còn nghe thấy những người khác nói đến Niết Bàn nữa, bởi vì lúc đó Giáo Pháp của Đức Phật đã hoàn toàn tan rã. Đến lúc đó, con người đành phải bằng lòng với những công việc thiện lành như bố thí và giữ Giới bởi vì khi đó, không còn ai nói về thiền tứ niệm xứ nữa. Đó là lý do tại sao, được lắng nghe Giáo Pháp cao siêu nói về thiền tứ niệm xứ là một điều cực kỳ hiếm hoi. Giáo Pháp này có thể đóng lại cánh cửa dẫn xuống địa ngục và dẫn dắt người ta đến với cảnh giới Niết Bàn hạnh phúc.

4. Được làm người và được sống trong thời mà Giáo Pháp của Đức Phật vẫn còn tồn tại cũng là một điều cực kỳ hiếm hoi. Chỉ khi Đức Phật đã giác ngộ chân lý thì lúc đó mới có những lời dạy của Ngài. Để trở thành một Đấng Giác Ngộ vĩ đại, Đức Phật đã phải hy sinh cuộc sống của chính Ngài, thậm chí là những bộ phận trong thân thể của Ngài như tay, chân… để tích luỹ các hạnh Ba-La-Mật ( Pāramitā – Perfections) trong khoảng thời gian là 4 A-tăng-kỳ và 100 ngàn đại-kiếp.Chỉ khi các hạnh Ba-La-Mật trong tâm thức của Đức Phật đã chín muồi thì lúc đó, Ngài mới giác ngộ chân lý và trở thành Phật. Chỉ khi Đức Phật đã giác ngộ chân lý thì lúc đó mới có Phật Pháp.Có thể nói, trước khi đạt tới Giác Ngộ Tối Thượng, Đức Phật đã từng sống trong nhiều thế giới trên toàn cõi vũ trụ. Số lượng những thế giới mà Ngài đã từng sống qua khi chưa giác ngộ là không thể kể xiết. Những thế giới mà Đức Phật đã từng sống qua sau khi Ngài đã giác ngộ là cực kỳ ít ỏi. Vì vậy, chúng ta biết rằng, được sống trong thời mà Giáo Pháp của Đức Phật đang còn tồn tại như thời đại của chúng ta hiện nay là một điều cực kỳ hiếm hoi. Kể từ khi đã có được 4 Pháp hiếm hoi trong tiềm thức thì kể từ đó, bạn biết rằng mình đã có một khả năng để gặt hái Giáo Pháp Cao Thượng ngay trong kiếp sống này. Sau khi đã lắng nghe câu trả lời đầu tiên của bậc Trưởng Thượng, nữ hành giả người Việt Nam hiện đang sống tại Cọng Hoà Pháp đã tiếp tục hỏi Ngài câu hỏi thứ hai : “ Ngoài 4 Pháp hiếm hoi dẫn đến việc nhận thức được Phật Pháp mà Ngài đã chỉ dạy, có còn những điều kiện nào khác để nhận thức được Phật Pháp nữa hay không ?”. Bậc Trưởng Thượng đã trả lời rằng : “ Ngoài 4 Pháp hiếm hoi vừa được đề cập ở trên, vẫn còn 2 điều kiện cần thiết nữa để nhận thức được Phật Pháp, đó là : a. Những Pháp sư hay những người giảng dạy Phật Pháp cần phải có khả năng giảng dạy và hướng dẫn những người thực hành thiền tứ niệm xứ bằng một phương pháp đúng đắn cho đến khi họ gặt hái được Đạo Quả Niết Bàn.

b. Những hành giả thực hành thiền tứ niệm xứ phải có năng lực chú ý hoàn hảo và hội đủ các điều kiện để có thể gặt hái được Đạo Quả Niết Bàn. Nếu 2 điều kiện sau cùng này được thoả mãn, cọng thêm 4 Pháp hiếm hoi vừa được đề cập ở trên thì chắc chắn bạn sẽ có khả năng gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng đúng theo mục đích đã từng mong muốn. Nếu một trong hai điều kiện vừa nêu sau cùng không được thoả mãn thì bạn sẽ không thể nào gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng. Đến đây, những câu trả lời của bậc Trưởng Thượng đã xong.

 

                                   Bốn Chân Lý Cao Thượng

 

Trong tất cả những bài Pháp mà Đức Phật đã thuyết trong suốt 45 mùa mưa thì không một bài Pháp nào có thể vượt qua bài Bốn Chân Lý Cao Thượng ( Ariyasaccani - The four Noble Truths), âm Hán-Việt dịch là Tứ Diệu Đế ( N.D). Bài pháp của Đức Phật nói về Bốn Chân Lý Cao Thượng đã được tất cả nhân loại công nhận, không kể quốc gia, chủng tộc hay tôn giáo. Những người Phật tử mộ đạo trên toàn thế giới đã tỏ lòng cung kính tột bậc và yêu mến một cách đặc biệt đối với bài thuyết Pháp này. Họ thường có thói quen học tập và ghi nhớ Bốn Chân Lý Cao Thượng đã được Đức Phật thuyết giảng. Bài thuyết Pháp này là bài Pháp đầu tiên và quan trọng nhất so với vô số những bài Pháp mà Đức Phật đã từng thuyết ra, kể từ khi Ngài đạt tới giác ngộ tối thượng. Bốn Chân Lý Cao Thượng đó là :

1. Dukkha saccaNăm uẩn ( Pañcakhandha – Five Aggregates) là chân lý về sự khổ đau.

2. Samudaya sacca  - Tham ái ( Tanhā – Craving) là chân lý về nguồn gốc của khổ đau.

3. Nirodha saccaNiết Bàn ( Nibbāna – Nirvana) là chân lý về sự chấm dứt của khổ đau.

4. Magga sacca  -  Bát Chánh Đạo là 8 yếu tố cấu thành con đường cao thượng dẫn đến Niết Bàn và chấm dứt khổ đau.

Chân lý thứ nhất – Dukkha sacca

 Năm uẩn ( Pañca Khandha – Five aggregates) là chân lý về sự khổ đau bởi vì chúng là những áp lực đè nặng lên tâm lý của chúng ta. Không có một áp lực nào có thể tạo nên sự khổ đau cho bằng 5 uẩn. Vì vậy, chân lý về sự khổ đau chính là 5 uẩn. Trong chân lý về sự khổ đau ( Dukkha sacca – The truth of  suffering) có tất cả 12 loại khổ đau :

1. Jāti -   Quan niệm ( Conception)

2. Jarā – Tuổi già  ( Old age)

3. Marana – Cái chết ( Death)

4. Soka -  Buồn rầu ( Sorrow)

5. Parideva – Khóc than ( Lamentation)

6. Dukkha  -  Khổ đau về tinh thần và thân xác ( Suffering and physical pain)

7. Domanassa –  Buồn bực ( Grief )

8. Upāyāsa –  Lo âu và tuyệt vọng ( Agony and despair)

9. Appiyasampayoga – Phải sống chung với cái gì hay người mà mình không yêu thích ( Association with the unloved)

10. Piyavippayoga – Phải xa cách cái gì hay người mà mình yêu thương ( Separation from the loved one)

 11. Esatālābha -  Không có được những điều mà mình khao khát     

                                      ( Not getting what one desire)

 12. Sankhittena –  Nói tóm lại là bám víu vào 5 uẩn

    ( Briefly is clinging to the five aggregates – Pañcupādānekkhandha

 

Chân lý thứ hai – Samudaya sacca

 Tham ái ( tức khao khát - Tanhā – Craving) chính là chân lý về nguồn gốc của khổ đau. Không có một nổi khổ đau nào thiếu vắng tham ái. Vì vậy, tham ái là chân lý về nguồn gốc hay nguyên nhân của khổ đau. Ngoài tham ái ra, còn có nhiều nguyên nhân khổ đau khác như vọng tưởng hay vô minh ( Avijjā – To dream wildly), tà kiến

( Micchadiţţhi – Wrong view), sân hận ( Dosa – Anger)… Tuy nhiên, vô minh chỉ có thể che phủ lên những tội lỗi đã mắc phải, tà kiến chỉ có thể làm gia tăng tham ái, sân hận chỉ có nguồn gốc từ những ý muốn ( Cetanā – Volition) không thành… Trong khi đó, tham ái lại khiến cho những khổ đau của chúng sanh ngày càng chồng chất bởi vì nó chứa chấp tính khao khát, lập ra nhiều kế hoạch khác thường cho cuộc sống và số phận của chúng sanh. Vì vậy, tham ái là nguyên nhân chính dẫn đến khổ đau. Nó được biết đến như là chân lý về sự khổ đau ( Samudaya sacca). Tham ái có 3 loại :

a. Tham ái có nguyên nhân từ nghiệp đã tạo ( Kamma tanhā)

b. Tham ái do khao khát được hiện hữu ( Bhava tanhà)

c. Tham ái do khao khát tìm kiếm của cải và sự thịnh vượng với những quan kiến sai lầm

( Vibhava tanhā)

- Tìm kiếm niềm vui thích trong 6 đối tượng của giác quan ( sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) là tham ái có nguyên nhân từ nghiệp đã tạo

( Kamma tanhā).

 -  Tin vào thuyết linh hồn bất tử và tìm kiếm sự hài lòng trong thuyết ấy để thoả mãn những điều bí ẩn trong cuộc sống là thường kiến ( Sassata diţţhi), hài lòng với những của cải vật chất đang có và những giá trị tinh thần tạm bợ cũng được gọi là tham ái do khao khát được hiện hữu

( Bhava tanhā).  

- Nắm giữ niềm vui thích trong những quan kiến sai lầm về sự huỷ diệt, tin rằng con người, mọi sinh vật khác khi chết đi là hết tức là đoạn kiến ( Uccheda diţţhi), rồi từ đó mặc sức tham lam vơ vét của cải và tìm kiếm sự thịnh vượng với một tâm thức bất chấp đạo đức, luân lý, pháp luật … được gọi là Vibhava tanhà.

108 loại tham ái

 Mặc dù tham ái ( Tanhā – Craving) được nói gọn lại thành 3 loại là : Kammatanhā, BhavatanhāVibhavatanhā. Thật ra, khi phân tích về tham ái một cách công phu và chi tiết thì nó có tới 108 loại. Chẳng hạn, khi chúng ta phân tích 3 loại tham ái theo cách tính  bội số của 6 đối tượng giác quan như :  Cảm giác về hình ảnh ( Rūpa tanhā), cảm giác về âm thanh ( Sadda tanhā), cảm giác về mùi ( Gandha tanhā), cảm giác về vị ( Rasa tanhā), cảm giác về sự xúc chạm ( Photthabba tanhā), cảm giác về nhiều đối tượng khác ( Dhamma tanhā)… thì chúng ta đã có 18 loại tham ái. Khi 18 loại tham ái này được phân tích theo cách tính bội số của 3 thời quá khứ, tương lai và hiện tại thì chúng sẽ trở thành 54 loại tham ái. Khi 54 loại tham ái này lại được phân tích theo cách tính bội số của 2 luồng tâm thức liên tục là nội thức tiếp diễn ( Ijjhatta santāna – Internal continuity of  consciousess) và ngoại thức tiếp diễn ( Bahiddha santāna – External continuity of consciousness) thì chúng ta sẽ có 108 loại tham ái.

Tóm tắtBa loại tham ái căn bản khi được phân tích theo cách tính bội số của 6 đối tượng giác quan, thời gian và luồng tâm thức thì chúng sẽ trở thành 108 loại.

 

 Chân lý thứ ba – Nirodha sacca

 Khi nói Niết Bàn là chân lý về sự chấm dứt khổ đau thì chúng ta phải hiểu rằng không có một loại Niết Bàn nào lại thiếu vắng trạng thái tận diệt của khổ đau. Ngoài Niết Bàn ra, không có một sự tận diệt khổ đau nào khác. Đây là Pháp chân thật. Vì vậy, Niết Bàn chính là chân lý về sự chấm dứt của khổ đau ( Nirodha sacca – The truth of the cessation of suffering). Chân lý về sự chấm dứt của khổ đau chính là sự chấm dứt 3 loại tham ái căn bản hay 3 loại tham ái tóm lược. Nói cách khác, chân lý về sự chấm dứt của khổ đau chính là sự chấm dứt 108 loại tham ái đã được phân tích một cách chi tiết và công phu. Thật ra, một khi chúng ta đã cắt đứt được cái gốc hay nền tảng của tham ái thì nghĩa là chúng ta đã loại bỏ được tất cả 108 loại tham ái. Bởi vì 108 loại tham ái đã bị loại bỏ cho nên 12 loại khổ đau căn bản và tất cả những loại khổ đau khác có nguồn gốc từ tham ái cũng đều chấm dứt theo. Vì vậy, chúng ta sẽ có khả năng gặt hái được Niết Bàn hạnh phúc như đã hằng mong ước.

Chân lý thứ tư – Magga sacca

Khi nói rằng Bát Chánh Đạo là 8 yếu tố cấu thành con đường cao thượng dẫn đến sự chấm dứt của khổ đau, chúng ta phải hiểu rằng không có một loại Bát Chánh Đạo nào lại không dẫn đến sự chấm dứt của khổ đau. Ngoài Bát Chánh Đạo ra, không có một Pháp nào có thể dẫn đến Niết Bàn và chấm dứt khổ đau. Vì vậy, Bát Chánh Đạo là con đường chân lý dẫn đến Niết Bàn và tận diệt khổ đau. Những thiện nam tín nữ nào là các bậc cha mẹ thiện lành có mong ước gặt hái được chân lý hạnh phúc của Niết Bàn thì họ phải thực hành Bát Chánh Đạo. Những ai mong muốn thực hành Bát Chánh Đạo thì phải thực hành thiền tứ niệm xứ ( tức 4 nền tảng của sự quán niệm- The four foundation of mindfulness). Thực hành thiền minh sát hay thiền tứ niệm xứ tức là thực hành Bát Chánh Đạo đúng như lời Đức Phật đã thuyết trong Tạng Kinh. Trong Bốn Chân Lý Cao Thượng vừa được đề cập ở trên, Dukkha sacca là chân lý về sự  khổ đau. Samudaya sacca là chân lý về nguyên nhân của khổ đau. Cả hai chân lý này đều là chân lý thuộc về cõi thế gian ( Lokiya – Mundane). Bạn cần phải thực hành thiền minh sát dựa trên nền tảng của 2 hai chân lý này.

Nirodha saccalà chân lý về Đạo Quả. Magga sacca là chân lý về nguyên nhân hay con đường dẫn đến Đạo Quả ấy. Hai chân lý này thuộc về cõi xuất thế gian ( Lokuttara – Supramundance). Vì vậy, bạn không cần phải chiêm nghiệm về chúng.  

 

            Những chỉ dẫn về cách thực hành thiền nên học

 

Trong thời đại ngày nay, thiền minh sát đang rất hưng thịnh. Đó là lý do tại sao những người Phật tử mộ Đạo đã và đang thực hành thiền minh sát mỗi khi họ có thời gian rãnh rỗi. Thực hành thiền minh sát là một công việc tốt đẹp và mang lại nhiều lợi ích nhất cho những người Phật tử. Nếu mong muốn xử dụng thời gian rãnh rỗi của mình theo một cách thức tốt đẹp và lợi ích nhất thì bạn nên thực hành thiền minh sát. Nói một cách chính xác, việc thực hành thiền minh sát đơn giản chỉ là sự tập luyện khả năng chú ý để nhận thức. Tuy nhiên, khi thực hành loại thiền này, bạn sẽ có được 2 lợi ích. Lợi ích thứ nhất là sẽ loại bỏ được những điều ô nhiễm như tính tham lam, sân hận, vọng tưởng – những điều có thể dẫn đưa bạn xuống địa ngục khổ đau. Mặt khác, năng lực định tâm của bạn sẽ trở nên mạnh mẽ và chín muồi. Từ đó, năng lực này sẽ dẫn dắt bạn đến với Niết Bàn hạnh phúc. Vì vậy, bằng phương pháp chú ý một cách thuần túy, bạn sẽ gặt hái được 2 lợi ích như đã mong muốn. Trong mỗi sự chú ý khi đang thực hành thiền minh sát, bạn sẽ càng lúc càng tránh xa được địa ngục khổ đau và càng gần gũi với Niết Bàn hạnh phúc hơn. Khi còn nhỏ, mỗi khi làm được một hành động xứng đáng, bạn đã ước nguyện rằng mình sẽ có thể thoát khỏi địa ngục khổ đau, đạt tới Niết Bàn hạnh phúc một cách nhanh chóng, cũng như sẽ được mãn nguyện.Vì vậy, những lợi ích của việc thực hành thiền minh sát sẽ dẫn tới năng lực kinh nghiệm được Phật Pháp một cách nhanh chóng. Tôn Giả Trưởng Lão Kiccāyana đã từng chỉ ra rằng có 4 nhân tố có thể làm cho việc thực hành thiền minh sát của chúng ta tiến bộ một cách nhanh chóng và giúp cho chúng ta gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng. Bốn nhân tố đó là :

1. Cakkhumassa yathā andho – Mặc dù có một thị lực rất tốt nhưng bạn vẫn cứ làm như thể mình bị mù.

2. Sotavabadhiro yathā – Mặc dù có một thính lực rất tốt nhưng bạn vẫn cứ làm như thể mình bị điếc.

3. Paññāvassa yathā mūgo – Mặc dù có thể nói năng rất lưu loát nhưng bạn vẫn cứ làm như thể mình bị câm.

4. Balavant dublalo riva – Mặc dù có một thể lực rất tốt nhưng bạn vẫn cứ làm như thể mình rất yếu đuối và bệnh tật.

 Cakkhumassa yatthā

Mặc dù có thị lực rất tốt nhưng bạn vẫn cứ làm như thể mình bị mù nghĩa là : Khi những hành giả thực hành thiền minh sát đang thiền hành hoặc đang tập luyện sự chú ý đến tất cả những hoạt động hàng ngày, họ không nên nhìn ngắm bất cứ cái gì mà thị giác của họ bắt gặp được khi đang đi qua các khu phố hay các ngôi làng…Nếu không thực hành như thế thì họ sẽ rất khó tập trung tâm ý. Khi đã không thể tập trung tâm ý thì lúc đó, những hành giả này sẽ không thể gặt hái được tuệ minh sát. Chỉ khi đang thực hành thiền tọa, họ mới không cần làm như thể mình bị mù mà thôi, bởi vì lúc đó họ phải nhắm mắt. Đó là lý do tại sao, mặc dù có một thị lực rất tốt nhưng bạn vẫn cứ làm như thể mình bị mù. Nói cách khác, bạn vẫn thấy nhưng cứ lờ đi và làm như thể mình không thấy vậy.

Tóm tắt:  Mặc dù có một thị lực rất tốt nhưng bạn vẫn cứ làm như thể bị mù

Sotavabadhiro yathā

Mặc dù có một thính lực rất tốt nhưng bạn vẫn cứ làm như thể mình bị điếc nghĩa là : Khi những hành giả đang thực hành thiền mà họ vẫn lắng nghe tất cả các loại âm thanh nào mà tình cờ họ nghe được. Nếu họ làm như vậy, họ sẽ không thiết lập được trạng thái định tâm do chịu sự ảnh hưởng và chi phối của những âm thanh đó. Nếu đã không thể định tâm thì những hành giả này cũng không thể gặt hái được tuệ minh sát. Đó là lý do tại sao, để thiết lập được trạng thái định tâm một cách nhanh chóng, bạn phải làm như thể mình là một người điếc mặc dù đang có một thính lực rất tốt. Nói như vậy không có nghĩa là bạn không nghe thấy được gì khi đang có một thính lực rất tốt, bạn vẫn nghe nhưng cứ lờ đi và làm như thể mình không nghe thấy gì cả. Nói cách khác, bạn phải biết nghe một cách thuần tuý, nghĩa là nghe mà không mang ý thức của mình để can thiệp vào trạng thái nghe đó.   

Tóm tắtMặc dù có một thính lực rất tốt nhưng vẫn cứ làm như bị điếc         

Pannavassa yatha mūgo

Mặc dù có thể nói năng rất lưu loát nhưng bạn vẫn cứ làm như thể mình bị câm nghĩa là : Khi những hành giả đang thực hành thiền minh sát, họ không nên nói chuyện nếu không có vấn đề gì đặc biệt buộc họ phải nói. Trò chuyện trong lúc đang thực hành thiền sẽ phá hỏng năng lực chú ý. Nếu 2 hành giả đang thực hành thiền trò chuyện với nhau thì năng lực chú ý của họ sẽ bị phá hỏng. Nếu nói chuyện với nhau khi đang thực hành thiền trong vòng 5 phút đồng hồ thì năng lực chú ý của họ sẽ bị phá hỏng trong vòng 10 phút. Sau 5 phút đồng hồ nói chuyện họ lại phải mất thêm thời gian phản hồi những thông tin mà mình vừa trao đổi xong… Đó là lý do tại sao đang khi thực hành thiền minh sát, mặc dù có thể nói năng rất lưu loát nhưng bạn vẫn cứ làm như thể mình bị câm vậy.

Tóm tắtMặc dù có thể nói năng rất lưu loát nhưng bạn vẫn cứ làm như thể mình bị câm vậy.

 Balavant dubbalo riva

Mặc dù có một thể lực rất tốt nhưng bạn vẫn cứ làm như thể mình rất yếu đuối và bệnh tật nghĩa là :  Mặc dù có một thể lực rất tốt nhưng trong lúc đang thực hành thiền, những hành giả không nên di chuyển một cách quá nhanh, bởi vì nếu làm như thế thì năng lực chú ý của họ không thể bắt kịp được tiến trình đang chuyển động của thân thể.Từ đó, những hành giả này sẽ không có khả năng tập trung một cách chính xác trong từng giây phút ở hiện tại. Nếu đã không thể tập trung tâm ý một cách chính xác trong từng giây phút ở hiện tại thì họ sẽ không lãnh hội được Giáo Pháp cao siêu. Đó là lý do tại sao đang khi thực hành thiền minh sát, bạn phải làm như thể mình rất yếu đuối và bệnh tật, mặc dù đang có một thể lực rất tốt.

Tóm tắtMặc dù có một thể lực rất tốt nhưng bạn vẫn cứ làm như thể mình là một người yếu đuối và bệnh tật

 Đang khi thực hành thiền minh sát, bạn cần phải di chuyển thân thể một cách nhẹ nhàng như thể mình là một người yếu đuối và bệnh tật. Chỉ khi đã có khả năng tập trung sự chú ý một cách chính xác trong từng giây phút ở hiện tại thì đến lúc đó, bạn mới có thể nhận thức được tính nhẹ nhàng, tính nặng nề, lực thúc đẩy hay lôi kéo của những loại cảm giác…Chỉ khi đã nhận biết được bản chất của các hiện tượng thì đến lúc đó, bạn mới có thể trải nghiệm được trạng thái tan hoại của các hiện tượng ( Udayabbhaya). Chỉ khi đã trải nghiệm được trạng thái tan hoại của các hiện tượng thì đến lúc đó, bạn mới lãnh hội được tính vô thường, khổvô ngã. Chỉ khi đã lãnh hội được tính vô thường, khổ và vô ngã thì đến lúc đó, bạn mới nhận thức được Niết Bàn hạnh phúc như đã mong muốn. Đó là lý do tại sao, khi đang thực hành thiền minh sát, bạn phải làm như thể mình là một người yếu đuối và bệnh tật, chỉ có thể di chuyển một cách nhẹ nhàng mà thôi. Những thiện nam tín nữ là các bậc cha mẹ thiện lành có lòng mong muốn thực hành thiền minh sát cho đến khi nhận thức được Đạo Quả Niết Bàn phải thu thúc hay kiểm soát được thị giác, thính giác, năng lực nói năng của chính mình và có thói quen di chuyển thân thể một cách nhẹ nhàng.Vì vậy, nếu có thể thực hành theo những lời giáo huấn của Tôn Giả Trưởng Lão Kiccāyana, bạn sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng như đã mong muốn.

 

                         

                                      Kinh Chuyển Pháp Luân

                       ( Dhammacakkappavattana Sutta )

   

Trong tiếng Miến Điện, Dhammasakkya là một từ kép có nguồn gốc từ một từ kép khác trong ngôn ngữ Pāli là Dhammacakkappavattana.

Trong từ Dhammacakkappavattana, từ Dhamma biểu thị cho 2 loại trí tuệ. Loại trí tuệ thứ nhất là tính thông thái sâu sắc về Bốn Chân Lý Cao Thượng , tức Trí tuệ Giác Ngộ ( Pativeda Ñāna)mà Đức Phật đã đạt được dưới gốc cây Bồ-đề thiêng liêng. Loại trí tuệ thứ hai là Trí Tuệ Thuyết Pháp ( Paññā Vaggī) mà Đức Phật đã xử dụng để giải thích một cách chi tiết về Bốn Chân Lý Cao Thượng cho 5 nhà tu khổ hạnh tại Vườn Nai ( Migadaya) nghe. Cakka nghĩa là bánh xe, Pavattana nghĩa là thiết lập sự chuyển động. Dhammacakkappavattana là một bài thuyết Pháp vĩ đại nói về sự chuyển động của  “bánh xe pháp ” do tác động của 2 loại trí tuệ vừa nêu trên. Trong ngôn ngữ Miến Điện, Kinh Chuyển Pháp Luân được gọilà Dhammasakkya. Khi Kinh Chuyển Pháp Luân được Đức Phật thuyết ra thì 5 anh em Tôn Giả Kiều-Trần-Như ( Asin Kondhanna) cùng với 10 triệu Chư Thiên và Phạm Thiên

( những người đã đến để lắng nghe Đức Phật thuyết Pháp) đã gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng. Sau đó, tất cả họ đã trở thành những Tu-Đà-Hườn. Kinh Chuyển Pháp Luân là bài Pháp đầu tiên và quan trọng nhất trong vô số những bài Pháp mà Đức Phật đã thuyết. Kinh này đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong 7 cuốn sách nói về Vi Diệu Pháp

( Abhidhamma). Nội dung chính của Kinh Chuyển Pháp Luân đã bao hàm 84 ngàn Pháp môn mà Đức Phật đã chỉ dạy cho muôn loài chúng sanh. Tất cả 84 ngàn Pháp môn này đã được Đức Phật thuyết giảng trong khoảng thời gian là 45 mùa mưa ( 45 vassas). Bốn Chân Lý Cao Thượng ( tức Tứ Diệu Đế) là bài Pháp nòng cốt nằm trong Kinh Chuyển Pháp Luân đã được Đức Phật thuyết giảng. Kinh Chuyển Pháp Luân là bài Pháp đầu tiên đã được Đức Phật thuyết ra mà từ đó các Chư-Thiên và Phạm-Thiên mới bắt đầu biết đến và nhận thức được hương vị của Phật Pháp. Khi được nghe Kinh này, các Chư-Thiên và Phạm-Thiên đã lắng nghe nó với một tâm trạng không biết mệt mỏi. Họ có thói quen thích nghe Kinh Chuyển Pháp Luân với một niềm hạnh phúc lớn lao. Bởi vì các Chư-Thiên và Phạm -Thiên rất tôn kính và yêu mến Kinh này, nên họ rất hay tụng đọc nó. Kinh Chuyển Pháp Luân mang lại nhiều lợi ích to lớn cho cõi thế gian và xuất thế gian. Đó là lý do tại sao những người Phật tử mộ Đạo thường nhấn mạnh tầm quan trọng về việc cần phải học tập Kinh Chuyển Pháp Luân. Họ thường xuyên học tập, tụng đọc và thực hành theo Kinh này. Nếu thực hành theo Kinh Chuyển Pháp Luân thì chắc chắn bạn sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng như đã mong muốn.Trong Kinh Chuyển Pháp Luân có nói đến 2 cách thực hành Đạo sai lầm cần phải từ bỏ, đồng thời cũng nói đến một cách thực hành Đạo đúng đắn khác cần phải noi theo. Sau đây là 2 cách thức hành Đạo cực kỳ sai lầm mà những người Phật tử cần phải xa lánh :

1. Kāmesu Kāmasukhallikānuyoga – Nghĩ rằng những đối tượng hữu hình và nhiều đối tượng khác có thể mang lại sự vui thích rồi từ đó có thói quen bám víu vào chúng. Đây là một cách thực hành Đạo cực kỳ sai lầm.

2. Attakilamathānuyoga –  Tự hành xác là một cách tu hành sai lầm khác. Duy chỉ có cách tu hành thứ ba sau đây là đúng đắn, những người Phật tử nên hành theo:

3. MajjhimapatipadāTrung Đạo

 Kāmesu Kāmasukhallikānuyoga

Nghĩ rằng những đối tượng hữu hình và nhiều đối tượng khác có thể mang lại niềm vui thích. Từ đó, có thói quen bám víu vào những đối tượng này là một cách tu hành sai lầm nghĩa là : Hài lòng với những cảnh đẹp, âm thanh hay , hương thơm và mùi vị dễ chịu, những xúc chạm êm ái, rồi từ đó cố gắng chiếm hữu với lòng tham ái để tận hưởng 5 đối tượng được cho là như ý này. Nổ lực để có thể tận hưởng 5 cảm giác dễ chịu này là một cách tu hành thấp kém sẽ dẫn dắt chúng ta xuống địa ngục khổ đau ( Hino). Đây là cách tu hành thấp kém mà những người già thường hay xử dụng ( Gammo), là cách tu hành của thế giới trần tục đầy ô nhiễm

( Puthujaniko), đây không phải là cách tu hành của những bậc cao thượng và tinh khiết ( Anariya). Đây cũng không phải là cách thực hành giữ Giới, thiền định hay thiền tuệ để dẫn tới Niết Bàn hạnh phúc ( Anatthasamhito).

Đây là một cách tu hành cực kỳ tham lam. Đó là lý do tại sao, bạn cần phải tránh xa lối tu hành nuông chiều theo những cảm giác dễ chịu hay còn gọi là  tu hành theo lối lợi dưỡng  (Kāmesu Kamasukhallika nuyoga).

Tóm tắtCần phải kiêng cữ và từ bỏ những cảm giác dễ chịu

Attakilamathānuyoga

Tự hành xác( Self mortification) là một cách thức hành Đạo sai lầm nghĩa là : Vì nghĩ rằng nếu thân thể cảm thấy tiện nghi thoải mái thì tham ái dễ phát sanh. Từ đó, những người tu theo lối hành xác tìm đủ mọi cách để làm cho thân thể của họ phải bị đau khổ dày vò. Khi thời tiết lạnh đang lạnh ngắt, họ ngâm mình xuống dòng nước lạnh cắt da. Khi trời  nắng nóng nực đến gay gắt họ đốt lửa lên bốn phía và ngồi vào giữa đống lửa để chịu đựng đủ 5 loại sức nóng. Họ xỏ chân vào giữa các cành cây và ngã đầu ngược xuống đất giống như những con dơi trong một thời gian rất lâu để tự làm cho mình đau khổ. Họ nhịn ăn từ một đến bảy ngày. Có nhiều khi đến 15 ngày cũng không ăn  gì cả. Mỗi ngày họ chỉ ăn duy nhất một miếng cơm. Họ thường có thói quen ăn các loài rau quả và cỏ non. Vì vậy, cánh tu theo lối hành xác là nguyên nhân dẫn đến khổ đau ( Dukkho). Nó không phải là cách tu hành của những bậc cao thượng và tinh khiết ( Anariyo). Nó không phải là cách thực hành giữ Giới, thiền định và thiền tuệ để dẫn đến Niết Bàn hạnh phúc

( Anattasainnhito). Những cách tu theo lối hành xác sẽ dẫn dắt con người ta xuống địa ngục.Vì vậy, bạn cũng phải tránh xa lối tu hành này ( Attakilamathanuyoga).

Tóm tắtCần phải tránh xa cách tu theo lối hành xác

 Majjhimapatipadā – Trung Đạo

Người tu hành theo Trung Đạo phải thực hành để gặt hái được những nhân tố sau đây :

-Sammā diţţhiChánh kiến ( Right understanding)

- Sammā sankappaChánh tư duy ( Right Thought)

- SammāvācāChánh ngữ ( Right Speech)

- Sammā kammantaChánh nghiệp ( Right Action)

- Sammā ajjivaChánh mạng ( Right Livelihood)

- Sammā vāyāmaChánh tinh tấn ( Right Effort)

- Sammā satiChánh niệm ( Right Mindfulness)

- Sammā samādhiChánh định ( Right Concentration)

 Những yếu tố vừa nêu trên chính là Bát Chánh Đạo ( Ariyamaggani - 8 Fold Noble path). Bằng cách thực hành Bát Chánh Đạo, Đức Phật đã tự mình khám phá ra cảnh giới trí tuệ và đạt tới giác ngộ tối thượng như một vị Phật. Như Đức Phật đã giải thích một cách chi tiết, những người thực hành Bát Chánh Đạo sẽ phát triển nhận thức, trí tuệ và gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng. Để thực hành Bát Chánh Đạo, bạn cần phải thực hành thiền tứ niệm xứ (  Satipatthāna Bhāvanā, tức thiền minh sát ). Ngài Đại Trưởng Lão Tăng Thống Mahāsī cũng giảng dạy về thiền tứ niệm xứ để phát triển trí tuệ giống như Đức Phật đã  từng giáo huấn. Bài Pháp này chỉ đề cập một cách tóm tắt đến vấn đề này. Theo đúng phương pháp của Ngài Đại Trưởng Lão Tăng Thống Mahāsī, những người thực hành thiền tứ niệm xứ phải chọn một nơi chốn yên tĩnh, ngồi xuống và hội tụ tâm ý một cách chính xác lên bụng. Khi thở vào thì bụng phồng lên, lúc này bạn cần phải hội tụ tâm ý một cách chính xác lên trạng thái chuyển động đang dần dần phồng lên của bụng , kể từ khi bụng bắt đầu phồng lên cho đến khi đã căng hết mức. Khi thở ra thì bụng xẹp xuống, lúc này bạn không nên để cho tâm trí của mình bị lang thang đây đó mà phải tập trung chú ý vào trạng thái chuyển động đang dần dần xẹp xuống của bụng, kể từ khi bụng mới bắt đầu xẹp xuống cho đến khi đã xẹp hẳn, đồng thời cần niệm thầm trong tâm mình “ đang xẹp xuống, đang xẹp xuống…”. Khi năng lực định tâm đã phát triển, bạn sẽ nhận thức được sự khác nhau giữa những hiện tượng thuộc về vật chất và những hiện tượng thuộc về tinh thần. Tiến trình chuyển động đang phồng lên xẹp xuống của bụng, hành động đang ngồi và đang xúc chạm… là những hiện tượng thuộc về vật chất. Vì vậy, chúng không hề có sự nhận thức. Chúng chính là những pháp vật chất. Sự chú ý để nhận biết bụng đang phồng lên, xẹp xuống , hành động đang ngồi, đang xúc chạm… là một pháp thuộc về tinh thần. Vì vậy nó có sự nhận thức. Đến lúc này, bạn đã có thể phân biệt được sự khác nhau giữa những hiện tượng tinh thần ( Nāma – spirits) và những hiện tượng vật chất ( Rūpa – Meterial). Bạn đã có được một sự hiểu biết đúng đắn rằng, con người hay vạn hữu là không hề có bản ngã. Con người chỉ là những sự phối hợp giữa vật chất và tinh thần. Đây chính là lúc mà bạn lãnh hội được chân lý, đã vun trồng Bát Chánh Đạo đến mức hoàn thiện.

 Ba chi thuộc về Giới trong Bát Chánh Đạo

Khi một hành giả tập trung chú ý đến tiến trình đang dần dần phồng lên của bụng tức anh ta đang hành động rất đúng đắn. Hành động một cách đúng đắn tức là đang thực hành 3 chi thuộc về Giới trong Bát Chánh Đạo. Khi đó Chánh nghiệp, Chánh ngữChánh mạng trong tâm thức của hành giả nói trên đã có sự phát triển. Vào lúc này, không có một hành động nào thuộc về thân xác và lời nói của anh ta bị xem là vi phạm Giới luật. Duy chỉ có tâm trí của hành giả là còn có thể bị vi phạm Giới luật mà thôi. Đó là lý do tại sao, khi thực hành sự chú ý một cách tích cực, nghĩa là bạn đang thực hành 3 chi thuộc về Giới trong Bát Chánh Đạo để làm cho chúng phát triển một cách hoàn hảo trong tâm thức của chính mình.

 Ba chi thuộc về Định trong Bát Chánh Đạo

Nổ lực để tập trung sự chú ý vào hiện tượng đang dần dần phồng lên của bụng là Chánh tinh tấn ( Sammāvāyāma magganga – Right effort). Tập trung để chú ý một cách đúng đắn trong từng giây phút ở hiện tại khi bụng đang dần dần phồng lên là Chánh niệm ( Sammàsati – Right mindfulness). Chú ý để nhận thức tiến trình chuyển động đang dần dần phồng lên của bụng, kể từ khi nó bắt đầu phồng lên cho đến khi đã phồng hết mức là Chánh định ( Sammàsamādhi – Right concentration). Như vậy, 3 chi thuộc về Định trong Bát Chánh Đạo đã được hành giả thực hành một cách trọn vẹn khi anh ta đang tập trung sự chú ý để nhận biết bụng của mình đang chuyển động và dần dần phồng lên. 

  Hai chi thuộc về Tuệ trong Bát Chánh Đạo

Khi bụng bắt đầu dần dần phồng lên, ngay lập tức hành giả liền tập trung sự chú ý một cách chính xác vào hiện tượng này. Đó là Chánh tư duy

( Sammāsankappa magganga – Right Thought). Khi sự chú ý của hành giả đang hội tụ trên hiện tượng dần dần phồng lên của bụng, anh ta nhận thức được rằng hiện tượng này là một tiến trình thuộc về vật chất. Cách thức diễn tiến của hiện tượng này khác với tiến trình đang chú ý của chính anh ta, bởi vì tiến trình chú ý là thuộc về tinh thần. Đến lúc đó, hành giả đã có Chánh kiến ( Sammādiţţhi magganga – Right Understanding). Vì vậy, hai chi thuộc về Tuệ trong Bát Chánh Đạo đã được tập trung chú ý ở mức cao nhất. Khi hành giả đang tập trung sự chú ý đến tiến trình dần dần phồng lên của bụng thì 3 chi thuộc về Giới, 3 chi thuộc về Định và 2 chi thuộc về Tuệ trong Bát Chánh Đạo đã được tu dưỡng một cách đúng đắn. Vì vậy, Bát Chánh Đạo đã được vun trồng trong tâm thức của hành giả. Tương tự như vậy, Bát Chánh Đạo cũng đã được vun trồng trong tâm thức của một hành giả nào đó, khi anh ta đang thực hành sự tập trung chú ý để quan sát tiến trình đang dần dần phồng lên và xẹp xuống của bụng, hiện tượng đang ngồi, đang xúc chạm… Vì vậy, tập trung chú ý đến những những hiện tượng này khi chúng đang diễn tiến trong từng khoảnh khắc ở hiện tại là tu dưỡng Bát Chánh Đạo. Khi một người thực hành thiền minh sát tiếp tục tập luyện một cách bền bỉ thì khả năng định tâm của người này sẽ trở thành một năng lực hay sức mạnh tinh thần. Đến lúc đó, khi đang tập trung chú ý đến sự phồng xẹp lên xuống của bụng, tiến trình đang ngồi hay đang xúc chạm…  hành giả sẽ lãnh hội được sự khác nhau giữa những hiện tượng này với sự chú ý của tâm trí. Trạng thái dang phồng xẹp lên xuống của bụng, tiến trình đang ngồi hay đang xúc chạm… là những hiện tượng thuộc về vật chất. Mặt khác, trạng thái chú ý của tâm trí là một hiện tượng thuộc về tinh thần cũng hiện khởi song hành với những hiện tượng vật chất vừa nêu trên. Do đã có khả năng phân biệt được sự khác nhau giữa những hiện tượng thuộc về vật chất và những hiện tượng thuộc về tinh thần, hành giả sẽ gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa vật chất và tinh thần ( Nāmarūpapareccheda Ñāna – The distinction between mind and matterial knowledge).Với sự tiếp tục tập luyện một cách  bền bỉ, đến khi năng lực định tâm ( Samādhi Ñāna ) của hành giả đã đạt tới một mức độ cao và chín muồi thì nó lại càng mạnh mẽ hơn. Theo đó, dần dần hành giả sẽ gặt hái được kiến thức về nhân quả ( paccayaparigaha Nàna – The knowledge of cause and effect ), kiến thức lãnh hội được tính vô thường, khổ và vô ngã

( Sammasana Ñāna -  The knowledge of comprehending about impermanent, suffering and no-self), kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng ( Udayabbaya Ñāna – The knowledge of realising arising and passing away of the phenomena)… Cuối cùng chắc chắn hành giả nói trên sẽ lãnh hội được Đạo Quả và Niết Bàn đúng như hạnh nguyện Ba-la-mật đã hằng mong ước.     

     

 

                 12 loại trí tuệ rút ra từ Kinh Chuyển Pháp Luân

 

Những người Phật tử thuần thành  nên tuân thủ cách thực hành Đạo của Đức Phật, người đã đạt tới giác ngộ tối thượng. Sự kiện lần đầu tiên Đức Phật đã từng giải thích một cách chi tiết về con đường thực hành Đạo của Ngài cho 5 nhà tu khổ hạnh ( Pañca vaggī- Hermit) tại vườn Nai nghe đã được ghi lại trong Kinh Chuyển Pháp Luân ( Dhammacakkappa vattana Sutta). Đức Phật đã nói rằng : “ Hỡi các Tỳ Kheo ! Ta đã không thực hành Đạo theo 2 loại cực đoan sau đây, một là tu hành theo lối lợi dưỡng

( Kāmasukhallikānuyoga – A life given to sensual pleasure) để tìm những cảm giác dễ chịu và hai là tu hành theo lối tự hành xác (Attakilamathanuyoga – A life given to self torment). Ta chỉ tu hành theo 8 Con Đường Cao Thượng ( Majjimapatipadà – Eightfold Noble Path ) hay còn gọi là tu hành theo lối Trung Đạo. Đó là lý do tại sao ta đã lãnh hội được 4 Chân Lý Cao Thượng12 loại trí tuệ. Đức Phật đã tự mình nhận thức được Bốn Chân Lý Cao Thượng dưới cội cây Bồ Đề. Trong một chân lýmà Đức Phật đã chứng ngộ được có chứa đựng 3 loại trí tuệ. Vì vậy, Ngài đã gặt hái được 12 loại trí tuệ.

  Phát triển 3 loại trí tuệ trong một chân lý

- Sacca ÑānaHiểu biết về những điều nên biết

- Kicca Ñàna  - Hiểu biết về những điều nên làm

- Kata Ñāna -   Hiểu biết về những điều đúng đắn đã thực hiện

1. Hiểu biết về 81 kiểu nhận thức hay 81 loại tâm ( Citta) thuộc về cõi thế gian, 41 nhân tố thuộc về tinh thần hay tâm sở ( tức trạng thái tâm-  Cetacikacitta) và 28 loại vật chất ( Rūpa) chính là hiểu biết chân Lý về sự khổ ( Dukkha sacca Nàna) hay hiểu biết về những điều nên biết.

2.  Chân lý về sự khổ chính là 81 loại tâm, 41 nhân tố thuộc về tinh thần ( tức trạng thái tâm hay tâm sở) và 28 loại vật chất. Hiểu biết một cách chính xác về Chân lý này tức là đã hiểu biết về những điều nên làm ( Kicca Ñāna).

3.  Nhận biết được rằng bản thân mình đã có một kiến thức có thể phân biệt được thế nào là sự khổ tức đã có sự hiểu biết về những điều đúng đắn đã thực hiện.

 3 hình thức trí tuệ trong chân lý về nguyên nhân của sự khổ ( Samudaya sacca)

1. Nhận biết được nghiệp tham ái ( Tức nghiệp khao khát những cảm giác dễ chịu - Kammatanhā – Craving for sensual pleasures karma), nhận biết được luồng tâm thức tham ái ( Tức khao khát được hiện hữu -  Bhava Tanhā – Craving for existence), nhận biết được tính khao khát có nhiều của cải không chắc thật ( Vibhavatanhā – Craving for non- existence) tức là đã có sự hiểu biết chân lý về nguyên nhân của sự khổ ( Samudaya sacca Ñāna). Khi đã nhận biết được nguyên nhân của sự khổ tức là đã có sự hiểu biết về những điều nên biết.

2. Nhận biết được rằng cần phải loại bỏ nguyên nhân của sự khổ tức là đã có sự hiểu biết về những điều nên làm ( Kicca Ñāna).

3. Nhận biết được rằng bản thân mình đã loại bỏ được nguyên nhân của sự khổ tức là đã có được cái gọi là Kata Ñāna ( Sự hiểu biết về những điều đúng đắn đã thực hiện).

Mỗi khi nguyên nhân của sự khổ đã bị loại bỏ thì tà kiến ( Micchadiţţhi – The Wrong view) và cánh cửa của địa ngục đã bị khép lại bằng con đường của một Tu-đà-hườn ( Sotāpatti magga – The Stream winner ‘s path). Người ta có thể giảm bớt một phần rất nhiều những thứ ô nhiễm thấp kém bằng con đường của một Tư-đà-hàm ( Sakadāgāmi magga – The Once- returner ‘s path). Tham muốn những cảm giác dễ chịu

( Kammarāga – Desirous of sensual pleasures) và sân hận ( Dosa – Anger) phải được loại bỏ bằng con đường của một A-na-hàm ( Anagāmi magga – The Non – returner ‘s path).Dục sanh ( Rūpa rāga), bất dục sanh ( Arūparāga) và ngã mạn ( Udhacca) phải được loại bỏ bằng con đường của một A-La-Hán ( Arahatta magga – The Arhant ‘s path).

 Ba loại trí tuệ trong chân lý về giải thoát

1. Nhận biết được Niết Bàn là chân Lý giải thoát tứclà đã có hiểu biết về những điều nên biết.

2. Nhận biết được Niết Bàn là cảnhgiới cần phải được nhận thức tức là đã có sự hiểu biết về những điều nên làm ( Kicca Ñāna).

3. Biết rằng bản thân mình đã nhận thức được Niết Bàn  tức là đã có sự hiểu biết về những điều đúng đắn đã thực hiện ( Kata Ñāna).

 

 

 Ba loại trí tuệ trong con đường giải thoát

1. Nhận biết được Chánh kiến ( Sammā diţţhi – Right understanding), Chánh ngữ ( Sammā Vācā – Right Speech), Chánh nghiệp ( Sammā Kammanta – Right Action)… là 8 Con Đường Cao Thượng hay Bát Chánh Đạo. Sự hiểu biết này chính là hiểu biết những điều nên biết.

2. Nhận biết được rằng phải nên phát triển Bát Chánh Đạo trong tâm thức của chính mình tức là đã có sự hiểu biết về những điều nên làm

 ( Kicca Ñāna).

3. Nhận biết rằng Bát Chánh Đạo đã được phát triển trong tâm thức của chính mình  tức là đã có sự hiểu biết về những điều đúng đắn đã thực hiện.

Như vậy, mỗi Chân Lý trong Bốn Chân Lý Cao Thượng ( Âm Hán-Việt dịch là Tứ Diệu Đế - ND) có 3 loại trí tuệ. Tổng cọng trong Bốn Chân Lý Cao Thượng có tất cả 12 loại trí tuệ.

 Những lợi ích của sự nhận biết Bốn Chân Lý Cao Thượng

1. Lợi ích có được khi đã nhận biết chân lý về sự khổ ( Dukkha sacca)là loại bỏ được quan kiến lầm lạc ( Micchadiţţhi – Wrong view) khi nghĩ rằng 5 uẩndễ chịu ( Suba – Pleasantness), thường còn ( Nicca – Permanence ), hạnh phúc ( Sukha – Happiness) và nghĩ rằng chúng như là bản ngã hay có thể điều khiển được ( Atta – Sefl or Controllability).

2. Lợi ích có được khi đã nhận biết chân lý về nguyên nhân của sự khổ

( Samudaya sacca)là loại bỏ được quan kiến lầm lạc khi nghĩ rằng, thế giới này được tạo nên bởi quyền năng của một Đấng Sáng Tạo như Phạm-Thiên ( Brahma), Vishnu…

3. Lợi ích có được khi đã nhận biết chân lý giải thoát ( Nirodha sacca) là loại bỏ được quan kiến  lầm lạc khi nghĩ rằng, Niết Bàn ( Nibbāna – Nirvana) là một cảnh giới vô sắc ( Arùpa realm) – nơi không có sắc uẩn

( Rūpa khanda) mà chỉ có danh uẩn ( Nāma khandha) hiện hữu mà thôi.

4. Lợi ích có được khi đã nhận biết chân lý về con đường giải thoát là loại bỏ được quan kiến lầm lạc khi nghĩ rằng, tu hành theo lối lợi dưỡng ( Kamasukhanllikanuyoga – Enjoying sensual pleasures) hoặc tu hành theo lối tự hành xác ( Attakilamathānuyoga – Self torment) thì sẽ dẫn đến Niết Bàn hạnh phúc. Khi đã nhận thức được Bốn Chân Lý Cao Thượng, bạn sẽ gặt hái lợi ích là có khả năng loại bỏ được những quan kiến lầm lạc ( Micchadiţţhi – Wrong views). Vì vậy, bạn nên chú trọng đến việc thực hành thiền tứ niệm xứ ( Satipatthāna Vipassanā) để nhận thức được Bốn Chân Lý Cao Thượng hay Tứ Diệu Đế.            

 

                      Tiểu sử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

 

 Khi còn trẻ, những sinh viên, học sinh…phải bận bịu với bài vở ở trường. Vì vậy, họ không có thời gian để đọc những loại Kinh Điển của Phật giáo. Thậm chí, một số sinh viên chưa hề biết về tiểu sử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni – Người mà họ thường có thói quen tôn kính quì lạy và đảnh lễ hàng ngày. Những nhà văn thành thạo về Kinh Điển Phật Giáo đã cho xuất bản rất nhiều loại sách bỏ túi nói về tiểu sử của Đức Phật. Tuy nhiên, thậm chí một vài sinh viên trẻ tuổi cũng không có thời gian để đọc những loại sách đó. Vì vậy, để dành riêng cho những sinh viên, học sinh… có lòng mong muốn đọc và học tập về tiểu sử của Đức Phật, chúng tôi đã viết bài tiểu luận ngắn này. Bồ-Tát Cồ- Đàm ( Gotama Boddhisattva) là người mà những Phật tử thường hay tỏ lòng tôn kính tột đỉnh. Trong quá khứ vào thời Đức Phật Nhiên – Đăng ( Dipankara Buddha) còn tại thế, 4 A-tăng-kỳ và 100 ngàn Đại- kiếp trước khi trở thành Phật, Bồ-Tát Cồ Đàm là một  tu sĩ khổ hạnh ( tức Sa Môn – Sramana - Hermit) tên là Sumeda. Vị tu sĩ khổ hạnh có tên là Sumeda này đã nhận được thọ ký

( tức tiên tri hay tiên đoán trước - The prophecy) rằng trong tương lai chắc chắn rằng Ngài sẽ đạt tới giác ngộ tối thượng và trở thành Phật.

1. Trong chu kỳ của thế giới này, Ngài đạt tới giác ngộ tối thượng và trở thành Phật. Khi vào sống ở cõi người,Ngài đã đầu thai vào dạ con của hoàng hậu Đại- Huyễn-Hoá ( Mahā Māyā) vào ngày trăng tròn, thứ năm, tháng āsālha ( tên của một tháng trong lịch Ấn Độ cổ đại, khoảng tháng 6 hay tháng 7 dương lịch , người Miến Điện gọi tên tháng này là Waso), năm 67 thuộc triều đại Mahā.Lý do vì sao Ngài lại đầu thai vào cõi người được Kinh sách chép lại như sau :

 Vào thời Bồ-Tát Cồ-Đàm đang là một vị Chư Thiên sống tại cõi trời Đẩu-Xuất ( Tusita - Celestial Plane). Lúc bấy giờ, các vị Chư-Thiên và Phạm- Thiên đã thỉnh cầu Ngài rằng, đã đến lúc để Ngài đạt tới giác ngộ tối thượng và trở thành Phật. Vì vậy, Ngài nên đầu thai vào dạ con của hoàng hậu Đại-Huyễn- Hoá để sống trong thế giới của loài người.

2. Vào ngày trăng tròn của tháng vesākha ( tên của một tháng trong lịch Ấn Độ cổ đại, khoảng tháng 4 hay tháng 5 dương lịch, người Miến Điện gọi tên tháng này là Kason),ngày thứ 6, năm 68 thuộc triều đại Mahā, Bồ-Tát Cồ-Đàm đã Đản Sanh. Nơi Ngài Đản Sanh là con đường nằm giữa vương quốc Ca-Tỳ-La-Vệ ( Kapilāvathu) và vương quốc Hồ-Thiên ( Devadaha). Vương quốc Ca-Tỳ- La-Vệ do thân phụ của Ngài là Đức vua Tịnh-Phạn ( Sudhodana) trị vì. Hồ- Thiên là vương quốc của thân mẫu Ngài ( Hoàng hậu Đại- Huyễn-Hoá – Mahā Māyā Queen), vương quốc này do ông ngoại của Ngài là Đức vua Thiện-Giác (Chanadipa Rāja) trị vì. Vương quốc Hồ-Thiên có một công viên  rất xinh đẹp và như ý trồng cây Sala ( Assakanna – Sal flowers -  Ngôn ngữ Phật học gọi là cây Vô-Ưu hay cây Song Thọ, dân gian gọi là cây Chai, khoa học thì gọi là cây Hoa Đầu Lân – Couroupita guianemis Aibl – ND) tên là Lâm-Tỳ-Ni ( Lumbini). Tại công viên Lâm-Tỳ-Ni này, khi đang với tay nắm lấy một nhánh cây Vô-Ưu bằng bàn tay phải, hoàng hậu Đại-Huyễn-Hoá đã Đản Sanh Bồ-Tát.

3. Trong ngày trăng tròn của tháng Āsālha, thứ hai, năm 97 triều đại Mahā, Bồ-Tát đã ra đi tìm Đạo. Cuộc từ bỏ vĩ đại này đã dẫn dắt Ngài đến với một cuộc sống không cửa không nhà.

Vì sao Bồ-Tát lại ra đi và chấp nhận một cuộc sống không cửa không nhà ? Bởi vì một ngày nọ, trên đường đi tới công viên hoàng gia, Ngài đã trông thấy 4 cảnh tượng như là những thông tin báo hiệu vĩ đại do Chư thiên tạo ra. Bốn thông tin báo hiệu vĩ đại đó là :  Một người già, một người bệnh, một người chết và một vị ẩn sĩ đáng tôn kính. Khi nhìn thấy những cảnh tượng này, Bồ-Tát đã cảm thấy vô cùng sợ hãi và tỏ lòng thương xót. Sau đó, Ngài đã quyết định ra đi cùng với ngựa Kiền-Trắc

( Kandhaka) và băng qua dòng sông Anomā.

4. Trong ngày trăng tròn của tháng vesākha, thứ tư, năm 103 thuộc triều đại Mahà, Bồ-Tát Cồ Đàm đã đạt tới giác ngộ tối thượng.

Nơi Bồ-Tát đạt tới giác ngộ tối thượng ngày nay được gọi là Bodhigaya

( Âm Hán-Việt dịch là Bồ-Đề-Đạo-Tràng, tiếng Việt hiện đại dịch là Giác Thành – ND), nơi có một ngai vàng của Đức Phật nằm ngay dưới cội cây Bồ-Đề ( Ngai vàng bất khả xâm phạm của Đức Phật gọi là Bồ Đoàn – ND). Bồ-Tát đã đạt tới giác ngộ tối thượng trên ngai vàng bất khả xâm phạm này. Trong canh đầu của đêm ( tức đầu hôm), Bồ-Tát đã phát khởi năng lực hiểu biết về những kiếp sống ở quá khứ ( tức Túc mạng minh - Pubbenivāsa Ñāna). Vào canh giữa hay canh hai của đêm ( tức nữa đêm), Ngài đã phát khởi thần nhãn để có thể nhìn thấy 31 cõi sống trên toàn vũ trụ ( tức Thiên nhãn minh – Dibbacakkhu Ñāna). Trong canh ba của đêm Bồ-Tát đã gặt hái được hạnh phúc tột đỉnh bằng Trí tuệ giải thoát ( Asvakkhaya Ñāna – The bliss of complete emancipation, ngày nay người ta thường dùng từ Giải phóngLiberation thay cho từ Giải thoát – Emancipation – ND). Đến đây, Ngài đã loại bỏ được tất cả những thứ đã từng làm cho thân tâm của Ngài bị ô nhiễm. Vào lúc bình minh vừa rạng, Bồ-Tát đã trở thành Bậc Đại Trí Tuệ và có năng lực hiểu biết bất cứ điều gì trên toàn cõi vũ trụ ( tức Toàn giác - Sabbinuta Ñāna – The Supreme enlightenment).

5. Vào ngày trăng tròn của tháng Vesākha, thứ bảy, năm 103 thuộc triều đại Mahà, Đức Phật đã thuyết Kinh Chuyển Pháp Luân ( Dhammacakkappavattana Sutta). Nơi Đức Phật đã thuyết Kinh Chuyển Pháp Luân là Vườn Nai ( Migadàvana, tiếng Miến Điện gọi là Migadavun ), nằm gần Ba-la-nại ( Banares). Đức Phật thuyết Kinh này vào lúc hoàng hôn, khi ánh trăng mát mẻ đang chiếu sáng. Kinh Chuyển Pháp Luân đã được Đức Phật thuyết cho 5 vị tu sĩ khổ hạnh nghe. Năm tu sĩ khổ hạnh  này là : Asin Kondhaññā ( Tôn giả Kiều-Trần-Như), Asin Vappa, Asin Boddiya, Asin Mahānāma và Asin Assaji.

6. Vào ngày trăng tròn của tháng vesākha, thứ ba, năm 148 thuộc triều đại Mahà, Đức Phật đã nhập Đại- Niết- Bàn ( Parinnibbāna).

Nơi mà Đức Phật đã nhập Đại- Niết- Bàn ngày nay gọi là Câu-Thi-Na-La ( Kusinara). Ngày xưa, nơi đây là một công viên trồng cây Vô-Ưu của những vị vua xứ Malla ( Xứ vật võ). Tại công viên này, Đức Phật đã nằm xuống trên một chiếc giường đặt giữa 2 cây Vô-Ưu. Đầu của Ngài quay về hướng bắc, khuôn mặt của Ngài quay về hướng tây. Khi đang nằm trên chiếc giường này, Đức Phật đã tuyên bố rằng : “ Tất cả những vật được cấu thành ( tức pháp hữu vi - Sankhāra dhamma) đều là đối tượng của sự tan hoại. Vì vậy các con đừng có quên điều này”. Khi vừa nói xong, Đức Phật đã nhập vào Đại- Niết- Bàn.

7. Vào ngày trăng khuyết thứ 12, chủ nhật, năm 148 thuộc triều đại Mahā, người ta đã tổ chức lễ vinh danh và trà tỳ ( tức lễ hoả táng - The cremation) cho Đức Phật.

Các nhà hiền triết ngày xưa  đã từng sáng tác một bài thơ để nói về cuộc đời của Đức Phật, bài thơ như sau :

- Thứ năm đầu thai

- Thứ sáu Đản sanh

- Thứ hai ra đi, cuộc sống không cửa không nhà

- Thứ tư giác ngộ tối thượng   

- Thứ bảy thuyết Kinh Chuyển Pháp Luân

- Thứ ba nhập Đại Niết Bàn

- Chủ nhật tổ chức lễ vinh danh và trà tỳ.

 

                    Thuyết Pháp trong buổi lễ họp mặt nội bộ

 

Trong thời đại ngày nay, thiền minh sát đang phát triển rất thịnh vượng.Vì vậy, đã có những trung tâm thiền được xây dựng trên nhiều thành phố và làng mạc. Một vài trung tâm thiền thường tổ chức một khóa tu trong vòng 10 ngày, một số trung tâm khác lại tổ chức một khóa tu thiền trong vòng một tuần. Tuy nhiên, cũng có một số trung tâm khác nữa chỉ tổ chức khóa tu thiền trong vòng 5 ngày. Những hành giả sẽ đi đến những trung tâm này để học tập và thực hành thiền minh sát. Vào ngày kết thúc khóa tu thiền, lễ bế giảng sẽ được tổ chức. Thông thường trong những ngày này, các bậc Trưởng Thượng và Tỳ-kheo sẽ có những bài thuyết Pháp. Một khóa tu thiền đã được tổ chức tại trung tâm thiền Như Lai ( Tathagata - San Jose – California – Mỹ Quốc) dưới sự chủ tọa của bậc Trưởng Thượng trung tâm thiền Saddhammaramsī ( Ngưỡng Quang- Miến Điện). Trong khóa thiền được tổ chức lần này Ngài đóng vai trò như là một Đại sư. Khóa thiền đã được tổ chức từ thứ tư, ngày trăng tròn 13 tháng Waso năm 1365 theo lịch Miến Điện ( 20 / 07 / 1994) cho đến chủ nhật, ngày trăng khuyết thứ hai tháng Waso cùng năm ( 24 / 07 / 1994). Như vậy, các hành giả đã học tập và thực hành thiền minh sát trong vòng 5 ngày. Hôm kết thúc khóa thiền 5 ngày ( chủ nhật, 24 / 07 / 1994), vào lúc 4 giờ chiều cùng ngày, lễ bế giảng đã được tổ chức. Như đã được thỉnh cầu, bậc Trưởng Thượng trung tâm thiền Saddhammaramsī đã có một bài thuyết Pháp dành cho tất cả mọi người đang có mặt tại buổi lễ. Dưới đây là bài thuyết Pháp :

“ Bài thuyết Pháp hôm nay được chia làm 3 phần :

1. Để được hạnh phúc, bạn có thể thực hành thiền minh sát

2. Không dừng sự chú ý trước khi đạt tới mục đích cuối cùng

3. Thực hành thiền quán niệm trên những hoạt động hàng ngày của chính mình

-   Khi nói rằng để được hạnh phúc, bạn có thể thực hành thiền minh sát, câu nói này có nghĩa là bạn cần phải thực hành thiền minh sát đúng theo phương pháp mà những vị Phật Toàn Giác, Phật Độc Giác và A-La-Hán đã từng thực hành để gặt hái được Niết Bàn hạnh phúc. Bạn nên đi theo con đường của những vị Phật Toàn Giác, Phật Độc Giác và A-La-Hán. Nếu làm như thế thì chắc chắn vào một ngày nào đó, bạn sẽ nhận thức được Niết Bàn – cảnh giới mà các vị Phật và A-La-Hán đã đạt tới.Việc thực hành thiền minh sát mang lại nhiều lợi ích cao thượng. Vì vậy, bạn sẽ được hạnh phúc. Thực hành thiền minh sát là một cách thực hành mang lại lợi ích cao nhất. Nếu có mong muốn xử dụng thời gian rảnh rỗi của mình theo một cách tốt đẹp và lợi ích nhất thì bạn hãy thực hành thiền tứ niệm xứ ( tức thiền minh sát – Satipatthāna vipassanā meditation). Khi đang thực hành thiền minh sát, bạn chỉ làm một việc đơn giản đó là tập trung sự chú ý. Tuy chỉ thực hành đơn giản như thế nhưng bạn sẽ gặt hái được 2 loại lợi ích. Lợi ích thứ nhất là loại bỏ được tính tham lam

( Lobha – Greed), sân hận ( Dosa – Anger ), vọng tưởng( tức nghĩ tưởng viễn vông về những điều không có thật -  Moha – Delusion)… Đây chính là những thứ ô nhiễm ( Kilesa – Defilements) có thể dẫn dắt bạn xuống địa ngục luân hồi ( Niraya Samsāra – Hell in rebirth ‘ cycle ). Mặt khác, bạn sẽ gặt hái được một năng lực định tâm đã chín muồi ( The maturity of concentration). Năng lực này có thể dẫn dắt bạn đến với Niết Bàn hạnh phúc. Trên đây là 2 loại lợi ích mà bạn sẽ gặt hái được trong quá trình thực hành thiền minh sát. Bằng cách thực hành thiền minh sát, trong mỗi sự chú ý, bạn sẽ ngày càng tránh xa được địa ngục luân hồi nhiều khổ đau và ngày càng tiến lại gần với Niết Bàn hạnh phúc hơn. Bạn đã ước nguyện những gì mỗi khi thực hiện những hành động phước thiện ? Mỗi khi thực hiện những hành động đó, bạn hãy nói rằng “ Cầu cho tôi được thoát khỏi địa ngục luân hồi nhiều khổ đau và đạt tới Niết Bàn hạnh phúc một cách nhanh chóng để được mãn nguyện !”. Nói như vậy sẽ mang lại rất nhiều lợi ích. Có khả năng thực hành thiền minh sát cũng mang lại nhiều lợi ích và làm cho bạn được hạnh phúc. Trong mỗi sự chú ý, những người thực hành thiền minh sát có thể thực hiện sự chú ý tối thiểu là trong một giây đồng hồ. Như vậy, trong một phút đồng hồ họ sẽ thực hiện được 60 lần chú ý. Trong một giờ đồng hồ họ sẽ thực hiện được 3600 lần chú ý. Nếu trong một ngày họ thực hành thiền minh sát được 8 tiếng thì trong 5 ngày họ sẽ thực hiện được khoảng 40 giờ đồng hồ ( tức 50400 lần chú ý). Nếu trong một ngày thực hành thiền họ thực hiện được 50400 lần chú ý thì tổng cọng trong 5 ngày họ sẽ thực hiện được 252 ngàn lần chú ý. Hai trăm năm mươi ngàn lần chú ý này là những thiện nghiệp và chúng sẽ mang lại nhiều lợi ích cho đến khi những hành giả thực hành thiền minh sát đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Bằng cách tính theo lối toán học, chúng ta đã nhận thấy rằng, việc thực hành thiền minh sát sẽ mang lại rất nhiều lợi ích. Do đó, bạn sẽ được hạnh phúc khi thực hành loại thiền này.

-  Khi nói rằng không nên tạm dừng sự chú ý trước khi đạt được mục đích cuối cùng, câu nói này có nghĩa là : Sau khi đã kết thúc khóa tu thiền 5 ngày, bạn sẽ  rời khỏi trung tâm thiền Như Lai và trở về nhà. Sau đó, nếu bạn buông lơi sự chú ý và quan sát, thời gian của bạn bị lôi kéo và câu thúc bởi những chuyện khác thì bạn sẽ không gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng ngay trong chính kiếp sống này. Đó là lý do tại sao, bạn không nên dừng sự chú ý và quan sát. Các bậc thầy chú giải Kinh điển đã từng chỉ ra câu nói :

 “ Antarāca Abyouthanena”. Câu này có nghĩa là trước khi đạt tới Đạo quả Niết Bàn thì không nên dừng sự chú ý lại mà phải thực hành nó một cách liên tục.

 Tóm tắtKhông nên dừng sự chú ý cho đến khi đạt được mục đích cuối cùng.

Khi sống trong kiếp người, bạn đã có được những điều kiện sau :

1. Được làm người là một điều kiện rất khó đạt được

2. Được sống là một điều kiện rất khó đạt được

3. Được lắng nghe Giáo Pháp Cao thượng là một điều kiện khó đạt được

4.  Được sống trong thời Giáo Pháp của Đức Phật vẫn đang tồn tại là một điều kiện rất khó đạt được.

 Bởi vì đã gặt hái được 4 điều kiện rất khó đạt được này, bạn có thể đạt tới mục đích cuối cùng của Phật Pháp. Đó là Đạo quả và Niết Bàn.Vì vậy, mặc dù khi đã rời khỏi trung tâm thiền nhưng bạn vẫn phải tiếp tục thực hành sự chú ý và quan sát, đừng nên dừng lại. Quí vị Phật tử và những thính giả thân mến ! Bây giờ tôi sẽ nói một cách chi tiết để mọi người biết rằng mục đích cuối cùng của Phật Pháp là :

a. Đạt tới Niết Bàn thông qua sự nhận thức Đạo Quả của một Tu-Đà-Hườn

b. Đạt tới Niết Bàn thông qua sự nhận thức Đạo Quả của một Tư-Hà-Hàm

c. Đạt tới Niết Bàn thông qua sự nhận thức Đạo Quả của một A-Na-Hàm

d. Đạt tới Niết Bàn thông qua sự nhận thức Đạo Quả của một A-La-Hán

Bốn loại Đạo Quả này đều dẫn tới Niết Bàn hạnh phúc. Tuy nhiên, đó chỉ là sự phản ánh trình độ tu chứng của những người Phật tử khác nhau.Vì vậy, tối thiểu bạn cũng phải gặt hái cho được Đạo Quả của một Tu-Đà-Hườn.

- Khi nói rằng bạn cần phải thực hành sự chú ý một cách chi tiết và liên tục trên các hoạt động hàng ngày của mình nghĩa là : Khi đã trở về nhà sau 5 ngày tu thiền tại trung tâm Như Lai, đến lúc đó, bạn vẫn nên tiếp tục thực hành sự chú ý và quan sát khi đang đi bộ, đang đứng, đang ngồi, đang nằm và những sự chuyển động khác của thân thể mình. Sự thực hành như vậy sẽ đưa bạn đến với mục đích cuối cùng là Niết Bàn. Sự thực hành chú ý một cách chi tiết đến những hoạt động đa dạng hàng ngày được Đức Phật gọi là Sampajanna. Từ Pāli này có nghĩa là sự lãnh hội những chuyển động của thân thể một cách trong sáng ( The clear comprehension of the bodily movements) như khi đang đi bộ, đang đứng, đang ngồi, đang nằm…để nhận biết được bản chất thật sự của chúng. “ Abhikkante Patikkante Sampajanakatihoti”. Đức Phật đã thuyết rằng, chúng ta cần phải tập trung sự chú ý khi đang chuyển động về phía trước và khi đang quay lại phía sau để lãnh hội được bản chất thật sự của những chuyển động thuộc về thân thể. Sự chuyển động về phía trước và quay lại phía sau của thân thể có 4 loại :

a. Chuyển động về phía trước quay lại phía sau khi đang đi bộ

b. Chuyển động về phía trướcquay lại phía sau khi đang đứng

c. Chuyển động về phía trướcquay lại phía sau khi đang ngồi

d. Chuyển động về phía trướcquay lại phía sau khi đang nằm

Chuyển động về phía trước và quay lại phía sau khi đang đi bộ nghĩa là : Nếu  tập trung sự chú ý khi đang đi bộ, bạn sẽ nhận thấy một cách rõ ràng rằng, hành động “  đang dở chân lên”, “ đang bước tới” và “ đang đặt chân xuống” là những chuyển động về phía trước. Khi đã đi qua hết đoạn đường được xử dụng để thiền hành, bạn sẽ đi tới cuối đoạn đường này rồi quay lại. Đây chính là chuyển động quay trở lại phía sau. Khi tập trung chú ý đến hành động “  đang dở chân lên”, “ đang bước tới” và “ đang đặt chân xuống” tức là bạn đang thực hành sự chú ý đến những chuyển động của thân thể ( Sampajanna). Tuy nhiên, khi mới tập sự thực hành thiền minh sát, bạn có thể tập trung sự chú ý đến bất cứ cái gì có tính đặc trưng dễ nhận thấy nhất. Nói cách khác, bạn có thể phân biệt đối tượng bất kỳ nào đó mà mình đã lựa chọn để thực hành sự chú ý với những đối tượng khác một cách rất dễ dàng. Đức Phật đã từng cho phép những đệ tử của Ngài thực hành thiền theo cách vừa nêu. Vì vậy, bạn cũng có thể thực hành như thế. Khi đang thiền hành, bạn luyện tập sự chú ý đến hành động “  đang dở chân lên”, “  đang bước tới”, “ đang đặt chân xuống”... Khi đã đi qua hết đoạn đường được xử dụng để thiền hành bạn sẽ dừng lại, đồng thời quay trở lại phía sau. Ngay lúc này, “ ý định muốn quay lại phía sau” sẽ khởi lên và ý định này là rất dễ nhận thấy. Vì vậy, bạn phải tập trung chú ý để nhận biết “ ý định này”, đồng thời niệm thầm trong tâm mình “ có ý định muốn quay lại phía sau, có  ý định muốn quay lại phía sau…”. Tiếp liền sau ý định này, “hành động quay trở lại phía sau” sẽ hiện khởi. Ngay lúc đó, bạn phải niệm thầm trong tâm mình “ đang quay lại, đang quay lại…” Nếu có thể tập trung chú ý để nhận biết “ ý định muốn quay lại phía sau”  thì năng lực nội quán của bạn đã tiến bộ được 2 bậc. Sự nhận thức về “ ý định muốn quay lại phía sau” thuộc về tinh thần ( Nāma – Spirits). Trong khi đó, “chuyển động quay lại phía sau của thân thể” thì không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất ( Rūpa – Materials). Do đó, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất ( Nāma rūpa pariccheda ñāna – The knowledge of the distinction between mind and matter). Bởi vì tâm thức của bạn “ muốn quay lại phía sau” cho nên “chuyển động quay lại phía sau của thân thể” mới hiện khởi. “ Ý định muốn quay lại phía sau” là nguyên nhân và “ chuyển động quay lại phía sau của thân thể” là kết quả. Vì vậy, bạn đã gặt hái sự hiểu biết về nhân quả ( Paccayaparigaha Ñāna – The knowledge of cause and effect). Từ đó, năng lực nội quán của bạn đã tiến bộ thêm 2 bậc nữa.

- Chuyển động về phía trước và quay lại phía sau khi đang đứng nghĩa là : Bạn có thể nhận biết mình làm việc gì khi đang đứng. Ví dụ, khi bạn đang đứng và cúi gập người xuống phía mặt đất. Một cách rõ ràng, hành động cúi xuống phía dưới là “ chuyển động về phía trước”. Hành động đứng lên sau khi đã cúi xuống là “ chuyển động về phía sau”. Khi đang đứng và thực hiện “hành động cúi xuống”, nếu tập trung sự chú ý cao độ vào hành động này bạn sẽ nhận thấy rằng, “ ý định muốn cúi xuống” đã khởi lên trước “ hành động cúi xuống”. Ngay lúc đó, khi “ ý định muốn cúi xuống…” vừa khởi lên, bạn cần phải tập trung sự chú ý vào nó đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang có ý định muốn cúi xuống, đang có ý định muốn cúi xuống…” “ Ý định muốn cúi xuống” chính là sự nhận thức của tâm trí. Vì vậy nó thuộc về tinh thần. Trong khi đó, “chuyển động cúi xuống của thân thể” thì không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Từ đó, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Do sự thúc đẩy của “ ý định muốn cúi xuống” mà “chuyển động cúi xuống của thân thể” mới hiện khởi. Như vậy “ ý định muốn cúi xuống” là nguyên nhân và “ chuyển động cúi xuống của thân thể” là kết quả. Do đó, bạn đã gặt hái được sự hiểu biết về nhân quả. Khi bạn làm bất cứ một việc gì thì “ ý định muốn thực hiện công việc” sẽ khởi lên trước, “ hành động thực hiện công việc” sẽ khởi lên liền sau đó. Khi “ ý định muốn thực hiện công việc” đang khởi lên, nếu tập trung sự chú ý cao độ vào “ ý định này” thì bạn sẽ nhận thấy rằng nó đã khởi lên một cách rõ ràng. “ Ý định này” là đối tượng cần phải tập trung sự chú ý, đồng thời bạn phải niệm thầm trong tâm “ ý định đang khởi lên, ý định đang khởi lên…”. Sau khi đã cúi xuống, bạn sẽ đứng lên. “Ý định muốn đứng  lên” chính là sự nhận thức của tâm trí. Vì vậy nó thuộc về tinh thần. Trong khi đó, “chuyển động đứng lên của thân thể” thì không hề có sự nhận thức. Vậy nó thuộc về vật chất. Do đó, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Do sự thúc đẩy của “ ý định muốn đứng lên” mà “ chuyển động đứng lên của thân thể” mới hiện khởi. “ Ý định muốn đứng lên” là nguyên nhân và “ chuyển động đứng lên của thân thể” là kết quả. Khi một hành giả thực hành thiền minh sát đã thực chứng được điều vừa nói trên thì hành giả này đã gặt hái được sự hiểu biết về nhân quả.

- Chuyển động về phía trước và quay lại phía sau khi đang ngồi nghĩa là : Khi  đang đảnh lễ Đức Phật, nếu tập trung sự chú ý thì bạn sẽ nhận thấy rằng “hành động cúi lạy” để thể hiện sự tôn kính đối với Ngài chính là “chuyển động về phía trước”. Sau khi đã cúi lạy, bạn sẽ ngẫng lên và trở về vị trí lúc ban đầu. Đây chính là “ chuyển động về phía sau”. Nếu tập trung chú ý cao độ thì bạn sẽ nhận thấy rằng, trước khi “ hành động cúi lạy” xảy đến thì “ ý định muốn cúi lạy” đã khởi lên một cách rất rõ ràng. Ngay khi “ ý định muốn cúi lạy” đang khởi lên, bạn phải tập trung chú ý đến “ ý định này” đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang có ý định muốn cúi lạy, đang có ý định muốn cúi lạy…”.Tiếp liền sau “ ý định muốn cúi lạy” thì “ chuyển động cúi lạy của thân thể” sẽ hiện khởi. Ngay lúc này, bạn cũng phải niệm thầm trong tâm “ đang cúi lạy, đang cúi lạy…”. “ Ý định muốn cúi lạy để thể hiện sự tôn kính đối với Đức Phật” chính là sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về tinh thần. Mặt khác, “ chuyển động cúi lạy của thân thể” thì không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Khi đã thực chứng được như vậy, bạn sẽ gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Do “ ý định muốn cúi lạy” thúc đẩy mà  “chuyển động cúi lạy của thân thể” mới hiện khởi. “ Ý định muốn cúi lạy” chính là nguyên nhân, “ chuyển động cúi lạy của thân thể” là kết quả. Do đó, bạn đã gặt hái được sự hiểu biết về nhân quả. Sau khi đã cúi lạy để thể hiện sự tôn kính đối với Đức Phật, bạn sẽ ngẫng lên, “ ý định  muốn ngẫng lên” sẽ hiện khởi rất rõ ràng trước “ chuyển động ngẫng lên của thân thể”. Bạn cần phải tập trung sự chú ý để nhận biết “ ý định này” đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang có ý định ngẫng lên, đang có ý định ngẫng lên…”. Tiếp liền sau “ ý định muốn ngẫng lên” thì “ chuyển động ngẫng lên của thân thể” sẽ hiện khởi. Ngay lúc đó, bạn phải tập trung chú ý để nhận biết “ chuyển động ngẫng lên này” đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang ngẫng lên, đang ngẫng lên…”. “ Ý định muốn ngẫng lên” chính là sự nhận thức của tâm trí. Vì vậy nó thuộc về tinh thần. Trong khi đó,

chuyển động ngẫng lên của thân thể” thì không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Do đã thực chứng được như vậy, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Do sự thúc đẩy của “ ý định muốn ngẫng lên” mà “ chuyển động ngẫng lên của thân thể” mới hiện khởi. Như vậy, “ Ý định muốn ngẫng lên” chính là nguyên nhân và “ chuyển động ngẫng lên của thân thể” là kết quả. Khi đã thực chứng được qui luật nói trên, bạn sẽ gặt hái được sự hiểu biết về nhân quả.

- Chuyển động về phía trước và quay lại phía sau khi đang nằmnghĩa là : Khi đang ở trong tư thế ngồi, bạn nằm sấp xuống và chuồi người về phía trước. Hành động này là “ chuyển động về phía trước”. Sau khi đã thực hiện như vậy, bạn sẽ ngồi bật dậy và đây là “ chuyển động về phía sau”. Bằng cách chú ý cao độ bạn sẽ nhận thức được rằng, “ ý định muốn nằm sấp xuống và chuồi người về phía trước” đã khởi lên trước khi “ hành động muốn nằm sấp và chuồi người về phía trước” xảy đến. Bạn cần phải tập trung sự chú ý đến “ ý định này” đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang có ý định nằm sấp và chuồi người về phía trước, đang có ý định”… Tiếp liền sau “ ý định này” là “chuyển động nằm sấp và chuồi người về phía trước” sẽ hiện khởi. Ngay lúc này, bạn cũng phải niệm thầm trong tâm “ đang nằm sấp và chuồi người về phía trước, đang nằm sấp và…”. “ Ý định muốn nằm sấp xuống và chuồi người về phía trước” chính là sự nhận thức của tâm trí. Vì vậy nó thuộc về tinh thần. Trong khi đó, “ chuyển động nằm sấp xuống và chuồi người về phía trước” là không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Đến lúc này, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được  sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Do bị “ ý định muốn nằm sấp xuống và chuồi người về phía trước” thúc đẩy mà “ chuyển động nằm sấp xuống và chuồi người về phía trước” mới hiện khởi. “ Ý định nằm sấp xuống và chuồi người về phía trước” là nguyên nhân. “ Chuyển động nằm sấp xuống và chuồi người về phía trước” là kết quả. Vì vậy, khi thực chứng được qui luật, bạn đã gặt hái được sự hiểu biết về luật nhân quả. Sau khi đã “ nằm sấp xuống và chuồi người về phía trước” bạn sẽ “ngồi bật dậy” để trở lại tư thế lúc ban đầu. Ngay lúc này, nếu tập trung chú ý cao độ thì bạn sẽ nhận thấy rằng, “ ý định muốn ngồi bật dậy” đã khởi lên một cách rất dễ nhận thấy. Nó khởi lên trước khi “ chuyển động ngồi bật dậy” xảy đến. Bạn cần phải tập trung chú ý để nhận biết “ ý định này”, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang có ý định ngồi bật dậy, đang có ý định ngồi bật dậy…”. Tiếp đến, khi “ chuyển động ngồi bật dậy” khởi lên, bạn cũng cần phải chú ý để nhận biết nó, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang chuyển động ngồi bật dậy, đang chuyển động ngồi bật dậy…”. “ Ý định muốn ngồi bật dậy” chính là sự nhận thức của tâm trí. Vì vậy nó thuộc  về tinh thần. Trong khi đó, “ chuyển động ngồi bật dậy” thì không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Do đã thực chứng được như thế, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Do đó, nếu có thể tập trung sự chú ý để nhận biết được những chuyển động về phía trước và quay lại phía sau của thân thể thì bạn sẽ kinh nghiệm được những trạng thái nhận thức khi đang nội quán. Đó chính là kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất ( Nāma Rūpa pariccheda Ñāna) và sự hiểu  biết về luật nhân quả ( Paccaya pariggaha Ñāna). Kể từ khi đã kinh nghiệm được 2 trạng thái nhận thức về nội quán nói trên, chắc chắn bạn sẽ được tái sanh vào 2 cảnh giới an vui ( Sugatibhava), đó là cõi người và cõi Chư Thiên. Đến lúc này, có thể nói rằng, bạn đã trở thành Tiểu Tu-Đà-Hườn ( Cùla Sotāpaññā). Việc lắng nghe thuyết Pháp với trạng thái tâm hoan hỷ như ngày hôm nay cũng giống như việc bạn đã thực hành thiền minh sát 5 ngày tại trung tâm thiền Như Lai. Về sau này, bạn đừng nên ngưng nghỉ việc thực hành thiền và chú ý theo dõi những hoạt động hàng ngày của mình. Bằng cách thực hành như thế, chúng tôi cầu chúc cho bạn có thể đạt tới Niết Bàn hạnh phúc, loại bỏ được tất cả những nổi khổ đau một cách nhanh chóng, có được một tâm trí an nhiên tự tại đúng như mong muốn. Lành thay !

 

                                                                        

                          Sứ mệnh truyền giáo ở hải ngoại       

 

Bậc Trưởng Thượng trung tâm thiền Saddhammaramsī đã viết một bản tóm tắt về sứ mệnh truyền giáo của Ngài ở hải ngoại dành cho những người Phật tử có quan hệ với mình. Trong bản tóm tắt này, Ngài đã chỉ ra một trình tự để gặt hái kiến thức và tích lũy phước báu. Chuyến xuất ngoại hoằng Pháp của bậc Trưởng Thượng đã được Daw Myo Theint

( sống tại Ngưỡng-Quang, tức Rangon) và Daw Khin Khin Gyi ( đến từ San Jose – California) cùng đứng ra tổ chức. Hiệp hội Phật tử Đức Tin Tịnh Xá Luân Đôn ( The Buddhist Trust Association London Vihara) đã cung thỉnh bậc Trưởng Thượng đến Vương Quốc Anh để thuyết Pháp và giáo huấn về thiền minh sát. Trong chuyến hoằng Pháp ở hải ngoại này, tháp tùng bậc Trưởng Thượng có tiến sĩ U Mya Aung và U Htun Kyi. Phái đoàn đã rời phi trường Ngưỡng Quang để đi Tân-Gia-Ba

( Singapore) vào ngày mồng 5 tháng 6 năm 1994. Tại phi trường Tân-Gia-Ba, U Aung Than và Daw Khin Mya Mya cùng gia đình, U Nay Win và Daw Than Than Sein cùng gia đình, U More Kyaw Thaung và em gái Ma Pale cùng nhiều Phật tử mộ Đạo khác đã đến cung nghênh bậc Trưởng Thượng và phái đoàn. Sau đó, bậc Trưởng Thượng đã cùng với tiến sĩ U Mya Aung và U Htun Kyi rời khỏi Tân-Gia-Ba vào ngày mồng 8 tháng 6 năm 1994 để đến phi trường Luân-Đôn vào ngày mồng 9 tháng 6 năm 1994.Tại phi trường Luân-Đôn, bậc Trưởng Thượng trung tâm thiền Saddhammramsī đã gặp gỡ tiến sĩ U Rewata (bậc Trưởng Thượng của Phật Giáo Nguyên Thủy tại thành phố Birmingham – Vương Quốc Anh), tiến sĩ U Hla Myaing ( đến từ tòa đại sứ Miến Điện tại Vương Quốc Anh) và nhiều Phật tử mộ Đạo đến từ Hiệp Hội Đức Tin Tịnh Xá Luân Đôn. Lịch trình viếng thăm và hoằng Pháp của phái đoàn như sau :

1. Tổng thời gian viếng thăm và hoằng Pháp là 2 tháng 13 ngày.

2. Đã viếng thăm và hoằng Pháp tại 5 quốc gia.

3. Thuyết Pháp và hướng dẫn thực hành thiền minh sát tại 8 trung tâm thiền.

  2 tháng 13 ngày

Trong khoảng thời gian 2 tháng 13 ngày viếng thăm và hoằng Pháp tại hải ngoại, phái đoàn đã ở lại Tân-Gia-Ba 4 ngày, Vương quốc Anh 21 ngày, Cọng hòa Pháp 7 ngày, 5 ngày tại Nữu- Ước ( New york – U.S.A), 16 ngày tại San Jose, 5 ngày tại Chicago, 5 ngày tại Los Angeles và 5 ngày tại Hạ-Uy-Di ( Hawaii).

 5 quốc gia

Phái đoàn đã viếng thăm và hoằng Pháp tại 5 quốc gia :

1. Tân-Gia-Ba ( Singapore)

2. Vương Quốc Anh

3. Cọng Hòa Pháp

4. Hiệp Chủng Quốc ( U.S.A)

5. Nhật Bản ( chỉ quá cảnh – Transit)

 Thuyết Pháp và hướng dẫn thực hành thiền minh sát

Phái đoàn đã thuyết Pháp và hướng dẫn thực hành thiền minh sát tại 8 trung tâm thiền. Đầu tiên là trung tâm thiền Sojour tạiTịnh Xá Luân Đôn vào ngày mồng 9 tháng 6 năm 1994.Tại đây, phái đoàn đã thuyết Pháp trong vòng 2 ngày, một ngày dành cho các thính giả ngoại quốc và một ngày dành cho các thính giả Miến Điện. Sau những thời thuyết Pháp, các thính giả ngoại quốc đã có những câu hỏi về Phật Pháp. Một vài câu trả lời mà những tín đồ Phật Giáo nào cũng cần phải biết đã được các Phật tử mộ Đạo thực hiện. Đó là những câu trả lời đúng đắn và chính xác.Vào ngày 13 và 14 tháng 6 năm 1994, bậc Trưởng Thượng trung tâm thiền Saddhammaramsī đã thuyết Pháp về những lợi ích của việc thực hành thiền minh sát. Tiến sĩ U Mya Aung đã thông dịch bài Pháp thoại sang tiếng Anh. Thực hành thiền tứ niệm xứ ( Satipatthāna Vipassanā Bhāvanā) là một công việc tốt đẹp và lợi ích nhất. Khi thực hành thiền tứ niệm xứ, bạn chỉ làm một việc duy nhất là thực hành sự chú ý để nhận thức. Tuy nhiên, khi thực hành sự chú ý như thế, bạn sẽ gặt hái được 2 loại lợi ích. Lợi ích thứ nhất là bằng cách thực hành thiền tứ niệm xứ, trong mọi sự chú ý, bạn sẽ loại bỏ được những thứ ô nhiễm ( Kilesà – Defilement) như tính tham lam ( Lobha – Greed), sân hận ( Dosa – Anger) và vọng tưởng ( Moha – Delusion). Những thứ ô nhiễm này có thể đưa bạn xuống địa ngục nhiều khổ đau. Lợi ích thứ hai là trong mọi sự chú ý, khi năng lực định tâm của bạn đã chín muồi và trở nên mạnh mẽ thì năng lực này sẽ đưa bạn đến với Niết Bàn hạnh phúc. Vì vậy, 2 loại lợi ích của thiền minh sát đã được thiết lập. Bằng cách thực hành thiền tứ niệm xứ, trong mọi sự chú ý, bạn sẽ ngày càng tránh xa được địa ngục luân hồi ( Niraya Samsāra – Hell in rebirth ‘s cycle) nhiều khổ đau. Trong mọi sự chú ý, bạn sẽ ngày càng tiến lại gần Niết Bàn hạnh phúc hơn. Đó là lý do tại sao việc thực hành thiền tứ niệm xứ là một công việc tốt đẹp và lợi ích nhất. Mặc dù việc thực hành thiền tứ niệm xứ là một công việc tốt đẹp và lợi ích nhất. Tuy nhiên, những người mới tập sự thực hành loại thiền này sẽ chưa thấy được như thế. Sự tốt đẹp và lợi ích nói trên sẽ trở nên rất dễ nhận thấy trong giai đoạn giữa và giai đoạn cuối của quá trình thực hành thiền. Mặc dù những lợi ích mà những người mới tập sự thực hành thiền tứ niệm xứ đã gặt hái được là chưa thể nhận thấy. Tuy nhiên, nếu chúng ta xử dụng cách tính của toán học thì những lợi ích đó sẽ trở nên rất dễ nhận thấy. Những hành giả thực hành thiền tứ niệm xứ có thể thực hành sự chú ý tối thiểu là trong một giây đồng hồ. Như vậy, trong một phút đồng hồ họ sẽ gặt hái được 60 sự chú ý, trong một giờ đồng hồ họ sẽ gặt hái được 3600 lần chú ý. Tất cả ba ngàn sáu trăm sự chú ý này đều là những thiện nghiệp hay phước báu ( Dhamma Kusala – Merits). Với thời gian, những phước báu này sẽ dẫn dắt những hành giả đến với Niết Bàn hạnh phúc. Trong mọi sự chú ý, tính khao khát muốn chiếm hữu sự vật ( tức tham ái - Tanhā – craving) sẽ không có cơ hội để khởi lên.Vì vậy, nó đã bị loại bỏ. Kể từ khi tham ái đã bị loại bỏ, tính bám víu

( Upadāna – Clinging) có nguyên nhân từ tham ái cũng sẽ bị triệt tiêu. Bởi vì tính bám víu đã bị triệt tiêu cho nên nghiệp ( Kamma – Action) sẽ bị  tiêu hủy. Mỗi khi nghiệp đã bị tiêu hủy thì sự hiện hữu ( Bhava – Existence) sẽ không còn nữa. Bởi vì sự hiện hữu đã không còn nữa, nên những nguyên nhân của khổ đau như tái sanh, tuổi già, bệnh tật, cái chết, lo âu, sầu khổ và than khóc…cũng sẽ chấm dứt. Do đó, bậc Trưởng Thượng đã chỉ ra rằng trong một giờ thực hành thiền tứ niệm xứ, bạn có thể loại bỏ được 3600 nổi khổ đau đang hiện hữu. Vào lúc kết thúc bài thuyết Pháp này, một phu nhân người Tích Lan ( Sri Lanka) hiện sống tại Luân-Đôn đang có mặt giữa những thính giả đến nghe thuyết Pháp đã hỏi rằng : “ Bằng cách thực hành thiền tứ niệm xứ trong vòng một giờ, người ta sẽ loại bỏ được 3600 loại khổ đau đang hiện hữu. Thế thì điều vừa được đề cập có xuất xứ từ Tạng Kinh ( Sutta Pitaka) hay có xuất xứ từ Tạng Vi Diệu Pháp ( Abhidhamma Pitaka) ? Câu trả lời cho câu hỏi này đã được thực hiện ngay lập tức : “ Có một sự thật nói rằng, bằng cách thực hiện thiền tứ niệm xứ trong vòng một giờ thì 3600 nỗi khổ đau đang hiện hữu như tuổi già, bệnh tật, cái chết, sầu khổ và khóc than đã bị loại bỏ. Sự thật này không phải xuất xứ từ Tạng Kinh hay Tạng Vi Diệu Pháp. Nó có xuất xứ từ thuyết Nhân Duyên ( Hetu paccaya - Dependent Origination). Thuyết này đã nói rằng, khi nguyên nhân của 3600 loại hiện hữu đã bị loại bỏ thì 3600 loại hiện hữu này sẽ bị triệt tiêu. Vì 3600 loại hiện hữu đã bị triệt tiêu, nên bạn sẽ gặt hái được 3600 phước báu. Tiếp đến, một người đàn ông Tích Lan quí phái hiện sống tại Luân Đôn đã có một câu hỏi khác : “ Kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa vật chất và tinh thần, sự hiểu biết về luật nhân quả…mà chúng tôi đã gặt hái được ngay trong kiếp sống này sau khi đã thực hành thiền tứ niệm xứ có thể giúp cho chúng tôi gặt hái được tuệ minh sát trong những kiếp sống ở tương lai hay không ?”. Câu trả lời là : “ Sau khi thực hành thiền tứ niệm xứ trong kiếp sống này, quí vị không thể mang theo tuệ minh sát hay năng lực nội quán mà mình đã gặt hái được sang những kiếp sống kế tiếp. Chỉ khi trong những kiếp sống ở tương lai, nếu lại tiếp tục thực hành loại thiền này theo một phương pháp đúng đắn thì quí vị mới có thể gặt hái được tuệ minh sát trong những kiếp sống ấy. Tuy nhiên, nếu có thể thực hành thiền tứ niệm xứ trong kiếp sống này cho đến khi đạt tới con đường trí tuệ và quả vị tu chứng của một Tu-Đà-Hườn ( Sotāpatti magga Ñāna và phala Ñāna), thì đến lúc đó, quí vị mới có thể gặt hái được tuệ minh sátĐạo Quả trong những kiếp sống ở tương lai”. Đây là câu trả lời của bậc Trưởng Thượng trung tâm thiền Saddhammaramsī.

 Từ Vương Quốc Anh đến Cọng Hòa Pháp                                                                        Sau khi đã ở lại Luân Đôn Tịnh Xá để thuyết Pháp và giáo huấn về phương pháp thực hành thiền minh sát. Bậc Trưởng Thượng trung tâm thiền Saddhammaramsī đã nhận được lời cung thỉnh của Đại đức U Vijaya để đến thăm Trung tâm thiền Giáo-Pháp-Thích-Ca Mâu-Ni

( Sakyāmuni Sasanā Yeiktha ) tại Cọng Hòa Pháp. Vì vậy, vào ngày 30 tháng 6 năm 1994, bậc Trưởng Thượng ( Sayadaw) đã cùng với U Paññāsīha ( sống tại Luân Đôn) và tiến sĩ U Mya Aung đã rời Luân-Đôn để đến Cọng Hòa Pháp.Tại một phi trường quốc tế ở Pháp-Quốc, Đại Đức U Vijaya và những hành giả của trung tâm thiền Giáo-Pháp-Thích Ca-Mâu-Ni đã đến cung nghinh bậc Trưởng Thượng và phái đoàn. Từ phi trường này, bậc Trưởng Thượng và phái đoàn đã đi xe hơi đến Montbeon ( một ngôi làng ở Cọng Hòa Pháp – nơi Đại Đức U Vijaya đã sáng lập Trung tâm thiền Giáo Pháp Thích-Ca Mâu-Ni). Tại trung tâm thiền này, từ ngày mồng 1 cho đến ngày mồng 6 tháng 7 năm 1994, bậc Trưởng Thượng đã thuyết Pháp và giáo huấn về phương pháp thực hành thiền minh sát. Khi buổi trình Pháp của các Phật tử với bậc Trưởng Thượng đang diễn ra tại trung tâm thiền này thì có một Tu nữ người Việt Nam

 (Vietnamese Bhikkhuni - Vietnamese Nun) có Pháp Danh là Susata đã trình rằng : “ Con đã có vô lượng khổ đau với 5 uẩn của mình. Mặc dù hiện nay khả năng chú ý của con chưa được tốt, nhưng con vẫn không bám víu vào ngũ uẩn của mình. Trong một mức độ tối thiểu nào đó, con đã thấy rằng ngũ uẩn là đáng kinh tởm và nhàm chán. Như vậy con đã thực hành Phật Pháp đúng hay sai?”. Bậc Trưởng Thượng đã trả lời rằng  trạng thái nội quán như thế là tốt. Mặc dù khả năng chú ý và tiến trình phát triển nội quán của hành giả chưa được tốt. Tuy nhiên, hành giả đã kinh  nghiệm được những cảm giác khổ đau. Điều này về lâu về dài sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho hành giả trong suốt quá trình tu tập. Không bám víu vào ngũ uẩn ( Virāga) là tốt. Không bám víu vào ngũ uẩn là con đường duy nhất có thể khiến cho hành giả được giải phóng khỏi những khổ đauVimutti. ( Ngày nay người ta thường dùng từ giải phóng thay cho từ giải thoát – ND). Những bậc thầy chú giải Kinh Điển đã từng giải thích rằng Viràga nghĩa là Đạo Pháp ( Magga Dhamma). Virāga  còn có nghĩa là Đạo Quả và Niết Bàn. Một tâm trí không bị dính mắc vào ngũ uẩn là nguyên nhân dẫn đến việc gặt hái Đạo Quả và Niết Bàn. Đây là câu trả lời của bậc Trưởng Thượng.

Hai câu hỏi xứng đáng

Vào ngày mồng 2 tháng 7 năm 1994, từ 8 giờ sáng đến 10 giờ sáng, bậc Trưởng Thượng đã lắng nghe thời trình Pháp của các hành giả. Vào ngày mồng 3 tháng 7 cùng năm, sau khi dùng điểm tâm xong, các hành giả tại trung tâm thiền Thích-Ca Mâu-Ni đã tổ chức một buổi lễ long trọng nhằm mục đích đảnh lễ bậc Trưởng Thượng. Tại buổi lễ này, có một hành giả người Việt Nam đã từng thực hành thiền minh sát 1 tháng tại Ngưỡng-Quang và 10 ngày tại Cọng Hòa Pháp đã thỉnh cầu bậc Trưởng Thượng cho phép bà được đặt một câu hỏi. Câu hỏi như sau  : “ Con đã từng thực hành thiền minh sát, vậy con có thể nhận thức được Phật Pháp ngay trong kiếp sống này hay không ?”. Bậc Trưởng Thượng đã trả lời rằng  : “ Kể từ khi thí chủ đã có thể nhận thức một cách liên tục 4 Pháp khó đạt được thì lúc đó thí chủ sẽ nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng”. Đầu tiên, câu trả lời đã được bậc Trưỏng Thượng tóm tắt như vậy. Sau đó, Ngài đã gửi đến các thính giả đang có mặt tại buổi lễ nói trên một bài Pháp ngắn gọn và súc tích. Ngài nói rằng bạn vẫn có thể nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng như đã mong muốn. Khả năng đó chính là sự nhận thức được 4 Pháp khó đạt được một cách liên tục. Bốn Pháp hiếm hoi đó là:

 1. Có quyền được làm người

2. Có quyền được sống như một con người

3. Có quyền được lắng nghe Giáo Pháp

4. Có quyền được sống trong thời Phật Pháp vẫn còn tồn tại

 Sau khi đã lắng nghe câu trả lời thứ nhất của bậc Trưởng Thượng, hành giả Việt Nam nói trên đã tiếp tục đặt câu hỏi thứ hai :  “ Ngoài 4 điều kiện khó đạt được mà Ngài vừa nói, có còn những nhân tố nào khác nữa không ?”. Bậc Trưởng Thượng đã trả lời rằng : “ Ngoài 4 điều kiện khó đạt được mà tôi vừa đề cập còn có thêm 2 nhân tố khác nữa cần phải hội đủ để nhận thức được Giáo Pháp Cao thượng, đó là :

1.Thầy giáo hay người hướng dẫn cách thực hành Phật Pháp phải có đủ khả năng hướng dẫn cho các hành giả một phương pháp thực hành thiền minh sát đúng đắn cho đến khi họ đạt tới Đạo Quả Niết bàn.

2. Những hành giả thực hành thiền minh sát cần phải thực hành một cách bền bỉ cho đến khi đạt tới Đạo Quả Niết Bàn. Nếu 2 nhân tố này được hoàn thiện thì bạn sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao thượng như đã mong muốn. Ngược lại, nếu 2 nhân tố này không được hoàn thiện thì bạn sẽ không thể gặt hái được Giáo Pháp Cao thượng.

Từ Pháp-Quốc đến Washington D.C ( Quận trung tâm Hoa-Thịnh-Đốn)

Vào ngày cuối cùng của 6 ngày an cư tại trung tâm thiền Thích-Ca Mâu-Ni ở Cọng Hòa Pháp, ngày mồng 7 tháng 7 năm 1994, bậc Trưởng Thượng trung tâm thiền Saddhammaramsī đã cùng với U Paññāsīha

( sống tại Luân Đôn) và tiến sĩ U Mya Aung đã rời khỏi Cọng Hòa Pháp để tới phi trường quốc tế Luân Đôn. Sau khi đã nghỉ lại một thời gian ngắn tại phi trường này, phái đoàn hoằng Pháp tiếp tục lên đường đến Washington D.C tại Hiệp Chủng Quốc ( U.S.A). Đại đức U Vijaya hiện sống tại trung tâm thiền Thích- Ca Mâu-Ni ( Cọng Hòa Pháp) cũng đi cùng với phái đoàn. Phái đoàn hoằng Pháp đã rời khỏi phi trường Luân Đôn vào lúc 12 giờ trưa cùng ngày. Đến 5 giờ chiều ngày mồng 7 tháng 7 năm 1994 thì phái đoàn đã đến phi trường Washington D.C. Tại phi trường này, Ngài U Kesala, Maung Htun Linn và Maung Hpyo Win đã đợi sẵn để cung nghinh bậc Trưởng Thượng và phái đoàn. Khi bậc Trưởng Thượng và phái đoàn đến Washington D.C thì họ đã ở chung với bậc Trưởng Thượng trung tâm thiền Chammayay và Ngài Bombay tại Tu viện Hạnh Phúc- Mangāla Rāma ( Nơi Ngài U Kelasa đang cư trú). Vào ngày mồng 9 tháng 7 năm 1994, từ 1 giờ chiều cho đến 2 giờ chiều, bậc Trưởng Thượng trung tâm thiền Saddhammaramsì đã thuyết một bài Pháp nói về 4 điều kiện khó đạt được. Đã có khoảng 20 người Miến Điện mộ Đạo đến để nghe Pháp và họ đã lắng nghe Ngài một cách rất cung kính. Vào ngày mồng 10 tháng 7, từ 1 giờ chiều đến 2 giờ chiều, bậc Trưởng Thượng cũng đã thuyết Pháp cho khoảng 20 thính giả người Miến Điện. Thời thuyết Pháp này đã đề cập đến 4 phẩm chất cần phải có để trở thành một Tu-Đà-Hườn ( Sotāpaññā – The Stream Winner) và 24 loại Tu-Đà-Hườn. Thời thuyết Pháp nói về 24 loại Tu-Đà-Hườn được chia làm 3 phần với 3 tiêu đề được tóm tắt như sau :

1. Ba kiểu hiện hữu đã được xếp loại trong vô lượng kiếp sống

2. Hai nhân tố vượt trội đã được xếp loại ( Dùra)

3. Bốn cách thức thực hành đã được xếp loại

 “Ba kiểu hiện hữu đã được xếp loại trong vô lượng kiếp sống” khi đem nhân với “ hai nhân tố vượt trội đã được xếp loại ( Dūra) thành ra 6 kiểu hiện hữu. Khi đem “ 6 kiểu hiện hữu này” nhân với “ Bốn cách thức thực hành đã được xếp loại” thì sẽ có 24 kiểu hiện hữu. Sau đó, bậc Trưởng Thượng đã giải thích một cách chi tiết về “ bốn cách thức thực hành đã được xếp loại”. Đây là 4 cách thức mà bạn thường gặp phải trong quá trình thực hành thiền minh sát cho đến khi trở thành một Tu-Đà-Hườn: 

1. Thực hành thiền minh sát với những trạng thái tâm thức căng thẳng và khó khăn, kinh nghiệm được Phật Pháp một cách chậm chạp.

2. Thực hành thiền Minh sát với những trạng thái tâm thức căng thẳng và khó khăn nhưng kinh nghiệm được Phật Pháp một cách nhanh chóng.

3. Thực hành thiền minh sát một cách dễ dàng và thuận tiện nhưng kinh nghiệm được Phật Pháp một cách chậm chạp.

4. Thực hành thiền minh sát dễ dàng và thuận tiện, kinh nghiệm được Phật Pháp một cách nhanh chóng.

Trong 4 cách thức thực hành thiền minh sát này thì “ các hành giả thực hành thiền với những trạng thái tâm thức căng thẳng, khó khăn và kinh nghiệm được Phật Pháp một cách chậm chạp” phải có khả năng thực hành thiền một cách bền bỉ cho đến khi thiết lập được trạng thái tâm thức có thể “ để mặc cho thân xác đau khổ và đừng để tâm đến nó”.

Có 3 phương pháp thực hành để vượt qua khổ thọ ( Dukkha Vedanā) :

a. Thực hành thiền với mục đích làm cho khổ thọ biến mất đi.

b.  Thực hành thiền với trạng thái tâm tấn công để thoát khỏi khổ thọ

c. Thực hành thiền để nhận biết bản chất thật sự của khổ thọ.

-  Đang khi thực hành thiền với mục đích làm cho khổ thọ biến mất đi, bạn đã có mong muốn gặt hái được những tiện nghi thoải mái. Như vậy là tham lam ( Lobha - Greed). Bạn thực hành thiền minh sát là để loại bỏ tính tham lam. Trong khi đó, bạn lại mong muốn được thuận tiện trong mọi sự chú ý. Do đó, tính tham lam đã khiến cho tâm trí của bạn bị ô nhiễm. Trạng thái ô nhiễm của tâm sẽ khiến cho bạn kinh nghiệm, phát triển và gặt hái được Phật Pháp một cách rất chậm chạp. Vì vậy, bạn nên tránh xa cách thực hành thiền lầm lạc này.

- Khi thực hành thiền minh sát với một trạng thái tâm tấn công để thoát khỏi khổ thọ thì điều này chỉ khiến cho bạn gia tăng tính sân hận và buồn bực ( Domanassa – Grief). Bạn thực hành thiền minh sát là để loại bỏ tính sân hận và buồn bực. Trong khi đó, bạn lại thực hành thiền với trạng thái tâm nói trên. Điều đó sẽ khiến cho bạn kinh nghiệm, phát triển và gặt hái được Phật Pháp một cách rất chậm chạp. Vì vậy, bạn cũng nên tránh xa cách thực hành thiền lầm lạc này.

-  Thực hành thiền minh sát để nhận biết được bản chất thật sự của khổ thọ là một phương pháp thực hành đúng đắn. Việc đầu tiên và quan trọng nhất trong quá trình thực hành thiền minh sát là bạn cần phải nhận biết được bản chất thật sự của các hiện tượng. Chỉ khi đã nhận biết được bản chất thực sự của các hiện tượng thì đến lúc đó, bạn sẽ lãnh hội được trạng thái tan hoại của các hiện tượng. Chỉ khi đã có được sự hiểu biết về trạng thái tan hoại của các hiện tượng thì đến lúc lúc đó, bạn mới nhận thức được vô thường, khổvô ngã. Chỉ khi đã lãnh hội một cách đầy đủ kiến thức về vô thường, khổ và vô ngã thì đến lúc đó, bạn mới gặt hái được Niết Bàn hạnh phúc như đã mong muốn. Đức Phật đã từng nói rằng,  khi khổ thọ ( Dukkha Vedanā – Unpleasant sensation) khởi lên trong 5 uẩn, bạn cứ “để mặc cho thân xác của mình đau khổ và đừng để ý đến nó”. Nếu thực hành được như vậy thì tâm trí của bạn sẽ không bị đau khổ. Một thời, khi Đức Phật đang trú tại một khu rừng nhỏ nằm gần thành phố Sumsumàragira thuộc xứ Bhagga. Vào lúc đó, có một người đàn ông giàu có tên là Nakulapita mà trước đó 500 kiếp trong quá khứ, ông là thân phụ của Đức Phật. Bởi vì đã quá già nên người đàn ông giàu có này đã trở nên yếu ớt và hom hem. Ông ta đã phải chịu nhiều khổ đau do bị bệnh tật hành hạ. Vì vậy, trong tương lai ông không còn sức lực để đến thăm Đức Phật được nữa. Ông đã nghĩ rằng “ Bây giờ điều kiện vẫn có thể, mình nhất định phải đến thăm Đức Phật để thỉnh cầu Ngài thuyết cho mình nghe một bài Pháp”. Vì suy nghĩ như vậy, người đàn ông giàu có nọ đã đến thăm Đức Phật và hỏi Ngài rằng : “ Bạch Giáo Chủ ! Nay tôi đã quá già, tôi đã trở nên quá yếu đuối và hom hem. Tôi đã bị rất nhiều loại bệnh. Vì vậy, tôi rất khó mà khỏe mạnh được. Trong tương lai cũng vậy, tôi sẽ không còn khả năng đến thăm Ngài nữa. Vì vậy, Ngài hãy làm ơn thuyết cho tôi nghe một bài Pháp”. Đức Phật đã trả lời rằng : “ Hỡi người đàn ông giàu có ! Không có ai có thể thoát khỏi được bệnh tật. Nếu một người nào đó nói rằng anh ta có thể thoát khỏi được bệnh tật thì người này là một kẻ điên rồ”. Đức Phật lại nói tiếp : “ Hãy để cho thân xác của ông đau khổ, đừng để ý đến nó. Nếu ông thực hành được như vậy thì tâm của ông sẽ không bị đau khổ”. Bài thuyết Pháp của Đức Phật vừa nêu trên đã được Tôn Giả Xá-Lợi-Phất (Ashin Sariputta) nhắc lại cho Nakulapita nghe. Ngài Xá-Lợi-Phất cũng đã thuyết rằng : “ Hãy để cho thân xác của ông đau khổ, đừng để tâm đến nó”. Bị đau khổ cả thể xác lẫn tinh thần nghĩa là : Một người nào đó đã không thể phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Người này đã nghĩ rằng tinh thần và vật chất chỉ là một. Những ai thực hành thiền minh sát và có khả năng phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất thì tâm trí của những người đó sẽ không bị đau khổ. Khổ thọ khởi lên khi bạn đang thực hành thiền minh sát là một điều khó chịu đựng. Vì vậy, điều đầu tiên mà bạn cần phải có là khả năng chịu đựng được khổ thọ một cách kiên nhẫn. Bạn đừng nên lo lắng và nghĩ rằng mình phải chịu đựng khổ thọ trong vòng một giờ đồng hồ, hai giờ hay ba giờ… Những loại khổ thọ mà bạn phải chịu đựng trong quá trình thực hành thiền minh sát là rất đa dạng. Mỗi loại có bản chất riêng của nó. Bổn phận của bạn là phải duy trì sự chú ý lên khổ thọ khi nó vừa mới khởi lên. Khi khổ thọ đang gia tăng cường độ đến cực điểm của nó thì thân xác và tâm trí của bạn sẽ có chiều hướng bị căng thẳng . Vì vậy, ngay lúc này, bạn đừng để thân xác và tâm trí của mình bị căng thẳng mà phải thư giãn tí chút. Sau khi đã thư giãn tí chút, bạn tiếp tục duy trì sự chú ý một cách trực tiếp trên khổ thọ. Khi đang thực hành thiền minh sát mà khổ thọ đột nhiên khởi lên, bạn cần phải chú ý để nhận biết rằng nó hiện đang ở đâu  ? Nó đang ở trên thịt, trên da, trong huyết quản, ở trong xương hay trong tủy ?.. Bạn cần phải cố gắng chú ý một cách chính xác để nhận biết được bản chất và phạm vi của khổ thọ, đồng thời niệm thầm trong tâm mình “đang đau, đang đau” hoặc “  đang nhức, đang nhức”... Sau khoảng từ bốn đến năm lần thực hành chú ý một cách chính xác, cảm giác đau nhức sẽ trở nên giảm cường độ. Bản chất của cảm giác đau nhức là khi cường độ của nó đã đạt tới cực điểm thì tự nhiên cường độ này sẽ giảm dần. Nhận biết được trạng thái gia tăng và gia giảm cường độ của cảm thọ hay cảm giác ( Vedanā – Sensation) nói chung tức là đã nhận thức được bản chất của nó. Trong sự chú ý một cách liên tục, khi năng lực định tâm ( Samādhi – Concentration) đã dần dần trở nên mạnh mẽ hơn, bạn sẽ nhận biết được trạng thái đang gia tăng cường độ của cảm giác đau nhức trong mỗi lần thực hành chú ý hoặc trong mọi lần chú ý khác. Mỗi khi khổ thọ đã gia tăng cường độ tới cực điểm thì tự nhiên nó sẽ gia giảm cường độ đúng như bản chất của nó. Vì vậy, trong mỗi lần chú ý hay trong mọi sự chú ý khác, nếu đã kinh nghiệm được những tiến trình gia tăng hay gia giảm của cảm thọ nói chung, bạn lại càng nhận biết rõ hơn bản chất thực sự của nó. Trong sự chú ý một cách liên tục, năng lực định tâm sẽ dần dần chín muồi và trở nên sắc bén. Đến lúc đó, nếu hành giả tập trung chú ý vào cảm giác đau nhức thì hành giả sẽ nhận thức được rằng, bản chất của cảm thọ ( Vedanā – Sensation) nói chung là khởi lên và rồi cũng sẽ biến mất đi. Khổ thọ cũng vậy. Nó không phải là một cái gì bất biến và bền vững. Khổ thọ đã khởi lên rồi cũng sẽ tan biến đi mà thôi. Bạn cần phải nhận biết được trong từng khoảnh khắc ở hiện tại cái gì đang khởi lên và tan biến đi trong tâm thức của chính mình. Nhờ đó, năng lực chú ý của bạn đã bắt đầu vượt qua được khổ thọ ( Dukkha Vedanā).Trong sự chú ý một cách liên tục, năng lực định tâm của bạn sẽ ngày càng phát triển và trở nên mạnh mẽ. Đến lúc này, bạn sẽ gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại ( Bhanga Ñāna – The knowledge about the separation) của các hiện tượng. Khi đã đạt tới một trình độ thực hành thiền như vậy thì cảm thọ nói chung chỉ còn khởi lên trong tâm thức của bạn một cách mờ nhạt. Ngược lại, trạng thái tan biến đi của nó là rất rõ ràng và dễ nhận thấy. Khi năng lực định tâm của đã trở nên mạnh mẽ hơn nữa, đến lúc đó, nếu  tập trung tâm ý trên cảm giác đau nhức thì bạn sẽ nhận thấy rằng không những cảm giác đau nhức đang tan biến đi mà ngay cả sự chú ý của chính bạn cũng đang tan biến luôn. Mỗi khi đã đạt tới một trình độ nhận thức như vậy, bạn đã có khả năng vượt qua khổ thọ. Do đó, Đức Phật đã từng thuyết rằng “ Chỉ có thân xác là có thể đau khổ, còn tâm trí thì không”. Những thính giả nào đã lắng nghe bài thuyết Pháp nói về cách thực hành thiền minh sát này thì nên nói lại cho bạn bè đồng Đạo với mình nghe, càng nhiều càng tốt… Mỗi khi bạn gặp gỡ những người đồng Đạo thì họ hay có thói quen hỏi về những món quà Pháp. Khi được hỏi như thế, bạn hãy trao món quà Pháp này cho họ. Lúc đó, bạn hãy nói rằng : “ Bạn thân mến ! Hãy để cho thân xác của bạn khổ đau, đừng để ý đến nó. Nếu bạn thực hành được như vậy thì tâm của bạn sẽ không bị khổ đau”. Bây giờ bạn hãy để chúng tôi lập lại món quà Pháp này một cách tóm tắt.

Tóm tắt: Hãy để cho thân xác khổ đau, đừng để ý đến nó. Đây là một phương pháp thực hành thiền tứ niệm xứ đúng đắn.

Những thính giả lắng nghe bài thuyết Pháp của bậc Trưởng Thượng đã hết sức hoan hỷ với phương pháp chú ý để vượt qua khổ thọ do Ngài giáo huấn. Sau đó, họ đã điện thoại đến Daw Khin Khin ( người đã cung thỉnh bậc Trưởng Thượng đến thăm và hoằng Pháp tại Washington D.C) và nói với bà rằng, họ đánh giá cao bài thuyết Pháp này.

  Từ Washington D.C đến Nữu Ước ( Newyork)

Sau khi đã thuyết Pháp tại Tu viện Hạnh Phúc- Mangalà Ràma ở Washington D.C trong vòng 2 ngày.Vào ngày 11 tháng 7 năm 1994, bậc Trưởng Thượng, tiến sĩ U Mya Aung và U Htun Kyi lại tiếp tục cuộc hành trình đến Nữu Ước. Tại sân bay Nữu Ước, bậc Trưởng Thượng và phái đoàn đã gặp gỡ Ngài U Indaka, U Mahosatha Panita, U Bayā Lankara, đệ tử U Hun Kyu đến từ đền Loka Chantha ( Newyork). Tại đền Loka Chatha, vào ngày 12 tháng 7, từ 8 giờ tối đến 10 giờ tối, bậc Trưởng Thượng đã thuyết một bài Pháp nói về 4 điều kiện khó đạt được. Đã có khoảng 20 thính giả Phật tử đến nghe Pháp tại đây. Vào ngày 13 tháng 7, từ 8 giờ tối đến 9 giờ 50 phút tối, bậc Trưởng Thượng đã thuyết một bài Pháp khác nói về 4 tính cách của một Tu-Đà-Hườn24 loại Tu-Đà-Hườn. Đã có khoảng 25 thính giả Phật tử đến nghe Pháp với tâm thức cung kính và hoan hỷ. Vào ngày 14 tháng 7, từ 8 giờ tối đến 9 giờ 30 phút tối, bậc Trưởng Thượng đã thuyết Kinh Anuggahitā . Đã có khoảng 25 thính giả Phật tử tại Newyork, U Kwai Nyi và Daw Hpeik Lwan đến từ Myeik ( Miến Điện) hiện đang ở tại Mỹ Quốc, 3 người con gái của họ là tiến sĩ Myat Myat, tiến sĩ Ma Su Thwe và tiến sĩ Ma Cho Cho (đang sống tại Ngưỡng Quang) cũng đến để lắng nghe thuyết Pháp. Hôm nay là ngày mồng 7 trăng tròn tháng Waso năm 1356 theo lịch Miến Điện, tại đền Loka Chantha - Nữu Ước, đã có buổi thuyết Pháp nói về Kinh Anuggahitā. Trong tiếng Pāli, từ Anuggahitā có nghĩa là hộ trì chánh kiến minh sát. Những thính giả Phật tử nào sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp này và thực hành thiền minh sát thì đến một ngày nào đó, họ sẽ gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn. Vì vậy, Đức Phật đã giải thích một cách chi tiết rằng khi thực hành thiền minh sát , bạn cần phải hộ trìchánh kiến minh sát ( Sammādiţţhi Vipassanā) bằng 5 nhân tố sau đây :

1. Sīla nuggahitā - Hộ trì chánh kiến minh sát bằng cách giữ Giới

2. Sutā nuggahitā - Hộ trì chánh kiến minh sát bằng cách lắng nghe thuyết Pháp

3. Sakassā nuggahitā - Hộ trì chánh kiến minh sát bằng cách luận Đạo

4. Samātha nuggahitāHộ trì chánh kiến minh sát bằng cách thục hành thiền Định

5. Vipassanā nuggahitā - Hộ trì chánh kiến minh sát bằng cách thực hành thiền minh sát.

Về thiền minh sát, các bậc thầy chú giải Kinh Điển đã nêu ra một ví dụ để so sánh việc trồng một cây non với 5 nhân tố hộ trì. Những ai muốn trồng một cây non, làm cho cây được thịnh vượng, ra hoa và kết quả thì phải :

1. Làm hàng rào che chắn cho cây

2. Tưới nước cho cây

3. Nhổ cỏ cho cây

4. Bắt sâu bọ và côn trùng phá hoại cây

5. Quét sạch các loại mạng nhện hay nhiều loại mạng khác che phủ cây

Tương tự như vậy, những hành giả thực hành thiền minh sát phải biết cách hộ trì chánh kiến minh sát bằng 5 nhân tố như đã nêu trên.

Tóm tắtKhi một cây non vừa mới được trồng, người ta phải làm hàng rào che chắn cho cây,tưới nước cho cây,nhổ cỏ cho cây,bắt sâu bọ và côn trùng phá hoại cây,quét sạch các loại mạng nhện hay nhiều loại mạng khác che phủ cây.

1. Những người trồng cây non phải làm hàng rào che chắn cho cây. Nếu không thì cây non có thể bị các loại súc vật và động vật khác phá hoại. Nếu suy xét một cách sáng suốt, những người thực hành thiền minh sát cần phải giữ Giới, bởi vì đây là một nhân tố hộ trì và bảo vệ cho chánh kiến minh sát. Nếu cây non mới trồng không có hàng rào che chắn thì chúng có thể bị các loại súc vật hay động vật khác phá hoại. Tương tự như vậy, nếu chánh kiến minh sát không được che chắn bởi năng lực giữ Giới thì nó có thể bị các pháp phàm tục phá hoại, cụ thể là 12 loại tham ái, 12 loại sân hận12 loại vọng tưởng có nguyên nhân từ những lỗi lầm thuộc về thân xác và lời nói. Đó là lý do tại sao, bạn cần phải giữ Giới tinh khiết để xử dụng năng lực này như một hàng rào che chắn cho chánh kiến minh sát.

Tóm tắt:Giới giống như một hàng rào che chắn    

2. Những người trồng cây non phải tưới nước cho cây để cây được thịnh vượng và không bị khô héo đi. Tương tự như vậy, những hành giả thực hành thiền minh sát phải biết lắng nghe thuyết Pháp. Đây chính là sự bồi bổ kiến thức. Nhờ đó, chánh kiến minh sát sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Nếu cây non mới trồng không được tưới nước thì nó có thể bị khô héo và chết đi. Tương tự như vậy, những hành giả thực hành thiền minh sát phải biết hộ trì chánh kiến minh sát bằng cách lắng nghe thuyết Pháp để gặt hái kiến thức. Họ có thể trở nên chán nản, nhụt chí khi năng lực chú ý không được tốt và tiến trình thực hành thiền của họ không có sự tiến bộ. Họ sẽ trở nên kiệt sức và cảm thấy bất an. Vì vậy, những hành giả thực hành thiền minh sát phải biết hộ trì chánh kiến minh sát bằng cách lắng nghe thuyết Pháp giống như việc tưới nước cho một cây non mới trồng.

Tóm tắtKiến thức giống như nước tưới.

3. Những người trồng cây non phải lấy sạch những rễ cây đã bị thối có thể làm hại gốc cây và bắt sâu cho cây. Tương tự như vậy, những người thực hành thiền minh sát cần phải hộ trì chánh kiến minh sát bằng cách luận Đạo. Phương pháp tu học này tương tự như việc bắt sâu cho cây. Nếu những rễ cây thối rữa và sâu vẫn cứ tồn tại ở gốc cây thì cây không thể nào lớn lên và thịnh vượng được. Tương tự như vậy, những hành giả cũng không thể phát triển được công việc thực hành thiền của họ. Do đó, họ sẽ gặt hái được năng lực nội quán và Giáo Pháp Cao Thượng một cách chậm chạp. Sở dĩ những người thực hành thiền chưa có được khả năng thực hành sự chú ý một cách tinh khiết và đúng đắn là do họ chưa có thói quen luận Đạo.Vì vậy, họ cần phải hộ trì chánh kiến minh sát bằng cách luận Đạo.

Tóm tắtLuận Đạo giống như việc bắt sâu cho cây non.

4. Những người trồng cây non phải bắt sâu bọ và côn trùng hại cây. Tương tự như vậy, những người thực hành thiền phải loại bỏ được tính tham lam, sân hận và vọng tưởng – là những thứ ô nhiễm tựa như sâu bọ và côn trùng cứ liên tục khởi lên trong tâm thức của họ, làm cho tâm thức của họ bị ô nhiễm. Để làm được điều đó, họ phải thực hành thiền định để thanh lọc tâm và hộ trì chánh kiến minh sát. Nếu sâu bọ và côn trùng trên cây non không bị bắt đi thì chúng sẽ phá hủy cây. Tương tự như vậy, nếu tính tham lam, sân hận và vọng tưởng - những thứ ô nhiễm như sâu bọ và côn trùng không bị thiền định loại bỏ mà vẫn cứ liên tục khởi lên trong tâm thức của những người thực hành thiền thì chánh kiến minh sát trong tâm thức của họ có thể bị phá hủy. Do đó, loại bỏ những “loại sâu bọ và côn trùng ô nhiễm” này là hộ trì chánh kiến minh sát.

Tóm tắt: Thiền định giống như việc bắt sâu bọ và các loài côn trùng có  hại cho cây

Thời đại ngày nay, rất ít người chịu khó thực hành thiền minh sát cho đến khi gặt hái được trí huệ ( Jhāna Citta ) để có thể loại bỏ được các các trạng thái tâm ô nhiễm giống như sâu bọ và côn trùng. Đó là lý do tại sao, trước khi thực hành thiền minh sát ( Pubbabhāga parikamma), những người mới tập sự thực hành thiền cần phải lấy những đối tượng sau đây làm đề mục thực hành thiền : Những phẩm chất cao quí của Đức Phật

( Buddhānussati Kammatthāna), tâm từ ( Mettā Kammathāna),đề mục tử thi (Asubha Kammathāna), sự chết ( Maranānassati Kammathāna). Đây chính là 4 pháp bảo vệ và hộ trì cho những hành giả thực hành thiền minh sát. Những phẩm chất cao quí của Đức Phật có những năng lực có thể khiến cho mọi chúng sanh thoát khỏi vô minh. Tâm từ có thể loại bỏ được sân hận. Đề mục tử thi có thể loại bỏ được tham ái. Quán niệm về sự chết nhiều lần có thể loại bỏ được tính ngã mạn. Buddhānussati Kammatthāna nghĩa là hồi tưởng về những phẩm chất cao quí của Đức Phật và thực hành sự chú ý trên những đề mục ấy nhiều lần. Những phẩm chất cao quí của Đức Phật là không thể tính toán và kể ra hết được ( Anandara – Incalculable). Tương tự như vậy, năng lực và thanh danh chất chứa trong những phẩm chất cao quí của Đức Phật cũng không thể kể xiết. Những bậc thầy chú giải Kinh Điển đã từng chỉ ra rằng, những người hồi tưởng về những phẩm chất cao quí của Đức Phật sẽ có vô lượng phước báu. Đó là lý do tại sao, bằng cách phát triển 9 phẩm chất vĩ đại của Đức Phật trong tâm thức, người ta sẽ gặt hái được rất nhiều lợi ích đúng theo ý nghĩa của những ân đức này. Ngày hôm nay, tôi sẽ thuyết Pháp về những lợi ích khi bạn phát triển9 phẩm chất vĩ đại của Đức Phật trong chính tâm thức của mình. Khi mong muốn tránh được vô số những mối nguy hiểm mà bạn có thể gặp phải hoặc đang ở trong những tình huống nguy hiểm, bạn phải quán niệm phẩm chất A-La-Hán ( tức Ứng Cúng - Araham). Phẩm chất cao quí này chỉ rõ rằng, quả thật Đức Phật là một Đấng Cao Thượng đã tự loại bỏ được tất cả những thứ ô nhiễm trong tâm thức của chính Ngài. Vì vậy, Ngài là bậc xứng đáng được cúng dường. Bằng cách phát triển phẩm chất cao quí của Đức Phật này trong tâm thức của mình, bạn sẽ thoát khỏi những mối nguy hiểm.

Tóm tắt: Nếu mong muốn thoát khỏi những mối nguy hiểm thì phải vun trồng phẩm chất A-La-Hán cao quí của Đức Phật.

Khi mong muốn nhận biết được những điều khó nhận biết, bạn phải quán niệm phẩm chất Chánh Đẳng Chánh Giác ( Sammāsambuddho). Phẩm chất cao quí này chỉ rõ Đức Phật là một người đã tự mình đạt tới giác ngộ tối thượng và biết hết tất cả mọi sự thật. Bằng cách phát triển phẩm chất này của Đức Phật trong tâm thức của mình, bạn sẽ trở nên nhận biết được một cách dễ dàng những điều khó nhận biết.

Tóm tắt: Khi mong muốn nhận biết được những điều khó nhận biết thì phải vun trồng phẩm chất Chánh Đẳng Chánh Giác của Đức Phật.

Khi mong muốn có được năng lực giữ Giới vững vàng, năng lực định tâm và trí tuệ trong tiến trình liên tục nhận thức. Khi mong muốn lãnh hội được Phật Pháp một cách nhanh chóng, đạt tới một trình độ thực hành thiền minh sát cao cấp, bạn phải quán niệm phẩm chất minh hạnh túc

( Vijjācaranasampanno) của Đức Phật. Ân đức này chỉ rõ rằng Đức Phật là người đã gặt hái được Tam Minh, Bát Minh15 loại đức hạnh cao thượng. Vì vậy, nếu vun trồng phẩm chất minh hạnh túc của Đức Phật trong tâm thức, bạn sẽ hoàn thiện được Giới học ( Sīla Sikkhā),Định học ( Samādhi Sikkhā) và Tuệ học ( Paññā Sikkhā).

Tóc tắt: Nếu mong muốn hoàn thiện được Tam Học thì phải vun trồng phẩm chất minh hạnh túc của Đức Phật trong tâm thức.

Trước khi du hành và khi đang du hành đến một nơi nào đó, nếu mong muốn chuyến du hành của mình được an toàn và đến được nơi muốn đến một cách bình yên, bạn phải quán niệm phẩm chấtđiều ngự trượng phu ( Sugato) của Đức Phật. Phẩm chất cao quí này chỉ rõ rằng, Đức Phật là người đã đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Vì vậy, nếu vun trồng ân đức này trong tâm thức của mình, bạn sẽ đi đến được nơi mà mình muốn đến một cách bình yên.

Tóm tắt: Nếu mong muốn đến được nơi mình muốn đến một cách bình yên thì hãy vun trồng phẩm chất điều ngự trượng phu của Đức Phật trong tâm thức của chính mình.   

Khi đang nghiên cứu các môn học về giao tiếp xã hội, giao dịch kinh tế, phát triển xã hội…cũng như khi đang tìm kiếm của cải hay người thất lạc, bạn phải quán niệm phẩm chất thế gian giải ( Lokavidū) của Đức Phật. Phẩm chất cao quí này chỉ rõ rằng Đức Phật là một người đã biết hết tất cả mọi sự, mọi vật trong ba loại thế giới ( gồm dục giới, sắc giới và vô sắc giới). Nếu phát triển phẩm chất cao quí này trong tâm thức của chính mình, bạn sẽ dễ dàng biết được những gì về thế giới này mà bạn muốn biết.

Tóm tắt: Nếu mong muốn hiểu biết những vấn đề trên thế giới này thì bạn phải quán niệm phẩm chất thế gian giải của Đức Phật.

Khi muốn giáo huấn một người chưa có văn hóa và nhỏ tuổi hơn mình, bạn phải quán niệm phẩm chất vô thượng sĩ ( Anuttaro ) của Đức Phật. Phẩm chất cao quí này chỉ rõ rằng Đức Phật là một nhà giáo dục vô thượng hay vô song. Nếu phát triển phẩm chất cao quí này trong tâm thức của chính mình, bạn sẽ giáo huấn được người chưa có văn hóa trở thành người có văn hóa.

Tóm tắtNếu mong muốn giáo huấn được người khác thì phải quán niệm ân đức vô thượng sĩ của Đức Phật

Nếu là một vị thầy và hiện đang sống bằng nghề giảng dạy, bạn nên quán niệm phẩm chất thiên nhân sư ( Satthādevamanasānam) của Đức Phật. Phẩm chất cao quí này chỉ rõ rằng Đức Phật là bậc thầy vĩ đại của trời và người. Vì vậy, nếu bạn quán niệm phẩm chất cao quí này thì những người học trò của bạn sẽ học tập được những điều mà bạn muốn truyền đạt một cách rất dễ dàng.

Tóm tắt: Nếu mong muốn giảng dạy cho người khác thì hãy quán niệm phẩm chất thiên nhân sư của Đức Phật.

Khi tự mình học tập và nghiên cứu bất cứ một nghề nghiệp nào đó, bạn nên quán niệm phẩm chất Phật  (Buddho) hay Người Đã Tự Giác Ngộ. Phẩm chất cao quí này chỉ rõ Đức Phật là Người Đã Tự Giác Ngộ và lãnh hội được 4 Chân Lý Cao Thượng. Nếu phát triển phẩm chất cao quí này trong tâm thức của mình và thực hành theo thì bạn sẽ học tập một nghề nghiệp nào đó rất dễ dàng.

Tóm tắt: Nếu mong muốn học tập và nghiên cứu một nghề nghiệp nào đó thật nhanh chóng thì phải quán niệm phẩm chất Phật

 ( Buddho).

Khi  thực hiện một công việc gì đó để mang lại lợi ích cho chính mình và nhiều người khác, bạn nên quán niệm phẩm chất Thế Tôn ( Bhagavā). Phẩm chất cao quí này chỉ rõ rằng Đức Phật là Bậc Cao Thượng luôn luôn được muôn loài chúng sanh ca tụng và tôn kính vì sự hy sinh vĩ đại của Ngài.

Tóm tắt: Nếu muốn tích lũy lợi ích thì phải quán niệm phẩm chất Thế Tôn của Đức Phật.

Khi đang thuyết Pháp vì lợi ích của chính mình và muôn loài chúng sanh, bạn cũng nên quán niệm phẩm chất Thế Tôn của Đức Phật. Khi thời Pháp nói về cách quán niệm cácphẩm chất cao quí của Đức Phật, một vài thính giả đã chép xuống và ghi nhớ những phẩm chất cao quí này.

5. Những người trồng cây non phải quét sạch các loại mạng nhện hay nhiều loại mạng khác bao phủ lên đọt cây và làm cho cây chậm lớn. Tương tự, những người thực hành thiền minh sát cần loại bỏ được những điều ô nhiễm trong thế giới của cảm giác (Arammananussaya Kilesa) đang hiện hữu trong 6 giác quan ( mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Tâm thức của con người bị ô nhiễm là do ảnh hưởng từ những đối tượng giác quan ( gồm có 6 loại là sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp). Loại bỏ được những thứ ô nhiễm trong thế giới cảm giác bằng năng lực minh sát

( Balavant Vipassanā) tức là đã hộ trì Chánh kiến minh sát ( Vipassanā Sammādiţţhi). Nếu các loại mạng nhện và nhiều loại mạng khác vẫn còn bị mắc kẹt trên đọt cây non và không được quét đi thì cây sẽ không phát triển tốt và không thể thịnh vượng được. Tại 6 cửa của các giác quan, hàng ngày những đối tượng của giác quan rất dễ nhận thấy liên tục đi vào rồi kết nối liên lạc với thân tâm của chúng ta. Khi những đối tượng hữu hình đó đi vào 6 cửa của giác quan và kết nối với thân tâm của bạn, nếu chưa có khả năng xử dụng năng lực minh sát và tập trung sự chú ý vào chúng để nhận biết được những tiến trình “đang thấy”, “đang nghe”, “đang ngửi”, “đang nếm”, “đang xúc chạm” và “đang suy nghĩ” thì tâm thức của bạn đã bị ô nhiễm tựa như các loại mạng che phủ bị mắc kẹt trên đọt cây non. Điều này sẽ làm khiến cho chánh kiến minh sát không thể phát triển được và bị sa đọa.Vì vậy, những thứ ô nhiễm trong thế giới cảm giác phải được loại bỏ bằng năng lực minh sát. Như vậy là hộ trì chánh kiến minh sát.

Tóm tắtMinh sát tựa như việc loại bỏ những mạng nhện che phủ

Vì vậy, sau khi đã lắng nghe Kinh Hộ Trì Chánh kiến Minh Sát

( Anuggahitā Sutta), những hành giả thực hành thiền minh sát sẽ gặt hái được nhiều lợi ích. Những lợi ích cụ thể là chánh kiến minh sát sẽ phát khởi lên trong tâm thức của họ :

- Hàng rào che chắn cây non tựa như việc giữ Giới

- Tưới nước cho cây non tựa như việc gặt hái thêm kiến thức về Phật Pháp

- Nhổ cỏ cho cây non tựa như việc luận Đạo

- Bắt sâu và các loài côn trùng phá hoại cây non tựa như việc thực hành thiền định

- Quét sạch những loại mạng che phủ đọt cây non tựa như việc loại bỏ những thứ ô nhiễm trong thế giới cảm giác. Cầu chúc cho bạn sẽ nhanh chóng gặt hái được Đạo Quả và Giáo Pháp Cao Thượng nhất như đã hằng mong muốn, có khả năng thực hành Phật Pháp một cách dễ dàng và thuận tiện. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !

 Từ Nữu-Ước ( New York) đến San Jose

Sau khi thuyết Pháp 3 đêm tại đền Loka Chantha ở Nữu Ước, bậc Trưởng Thượng, tiến sĩ U Mya Aung và U Htun Kyi đã rời khỏi sân bay Nữu Ước vào ngày mồng 8 trăng tròn tháng Waso năm 1356 ( theo lịch Miến Điện) để đến San Francisco. Tại sân bay của tiểu bang San Francisco ( Hoa Kỳ), Daw Khin Khin Gyi, U War Kyu, U Soe Khaw cùng tiến sĩ Maung Maung Myint đã đến cung nghênh bậc Trưởng Thượng và phái đoàn. Từ sân bay này, bậc Trưởng Thượng và phái đoàn đã đến trung tâm thiền Như Lai ( Tathagata Yeitha)ở San Jose bằng xe hơi của U Soe Khaw. Trung tâm thiền này nằm cách sân bay San Francisco khoảng 15 dặm Anh ( một dặm Anh được tính bằng 1609 mét - ND).

Tại trung tâm thiền Như Lai ở San Jose, một khóa tu thiền đã được mở ra từ ngày 13 trăng tròn tháng Waso năm 1356 ( theo lịch Miến Điện) cho đến thứ tư, ngày trăng khuyết thứ hai tháng Waso cùng năm. Như vậy khóa tu thiền này được tổ chức trong vòng 5 ngày và có khoảng 30 hành giả tham gia. Trong ngày khai giảng khóa thiền, bậc Trưởng Thượng đã có một vài huấn từ ( Ovāda – Advice) và những lời lẽ mang tính thuyết phục cao nói về 4 nhân tố cần phải tuân theo khi thực hành thiền minh sát. Hôm nay là ngày 13 trăng tròn tháng Waso năm 1356 theo lịch Miến Điện ( tức nhằm ngày 20 / 07 / 1994) là ngày khai giảng khóa tu thiền 5 ngày tại trung tâm thiền Như Lai ở San Jose. Tại buổi lễ khai giảng này, tôi sẽ gửi đến quí vị thiện nam, tín nữ một vài huấn từ và 4 tiêu chí cần phải tuân thủ khi thực hành thiền minh sát. Những hành giả thực hành thiền minh sát và quí thính giả sau khi đã lắng nghe thuyết Pháp sẽ có được những điều tốt đẹp và những công việc lợi ích nhất ngay trong chính kiếp sống này, những kiếp sống mai sau và sẽ đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Mặc dù thực hành thiền minh sát chỉ là một công việc tập luyện sự chú ý để nhận thức. Tuy nhiên, bạn có thể thiết lập được 2 loại lợi ích khi thực hành loại thiền này. Thứ nhất, bạn sẽ loại bỏ được những thứ ô nhiễm trong tâm thức của chính mình như tính tham lam, sân hận và vọng tưởng. Những thứ ô nhiễm này có thể khiến cho bạn bị đọa xuống địa ngục luân hồi khổ đau. Mặt khác, bạn sẽ gặt hái được năng lực định tâm đã chín muồi ( The maturity of Samādhi Balavant). Năng lực này có khả năng dẫn dắt bạn đến với việc gặt hái được Niết Bàn hạnh phúc. Đó là lý do tại sao, bạn cần phải thực hành thiền minh sát mỗi khi có thể. Đây là những huấn từ và những lời động viên mà tôi đã gởi đến với tất cả quí vị có mặt trong Pháp tòa này. Chúng là những huấn từ và những lời động viên ngay thẳng và chính đáng. Bây giờ tôi sẽ nói về 4 nhân tố cần phải tuân thủ khi thực hành thiền minh sát. Đối với những hành giả thực hành thiền minh sát, việc đầu tiên và quan trọng nhất mà họ cần phải phát triển được là năng lực định tâm ( Samādhi – Concentration). Chỉ khi đã gặt hái được năng lực định tâm thì lúc đó bạn mới gặt hái được tuệ minh sát ( Vipassanā Ñāna). Để thực hành và phát triển thiền minh sát, Tôn Giả Trưởng Lão Kiccayana (Asin Kiccāyana Thera) đã từng chỉ ra 4 điều kiện sau đây :

1. Cakkhumassa yatha andho - Mặc dù có thị lực rất tốt nhưng bạn phải làm như thể mình bị mù.

2. Sotavā badhiro yathā  -  Mặc dù có thính lực rất tốt nhưng bạn phải làm như thể mình bị điếc.

3. Paññavassa yathā - Mặc dù có thể nói năng rất lưu loát nhưng bạn phải làm như thể mình bị câm.

4. Balavā dubbalo riva - Mặc dù có thể lực rất tốt nhưng bạn phải làm như thể mình rất yếu đuối và vô dụng. 

-  Những hành giả thực hành thiền minh sát phải nhắm mắt khi đang tọa thiền. Vì vậy lúc này, họ không cần phải làm như thể mình bị mù giống như khi đang thiền hành hoặc khi đang tập luyện sự chú ý một cách chi tiết đến những hoạt động đa dạng hàng ngày của chính họ. Mặc khác, khi đang thiền hành hoặc tập luyện sự chú ý một cách chi tiết đến những hoạt động đa dạng hàng ngày tại nhà riêng, ngoài phố hay các ngôi làng… những hành giả này không kiểm soát được thị giác của họ và nhìn lan man đây đó thì họ sẽ không gặt hái được năng lực định tâm. Khi đã không gặt hái được năng lực định tâm thì họ cũng sẽ không gặt hái được tuệ minh sát hay kiến thức nội quán ( Vipassanā Ñāna – The Insight knowledge). Vì vậy, mặc dù có một thị lực rất tốt nhưng bạn vẫn phải làm như thể mình bị mù.

Tóm tắtMặc dù có một thị lực rất tốt nhưng phải làm như thể bị mù.

- Những hành giả thực hành thiền minh sát khi đang tham thiền, nếu họ lắng nghe tất cả những loại âm thanh nào mà họ tình cờ nghe được như khi : Đang ở tại nhà riêng, đang đi qua các dãy phố hay các ngôi làng… thì họ sẽ không gặt hái được trạng thái định tâm do bị ảnh hưởng của những âm thanh nói trên. Nếu chưa có được sự định tâm thì những hành giả này cũng chưa thể gặt hái được tuệ minh sát. Đó là lý do tại sao, mặc dù có một thính lực rất tốt nhưng bạn vẫn phải làm như thể mình bị điếc.

Tóm tắtMặc dù có thính lực rất tốt nhưng làm như thể bị điếc.

- Khi đang tham thiền, những hành giả không nên nói chuyện mà phải giữ sự im lặng. Nói chuyện có thể phá hủy năng lực định tâm. Nếu 2 hành giả đang thực hành thiền minh sát nói chuyện với nhau thì năng lực chú ý và định tâm của cả 2 người này đều bị phá hủy. Nếu họ nói chuyện với nhau trong vòng 5 phút thì năng lực chú ý và định tâm của họ sẽ bị phá hủy trong khoảng thời gian là 10 phút. Khi đang nói chuyện với nhau trong lúc thực hành thiền, năng lực chú ý và định tâm của họ sẽ bị phá hủy tương đương với một thời lượng nào đó, tùy theo họ nói chuyện nhiều hay ít. Sau khi đã nói chuyện xong, họ lại phản hồi những thông tin vừa mới trao đổi trong tâm thức của mình. Vì vậy, năng lực chú ý và định tâm của họ lại tiếp tục bị phá hủy trong một khoảng thời gian bằng thời lượng mà họ đã nói chuyện trước đó. Vài vậy, mặc dù có thể nói năng rất lưu loát nhưng bạn vẫn phải làm như thể mình bị câm.

Tóm tắt: Mặc dù có thể nói năng rất lưu loát nhưng vẫn làm như thể mình bị câm.

-  Một vài hành giả thực hành thiền minh sát có sức mạnh và năng lượng dồi dào. Vì vậy, những chuyển động thuộc về thân thể của họ thường được thực hiện với một tốc độ nhanh chóng. Nếu thực hiện các chuyển động này theo cách như vậy thì năng lực chú ý của họ sẽ không bắt kịp được những hoạt động của thân thể. Do đó, họ sẽ không thể chú ý một cách chính xác đến những hoạt động này trong từng khoảnh khắc ở hiện tại. Nếu chưa có khả năng chú ý một cách chính xác vào bất cứ một cái gì trong từng khoảnh khắc của hiện tại, họ sẽ không gặt hái được tuệ minh sát. Đó là lý do tại sao, mặc dù là một người mạnh mẽ và năng động, nhưng khi thực hành thiền minh sát bạn vẫn phải làm như thể mình rất yếu đuối và vô dụng.

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều sức mạnh và dư thừa năng lượng nhưng vẫn phải làm như thể rất yếu đuối và vô dụng.

Khi thực hành thiền minh sát, tất cả những hoạt động của bạn phải được thực hiện một cách nhẹ nhàng và chậm rãi. Vì nếu thực hành như vậy, bạn mới có thể thực hành sự chú ý một cách chính xác trong từng khoảnh khắc ở hiện tại. Chỉ khi đã có khả năng thực hành sự chú ý một cách chính xác trong từng khoảnh khắc ở hiện tại thì lúc đó, bạn mới thiết lập trạng thái định tâm. Chỉ khi đã gặt hái được năng lực định tâm thì lúc đó, bạn sẽ kinh nghiệm được bản chất của trạng thái nặng và nhẹ, các lực thúc đẩy và lôi kéo… Chỉ khi đã nhận biết được bản chất của các hiện tượng thì lúc đó, bạn sẽ lãnh hội được trạng thái đang khởi lên và tan biến đi của chúng ( Udayabbaya). Chỉ khi  đã nhận biết được trạng thái đang khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng thì lúc đó, bạn sẽ lãnh hội được vô thường ( Anicca – Impermanent), khổ ( Dukkha – Sufferings) và vô ngã ( Anatta – No Self or Uncontrollable). Chỉ khi đã lãnh hội được vô thường, khổ và vô ngã thì lúc đó, bạn mới đạt tới Niết Bàn hạnh phúc như đã hằng mong muốn. Vì vậy, khi thực hành thiền minh sát, mọi hoạt động thuộc về thân thể của bạn phải được thực hiện một cách nhẹ nhàng và chậm rãi giống như hoạt động của một người yếu đuối và vô dụng. Những thiện nam tín nữ là các bậc cha mẹ thiện lành có mong muốn thực hành thiền minh sát cho đến khi gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn hạnh phúc cần phải điều khiển hay kiểm soát được thị giác ( Cakkhundriya), thính giác ( Sotindriya), lời nói ( Jivitindriya) của họ. Các chuyển động thuộc về thân xác của họ cũng phải được thực hiện một cách nhẹ nhàng và chậm rãi ( Kāyindriya). Vì vậy, bằng cách học tập theo những lời giáo huấn của Tôn Giả Kiccayana và thực hành thiền minh sát, chúng tôi cầu chúc cho quí vị sẽ gặt hái được Niết Bàn hạnh phúc, loại trừ được tất cả những nổi khổ đau một cách dễ dàng và nhanh chóng như đã hằng mong muốn. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !

 Vào ngày 14 trăng tròn tháng Waso năm 1356 theo lịch Miến Điện ( 21 / 07 / 1994), từ 9 giờ đến 11 giờ sáng và từ 2 giờ đến 3 giờ chiều, bậc Trưởng Thượng đã được các hành giả phỏng vấn. Những hành giả người Việt Nam và người Mỹ đã phỏng vấn bậc Trưởng Thượng qua sự thông dịch của tiến sĩ U Mya Aung. Trong khóa tu thiền 5 ngày tại trung tâm thiền Như Lai ở San Jose đã có nhiều câu hỏi phi thường được đặt ra cho bậc Trưởng Thượng. Một nhà sư người Việt Nam đã hỏi rằng : “ Khi thiền tọa, con có thể ngồi thiền liên tục trong vòng 2 giờ 30 phút. Khi đang ngồi thiền thì cẳng chân trái của con tự nhiên duỗi ra theo cách riêng của nó. Sau đó, cẳng chân phải của con cũng tự nhiên duỗi ra y hệt như chân trái, mặc dù con không hề có ý định làm như vậy. Tiếp đến cẳng chân trái của con lại tự nhiên co lại theo cách riêng của nó. Hai cánh tay và bàn tay của con cũng xảy ra hiện tượng tương tự như vậy. Vậy đó có phải là bản chất của vạn hữu hay không ?” Bậc Trưởng Thượng đã trả lời rằng :  “ Đó chính là bản chất của vạn hữu, nhiều hành giả thực hành thiền minh sát khác đã đạt tới trình độ nội quán ngang bằng với thí chủ cũng đã kinh nghiệm được những hiện tượng như thí chủ vừa nêu . Bản chất này của vạn hữu đã được trình diễn thành những hiện tượng khi chúng bị kích thích và làm cho hoan hỷ ( Ubbegā Pīti). Khi những hành giả thực hành thiền minh sát đã có được một năng lực chú ý mạnh mẽ thì những hiện tượng phi thường như vừa được đề cập ở trên đều có thể xảy ra. Trạng thái xuất hiện của những hiện tượng vừa nói là rất tự nhiên. Những chuyển động thuộc về tay và chân của họ có thể tự động được thực hiện theo nhiều kiểu khác nhau. Thỉnh thoảng chúng còn tự động làm như thể đang khiêu vũ. Những hành giả thực hành thiền minh sát không nên sợ hãi hay lo lắng về những chuyển động có tính tự động này. Khi thấy các hiện tượng phi thường vừa nêu trên xảy ra trong lúc đang tham thiền, bạn cần phải tập trung sự chú ý một cách nghiêm túc và tích cực vào chúng. Hành giả cần phải niệm thầm trong tâm mình “đang duỗi ra, đang duỗi ra…” hoặc “đang co lại, đang co lại…” khi những hiện tượng phi thường này xảy đến. Những lúc như thế này, bạn nên chuyên tâm chú ý đến trạng thái đang biến mất đi của những chuyển động phi thường đó. Có một câu hỏi rất chí lý của một nhà sư Việt Nam khác như sau : “ Khi đang thiền hành, con thực hành sự chú ý đến 3 giai đoạn trong một bước chân, đó là “ tiến trình đang dở chân lên”, “ đang bước tới” và “đang đặt chân xuống”. Khi con chú ý đến giai đoạn đang dở lên của bàn chân thì tự nhiên nó trở nên nhẹ hẳn lên. Khi chú ý đến giai đoạn bước tới của bàn chân, con cảm thấy có một lực đẩy hướng về phía trước. Khi chú ý đến giai đoạn đang đặt xuống của bàn chân, con lại cảm thấy trạng thái nặng nề. Như vậy “ trạng thái nhẹ nhàng”, “ lực đẩy về phía trước” và “ trạng nặng nề” có phải là bản chất của vạn hữu hay không ? Bậc Trưởng Thượng đã trả lời rằng : “ Trải nghiệm về trạng thái nhẹ nhàng, lực đẩy về phía trước và trạng thái nặng nề khi đang thiền hành chính là trạng thái tâm thức trải nghiệm được bản chất của vạn hữu. Trải nghiệm về trạng thái nhẹ nhàng là trải nghiệm về yếu tố lửa ( Tejo – Light) và gió ( Vāyo – Wind), trải nghiệm được lực đẩy về phía trước là trải nghiệm về yếu tố gió, trải nghiệm về trạng thái nặng nề là trải nghiệm về yếu tố đất ( Pathavī – Earth) và nước (Āpo – Water). Một nhà sư khác trong Pháp tòa cũng có một câu hỏi như sau : “ Đang khi tọa thiền, con trải nghiệm được “ tiến trình đang phồng lên của bụng” một cách dần dần từng bước một, con cũng trải nghiệm được “ tiến trình đang xẹp xuống của bụng”  từng bước một giống như thế. Khi bụng đã phồng lên hết mức hoặc đã xẹp xuống hết mức, con nhận thấy rằng nó đã dừng lại. Đây có phải là bản chất của vạn hữu hay không ?  Câu trả lời là : “ Đúng như vậy, đó chính là bản chất của vạn hữu. Khi năng lực định tâm đã trở nên mạnh mẽ và sắc bén thì bạn sẽ trải nghiệm được tiến trình đang phồng lên hay xẹp xuống của bụng một cách dần dần từng bước một. Nhận thấy được rằng, bụng đã đứng yên vào thời điểm nó đã phồng lên hay xẹp xuống hết mức là bước đầu đã hình thành được sự hiểu biết về trạng thái đang tan hoại của vạn hữu. Nhận thấy rằng, bụng đã có lúc đứng yên nghĩa là tiến trình đang phồng lên hay đang xẹp xuống đã không còn tiếp diễn nữa. Bạn sẽ lãnh hội được bản chất của trạng thái tan hoại ngay trong thời điểm tiến trình đang phồng lên của bụng đã chấm dứt, liền sau đó là sự xuất hiện của tiến trình đang xẹp xuống của bụng. Khi tiến trình xẹp xuống của bụng đã chấm dứt thì tiến trình phồng lên của bụng lại xuất hiện. Đây chính là bản chất thuộc về trạng thái tan hoại của các hiện tượng. Một nam hành giả người Mỹ đã hỏi rằng : “ Năng lực chú ý của con đã được cải thiện vào ngày 23 tháng 7 năm nay. Con đã có thể tập trung sự chú ý tốt hơn vào tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng. Khi tâm trí của con đang lang thang vô định, con có thể chú ý đến nó ngay lập tức. Khi đang tập trung chú ý đến tâm trí của mình, con nhận thức được rằng nó đã biến mất. Đây có phải là bản chất của vạn hữu hay không ? Câu trả lời là : “ Nếu có thể tập trung chú ý một cách ngay lập tức khi tâm trí của mình đang bị lang thang vô định thì điều này đã cho biết rằng, năng lực chú ý của bạn đã có sự tiến bộ. Đúng theo các cấp độ nội quán thì đầu tiên bạn sẽ gặt hái được Bhanga Ñāna ( Kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu – The knowledge about the Separation) và lãnh hội được tính vô thường. Một mệnh phụ hành giả 45 tuổi người Trung Quốc đã trình Pháp như sau : “ Con có thể tập trung chú ý đến khổ thọ

( Dukkha Vedanā – Suffering ‘s sensation) thuộc về thân xác vật lý của con, nhưng con chưa có khả năng chú ý đến khổ thọ thuộc về tinh thần. Trên phương diện thể xác, con có thể phân biệt được sự khác nhau giữa ý định muốn thực hiện một việc gì ( Paramattha) và  hành động thực hiện công việc đó (Paññatti). Tuy nhiên trên phương diện tinh thần,  con chưa có khả năng phân biệt được sự khác nhau giữa Paramattha  (thực tại cùng tột)và Paññatti ( khái niệm) ? Câu trả lời là :  “ Khi trạng thái định tâm đã vững vàng, tuệ minh sát đã trở nên sắc bén, thí chủ sẽ có khả năng tập trung sự chú ý đến khổ thọ nằm ngay trong tâm thức của mình. Sự chú ý của thí chủ phải được duy trì một cách liên tục. Nhờ vậy, nó sẽ gặt hái được xung lượng ( tức sức đẩy trong tự nhiên - momentum). Thí chủ cần phải có khả năng chú ý đến những hoạt động đa dạng hàng ngày của chính mình, đặc biệt phải lưu ý và thực hành cách tu tập này. Thí chủ có thể chú ý đến “ Paññatti” và “ Paramatthathuộc về thân xác nhưng không thể chú ý đến “ Paññatti” và “ Paramatthathuộc về tinh thần. Vì sao vậy ? Bởi vì tâm tự nó đã là  Paramattha- Thực tại cùng tột ( Ultimate reality). Thí chủ không thể so sánh hay phân tích tâm thêm một lần nữa. Vào ngày 24 tháng 07 năm 1994, tức nhằm ngày trăng khuyết thứ hai của tháng Waso năm 1356 theo lịch Miến Điện, từ 4 giờ chiều đến 5 giờ 30 phút chiều, bậc Trưởng Thượng đã thuyết Pháp tại buổi lễ bế giảng khóa tu thiền 5 ngày tại trung tâm thiền Như Lai ở San Jose.Tiến sĩ U Mya Aung đã thông dịch bài Pháp thoại này sang tiếng Anh, nhà sư người Việt Nam có Pháp danh là U Virapanno đã thông dịch nó sang tiếng Việt. Cũng trong ngày này, tại trung tâm thiền Như Lai ở San Jose đã diễn ra lễ bế giảng khóa tu thiền 5 ngày .

 Lễ bế giảng khóa thiền

Thời đại ngày nay, phong trào thực hành thiền minh sát đang phát triển rất hưng thịnh. Vì vậy, trong những thành phố, làng mạc và nhiều nơi khác đã xuất hiện những trung tâm thiền. Trong một vài thành phố và trong một vài ngôi làng, người ta thường tổ chức một khóa tu thiền trong khoảng thời gian là 10 ngày. Có một vài nơi lại tổ chức một khóa tu thiền trong vòng 7 ngày và cũng có một vài nơi khác chỉ tổ chức một khóa tu thiền trong vòng 5 ngày . Trong ngày cuối cùng của các khóa thiền, lễ bế giảng sẽ được cử hành. Trong buổi lễ này, các bậc Trưởng Thượng và các thành viên trong Tăng Già sẽ có các bài thuyết Pháp. Tại San Jose – California, vào ngày 13 trăng tròn tháng Waso năm 1356 theo lịch Miến Điện ( 20 / 07 / 1994) đã diễn ra khóa ẩn dật để tu học và thực hành thiền minh sát do Ngài Saddhammaramsī ( trung tâm thiền Saddhammaramsī - Ngưỡng Quang - Miến Điện) hướng dẫn với tư cách là một Đại sư

( Mahāguru - Chief  intructor). Vào ngày bế giảng khóa thiền ( 24 / 07 / 1994), như đã được thỉnh cầu, bậc Trưởng Thượng trung tâm thiền Saddhammaramsīđã có bài thuyết Pháp sau :

 “Tại buổi lễ bế giảng khóa thiền này, tôi sẽ nói về 3 loại Giáo Pháp :

1. Được hạnh phúc vì đã thực hành thiền minh sát trong vòng 5 ngày.

2. Không dừng sự chú ý lại cho đến khi đã đạt được mục đích.

3. Liên tục chú ý một cách chi tiết đến các hoạt động đa dạng hàng ngày của chính mình.

- Được hạnh phúc vì đã thực hành thiền minh sát trong vòng 5 ngày nghĩa là : Bạn cần phải thực hành loại thiền mà các vị Phật Toàn Giác, Phật Độc Giác và những vị A-La-Hán từng thực hành trong quá khứ và đã đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Bạn cần phải học tập và thực hành theo con đường của các vị Phật Toàn Giác, Phật Độc Giác và các vị A-La-Hán. Nếu thực hành như vậy thì nhất định đến một ngày nào đó, bạn sẽ đạt tới Niết Bàn hạnh phúc – nơi các vị Phật và các vị A-La-Hán đã đạt tới. Nếu phản hồi những điều trên trong tâm thức của chính mình, bạn sẽ được hạnh phúc. Việc thực hành thiền minh sát mang lại cho bạn nhiều lợi ích cao thượng. Bạn sẽ cảm thấy rất hạnh phúc. Thực hành thiền minh sát là công việc mang lại nhiều lợi ích nhất. Vì vậy, nếu mong muốn xử dụng thời gian rảnh của mình sao cho lợi ích nhất thì bạn nên thực hành thiền tứ niệm xứ ( tức thiền minh sát). Thực hành thiền tứ niệm xứ đơn giản chỉ là thực hành sự chú ý để nhận thức. Tuy nhiên, bạn sẽ thu được 2 loại lợi ích. Một mặt, bạn sẽ loại bỏ được tính tham lam, sân hận và vọng tưởng - những thứ ô nhiễm có thể dẫn dắt bạn xuống địa ngục. Mặt khác, bạn sẽ gặt hái được năng lực định tâm, tuệ minh sát và Niết Bàn hạnh phúc. Khi thực hành thiền tứ niệm xứ, trong mọi sự chú ý, bạn ngày càng tránh xa được địa ngục luân hồi ( Niraya Samsāra ) và ngày càng gần gũi với Niết Bàn hạnh phúc. Mỗi khi thực hiện một hành động xứng đáng, bạn hãy ước nguyện rằng “ Cầu cho tôi được thoát khỏi địa ngục luân hồi nhiều khổ đau và đạt tới Niết Bàn hạnh phúc một cách nhanh chóng”. Vì vậy, bạn sẽ được mãn nguyện. Bởi vì khi thực hành thiền minh sát, bạn sẽ gặt hái được nhiều lợi ích cao thượng nên bạn sẽ được hạnh phúc. Những người thực hành thiền minh sát có thể tập trung chú ý trong khoảng thời gian tối thiểu là một giây đồng hồ. Như vậy trong một phút đồng hồ họ sẽ thực hành được 60 lần chú ý. Nói cách khác, trong một giờ đồng hồ họ sẽ thực hành được 3600 lần chú ý. Trong những ngày qua, bạn đã thực hành sự chú ý 14 giờ trong một ngày. Vì vậy, trong một ngày bạn đã thực hành được 50400 lần chú ý. Trong 5 ngày, bạn đã thực hành được 252000 lần chú ý. Năm trăm năm mươi hai ngàn lần chú ý này là những phước báu mà bạn đã gặt hái được cho đến khi đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Cách tính theo lối toán học này đã chỉ ra cho bạn thấy được những lợi ích to lớn mà việc thực hành thiền tứ niệm xứ đã mang lại khi bạn thực hành loại thiền này. Vì vậy, bạn sẽ được hạnh phúc.

- Khi nói rằng, bạn không nên dừng sự chú ý cho đến khi đạt được mục đích nghĩa là : Sau 5 ngày thực hành thiền tại trung tâm này, khi trở về nhà, bạn không nên ngừng thực hành sự chú ý, bởi vì bạn có thể dành nhiều thời gian của mình hơn cho những công việc khác. Có thể bạn sẽ không gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng đáng bỏ công ngay trong kiếp sống này. Vì vậy, bạn không nên tạm dừng sự chú ý cho đến khi đạt tới mục đích. Những bậc thầy chú giải Kinh Điển đã từng nói rằng :

Antarāca Abyosaneya”. Câu này nghĩa là bạn đừng nên dừng sự chú ý trước khi đạt tới mục đích. Mục đích ở đây là Đạo quả và Niết Bàn. Do đó, bạn nên thực hành sự chú ý một cách liên tục.

Tóm tắt: Không từ bỏ trước khi đạt tới mục đích bằng cách liên tục thực hành sự chú ý.

Khi sống trong kiếp người, bạn đã gặt hái được 4 điều kiện rất khó đạt được. Bốn điều kiện đó là :

1. Được làm người

2. Được sống như một con người

3. Được lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng

4. Được sống trong thời Giáo Pháp của Đức Phật vẫn đang còn tồn tại

Khi đã có được 4 điều kiện khó đạt được nêu trên, bạn có thể đạt tới Đạo Quả và Niết Bàn hạnh phúc - mục đích tận cùng của Phật Pháp. Đó là lý do tại sao, mặc dù đã rời khỏi trung tâm thiền nhưng bạn vẫn nên tiếp tục thực hành sự chú ý. Một đích cuối cùng của bài Pháp thoại hôm nay là các hành giả và quí vị Phật tử phải :

a.Thông qua Đạo Quả của một Tu-Đà-Hườn để nhận thức được rằng,Niết- Bàn là mục đích cùng tột của Phật Pháp,là một đối tượng của tư duy trực tiếp.

b. Thông qua Đạo Quả của một Tư-Đà-Hàm để nhận thức được rằng, Niết- Bàn là mục đích cùng tột của Phật Pháp, là đối tượng của tư duy trực tiếp.

c. Thông qua Đạo Quả của một A-Na-Hàm để nhận thức được rằng, Niết-Bàn là mục đích cùng tột của Phật Pháp, là một đối tượng của tư duy trực tiếp.

d. Thông qua Đạo Quả của một A-La-Hán để nhận thức được rằng, Niết-Bàn là mục đích cùng tột của Phật Pháp, là một đối tượng của tư duy trực tiếp.

Khi nói rằng, bạn phải liên tục chú ý một cách chi tiết đến các hoạt động đa dạng hàng ngày nghĩa là : Sau 5 ngày học tập và thực hành thiền tại trung tâm này, khi trở về nhà, bạn nên tiếp tục thực hành sự chú ý một cách chi tiết đến các hoạt động đa dạng hàng ngày của chính mình khi đang đi bộ, đang đứng, đang ngồi, đang nằm… để nhận biết được bản chất của những hoạt động thuộc về thân xác. Hình thức tu tập này đã được Đức Phật truyền bá và gọi tên nó là Sampajanna. Từ Pāli này có nghĩa là Lãnh hội những chuyển động thuộc về thân xác một cách trong sáng. “ Abhikkante patikkante sampajānakārihoti”. Điều đầu tiên và quan trọng nhất mà Đức Phật đã truyền bá trong hình thức tu tập này là “ khi đang chuyển động về phía trước và quay lại phía sau” hoặc đang có các chuyển động khác thuộc về thân xác, bạn phải biết cách chú ý để lãnh hội được bản chất của chúng một cách trong sáng. Chuyển động về phía trước và quay lại phía sau nghĩa là :

a. Chuyển động về phía trước và quay lại phía sau trong khi đang đi bộ

b. Chuyển động về phía trước và quay lại phía sau trong khi đang đứng

c.  Chuyển động về phía trước và quay lại phía sau trong khi đang ngồi

d. Chuyển động về phía trước và quay  lại phía sau trong khi đang nằm

 -  Chuyển động về phía trước và quay trở lại phía sau khi đang đi bộ là những chuyển động rất dễ nhận thấy khi bạn thực hành thiền minh sát. Nếu tập trung chú ý đến “ hành động đang dở chân lên”, “ đang bước tới” và “ đang đặt chân xuống” khi đang đi bộ, bạn sẽ nhận thấy rằng những hành động này là những chuyển động về phía trước. Khi đã đi qua hết đoạn đường xử dụng để thiền hành, bạn sẽ “quay trở lại” và hành động quay trở lại nàychuyển động quay trở lại phía sau. Chú ý đến “ hành động đang dở chân lên”, “ đang bước tới” và “ đang đặt chân xuống” là chú ý đến những chuyển động của thân xác

 ( Sampajanna). Đức Phật cũng đã từng cho phép các đệ tử của Ngài bắt đầu quá trình tu tập bằng cách thực hành sự chú ý đến các chuyển động dễ nhận thấy thuộc về thân xác. Khi đang chuyển động về trước và tiến đến điểm cuối của đoạn đường dành để thiền hành, bạn sẽ tạm dừng chuyển động về phía trước đồng thời quay trở lại phía sau. Nếu có ý định thực hiện hành động quay trở lại phía sau, bạn sẽ nhận thấy rằng “ý định muốn quay trở lại” này sẽ khởi lên trong tâm trí của mình một cách rất rõ ràng. Vì vậy, bạn phải niệm thầm trong tâm “đang có ý định muốn quay trở lại, đang có ý định muốn quay trở lại…”. Tiếp liền sau “ý định này” là “ chuyển động quay trở lại” sẽ xuất hiện. Đến lúc này, bạn phải niệm thầm trong tâm “đang quay trở lại, đang quay trở lại…”. Khi đã có thể chú ý và nhận biết được “ ý định muốn quay trở lại” thì năng lực nội quán của bạn đã tiến bộ được 2 bậc. “Ý định muốn quay trở lại” chính là sự nhận thức của tâm trí, nó thuộc về danh uẩn hay tinh thần

( Ñāna – Spirits). “ Chuyển động quay trở lại của thân thể không hề có sự nhận thức, vì vậy nó thuộc về sắc uẩn hay vật chất ( Rūpa – Material). Từ đó, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất ( Nāmarūpa pariccheda Ñāna – The knowledge for distinguishing between mind and matter). Do có “ ý định muốn quay trở lại” mà “ chuyển động quay trở lại” mới hiện khởi. “Ý định muốn quay trở lại” của tâm trí chính là nguyên nhân và “ chuyển động quay trở lại” của thân thể là kết quả. Vì vậy, bạn đã gặt hái được kiến thức về luật nhân quả ( Paccayapariggaha Ñāna – The knowledge of cause and effect). Theo cách này, năng lực nội quán của bạn đã tiến bộ thêm 2 bậc nữa.

- Chuyển động về phía trước và quay trở lại phía sau khi đang đứng nghĩa là : khi bạn đang đứng và cúi xuống phía dưới để làm một việc gì đó. Đây là chuyển động về phía trước. Khi bạn dùng sức để đứng dậy sau khi đã cúi xuống là chuyển động quay trở lại phía sau. Những chuyển động nói trên là rất dễ nhận thấy. Khi đang đứng, trước khi cúi xuống phía dưới để làm một việc gì đó, nếu bạn có “ ý định cúi xuống” thì ý định này sẽ hiện khởi một cách rõ ràng và rất dễ nhận thấy. Bạn cần phải chú ý đến “ ý định này” và niệm thầm trong tâm “đang có ý định cúi xuống, đang có ý định cúi xuống…”. Tiếp liền sau “ ý định muốn cúi xuống” thì “ chuyển động cúi xuống sẽ hiện khởi”. Ngay lúc đang thực hiện hành động cúi xuống, bạn phải niệm thầm trong tâm “đang cúi xuống, đang cúi xuống…”. Ý định muốn cúi xuống phía dưới chính là sự nhận thức của tâm trí. Vì vậy nó thuộc về tinh thần. Chuyển động cúi xuống của thân thể không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Do đó, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Bởi vì có “ ý định muốn cúi xuống”  nên “ chuyển động cúi xuống” mới hiện khởi. “ Ý định muốn cúi xuống” chính là nguyên nhân và “ chuyển động cúi xuống” là kết quả của nguyên nhân ấy. Vì vậy, bạn đã gặt hái được kiến thức về luật nhân quả. Khi bạn thực hiện “ hành động đứng thẳng lên” thì “ ý định muốn thực hiện hành động này” đã hiện khởi ngay trước đó. Nếu tập trung sự chú ý đến “ ý định muốn đứng thẳng lên”, bạn sẽ nhận thấy nó khởi lên một cách rất rõ ràng. Bạn cần phải chú ý ngay khi “ý muốn đứng thẳng lên” đang hiện khởi  và niệm thầm trong tâm “đang có ý định muốn đứng thẳng lên, đang có ý định muốn đứng thẳng lên…”. Tiếp liền sau “ ý định muốn đứng thẳng lên ” thì “ chuyển động đứng thẳng lên” sẽ hiện khởi. Ngay lúc hành động đứng thẳng lên đang được thực hiện, bạn phải niệm thầm trong tâm “đang đứng thẳng lên , đang đứng thẳng lên…”. “Ý định muốn đứng thẳng lên” chính là sự nhận thức của tâm trí. Vì vậy nó thuộc về tinh thần. “ Chuyển động đứng thẳng lên” của thân thể không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Do đó, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Bởi vì bạn có “ ý định muốn đứng thẳng lên”  nên “ chuyển động đứng thẳng lên” mới hiện khởi. “Ý định muốn đứng thẳng lên” chính là nguyên nhân và “ chuyển động đứng thẳng lên” là kết quả. Vì vậy, bạn đã gặt hái được kiến thức về luật nhân quả.                 

- Chuyển động về phía trước và quay trở lại phía sau khi đang ngồi nghĩa là : Khi bạn đang đảnh lễ Đức Phật. Khi đó, bạn đang tập trung tâm ý để cúi lạy và đảnh lễ. Đây là chuyển động về phía trước. Chuyển động này rất dễ nhận thấy. Khi đã cúi lạy và đảnh lễ xong, bạn ngồi thẳng dậy. Đây là chuyển động về phía sau. Khi đang ngồi, trước khi đảnh lễ, nếu bạn có ý định muốn cúi lạy thì ý định này là rất dễ nhận thấy. Nó khởi lên trước hết và rõ ràng nhất. Bạn cần phải chú ý đến “ý định này” và niệm thầm trong tâm “đang có ý định đảnh lễ, đang có ý định đảnh lễ…”. Tiếp đến là hành động đảnh lễ sẽ hiện khởi. Lúc này, bạn phải niệm thầm trong tâm mình “đang đảnh lễ, đang đảnh lễ…”. Ý định muốn đảnh lễ chính là sự nhận thức của tâm trí. Vì vậy, nó thuộc về tinh thần. Chuyển động cúi lạy của thân thể để đảnh lễ không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Bởi vì bạn có “ ý định muốn cúi lạy để đảnh lễ”  nên “ chuyển động cúi lạy” mới hiện khởi. Ý định muốn cúi lạy để đảnh lễnguyên nhânchuyển động cúi lạykết quả . Vì vậy, bạn đã gặt hái được kiến thức về nhân quả. Sau khi đảnh lễ Đức Phật xong, nếu bạn có “ý định muốn ngồi thẳng lên” thì ý định này sẽ hiện khởi trước “ hành động ngồi thẳng lên” và nó là rất dễ nhận thấy. Bạn cần phải chú ý đến “ ý định này” và niệm thầm trong tâm “đang có ý định ngồi thẳng lên, đang có ý định ngồi thẳng lên…”. Tiếp đến là

 “ chuyển động ngồi thẳng lên” sẽ hiện khởi. Ngay lúc này, bạn cần phải niệm thầm trong tâm “đang ngồi thẳng lên, đang ngồi thẳng lên…”. Ý định muốn ngồi thẳng lên chính là sự nhận thức của tâm trí. Vì vậy nó thuộc về tinh thần. Chuyển động ngồi thẳng lên của thân thể không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Như vậy, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Bởi vì bạn có “ ý định muốn ngồi thẳng lên” nên “ chuyển động ngồi thẳng lên” mới hiện khởi. “Ý định muốn ngồi thẳng lên” chính là nguyên nhân và “ chuyển động ngồi thẳng lên” của thân thể là kết quả. Do đó, bạn đã gặt hái được kiến thức về luật nhân quả.

- Chuyển động về phía trước và quay trở lại phía sau khi đang nằm nghĩa là: khi đang ngồi, bạn nằm sấp dài ra phía trước. Đây là chuyển động về phía trước. Sau khi đã nằm sấp dài ra phía trước, bạn ngồi bật dậy. Đây là chuyển động về phía sau. Khi đang ngồi, nếu bạn có “ ý định nằm sấp dài ra phía trước” thì ý định này sẽ khởi lên trước tiên và rất dễ nhận thấy. Bạn cần phải chú ý đến “ý định này” và niệm thầm trong tâm “đang có ý định nằm sấp dài ra phía trước, đang có ý định nằm sấp dài ra phía trước”. Tiếp đến,

 “ chuyển động nằm sấp dài ra phía trước” sẽ hiện khởi. Ngay lúc này, bạn cũng cần niệm thầm trong tâm “đang nằm sấp dài ra phía trước, đang nằm sấp dài ra phía trước…”. “Ý định muốn nằm sấp dài ra phía trước để đảnh lễ” chính là sự nhận thức của tâm trí. Vì vậy nó thuộc về tinh thần.

Chuyển động nằm sấp dài ra phía trước” của thân thể không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Do đó, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Bởi vì bạn có “ ý định muốn nằm sấp dài ra phía trước để đảnh lễ Đức Phật”  nên “ chuyển động nằm dài ra phía trước” mới hiện khởi. “Ý định muốn nằm sấp dài ra phía trước” chính là nguyên nhân và “ chuyển động nằm dài ra phía trước” là kết quả. Vì vậy, bạn đã gặt hái được kiến thức về nhân quả. Sau khi đã nằm sấp dài ra phía trước để đảnh lễ Đức Phật, nếu bạn có “ ý định muốn đứng thẳng dậy” thì “ý định này” sẽ khởi lên trước tiên và rất dễ nhận thấy. Tiếp liền sau “ý định này” thì  “chuyển động đứng thẳng dậy” sẽ hiện khởi. Ý định muốn đứng thẳng dậy chính là sự nhận thức của tâm trí.Vì vậy nó thuộc về tinh thần. Chuyển động đứng thẳng dậy của thân thể thì không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Do đó bạn sẽ gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa vật chất và tinh thần. Bởi vì bạn có “ ý định muốn đứng thẳng dậy” nên “ chuyển động đứng thẳng dậy” của thân thể mới hiện khởi. “Ý định muốn đứng thẳng dậy” chính là nguyên nhân và  “chuyển động đứng thẳng dậy” của cơ thể chính là kết quả. Vì vậy, bạn đã gặt hái được kiến thức về nhân quả.

Mỗi khi bạn đã có khả năng chú ý đến những chuyển động về phía trước và quay trở lại phía sau lúc đang làm một điều gì thì năng lực nội quán của bạn đã tăng tiến thêm 2 bậc. Đó là kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất, kiến thức về luật nhân quả. Bởi vì đã gặt hái được 2 loại kiến thức nói trên, tâm trí của bạn chắc chắn sẽ bình yên. Do đó, trong những kiếp sống kế tiếp, bạn sẽ được tái sanh vào những cảnh giới cao thượng như cõi người hay cõi Chư Thiên… Như các bậc thầy chú giải Kinh Điển đã từng chỉ rõ, nếu đã gặt hái được một trình độ tu chứng như vừa được trình bày ở trên, bạn đã là một Tiểu Tu-Đà-Hườn.Vì vậy, sau khi đã học tập và thực hành thiền trong 5 ngày tại trung tâm thiền Như lai, đến khi trở về nhà, bạn hãy tiếp tục thực hành thiền theo cách thức như đã học và phải :

a. Vui thích khi thực hành thiền

b. Không dừng sự chú ý cho đến khi đạt được mục đích

c. Liên tục chú ý một cách chi tiết đến những hoạt động đa dạng hàng ngày, lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng như bạn đã từng lắng nghe. Đặc biệt cầu chúc cho bạn sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng, đạt tới Niết Bàn hạnh phúc một cách nhanh chóng và dễ dàng như đã mong muốn. Lành thay !           

Từ San Jose đến Chicago

Vào ngày trăng khuyết thứ 6 tháng waso năm 1356 theo lịch Miến Điện ( 28 / 07 / 1994), bậc Trưởng Thượng và tiến sĩ U Mya Aung đã rời khỏi phi trường San Francisco để đến Chicago. Tại phi trường Chicago, bậc Trưởng Thượng và phái đoàn đã gặp gỡ Ngài U Vijaya và Ngài U Dhammapiya đến từ tu viện Miến Điện ( Myanmar monastery), Daw May Kyi Win và nhiều bổn Đạo khác .Tu viện Miến Điện ở Chicago, nơi chưa bao giờ có một thiền đường. Daw May Kyi Win đã có những sự vận động và tổ chức đặc biệt để xây dựng một thiền đường tại đây. Do ảnh hưởng của Daw May Kyi Win và sự tác động của nhiều bổn Đạo khác, một thiền đường đã ra đời tại tu viện Miến Điện ở Chicago.

 Thiền đường tại tu viện Miến Điện ở Chicago

Vào ngày trăng khuyết thứ 7 tháng Waso năm 1356 theo lịch Miến Điện, từ 8 giờ tối đến 9 giờ 30 phút tối đã có một thời thuyết Pháp nói về 4 điều kiện khó đạt được. Đã có khoảng từ 20 đến 30 thính giả đến nghe thuyết Pháp, trong đó có 2 người Mỹ. Vào cuối thời thuyết Pháp, các bổn Đạo đã trình Pháp với bậc Trưởng Thượng rằng, họ đã gặt hái được rất nhiều lợi ích khi lắng nghe thuyết Pháp và cảm thấy rất hoan hỷ. Ngày hôm nay, đề tài của thời thuyết Pháp là “ Kiếp sống Cao Thượng”. Theo như Kinh Vô Thủy ( Anamatagga Sutta) thì những thính giả đang lắng nghe thuyết Pháp tại tu viện này đã từng trải qua vô lượng kiếp sống. Trong những kiếp sống đó, kiếp sống hiện tại là tốt đẹp và cao thượng nhất. Nhưng vì sao trong thực tế, kiếp sống hiện tại bây giờ của chúng ta lại chưa được tốt đẹp và cao thượng nhất ? Bởi vì nó vẫn còn là một kiếp sống trong luân hồi dài bất tận. Bạn không thể nhớ được rằng trong quá khứ, mình đã trải qua bao nhiêu kiếp sống trong luân hồi, một ngàn năm hay một trăm ngàn năm ? Bạn không thể nhớ được bởi vì bạn đã từng trải qua quá nhiều kiếp sống lẫn lộn. Sở dĩ kiếp sống hiện tại này chưa được tốt đẹp và cao thượng nhất bởi vì nó bị chúng ta cố tình kéo dài thêm bằng sự bám víu, khao khát được tiếp tục hiện hữu và bất tử. Cuộc sống của chúng ta chưa được cao thượng bởi vì chúng ta đã trở nên giàu sang tột độ và sở hữu nhiều của cải vượt quá mức cần thiết. Trong vô lượng kiếp sống ở quá khứ, chúng ta đã từng giàu sang và có nhiều của cải không thể kể xiết hơn kiếp sống hiện tại bội phần. Đó là lý do tại sao trong kiếp sống ở hiện tại, chúng ta chưa được tốt đẹp và cao thượng nhất nếu cứ tiếp tục tham lam của cải và khao khát sự thịnh vượng ở một mức độ thái quá. Cuộc sống của chúng ta chưa được tốt đẹp và cao thượng nhất bởi vì chúng ta còn nhiều khao khát quyền lực và muốn gây ảnh hưởng đến những người khác. Bạn không thể nhớ được rằng, trong những kiếp sống ở quá khứ, mình đã từng là các vị hoàng đế hay lãnh chúa phong kiến nhiều quyền lực. Đó là lý do tại sao trong kiếp sống hiện tại này, nếu  cứ tiếp tục khao khát, bám víu vào quyền lực và muốn gây ảnh hưởng đối với người khác thì chúng ta sẽ vẫn chưa được tốt đẹp và cao thượng nhất. Thế thì tại sao kiếp sống hiện tại của chúng ta  lại được gọi là tốt đẹp và cao thượng nhất?  Bởi vì chúng ta đang được sống trong thời mà Giáo Pháp của Đức Phật vẫn còn tồn tại, chúng ta có thể gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng của Ngài ngay trong kiếp sống hiện tại này, có thể đóng cánh cửa địa ngục lại và đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Tại sao chúng ta lại có thể đóng được cánh cửa của địa ngục nhiều khổ đau ? Tại sao chúng ta lại có thể gặt hái được Giáo pháp Cao Thượng của Đức Phật và đạt tới Niết Bàn hạnh phúc?  Bởi vì chúng ta đã gặt hái 4 điều kiện khó đạt được. Trong mùa an cư thứ 7 của Đức Phật, Ngài đã du hành đến sông Hằng ( Gangā river) ở Barānasī ( đô thị của xứ Ba-La-Nại – Benares). Lúc bấy giờ, Đức Phật đang ở gần một cây cổ thụ to lớn, bằng ví dụ nói về Long Vương Erakapatta (một người đã sống hết kiếp người của mình và tái sanh thành một con rồng), Đức Phật đã chỉ ra cho các đệ tử của Ngài thấy 4 điều kiện khó đạt được mà con người đã gặt hái, đó là :

1. Được làm người là một điều kiện khó đạt được

2. Được sống như một con người là một điều kiện khó đạt được

3. Có khả năng lắng nghe Giáo Pháp là một điều kiện khó đạt được

4. Được sống trong thời Giáo Pháp của Đức Phật vẫn đang còn tồn tại là một điều kiện khó đạt được.

Bởi vì 4 điều kiện khó đạt được nói trên đã hiện hữu trong tâm thức của bạn, nếu thực hành thiền tứ niệm xứ bằng một phương pháp đúng đắn thì đối với bạn, cánh cửa địa ngục trong kiếp sống này sẽ vĩnh viễn bị đóng lại. Bạn sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng và đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Đó là lý do tại sao kiếp sống này là tốt đẹp và cao thượng nhất. Trong Kinh Móng Tay Sư Tử ( Nakhasīha Sutta) có nói đến đoạn Đức Phật đã bốc một nhúm bụi đất, đặt nó lên móng tay của Ngài và thuyết rằng, được làm người là một điều kiện khó đạt được. Vào thời Đức Phật đang trú tại tu viện Kỳ-Viên ( Jetavana vihara) ở Xá-Vệ ( Savāţţhi).

Một ngày nọ, các Tỳ-kheo và những thính giả Phật tử đã tập họp lại để nghe Đức Phật thuyết Pháp. Hôm đó, vì không có thời gian để thuyết Pháp, Đức Phật đã một mình đi đến chỗ mà những Tỳ-kheo và những thính giả Phật tử đang tụ họp. Khi vừa đến nơi, Ngài đã bốc một nhúm bụi đất và đặt lên móng tay của mình và hỏi rằng : “ Hỡi các Tỳ-kheo ! Bụi trên móng tay của ta và bụi trên toàn trái đất nơi nào nhiều hơn ?”. Các Tỳ-kheo đã trả lời rằng, bụi trên móng tay của Đức Phật là quá ít ỏi nếu đem so sánh với bụi trên toàn trái đất, bụi trên toàn trái đất là nhiều hơn”. Đức Phật lại nói tiếp : “ Hỡi các Tỳ-kheo ! kiếp sống làm người mà các ông đã gặt hái được cũng giống như bụi ở trên móng tay của ta đây. Sau khi đã mãn kiếp người, những chúng sanh được tái sinh vào cõi người sẽ ít ỏi như nhúm bụi đang nằm trên móng tay của ta. Sau khi đã mãn kiếp người, những chúng sanh bị đọa xuống địa ngục là nhiều vô số kể. Họ nhiều như bụi trên toàn trái đất này. Vì vậy, trở thành người là một điều kiện rất khó đạt được. Bạn đã gặt hái được kiếp người khó đạt được này và đây là một điều kiện hiếm hoi tựa như nhúm bụi nằm trên móng tay của Đức Phật. Khi đã nhận biết được điều đó, mỗi người trong chúng ta cần phải thực hành thiền tứ niệm xứ một cách hăng hái và mãnh liệt. Ngài Đại-Trưởng-Lão Mahāsīđã từng sáng tạo ra một câu nói tóm tắt rất dễ nhớ dành cho các thế hệ mai sau để động viên họ phải thực hành thiền tứ niệm xứ một cách mãnh liệt.

Tóm tắt: Được làm người là một điều kiện khó đạt được. Vì vậy, bạn đã gặt hái được những điều khó đạt được trong kiếp sống làm người này.   

 Mỗi khi Đức Phật không có thời gian để thuyết Pháp cho các đệ tử của Ngài nghe thì Ngài lại nói : “ Bởi vì quí vị đã gặt hái được một điều hiếm hoi là được làm người. Điều hiếm hoi này có thể so sánh như bụi đang nằm trên móng tay của ta. Quí vị đang được sống trong thời mà Giáo Pháp của ta vẫn đang còn tồn tại. Vì vậy, đừng nên sống trong quên lãng, hãy thực hành sự chú ý”. Câu nói “ Đừng nên sống trong quên lãng, hãy thực hành sự chú ý” có nghĩa là phải tích lũy phước báu bố thí, giữ Giới, thiền định để tận hưởng kiếp sống xa hoa ở cõi người, cõi Chư Thiên và Phạm Thiên”. Đây có phải là chân lý hay chưa ? Câu trả lời là chưa. Thật ra ý nghĩa của câu nói “ Đừng nên sống trong quên lãng…” có nghĩa là : “ Kể từ kiếp sống này, những thính giả Phật tử đang lắng nghe thuyết Pháp ở đây và tất cả muôn loài chúng sanh có tri giác đừng quên thực hành thiền minh sát để thoát khỏi những khổ đau trong địa ngục luân hồi và đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Tại sao “ đừng nên sống trong quên lãng” lại vượt thoát được những khổ đau trong luân hồi ? Bởi vì Đức Phật của chúng ta khi còn là một vị Bồ-Tát, Ngài đã từng tích lũy các hạnh Ba-La-Mật trong khoảng thời gian là 4 A-Tăng- Kỳ và một ngàn Đại-kiếp. Trong khoảng thời gian dài đó, Ngài đã không cần lưu tâm đến cuộc sống của chính Ngài. Thậm chí, Ngài đã hy sinh cả tứ chi của mình để nuôi sống những loài sinh vật khác. Đức Phật đã hy sinh cuộc sống của Ngài không phải vì mục đích được tận hưởng những kiếp sống xa hoa ở cõi người, cõi Chư Thiên và Phạm-Thiên. Ngài đã hy sinh cả cuộc đời của chính Ngài để vượt thoát khỏi những khổ đau trong địa ngục luân hồi và đạt tới Niết Bàn hạnh phúc bằng cách tích lũy các hạnh Ba-La-Mật. Đó là lý do tại sao, ý nghĩa của câu nói đơn giản “ đừng nên sống trong quên lãng” của Đức Phật đã được giải thích một cách chi tiết và rõ ràng. Do đó, bạn hãy thực hành thiền tứ niệm xứ càng nhiều càng tốt mỗi khi thời gian cho phép. Trong thời Đức Phật còn tại thế, nếu bạn thực hành Phật Pháp để trở thành một Tu-Đà-Hườn, một Tư-Đà-Hàm hay một A-Na-Hàm thì đây chưa phải là mong ước của Ngài. Thật ra, chỉ khi bạn thực hành Phật Pháp để trở thành một vị A-La-Hán thì điều này mới đúng với mong ước của Đức Phật. Trong thời Đức Phật còn tại thế, tất cả những vị đệ tử của Ngài đã thuần thành trong những hạnh Ba-La-Mật ( Pāramitā – Perfection) của họ. Vì vậy, mục đích tu hành cao nhất của họ là trở thành những vị A-La-Hán. Thời đại ngày nay là thời hậu Giáo Pháp. Vì vậy, việc thực hành Phật Pháp để trở thành một A-La-Hán là tương đối hiếm hoi và rất khó đạt được. Tuy nhiên, khi thực hành Phật Pháp, bạn cần phải đặt ra cho mình một mục đích tối thiểu là trở thành một Tu-Đà-Hườn. Khi sống trong thời Giáo Pháp của Đức Phật vẫn đang còn tồn tại và đã gặt hái được kiếp người, bạn nên thực hành thiền tứ niệm xứ để tối thiểu cũng thoát được khỏi địa ngục và đạt tới Đạo Quả của một Tu-Đà-Hườn. Ngài Đại Trưởng Lão Mahāsī, Ngài Webù, Ngài Taungpulu và nhiều bậc Trưởng Thượng khác là những bậc có lòng trắc ẩn vô biên cũng đã từng thúc giục những đệ tử của các Ngài rằng, khi Giáo Pháp của Đức Phật vẫn đang còn tồn tại thì hãy thực hành Phật Pháp để tối thiểu cũng thoát khỏi địa ngục hiểm nguy. Nếu không thực hành Phật Pháp thì sẽ không còn con đường nào khác để thoát khỏi địa ngục. Bây giờ, những thính giả Phật tử cũng nên thực hành Phật Pháp với hết khả năng có thể, càng sớm càng tốt. Ngài Mahāsī cũng đã từng có một câu nói động viên nhẹ nhàng sau đây :

Tóm tắtĐể thoát khỏi địa ngục hiểm nguy, chúng ta sẵn sàng thực hành Phật Pháp để trau dồi trí tuệ.

Đức Phật cũng đã từng thúc giục và động viên các đệ tử của Ngài bằng câu nói “ Khanove ma upaccaya”. Câu này nghĩa là “ Đừng đánh mất cơ hội lớn vì không quan tâm đến Phật Pháp, hãy thực hành Phật Pháp để tối thiểu cũng gặt hái được trạng thái tâm thức có thể đóng lại cánh cửa của địa ngục. Như lời động viên của Đức Phật, những thính giả Phật tử cần phải thực hành Phật Pháp mỗi khi có thể. Tuy nhiên, cũng có nhiều người chưa thể thực hành theo đúng như lời thúc giục và động viên của Đức Phật ( Khanatitā). Điều này cónghĩa là những người vừa nói đã đánh mất cơ hội lớn để giác ngộ như Đức Phật. Nirayamhi nghĩa là sống trong địa ngục, Samapita nghĩa là sẽ đi xuống địa ngục. Socanti anusocanti nghĩa là sẽ gặp điều buồn khổ nhiều lần. Vì vậy, Đức Phật với lòng trắc ẩn đã thuyết ra bài Pháp trí tuệ. Có những người đã đánh mất cơ hội lớn để gặt hái được những lời dạy của Đức Phật

( Sasanā – The Buddha ‘s Teachings) và sự giác ngộ giống như Ngài. Tâm thức của họ không gặt hái được Phật Pháp. Vì vậy, họ có thể bị đọa xuống địa ngục và phải chịu nhiều nhiều khổ đau. Đức Phật đã từng nói rằng, khi đang được làm kiếp người và được sống trong thời Giáo Pháp của Ngài đang còn tồn tại, những người này đã không chịu thực hành Phật Pháp để khép lại cánh cửa của địa ngục. Đợi đến khi đã xuống địa ngục rồi, họ mới trở nên hối hận và buồn than với những giọt nước mắt. Do đó, để không bị hối hận và buồn than, khi đang còn làm người và được sống trong thời Giáo Pháp của Đức Phật vẫn đang còn tồn tại thì bạn hãy thực hành Phật Pháp với một thân tâm dũng mãnh. Bạn nên đặt ra cho mình mục đích tối thiểu là phải đạt tới quả vị tu chứng của một Tu-Đà-Hườn – giống như một con thuyền nhỏ có thể đưa bạn đến bến bờ bên kia rồi dẫn đến Đại Dương Giáo pháp ( tiếng Hán-Việt gọi là Đáo bỉ ngạn, tức đã tới bờ bên kia -ND), tức đạt tới Niết-Bàn và đoạn tận những khổ ưu.

-  Bằng năng lực nội quán, Đức Phật đã nhận thức rằng, được sống trong kiếp người là một điều kiện rất khó đạt được. Nếu có được sự hiểu biết đúng đắn thì bạn cũng sẽ thừa nhận rằng, nhận thức của Đức Phật là hoàn toàn chính xác. Bằng năng lực thần thông, Đức Phật đã nhận thức được rằng kiếp sống làm người mà bạn đang có trong ngày hôm nay là cực kỳ hiếm hoi. Bạn cũng chưa thể biết trước là trong ngày mai mình có còn được làm người nữa hay không. Nói cách khác, ngày hôm nay chúng ta đang sống đây nhưng ngày mai có thể chúng ta sẽ chết, chưa thể biết trước được. Đó là lý do tại sao, bạn cần phải thực hành Phật Pháp ngay trong ngày hôm nay. Sau đây là một câu nói hộ trì ngắn của Ngài Đại Đức Trưởng Lão Mahāsī  :

Tóm tắtĐược làm người là một điều kiện cực kỳ khó đạt được, hãy sống cho xứng đáng với với sự hiếm hoi và quí báu đó.

Đức Phật cũng đã từng giải thích trong Kinh Baddekarattha rằng, mặc dù ngày hôm nay bạn đang còn sống đây. Tuy nhiên ngày mai bạn có thể chết. Vì sao vậy ? Bởi vì trong thân thể của bạn có tới 96 loại bệnh nội tại ( bệnh từ trong thân phát ra). Thân thể của bạn có thể bị phá hủy bởi những loại vũ khí gây hại đến từ bên ngoài như : Các loại giáo mác, các loại kiếm hay thuốc độc…bằng chứng là rất nhiều chiến binh đã chết vì những loại vũ khí này. Bạn không thể nào thay đổi ý định của tử thần, cũng không thể van nài ông ta cho mình được sống thêm một năm nữa, hai năm nữa, ba năm nữa hay thậm chí chỉ là một vài tháng nữa… Bạn cũng không thể đút lót thần chết để được sống thêm một giờ phút nào nữa khi đã mạng chung. Bạn không thể thỏa thuận được với thần chết, dù là bằng cách nào. Bạn cũng không thể chiêu mộ binh sĩ để chiến đấu với thần chết và dành chiến thắng. Đó là lý do tại sao ngày hôm nay bạn đang sống đây nhưng ngày mai có thể bạn sẽ không còn sống nữa. Vì vậy, nếu như ngày hôm nay, bạn đang có cơ hội để thực hành bố thí, giữ Giới, thực hành thiền định và thiền minh sát thì hãy làm ngay và đừng chần chờ gì nữa. Đặc biệt, nếu ngày hôm nay bạn đang có cơ hội thực hành thiền minh sát để đóng lại cánh cửa của địa ngục thì bạn hãy bắt tay vào thực hành ngay. Bạn hãy nhớ lại hình ảnh của Đức Phật và tụng đọc câu ngắn dưới đây của Ngài Đại-Trưởng-Lão Tăng Thống Mahasì.

Tóm tắt: Với nhiều chiến binh, bạn cũng không thể chiến đấu chống lại thần chết hay đót lót cho ông ta. Vì vậy, bạn không thể biết trước được ngày mai mình có còn sống hay không, đừng chần chờ gì nữa cả, hãy thực hành Phật Pháp ngay trong ngày hôm nay.

Trong quá khứ, khi Đức Phật chưa đạt tới giác ngộ tối thượng, được lắng nghe thuyết Pháp về bố thí, giữ Giới và thiền định chưa phải là điều khó lắm. Lúc đó, thiền tứ niệm xứ vẫn chưa xuất hiện và cũng chưa có ai được nghe thuyết Pháp về loại thiền này. Chỉ đến khi Bồ-Tát Cồ-Đàm trở thành Phật và thành lập Tăng Đoàn thì lúc đó mới có thiền tứ niệm xứ. Đến lúc đó, mới có những buổi thuyết Pháp về loại thiền này. Trong quá khứ, đã có rất nhiều người chỉ thực hành bố thí và giữ Giới là chủ yếu. Họ không thể  thực hành thiền tứ niệm xứ. Ngay cả các bậc Trưởng Thượng và Tăng Già vào thời đó cũng chỉ nhấn mạnh đến việc rèn luyện đạo đức bằng cách bố thí và giữ Giới. Đặc biệt, có một số bậc Trưởng Thượng và Tỳ-kheo chỉ chú trọng đến Giới học ( Sīla Sikkhā). Họ không truyền bá thiền thiền tứ niệm xứ. Đó là lý do tại sao, trong thời đại mà người ta chỉ thực hành bố thí và giữ Giới thì chúng ta rất khó được lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng nói về thiền tứ niệm xứ. Bây giờ, khi bạn đang ngồi đây để lắng nghe thuyết Pháp là thời đại mà thiền tứ niệm xứ đang rất hưng thịnh. Do đó, bạn mới có thể lắng nghe thuyết Pháp về loại thiền này. Mặc dù thiền tứ niệm xứ đang rất hưng thịnh nhưng những người chưa có các hạnh Ba-La-Mật hay nền tảng đức hạnh đã được tích lũy trong quá khứ thì họ cũng chưa được nghe nói về loại thiền này. Vì vậy, được lắng nghe thuyết Pháp về thiền tứ niệm xứ là một điều kiện khó đạt được.

Tóm tắt: Được lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng là một điều kiện khó đạt được.

Được sống trong thời Giáo Pháp của Đức Phật vẫn đang còn tồn tại là một điều kiện khó đạt được. Chỉ khi Bồ-Tát Cồ- Đàm đã giác ngộ thành Phật thì lúc bấy giờ mới có Phật Pháp. Đức Phật đã từng tích lũy những hạnh Ba-La-Mật của Ngài trong khoảng thời gian là 4 A-Tăng-Kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp. Trong khoảng thời gian đó, Ngài đã hy sinh cả cuộc đời Ngài vì lợi ích của người khác. Thậm chí, Ngài đã hy sinh cả tứ chi của mình để nuôi sống những loài sinh vật khác. Đến khi những hạnh Ba-La-Mật của Ngài đã chín muồi và hoàn thiện thì lúc đó Ngài mới giác ngộ thành Phật. Khoảng thời gian mà Đức Phật đã giác ngộ và khoảng thời gian mà Ngài chưa giác ngộ là không thể so sánh được. Những thế giới xuất hiện trong khoảng thời gian mà Đức Phật chưa giác ngộ là vô số kể, những thế giới xuất hiện trong khoảng thời gian Ngài đã giác ngộ là vô cùng ít ỏi. Đó là lý do tại sao được sống trong thời mà Giáo Pháp của Đức Phật vẫn đang còn tồn tại là một điều kiện rất khó đạt được.Bây giờ đây, sở dĩ bạn đang được sống trong thời Phật Pháp vẫn còn tồn tại và được lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng là vì trong nhiều kiếp sống ở quá khứ, bạn đã từng tích lũy các hạnh Ba-La-Mật. Khi đang sống trong thời Phật Pháp vẫn còn tồn tại, vì sao bạn lại không nghĩ rằng mình cần phải thực hành những lời dạy của Đức Phật để có thể đóng lại cánh cửa của địa ngục ? Hãy tụng đọc câu ngắn sau của Ngài Đại Đức Trưởng Lão Mahasì và chiêm nghiệm :

Tóm tắt :  Được sống trong thời Phật Pháp vẫn đang tồn tại là một điều kiện rất khó đạt được. Bốn điều kiện khó đạt được đã đề cập ở trên được tóm tắt lại như sau :

a. Được làm người là một điều kiện rất khó đạt được

b. Được sống như một con người là một điều kiện rất khó đạt được

c. Được lắng nghe thuyết Pháp về thiền tứ niệm xứ là một điều kiện rất khó đạt được.

d. Được sống trong thời Phật Pháp vẫn đang còn tồn tại là một điều kiện rất khó đạt được.

Bốn điều kiện rất khó đạt được này không phải lúc nào cũng hội tụ trong một kiếp làm người. Sở dĩ trong kiếp sống này, bạn đã gặt hái được chúng là vì trong vô lượng kiếp sống ở quá khứ, bạn đã từng tích lũy các hạnh Ba-La-Mật. Hãy tụng đọc câu ngắn sau của Ngài Đại-Trưởng-Lão Mahāsī :  Tóm tắtBốn điều kiện khó đạt được đã đề cập ở trên không phải lúc nào cũng hội tụ trong một kiếp làm người.

Đức Phật đã từng chỉ rõ rằng, nếu muốn thực hành thiền tứ niệm xứ bằng một phương pháp đúng đắn để có thể gặt hái Bát Chánh Đạo thì bạn cần phải hội tụ được 4 điều kiện nói trên. Ngài Đại Trưởng Lão Tăng Thống Mahāsī cũng đã từng sáng tác một câu ngắn đúng theo ước muốn của Đức Phật để các đệ tử của Ngài, những thế hệ Phật tử trong tương lai hiểu rõ và thực hành thiền tứ niệm xứ, nhằm mục đích đạt tới một trạng thái tâm thức có thể đóng lại cánh cửa của địa ngục.

Tóm tắtKhi 4 điều kiện nêu trên đã được hội tụ trong tâm thức của mình, bạn sẽ nhận thức được Bát Chánh Đạo.

Khi đã hội tụ được 4 điều kiện khó đạt được nêu trên, bạn sẽ gặt hái được Phật Pháp, sẽ có khả năng đóng lại cánh cửa của địa ngục và đạt tới Niết Bàn ngay trong chính kiếp sống này. Bạn có thực sự tin như vậy không ? Nếu bạn thật sự có niềm tin như vậy thì hãy thực hành thiền tứ niệm xứ với một phương pháp đúng đắn để tự giải phóng cho chính mình.Vì vậy, bây giờ tôi sẽ thuyết tóm tắt về phương pháp đúng đắn khi thực hành thiền tứ niệm xứ. Có 3 phương pháp để thực hành loại thiền này :

1. Tham thiền khi đang ngồi

2. Tham thiền khi đang đi bộ

3. Tham thiền khi đang thực hiện các hoạt động hàng ngày.

  Tham thiền khi đang ngồi ( tức thiền tọa)

Theo lời giáo huấn của Ngài Đại-Trưởng-Lão Mahāsī thì những hành giả có mong muốn thực hành tứ niệm xứ phải chọn cho mình một nơi chốn yên tĩnh và một tư thế thực hành thiền thích hợp. Bạn có thể ngồi theo thế khổ hạnh ( thế ngồi gập 2 cẳng chân lại và ngồi lên trên đó) hoặcthế ngồi hoa sen ( thế ngồi bắt chéo 2 cẳng chân lên nhau, còn gọi là thế ngồi kiết già). Với 1 trong 2 tư thế ngồi này, bạn có thể thực hành thiền trong một thời gian lâu dài, có thể là một, hai, ba hay vài tiếng đồng hồ… càng lâu càng tốt. Bạn phải giữ cho đầu và lưng của mình luôn luôn ở trên một đường thẳng, nhắm mắt lại và hội tụ sự chú ý một cách chính xác lên bụng. Khi thở vào, bụng dần dần phồng lên, kể từ khi bụng bắt đầu phồng lên cho đến khi đã căng hết mức, bạn đừng để cho tâm trí của mình bị lang thang vô định mà phải chú ý một cách chính xác đến tiến trình đang phồng lên của bụng, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang phồng lên, đang phồng lên…”. Khi đang thực hành sự chú ý, bạn không cần lưu tâm đến hình dáng vật chất của bụng mà chỉ cần nhận biết được chuyển động đang phồng lên của nó một cách chính xác nhất , cụ thể là chú ý đến tiến trình di chuyển của không khí từ bên ngoài vào phía trong bụng và đã làm cho bụng phồng lên như thế nào. Hình dáng vật chất của bụng chỉ là một khái niệm ( Paññatti – Concept). Vì vậy, bạn không cần để ý đến nó. Bạn chỉ cần nhận biết bản chất chuyển động của bụng, nhận biết rằng có một áp lực đã làm cho bụng căng lên khi không khí di chuyển từ bên ngoài vào phía trong bụng. Khi thở ra, bụng sẽ dần dần xẹp xuống. Kể từ khi bụng bắt đầu xẹp xuống cho đến khi đã xẹp hết mức, bạn cần phải tập trung sự chú ý một cách chính xác lên trạng thái này. Khi đang thực hành sự chú ý đến trạng thái dần dần xẹp xuống của bụng, bạn không cần phải để ý đến hình dáng vật chất của bụng mà chỉ cần chú ý một cách chính xác đến chuyển động dần dần xẹp xuống của nó để nhận biết được bản chất của chuyển động này. Hình dáng vật chất của bụng chỉ là một khái niệm. Vì vậy, bạn không cần chú ý đến nó. Trạng thái dần dần xẹp xuống của bụng là thực tại cùng tột hay chân lý tuyệt đối ( Paramattha – Absolute truth). Vì vậy, cần phải tập trung chú ý đến trạng thái này. Khi đang thực hành sự chú ý đến chuyển động đang phồng xẹp của bụng, nếu cảm thấy tâm trí của mình không được trầm tĩnh hoặc bị lang thang vô định, bạn có thể chuyển sang một đề mục hành thiền khác như trạng thái đang xúc chạm của thân thể với sàn tọa chẳng hạn. Khi thực hành sự chú ý đến trạng thái xúc chạm giữa thân thể và sàn tọa, bạn không cần chú ý đến hình dáng vật chất của thân thể mà chỉ hội tụ sự chú ý một cách chính xác để nhận biết được hơi nóng phát ra từ trạng thái đang xúc chạm này. Khi đã chuyển sang chú ý đến trạng thái xúc chạm của thân thể và sàn tọa nhưng vẫn cảm thấy tâm trí của mình chưa được bình ổn, bạn có thể tiếp tục chuyển sang chú ý đến “ trạng thái đang ngồi” của mình. Trong khi chú ý đến “ trạng thái đang ngồi”, bạn cũng không cần chú ý đến hình dáng vật chất của đầu, thân thể và tứ chi… Bởi vì có “ý định muốn ngồi” nên “thân thể của bạn đã căng lên”. Ngay lúc này, bạn cần phải chú ý một cách chính xác để nhận biết được bản chất của trạng thái căng thẳng đó. Khi đã lần lượt thực hành sự chú ý đến 4 đối tượng là thân, thọ, tâm, pháp thì tự nhiên tâm trí của bạn sẽ trở nên trầm tĩnh hơn. Khi năng lực chú ý đã trở nên mạnh mẽ hơn và đã thiết lập được trạng thái định tâm ( Samādhi – Concentration) bằng cách thực hành chú ý đến tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng, bạn hãy chuyển sang chú ý đến tiến trình đang xúc chạm của thân thể. Khi đã thiết lập được trạng thái định tâm với 3 đề mục hành thiền là trạng thái phồng của bụng, trạng thái xẹp của bụngtrạng thái xúc chạm của thân thể, bạn hãy chuyển sang chú ý đến “ trạng thái đang ngồi” của mình. Khi thực hành thiền minh sát, để làm cho tiến trình thực hành thiền luôn luôn được phát triển và có thể kinh nghiệm Phật Pháp một cách nhanh chóng, bạn đừng chú ý đến hình dáng vật chất của thân thể, bởi vì nó chỉ là một khái niệm ( Paññatti – Concept). Để lãnh hội được chân lý tuyệt đối ( Paramattha – the absolute truth), bạn cần phải hội tụ tâm ý một cách chính xác trong từng khoảnh khắc ở hiện tại. Có 2 nhân tố quan trọng khi thực hành thiền minh sát mà bạn cần phải lưu ý đó là : Sự khác nhau giữa “ khái niệmPaññatti” và “ thực tại cùng tộtParamattha”. Những vật gì mà bạn có thể nhìn thấy bằng mắt thường và có thể sờ mó được gọi là Paññatti

( tức khái niệm hay thực tại biểu kiến có thể nhìn thấy hay sờ mó được). Những vật gì mà bạn không thể nhìn thấy bằng mắt thường hay không thể sờ mó được thì gọi là Paramattha ( tức thực tại cùng tột, thực tại không thể nhìn thấy bằng mắt thường hay không thể sờ mó được). Bạn chỉ có thể lãnh hội được Paramattha bằng tâm thức và trí tuệ. Ví dụ như hơi nóng, hơi lạnh, trạng thái nặng hay nhẹ, các lực đẩy, độ căng, các chuyển động, lực kết dính, trạng thái lỏng, cảm giác đau, cảm giác ngứa… tất cả những thứ đó được gọi là Paramattha (  thực tại cùng tột) – Ultimate reality). Vì vậy, bạn không cần phải nhận thức Paññatti, chỉ cần chú ý một cách chính xác để nhận thức được Paramattha càng nhiều càng tốt.

Tóm tắtKhông cần chú ý đến Paññatti, chỉ cần chú ý đến Paramattha

Bạn cần phải thực hành sự chú ý một cách chính xác trong từng khoảnh khắc ở hiện tại, bởi vì chỉ khi đã có khả năng thực hành được như thế, bạn mới có thể nhận thức được bản chất của vạn hữu. Thân và tâm của chúng ta là một chuỗi hiện hữu liên tục trong từng khoảnh khắc ở hiện tại. Nếu bạn chỉ cần lơ đễnh và buông lơi sự chú ý trong một phần nhỏ của một giây đồng hồ thì chúng đã hoại diệt. Nếu thực hành chú ý đến cái không hiện hữu hay cái hư vô thì bạn sẽ không kinh nghiệm được Phật Pháp.

Kể từ khi nhận thức được rằng, thân tâm của chúng sanh luôn luôn sinh khởi và hoại diệt trong từng khoảnh khắc ở hiện tại. Bằng ngôn ngữ Pāli, Đức Phật đã  chỉ ra cách thức để chú ý và quan sát thân tâm luôn luôn biến đổi một cách cực kỳ nhanh chóng của chúng ta. Vật chất ( Rūpa – Matter) và tinh thần ( Nāma – Spirits) hiện khởi và hoại diệt một cách liên tục gần như ngay lập tức trong 5 uẩn tạo nên chúng ta. Vì vậy, trước khi vật chất và tinh thần khởi lên, bạn không thể nhìn thấy được chúng hiện đang ở đâu trong 5 uẩn. Sau khi đã hoại diệt, chúng cũng không ở đâu cả trong 5 uẩn, bạn cũng không thể tìm thấy chúng hiện đang ở đâu. Chúng chỉ hiện hữu trong một khoảnh khắc ở hiện tại. Có thể ví trạng thái hiện hữu của vật chất và tinh thần trong thân tâm của bạn giống như một ánh chớp ngang trời. Ánh chớp ngang trời lóe lên khi 2 đám mây âm và dương va đụng vào nhau rồi biến mất ngay lập tức. Có thể nói, không có một cái gì biến mất khỏi 2 đám mây này cả. Trước khi ánh chớp lóe lên, bạn không thể tìm thấy ánh chớp này đã phát ra từ đâu trong 2 đám mây kia. Sau khi ánh chớp đã lóe lên và biến mất đi, bạn cũng không thể tìm thấy nó đã biến đâu mất trong 2 đám mây đó.Tương tự, vật chất và tinh thần cũng vậy, trước khi chúng hiện khởi lên, bạn cũng không thể tìm thấy chúng đang ở đâu trong thân tâm mình. Khi chúng đã biến mất, bạn cũng không thể tìm thấy chúng hiện đang ở đâu trong 5 uẩn. Chúng chỉ hiện hữu trong một khoảnh khắc ở hiện tại. Đó là lý do tại sao, Đức Phật đã nói rằng, bạn cần phải thực hành sự chú ý trong từng khoảnh khắc ở hiện tại. Vật chất và tinh thần thuộc về quá khứ không bao giờ tái hiện. Vật chất và tinh thần trong tương lai thì chưa xuất hiện. Vì vậy, không thể gọi là hiện hữu được. Do đó, bạn không thể thực hành sự chú ý đến vật chất và tinh thần thuộc về quá khứ hay tương lai. Bạn chỉ có thể thực hành sự chú ý đến vật chất và tinh thần đang hiện hữu trong khoảnh khắc ở hiện tại. Đây là lời thuyết Pháp của Đức Phật trong Kinh Baddekarattha. Ngài Đại Trưởng Lão Mahāsī đã từng sáng tác một câu ngắn rất dễ nhớ như sau :

Tóm tắt: Không nghĩ về quá khứ, không nghĩ về tương lai, chú ý một cách liên tục vào vật chất và tinh thần đang khởi lên trong khoảnh khắc ở hiện tại.

- Khi đang thiền hành và chú ý đến hành động “đang dở lên”, “ đang bước tới” và “ đang đặt xuống” của bàn chân, bạn cần phải hội tụ tâm ý một cách chính xác trong từng khoảnh khắc ở hiện tại để nhận biết được thực tại cùng tột ( Paramattha). Nếu thực hành chú ý theo cách như vậy, bạn sẽ  nhận thức được bản chất của vạn hữu. Khi chú ý đến tiến trình “ đang dở lên” của bàn chân, bạn không cần nhận biết hình dáng vật chất của nó. Tại sao vậy ? Bởi vì hình dáng vật chất của bàn chân chỉ là một khái niệm ( Paññatti). Bạn chỉ cần chú ý một cách chính xác đến “chuyển động đang dở lên” của bàn chân trong từng khoảnh khắc ở hiện tại. Vì sao vậy ? Bởi vì “ chuyển động đang dở lên” của bàn chân chính là thực tại cùng tột ( Paramattha). Bạn cần nhận biết được rằng, khi bàn chân “đang dở lên” thì nó sẽ càng lúc càng trở nên nhẹ nhàng hơn. Khi chú ý đến tiến trình “ đang bước tới” của bàn chân, bạn không cần nhận biết hình dáng vật chất của nó mà chỉ cần chú ý một cách chính xác trong từng khoảnh khắc ở hiện tại để nhận biết được bản chất của “ chuyển động đang bước tới”, cụ thể là nhận biết được bàn chân đang dần dần chuyển động để “bước tới” như thế nào, khi bàn chân “ đang dần dần bước tới” thì nó sẽ càng lúc càng trở nên nhẹ nhàng hơn.Vì vậy, nhận biết được “trạng thái nhẹ nhàng của bàn chân” khi nó “ đang dở lên” và

đang bước tới” tức là đã nhận thức được bản chất của lửa ( Tejo – light) và gió ( Vāyo – Wind).

 Tóm tắt : Lửa và gió là 2 yếu tố có tính nhẹ nhàng.

Khi chú ý đến tiến trình “ đang đặt xuống” của bàn chân, bạn không cần nhận biết hình dáng vật chất của nó mà chỉ cần chú ý một cách chính xác trong từng khoảnh khắc ở hiện tại để nhận biết được bản chất của “ chuyển động đang đặt xuống”. Cụ thể là nhận biết được rằng, khi bàn chân “đang đặt xuống” thì nó sẽ càng lúc càng trở nên nặng nề hơn. Nhận biết được “trạng thái nặng nề của bàn chân” khi nó “ đang đặt xuống” tức là đã nhận thức được bản chất của đất ( Pathavī – Earth) và nước ( Āpo – Water).

 Tóm tắt : Đất và nước là 2 yếu tố có tính nặng nề.

 Khi đã thiền tọa hoặc thiền hành xong, bạn quay trở lại phòng riêng của mình để thực hiện những công việc đa dạng khác. Khi đã trở về phòng riêng, bạn cũng phải thực hành sự chú ý trên bốn đề mục thân, thọ, tâm, pháp. Bây giờ, sau khi đã lắng nghe thuyết Pháp, từ tư thế đang ngồi, nếu có ý định đứng dậy, bạn đừng nên đứng dậy một cách nhanh quá mà phải thực hiện hành động này một cách chậm rãi và chú ý thật chính xác để nhận biết được “ ý định muốn đứng dậy”, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang có ý định muốn đứng dậy, đang có ý định muốn đứng dậy…”. Tiếp liền sau đó, “chuyển động đứng dậy” sẽ hiện khởi. Ngay lúc này, bạn cần niệm thầm trong tâm “ đang đứng dậy, đang đứng dậy…”. Khi tập trung chú ý đến “ chuyển động đang đứng dậy”, bạn không cần phải nhận biết hình dáng vật chất của đầu, thân thể và tứ chi…mà chỉ cần chú ý một cách chính xác đến chuyển động hướng về trước ( tức chuyển động đang đứng dậy) của thân thể để nhận biết được bản chất của chuyển động này càng nhiều càng tốt. Khi đã có khả năng chú ý đến “ ý định muốn đứng dậy”, bạn sẽ tự nhận biết được rằng mình đã tiến bộ thêm 2 bậc trong quá trình thực hành nội quán. “ Ý định muốn đứng dậy” chính là sự nhận thức của tâm trí. Vì vậy nó thuộc về tinh thần. “ Chuyển động đứng dậy của thân thểkhông hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Do đó, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Bởi vì bạn đã có “ ý định muốn đứng dậy”  nên “ chuyển động đứng dậy của thân thể” mới hiện khởi. “Ý định muốn đứng dậy” chính là nguyên nhân và “ chuyển động đứng dậy của thân thể” là kết quả. Vì vậy, bạn đã gặt hái được kiến thức về luật nhân quả.

Tóm tắt: Ý định muốn đứng dậy chính là tinh thần, chuyển động đứng dậy của thân thể là vật chất. Tinh thần và vật chất đã thực hiện hành động đứng dậy chứ không phải bạn và cũng không phải là tôi. Bạn cần phải phân biệt được sự khác nhau giữa “ý định muốn đứng dậy” và “chuyển động đứng dậy” của thân thể.

Sau khi đã đứng lên, có thể bạn sẽ bước đi. Nếu bạn có “ ý định muốn bước đi” thì đừng vội bước đi ngay mà phải tập trung chú ý để nhận biết được “ ý định này”, bởi vì “ ý định này” luôn luôn xảy ra trước “ chuyển động bước đi”, đồng thời bạn hãy niệm thầm trong tâm “ đang có ý định muốn bước đi, đang có ý định  muốn bước đi…”. Liền sau đó, “ chuyển động bước đi” của thân thể sẽ hiện khởi. Ngay lúc này, bạn cần nỉệm thầm trong tâm “ đang bước đi, đang bước đi…”,  “chân trái đang tiến về phía trước” hoặc “chân phải đang tiến về phía trước…”. Khi thực hành sự chú ý lúc đang đi bộ. bạn không cần phải chú ý đến hình dáng vật chất của đầu, thân thể và tứ chi… mà chỉ cần chú ý một cách chính xác đến “ chuyển động đang dần dần bước tới” của thân thể để nhận biết được bản chất của “ chuyển động này” càng nhiều càng tốt. Khi đã có khả năng chú ý đến “ ý định muốn bước đi” của thân thể thì hành giả thực hành thiền minh sát đã tự nhận biết được rằng, mình đã tiến bộ thêm 2 bậc trong quá trình thực hành nội quán. “ Ý định muốn bước đi” chính là sự nhận thức của tâm trí. Vì vậy nó thuộc về tinh thần. “ Chuyển động bước đi” của thân thể là không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Do đó, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Bởi vì bạn có “ ý định muốn bước đi”  nên “ chuyển động bước đi của thân thể” mới hiện khởi. “ Ý định muốn bước đi” chính là nguyên nhân và “ chuyển động bước đi của thân thể” là kết quả.Vì vậy, bạn đã gặt hái được kiến thức về luật nhân quả.

Tóm tắt: Ý định muốn bước đi chính là tinh thần, chuyển động bước đi của thân thể là vật chất. Chính tinh thần và vật chất đã bước đi chứ không là bạn hay là tôi đã bước đi. Khi đang bước đi, bạn cần phải phân biệt một cách rõ ràng sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất.          

Sau khi đã bước đi, có thể bạn sẽ dừng lại. Nếu có “ ý định muốn dừng lại” thì “ ý định này” sẽ trở nên rất dễ nhận thấy. Nó luôn luôn xảy ra trước “ hành động dừng lại”. Bạn cần phải tập trung chú ý để nhận biết được “ ý định này” đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang có ý định dừng lại, đang có ý định dừng lại…”. Tiếp đến, khi “ hành động dừng lại của thân thể” đang xảy ra, bạn phải chú ý đến “ hành động này”, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang dừng lại, đang dừng lại…”. Khi đang tập trung chú ý đến “ hành động dừng lại” của thân thể, bạn không cần phải chú ý đến hình dáng vật chất của đầu, thân thể và tứ chi …mà chỉ chú ý một cách chính xác để nhận biết được bản chất độ căng của thân thể khi nó đang dừng lại. Khi có khả năng chú ý đến “ ý định muốn dừng lại”, bạn sẽ tự nhận biết được rằng mình đã tiến bộ thêm 2 bậc trong quá trình thực hành nội quán. Bởi vì “ ý định muốn dừng lạicó sự nhận thức nên nó thuộc về tinh thần. “ Hành động dừng lại” của thân thể không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Từ đó, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa vật chất và tinh thần. Bởi vì bạn có “ ý định muốn dừng lại” nên “ hành động dừng lại của thân thể” mới hiện khởi. “ Ý định muốn dừng lại” chính là nguyên nhân và “ hành động dừng lại” là kết quả. Vì vậy, bạn đã gặt hái được kiến thức về luật nhân quả.

Tóm tắt: Ý định muốn dừng lại là tinh thần, hành động dừng lại là vật chất. Chính tinh thần và vật chất đã dừng lại chứ không phải bạn hay tôi đã dừng lại. Bạn cần phải lãnh hội được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất khi đang dừng lại.

Khi đang đứng, có thể bạn sẽ ngồi xuống. Nếu có “ ý định muốn ngồi xuống”, bạn đừng ngồi xuống ngay lập tức mà phải chú ý để nhận biết được “ ý định này”, bởi vì nó luôn luôn khởi lên trước “ hành động ngồi xuống”. Bạn cần phải chú ý đến “ ý định muốn ngồi xuống” đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang có ý định ngồi xuống, đang có ý định muốn ngồi xuống…”. Khi “ chuyển động ngồi xuống” của thân thể đang hiện khởi, bạn cũng phải chú ý đến “ hành động này”, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang ngồi xuống, đang ngồi xuống…”. Khi đang chú ý đến “ chuyển động ngồi xuống”, bạn không cần chú ý đến hình dáng vật chất của đầu, thân thể và tứ chi… mà chỉ cần chú ý một cách chính xác để nhận biết được “ trạng thái chuyển động dần dần ngồi xuống của thân thể”. Khi đã có khả năng chú ý đến “ ý định muốn ngồi xuống”, bạn sẽ tự nhận biết được rằng mình đã tiến bộ thêm 2 bậc nữa trong quá trình thực hành nội quán. Bởi vì “ ý định muốn ngồi xuống” có sự nhận thức nên nó thuộc về tinh thần. “ Chuyển động ngồi xuống” của thân thể là không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Từ đó, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Bởi vì bạn đã có “  ý định muốn ngồi xuống” nên

chuyển động ngồi xuống của thân thể” mới hiện khởi. “ Ý định muốn ngồi xuống” chính là nguyên nhân và “ chuyển động ngồi xuống” của thân thể là kết quả. Vì vậy, bạn đã gặt hái được kiến thức về luật nhân quả.

Tóm tắt: Ý định muốn ngồi xuống là tinh thần, chuyển động ngồi xuống của thân thể là vật chất. Chính vật chất và tinh thần đã ngồi xuống chứ không phải bạn hay tôi đã ngồi xuống. Bạn cũng cần phải phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất khi đang ngồi xuống.

Khi đang ngồi, có thể bạn sẽ nằm xuống. Nếu có “ ý định muốn nằm xuống”, bạn đừng nên nằm xuống ngay lập tức mà phải tập trung chú ý để nhận biết được “ ý định này”, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang có ý định muốn nằm xuống, đang có ý định muốn nằm xuống…”. “ Ý định muốn nằm xuống” luôn luôn hiện khởi trước “ chuyển động nằm xuống”. Khi “ chuyển động nằm xuống” hiện khởi, bạn phải tập trung chú ý đến “ chuyển động này” đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang nằm xuống, đang nằm xuống…”. Khi thực hành sự chú ý đến “ hành động đang nằm xuống”, bạn không cần phải chú ý đến hình dáng vật chất của đầu, thân thể và tứ chi… mà chỉ cần chú ý một cách chính xác để nhận biết được “ trạng thái đang chuyển động dần dần nằm xuống” của thân thể. Khi đã có khả năng chú ý đến “ ý định muốn nằm xuống”, bạn sẽ tự nhận biết được rằng mình đã tiến bộ thêm 2 bậc nữa trong quá trình thực hành nội quán. “ Ý định muốn nằm xuống” có sự nhận thức nên nó thuộc về tinh thần. “ Chuyển động nằm xuống của thân thể” là không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Do đó, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Bởi vì bạn đã có “ ý định muốn nằm xuống” nên “ chuyển động nằm xuống của thân thể” mới hiện khởi. Vì vậy, bạn đã gặt hái được kiến thức về luật nhân quả.

Tóm tắt: Ý định muốn nằm xuống là tinh thần, chuyển động nằm xuống của thân thể là vật chất. Chính tinh thần và vật chất đã nằm xuống chứ không phải bạn hay tôi đã nằm xuống. Bạn cũng cần phải phân biệt được một cách rõ ràng sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất.

 

 Chú ý trong lúc đang thọ thực         

Khi đang thọ thực cũng vậy, bạn nên tập trung chú ý một cách chi tiết đến tất cả những hoạt động đa dạng trong tiến trình này. Khi vừa nhìn thấy các loại vật thực được bày biện trên bàn ăn, bạn phải niệm thầm trong tâm “ đang thấy, đang thấy…”. Khi đang vươn tay về phía bàn ăn, bạn phải niệm thầm trong tâm “ đang vươn tay, đang vươn tay…”. Khi đang tiếp xúc với vật thực, bạn phải niệm thầm trong tâm “ đang tiếp xúc, đang tiếp xúc…”. Khi có “ý định muốn gắp một miếng vật thực”, bạn phải niệm thầm trong tâm “ đang có ý định muốn gắp, đang có ý định muốn gắp…”. Khi đang gắp một miếng vật thực, bạn phải niệm thầm trong tâm “ đang gắp, đang gắp…”. Khi đang cúi đầu xuống, bạn phải niệm thầm trong tâm “ đang cúi xuống, đang cúi xuống…”. Khi đang mở miệng để đưa thức ăn vào, bạn phải niệm thầm trong tâm “ đang mở miệng, đang mở miệng…”. Khi đang đưa thức ăn vào miệng, bạn phải niệm thầm trong tâm “ đang đưa vào, đang đưa vào…”. Khi đang ngẫng đầu lên, bạn phải niệm thầm “ đang ngẫng lên, đang ngẫng lên…”. Khi đang nhai vật thực trong miệng, bạn phải niệm thầm trong tâm “ đang nhai, đang nhai…”. Khi đang nhận biết được mùi vị của vật thực, bạn phải niệm thầm trong tâm “ đang nhận biết, đang nhận biết…”. Khi đang nuốt vật thực xuống, bạn phải niệm thầm trong tâm “ đang nuốt, đang nuốt…”. Đây là những chỉ dẫn của Ngài Đại Trưởng Lão Mahasì về cách thức thọ dụng một miếng vật thực. Những chỉ dẫn này sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho tâm trí khi bạn thực hành chúng. Lúc ban đầu mới tập sự thọ thực theo những chỉ dẫn nói trên, có thể bạn sẽ chưa có khả năng chú ý hết tất cả những hoạt động của chính mình trong tiến trình thọ thực. Tuy nhiên, bạn đừng nên nản chí mà hãy kiên nhẫn tu tập một cách bền bỉ. Đến khi năng lực định tâm đã trở nên mạnh mẽ thì lúc đó, bạn sẽ thực hiện được những điều mình mong muốn. Khi mới bắt đầu luyện tập sự chú ý trong lúc thọ thực, bạn nên tập chú ý đến những chuyển động quan trọng và chính yếu nhất. Ví dụ, hành động đang vươn cánh tay ra để gắp thức ăn là một trong những chuyển động quan trọng và chính yếu nhất trong tiến trình thọ thực. Bạn cần phải chú ý một cách chính xác đến hành động này. Nếu nhận thấy rằng, hành động cúi đầu xuống là một chuyển động rất dễ nhận thấy đối với khả năng nhận thức hiện hành của chính mình, bạn hãy tập luyện sự chú ý đến nó trước tiên, đừng để bị mất dấu đối với chuyển động này. Nếu chuyển động nhai vật thực hiện khởi một cách rõ ràng nhất trong tâm thức của bạn so với những chuyển động khác, bạn hãy tập trung chú ý đến nó. Khi bạn đang nhai vật thực thì chuyển động lên xuống của quai hàm chính là “chuyển động nhai”. Vì vậy, bạn cần niệm thầm trong tâm “ đang nhai, đang nhai…”. Khi thực hành thiền minh sát, không những bạn cần phải chú ý đến những hoạt động tự nhiên và dễ chịu của thân thể đang hiện khởi, mà còn phải nhận biết được những hoạt động gây ra cảm giác khó chịu để có thể làm cho những hoạt động này lắng dịu xuống . “Ý định muốn thực hiện những hành động” luôn luôn hiện khởi trước “ những hoạt động” của thân thể. Bạn cần phải chú ý đến “ những ý định này” để có thể tự do lựa chọn và quyết định là mình có nên thực hiện “ những hoạt động đó” hay không. Tiếp đến “ những hoạt động tự nhiên” của thân thể sẽ hiện khởi. Ngay lúc này, bạn cần phải chú ý đến nó và niệm thầm trong tâm “ hoạt động tự nhiên đang hiện khởi, hoạt động tự nhiên đang hiện khởi…”. Khi đang tập trung chú ý đến “ những hoạt động tự nhiên của thân thể”, nếu cảm thấy đau nhức, ngứa ngáy, uể oải… bạn phải chú ý đến những cảm giác này, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang đau, đang ngứa, đang uể oải…” để làm cho chúng lắng dịu xuống. Vì vậy, khi thực hành chú ý đến những hoạt động gây ra cảm giác khó chịu cho thân tâm và làm cho những hoạt động này lắng dịu xuống, bạn sẽ gặt hái được những thiện nghiệp.

Tóm tắt  : Xử dụng trí tuệ để làm cho những hoạt động khó chịu thuộc về thân thể lắng dịu xuống chính là cách thực hành sự chú ý mà Đức Phật gọi là Sampajanna.

Những bậc thầy chú giải Kinh Điển đã từng chỉ ra rằng, những người thực hành sự chú ý một cách liên tục có thể gặt hái được Đạo Quả trong Phật Pháp khi đang tập trung chú ý đến một hoạt động nào đó của chính mình. Một hành giả nào đó sẽ có thể đóng lại cánh cửa của địa ngục bằng cách thực hành thiền minh sát, nếu anh ta có niềm tin mạnh mẽ rằng mình có thể thực hành thiền minh sát một cách liên tục, cũng như có thể nhận thức được Niết Bàn hạnh phúc. Khi hành giả này tập trung chú ý đến “ tiến trình đang đi bộ” của chính mình thì anh ta có thể nhận thức được Đạo Quả trong Phật Pháp. Khi đang đứng, nếu tập trung chú ý đến “ tiến trình đang đứng” của chính mình thì hành giả này có thể gặt hái được Đạo Quả. Khi đang ngồi, đang nằm, đang ăn trái cây và các thức ngọt, đang nhai vật thực… nếu tập trung chú ý đến các hoạt động của chính mình thì bạn cũng có thể nhận thức được Đạo Quả trong Phật Pháp.

Tóm tắt: Khi đang đi, đang đứng, đang ngồi, đang nằm, đang nhai vật thực... nếu tập trung chú ý đến những hoạt động này thì có thể gặt hái được Đạo Quả trong Phật Pháp.

Vì vậy, bằng hạnh lắng nghe thuyết Pháp và thực hành theo những những gì mình đã được nghe, chúng tôi cầu chúc cho bạn sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng, đạt tới Niết Bàn hạnh phúc, diệt tận mọi khổ đau một cách dễ dàng và nhanh chóng như đã từng mong muốn. Lành thay !       

Sau khi nghe bài thuyết Pháp này, tất cả những thính giả nghe Pháp có mặt tại chỗ đã cảm thấy rất hoan hỷ. Thậm chí, đã có một vài thính giả rơi nước mắt vì cảm động và cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi được lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng của Đức Phật.

Từ Chicago đến Los Angeles

Vào ngày trăng khuyết thứ 14 tháng Waso năm 1356 theo lịch Miến Điện

( 05/08/1994), bậc Trưởng Thượng, tiến sĩ U Mya Aung, U Htun Kyi và U Khin Hlaing đã rời khỏi phi trường Chicago để đến Los Angeles. Tại phi trường Los Angeles, U Tin Tun và U Maung Maung đang đợi sẵn để cung nghênh bậc Trưởng Thượng và phái đoàn. Từ nhà của U Tin Tun, bậc Trưởng Thượng đã đến tu viện Sundarārama Byanma ở Los Angeles để hướng dẫn khóa tu thiền, thuyết Pháp và giáo huấn về Phật Pháp nói chung. Vào ngày trăng non, 30 tháng Waso năm 1356 theo lịch Miến Điện ( 06/ 08/ 1994), từ 8 giờ tối đến 9 giờ 30 tối, bậc Trưởng Thượng đã thuyết Pháp về 4 điều kiện khó đạt được.Vào ngày mồng 01 trăng tròn tháng Wagaung năm 1356 theo lịch Miến Điện ( 07/08/1994), từ 8 giờ đêm đến 10 giờ đêm, bậc Trưởng Thượng đã thuyết Pháp về 4 nhân tố cần phải đạt được để trở thành một Tu-Đà-Hườn24 loại Tu-Đà-Hườn. “ Hôm nay là ngày mồng 01 trăng tròn tháng Wagaung năm 1356 theo lịch Miến Điện ( 07/08/ 1994), buổi thuyết Pháp hôm nay sẽ nói về4 nhân tố cần phải đạt được để trở thành một Tu-Đà-Hườn24 loại Tu-Đà-Hườn. Bây giờ có lẻ tất cả những thính giả đang lắng nghe thuyết Pháp ở đây đều ao ước được làm một Tu-Đà-Hườn để có thể đóng lại cánh cửa của địa ngục ngay trong chính kiếp sống hiện tại này. Tất cả quí vị có mong ước được làm một Tu-Đà-Hườn không ? Quí vị có thể trở thành một Tu-Đà-Hườn không ? Quí vị sẽ có thể, bởi vì quí vị đã có 4 điều kiện khó đạt được qua những chuỗi sống liên tục từ quá khứ cho đến hiện tại. Bốn điều kiện khó đạt được đó là :

1.Được làm người là một điều kiện rất khó đạt được.

2.Được sống như một con người là một điều kiện rất khó đạt được.

3.Được lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng là một điều kiện khó đạt được.

4. Được sống trong thời Phật Pháp vẫn đang còn tồn tại là một điều kiện rất khó đạt được.

Mặc dù trong kiếp sống hiện tại này bạn đã có thể trở thành một Tu-Đà-Hườn. Tuy nhiên, bạn vẫn còn phải gặt hái được thêm 4 nhân tố tạo nên một Tu-Đà-Hườn. Vì vậy, bạn phải thực hành Phật Pháp dựa trên 4 nhân tố sau đây :

1. Sabburisa sansevo – Biết tôn kính một vị thầy đức hạnh, người có thể giáo huấn thiền minh sát và qua sự giáo huấn đó, người học có thể gặt hái được Đạo Quả.

2. Saddhammasavanam – Lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng để dẫn đến việc gặt hái được Đạo Quả.

3. Yonisomanasikàro – Có quan kiến hay quan điểm đúng đắn sẽ gặt hái thiện nghiệp.

4. Dhammanu dhamma patipatti – Thực hành thiền minh sát để dẫn đến 9 Pháp siêu thế, Đạo Quả và Niết Bàn.

 -  Biết tôn kính một vị thầy đức hạnh nghĩa là : Biết tôn kính một người có khả năng giúp cho những người khác trở thành một Tu-Đà-Hườn bằng cách thuyết Pháp và giáo huấn về Phật Pháp nói chung. Trong thời Đức Phật còn tại thế, tự bản thân Ngài đã là một vị thầy đức hạnh có thể khiến cho những người biết tôn kính Ngài sẽ trở thành Tu-Đà-Hườn. Trong thời đại ngày nay, một bậc thầy đức hạnh để những người khác có thể tôn kính Ngài và trở thành Tu-Đà-Hườn là một vị A-La-Hán. Nếu bạn không thể tìm kiếm được một vị A-La-Hán để nhận làm thầy thì hãy tìm kiếm một vị A-Na-Hàm để nhận vị này làm thầy. Nếu không tìm được một vị A-Na-Hàm thì hãy tìm kiếm một vị Tư-Đà-Hàm để nhận vị này làm thầy. Nếu không tìm được một vị Tư-Đà-Hàm thì hãy tìm kiếm một vị Tu-Đà-Hườn để nhận vị này làm thầy. Nếu không tìm được một vị Tu-Đà-Hườn thì hãy tìm kiếm một người đang thực hành thiền minh sát bằng một phương pháp đúng đắn ( Araddavipassakā) để nhận người này làm thầy.

-  Lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng để dẫn đến việc gặt hái được Đạo Quả nghĩa là : Lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng nói về thiền tứ Niệm Xứ và thực hành theo để có thể gặt hái được Đạo Quả Niết Bàn ngay trong chính kiếp sống này. Ngoại trừ các vị Phật Toàn Giác và Phật Độc Giác, không có bất cứ ai có thể nhận thức được Phật Pháp mà không cần phải lắng nghe những lời dạy của Đức Phật. Tất cả những đệ tử ( Sāvaka - Disciple ) của Đức Phật có thể nhận thức được Phật Pháp chỉ khi họ biết lắng nghe những lời dạy của Ngài. Thậm chí, Tôn giả Xá-Lợi-Phất

( Asin Sariputta – người đã đạt được danh hiệu ettadaggapannà - trí tuệ bậc nhất) đã trở thành một Tu-Đà-Hườn bởi vì Ngài đã biết lắng nghe Tôn giả Assaji thuyết Pháp. Đó là lý do tại sao, những ai mong muốn được trở thành một Tu-Đà-Hườn ngay trong chính kiếp sống này đều phải biết lắng nghe thuyết Pháp.

-  Có được quan kiến hay quan điểm đúng đắn sẽ gặt hái thiện nghiệp nghĩa là : Trong vô vàn những đối tượng của các giác quan, bạn sẽ gặt hái được thiện nghiệp chỉ khi đã có một quan kiến đúng đắn. Nếu chừng nào bạn chưa thể có được một quan kiến đúng đắn thì chừng đó bất thiện nghiệp vẫn đang còn hiện khởi trong tâm thức của chính bạn. Bất thiện nghiệpĐạo Quả Trí Tuệ là 2 thành phần hoàn toàn đối nghịch nhau. Chỉ khi thiện nghiệp có thể hiện hữu một cách liên tục trong tâm thức của bạn thì lúc đó, bạn mới có thể gặt hái được Đạo Quả của một Tu-Đà-Hườn ( Sotāpatti magga phala ñāna). Vì vậy, bạn cần phải có một quan kiến đúng đắn ( tức Chánh kiến- Sammā Diţţhi – Right understanding) để có thể gặt hái được thiện nghiệp. Đây là một nhân tố rất quan trọng. Trong khoảnh khắc bình minh đầu tiên của một ngày khi vừa mới thức dậy, những đối tượng của các giác quan ( sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp) đã lập tức thâm nhập vào các giác quan của bạn. Khi những đối tượng dễ chịu thâm nhập vào các giác quan, nếu chưa có được một quan kiến đúng đắn, bạn sẽ khởi tâm tận hưởng và bám víu vào chúng qua tính tham lam ( Lobha – Greed). Khi những đối tượng khó chịu thâm nhập vào các giác quan, nếu chưa có được một quan kiến đúng đắn, bạn sẽ trở nên sân hận ( Dosa – Anger). Nếu những bất thiện nghiệp như tính tham lam, sân hận cứ liên tục hiện hữu trong tâm thức thì bạn có trở thành một Tu-Đà-Hườn được không ? Câu trả lời chắc chắn là không. Vì vậy, khi bất cứ một đối tượng nào thâm nhập vào trong các giác quan, bạn cần phải có một quan kiến đúng đắn. Khi những đối tượng hữu hình dễ chịu thâm nhập vào các giác quan của bạn như : Âm thanh êm tai, mùi hay vị hấp dẫn, trạng thái xúc chạm dễ chịu…  bạn có biết lý do tại sao mình được đón nhận những cảm giác dễ chịu đó không ? Bởi vì trong nhiều kiếp sống ở quá khứ, bạn đã từng thực hiện những hành động xứng đáng nên trong kiếp sống này, bạn mới bắt gặp được những cảm giác đó. Nếu muốn gặt hái được những đối tượng dễ chịu, những điều tốt đẹp nhất và Niết Bàn hạnh phúc trong những kiếp sống ở tương lai thì ngay trong kiếp sống này, bạn cần phải thực hiện những hành động xứng đáng. Tuy nhiên, chúng ta không nên bám víu vào những đối tượng như ý mà mình bắt gặp được chỉ để gặt hái thiện nghiệp mà thôi. Trong kiếp sống này, khi phải chạm trán với những đối tượng bất như ý của giác quan, bạn phải hiểu rằng, bởi vì trong những kiếp sống ở quá khứ mình đã có những hành động bất thiện. Khi đã có khả năng vượt qua những đối tượng bất như ý của giác quan thì những đối tượng này có trở thành những nghiệp xấu không ? Câu trả lời là không. Bạn có thể vượt qua những đối tượng bất như ý đó bằng cách nào ? Bằng thiện nghiệp, bạn sẽ vượt qua được chúng. Vì vậy ngay bây giờ, bạn cần phải thực hiện được càng nhiều thiện nghiệp càng tốt. Bạn cần phải chiêm nghiệm và nhận thức được điều này càng sớm càng tốt. Đó là lý do tại sao, các bậc Trưởng Thượng ngày xưa thường nói rằng : “ Nghiệp quả xấu thật sự có thể chuyển đổi được bằng sự nhận thức đúng đắn”. Nhận thức đúng đắn hay Chánh kiến là một nhân tố đối nghịch với tác động xấu của nghiệp. Khi Chánh kiến thúc đẩy nhận thức của chúng ta thì tác động của những nghiệp bất thiện mà chúng ta đã tạo ra sẽ thay đổi. Từ đó, dẫn đến việc nghiệp quả xấu sẽ trở thành nghiệp quả tốt. Những người có lòng mong muốn trở thành một Tu-Đà-Hườn ngay trong chính kiếp sống này phải biết chiêm nghiệm để gặt hái được những thiện nghiệp bằng cách suy nghĩ và đánh giá thật đúng đắn về những đối tượng như ý hoặc bất như ý mỗi khi họ gặp phải. Nếu có Chánh kiến ( tức quan kiến đúng đắn hay chân chính) thì từ trong tâm thức, bạn đã gặt hái được nhân tố thứ ba để trở thành một Tu-Đà-Hườn.

- Thực hành thiền minh sát để dẫn đến 9 Pháp siêu thế nghĩa là : Thực hành bố thí, giữ Giới và thực hành thiền định ( Samātha Bhāvanā – Tranquil Meditation). Khi thực hành bố thí, giữ Giới và thiền định, bạn thực hành sự hướng tâm về phía Niết Bàn và ước nguyện cho mình được mau chóng thành tựu Đạo Quả. Cách thực hành này sẽ dẫn đến việc gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn. Thực hành thiền tứ niệm xứ là cách thực hành Phật Pháp dẫn đến việc gặt hái được Đạo quả Niết Bàn cao thượng nhất. Nếu không thực hành thiền tứ niệm xứ, bạn không thể nào đạt tới Đạo Quả Niết Bàn được. Vì vậy, nếu ao ước gặt hái được Đạo Quả Niết Bàn ngay trong kiếp sống hiện tại, bạn phải thực hành loại thiền này. Những người có mong muốn làm một Tu-Đà-Hườn ngay trong chính kiếp sống này phải thực hành thiền tứ niệm xứ. Một điều rất quan trọng khi thực hành thiền tứ niệm xứ là bạn cần phải có một phương pháp thực hành thiền đúng đắn. Chỉ khi thực hành thiền tứ niệm xứ với một phương pháp đúng đắn thì lúc đó, bạn mới có khả năng trở thành một Tu-Đà-Hườn như đã mong muốn. Vì vậy, bây giờ tôi sẽ thuyết Pháp một cách tóm tắt để nói về phương pháp đúng đắn khi thực hành thiền tứ niệm xứ của Ngài Đại-Trưởng-Lão Mahasì. Theo Ngài Mahāsī, nói một cách tóm tắt, có 3 phương pháp để thực hành thiền tứ niệm xứ :

1. Chú ý khi đang ở trong tư thế ngồi

2. Chú ý khi đang đi bộ

3. Chú ý khi đang thực hiện các hoạt động hàng ngày

 Chú ý khi đang ở trong tư thế ngồi

Những người có mong muốn thực hành thiền minh sát theo phương pháp của Ngài Đại Trưởng Lão Mahāsī phải biết chọn cho mình một nơi chốn yên tĩnh và một thế ngồi thích hợp để có thể ngồi thiền được lâu. Bạn có thể ngồi theo thế khổ hạnh hoặc thế hoa sen. Giữ đầu và lưng trên một đường thẳng, 2 mắt nhắm lại, hội tụ tâm ý một cách chính xác lên bụng. Khi thở vào, bụng của bạn sẽ ở trong trạng thái đang dần dần phồng lên. Ngay lúc này, bạn chỉ cần chú ý một cách chính xác đến trạng thái đang phồng lên của bụng, kể từ khi nó bắt đầu phồng lên cho đến khi đã căng hết mức, đừng để cho tâm trí bị lang thang vô định. Khi thực hành sự chú ý này, bạn không cần để tâm đến hình dáng vật chất của bụng mà chỉ cần chú ý đến “ chuyển động đang phồng lên”của nó. Bạn chỉ tập luyện sự chú ý và quan sát xem không khí đã đi từ bên ngoài vào trong bụng và làm cho bụng phồng lên như thế nào, nhằm mục đích để nhận biết được bản chất của “ chuyển động đang phồng lên” của bụng càng nhiều càng tốt. Hình dáng vật chất của bụng chỉ là một khái niệm ( Paññatti – Conception). Vì vậy, bạn không cần chú ý đến hình dáng này. Minh sát ở đây tức là chú ý để nhận biết được bản chất thật sự của trạng thái căng thẳng và áp lực khi bụng đang dần dần phồng lên. Trạng thái căng thẳng và áp lực này chính là thực tại cùng tột hay chân lý tuyệt đối

 ( Paramattha – The Absolute Truth). Vì vậy, bạn cần phải tập trung chú ý đến trạng thái căng và áp lực nói trên. Khi thở ra, bụng của bạn sẽ ở trong trạng thái dần dần xẹp xuống. Ngay lúc này, bạn đừng để cho tâm trí của mình bị lang thang vô định mà phải chú ý một cách chính xác đến “ trạng thái đang dần dần xẹp xuống của bụng”, kể từ khi nó bắt đầu xẹp xuống cho đến khi đã xẹp hẳn. Khi thực hành sự chú ý đến “ trạng thái đang xẹp xuống của bụng”, bạn không cần để tâm đến hình dáng vật chất của nó, chỉ cần chú ý một cách chính xác để nhận biết được “bản chất của trạng thái chuyển động đang xẹp xuống này” . Hình dáng vật chất của bụng chỉ là một khái niệm ( Paññtti – Conception). Vì vậy, bạn không cần phải chú ý đến nó. Bản chất của trạng thái chuyển động bên trong bụng chính là thực tại cùng tột hay chân lý tuyệt đối ( Paramattha). Vì vậy, bạn cần phải tập trung chú ý để nhận biết bản chất của trạng thái này. Khi đang tập trung chú ý đến tiến trình chuyển động đang phồng xẹp lên xuống của bụng, nếu tâm trí vẫn còn lang thang vô định và chưa trầm tĩnh được, bạn có thể chuyển sang một đề mục hành thiền  khác như “ trạng thái đang xúc chạm của thân thể” chẳng hạn. Khi tập trung chú ý đến “ trạng thái đang xúc chạm của thân thể”, bạn cũng không cần để tâm đến hình dáng vật chất của nó, chỉ cần chú ý một cách chính xác để nhận biết được bản chất của “ độ cứng và sức nóng” được sinh ra khi thân thể tiếp xúc với sàn tọa. Mặc dù đã thực hành sự chú ý với các đề mục hành thiền như “ chuyển động đang phồng lên của bụng”, “ chuyển động đang xẹp xuống của bụng”, “ trạng thái đang xúc chạm của thân thể với mặt sàn tọa” nhưng tâm trí của bạn vẫn chưa trầm tĩnh được, nó vẫn còn lang thang vô định. Ngay lúc này, bạn có thể chuyển sang một đề mục hành thiền khác nữa, đó là “ trạng thái đang ngồi” của chính. Vì vậy, bạn có 4 đề mục để thực hành sự chú ý. Khi chú đến “ trạng thái đang ngồi” của chính mình, bạn không cần phải để tâm đến hình dáng vật chất của đầu, thân thể và tứ chi… chỉ cần chú ý một cách chính xác để nhận biết được rằng, bởi vì bạn đã có “ý định muốn ngồi” nên “ ý định này” đã tạo ra một áp lực và khiến cho thân thể trở nên căng thẳng. Nói cụ thể, bạn cần phải hội tụ tâm ý một cách chính xác để nhận biết được “ bản chất của trạng thái căng thẳng” đang hiện hữu trong thân thể của chính mình. Khi đã lần lượt thực hành sự chú ý qua 4 đề mục hành thiền nêu trên, tâm trí của bạn tự nhiên sẽ trở nên trầm tĩnh. Nếu đã thiết lập được trạng thái định tâm thông qua 2 đề mục hành thiền là “ chuyển động đang phồng lên của bụng” và “ chuyển động đang xẹp xuống của bụng”, bạn cứ tiếp tục thực hành sự chú ý với 2 đề mục đó, không cần phải chuyển sang đề mục hành thiền nào khác. Nếu đã gặt hái được năng lực định tâm bằng sự chú ý đến “ chuyển động đang phồng lên của bụng”, “ chuyển động đang xẹp xuống của bụng”, “ trạng thái đng xúc chạm của thân thể” thì bạn chỉ cần thực hành thiền với 3 đề mục này là đủ rồi, không cần phải chuyển sang một đề mục thực hành thiền nào khác. Nếu cảm thấy thuận tiện và đã thiết lập được trạng thái định tâm khi thực hành thiền với tất cả 4 đề mục ( bao gồm chuyển động đang phồng lên của bụng, chuyển động đang xẹp xuống của bụng, trạng thái đang ngồi và trạng thái đang xúc chạm) thì bạn cứ tiếp tục thực hành sự chú ý như thế. Khi thực hành thiền minh sát, để có thể nhanh chóng gặt hái được kinh nghiệm về Phật Pháp và tiến đến một trình độ nhận thức cao hơn, bạn không cần phải để tâm đến hình thức của vật chất nói chung, bởi vì hình thức này chỉ là một khái niệm ( Paññatti), chỉ cần chú ý một cách chính xác đến thực tại cùng tột ( paramattha). Bạn cũng cần phải thực hành sự chú ý một cách chính xác trong từng khoảnh khắc ở hiện tại. Đây là 2 nhân tố quan trọng khi thực hành thiền minh sát. Phân biệt được sự khác nhau giữa khái niệmthực tại cùng tột nghĩa là : Những sự vật nào hữu hình có thể nhìn thấy bằng mắt thường và có thể sờ mó được thì gọi là khái niệm ( Paññatti), những sự vật nào vô hình không thể nhìn thấy bằng mắt thường nhưng có thể nhận biết được bằng sự nhận thức và trí tuệ thì gọi là thực tại cùng tột ( Paramattha). Những sự vật được gọi là thực tại cùng tột có thể kể như : hơi nóng, hơi lạnh, trạng thái cứng hay mềm, áp lực hay áp suất, độ căng, các loại chuyển động, độ kết dính, trạng thái lỏng, cảm giác đau nhức, cảm giác ngứa ngáy, cảm giác tê cứng… Tất cả những trạng thái này được gọi làthực tại cùng tột. Nói tóm lại, bạn không cần để tâm đến khái niệm mà chỉ cần chú ý một cách chính xác đếnthực tại cùng tột.

Tóm tắt: Không cần để tâm đến khái niệm, chỉ cần chú ý đến thực tại cùng tột.        

 Bạn cũng cần phải thực hành sự chú ý một cách chính xác trong từng khoảnh khắc ở hiện tại để có thể nhận biết được bản chất của vạn hữu. Từ trong tiềm thức liên tục ( Bhavanga Santāna  – Continuity of Subconsciousness) của bạn, tinh thần và vật chất luôn luôn khởi lên tầng ý thức trong từng khoảnh khắc ở hiện tại. Nếu bạn đánh mất sự chú ý trong khoảng thời gian bằng một phần cực kỳ nhỏ của một giây đồng hồ thì với khoảng thời gian chừng đó, tinh thần và vật chất đã không còn hiện hữu để cho bạn có thể nhận thức được chúng nữa. Nếu thực hành sự chú ý trên những đối tượng không hề hiện hữu, bạn sẽ không nhận thức được bản chất của vạn hữu. Tinh thần và vật chất chỉ hiện hữu trong một khoảnh khắc ở hiện tại.Vì vậy, Đức Phật đã từng dạy rằng, trước khi tinh thần và vật chất khởi lên trong tầng ý thức, bạn không thể tìm thấy chúng hiện đang ở đâu. Chúng đã tan biến đi gần như ngay lập tức, sau khi đã khởi lên. Sau khi đã tan biến đi, chúng không để lại bất cứ một dấu vết nào trong 5 uẩn. Nói cách khác, chúng ta không thể tìm thấy chúng đang ở đâu trong 5 uẩn. Có thể ví sự hiện hữu của tinh thần và vật chất giống như một ánh chớp ngang trời. Khi hai đám mây mang 2 điện cực đối lập va chạm vào nhau trên bầu trời thì một ánh chớp được sinh ra và tan biến đi gần như ngay lập tức. Ánh chớp vừa mới xuất hiện và tan biến đi không hề để lại một dấu vết nào trong 2 đám mây kia. Trước khi ánh chớp xuất hiện, bạn không thể tìm thấy ánh sáng đã phát ra từ đâu trong 2 đám mây đó. Sau khi ánh chớp đã phát sáng và vụt tắt, bạn cũng không thể tìm thấy nó đang ở đâu trong 2 đám mây nói trên. Tương tự như vậy, trước khi dẫn đến trạng thái hiện hữu trong thân tâm của chúng ta, những pháp thuộc về tinh thần và vật chất không ở đâu cả. Sau khi đã xuất hiện và tan biến đi, chúng cũng không ở đâu cả. Chúng chỉ hiện hữu chính xác trong một khoảnh khắc ở hiện tại. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã nói rằng, bạn cần phải thực hành sự chú ý một cách chính xác trong từng khoảnh khắc ở hiện tại. Những pháp thuộc về tinh thần và vật chất trong quá khứ đã không còn tồn tại. Những pháp thuộc về tinh thần và vật chất trong tương lai thì chưa hiện hữu. Vì vậy, chúng ta không thể thực hành sự chú ý trên những pháp này. Bạn chỉ có thể thực hành sự chú ý trên những pháp thuộc về tinh thần và vật chất đang hiện hữu trong từng khoảnh khắc ở hiện tại mà thôi. Đây là lời thuyết Pháp của Đức Phật trong Kinh Baddekarattha. Vì lợi ích của chúng ta, Ngài Đại -Trưởng-Lão Mahāsī đã sáng tác một câu ngắn rất dễ nhớ như sau :

Tóm tắtKhông suy nghĩ về quá khứ, không đặt kế hoạch cho tương lai, chỉ chú ý một cách chính xác đến tinh thần và vật chất đang hiện hữu trong từng khoảnh khắc ở hiện tại, đừng đánh mất sự chú ý.               

Chú ý lúc đang đi bộ

Khi thực hành thiền lúc đang đi bộ, bạn cần phải chú ý một cách chính xác đến chuyển động “đang dở chân lên”, “ đang bước tới” và “ đang đặt chân xuống” trong từng khoảnh khắc ở hiện tại để nhận biết được thực tại cùng tột. Nếu có thể thực hành sự chú ý theo cách này, bạn sẽ nhận thức được bản chất của vạn hữu trong vòng một thời gian ngắn. Khi chú ý đến “ chuyển động đang dở bàn chân lên”, bạn không cần để tâm đến hình dáng vật chất của bàn chân. Tại sao vậy ? Bởi vì hình dáng vật chất của bàn chân chỉ là một khái niệm. Bạn chỉ cần chú ý để nhận biết được “bản chất của trạng thái chuyển động” khi bàn chân đang dở lên, bởi vì “ bản chất của trạng thái chuyển động này” chính là thực tại cùng tột. Bạn cũng phải thực hành sự chú ý một cách chính xác đến “ tiến trình chuyển động này” một cách liên tục trong từng khoảnh khắc ở hiện tại. Khi đang chú ý đến “ trạng thái chuyển động đang bước tới” của bàn chân, sự nhận thức của bạn phải thoát ra ngoài hình dáng vật chất của nó. Bạn chỉ cần chú ý một cách chính xác trong từng khoảnh khắc để nhận biết được “ bản chất của chuyển động” này. Ngay lúc đó, bạn không chỉ nhận thức được “ bản chất của chuyển động đang bước tới của bàn chân” mà còn nhận thấy rằng nó càng lúc càng trở nên nhẹ nhàng hơn, khi bàn chân đang dần dần bước tới. Khi nhận biết được “trạng thái dần dần trở nên nhẹ nhàng hơn”của bàn chân khi nó “đang dở lên” hay “ đang bước tới” tức là bạn đã thật sự nhận thức được yếu tố lửagió.

Tóm tắt: Lửa và gió là 2 yếu tố có tính nhẹ nhàng rất dễ nhận thấy.

Khi đang chú ý đến “ tiến trình đang đặt xuống” của bàn chân, tâm thức của bạn phải thoát ra ngoài hình dáng vật chất của nó và có thể chú ý một cách chính xác trong từng khoảnh khắc ở hiện tại để nhận biết được “ bản chất của trạng thái dần dần chuyển động đặt xuống”, bạn không chỉ nhận biết được “ bản chất của chuyển động này” mà còn nhận biết rằng nó càng lúc càng trở nên nặng nề hơn, khi bàn chân đang dần dần đặt xuống. Khi đã nhận biết được “trạng thái dần dần trở nên nặng hơn” trong lúc bàn chân đang đặt xuống tức là bạn đã thật sự nhận thức được yếu tố đấtnước.

Tóm tắt: Đất và nước là 2 yếu tố có tính nặng nề rất dễ nhận thấy.

Chú ý khi đang ngồi

Khi đang ngồi hoặc khi đang đi bộ, có thể bạn sẽ muốn quay trở lại phòng của mình để làm một việc gì đó. Nếu có “ ý muốn quay trở lại” thì bạn cần phải chú ý đến “ ý định này” và “ hành động quay trở lại” phòng riêng của bạn. Sau khi đã lắng nghe thuyết Pháp hoặc đã ngồi thiền, khi đứng dậy, bạn đừng nên đứng dậy ngay. Nếu bạn có “ ý định muốn đứng dậy” thì “ ý định này” sẽ khởi lên trước “ hành động đứng dậy” và nó rất dễ nhận thấy. Vì vậy, bạn cần phải chú ý đến “ ý định muốn đứng dậy”, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang có ý định muốn đứng dậy, đang có ý định muốn đứng dậy…”. Tiếp liền sau “ ý định muốn đứng dậy” là “ chuyển động đứng dậy” sẽ hiện khởi .Ngay lúc đó, bạn cần phải chú ý đến “ chuyển động này” đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang đứng dậy, đang đứng dậy…”. Khi thực hành sự chú ý, bạn không cần phải để tâm đến hình dáng vật chất của đầu, thân thể và tứ chi… chỉ cần chú ý một cách chính xác để nhận biết được “bản chất của chuyển động dần dần đứng dậy” của thân thể. Vì vậy, khi đã có khả năng nhận biết được “ ý định muốn đứng dậy” bạn sẽ tự nhận thức được rằng mình đã tiến bộ thêm 2 bậc nữa trong quá trình thực hành nội quán. “ Ý định muốn đứng dậy” là có sự nhận thức.Vì vậy nó thuộc về tinh thần. “ Chuyển động đứng dậy” của thân thể là không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Do đó, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất.

Tóm tắt: Ý định muốn đứng dậy là tinh thần, chuyển động đứng dậy của thân thể là vật chất. Khi đang đứng dậy, bạn phải tập trung sự chú ý để lãnh hội được sự khác nhau giữa hai yếu tố tinh thần và vật chất một cách rõ ràng.

Sau khi đã đứng lên để chuẩn bị bước đi, bạn đừng nên vội bước đi ngay. Nếu bạn có “ ý định muốn bước đi” thì “ ý định này” sẽ luôn luôn xuất hiện trước “ chuyển động bước đi” và rất dễ nhận thấy. Vì vậy, bạn cần phải tập trung chú ý đến “ ý định muốn bước đi”, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang có ý định bước đi, đang có ý định bước đi…”. Tiếp liền sau đó, khi “ chuyển động bước đi” của thân thể đang hiện khởi, bạn phải chú ý đến “ chuyển động này”, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang bước đi, đang bước đi…” hoặc “ chân trái đang bước tới, chân phải đang bước tới…”. Khi thực hành sự chú ý đến “ chuyển động dần dần đang bước tới ” của bàn chân, bạn không cần để tâm đến hình dáng vật chất của đầu, thân thể và tứ chi… chỉ cần chú ý một cách chính xác trong từng khoảnh khắc ở hiện tại để nhận biết được “ bản chất của chuyển động” này. Vì vậy, khi đã có khả năng chú ý đến “ ý định muốn bước đi”, bạn sẽ tự nhận thức được rằng mình đã tiến bộ thêm 2 bậc nữa trong quá trình thực hành nội quán. “ Ý định muốn bước đi” là có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về tinh thần. “ Chuyển động bước đi của thân thể” là không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Do đó, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Bởi vì bạn đã có “  ý định muốn bước đi ” nên “ chuyển động bước đi của thân thể” mới hiện khởi. “ Ý định muốn bước đi” chính là nguyên nhân và “ chuyển động bước đi” là kết quả .Vì vậy, bạn đã gặt hái được kiến thức về luật nhân quả.

Tóm tắt: Ý định muốn bước đi là tinh thần, chuyển động bước đi của thân thể là vật chất. Chính tinh thần và vật chất đang bước đi chứ không phải bạn hay tôi bước đi. Vì vậy, khi đang đi bộ, bạn cần phải tập trung chú ý để lãnh hội được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất một cách rõ ràng.

Sau khi đã đi bộ, có thể bạn sẽ dừng lại, nếu bạn có “ ý định muốn dừng lại” thì “ý định này” sẽ hiện khởi trước “ hành động dừng lại” và rất dễ nhận thấy. Bạn cần phải chú ý đến “ ý định này” đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang có ý định muốn dừng lại, đang có ý định muốn dừng lại…”. Tiếp liền sau đó là “ hành động dừng lại” sẽ hiện khởi, bạn cũng cần chú ý đến “ hành động này”, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang dừng lại, đang dừng lại…”. Khi hành động dừng lại đang tiếp diễn, bạn không cần để tâm đến hình dáng vật chất của đầu, thân thể và tứ chi…  chỉ cần chú ý một cách chính xác để nhận biết được rằng “thân thể của mình đã trở nên căng thẳng” do tác động của “ ý định muốn dừng lại”. Khi đã có khả năng chú ý đến “ ý định muốn dừng lại”, bạn sẽ tự nhận thức được rằng mình đã tiến bộ thêm 2 bậc nữa trong quá trình thực hành nội quán. “ Ý định muốn dừng lại” là có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về tinh thần. “ Hành động dừng lạilà không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Do đó, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Bởi vì bạn đã có “  ý định muốn dừng lại” nên “ hành động dừng lại” mới hiện khởi. “ Ý định muốn dừng lại” là nguyên nhân và  “hành động dừng lại” là kết quả. Vì vậy, bạn đã gặt hái được kiến thức về luật nhân quả.

Tóm tắtÝ định muốn dừng lại là tinh thần, hành động dừng lại của thân thể là vật chất. Chính tinh thần và vật chất đã dừng lại chứ không phải bạn hay tôi đã dừng lại. Khi đang dừng lại, bạn cần phải tập trung chú ý để lãnh hội và phân biệt được sự khác nhau giữa 2 yếu tố tinh thần và vật chất.

Sau khi đã đứng, nếu bạn có “ ý định muốn ngồi xuống” thì “ ý định này” sẽ hiện khởi trước  “hành động ngồi xuống” và nó rất dễ nhận thấy. Bạn cần phải tập trung chú ý đến “ ý định này” đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang có ý định muốn ngồi xuống, đang có ý định muốn ngồi xuống…”. Sau đó “ hành động ngồi xuống” sẽ hiện khởi. Ngay lúc đó, bạn cũng cần phải chú ý đến “ hành động đang ngồi xuống ”, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang ngồi xuống, đang ngồi xuống…”. Khi thực hành sự chú ý đến “ hành động đang ngồi xuống”, bạn không cần phải để tâm đến hình dáng vật chất của đầu, thân thể và tứ chi… mà chỉ cần tập trung chú ý một cách chính xác trong từng khoảnh khắc để nhận biết được “ trạng thái chuyển động đang dần dần ngồi xuống ” của thân thể.  Khi đã có khả năng chú ý đến “ ý định muốn ngồi xuống”, bạn sẽ tự nhận thức được rằng mình đã tiến bộ thêm 2 bậc nữa trong quá trình thực hành nội quán. “ Ý định muốn ngồi xuống” là có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về tinh thần. “ Chuyển động đang ngồi xuống” của thân thể là không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Do đó, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất.

Tóm tắtÝ định muốn ngồi xuống là tinh thần, chuyển động ngồi xuống của thân thể là vật chất. Chính tinh thần và vật chất đã ngồi xuống chứ không phải bạn hay tôi đã ngồi xuống. Khi đang ngồi xuống, bạn cần phải tập trung chú ý để lãnh hội và phân biệt được sự khác nhau giữa 2 yếu tố tinh thần và vật chất.

Do bạn đã có “  ý định muốn ngồi xuống” nên “ hành động ngồi xuống” mới hiện khởi.“ Ý định muốn ngồi xuống” chính là nguyên nhân và “ chuyển động ngồi xuống” của thân thể là kết quả. Vì vậy, bạn đã gặt hái được kiến thức về luật nhân quả. Từ tư thế ngồi, nếu bạn muốn nằm dài xuống cũng vậy, bạn không nên nằm dài xuống ngay. Nếu bạn có “ ý định muốn nằm dài xuống” thì “ ý định này” sẽ khởi lên trước “ hành động nằm dài xuống” và nó rất dễ nhận thấy. Bạn cần phải chú ý đến “ ý định này” đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang có ý định muốn nằm dài xuống, đang có ý định muốn nằm dài xuống…”. Tiếp đến, “ chuyển động nằm dài xuống” của thân thể sẽ hiện khởi, bạn cũng phải chú ý đến “ chuyển động này”, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang nằm dài xuống, đang nằm dài xuống…”. Khi đang chú ý đến “ hành động nằm dài xuống”, bạn không cần phải để tâm đến hình dáng vật chất của đầu, thân thể và tứ chi…  chỉ cần tập trung chú ý một cách chính xác trong từng khoảnh khắc để nhận biết được bản chất của “ trạng thái chuyển động dần dần nằm dài xuống” của thân thể. Khi đã có khả năng chú ý đến “ ý định muốn nằm dài xuống”, bạn sẽ tự nhận thức được rằng mình đã tiến bộ thêm 2 bậc nữa trong quá trình thực hành nội quán. “ Ý định muốn nằm dài xuống” là có sự nhận thức . Vì vậy nó thuộc về tinh thần. “ Chuyển động nằm dài xuống” của thân thể là không hề có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về vật chất. Do đó, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Bởi vì bạn đã có “ ý định muốn nằm dài xuống” nên

 “ hành động nằm dài xuống” của thân thể mới hiện khởi. “ Ý định muốn nằm dài xuống” là nguyên nhân và “ hành động nằm dài xuống” của thân thể là kết quả. Vì vậy, bạn đã gặt hái được kiến thức về luật nhân quả

Tóm tắt: Ý định muốn nằm dài xuống là tinh thần, chuyển động nằm dài xuống của thân thể là vật chất. Chính tinh thần và vật chất đã nằm dài xuống chứ không phải bạn hay tôi đã nằm dài xuống. Khi đang chú ý đến hành động nằm dài xuống, bạn cần phải tập trung tâm ý một cách chính xác để lãnh hội và phân biệt được sự khác nhau giữa 2 yếu tố tinh thần và vật chất.

 Chú ý lúc đang thọ thực

Khi đang thọ thực cũng vậy, bạn phải tập trung sự chú ý đến tất cả những hành động của mình. Khi vừa nhìn thấy các loại vật thực, bạn cần phải tập trung sự chú ý đến chúng đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang thấy, đang thấy…”. Khi đang vươn cánh tay về phía vật thực, bạn phải chú ý đến hành động của mình đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang vươn cánh tay ra, đang vươn cánh tay ra…”. Khi bàn tay của bạn đang tiếp xúc với thức ăn, bạn cũng niệm “ đang tiếp xúc, đang tiếp xúc…”. Khi chuẩn bị đưa một miếng vật thực vào miệng, bạn niệm “ đang chuẩn bị đưa vào miệng, đang chuẩn bị đưa vào miệng…”. Khi đang lấy vật thực từ bàn ăn, bạn hãy niệm “ đang lấy vật thực, đang lấy vật thực…”. Khi đang cúi đầu xuống, bạn  niệm “ đang cúi đầu xuống, đang cúi đầu xuống…”. Khi đang mở miệng để đưa vật thực vào, bạn niệm “ đang mở miệng, đang mở miệng…”. Khi đang đưa vật thực vào miệng, bạn niệm “ đang đưa vào, đang đưa vào…” Khi đang ngẫng đầu lên, bạn niệm “ đang ngẫng đầu lên, đang ngẫng đầu lên…”. Khi đang nhai vật thực, bạn niệm  “ đang nhai, đang nhai…”. Khi đang nhận biết mùi vị của vật thực, bạn niệm “ đang nhận biết, đang nhận biết…”. Khi đang nuốt vật thực, bạn niệm “ đang nuốt, đang nuốt…”. Đây là lời giáo huấn mang lại nhiều lợi ích của Ngài Đại Trưởng Lão Mahasì về cách thọ dụng một miếng vật thực. Lúc mới bắt đầu tập cách thọ thực như đã trình bày ở trên, vì chưa quen, bạn có thể đánh mất sự chú ý đối với nhiều hoạt động của chính mình. Tuy nhiên, bạn cứ kiên trì tập luyện và đừng nản chí. Khi năng lực định tâm đã đủ mạnh thì đến lúc đó, bạn sẽ có khả năng chú ý đến tất cả những hành động của mình trong lúc đang thọ thực. Lúc ban đầu mới tập luyện, bạn nên thực hành sự chú ý đối với những hành động nào mà mình có thể nhận thấy một cách rõ ràng nhất. Nếu “ hành động vươn cánh tay ra” để lấy vật thực hiện khởi một cách rõ ràng nhất đối với khả năng nhận thức của bạn so với những hành động khác, bạn hãy chú ý tích cực đến  hành động này. Nếu “ hành động cúi đầu xuống trong khi đang thọ thực” hiện khởi một cách rõ ràng nhất, bạn hãy chú ý tích cực đến hành động này. Nếu “ hành động nhai vật thực” hiện khởi một cách rõ ràng nhất thì bạn hãy chú ý đến “ hành động này”… Khi đang nhai vật thực thì quai hàm của bạn sẽ chuyển động lên xuống.  Vì vậy, bạn cần tập trung chú ý đến “ chuyển động lên xuống của quai hàm” khi đang nhai vật thực. Khi thực hành thiền minh sát, bạn không chỉ thực hành sự chú ý đến những cảm giác dễ chịu mà còn phải chú ý đến những cảm giác khó chịu đối với thân tâm để làm cho chúng lắng dịu xuống. Khi một “cảm giác dễ chịu nào đó” đang khởi lên thì ngay trước đó, trong tâm thức của bạn đã phát khởi một “ dấu hiệu dễ chịu”. Bận cần phải tập trung chú ý đến “ dấu hiệu dễ chịu này”, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang có dấu hiệu dễ chịu, đang có dấu hiệu dễ chịu…” Nếu cảm thấy “đau nhức, ngứa ngáy hay hồi hộp…”  bạn cũng cần phải chú ý đến những cảm giác này, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang đau nhức, đang ngứa ngáy hayđang hồi hộp…” để làm cho chúng lắng dịu xuống. Nói cách khác, khi đang thực hành thiền minh sát, bạn không chấp thủ và bám víu vào những cảm giác mà tâm trí của mình đã cảm nhận được, dù đó là những cảm giác dễ chịu hay khó chịu. Vì vậy, khi đã có khả năng tập trung sự chú ý để thoát khỏi những cảm giác do các hoạt động tự nhiên của thân tâm mang lại, bạn sẽ gặt hái được phước báu minh sát ( Vipassanā Kusala). Cách thực hành sự chú ý đến tất cả những hoạt động đa dạng xảy ra hàng ngày của chúng ta được Đức Phật gọi là Sampajanna.

Tóm tắt: Làm cho các hoạt động tự nhiên của thân tâm lắng dịu xuống bằng cách thực hành sự chú ý tích cực đến chúng được Đức Phật gọi là Sampajanna.

Các bậc thầy chú giải Kinh Điển đã từng chỉ ra rằng, những hành giả thực hành thiền minh sát nào có thể chú ý một cách liên tục trên các hoạt động đa dạng hàng ngày của mình và không bỏ sót bất cứ một hoạt động nào sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng và Đạo Quả. Một hành giả thực hành thiền minh sát nào đó có niềm tin tròn đủ rằng, cánh cửa địa ngục sẽ bị đóng lại bằng cách nhận thức được Niết Bàn hạnh phúc thì hãy thực hành thiền minh sát. Khi đang đi bộ, nếu hành giả này có thể tập trung sự chú ý để nhận biết được “ trạng thái đang đi bộ của mình” đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang đi bộ, đang đi bộ…” thì hành giả đó có thể gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng và Đạo Quả. Nếu khi đang đứng, đang ngồi, đang nằm, đang thọ thực, đang nhai…hành giả này đều nhận biết được những trạng thái hoạt động của chính mình một cách đầy đủ, liên tục và chính xác thì anh ta cũng có thể gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng và Đạo Quả.

Tóm tắt: Chú ý khi đang đi bộ, đang ngồi, đang đứng, đang nằm hay đang thọ thực thì sẽ nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng.

Vì vậy, nếu bạn biết xử dụng một phương pháp thực hành thiền đúng đắn thì điều này sẽ dẫn đến việc gặt hái được Đạo Quả Niết Bàn. Nếu hội đủ tiêu chuẩn thì bạn có thể trở thành một Tu- Đà- Hườn. Đến đây, thời thuyết Pháp về 4 nhân tố cần phải đạt được để trở thành một Tu-Đà-Hườn đã hoàn tất. Tôi sẽ tiếp tục thuyết về 24 kiểu Tu-Đà-Hườn. Để bạn dễ nhớ, đầu tiên tôi sẽ giải thích và liệt kê một cách tóm tắt về các kiểu Tu-Đà-Hườn :

1. Ba kiểu Tu-Đà-Hườn được hình thành đúng theo những gì mà họ đã trải qua trong những kiếp sống ở quá khứ.

2. Hai kiểu Tu- Đà-Hườn được hình thành đúng theo những nhân tố vượt trội trong quá khứ.

3. Bốn kiểu Tu-Đà-Hườn được hình thành đúng  theo những cách thức thực hành thiền minh sát .

Tóm tắt: Tu-Đà-Hườn được hình thành đúng theo những gì họ đã trải qua trong những kiếp sống ở quá khứ có 3 kiểu. Tu-Đà-Hườn được hình thành đúng theo những nhân tố vượt trội trong quá khứ có 2 kiểu. Tu-Đà-Hườn được hình thành y theo những cách thức thực hành thiền minh sát có 4 kiểu.

Ba kiểu Tu-Đà-Hườn được hình thành đúng theo những gì họ đã trải qua trong những kiếp sống ở quá khứ khi đem nhân với 2 kiểu Tu-Đà-Hườn được hình thành đúng theo những nhân tố vượt trội trong quá khứ sẽ làm thành 6 kiểu Tu- Đà –Hườn. Khi đem 6 kiểu Tu-Đà-Hườn này nhân với 4 kiểu Tu-Đà-Hườn được hình thành đúng theo những cách thức thực hành thiền minh sát sẽ thành 24 kiểu Tu-Đà-Hườn. Ba kiểu Tu-Đà-Hườn đã hình thành đúng theo những gì họ đã trải qua trong những kiếp sống ở quá khứ được xếp loại như sau :

1. Những người sẽ đạt tới Niết Bàn tối đa là trong 7 kiếp sống kế tiếp, kể từ khi trở thành một Tu-Đà-Hườn ( Sattakkatuparama).

Tóm tắt: Kiểu Tu-Đà-Hườn sẽ nhận thức được Niết Bàn tối đa là trong 7 kiếp sống kế tiếp được gọi là Sattakkhatuparama.

2. Kiểu Tu-Đà-Hườn sẽ đạt tới Niết Bàn khi đã trải qua tối đa  từ 2 đến 6 kiếp sống kế tiếp, kể từ khi trở thành Tu-Đà-Hườn được gọi là Kolankola.

Tóm tắt: Dạng Tu-Đà-Hườn sẽ đạt tới Niết Bàn tối đa trong vòng từ 2 đến 6 kiếp sống kế tiếp được gọi là Kolankola.

3. Kiểu Tu-Đà-Hườn sẽ đạt tới Niết Bàn trong vòng tối đa 1 kiếp sống kế tiếp, kể từ khi trở thành Tu-Đà-Hườn được gọi là ekabija.

Tóm tắtKiểu Tu-Đà-Hườn sẽ đạt tới Niết Bàn trong vòng tối đa là 1 kiếp sống kế tiếp được gọi là ekabija.

Kiểu Tu-Đà-Hườn được thành tựu bởi những nhân tố vượt trội thông qua việc thực hành thiền minh sát đã được xếp loại như trên lại được phân thành 2 kiểu Tu-Đà-Hườn khác, đó là : Tu-Đà-Hườn có niềm tin vượt trội và Tu-Đà-Hườn có trí tuệ vượt trội.

Sự khác nhau giữa 2 nhân tố niềm tin và trí tuệ

 Hai kiểu Tu-Đà-Hườn được hình thành bởi nhân tố là niềm tin và trí tuệ có mức độ nhận thức Niết Bàn khác nhau khi thực hành thiền minh sát. Tuy nhiên, khi đã đạt tới Niết Bàn, đã tìm được bình yên và hạnh phúc thì 2 dạng Tu-Đà-Hườn này không còn khác nhau nữa. Lúc đó, họ thật sự bình đẳng với nhau. Trong việc thực hành thiền minh sát, đúng theo phương pháp đã được giáo huấn bởi Ngài Đại Trưởng Lão Mahāsī, những hành giả cần phải thực hành sự chú ý đến trạng thái đang phồng lên của bụng, trạng thái đang xẹp xuống của bụng, trạng thái đang ngồi, trạng thái đang xúc chạm… Lúc ban đầu mới tập thực hành thiền, khi trạng thái định tâm chưa phát triển tốt, bạn chưa thể nhận thấy được một sự lợi ích nào, cũng như chưa phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Cụ thể là, bạn cứ tưởng rằng bụng của mình đang phồng xẹp lên xuống và chính bạn là người đang chú ý đến những trạng thái chuyển động này. Bạn cứ tưởng rằng mình đang ngồi hay đang xúc chạm và chính bạn là người đang thực hành sự chú ý đến những tiến trình này. Khi đã có khả năng duy trì sự chú ý một cách liên tục và năng lực định tâm của bạn đã phát triển tốt thì đến lúc đó, nếu chú ý đến trạng thái chuyển động đang phồng lên của bụng, bạn sẽ nhận biết được rằng, “ chuyển động đang dần dần phồng lên của bụng” và “ sự chú ý của tâm trí” là 2 thành phần tách biệt. Khi chú ý đến “ trạng thái chuyển động đang xẹp xuống của bụng”, bạn cũng sẽ phân biệt được rằng “ chuyển động đang dần dần xẹp xuống của bụng” và “ sự chú ý của tâm trí” là 2 thành phần tách biệt. Tương tự như vậy, bạn cũng sẽ nhận thức được “ trạng thái đang ngồi của thân thể ” và “ sự chú ý của tâm trí đến trạng thái này” là 2 thành phần tách biệt, “ trạng thái xúc chạm của thân thể” và “ sự chú ý của tâm trí đến trạng thái này” cũng là 2 thành phần tách biệt. Từ đó, bạn sẽ nhận biết được rằng “ chuyển động đang phồng lên của bụng”, “ chuyển động đang xẹp xuống của bụng” “ trạng thái đang ngồi” và “ trạng thái đang xúc chạm” của thân thể là không hề có sự nhận thức. Vì vậy những tiến trình này thuộc về vật chất. “ Tiến trình  chú ý của tâm trí” là có sự nhận thức. Vì vậy nó thuộc về tinh thần. Đây chính là nhân tố có thể phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất mà một Tu-Đà-Hườn đã thành tựu nhờ có trí tuệ. Kiểu Tu-Đà-Hườn được thành tựu do có niềm tin không nhận biết được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Vị này có khả năng nhìn thấy những tia sáng cực nhỏ giống như lửa bay. Những tia sáng này là nhân tố giúp cho vị này gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Thỉnh thoảng hình dáng vật chất của thân thể cũng trở nên mờ nhạt trong tâm thức của kiểu Tu-Đà-Hườn này, chỉ có chuyển động phồng lên và chuyển động xẹp xuống của bụng là hiện khởi một cách rõ ràng. Tuy nhiên, vị Tu-Đà-Hườn này không chú ý được tất cả tiến trình phồng lên xẹp xuống của bụng mà chỉ nhận biết được “khoảnh khắc” kết thúc của “ tiến trình chuyển động phồng lên” và “khoảnh khắc” bắt đầu  “tiến trình chuyển động xẹp xuống” của bụng mà thôi. Tuy nhiên, khoảnh khắc này là cần phải nhận biết một cách rõ ràng trong quá trình thực hành nội quán. Vì vậy, vị Tu-Đà-Hườn được thành tựu bởi niềm tin đã kinh nghiệm được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất theo cách này. Kiểu Tu-Đà-Hườn này không nhận biết được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất giống như dạng Tu-Đà-Hườn được thành tựu do có trí tuệ. Bởi vì đã không nhận biết được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất, nên Tu-Đà-Hườn do có niềm tin sẽ trở nên chán nản và thối chí vì nghĩ rằng mình không bao giờ nhận thức được Phật Pháp. Nếu bạn là vị Tu-Đà-Hườn nói trên thì đến lúc đó, bạn có nên chán nản và thối chí không ? Chắc chắn là không. Tuy nhiên, niềm tin cũng là một nhân tố chắc chắn sẽ giúp cho bạn trở thành Tu-Đà-Hườn vào một ngày nào đó. Sau khi đã trở thành Tu-Đà-Hườn, gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn hạnh phúc thì 2 dạng Tu-Đà-Hườn do niềm tin và Tu-Đà-Hườn do trí tuệ vừa đề cập ở trên sẽ không còn gì khác nhau. Lúc đó, giữa họ không còn bất cứ một sự phân biệt nào. Họ đã thật sự bình đẳng với nhau. Đến đây, tôi đã giải thích một cách đầy đủ về sự khác nhau giữa Tu-Đà-Hườn được thành tựu do có niềm tinTu-Đà-Hườn được thành tựu do có trí tuệ. Bây giờ, tôi sẽ nói về sự khác nhau của 4 kiểu Tu-Đà-Hườn do có những cách thực hành thiền minh sát không giống nhau. Bốn kiểu Tu-Đà-Hườn này được sắp xếp như sau :

1. Dukkhapatipadā dandābinnà – Kiểu Tu-Đà-Hườn phải trải qua quá trình thực hành thiền minh sát với nhiều trạng thái tâm lý căng thẳng và những tình huống khó khăn,  gặt hái được Phật Pháp một cách chậm chạp.

2. Dukkhapatipadā khappābinnā -  Kiểu Tu-Đà-Hườn phải trải qua quá trình thực hành thiền minh sát với nhiều trạng thái tâm lý căng thẳng và những tình huống khó khăn, tuy nhiên gặt hái được Phật Pháp một cách nhanh chóng.

3. Sukkhapatipadā khappàbinnā – Kiểu Tu-Đà-Hườn trải qua quá trình thực hành thiền minh sát rất dễ dàng và thuận tiện nhưng gặt hái Phật Pháp một cách rất chậm chạp.

4. Sukkhapatipadā khappābinnā  -  Kiểu Tu-Đà-Hườn trải qua quá trình thực hành thiền minh sát rất dễ dàng và thuận tiện, gặt hái được Phật Pháp một cách nhanh chóng.

Vì vậy, có 4 kiểu Tu-Đà-Hườn khác nhau do có những cách thức thực hành thiền minh sát không giống nhau. Sở dĩ có 4 kiểu Tu-Đà-Hườn vừa nêu là vì trong những kiếp sống ở quá khứ, họ đã thực hành Phật Pháp theo 2 cách thức khác nhau. Cách thức thứ nhất là có thực hành thiền định và thiền minh sát. Trong khi đó, cách thức thứ hai là không có thực hành thiền định và thiền minh sát. Trong quá trình thực hành Phật Pháp để trở thành một Tu-Đà-Hườn, những người mà trong những kiếp sống ở quá khứ không thực hành thiền định và thiền minh sát sẽ phải trải qua rất nhiều trạng thái căng thẳng và tình huống khó khăn, họ gặt hái được Giáo Pháp một cách rất chậm chạp. Những người mà trong những kiếp sống ở quá khứ chỉ thực hành thiền minh sát nhưng không thực hành thiền định sẽ gặp phải rất nhiều trạng thái tâm lý căng thẳng và tình huống khó khăn nhưng gặt hái được Phật Pháp một cách nhanh chóng. Những người mà trong những kiếp sống ở quá khứ chỉ thực hành thiền định nhưng không thực hành thiền minh thì trong kiếp sống này họ sẽ có khả năng thực hành thiền minh sát rất dễ dàng và thuận tiện nhưng gặt hái được Giáo Pháp rất chậm chạp. Những người mà trong những kiếp sống ở quá khứ có thực hành thiền định và thiền minh sát với một phương pháp đúng đắn và có gặt hái được một thành tựu nào đó thì trong kiếp sống này, họ sẽ có khả năng thực hành thiền minh sát rất dễ dàng và thuận tiện, gặt hái được Giáo Pháp một cách rất nhanh chóng.

Nhân tố chính yếu khi thực hành sự chú ý

Trong 4 dạng Tu-Đà-Hườn vừa đề cập ở trên, đối với những Tu-Đà-Hườn phải thực hành thiền minh sát trong những trạng thái tâm lý căng thẳng và thường gặp phải những tình huống khó khăn… Nhân tố quyết định chính yếu ở đây là gì ? Nhân tố cần thiết nào mà họ phải có trong quá trình thực hành thiền minh sát để có thể gặt hái được Phật Pháp ? Đối với kiểu Tu-Đà-Hườn này, kiên nhẫn là nhân tố chính yếu và cần thiết phải có khi thực hành thiền minh sát. Sở dĩ những Tu-Đà-Hườn này phải thực hành thiền minh sát trong những trạng thái tâm lý căng thẳng và những tình huống khó khăn là do khổ thọ ( Dukkha Vedanā – Unpleasant Sensation) hiện khởi. Vì chưa thể chịu đựng và vượt qua được khổ thọ nên họ thường thay đổi tư thế hoặc cử động thân thể trong lúc thực hành thiền. Vì vậy, họ trải nghiệm được Giáo Pháp một cách rất chậm chạp. Đó là lý do tại sao khi nói rằng, kiên nhẫn là nhân tố chính yếu mà những hành giả thực hành thiền minh sát cần phải có. Trong quá trình thực hành thiền minh sát, kiên nhẫn là nhân tố mang lại nhiều lợi ích nhất cho việc dẫn đến Niết Bàn. Nếu có thể thực hành sự chú ý với tính kiên nhẫn thì tâm của bạn sẽ có khả năng trụ lại trong những trạng thái yên ổn và định tĩnh. Khi đã thiết lập được trạng thái định tâm, tuệ minh sát ( Vipassanā Ñāna) sẽ phát triển trong tâm thức của bạn. Khi tuệ minh sát đã phát triển tới một mức độ gọi là đạt tiêu chuẩn, bạn sẽ trở thành một Tu-Đà-Hườn. Ngày xưa, có rất nhiều người đã đạt tới Niết Bàn với tính kiên nhẫn khi thực hành Phật Pháp. Một thời, có một vị Tỳ-kheo đang thực hành Phật Pháp tại đồi Cittala. Ngày nọ, ông đã thực hành thiền minh sát suốt đêm trong một cơn đau bụng dữ dội. Khi đã không còn chịu đựng nổi cơn đau, ông quằn quại trên giường ngủ, hết xoay qua trái lại xoay qua phải vì quá đau đớn. Trưởng Lão Pindapātika đã nhìn thấy cảnh tượng đó, Ngài bèn nhắc nhở vị Tỳ Kheo rằng :  “ Hỡi vị Tỳ-kheo ! Bản tính của những Tỳ-kheo là phải có lòng kiên nhẫn”. Khi vị Tỳ-kheo đang bị đau tình cờ nghe được lời nhắc nhở của Trưởng Lão Pindapàtika thì ông liền nói : “ Lành thay ! Lành thay ! Điều đó là tốt… Tôi đồng ý…Tôi nhất định phải kiên nhẫn !”. Sau đó, ông đã nằm yên, buông lỏng thân tâm và chịu đựng cơn đau bụng một cách yên lặng. Khi chú ý đến khổ thọ đang khởi lên trong tâm thức mình, vị Tỳ-kheo nọ đã nhận thức được Niết Bàn, trở thành một A-Na-Hàm ( Anāgāmi) và viên tịch. Nếu vị Tỳ-kheo đó không có tính kiên nhẫn, cứ quằn quại và vật vã trên giường vì đau đớn thì vị ấy đã không nhận thức được Niết Bàn. Những người có thể thực hành thiền minh sát dễ dàng và thuận tiện nhưng gặt hái được Phật Pháp một cách chậm chạp phải biết cách thực hành sự chú ý thật chính xác và liên tục, bởi vì đây là một nhân tố rất quan trọng. Họ đã gặt hái được Phật Pháp một cách chậm chạp là do khi thực hành thiền họ đã thực hành sự chú ý không được chính xác và liên tục. Đó là lý do tại sao, những người thực hành thiền minh sát cần phải thực hành sự chú ý một cách liên tục và chính xác trong từng khoảnh khắc ở hiện tại để có thể nhận biết được chân lý tuyệt đối hay thực tại cùng tột ( Paramattha). Họ cần phải chú ý một cách tích cực và chính xác. Khi đang thở vào, bụng của bạn sẽ dần dần phồng lên. Ngay lúc này, bạn cần phải tập trung sự chú ý kể từ khi bụng bắt đầu dần dần phồng lên cho đến khi đã căng hết mức. Khi bụng đã bắt đầu căng lên, bạn phải tập trung sự chú ý một cách chính xác để nhận biết được thực tại cùng tột. Bằng cách thực hành sự chú ý một cách liên tục, tâm trí của bạn sẽ trở nên mạnh mẽ và định tĩnh. “ Trạng thái chuyển động đang dần dần phồng lên của bụng” hiện khởi rồi sẽ “dần dần chuyển qua trạng thái biến mất”. Nếu tâm thức của bạn có khả năng tách bạch được 2 trạng thái này một cách rõ ràng, bạn sẽ kinh nghiệm được Phật Pháp.

Từ Los Angeles đến Hạ-Uy-Di ( Hawaii)

Khi khóa tu thiền tại Los Angeles đã kết thúc vào ngày mồng 9 tháng 08 năm 1994. Vào lúc 3 giờ chiều cùng ngày, bậc Trưởng Thượng đã cùng với tiến sĩ U Mya Aung, U Htun Kyi và U Khin Hlaing rời khỏi phi trường Los Angeles để đến San Jose. Tại San Jose, họ đã gặp gỡ con trai của U Thein Maung và U Thein Naing. Sau khi đã ở lại trung tâm thiền Như Lai ( Tathagata yeitha) tại San Jose được 3 ngày, bậc Trưởng Thượng cùng với tiến sĩ U Mya Aung và U Htun Kyi đã rời khỏi phi trường San Francisco vào lúc 5 giờ chiều ngày 12 tháng 08 năm 1994 để đến Hạ-Uy-Di ( Hawaii). Tại phi trường Hạ-Uy-Di, U Kyi Lwin, U Tin Aye và U Kyaw Myint đang đứng đợi sẵn để cung nghinh bậc Trưởng Thượng và phái đoàn. Tại tu việnThai ở Hạ-Uy-Di, bậc Trưởng Thượng đã thuyết Pháp và giáo huấn về thiền minh sát. Vào ngày 13 tháng 08 năm 1994, từ 7 giờ tối đến 9 giờ tối, bậc Trưởng Thượng đã thuyết một bài Pháp nói về 4 điều kiện khó đạt được. Đã có khoản 20 thính giả đến lắng nghe thuyết Pháp một cách chăm chú với một tâm thức tôn kính.Vào ngày 14 tháng 08 năm 1994, bậc Trưởng Thượng đã dùng điểm tâm tại tu viện Thai. Sau khi dùng điểm tâm xong, Ngài đã cử hành Lễ thảy rượu cúng. Sau đó, Daw Pyone Pyone Aye đến từ Mandalay ( một trung tâm Phật Giáo lớn tại Miến Điện -ND) đã thỉnh cầu thạc sĩ M.Sc ở Hạ-Uy-Di đặt một câu hỏi với bậc Trưởng Thượng. Câu hỏi như sau :  “ Những người ngoại quốc đã hỏi chúng con rằng tại sao những Tỳ-kheo Phật Giáo không được thọ thực sau buổi trưa. Chúng con đã không thể trả lời được một cách chính xác, bây giờ chúng con thỉnh cầu bậc Trưởng Thượng hãy thuyết một bài Pháp nói về điều đó ?”. Bậc Trưởng Thượng đã trả lời rằng, bởi vì nếu các Tỳ-kheo đi khất thực vào buổi chiều tối thì họ sẽ khiến cho người ta chỉ trích và phê bình. Tuy nhiên trong thực tế, người ta không chỉ trích và phê bình việc đi khất thực của các Tỳ Kheo, họ chỉ lên án việc thọ thực sau buổi trưa là không đúng đắn mà thôi. Vì vậy, Đức Phật đã ban bố Giới luật các Tỳ- kheo không được thọ thực sau buổi trưa ( tức sau giờ ngọ. Giờ ngọ bắt đầu từ 11 giờ đến 13 giờ).Một thời, khi Đức Phật đang trú tại tu viện Trúc Lâm ( Veluvana Vihara) ở Vương- Xá ( Rājagaja – Kinh đô của vương quốc Ma-Kiệt-Đà). Vào lúc đó, có 17 vị Tỳ-kheo trẻ tuổi leo lên đỉnh của một ngọn đồi để thưởng ngoạn phong cảnh. Những người bà con của những Tỳ-kheo trẻ tuổi này đã cúng dường vật thực cho họ. Sau đó, những người bà con này lại dâng thêm một ít vật thực nữa để họ mang về tu viện. Những vị Tỳ-kheo trẻ tuổi đã mang những vật thực được dâng cúng thêm về đến tu viện và dâng cúng lại cho những người bạn đồng tu của họ. Đã có 6 Tỳ kheo Chavaggi ( những Tỳ Kheo chuyên tu hành theo Pháp quán tử thi) đã hỏi các Tỳ-kheo trẻ tuổi nói trên rằng “ Các ông đã thọ thực trong những lúc rảnh rỗi vào buổi tối và sau buổi trưa phải không ?”. Các Tỳ-kheo trẻ tuổi đã thú nhận sự thật đúng là như vậy. Sau đó, họ đã bị các Tỳ-kheo Chavaggi cùng nhiều người khác chỉ trích và phê bình. Nhân cơ hội này, Đức Phật đã ban bố một Giới luật qui định những Tỳ-kheo nào thọ thực sau buổi trưa là vi phạm Giới luật ăn uống ( Pācitta abatti). Bởi vì Đức Phật đã ban bố Giới luật nói trên nên đến tận ngày nay, các Tỳ-kheo vẫn còn tuân thủ nó. Họ không bao giờ thọ thực sau bữa trưa. Sau đó, Daw Pyone Pyone lại hỏi thêm rằng, tại sao các Tỳ-kheo không thể tự tìm kiếm và cất giữ vật thực để xử dụng và tại sao các loại vật thực mà họ xử dụng phải được thông qua sự cúng dường của các bổn Đạo ? Câu trả lời là : “ Các Tỳ-kheo chỉ được xử dụng những vật thực do những bổn Đạo cúng dường, bởi vì trong thời Đức Phật đang trú tại một tu viện có xây dựng Bảo Tháp ở Tỳ-Xá-Lỵ ( tức Vệ-Xá – Vesali), có một Tỳ-kheo tu theo Pháp quán tử thi sống tại một nghĩa địa đã ăn những loại vật thực xử dụng để cúng cho tổ tiên. Sau đó, vị Tỳ-kheo này đã trở nên béo phì. Những người thế tục nghĩ rằng, vị Tỳ-kheo nói trên đã ăn thịt các xác chết nên ông ta mới bị bệnh. Một vài vị Tỳ-kheo khác cũng chỉ trích và phê bình vị Tỳ-kheo sống trong nghĩa địa nọ. Bởi vì những lời chỉ trích và phê bình này mà Đức Phật đã tuyên bố rằng, các Tỳ-kheo không được tự tìm kiếm và cất giữ các loại thức ăn không phải là vật thực cúng dường của những bổn Đạo.Tiếp đến, Ngài đã ban bố Giới luật qui định các Tỳ-kheo chỉ được xử dụng các loại vật thực do những bổn Đạo hay những người khác cúng dường. Những câu hỏi của Daw Pyone Pyone đã được bậc Trưởng Thượng trả lời xong. Một bác sĩ người gốc Việt Nam tên là Sanbiwhein đang sống tại Hạ-Uy-Di đã cung thỉnh bậc Trưởng Thượng rằng, Ngài hãy tổ chức một khóa tu thiền tại nhà riêng của ông. Vì vậy, vào ngày 14 tháng 08 năm 1994, từ 18 giờ đến 18 giờ 30, bậc Trưởng Thượng đã cùng thực hành thiền với những hành giả ngoại quốc. Sau đó, Ngài đã thuyết một bài Pháp. Tiến sĩ U Mya Aung đã thông dịch bài thuyết Pháp này sang tiếng Anh. Bài thuyết Pháp của bậc Trưởng Thượng nói về những lợi ích mà việc thực hành thiền minh sát mang lại, đồng thời cũng chỉ dạy phương pháp thực hành thiền minh sát khi đang đi bộ, đang đứng, đang ngồi và đang nằm với những ý định đã khiến cho những tiến trình này hiện khởi. Phu nhân của bác sĩ Sanbiwhein – một hành giả thực hành thiền minh sát tại gia đã rất hài lòng với những lời giáo huấn của bậc Trưởng Thượng, đặc biệt khi Ngài nói về phương pháp thực hành sự chú ý đến những hoạt động đa dạng hàng ngày của chúng ta cùng với những ý định đã tạo nên những hoạt động này. Sau đó, phu nhân của bác sĩ Sanbiwhein đã bạch với bậc Trưởng Thượng rằng, mới gần đây bà đã tham gia một khóa tu thiền minh sát trong vòng một tháng và đã cảm thấy rất hài lòng với phương pháp thực hành thiền này. Bà nói rằng trong lúc đang thực hành thiền minh sát, thân thể của bà đang càng lúc càng trở nên nhẹ nhàng hơn, bà cảm thấy như thể mình đang sống tại cõi trời. Thỉnh thoảng, bà cũng cảm thấy dường như mình đang du lịch trên những tầng mây và nhìn thấy nhiều cảnh tượng rất đáng tôn kính. Bà cũng cảm thấy rất yên bình và hạnh phúc. Do đó, bà đã hỏi có phải là bà đã trở thành một Tu-Đà-Hườn hay không ? Bậc Trưởng Thượng đã trả lời rằng, phu nhân của bác sĩ Sanbiwhein chắc chắn sẽ trở thành một Tu-Đà-Hườn nếu bà vẫn tiếp tục thực hành thiền minh sát một cách siêng năng và mẫn cán. Phu nhân của bác sĩ Sanbiwhein lại hỏi rằng, bằng cách nào bà có thể biết được mình đã trở thành một Tu-Đà-Hườn  ? Câu trả lời là : “ Thí chủ có thể biết được mình đã trở thành một Tu-Đà-Hườn hay chưa bằng cách tự chiêm nghiệm và xét lại chính bản thân mình. Nếu đã có lòng tin vào Phật, Pháp, Tăng một cách trọn vẹn. Thậm chí, đã có khả năng hy sinh mạng sống của mình cho kẻ khác thì lúc đó, thí chủ có thể quả quyết rằng mình đã trở thành một Tu-Đà-Hườn. Nếu lúc đó, một vài người có địa vị xã hội, có uy tín và nhiều quyền hạn nói với thí chủ rằng : “ Ông, bà, cô… đừng có thờ phụng Phật, Pháp, Tăng nữa” và thí chủ đã nghe theo họ thì thí chủ sẽ chết ngay lập tức. Tuy nhiên ngay lúc đó, nếu thí chủ nói với họ rằng, mình không thể sống mà thiếu lòng tôn kính đối với Phật, Pháp, Tăng thì thí chủ sẽ bảo toàn được mạng sống và có thể quả quyết rằng mình đã là một vị Tu-Đà-Hườn có niềm tin vững chãi.

Từ Hạ-Uy-Di đến Đông-Kinh ( Tokyo – Thủ đô của Nhật Bản)

Vào ngày 16 tháng 08 năm 1994, lúc 12 giờ 30 chiều, bậc Trưởng Thượng, tiến sĩ U Mya Aung và U Htun Kyi đã rời khỏi phi trường Hạ-Uy-Di để đến Đông-Kinh ( Tokyo). Bậc Trưởng Thượng và phái đoàn đã ở lại phi trường Đông-Kinh trong vòng 2 giờ đồng hồ và chờ máy bay để đi Tân-Gia-Ba (Singapore).

Từ Đông-Kinh đến Tân-Gia-Ba

 Vào ngày 17 tháng 08 năm 1994, lúc 4 giờ chiều, bậc Trưởng Thượng cùng với tiến sĩ U Mya Aung và U Htun Kyi đã rời khỏi phi trường Đông-Kinh để đến Tân-Gia-Ba. Tại phi trường Tân-Gia-Ba, U Aung Than và Daw Khin Mya Mya cùng với gia đình, U Nay Win và Daw Than Than Sein cùng với gia đình, U Moe Kyaw Thaung và em gái của ông là Ma Pale đã chờ sẵn để cung nghênh bậc Trưởng Thượng và phái đoàn. Sau đó, bậc Trưởng Thượng  và phái đoàn đã đến trung tâm S.B.Y.O và nghỉ lại ở đó một đêm.

 

Từ Tân-Gia-Ba đến Ngưỡng- Quang ( Yangon)

Vào ngày 18 tháng 08 năm 1994, lúc 2 giờ chiều, bậc Trưởng Thượng, tiến sĩ U Mya Aung và phái đoàn đã rời khỏi phi trường Tân-Gia-Ba. Ngài và phái đoàn đã về đến phi trường Ngưỡng- Quang vào lúc 4 giờ chiều. Tại phi trường Ngưỡng- Quang, những Tỳ-kheo, các thành viên của hiệp hội những người phụng vụ, những hành giả thực hành thiền minh sát thuộc trung tâm thiền Saddhammaramsī ( tất cả khoảng 80 người) đã chờ sẵn để cung nghênh và chúc mừng bậc Trưởng Thượng cùng phái đoàn đã về đến quê nhà. Như vậy, bậc Trưởng Thượng đã trải qua 2 tháng 13 ngày trong chuyến đi hoằng Pháp ở hải ngoại.

 

                       Những điểm cần chú ý khi thuyết Pháp      

   

Trong thời đại ngày nay, Phật Giáo đang rất hưng thịnh bởi vì những lời dạy của Đức Phật là chân lý tự nhiên. Khái niệm về nhân quả được Ngài thuyết ra có tính luận lý (logic) cao. Đó là lý do tại sao, các nhà khoa học và các học giả đã trở nên có niềm tin và tôn kính Phật Giáo.Vì vậy, Phật Pháp mới được hưng thịnh. Rất nhiều lời dạy của Đức Phật đã được nói ra qua các buổi thuyết Pháp, rất nhiều loại sách vở viết về Phật Pháp đã được xuất bản và phát hành. Chỉ khi những công việc có liên quan đến những lời dạy của Đức Phật như thuyết Pháp, biên soạn và dịch thuật…được thực hiện một cách hoàn hảo thì lúc đó, Phật Pháp mới được tăng tiến và thịnh vượng. Đức Phật đã từng chỉ ra 5 phẩm chất của một người thuyết Pháp giỏi, một người biên soạn hay dịch thuật về Phật Pháp xuất sắc. Năm phẩm chất đó là :

1. Phải nắm được toàn bộ nội dung và đặt ra một tiêu đề khi thuyết Pháp

2. Phải có được một nguyên nhân thúc đẩy rõ ràng khi thuyết Pháp

3. Phải có từ tâm và lòng trắc ẩn đối với những thính giả lắng nghe Pháp

4. Không nên mong đợi những món quà khi thuyết Pháp

5. Không nên cố ý làm tổn thương những người khác khi thuyết Pháp

Tóm tắtNắm bắt toàn bộ nội dung và đặt ra một tiêu đề, có một nguyên nhân thúc đẩy rõ ràng và đúng đắn, có từ tâm và lòng trắc ẩn, không mong đợi những món quà, không làm tổn thương người khác khi thuyết Pháp.                                                                                                                                                                                                                                                   

1. Nắm bắt toàn bộ nội dung và đặt ra một tiêu đề khi thuyết Pháp nghĩa là :

Khi những thính giả bị buộc phải lắng nghe một bài thuyết Pháp không có tiêu đề thì việc đầu tiên là họ sẽ trở nên rất bối rối vì chưa hiểu rõ người thuyết muốn nói về vấn đề gì. Do đó, từng phần của bài thuyết Pháp này sẽ trở nên rời rạc và khó hiểu. Đó là lý do tại sao, cần phải đặt ra một tiêu đề khi thuyết Pháp. Ví dụ : “ Bài thuyết Pháp hôm nay sẽ nói về 3 đề tài là Phật, Pháp và Tăng. Đầu tiên sẽ nói về Phật, kế đến là Pháp và thứ nữa là Tăng”…

2. Phải có một nguyên nhân thúc đẩy rõ ràng nghĩa là :

 Một bài Pháp nào đó có thể được thuyết ra. Tuy nhiên người thuyết không nêu rõ được lý do tại sao mình lại thuyết Pháp sẽ gây ra tâm trạng bối rối cho những người nghe, bởi vì họ sẽ không hiểu được bài thuyết Pháp này sẽ được dùng vào việc gì, đồng thời thính giả đang lắng nghe Pháp cũng không lãnh hội được bài thuyết Pháp đó. Đó là lý do tại sao, cần phải nêu rõ được nguyên nhân của việc thuyết Pháp. Ví dụ 1 : “ Bằng cách tôn kính Đức Phật, chúng ta sẽ có được vô số những phẩm chất cao thượng như 9 phẩm chất vĩ đại của một A-La-Hán. Từ đó chúng ta sẽ gặt hái được hạnh phúc vô lượng”… Ví dụ 2 : “ Bằng cách tôn kính Phật Pháp và thực hành theo 6 phẩm chất vĩ đại của Phật Pháp, chúng ta sẽ thoát khỏi tất cả những thứ khổ đau trong địa ngục luân hồi và nhận thức được Niết Bàn hạnh phúc”…Ví dụ 3 : “ Bằng cách tôn kính Tăng Già, chúng ta sẽ có được 9 phẩm hạnh vĩ đại của Tăng Già. Bằng cách thực hành bố thí chúng ta sẽ trở nên được giàu có và hạnh phúc trong mọi kiếp sống, gặt hái được nhiều lợi ích lớn lao”… Vì vậy, nguyên nhân của việc thuyết Pháp phải được người thuyết nêu ra một cách rõ ràng và chính xác.

3. Có từ tâm và lòng trắc ẩn đối với thính giả lắng nghe Pháp nghĩa là :

Như thể cha mẹ có từ tâm và lòng trắc ẩn đối với con cái của họ - những người mà kiến thức còn non kém và chưa biết vâng lời cha mẹ. Vì vậy, các bậc cha mẹ cần phải biết cách dạy dỗ để những người con đó có được sự hiểu biết và trở nên tốt đẹp. Tương tự như vậy, Tăng già cần phải có tâm từ và lòng trắc ẩn khi thuyết Pháp cho những người khác nghe.Việc thuyết Pháp cần phải nhắm đến những đối tượng sau : Những người chưa từng được nghe thuyết Pháp, những người đã từng lắng nghe thuyết Pháp nhưng chưa hiểu rõ về những điều đã được nghe. Cuối cùng là những người thường xuyên nghe thuyết Pháp và có khả năng nhận thức tốt những điều mình đã nghe được. Bài Pháp được thuyết ra phải có khả năng loại bỏ được các mối hoài nghi của những thính giả đang lắng nghe Pháp và làm cho họ có được một quan kiến đúng đắn ( tức Chánh kiến – Sammā Diţţhi – Right view or Right Understanding). Bài thuyết Pháp phải nêu ra được những nguyên nhân nào đã làm cho tâm trí của những thính giả đang lắng nghe Pháp bị ô nhiễm, đồng thời chỉ cho họ cách thức loại bỏ được những thứ ô nhiễm đó để tâm trí của họ trở nên tinh khiết.

4. Không nên mong đợi những món quà khi thuyết Pháp nghĩa là :

Khi đang thuyết Pháp, nếu bạn có lòng mong đợi những món quà sẽ được các thí chủ dâng cúng tức là bạn đã có tính tham lam. Vì vậy, bài thuyết Pháp của bạn sẽ không được tinh khiết, chất lượng kém và không được hoàn hảo. Do đó, bài thuyết Pháp này sẽ không có khả năng dẫn dắt người nghe vượt thoát được luân hồi khổ đau. Nó không phải là một bài thuyết Pháp đúng theo ước muốn của Đức Phật và cũng không mang lại lợi ích gì cho Phật Pháp. Vì vậy, khi thuyết Pháp chúng ta không nên mong đợi những món quà sẽ được các thí chủ dâng cúng.

5. Không cố ý làm cho những người khác bị tổn thương khi thuyết Pháp

Nếu việc thuyết Pháp nhằm mục đích tấn công vào một cá nhân nào đó thì trong đoàn thể sẽ nổi lên những vấn đề. Đó là lý do tại sao khi thuyết Pháp, chúng ta không nên làm tổn thương những người khác. Để những lời dạy của Đức Phật ngày càng trở nên thịnh vượng, những người thuyết Pháp và những người biên soạn hay dịch thuật các loại sách vở về Phật Pháp…phải hiểu được rằng những công việc mà họ đang thực hiện là nhằm tới mục đích làm cho những lời dạy của Đức Phật ngày càng trở nên trong sáng và tốt đẹp hơn. Vì vậy họ phải :

- Nắm được toàn bộ nội dung và đặt ra một tiêu đề khi thuyết Pháp

- Nêu ra được lý do thuyết Pháp một cách rõ ràng

- Có từ tâm và lòng trắc ẩn khi thuyết Pháp

- Không nên mong đợi những món quà sẽ được các thí chủ cúng dường

- Không cố ý làm tổn thương những người khác khi thuyết Pháp

  Đức Phật đã từng dạy rằng, những người thực hiện các công việc như thuyết Pháp, biên soạn hay dịch thuật các tác phẩm về Phật Pháp… cần phải nắm được những điểm quan trọng đã nêu trên.

 

                                Những sự thật về Tỳ Kheo khổ hạnh

 

 Trong những sự thật đã được Đức Phật khai sáng, thật sự chỉ có duy nhất một Tỳ-kheo thực hành theo Pháp tu khổ hạnh ( Moneyya – Austere). Moneyya là phép tu khổ hạnh cao thượng nhất trong Giáo Pháp của Đức Phật . Vào thời Đức Phật Cồ-Đàm đã đạt tới giác ngộ tối thượng dưới cội cây Bồ-Đề, có một vị đệ tử của Ngài tên là Nalaka đã thỉnh cầu với Đức Phật rằng, ông mong muốn được thực hành pháp tu khổ hạnh.Vị đệ tử này đã từng ở lại trên Hy-Mã-Lạp-Sơn như là một ẩn sĩ được 35 năm, trước khi Đức Phật đạt tới giác ngộ tối thượng. Vào lúc đó, các Chư-Thiên mong muốn Nalaka sẽ gặt hái được những lợi ích. Do đó, họ đã nói với ông rằng Bồ-Tát Cồ Đàm đã đạt tới giác ngộ tối thượng và đã trở thành Phật. Sau khi giác ngộ thành Phật, Ngài đã thuyết Kinh Chuyển Pháp Luân và hiện đang trú tại vườn Nai. Sau đó, vào ngày trăng khuyết thứ 7 tháng Waso năm 103 theo lịch Miến Điện, Tôn giả Nalaka đã rời khỏi Hy-Mã-Lạp-Sơn và đi đến vườn Nai. Khi đến nơi, ông đã thỉnh cầu Đức Phật dạy cho ông phép tu hành khổ hạnh.

Ba dạng người tu theo phương pháp khổ hạnh

1. Dạng người tu hành theo Pháp khổ hạnh cao thượng nhất được gọi là ukkattha.

2. Dạng người tu hành theo Pháp khổ hạnh bậc trung gọi là majjka.

3. Dạng người tu hành theo Pháp khổ hạnh bậc thấp gọi là mudu.

 - Dạng người tu hành theo Pháp tu khổ hạnh cao thượng nhất

( Ukkattha) chỉ có thể sống tối đa là 7 tháng kể từ khi bắt đầu tu. Sau khi đã hoàn tất đủ 7 tháng thực hành theo pháp tu này, người đó sẽ viên tịch và nhập vào Đại-Niết-Bàn.

- Dạng người tu hành theo Pháp khổ hạnh bậc trung ( Majjka) chỉ có thể sống tối đa là 7 năm kể từ khi bắt đầu tu. Sau khi đã hoàn tất đủ 7 năm thực hành theo pháp tu này, người đó sẽ viên tịch và nhập vào Đại-Niết-Bàn.

-Dạng người tu hành theo Pháp khổ hạnh bậc thấp ( Mudu) chỉ có thể sống tối đa là 16 năm kể từ khi bắt đầu tu. Sau khi đã hoàn tất 16 năm thực hành theo pháp tu khổ hạnh này, người đó sẽ viên tịch và nhập vào Đại-Niết-Bàn.

Sau khi Đức Phật đạt tới giác ngộ tối thượng, Ngài đã giải thích một cách tỉ mỉ về Pháp tu khổ hạnh. Tôn giả Nalaka đã thực hành theo Pháp tu khổ hạnh cao thượng nhất ( Ukkattha) một cách rất công phu và kỹ lưỡng. Cho đến ngày nay, Ngài được gọi là một Ukkattha puggalangười tu hành theo Pháp khổ hạnh cao thượng nhất.

Đức Phật đã từng giải thích về pháp tu khổ hạnh rất tỉ mỉ trong 23 bài Kệ để giáo hóa cho Nalaka đạt tới Đạo Quả A-La-Hán ( Arahatta Phala). Khi Đức Phật đã thuyết về Pháp tu khổ hạnh bằng cách nói lên 23 bài Kệ xong thì ngay tức khắc, Tôn giả Nalaka đã có được 3 điều sau :

1. Cung kính đảnh lễ Đức Phật

2. Nghe theo Giáo Pháp mà Đức Phật đã chỉ dạy

3. Thỉnh cầu Đức Phật cho phép Ngài được tu hành theo Pháp khổ hạnh.

-  Sau khi được lắng nghe Đức Phật thuyết về Pháp tu khổ hạnh, Tôn giả Nalaka đã cung kính đảnh lễ Đức Phật và thỉnh cầu Đức Phật cho phép Ngài được vào sống vĩnh viễn ở trong rừng. Kể từ đó, Tôn giả đã sống luôn ở trong rừng, Ngài đã không còn bất cứ một tham muốn nào nữa. Tâm thức của Tôn giả lại càng trở nên tốt đẹp hơn sau khi đảnh lễ để tỏ lòng tôn kính và từ biệt Đức Phật. Vì vậy, Tôn giả Nalaka đã đảnh lễ Đức Phật một cách ngay lập tức sau khi đã lắng nghe bài Pháp nói về Pháp tu khổ hạnh của Ngài.

- Mặt khác, tâm thức của Tôn giả Nalaka đã không còn bất cứ một tham muốn nào nữa ngoài việc lắng nghe Pháp tu khổ hạnh do Đức Phật thuyết ra. Vì vậy, Tôn giả đã lắng nghe bài thuyết Pháp của Đức Phật một cách ngay lập tức.

- Tương tự như vậy, tâm thức của Tôn giả Nalaka đã không còn bất cứ một tham muốn nào khi Ngài xin phép Đức Phật cho mình được tu hành theo Pháp khổ hạnh. Do vậy, Tôn giả đã ngay lập tức thỉnh cầu Đức Phật cho phép Ngài được tu hành theo Pháp tu này.

Tôn giả Nalaka trở thành một A-La-Hán

Tôn giả Nalaka đã đạt được 3 điều đã nói trên một cách ngay lập tức. Sau khi đã vào sống và tu hành ở trong rừng, Tôn giả chỉ sống một ngày trong một khu rừng dưới gốc một cây cổ thụ và đi khất thực trong một ngôi làng. Đến ngày hôm sau, Ngài lại chuyển sang sống tại một khu rừng khác và cũng đi khất thực tại một ngôi làng khác. Tôn giả không bao giờ sống trong một khu rừng và đi khất thực tại một ngôi làng đến lần thứ hai. Ngài đã có thói quen như vậy, từ khu rừng này sang khu rừng khác, từ cây cổ thụ này đến cây cổ thụ khác, từ ngôi làng này đến ngôi làng khác…Tôn giả Nakala đã sống để tu hành và cho đó là một lối sống rất tiện lợi đối với Ngài. Một thời gian dài sau đó, Tôn giả Nalaka đã gặt hái được Đạo Quả và trở thành một A-La-Hán. Trong 3 dạng người thực hành Pháp tu khổ hạnh đã nêu trên, Tôn giả Nalaka đã thực hành Pháp tu khổ hạnh cao thượng nhất. Ngài chỉ sống được 7 tháng trong rừng. Khi 7 tháng sống trong rừng sắp sửa trôi qua, Tôn giả đã tự quán tưởng rằng mình sắp sửa mạng chung ( Āyusankhāra jīvitindriya). Vì vậy, Ngài đã đi tắm và lau chùi thân thể sạch sẽ. Ngài đắp một tấm y dài đến sát đất theo đúng qui cách và mang một chiếc thắt lưng sít sao ( không dài quá và cũng không ngắn quá). Sau đó, Tôn giả mặc chồng lên một tấm y dày ( Eikasi) gấp đôi nội y, hướng mặt về phía thành Vương-Xá , nơi Đức Phật đang trú tại đó và đảnh lễ Ngài. Tiếp đến, Tôn giả Nakala hướng mặt về phía đồi Teinguklaka và nhập vào Đại- Niết- Bàn trong tư thế đứng. Khi Đức Phật biết được tin Tôn giả Nalaka đã nhập vào Đại-Niết-Bàn, Ngài đã cùng với các đệ tử mang hoa đến để làm lễ hỏa táng ( còn gọi là lễ trà tỳ) cho Tôn Giả - một Tỳ-kheo đã tu hành theo Pháp khổ hạnh. Xá-Lợi của Tôn giả Nalaka đã được thu lại và tôn trí trong một Bảo- tháp ( Caitya - Stupa). Sau đó, Đức Phật đã cùng các đệ tử của Ngài trở về thành Vương –Xá.                

 

                            Một và chỉ một Tỳ-kheo khổ hạnh          

 

Trong suốt 45 năm hoằng Pháp của Đức Phật, chỉ có một và chỉ một vị đệ tử duy nhất của Ngài là có thể thực hành Pháp tu khổ hạnh. Vào thời Đức Phật Cồ-Đàm còn tại thế cùng với Giáo Pháp, vị đệ tử đã tu theo Pháp khổ hạnh của Ngài là Tôn giả Nalaka. Ba mươi năm trước khi Bồ-Tát Cồ-Đàm giác ngộ thành Phật, Tôn giả Nakala đã là một ẩn sĩ sống tại Hy-Mã-Lạp-Sơn. Chư-Thiên đã mong muốn cho Nakala được tốt đẹp. Vì vậy, họ đã nói với Nalaka rằng, có một vị Bồ-Tát đã giác ngộ thành Phật và thuyết Kinh Chuyển Pháp Luân. Ngài hiện đang trú tại vườn Nai. Khi nghe Chư Thiên nói như thế, vào ngày trăng khuyết thứ 7 tháng Waso năm 103

( theo lịch Miến Điện) Nakala đã rời khỏi Hy-Mã-Lạp-Sơn và đi đến vườn Nai. Khi đến nơi, ông đã thỉnh cầu Đức Phật thuyết cho ông nghe về Pháp tu khổ hạnh. Vào lúc đó, Đức Phật đã thuyết về Pháp tu khổ hạnh một cách tỉ mỉ bằng cách đọc lên 23 bài Kệ. Moneyya trong ngôn ngữ Pāli có nghĩa là 4 sự tìm kiếm ( Catu magganāna). Đặc biệt ở đây là sự tìm kiếm con đường trí tuệ của một A-la-Hán ( Arahatta magga ñāna). Người tìm kiếm con đường nói trên được gọi là Moneyya. Do đó, việc thực hành để tìm kiếm 4 con đường trí tuệ được gọi là Pháp tu khổ hạnh.

1. “ Nalaka ! Đệ tử của ta ! Ta sẽ giải thích cho ông hiểu về Pháp tu khổ hạnh một cách tỉ mỉ. Hỡi đệ tử của ta ! Ông cần phải có năng lực và tinh tấn để vượt qua những điều khó khăn. Ông hãy giữ gìn bài Kệ nói về qui luật tự nhiên của chính bản thân ông và thực hành theo một cách chuyên cần”. Đây là những lời nói đầu tiên và quan trọng nhất mà Đức Phật đã nói với Tôn Giả Nalaka.

2. Pháp tu khổ hạnh là một phương pháp thực hành rất gian khổ, ông hãy cứ vui vẻ, đối xử một cách bình đẳng với những người tệ bạc với ông và cũng như đối với những người biết cung kính và đảnh lễ ông.

3. Khi có lửa rừng bùng cháy lên với những màu sắc khác nhau, chúng có thể trở thành những đối tượng yêu thích của giác quan. Hãy ngăn ngừa để tâm trí của ông không bị xao lãng trong khi thực hành Pháp tu khổ hạnh.

4. Hãy xua tan những loại nghiệp được tạo thành từ những đối tượng của giác quan và tránh xa sự cám dỗ của nhục dục một cách hoàn toàn.

5. Ông phải thực hành Pháp tu khổ hạnh bằng cách không chống đối và cũng không ghét bỏ những người thuộc về các đoàn thể khác. Không luyến ái những người thuộc về đoàn thể của ông. Tự bản thân của ông không được sát sanh và cũng không khuyến khích hay xúi giục người khác sát sanh.

6. Ông cũng không nên bám víu vào Tứ sự hay Tứ vật dụng ( gồm có vật thực, y phục, chỗ ở và thuốc men chữa bệnh). Không ao ước về những cái chưa có, không luyến tiếc và bám víu vào những cái đã cho đi. Ông phải từ bỏ tính tham lam. Ông cần phải thực hành theo những điều đã được nghe về Pháp tu khổ hạnh mà ta đã giải thích và những điều sẽ giải thích dưới đây.

7. Một Tỳ-kheo tu hành theo Pháp khổ hạnh phải giảm bớt từ 4 đến 5 miếng vật thực trong một lần thọ dụng các loại vật thực cúng dường và ăn trong sự chú ý. Ông cần phải có khả năng thọ thực đúng cách, hoàn thiện được hạnh tri túc ( tức hạnh biết đủ - Apiccha) và có càng ít ham muốn càng tốt. Tri túc ( biết đủ) có 4 loại sau :

a. Giảm bớt tính tham lam vào Tứ sự ( Paccaya appiccha).

b. Không được để cho những người khác biết rằng ông đang tu hành theo hạnh đầu-đà ( Dhutinga appiccha).

c. Không để cho những người khác biết rằng ông đã học Pháp tu này, đã có kiến thức và trí tuệ ( Pariyatti appiccha).

d. Không cầu mong những người khác biết rằng ông đã đạt được Đạo Quả trong Giáo Pháp Cao Thượng ( Adigama apiccha). Một Tỳ Kheo khổ hạnh cần phải thấm nhuần 4 Pháp tri túc này.

8. Một Tỳ-kheo tu hành theo lối khổ hạnh không nên nói chuyện dông dài với những người khác sau bữa ăn. Vị ấy phải đi vào trong rừng, bởi vì rừng đúng là nơi ở của vị ấy. Vị ấy phải ngồi và thực hành thiền dưới một gốc cây. Đức Phật đã thuyết một bài Pháp nói về phương pháp thực hành 13 hạnh Đầu-đà ( Dhutinga) cho Trưởng Lão Nalaka nghe và Ngài đã thực hành đúng theo những gì Đức Phật đã chỉ dạy.

9. Một Tỳ-kheo thực hành Pháp tu khổ hạnh với 13 hạnh Đầu-đà sẽ gặt hái được trí tụê thế gian ( Lokiya Jhàna) mà vị ấy chưa bao giờ gặt hái được, đồng thời cũng gặt hái được 5 loại năng lực cao hơn trí tuệ mà vị ấy đã đạt được. Một Tỳ-kheo tu hành theo lối khổ hạnh phải là một người sống trong rừng và thực hành Pháp tu này một cách chuyên cần cho đến khi trí tuệ của vị ấy trở thành một thói quen. Thực hành để có được trí tụê thế gian cũng chưa đủ đối với một Tỳ-kheo khổ hạnh. Vị ấy cần phải đạt được hạnh phúc trong trí tụê xuất thế gian ( Lokuttara jhāna) để dẫn đến con đường trí tụê của một Tu-Đà-Hườn. Vị ấy cần phải chuyên tâm và cảm thấy vui thích trong trí tụê xuất thế gian.

10. Một Tỳ-kheo thực hành Pháp tu khổ hạnh chính là thực hành một Pháp tu cao thượng. Sau khi đã đi khất thực tại một ngôi làng, vị Tỳ-kheo khổ hạnh phải quay trở lại trong rừng. Trước khi đi khất thực, một Tỳ-kheo khổ hạnh phải thực hiện bổn phận của mình tại một Bảo-Tháp hay một đền thờ Phật bằng cách thực hành Pháp làm cho thân tâm của mình trở nên yên tĩnh và trầm lặng ( Kāya citta viveka). Trong lúc đang đi đến một ngôi làng nào đó để khất thực cũng như khi đang trên đường quay về, vị Tỳ-kheo khổ hạnh phải luôn luôn thực hành sự chú ý, quán tưởng đến một đề mục hành thiền nào đó.

11. Một vị Tỳ-kheo khổ hạnh khi đang đi khất thực tại một ngôi làng không được đứng hòa lẫn với các bạn đồng tu khác trong Tăng Đoàn, đồng thời cũng không được giữ một chức vụ hay tham gia bất cứ một hoạt động gì khác trong Tăng Đoàn. Vị ấy phải làm như thể một người câm. Vị ấy cũng không được đưa ra bất cứ một dấu hiệu nào, dù rất tinh vi khi đang thọ nhận vật thực và các chất bổ dưỡng khác.

12. Một Tỳ-kheo khổ hạnh khi vào một ngôi làng để khất thực phải đứng yên khi thọ nhận vật thực. Vị ấy phải có hạnh nhẫn nại và bền chí như thể một người đang leo lên cây để hái quả, dù có hái được quả hay không cũng phải giữ cho tâm bình tĩnh để leo xuống đất, không nên tỏ ra yêu mến hay ghét bỏ. Tương tự như vậy, một Tỳ-kheo khổ hạnh khi đi khất thực dù có nhận được vật thực hay không, vị ấy cũng phải rời khỏi nhà của những thí chủ với một tâm thức thanh thản, không tỏ ra yêu mến hay ghét bỏ.

13. Một Tỳ-kheo khổ hạnh khi đang đi khất thực với bình bát trong tay phải làm như thể mình bị câm, mặc dù vị ấy không phải bị câm. Nếu vật thực thọ nhận được quá ít ỏi thì không nên tức giận, tỏ ra khinh miệt hay có những hành động trân tráo vô liêm sĩ.

14. Một Tỳ-kheo thực hành theo phép tu khổ hạnh không nên xem việc đi khất thực là một bổn phận bất đắc dĩ mà phải thực hành Pháp này một cách nghiêm túc và cung kính. Vị ấy phải thực hành Pháp khổ hạnh cao thượng cho đến khi hoàn thành được mục đích cuối cùng của một Tỳ-kheo khổ hạnh. Sự thật, thực hành Pháp tu khổ hạnh là cốt tủy của Giáo Pháp mà ta đã truyền bá. Hạnh kiểm là cốt tủy của Giáo Pháp đó. Chỉ khi có khả năng thực hành con đường đạo đức mà ta đã chỉ cho ông thì lúc đó, ông mới gặt hái được Đạo Quả. Những lời thuyết Pháp của ta về cách thực hành Pháp tu khổ hạnh là con đường dẫn đến cảnh sống an vui hạnh phúc. Chúng cũng dẫn đến cảnh sống nghèo đói và cực khổ, một Tỳ-kheo khổ hạnh phải có nghị lực để chịu đựng được cả hai cảnh sống này.   

15. Hỡi đệ tử Nalaka của ta ! một Tỳ-kheo khổ hạnh phải hành Đạo trong cả hai cảnh sống an vui hạnh phúc và cảnh sống nghèo đói, cực khổ. Ngoài ra, ông còn phải biết cách hành Đạo thích hợp với căn cơ của chính bản thân ông cho đến khi gặt hái được quả vị A-La-Hán, bởi vì đây là mục đích cuối cùng mà một Tỳ-kheo khổ hạnh cần phải đạt được. Một Tỳ-kheo khổ hạnh mong muốn gặt hái quả vị A-La-Hán phải loại bỏ được 108 loại tham ái. Dòng suối ô nhiễm đang luân lưu trong tâm thức của vị ấy phải bị cắt đứt hoàn toàn. Thiện nghiệp hay bất thiện nghiệp cũng phải bị triệt tiêu một cách hoàn toàn. Những nguyên nhân gây ra khổ đau như dục tình và sân hận cũng không còn nữa, dù là một mảy may nào.

16. Một Tỳ-kheo khổ hạnh có thể được so sánh như một người đang liếm sạch mật ong dính trên một lưỡi dao. Một người đang liếm mật ong dính trên một lưỡi dao cần phải cẩn thận để khỏi bị đứt lưỡi. Tương tự như vậy, một Tỳ-kheo khổ hạnh phải biết xử dụng Tứ vật dụng một cách đúng đắn để tâm trí của vị ấy có thể tránh khỏi sự nguy hiểm của những thứ ô nhiễm.

17. Một Tỳ-kheo khổ hạnh phải thoát khỏi tính lười biếng và uể oải triền miên trong việc thực hành những hành động phước thiện ( Kusala Dhamma). Vị ấy không nên suy nghĩ về những người thân quen, các thành phố và làng mạc. Vị ấy phải thoát khỏi tính ham thích những mùi thơm dễ chịu có thể làm cho tâm trí của mình bị ô nhiễm. Vị ấy không còn bám víu vào bất cứ một sự hiện hữu nào qua tính tham ái và quan kiến lầm lạc.Vị ấy chỉ còn phụ thuộc duy nhất vào việc thực hành Giáo Pháp Cao Thượng.

18. Một Tỳ-kheo khổ hạnh phải sống một mình trong một nơi chốn yên lặng, không có bạn bè. Khi sống một mình, vị ấy phải giữ cho thân tâm mình luôn luôn trầm lặng và thanh thản ( Kāya citta viveka), không tìm kiếm bạn bè. Đây chính là Pháp tu khổ hạnh. Nếu có thể cảm thấy hạnh phúc trong thân tâm thì vị ấy sẽ nổi tiếng khắp 10 phương thế giới.

19. Một Tỳ-kheo khổ hạnh khi nghe thấy lời tán dương của các Tỳ-kheo phóng đãng rằng, hãy cứ vui thích với những lạc thú trần gian bởi vì làm như thế sẽ hoàn thiện được trí tuệ, vị ấy phải lập tức ngăn chặn và khuyên nhủ những con người có tâm trí lơ đãng nói trên để khiến cho họ đừng thực hành thứ đạo đức ô nhục đó, để họ tự cảm thấy xấu hổ và trở nên có niềm tin vào Phật Pháp hơn trước. Vị ấy phải nói cho những con người đó biết rằng họ cần phải thực hành Phật Pháp để đạt tới sự giải thoát khỏi khổ đau. Nếu có thể thực hành như vậy, họ sẽ trở nên xứng đáng là đệ tử đích thực của Đức Phật.

20. Những Tỳ-kheo phóng đãng nên biết rằng, đã có những lời khuyên nhủ cao thượng qua một ví dụ về các dòng suối nhỏ và các con lạch. Những dòng suối nhỏ và những con lạch chảy đi một cách ồn ào náo nhiệt. Những con sông lớn như sông Hằng ( Ganges) chảy rất êm đềm. Tương tự như vậy, những người không phải là đệ tử đích thực của Đức Phật giống như những con suối nhỏ và những con lạch. Họ dễ xúc cảm và tâm trí của họ thường lang thang vô định. Những người đích thực là đệ tử của Đức Phật sẽ có những cảm giác xấu hổ với những thứ đạo đức ô nhục bằng cách phát triển niềm tin. Họ giống như những con sông lớn phẳng lặng và êm đềm.

21. Ta muốn trao cho ông một lời khuyên : “ thùng rỗng kêu to”. Tương tự như vậy, một con người dại dột và ngu xuẩn cũng giống như chiếc thùng rỗng kêu to. Một con người có trí tuệ giống như một chiếc thùng đầy nước.

22. Ta đã giải thích Pháp tu khổ hạnh cho ông hiểu bằng những lời lẽ tràn đầy ý nghĩa và mang lại nhiều lợi ích. Ta đã nói những điều đó bằng thái độ nghiêm túc và đứng đắn. Trong thực tế, ta đã nói những điều đó sau khi đã xử dụng trí tuệ để phân tích xem chúng có mang lại lợi ích gì không. Ta đã nói những điều mà mình nhận biết được bằng nhiều cách khác nhau để mang lại lợi ích cho những người có căn cơ và trình độ hiểu biết khác nhau.

23. Một Tỳ-kheo khổ hạnh cần phải biết rằng ta đã thuyết Pháp bằng một sự nhận thức rõ ràng và thấu suốt. Ông chắc chắn sẽ lãnh hội được Giáo Pháp mà ta đã truyền bá. Ông là một Tỳ-kheo khổ hạnh xứng đáng, chắc chắn ông sẽ gặt hái được Đạo quả A-La-Hán. Bây giờ ta sẽ kết thúc bài thuyết Pháp này bằng cách nói rằng, thực hành theo Pháp tu khổ hạnh là một cách thực hành cao thượng nhất. Cách thực hành này sẽ dẫn đến việc gặt hái được quả vị A-La-Hán”. Trong Tăng Đoàn của Đức Phật Cồ-Đàm có một và chỉ một vị Tỳ-kheo thực hành theo Pháp tu khổ hạnh

( Moneyya). Đó là Tôn giả Nalaka. Tôn giả là một người đã thực hành theo Pháp tu khổ hạnh cao thượng nhất ( Ukkattha moneyya). Vì vậy, Ngài đã đạt tới Đại-Niết-Bàn sau 7 tháng tu hành.

 

                                                     Động đất  

 

Trong thời đại ngày nay, chúng ta thường xuyên đọc và nghe nhiều tin tức nói về động đất ( Earthquakes) trên nhiều quốc gia, những thành phố và các ngôi làng bình yên. Chúng ta cũng đã tự có được kinh nghiệm về động đất. Những nhà khoa học cũng cần phải xem xét lại những nguyên nhân gây ra động đất và giải thích về chúng. Trẻ em và nhiều người khác luôn luôn mong muốn có được một sự hiểu biết tổng quát về động đất từ những người lớn tuổi, từ những người có kiến thức và kinh nghiệm về hiện tượng này. Những người đã có kinh nghiệm và kiến thức tổng quát về động đất sẽ có khả năng trả lời được cho nhiều người muốn hỏi về vấn đề này. Tôn giả A-Nan-Đà ( Asin Ānandā) đã từng hỏi về những nguyên nhân của động đất và chính Đức Phật đã thuyết một bài Pháp về hiện tượng này. Động đất thường xảy ra do 8 nguyên nhân sau đây :

1. Nguyên nhân đầu tiên của động đất

Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố gây xáo trộn. Trạng thái rối loạn của những cơn gió cực mạnh đột ngột xảy ra trong tự nhiên. Vì vậy, gió là một yếu tố gây xáo trộn khiến xảy ra động đất. Vũ trụ này được làm nên bởi đất, nước, lửa, gió và không gian. Không khí hiện hữu trong không gian. Trong vũ trụ này, đất, nước, lửa, gió và không gian cùng tồn tại theo kiểu lớp này chồng chất lên lớp khác. Phía bên dưới lớp đất có một lớp nước, bên dưới lớp nước này lại có một khối lượng không khí khổng lồ. Khối không khí tự nhiên nằm dưới lớp nước nói trên bị những cơn gió cực mạnh khuấy động. Do đó, khối không khí này đã làm cho lớp nước nằm trên nó chuyển động, xáo trộn và rung lắc. Bởi vì lớp nước nằm phía dưới lớp đất bị rung lắc đã khiến cho lớp đất nằm trên nó rung động dữ dội và sinh ra hiện tượng động đất.

2. Nguyên nhân thứ hai của động đất

 Động đất xảy ra do ảnh hưởng của những người có năng lực siêu nhiên (Tức thần thông - Abhiññā – Supernatural powers). Với năng lực siêu nhiên của họ, những người này có thể gây ra những nguyên nhân làm động đất. Vì vậy động đất đã xảy ra. Những người có năng lực siêu nhiên muốn làm cho nhiều người khác phải khủng khiếp và ăn năn hối hận nên họ đã làm cho quả đất rung động và nhiều nguyên nhân tạo ra động đất khác. Đôi khi những người có năng lực siêu nhiên muốn thử khả năng thần thông của họ. Vì vậy, họ đã làm cho quả đất rung động và đây là nguyên nhân sinh ra động đất. Tôn giả Đại- Mục-Kiền-Liên ( Asin Mahā Moggalāna) mong muốn vua của cõi trời trở nên ăn năn hối hận. Vì vậy, Ngài đã làm cho tầng nóc của cung điện Vejayanta ở cõi trời bị rung lắc dữ dội. Từ đó động đất đã xảy ra. Tăng Già Rekkhita Sāmanera muốn thử năng lực siêu nhiên của mình bằng cách làm rung động tầng nóc của cung điện Vejayanta ở của trời. Chỉ những lúc như thế mới có động đất. Nguyên nhân động đất ở đây là do ảnh hưởng của những người có năng lực siêu nhiên vừa nói ở trên.

3. Nguyên nhân thứ ba của động đất

 Khi Bồ-Tát ( Bodhisatta) Cồ-Đàmcung trời Đẩu-Xuất ( Tusita Deva) giáng trần và đầu thai vào dạ con của hoàng hậu Đại-Huyễn-Hóa

( Mahā Māyā). Do ảnh hưởng của những hạnh Ba-La-Mật thiện lành mà Bồ-Tát đã tích lũy trong những kiếp sống ở quá khứ và thanh danh vẻ vang của Ngài, đã có một trận động đất xảy ra. Các hạnh Ba-La-Mật mà Bồ-Tát đã tích lũy được trong 4 A-Tăng-Kỳ và 100 ngàn Đại-Kiếp đã trợ lực cho Ngài giác ngộ thành Phật khi Ngài đầu thai vào dạ con của hoàng hậu Đại-Huyễn-Hóa. Được sự tín nhiệm mạnh mẽ của nhiều người

( Uppanissaya), Bồ-Tát đã đầu thai xuống cõi thế gian vào ngày thứ năm trăng tròn tháng Āsālha ( một tháng trong lịch Ấn Độ cổ đại, khoảng tháng 6 hay tháng 7 dương lịch), năm 67 triều đại Mahā. Do ảnh hưởng năng lực từ những hạnh Ba-La-Mật thiện lành và thanh danh vẻ vang của Bồ-Tát, đã có một trận động đất xảy ra.

4. Nguyên nhân thứ tư của động đất

Khi Bồ-Tát Cồ Đàm Đản Sanh, do ảnh hưởng của những hạnh Ba-La-Mật thiện lành và thanh danh vẻ vang của Ngài đã có trong quá khứ, một trận động đất đã xảy ra. Các hạnh Ba-La-Mật ( Pāramitā – Perfection) mà Bồ-Tát đã tích lũy được trong 4 A-Tăng-Kỳ và 100 ngàn Đại-Kiếp ở quá khứ đã trợ lực cho Ngài Đản Sanh vào ngày thứ sáu trăng tròn tháng Kason ( tức tháng Vesākha trong lịch Ấn Độ cổ đại - khoảng tháng 4 hay tháng 5 dương lịch), năm thứ 68 thuộc triều đại Mahā. Khi Bồ-Tát vừa mới Đản Sanh từ dạ mẹ, Ngài đã bước đi 7 bước về phía Bắc. Dựa vào uy tín mạnh mẽ và các năng lực thần thông của mình, Bồ-Tát đã thốt ra 5 câu nói : “ Ta là Đấng cao thượng nhất”…Vì vậy, do ảnh hưởng của những hạnh Ba-La-Mật thiện lành và thanh danh vẻ vang của Bồ-Tát mà đã có một trận động đất xảy ra.

5. Nguyên nhân thứ năm của động đất

 Khi Bồ-Tát Cồ-Đàm gặt hái được sự hiểu biết sâu sắc về 4 Chân lý Cao thượng ( Âm Hán-Việt đọc là Tứ-Diệu-Đế - The four Noble Truths) dưới cội cây Bồ-Đề và giác ngộ thành Phật, do ảnh hưởng từ năng lực hiểu biết sâu sắc ( Pativedha Ñāna – The power of penetrative knowledge) của Ngài mà đã có một trận động đất xảy ra. Sau khi đã thực hành theo Pháp tu khổ hạnh bậc cao nhất ( Ukkattha ) trong vòng 6 năm tại khu rừng có tên là Âu-Lưu-Tần-Loa ( Uruvela ), vào ngày thứ tư trăng tròn tháng Kason ( tức tháng Vesākha, một tháng trong lịch Ấn Độ cổ đại, khoảng tháng 4 hay tháng 5 dương lịch), năm thứ 103 thuộc triều đại Mahā, Bồ-Tát đã đạt được sự hiểu biết sâu sắc về 4 Chân lý Cao thượng với 12 yếu tố cấu thành ( tức Thập nhị Nhân Duyên). Do ảnh hưởng của sự hiểu biết sâu sắc này mà động đất đã xảy ra.

6. Nguyên nhân thứ 6 của động đất

 Sau khi Bồ-Tát đã giác ngộ thành Phật và thuyết Kinh Chuyển Pháp Luân ( Dhammacakkappavattana Sutta), do ảnh hưởng từ năng lực và thanh danh vẻ vang của Giáo Pháp mà Ngài đã thuyết ( Desana Ñāna), một trận động đất đã xảy ra. Sau khi đã giác ngộ thành Phật dưới cội cây Bồ-Đề, Bồ-Tát đã đi đến vườn Nai tại Ba-La-Nại ( Bānarāsī - Benares).

Ở đó bằng năng lực và thanh danh vẻ vang của Giáo Pháp, Ngài đã thuyết Kinh Chuyển Pháp Luân cho 5 tu sĩ khổ hạnh, hàng tỷ Chư Thiên và Phạm Thiên nghe. Vì vậy, do ảnh hưởng từ năng lực và thanh danh vẻ vang của Giáo Pháp ( Desana Ñāna) mà đã có một trận động đất xảy ra.

7. Nguyên nhân thứ bảy của động đất

Vào ngày Đức Phật quyết định nhập vào Đại-Niết-Bàn, do ảnh hưởng từ năng lực và thanh danh vẻ vang của sự hiểu biết sâu sắc về các pháp cấu thành mà Ngài đã giác ngộ, một trận động đất đã xảy ra. Năng lực hiểu biết sâu sắc của Đức Phật đã khiến cho Ngài cảm thấy nhàm chán và ghê tởm đối với cuộc sống ở thế gian. Sự buồn chán và ghê tởm của Đức Phật đối với cuộc sống ở thế gian chính là nguyên nhân gây ra động đất. Sau 45 mùa mưa ( Vassa) du hành đây đó để hoằng Pháp và cứu độ muôn loài chúng sanh, vào ngày trăng tròn tháng Māgha (một tháng trong lịch Ấn Độ, khoảng tháng  hay tháng 2 dương lịch) năm thứ 148 thuộc triều đại Mahà, Đức Phật đã nói rằng : “ Kể từ ngày hôm nay cho đến ngày trăng tròn tháng Kason ( tức tháng Vesākkha trong lịch Ấn Độ cổ đại -  khoảng tháng 4 hay tháng 5 dương lịch), tức suốt 3 tháng, ta sẽ thực hành Pháp kéo dài tuổi thọ ( Āyupālaka phala samāpatti) để duy trì mạng sống. Sau đó, ta sẽ không thực hành Pháp này nữa”. Hiểu theo cách hiểu thông thường, Đức Phật đã quyết định ngày nhập Đại-Niết-Bàn của Ngài. Sự đưa ra quyết định ngày nhập Đại-Niết- Bàn của Đức Phật chính là sự hiểu biết về thọ mạng được cấu thành - Āyusankhāra. Sự quyết định ngày nhập vào Đại-Niết-Bàn của Đức Phật đã tạo ra một sự hiểu biết về các pháp cấu thành ( Sankhāra dhamma). Năng lực hiểu biết này lại mang đến cho Đức Phật trí tuệ nhàm chán và ghê tởm đối với thân xác vật lý và những hoạt động thuộc về ý chí ( tức Hành – Sankhāra - Volitional activities –  ND). Do năng lực và thanh danh vẻ vang của trí tụê hiểu biết về các pháp cấu thành, sự nhàm chán và ghê tởm của Đức Phật đối với các pháp ấy mà một trận động đất đã xảy ra.

8. Nguyên nhân thứ tám của động đất

Khi Đức Phật nhập vào Đại-Niết-Bàn tại vườn của những vị vua xứ Malla, Ngài đã xử dụng năng lực và thanh danh vẻ vang từ một trí tụê hiểu biết đặc biệt để chấm dứt mối liên hệ với các đệ tử ( Sāvaka – Disciple) của Ngài. Vào ngày thứ ba trăng tròn tháng Kason ( tức tháng Vesākha trong lịch Ấn Độ cổ đại, khoảng tháng 4 hay tháng 5 dương lịch), năm thứ 148 thuộc triều đại Mahà, gần đến ngày Đức Phật nhập Đại-Niết-Bàn. Đức Phật hồi tưởng lại những hạnh Ba-La-Mật đặc biệt thiện lành mà Ngài đã tích lũy được trong 4 A-Tăng-Kỳ và 100 ngàn Đại-Kiếp. Lúc đó Ngài đã nói : “ Ta sẽ nhập vào Niết Bàn Vô Dư đã hằng mong ước”. Khi đang hồi tưởng như thế Đức Phật cảm thấy vô cùng hạnh phúc và hoan hỷ ( Pīti – Rapture), cùng với trí tuệ hiểu biết đặc biệt về các pháp cấu thành, Đức Phật đã chấm dứt mối liên hệ với các đệ tử của Ngài. Đây chính là nguyên nhân  sinh ra một trận động đất.

Đưa ra quyết định từ bỏ thọ mạng được cấu thành và nhập Đại-Niết-Bàn

Sự đưa ra quyết định ngày từ bỏ thọ mạng cấu thành và sự kiện nhập Đại-Niết- Bàn của Đức Phật dường như chỉ là những hiện tượng mà chúng ta chỉ có thể hiểu được dáng vẻ bên ngoài của chúng. Trong thực tế lại khác, cụm từ từ bỏ thọ mạng được cấu thành có thực nghĩa của nó là đưa ra một quyết định 3 tháng trước khi nhập vào Đại-Niết-Bàn. Sau 3 tháng, Đức Phật đã quyết định không xử dụng Pháp kéo dài tuổi thọ để duy trì mạng sống nữa. Quyết định này mới chính là sự từ bỏ thọ mạng được cấu thành của Đức Phật. Sau 3 tháng đã loại bỏ và dập tắt hoàn toàn 5 uẩn của mình, Đức Phật đã nhập vào Đại-Niết-Bàn. Vì vậy, chúng ta cần phải có một sự hiểu biết đúng đắn rằng khoảng thời gian từ bỏ thọ mạng được cấu thành của Đức Phật và hiện tượng nhập vào Đại-Niết-Bàn của Ngài là 2 sự kiện khác nhau, chúng xảy ra trong 2 thời điểm khác nhau.

 

                               Thực hành thiền minh sát  

 

Thời đại ngày nay phong trào thực hành thiền minh sát đang rất hưng thịnh. Đối với những người Phật tử mộ Đạo, bố thí, giữ Giới, thực hành thiền định thì chưa đủ để đạt tới Niết Bàn và tận diệt được những nổi khổ đau. Họ biết rằng mình có thể đạt tới Niết Bàn chỉ khi thực hành thiền minh sát. Do đó, những người đã có cơ hội và thời gian để thực hành, cũng như những người chưa bao giờ thực hành thiền minh sát đều mong muốn học tập được một phương pháp thực hành đúng đắn về loại thiền này mỗi khi họ có thể. Những người thực hành thiền minh sát cần phải có được một phương pháp thực hành đúng đắn làm nền tảng. Chỉ khi thực hành loại thiền này với một phương pháp đúng đắn thì lúc đó, họ mới có khả năng lãnh hội Phật Pháp, phát triển được công việc hành thiền của mình và được mãn nguyện. Sau đây là những sự thật mà những người thực hành thiền minh sát cần phải biết :

1. Thực tại biểu kiến hay khái niệm ( Pannatti) và thực tại cùng tột

( Paramattha).

2. Thiền định ( Samātha Bhāvanā – Tranquil Meditation) và thiền tuệ hay thiền minh sát ( Vipassanā Bhāvanā – Insight Meditation).

Sự khác nhau giữa thực tại biểu kiến và thực tại cùng tột

 1.Trong 5 uẩn ( Pañca Khandhas) tạo nên con người, có 2 hiện tượng là thực tại biểu kiếnthực tại cùng tột. Paññtti ( thực tại biểu kiến hay khái niệm) là các hình thức hay hình dáng như đầu, thân thể, tứ chi, bao tử…là những thứ có thể thấy được bằng mắt thường. Paramattha ( thực tại cùng tột hay chân lý tuyệt đối) là bản chất tiềm ẩn trong những hình thức hay hình dáng đó. Nó không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Nếu xử dụng trực giác hay năng lực nội quán để quan sát một cách sâu sắc, bạn có thể kinh nghiệm được Paramattha như : Hơi nóng, hơi lạnh, trạng thái cứng hay mềm, trạng thái vận động, áp lực, độ căng, độ chùng, trạng thái bó sát chật chội, độ kết dính, trạng thái lỏng, ảm giác đau nhức… Paññtti chính là nguyên nhân gây ra khổ đau cho những người chưa có khả năng chú ý nhận thức về bản chất của các hiện tượng để phát triển tinh thần. Con người, muôn loài chúng sanh và mọi sự vật mà chúng ta nhìn thấy như : Đàn ông, đàn bà, cảm giác hài lòng, sự xinh đẹp…  chỉ là những sự nhận biết qua khái niệm ( Paññatti – Concept). Bởi vì đã nhìn thấy được những hiện tượng đó qua khái niệm nên chúng ta mới bị chìm ngập trong khổ đau qua nhiều kiếp sống trong luân hồi. Do đó, thực tại biểu kiến hay khái niệm chính là nguyên nhân gây ra khổ đau cho con người và muôn loài chúng sanh. Con người và muôn loài chúng sanh sẽ thăng tiến được sự hiểu biết và không còn phải khổ đau nếu như họ đã nhận biết được thực tại cùng tột ( Paramattha – Ultimate reality). Những người có khả năng chú để nhận thức trên những đề mục hành thiền để phát triển tinh thần sẽ gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn hạnh phúc. Họ chỉ có thể kinh nghiệm và đạt tới Niết Bàn hạnh phúc rồi giác ngộ thành Phật khi Giáo Pháp Cao Thượng vẫn đang còn tồn tại.

Sự khác nhau giữa thiền định và thiền tụê

2. Trong 2 loại thiền địnhthiền tuệ thì thiền định là cách thực hành sự chú ý trên thực tại biểu kiến hay khái niệm ( Paññatti – Concept). Những người mong muốn thực hành thiền định phải giữ sự chú ý liên tục trên một đối tượng của giác quan và quán niệm trên đối tượng này. Khi đang quán niệm, họ cần phải xác định trước một đối tượng nào đó trong tâm trí.

Tóm tắtThực hành sự chú ý một cách liên tục trên một đối tượng nào đó của giác quan là thiền định.

Ví dụ, nếu chọn đất ( Pathavī – Earth) làm đề mục quán niệm trong thiền định thì bạn phải lấy đất đắp thành một khối tròn to bằng cái mâm và đặt trước mặt để quán niệm. Khi thực hành quán niệm, bạn không được nhắm mắt mà phải mở mắt ra để nhìn vào cái mâm tròn bằng đất đã đắp sẵn và cho đó là thực tại biểu kiến ( Paññatti), đồng thời niệm thầm trong tâm mình “ đất, đất, đất…” cho đến khi khái niệm về cái mâm đất đã định hình và cố định trong tâm trí của bạn. Sau một thời gian đã thực hành thiền định, năng lực định tâm của bạn sẽ phát triển. Đến lúc đó, mặc dù bạn đã nhắm mắt lại nhưng khái niệm về cái mâm đất vẫn còn lưu lại trong tâm trí của bạn một cách cố định và rõ ràng. Vì vậy, tập luyện sự chú ý trên một đối tượng biểu kiến để làm cho đối tượng này hiện hữu một cách cố định và thường trực trong tâm trí là thực hành thiền định. Trong khi đó, thiền tuệ là thực hành sự chú ý trên những đối tượng là thực tại cùng tột ( Paramattha). Những người mong muốn thực hành thiền tụê hay thiền minh sát cần phải chú ý một cách chính xác và liên tục trên danh ( tức tinh thần - Nāma- Spirits) và sắc ( tức vật chất – Rūpa – Meterial) để nhận biết được thực tại cùng tột chứa đựng trong những yếu tố này. Khi chú ý trên những đối tượng là danh và sắc, bạn cần phải nhận biết được tính vô thường của thực tại cùng tột.

Tóm tắt: Thực hành sự chú ý trên tính vô thường của thực tại cùng tột là thực hành thiền tụê hay thiền minh sát.

Ví dụ, đúng theo sự giáo huấn mang lại nhiều lợi ích cho chúng ta của Ngài Đại Trưởng Lão Mahāsī, bạn cần phải thực hành sự chú ý đến trạng thái chuyển động đang phồng lên hay xẹp xuống của bụng, tiến trình đang ngồi, đang đứng hay đang xúc chạm… Khi chú ý đến trạng thái đang phồng lên của bụng, bạn không cần phải để tâm đến hình dáng vật chất của bụng, bởi vì đó chỉ là một khái niệm ( Paññatti- Concept), bạn chỉ cần chú ý để nhận biết được bản chất trong độ căng của bụng do tác động của một áp lực đã làm cho bụng phồng lên, bởi vì bản chất này chính là thực tại cùng tột ( Paramattha). Tâm trí của bạn phải sẵn sàng hướng đến thời điểm kết thúc tiến trình đang phồng lên của bụng để nhận biết được tính vô thường của tiến trình này. Khi chú ý đến tiến trình đang xẹp xuống của bụng cũng vậy, bạn cần phải thoát ra khỏi hình dáng vật chất của bụng để nhận biết được bản chất của trạng thái đang chuyển động phía bên trong bụng. Tâm trí của bạn cũng phải sẵn sàng hướng đến thời điểm kết thúc tiến trình xẹp xuống của bụng khi tiến trình này đang biến mất đi để nhận biết được tính vô thường của nó. Khi chú ý đến trạng thái đang ngồi, trạng thái đang xúc chạm… cũng vậy, bạn cần phải thoát ra khỏi hình dáng vật chất của đầu, thân thể và tứ chi…Bởi vì những hình dáng của vật chất chỉ là những khái niệm ( Paññatti). Bạn chỉ cần chú ý một cách liên tục đến độ căng và độ cứng để nhận biết được bản chất của thực tại cùng tột ( Paramattha) trong những tiến trình vừa được đề cập. Tâm trí của bạn phải sẵn sàng hướng đến thời điểm kết thúc của những tiến trình này để nhận biết được tính vô thường của chúng. Đây chính là thực hành thiền tụê hay thiền minh sát. Bằng cách thực hành sự chú ý chính xác và liên tục, năng lực định tâm của bạn sẽ dần dần được phát triển, trở nên chín muồi, mạnh mẽ và sắc bén. Đến lúc đó, bạn sẽ gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu ( Bhanga Ñāna – The knowledge of the decay). Khi thực hành sự chú ý đến trạng thái đang chuyển động phồng lên hay xẹp xuống của bụng, trạng thái đang ngồi, trạng thái đang xúc chạm… Bạn sẽ kinh nghiệm được trạng thái biến mất đi một cách nhanh chóng của những tiến trình này, ngay cả sự chú ý của tâm trí mà quí vị xử dụng để quan sát đề mục hành thiền cũng đã biến mất đi. Khi đã có khả năng nhận thức được trạng thái tan hoại của các hiện tượng như trạng thái chuyển động đang phồng lên hay xẹp xuống của bụng, trạng thái đang ngồi, trạng thái đang xúc chạm, trạng thái chú ý của tâm trí… bạn sẽ kinh nghiệm được tính vô thường ( Anicca – Impermannence). Tiến trình đang tan hoại của các hiện tượng xảy ra một cách cực kỳ nhanh chóng và dường như nó đã gây ra một áp lực đối với tâm trí của bạn. Vì vậy nó là khổ ( Dukkha – Suffering). Bạn không có cách nào để ngăn chặn được những tiến trình tan hoại này, cũng như không thể điều khiển được chúng. Sự khổ hay tiến trình tan hoại của các hiện tượng cứ xảy ra theo cách riêng của nó. Vì vậy nó là vô ngã ( Anatta – No selt or Uncontrolable). Khi đã lãnh hội được những điều này, bạn đã hoàn thiện được sự hiểu biết của chính mình về tính vô thường, khổvô ngã. Từ đó, bạn sẽ gặt hái được Niết Bàn hạnh phúc như đã từng mong muốn. Những bậc cha mẹ thiện lành có mong muốn thực hành thiền minh sát cho đến khi gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn phải có khả năng phân biệt được sự khác nhau giữa thực tại biểu kiến( Paññatti) và thực tại cùng tột ( Paramattha), thiền định ( Samātha kammatthāna)và thiền tụê ( Vipassanā Kammathāna). Chỉ khi đã nhận biết được những sự khác nhau này thì lúc đó, bạn mới có thể thực hành thiền với một phương pháp đúng đắn. Chỉ khi đã thực hành thiền với một phương pháp đúng đắn thì bạn mới kinh nghiệm được bản chất của vạn hữu, phát triển công việc thực hành thiền và gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng một cách nhanh chóng.

 

 Tám điều kỳ diệu của Giáo Pháp

  

Những người Phật tử mộ Đạo có niềm tin mạnh mẽ vào Giáo Pháp của Đức Phật và cậy trông vào đó. Họ lắng nghe và thực hành theo những lời dạy của Đức Phật. Giáo Pháp vĩ đại giống như luồng ánh sáng rực rỡ soi chiếu vào tâm trí của những người Phật tử mộ Đạo để họ có thể phân biệt được những con đường đúng đắn và những con đường lầm lạc. Giáo Pháp của Đức Phật là một luồng ánh sáng vĩ đại soi chiếu cho những con đường tối tăm mà bạn đang đi trên đó để chúng trở thành những con đường ngập tràn ánh sáng. Phật Pháp cũng có chức năng dẫn dắt bạn luôn luôn đi trên những con đường sáng suốt và không bao giờ đưa bạn đến với những con đường tối tăm. Đức Phật đã từng giải thích rằng, Giáo Pháp mà Ngài đã truyền bá có 8 điều kỳ diệu. Một thời, Đức Phật đang trú dưới một gốc cây thương xanh ( một loại cây lớn ở miền Đông Ấn độ, tiếng Anh gọi là Neem. Tiếng Pāli gọi là Naleru. Cây này có những tán lá rộng và xanh tươi quanh năm, nhựa rất dai như kẹo gum, vỏ có vị đắng dùng để làm thuốc bổ. Cây này chỉ trổ hạt chứ không ra hoa. Hạt của nó dùng để ép dầu thơm - ND) nằm gần thành phố Verinja. Vào thời đó, chúa của bọn A-Tu-La ( Asurinda) tên là Pahārāda đã hỏi Đức Phật rằng, tại sao những đệ tử của Ngài được hạnh phúc trong Phật Pháp.Vì vậy, Đức Phật đã thuyết một bài Pháp nói về 8 điều kỳ diệu chứa đựng trong Giáo Pháp mà Ngài đã truyền bá. Tám điều kỳ diệu này có thể so sánh với 8 điều kỳ diệu của đại dương. Đức Phật nói :  “ Pahàràda chỉ là một A-Tu-La sống rất hạnh phúc với 8 điều kỳ diệu của đại dương. Những đệ tử của ta thì được hạnh phúc với 8 điều kỳ diệu chứa đựng trong Phật Pháp”. Để so sánh với 8 điều kỳ diệu của đại dương, Đức Phật đã thuyết một bài Pháp nói về 8 điều kỳ diệu chứa đựng trong Giáo Pháp của Ngài.

 Tóm tắt:  Dần dần sâu hơn và sâu hơn, tẩy sạch những thứ ô nhiễm trên bờ, chỉ có một tên gọi, không bao giờ cạn và cũng không chảy tràn bờ, kho tàng chứa 10 loại ngọc quí, có vị mặn và là nơi ở của những sinh vật khổng lồ. Đây là 8 điều kỳ diệu của đại dương.

Giống như đại dương vĩ đại, 8 điều kỳ diệu chứa đựng trong Phật Pháp là:  1. Nói một cách chính xác thì đại dương vĩ đại có một con dốc thoi thỏi, bắt đầu từ bờ biển con dốc này chỉ có độ sâu từ 1 đến 2 inch ( Một inch bằng 2,54 cm - ND) cho đến khi có độ sâu 84 ngàn do-tuần ( Một do-tuần bằng khoảng 8 dặm Anh, một dặm Anh được tính bằng 1609 mét -ND). Tương tự như vậy, trong Pháp Hành, Giáo Pháp của Đức Phật có sự thực hành Giới luật ( Sīla – Precepts), 13 hạnh Đầu-đà ( Dhutinga) và sự thực hành quán niệm cho đến khi đạt tới quả vị A-La-Hán. Con đường tu hành trong Phật Pháp cũng sâu thẳm như đại dương vĩ đại. Đây là một điều kỳ diệu của Phật Pháp. Đấng Toàn Giác ( Sabbannuta) là một bậc cao thượng đã thực hành các hạnh Ba-La-Mật trong khoảng thời gian 4 A-Tăng-Kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp để gặt hái được quả vị A-La-Hán. Vì vậy, chiều sâu quá trình tu hành của Bồ-Tát Cồ-Đàm là 4 A-Tăng-Kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp. Đối với những vị Phật Độc Giác ( Pacceka Buddha) thì tổng thời gian thực hành Giáo Pháp để tích lũy các hạnh Ba-La-Mật của họ là 2 A-Tăng-Kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp. Vì vậy, chiều sâu quá trình tu hành của những vị Phật Độc-Giác là 2 A-Tăng-Kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp. Đối với các vị Phật Thinh Văn ( Eggasavaka) – những bậc cao thượng đã thực hành các hạnh Ba-La-Mật trong khoảng thời gian là 1 A-Tăng-Kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp. Vì vậy, chiều sâu quá trình tu hành của những vị Phật này là 1 A-Tăng-Kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp. Đối với các Đại đệ tử của Đức Phật ( Mahāsāvaka) – những bậc cao thượng đã thực hành Giáo Pháp để tích lũy các hạnh Ba-La-Mật trong khoảng thời gian là 100 ngàn Đại-kiếp. Vì vậy, chiều sâu quá trình tu hành của những vị này là 100 ngàn Đại-kiếp.

Không bao giờ chảy tràn bờ

2. Những đại dương vĩ đại có một bản tính cố định là không bao giờ chảy tràn bờ.  Tương tự như vậy, những đệ tử của Đức Phật như các Tu-Đà-Hườn không bao giờ phá vỡ Giới luật nghiêm khắc và những quy tắc khác đã được Đức Phật đặt ra. Thậm chí, họ phải trả giá bằng mạng sống của mình để giữ gìn và bảo vệ những Giới luật đó. Đây là một điều kỳ diệu của Phật Pháp.

Tẩy sạch những thứ ô nhiễm trên bờ

3. Giống như đại dương vĩ đại thường quét sạch xác chết của các loài vật đã thối rữa nằm trên bờ khi những đợt sóng to lớn tràn vào. Tương tự như vậy, Giáo Pháp của Đức Phật sẽ trục xuất những con người vô đạo đức giống như đại dương quét sạch những xác chết đã thối rữa nằm trên bờ. Những Tỳ-kheo đáng kính phải giữ gìn Giới luật, đào luyện tư cách đạo đức để trục xuất những Tỳ-kheo vô đạo đức ra khỏi Tăng Đoàn. Đây là một điều kỳ diệu của Phật Pháp.

Một cái tên đơn giản cho tất cả

4.Giống như sông Hằng ( Gangā - Ganges river), sông Yamona, Aciravady, Sarabu, Mahi… chảy vào đại dương vĩ đại, những tên riêng của chúng dần dần hòa lẫn vào một đại dương vĩ đại để chỉ còn lại một tên duy nhất. Tương tự như vậy, các vị hoàng đế, các Bà-La-Môn, những thương gia và những người nghèo khổ… một khi đã gia nhập vào tổ chức của Tăng Đoàn và trở thành những Tỳ-kheo, họ sẽ từ bỏ những tên riêng của họ để trở thành con của Đức Phật. Đây là một điều kỳ diệu của Phật Pháp.

Không bao giờ cạn    

5.Tất cả nước trong những con sông lớn và những con sông nhỏ đều chảy vào một đại dương vĩ đại. Đúng là nước trong đại dương không bao giờ cạn. Tương tự như vậy, trong Giáo Pháp của Đức Phật có vô số những vị A-La-Hán đã đạt tới Niết Bàn bình yên. Ngoại trừ những vị Phật Độc-Giác ( Pacceka Buddha), không có bất cứ một người nào có thể nhập vào Niết-Bàn mà không cần phải học và thực hành theo Giáo Pháp của Đức Phật. Niết Bàn không phải dành riêng cho bất cứ ai mà dành cho tất cả mọi người. Đây là một điều kỳ diệu của Phật Pháp.

Kho tàng chứa 10 loại ngọc quí

6. Trong đại dương vĩ đại có 10 loại ngọc quí là : Ngọc trai, ngọc lục bảo, ngọc đá mặt trăng, ngọc xà cừ, ngọc thạch anh, ngọc san hô, ngọc bạc, ngọc vàng, hồng ngọc, hồng ngọc hình ngôi sao với số lượng không thể đếm được. Tương tự như vậy, trong Giáo Pháp vĩ đại của Đức Phật cũng có vô số những loại ngọc quí như 4 nền tảng của sự quán niệm, 4 loại thần thông, 4 ý nghĩa của sự hoàn mỹ, 5 loại năng lực thuộc về tinh thần, 7 yếu tố dẫn đến giác ngộ ( tức Thất Giác Chi- Bojjhanga) và 8 con đường cao thượng.

Có vị mặn

Đúng là nước đại dương vĩ đại trong 4 hướng, trong 8 hướng và trong 10 hướng điều có vị mặn, nếu vui lòng chịu khó nếm thử thì bạn sẽ biết. Giáo Pháp của Đức Phật cũng tương tự như vậy, vị của Tam Tạng Kinh Điển ( Tipitaka) và 84ngànPháp môn ( Dhammakhandha) là giải phóng

( Vimutti – Liberation - ngày nay người ta thường dùng từ giải phóng thay cho từ giải thoát -Emancipation – ND). Giải phóng ở đây chính là giải phóng  khỏi những thứ ô nhiễm. Vì vậy, Giáo Pháp của Đức Phật chỉ có một vị duy nhất là giải phóng. Đây là một điều kỳ diệu của Phật Pháp.

Nơi ở của những sinh vật khổng lồ

8. Đúng là đại dương vĩ đại là nơi ở của những sinh vật khổng lồ như : Các loài cá to lớn ( Timingala – The huge fishes), A-Tu-La, các loài rồng, một số Chư-Thiên và các loài sinh vật to lớn khác sống dưới nước. Kích thước của các loài vật to lớn này có thể dài bằng một, hai, ba, bốn, năm do-tuần. Tương tự như vậy, trong Giáo Pháp của Đức Phật có những người đã thấm nhuần Giới luật, thiền định, thiền minh sát và đã gặt hái được quả vị Nam -Tu-Đà-Hườn ( Sotāpatti Maggahtan), Nữ-Tu-Đà-Hườn ( Sottàpatti Phalahtan), Nam-Tư-Đà-Hàm ( Sakadāgāmi Maggahtan), Nữ Tư-Đà-Hàm ( Sakadāgāmi Phalahtan), Nam-A-Na-Hàm ( Anāgāmi Maggahtan), Nữ-A-Na-Hàm ( Anāgāmi Phalahtan), Nam-A-La-Hán ( Arahatta Maggahtan) và Nữ-A-La-Hán ( Arahatta Phalahtan). Những vị này là 8 hạng người cao thượng. Giáo Pháp của Đức Phật là nơi ở của 8 hạng người cao thượng.

Đây là một điều kỳ diệu của Phật Pháp.

Tám điều cao thượng

Vì vậy, Đức Phật đã từng giải thích rằng, những A-Tu-La sống hạnh phúc trong đại dương vĩ đại bởi vì ở đó có 8 điều kỳ diệu. Những đệ tử của Ngài thì được hạnh phúc trong Phật Pháp bởi vì trong Phật Pháp cũng có 8 điều kỳ diệu vừa nói trên.

 Tập 5 của cuốn Pháp Như Ý kết thúc ở đây.

          

                     Danh sách các thí chủ hùn phước để ấn tống

                              cuốn Pháp Như Ý ( tập 5)

 

Úc-Đại-Lợi( Australia )

1. Elizabeth Gorski

2. Liz Oski

3. Maria Jawar

4. Grahame White

5. Lynn Bousfield

6. Lynn Collins

7. Quetim Vander Hecht

8. Linda và Stephen Procter

9. U Aung Myat và Brenda Myat

10. Tiến sĩ Eng Hoe và tiến sĩ Khin Than Kywe

11. U Win Aung và Daw Aye Aye New

12. U Myint Lwin và Daw Khin Khin May

13. Tiến sĩ Khin Thin Aye

14. U Naing Oo

15. U Wint Zaw

16. Ko Oo

17. Daw Khin Nyunt

Vương quốc Bỉ ( Belgium Kingdom)

18. Henri Vandergucht

19. Mari Cecile Forget

20. Didies Kervyn

Gia-Nã-Đại ( Canada)

21. Daw Nànno Bhàsi

22. Anna Lin

Trung quốc ( China)

23. Howard Libauer

24. Darian Libauer

Cọng hòa Pháp (  Republic of France)

25. Anandà

26. Nguyễn Huy Kỳ Tú

27. Nguyễn Thị Ngọc Liên

Đức quốc ( Germany)

28. Marion Breden Wischer

Hương Cảng ( Hong Kong)

29. Elsa Lan

Ý-Đại-Lợi

30. Casare Mariscotti

Hàn quốc ( Korea )

31. Daw Tu E Ti ( Maggie)

32. Lee Ji Eun

33. Kim Min Nam

34. Lee Eui Ja

35. Ja Yeoun

36. Lee Sam Mi

37. Jun Hae Won

Mã-Lai-Á ( Malaysia )

38. Một hành giả đến từ Komkinabalu

39. Một hành giả Mã-Lai-Á

40. Tiến sĩ và phu nhân Beh Choo Wah

Miến Điện ( Myanmar)

41. U Ottama

42. Daw Sumanacàrì

43. Tiến sĩ Than Than Nyein

44. Tiến sĩ Moe Myat Aung

45. U Kaung Yin và Daw Aye Myint

46. U Chit Khin

47. Tiến sĩ Lay Lay Khin

48. Tiến sĩ Htay Htay Khin

49. Tiến sĩ Mg Mg Khin

50. Tiến sĩ Aung Kyaw

51. Tiến sĩ Soe Lwin và Daw Hla Hla Chaw

52. Daw Nyunt Nyunt

53. Daw Wai Wai

54. Tiến sĩ Kay Mya Yee

55. U Zaw Myint Aung và Daw Khin Myint San

56. Daw Nu Nu Yee và May Oo Lwin

57. U Than Ngwe và Daw Sein Yee

58. U Htein Lin và Daw Khin Su Htay

59. Daw Khin Lay Nyo và Moe Sanda Kyaw

Hà Lan ( Nertherlands)

60. Daw Jotika

61. Mary Geukts

62. Pieter Cremers

63. Nurith Devries

64. Kees Willem Hemekik

65. Julio Van Leijen

Cọng hòa Nam Phi ( Republic of South Africa)

66. Tiến sĩ Moe Zaw và tiến sĩ Ohnma Myint Thein

Tân-Gia-Ba ( Singapore)

67. Tan Siew Kia

68. Một hội đoàn thiền Minh sát

 

Thái Lan ( Thailand)

69. U Hla Myint và Daw Khin Ohn Myint

70. Tiến sĩ Tin Aung Aye và Daw May Aye Myint

71. U Zaw Zaw Aye

72. A.I.T Group

73. Daw Kyi Kyi Tin

74. Tiến sĩ Watler Sauter

75. Daw Khin Myo Yin

Vương quốc Anh ( United Kingdom)

 76. Tiến sĩ Thein Myint và tiến sĩ Aye Aye Thu  

 77. Ryan A. Myint

 78. Tiến sĩ Wint Maw

 Hiệp Chủng Quốc ( U.S.A)

 79. Chris Dawn

 80. Winne Che

 81. Cassidy Trager

 82. Ong Chong Pin

 83. Cintà và Punnavadì

 84. Lisa Kabutan

 Việt Nam

 85. Daw Dhammarati ( Hồ Thị Kim Trâm )   

 86. Daw Paññobādī ( Hồng Thị Nga )

Cầu chúc cho tất cả thí chủ đã có công đóng góp cho việc xuất bản cuốn Pháp Như Ý ( tập 5 ) được hoan hỷ với những hành động rộng lượng và xứng đáng mà họ đã thực hiện.Cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ nhanh chóng đạt tới Niết Bàn để diệt tận mọi khổ đauLành thay !

Tác giả bài viết: Admin

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

top

Những tin cũ hơn

top