Pháp Như Ý (Tập 4)

Thứ năm - 13/02/2014 08:21
Pháp Như Ý (Tập 4)

Pháp Như Ý (Tập 4)

Pháp Như Ý (Tập 4). Những đề mục thực hành thiền cao quí nhất của người Phật Tử theo phương pháp của Ngài Trưởng Lão Tăng Thống Mahāsī.

 

     Biên soạn:  Ngài  Kundalābhivamsa  ( Trưởng Lão trung tâm thiền Saddhammaramsī) 

     Biên tập:  Hội đồng biên tập trung tâm thiền Saddhammaramsì

     Nguyên bản tiếng Miến Điện:   Dhamma Padetha

     Dịch sang tiếng Anh:  Daw Khin Hla Hla ( Kanbawza Myitzu )

      Xuất bảnLt. Col Tin Aung Saddhammaramsi Sapei, Số 7 đường Zeiyakhemar, quận Mayangone,  Ngưỡng Quang – Miến Điện

      Dịch sang tiếng Việt từ bản tiếng Anh:  Phạm Xuân Quang

                                         Địa chỉ24 A / 257 Chi Lăng – Huế- Việt Nam

                                         Điện thoại (NR):     0542460293

                                         Điện thoại di động : 0948753810

                                         Thư điện tửsachthienhaiau@yahoo.com.vn

 

 

                                     Mục lục

 

1. Sức khoẻ tốt, trẻ trung và sống lâu                                                            

2. Ba loại kiên nhẫn                                                                                                       

3. Ba cách đi từ địa ngục đến cõi trời                                                                          

4. Bảy phẩm chất của một người bạn tốt                                                                    

5. Trong sạch do có niềm tin                                                                                                                                                                             

6. Những sự thật về bình minh                                                                                     

7. Tránh được bệnh tật bằng cách trở thành những Bậc Cao Thượng                      

8. Cách thức ủng hộ cao thượng nhất                                                                          

9. Gặt hái Phật Pháp bằng cách ủng hộ                                                                       

10. Bốn kiểu người thực hành thiền cần biết                                                               

11. An cư trong mùa mưa                                                                                              

12. Phá vỡ bánh xe liên hệ nhân duyên bằng cách thực hành thiền minh sát         

13. Gặt hái được 2 trạng thái tuệ minh sát bằng cách chú ý                                      

14. Kiến thức để làm cho Phật Giáo trở nên bất diệt                                                  

15. Cách thức thứ hai để làm cho Phật Giáo trở nên bất diệt                                    

16. Cách thức thứ ba để làm cho Phật Giáo trở nên bất diệt                                     

17. Patthāna Desanā –  ( Nhân duyên – Hetu Paccaya)                                               

18. Patthāna Desanā –  ( nguyên nhân liên hệ là đối tượng của các giác quan - Ārāmmana paccaya )                                                                                                       

19. Patthāna Desanā –   ( Duyên vượt trội - Adhipati Paccaya )                                 

20. Patthāna Desanā –    ( Duyên kế cận - Anantara Paccaya )                                   

21. Patthāna Desanā –     ( Duyên mới hình thành - Sahajàta Paccaya )                   

22. Hạnh phúc trong cõi thế gian                                                                                    

23. Bốn nhân tố để nhận thức Niết Bàn                                                                         

24. Huấn từ của bậc Trưởng Thượng Trung Tâm Thiền Saddhammaramsī                

25. Sự thật về những giấc mơ                                                                                         

26. Hướng dẫn về thiền minh sát của bậc Trưởng Thượng                                         

      Trung Tâm Thiền Saddhammaramsī                                                                          

27. Danh sách các thí chủ hùn phước ấn tống sách ( bản tiếng Anh)                    

   

                Sức khoẻ tốt,trẻ trung và sống lâu

  

 Mọi người đang sống trong thế giới này đều mong muốn có được sức khoẻ tốt, có diện mạo trẻ trung và sống lâu.Vì vậy, người ta đã thực hiện nhiều cách thức đa dạng nhằm tránh được những loại bệnh tật và có thể tận hưởng một trạng thái sức khoẻ tốt, có diện mạo trẻ trung và sống lâu. Liên quan đến trạng thái sức khoẻ tốt, việc tránh được nhiều loại bệnh tật và có diện mạo trẻ trung, Đức Phật đã từng thuyết một bài Pháp nói về 2 nhân tố cần phải thực hành theo cho Đức vua Ba-Tư-Nặc ( Pasenadi ) xứ Kiều- Tất-La ( Kosala) nghe. Hai nhân tố đó là :

1. Có khả năng biết được số lượng vật thực mà cơ thể thật sự cần đến trong một ngày và hàng ngày chỉ xử dụng một lượng vật thực vừa đủ để nuôi sống.

2.Thực hành sự chú ý đến các hoạt động hàng ngày của chính mình.

Có khả năng biết được số lượng vật thực mà cơ thể thật sự cần thiết trong một ngày và hàng ngày chỉ dùng một lượng vật thực vừa đủ để nuôi sống nghĩa là : Khi đang thọ thực và dùng các đồ ngọt đúng theo cách của Tôn Giả Xá-Lợi- Phất, bạn nên giảm bớt từ 4 đến 5 miếng vật thực trong mỗi bữa ăn. Tuy nhiên, trong mỗi bữa ăn  nếu chưa thể giảm bớt được số lượng vật thực vừa nêu trên, bạn có thể giảm bớt từ 2 đến 3 miếng cũng được. Thay vào đó, bạn hãy uống thêm nước để bù lại số lượng vật thực đã bị giảm bớt trong mỗi bữa ăn. Những người thực hành theo một chế độ thọ thực như vậy sẽ có khả năng tiêu hoá lượng vật thực mà hàng ngày họ đã đưa vào trong cơ thể một cách rất dễ dàng. Bởi vì có thể tiêu hoá lượng vật thực đã thọ dụng hàng ngày một cách dễ dàng, những người nói trên sẽ tránh được nhiều loại bệnh tật. Bởi vì đã tránh được rất nhiều loại bệnh tật, diện mạo của họ sẽ trông rất trẻ trung so với tuổi thật. Họ cũng sẽ sống rất trường thọ.

Tóm tắt: Có khả năng biết được số lượng vật thực mà cơ thể của mình thật sự cần đến trong một ngày và hàng ngày chỉ dùng một lượng vật thực vừa đủ để nuôi sống thì sẽ có được 3 lợi ích, đó là : Tránh được nhiều loại bệnh tật, có diện mạo trẻ trung và sống lâu.

Thực hành sự chú ý đến các hoạt động của chính mình trong đời sống hàng ngày nghĩa là : Bạn cần phải thực hành thiền minh sát bằng cách chú ý khi đang đi bộ, đứng, ngồi và nằm. Khi đang đi bộ, bạn không cần phải nhận thức về hình dáng của bàn chân, chỉ cần chú ý đến tiến trình chuyển động khi nó đang dở lên, bước tới trước và đặt xuống, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang dở lên, đang bước tới, đang đặt xuống…”. Khi đang đứng , bạn không cần phải nhận thức về hình dáng của đầu, thân thể và bàn chân mà chỉ cần chú ý đến bản chất căng thẳng của toàn thân, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang đứng, đang đứng…”. Khi đang ngồi xuống, bạn không cần phải nhận thức về hình dáng của đầu, thân thể và bàn chân, chỉ cần chú ý đến bản chất của chuyển động đang ngồi xuống, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang ngồi xuống, đang ngồi xuống…”Khi đang nằm xuống, bạn không cần phải nhận thức về hình dáng của đầu, thân thể, bàn chân và cẳng chân… chỉ cần chú ý đến bản chất của chuyển động đang nằm xuống, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang nằm xuống, đang nằm xuống…”. Ngoài ra, đối với  những hoạt động khác thuộc về thân xác, bạn cũng phải thực hành sự chú ý đến chúng như cách thức đã nêu trên, càng nhiều càng tốt với khả năng có thể.

Những người thực hành sự chú ý đến các hoạt động hàng ngày của họ như : Khi đang đi bộ, đang đứng, đang ngồi xuống và đang nằm xuống … sẽ tránh được tâm tham lam, sân hận và vọng tưởng bởi vì những thứ ô nhiễm này sẽ không có cơ hội để khởi lên, mỗi khi chúng ta thực hành sự chú ý đến một đối tượng nào đó.Vì vậy, những người nói trên sẽ có được tâm vô tham, vô sân và vô si, tức tránh được nhiều loại bệnh tật thuộc về thể xác và tinh thần. Vô tham là nguyên nhân dẫn đến việc tránh được nhiều loại bệnh tật. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến một trạng thái sức khoẻ tốt. Những người có bản tính tham lam sẽ thọ dụng các loại vật thực cho đến khi bụng của họ căng lên. Thậm chí đến lúc đó, họ còn ráng dùng thêm những loại vật thực mà mình ưa thích cho đã thèm. Bởi vì những người có bản tính tham lam thường có thói quen thọ thực như vậy, nên họ có thể bị nhiễm rất nhiều loại bệnh tật. Từ đó, họ phải chịu nhiều khổ đau do tình trạng sức khoẻ yếu kém mang lại. Những người không có bản tính tham lam sẽ không bao giờ ráng dùng thêm bất cứ một loại vật thực nào, khi đã thọ đủ số vật thực mà cơ thể của họ thật sự cần đến. Khi đã vừa no, dù chúng ta có bày ra trước mặt họ một loại vật thực tuyệt hảo nào đó đi nữa thì họ cũng sẽ không dùng thêm. Tuy nhiên, có thể họ vẫn ngồi lại bàn ăn nhưng nhất định sẽ không bao giờ dùng thêm một chút nào nữa cả. Đó là lý do tại sao những người không có bản tính tham lam sẽ tránh được rất nhiều loại bệnh tật, sức khoẻ của họ thường rất tốt. Vô sân là nguyên nhân dẫn đến sự trẻ trung. Sân hận là nguyên nhân dẫn đến sự chóng già và thậm chí là già trước tuổi. Những người có bản tính sân hận thường hay nổi giận. Thậm chí là đối với một sự việc rất nhỏ nhặt. Thân tâm của họ giống như lửa nóng và sẵn sàng bốc lên một cách rất dễ dàng. Vì vậy, tính khí của họ rất nông nổi và thường xuyên tức giận. Bởi vì những người này luôn bị lửa sân thiêu đốt, nên họ rất chóng già, diện mạo của họ thường rất xấu xí và trông già hơn tuổi thật. Những người có bản tính vô sân thường có khả năng kiên nhẫn và chịu đựng. Thậm chí, khi phải đối diện với những đối tượng khó chịu của giác quan có thể làm cho người ta nổi giận, bởi vì họ đã có tâm từ ( Mettā). Nhờ vậy, họ không bị lửa sân thiêu đốt. Những người có bản tính vô sân thường rất trẻ trung, diện mạo của họ trông trẻ hơn so với tuổi thật của họ.Vô si hay có trí tuệ là nguyên nhân dẫn đến sự sống lâu. Si mê, vọng tưởng hay thiếu trí tuệ là nguyên nhân dẫn đến sự đoản thọ. Những người chứa đầy si mê hay vọng tưởng trong tâm sẽ không có khả năng phân biệt được điều gì là tốt và điều gì là xấu đối với bản thân của họ. Vì vậy, họ thường sở hữu những cái vô ích và không thích hợp đối với bản thân mình. Họ không có những cái lợi ích và thích hợp với bản thân của họ. Đó là lý do tại sao, họ không thể sống lâu và thường bị đoản thọ. Những người có bản tính vô si hay có trí tuệ sẽ biết và phân biệt được những cái gì có lợi ích và không có lợi ích cho bản thân của họ. Với sự hiểu biết như vậy, họ sẽ tránh được những điều bất lợi và có được những cái có lợi cho mình. Đó là lý do tại sao, những người có bản tính vô sân hay có trí tuệ sẽ sống rất thọ. Do đó, người nào muốn nghe theo những lời giáo huấn của Đức Phật đã được trình bày ở trên cần thực hành 2 yếu tố là : Hàng ngày chỉ thọ một lượng vật thực vừa đủ nuôi sống và thực hành sự chú ý đến những hoạt động của chính mình. Nếu thực hành như vậy, họ sẽ được tận hưởng một trạng thái sức khoẻ tốt, có diện mạo trẻ trung và sống lâu.

 

                              

                              

 

                              Ba  loại kiên nhẫn

 

 Đức Phật đã từng nói rằng kiên nhẫn là sự thực hành cao thượng nhất. Nó là một sức mạnh vĩ đại của những bậc cao thượng và đức hạnh như các vị A-La-Hán hay Bồ Tát chẳng hạn. Tính kiên nhẫn mang lại lợi ích cho chính người sở hữu nó và nhiều người khác. Đức Phật cũng đã từng nói những người không có tính kiên nhẫn và chịu đựng sẽ mắc phải 5 điều sai lầm. Những người có tính kiên nhẫn sẽ có được 5 điều lợi ích. Con người sống trong thế giới này thường phải đối diện với những đối tượng khó chịu của giác quan. Vì vậy, họ cần phải biết chịu đựng và có tính kiên nhẫn, không nên sân hận và buồn bực. Có 3 loại kiên nhẫn :

1. Có được tính kiên nhẫn bằng cách lý luận rằng, nếu không có tính kiên nhẫn là một sai lầm và có tính kiên nhẫn sẽ gặt hái được nhiều lợi ích.

2. Có được tính kiên nhẫn bằng cách quán niệm về những kiếp sống ở quá khứ.

3. Có được tính kiên nhẫn bằng cách thực hành thiền minh sát.

  Lý luận để có được tính kiên nhẫn

1. Người không có tình thương là người không có tính kiên nhẫn. Họ sẽ tự ghét bỏ chính bản thân mình và nhiều người khác.

2. Những người không có tính kiên nhẫn sẽ có rất nhiều kẻ thù.

3. Người không có tính kiên nhẫn khi làm bất cứ việc gì thường gặp nhiều vấn đề khó giải quyết.

4. Người không có tính kiên nhẫn khi sắp chết sẽ nhìn thấy những dấu hiệu xấu. Người này sẽ chết trong một trạng thái tâm lý sợ hãi và bối rối.

5. Người không có tính kiên nhẫn sau khi chết sẽ bị đọa xuống địa ngục.

Tóm tắt: Người không có tính kiên nhẫn sẽ không có tình thương, có nhiều kẻ thù và phạm nhiều lỗi lầm, chết trong sợ hãi và bị đọa xuống địa ngục.

 Lý luận về những lợi ích của việc có tính kiên nhẫn

a. Người có tính kiên nhẫn sẽ được nhiều người yêu mến và tôn trọng.

b. Người có tính kiên nhẫn sẽ không có kẻ thù.

c. Người có tính kiên nhẫn khi làm việc gì cũng được dễ dàng.

d. Người có tính kiên nhẫn khi sắp chết sẽ nhìn thấy những dấu hiệu tốt lành và được chết trong bình yên.

e. Người có tính kiên nhẫn sau khi chết sẽ được tái sanh lên cõi trời.

Tóm tắt: Người có tính kiên nhẫn sẽ được nhiều người yêu mến, tránh được nhiều kẻ thù, không có lỗi lầm, được chết bình yên và sau khi chết được tái sanh lên cõi trời.

 Quán niệm về những kiếp sống ở quá khứ

Khi thực hành thiền minh sát, bạn phải biết chịu đựng sự cắn chích của những loại côn trùng, ruồi, muỗi… Bạn cũng phải chịu đựng cái nóng, lạnh, đói khát, những lời phê phán và lên án, cảm giác đau nhức khó chịu đựng … Khi những điều này xảy đến, bạn cần phải quán niệm về những kiếp sống ở quá khứ của chính mình và phải có tính kiên nhẫn. Khi bị các loài côn trùng, ruồi muỗi cắn chích và cảm thấy khó chịu đựng, bạn nên quán niệm rằng : “ Trong nhiều kiếp sống ở quá khứ, mình đã từng là các loài súc vật như trâu bò, đã từng nhiều lần chịu đựng những điều bất tiện này.Trong kiếp sống hiện tại, khi đang thực hành thiền minh sát để đóng lại cánh cửa của địa ngục, tại sao mình lại không thể chịu đựng nổi những điều bất tiện đó ? Mình cần phải có khả năng chịu đựng chúng”.Vì vậy, bạn nên quán niệm rằng mình cần phải có tính kiên nhẫn. Khi đang thực hành thiền minh sát mà thời tiết nóng đến mức không thể chịu đựng nổi, bạn cần phải lý luận rằng : “ Nếu mình bị đọa xuống địa ngục thì lửa ở đó sẽ nóng gấp một ngàn lần hơn thế. Trong kiếp sống này, mình đang thực hành thiền minh sát để đóng lại cánh cửa của địa ngục, tại sao mình lại không thể chịu đựng nổi cái nóng của thời tiết chẳng thấm vào đâu ? Mình cần phải chịu đựng được nó”. Vì vậy, bạn nên lý luận rằng mình cần phải chịu đựng và có tính kiên nhẫn. Khi đang thực hành thiền minh sát trong một cái lạnh khắc nghiệt, bạn cảm thấy khó có thể chịu đựng nổi cái lạnh này. Lúc đó, bạn hãy nghĩ rằng : “  Nếu mình bị đọa xuống địa ngục thì cái lạnh ở đó còn gấp một ngàn lần hơn thế. Bây giờ trong kiếp sống này, mình đang thực hành thiền minh sát để đóng lại cánh cửa của địa ngục, tại sao mình lại không chịu đựng nổi cái lạnh khắc nghiệt chẳng thấm vào đâu đó ? Mình cần phải có khả năng chịu đựng được nó”. Vì vậy, bạn cần phải có tính kiên nhẫn. Khi đang thực hành thiền minh sát trong cái đói và khát khó có thể chịu đựng hơn nữa, bạn hãy nghĩ rằng : “Trong nhiều kiếp sống ở quá khứ, mình đã từng là loài quỷ đói khát. Bây giờ trong kiếp sống này, mình đang thực hành thiền minh sát để đóng lại cánh cửa của địa ngục, tại sao mình lại không thể chịu đựng nổi sự đói khát ? Mình cần phải có khả năng chịu đựng được nó”. Vì vậy, bạn cần phải có tính kiên nhẫn. Khi đang thực hành thiền minh sát trong cảm giác đau nhức khó chịu đựng nổi, bạn hãy nghĩ rằng :

“  Trong nhiều kiếp sống ở quá khứ, vì không có tính kiên nhẫn nên mình đã bị khổ sở vì cảm giác đau nhức. Do không thực hành thiền minh sát nên sau khi chết mình đã từng bị tái sanh vào địa ngục. Bây giờ trong kiếp sống này, mình đang thực hành thiền minh sát để thoát khỏi tuổi già, bệnh tật, cái chết và địa ngục, tại sao mình lại không thể chịu đựng nổi cảm giác đau nhức ? Vì vậy, mình cần phải có tính kiên nhẫn”.  Khi đang thực hành thiền minh sát, nếu tình cờ nghe thấy những lời phê phán hay chỉ trích mình, bạn có thể sẽ mất hết tính kiên nhẫn. Lúc đó, bạn cần phải suy nghĩ rằng : “  Thậm chí Đức Phật và các vị A-La-Hán cũng đã phải chịu đựng những điều bất như ý tương tự như thế”. Đây là một cách lý luận thích hợp có thể giúp bạn tránh được những lời phê phán và chỉ trích. Bạn cần phải suy nghĩ rằng : “  Bởi vì trong nhiều kiếp sống ở quá khứ, mình đã từng tạo ra những nghiệp xấu nên trong kiếp sống này, mình phải chịu đựng những lời phê phán hay chỉ trích nói trên. Những lời phê phán hay chỉ trích này giống như một hình phạt do tác động của những nghiệp xấu mang lại. Vì vậy, mình cần phải có tính kiên nhẫn chịu đựng”.

 

 Thực hành thiền minh sát để có được tính kiên nhẫn

Khi đang thực hành thiền minh sát và bị các loài côn trùng, ruồi, muỗi cắn chích. Lúc đó, bạn cần phải hội tụ sự chú ý một cách  trực tiếp và tích cực lên chỗ bị cắn, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang bị cắn, đang bị cắn…”. Bạn cần phải chú ý như thể hành động cắn đó đang đi xuyên qua thịt của mình. Nếu có thể chú ý tốt và nhận thức được hành động cắn này, bạn sẽ chịu đựng được nó. Khi đang thực hành thiền minh sát, nếu cảm thấy da thịt của mình trở nên bị nóng hoặc bị lạnh. Lúc đó, bạn cần phải hội tụ sự chú ý một cách trực tiếp và tích cực lên chỗ bị nóng hoặc bị lạnh, đồng thời niệm thầm trong tâm “ nóng, nóng…” hoặc “ lạnh, lạnh…”. Khi cảm giác lạnh hay nóng nói trên bị bạn chú ý đến, nó sẽ gia tăng cường độ đến đỉnh điểm. Sau đó, cường độ của nó sẽ giảm dần cho đến khi biến mất hẳn. Khi đã có khả năng chú ý tốt và nhận thức được bản chất của cảm giác nóng hay lạnh, bạn sẽ chịu đựng được nó. Khi đang thực hành thiền minh sát, bạn cảm thấy đói bụng thì ngay trong những khoảnh khắc đó, bạn phải tập trung sự chú ý một cách tích cực lên cảm giác đói và niệm thầm trong tâm “ đang đói, đang đói…”. Khi bị chú ý một cách tích cực, cảm giác đói sẽ gia tăng cường độ đến đỉnh điểm. Sau đó, cường độ của nó sẽ giảm dần cho đến khi biến mất hẳn. Bạn cần phải chú ý một cách tích cực để có thể nhận thức được bản chất của cảm giác đói. Nếu có khả năng chú ý như vậy, bạn sẽ chịu đựng được cảm giác đói tốt hơn lúc bình thường rất nhiều. Khi đang thực hành thiền minh sát, bạn bổng nghe thấy những lời nói có ý phê phán hay chỉ trích mình. Ngay lúc đó, bạn đừng tìm cách hiểu những lời nói này, cũng đừng suy nghĩ và phân tích nguyên nhân vì sao những lời nói đó lại xảy đến với mình. Trong từng khoảnh khắc đang phải hứng chịu những lời nói có tính chỉ trích hay phê phán mình, bạn chỉ nên nghe chúng một cách thuần tuý, nghĩa là nghe và chỉ nghe mà thôi, không suy nghĩ hay phân tích gì cả, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang nghe, đang nghe…”. Khi khả năng chú ý của bạn đã phát triển đến mức cần thiết. Cũng những lời nói tương tự như thế, nếu chú ý để lắng nghe chúng với một tâm thức không phân tích hay phản ứng lại thì bạn sẽ nhận thức được rằng, chúng đang dần dần biến mất đi trong từng khoảnh khắc. Khi đã nhận thức được như vậy, bạn sẽ có khả năng kiên nhẫn trước những lời nói có ý phê phán hay chỉ trích mình. Khi đang thực hành thiền minh sát, bạn cảm thấy thân thể của mình bị đau nhức. Ngay lúc đó, bạn cần phải có quyết định dứt khoát sẽ chịu đựng khổ thọ này. Bạn cố gắng đừng cử động thân thể hay thay đổi tư thế thực hành thiền, đồng thời kiên quyết hội tụ sự chú ý trực tiếp lên nó. Quán niệm rằng nếu không có tính kiên nhẫn là một sai lầm và kiên nhẫn sẽ có được nhiều lợi ích, quán niệm về những sự kiện trong nhiều kiếp sống ở quá khứ và thực hành thiền minh sát là 3 phương pháp cần phải tập luyện để có tính kiên nhẫn.    

   

                                                                         

                   Ba cách đi từ địa ngục đến cõi trời

 

Cùng ở chung trong một căn nhà, trong một môi trường sống ở cõi người, các bậc cha mẹ và con cái của họ cần phải biết yêu thương và tôn trọng lẫn nhau. Các bậc cha mẹ phải có lòng yêu thương và trắc ẩn đối với con cái. Tương tự như vậy, chồng phải thương yêu, tử tế và tôn trọng vợ. Ngược lại vợ cũng phải biết yêu thương và tôn trọng chồng. Trong một gia đình nào đó, nếu mỗi thành viên trong gia đình biết tôn trọng những thành viên khác đang chung sống với mình thì gia đình đó sẽ được hạnh phúc và thịnh vượng. Nếu mỗi người trong một gia đình nào đó biết tôn trọng hạnh phúc của những người khác đang chung sống với mình thì gia đình đó sẽ loại trừ được những nghiệp xấu và gặt hái được nhiều lợi ích. Đến khi chết, họ sẽ được tái sanh vào cõi trời. Ngược lại, nếu mỗi thành viên trong một gia đình nào đó không biết tôn trọng hạnh phúc của những thành viên khác đang chung sống với mình, gia đình này sẽ không gặt hái được phước báu. Họ sẽ phải gánh chịu nhiều tác động của nghiệp xấu. Sau khi chết, họ sẽ bị tái sanh vào những cảnh giới thấp kém như địa ngục, ngạ quỷ, A-Tu-La... Một người vợ nào đó không biết tôn trọng chồng và cha mẹ chồng của mình thì khi chết đi, người vợ này sẽ bị đọa xuống địa ngục. Một người vợ biết tôn trọng chồng và cha mẹ chồng của mình thì sau khi chết đi, người vợ này sẽ được tái sanh lên cõi trời. Đức Phật đã từng chỉ ra 7 loại vợ để giáo huấn Sujāta - nàng dâu trong gia đình của trưởng giả Cấp- Cô – Độc ( Anāthapindika). Một thời, sau khi mặc y và cầm lấy bát khất thực, Đức Phật đi đến nhà của trưởng giả Cấp- Cô – Độc. Khi vừa đến nơi, Đức Phật bổng nghe thấy nhiều tiếng ồn ào từ trong ngôi nhà này vọng ra. Vì vậy, Ngài đã hỏi trưởng giả Cấp – Cô – Độc rằng : “ Tại sao nhà của ông ồn ào như một cái chợ bán cá vậy ?” Sau đó, trưởng giả Cấp – Cô – Độc đã trả lời : “ Bạch Giáo Chủ ! Con dâu của tôi là Sujāta phản đối lại chồng và cha mẹ chồng của nó. Thậm chí, nó cũng không biết tôn kính và nghe lời của Giáo Chủ. Nó không chịu lắng nghe ai cả”. Vào lúc đó, Đức Phật đã gọi Sujàta đến và giáo huấn về 7 loại người làm vợ :

1. VadhakasamāMột người vợ giống như một kẻ giết người

2. SorīsamàMột người vợ giống như một kẻ trộm

3. AyyasamāMột người vợ giống như một bà chủ nhà

4. MatàsamāMột người vợ giống như một người mẹ

5. BaginisamāMột người vợ giống như một người chị gái

6. SakhisamāMột người vợ giống như một người bạn

7. Dāsīsamā - Một người vợ giống như một người hầu  

                                                                                             ( Am – 2 / 467 )

  Một người vợ giống như một kẻ giết người

Một người vợ giống như một kẻ giết người nghĩa là : Một người vợ có tâm tính xấu xa. Người vợ này không biết cách giữ gìn tài sản của chồng đã kiếm được và bị những người đàn ông khác quyến rủ. Cô ta không biết lễ phép với chồng mình như thể ông chồng đã bỏ tiền ra để mua cô ta. Người vợ này luôn luôn có âm mưu muốn giết chồng vì nhiều nguyên nhân. Vì vậy, đây là một người vợ giống như một kẻ giết người.

 Một người vợ giống như một kẻ trộm

Một người vợ giống như một kẻ trộm nghĩa là : Một người vợ có thói quen hay trộm cắp tài sản mà chồng mình đã kiếm được bằng cách buôn bán hay làm việc trên những cánh đồng.Vì vậy, đây là một người vợ giống như một kẻ trộm.

 Một người vợ giống như một bà chủ nhà

Một người vợ giống như một bà chủ nhà nghĩa là : Một người vợ lười biếng và không muốn làm việc. Cô ta là một người cao lớn và ăn nhiều, lời nói và hành động thì cay nghiệt có ý lấn át chồng. Trong khi đó, ông chồng là một người siêng năng cần mẫn. Vì vậy, đây là một người vợ giống như một bà chủ nhà.

 Một người vợ giống như một người mẹ

Một người vợ giống như một người mẹ nghĩa là : Một người vợ biết chăm sóc chồng như thể mẹ chăm sóc cho con. Người vợ này luôn luôn tử tế với chồng, biết cách gìn giữ tài sản của chồng giống như mẹ giữ gìn của cải cho con. Vì vậy, đây là một người vợ giống như một người mẹ.

 Một người vợ giống như một  người chị gái

Một người vợ giống như một người chị gái nghĩa là : Một người vợ biết kính nể và tôn trọng chồng. Người vợ này luôn luôn hoàn tất những gì mà chồng mình mong muốn với hết khả năng. Vì vậy, đây là một người vợ giống như một người chị gái.

 Một người vợ giống như một người bạn

Một người vợ giống như một người bạn nghĩa là : Một người vợ sẽ cảm thấy cực kỳ hạnh phúc mỗi khi nhìn thấy mặt chồng mình. Người vợ này giống như một người đang ở một nơi khác đến thăm bạn sau một thời gian dài xa cách. Cô ta có gốc gác và tư cách đạo đức tốt, biết tôn trọng chồng. Vì vậy, đây là một người vợ giống như một người bạn tốt.

 Một người vợ giống như một người hầu

Một người vợ giống như một người hầu nghĩa là : Một người vợ có tính kiên nhẫn và chịu đựng, thậm chí bị chồng đe dọa và đánh đập bằng gậy. Mặc dù vậy, cô ta vẫn luôn luôn tỏ ra bình thản và không hề sân hận một chút nào cả. Người vợ này luôn luôn hoàn tất những gì mà chồng mong muốn. Đây là một người vợ giống như một người hầu. Những người vợ giống như một kẻ giết người, kẻ trộm hay bà chủ nhà là những người vợ không có tư cách đạo đức tốt. Họ cay nghiệt và độc ác. họ không biết tôn trọng chồng. Ba dạng vợ theo kiểu này chắc chắn sau khi chết sẽ bị đọa xuống địa ngục. Những người vợ giống như một người mẹ, chị gáibạn của chồng sau khi chết sẽ được tái sanh lên cõi trời. Sau khi đã thuyết xong bài Pháp này, Đức Phật đã tiếp tục hỏi Sujāta rằng trong 7 loại vợ vừa nêu trên, cô ta thuộc vào loại nào. Sujàta đã trả lời rằng : “ Kể từ ngày hôm nay, con quyết định sẽ làm một người vợ giống như một người hầu”. Ngày nay, có một số người đàn ông lịch thiệp thường gọi vợ của họ là “ mẹ”, mặc dù những người đàn ông này không nói năng với vợ của họ như nói với một người mẹ. Họ chỉ gọi như vậy thôi, bởi vì đây là một cách xưng hô tốt và lịch sự. Từ “ mẹ ” được xử  dụng như một cách xưng hô với vợ mình có thể giúp cho những người đàn ông lịch thiệp được tái sanh lên cõi trời sau khi chết, đồng thời khi dùng từ này, họ cũng có ngụ ý muốn tán dương hay ca ngợi vợ của mình. 

 

                       Bảy phẩm chất của một người bạn tốt

 

Loài người có quan hệ xã hội. Họ sống vì lợi ích cho kiếp sống hiện tại và những kiếp sống mai sau. Vì vậy, họ cần phải có những người bạn tốt. Bởi vì khi có nhiều bạn tốt, người ta sẽ được hạnh phúc và thịnh vượng trong kiếp sống này và những  kiếp sống mai sau. Đó là lý do tại sao, Đức Phật đã thuyết Pháp về 7 phẩm chất của một người bạn tốt mà chúng ta nên quan hệ và kết giao. Bảy phẩm chất đó là :

1. Duddadam dadāti  -  Cho đi những thứ khó cho.

2. Dukkaram karotiThực hiện những công việc khó thực hiện.

3. Dukkhaman khamati  -  Kiên nhẫn trước những điều khó kiên nhẫn.

4. Guyhamassa āvikoroti  -  Tin tưởng về những điều đã nói riêng với nhau.

5. Guyhamassa āvikoroti  -  Không tiết lộ bí mật của bạn.

6. Apadāsu na jahati  -  Không bỏ rơi bạn trong lúc nguy hiểm.

7. Khinena nātimannati  -  Không hành động một cách trân tráo, vô liêm sĩ trong lúc bạn đang rơi vào nghịch cảnh.

 Nhận biết một người bạn tốt qua thăng trầm của cuộc sống

Mọi người đang sinh sống trong thế giới này phải đối diện với những thăng trầm của cuộc sống. Đối với họ, có khi cuộc sống là tốt nhưng cũng có khi cũng là xấu. Chúng ta cần phải giúp đỡ về mặt vật chất và động viên tinh thần cho những người bạn của mình, mỗi khi họ bị rơi vào nghịch cảnh.Vì vậy, chúng ta nên quan hệ và kết giao với những người bạn tốt và đúng nghĩa.

 Cho đi những thứ khó cho

Có nhiều trường hợp, bạn cũng cần phải cho đi những của cải mà mình đã kiếm được. Chỉ khi cho đi những của cải của chính mình, bạn sẽ tránh được những điều khó khăn. Trong thực tế, điều này là rất khó thực hiện. Tuy nhiên, khi bạn bị rơi vào một hoàn cảnh khó khăn, bổng nhiên có một người bạn tốt đến thăm và cho bạn những món quà giá trị khó có thể cho. Đến lúc đó, bạn mới hiểu được thế nào là cái cao quí của sự bố thí. Một người bạn tốt và đúng nghĩa vừa nêu trên là người mà chúng ta nên quan hệ và kết giao.

Thực hiện những công việc khó thực hiện

Khi bạn đã già hay bị bệnh tật nhưng không có ai chăm sóc cho, một người bạn tốt và đúng nghĩa đã đến chăm sóc bạn, thậm chí là giúp cho bạn đi vệ sinh. Đây là dạng người mà bạn nên thường xuyên quan hệ và kết giao.

 Kiên nhẫn trước những điều khó kiên nhẫn

Kể từ khi bạn là một người thế tục, có thể thỉnh thoảng bạn cũng đánh mất sự tự chủ và có những lời nói hay hành động sai lầm, thậm chí là bạo lực đối với những người bạn của mình. Ngay lúc đó, một người bạn tốt và đúng nghĩa sẽ không bao giờ mang tâm sân hận bạn. Anh ta sẽ có đủ tính kiên nhẫn và tha thứ cho bạn. Một người bạn như vậy là một người đáng để quan hệ và kết giao thường xuyên.

 Tin tưởng về những điều đã nói riêng với nhau

Nếu trong quan hệ bạn bè có điều gì đó cần phải tranh cãi hay thảo luận, một người bạn tốt sẽ đến gặp và nói riêng với bạn. Anh ta không bao giờ cho người khác biết về chuyện này. Đây là một người bạn tốt và đúng nghĩa, bạn nên thường xuyên quan hệ, kết giao với anh ta.

 Không tiết lộ bí mật của bạn

Một người bạn tốt sẽ luôn luôn giữ gìn những  bí mật mà bạn đã nói với anh ta. Người này là một người đáng tin tưởng, trung thành với bạn và không bao giờ tiết lộ bí mật mà bạn đã nói với anh ta cho người khác biết. Đây là dạng người mà chúng ta nên thường xuyên quan hệ và kết giao.

 Không bỏ rơi bạn trong lúc nguy hiểm

Khi đang du hành với một vài người bạn trong một chuyến làm ăn buôn bán, có nhiều tình huống có thể xảy ra đe dọa đến tính mạng và tài sản của bạn. Vào lúc đó, một người bạn tốt và đúng nghĩa sẽ không bao giờ bỏ rơi bạn. Đây là dạng người mà bạn nên thường xuyên quan hệ và kết giao.

 Không hành động một cách trân tráo, vô liêm sĩ   

Do ảnh hưởng bởi những tình huống bất lợi, bạn có thể bị rơi vào nghịch cảnh vì đã mất hết của cải. Một người bạn tốt sẽ không bao giờ tỏ ra trịch thượng, phủi tay và có hành động trân tráo đối với bạn. Đối với bạn, anh ta vẫn giữ thái độ như thường ngày và xem như chẳng có điều gì xảy ra. Đây là loại bạn tốt và đúng nghĩa, bạn nên thường xuyên quan hệ và kết giao với dạng người này. Nói tóm lại, một người thiện lành mong muốn gặt hái được nhiều lợi ích trong kiếp sống này và những kiếp sống mai sau cần phải biết quan hệ, kết giao với những loại bạn sau :

1. Người có thể cho đi những thứ khó cho

2. Người có thể thực hiện những công việc khó thực hiện

3. Người có khả năng kiên nhẫn trước những điều khó kiên nhẫn

4. Người tế nhị, đáng tin tưởng và biết được rằng có những chuyện cần phải nói riêng với nhau chứ không thể nói ngay giữa đám đông.

5. Người không bao giờ tiết lộ bí mật của bạn mình

6. Người không bỏ rơi bạn trong lúc nguy hiểm

7. Người không hành động một cách trân tráo, vô liêm sĩ khi thấy bạn bị rơi vào nghịch cảnh.   

                                                                     

                                                            

                           Được trong sạch do có niềm tin

 

Niềm tin( Saddhā – Faith) trong tiềm thức của những người Phật tử là nền tảng tốt đẹp và cao thượng nhất để họ có thể sống một cách hạnh phúc trong cõi luân hồi cho đến khi đạt tới Niết Bàn. Những người có niềm tin sẽ có khả năng thực hiện bố thí ( Dāna – Charity), giữ Giới ( Sīla – To keep the Commandments) và thiền định ( Samātha Bhāvanā – Tranquil Meditation). Đó là lý do tại sao họ có thể sống một cách hạnh phúc trong thế giới của loài người, Chư-Thiên và Phạm-Thiên trước khi đạt tới Niết Bàn. Những người có niềm tin sẽ thực hành thiền minh sát một cách hăng hái mỗi khi họ có cơ hội. Vì vậy, họ sẽ đạt tới Niết Bàn hạnh phúc trong vòng 7 kiếp sống là tối đa. Đó là lý do tại sao niềm tin là nhân tố nền tảng tốt đẹp và cao thượng nhất của tất cả những người Phật tử. Từ saddhā ( Niềm tin) đã được các bậc Trưởng Thượng dịch sang tiếng Anh là faith hay confidence. Tiếng Miến Điện gọi niềm tinyonekyi, từ yonekyi là một từ được kết hợp bởi 2 từ yonekyi, có nghĩa là tin tưởngsáng suốt. Tất cả những người Phật tử nào tin tưởng một cách sáng suốt vào Đức Phật, Phật Pháp, Tăng Già, nghiệp và tác động của nghiệp thì những người đó được cho là có niềm tin. Vì có niềm tin, những người Phật tử đều thờ phụng Đức Phật, thực hành bố thí, giữ Giới và những hành động thiện lành. Nhờ đó, tâm trí của họ đã trở nên tinh khiết và trong sáng. Mỗi khi lý luận để nhận biết được lợi ích của những hành động thiện lành,  tâm trí của những người Phật tử cũng được trong sáng.

Niềm tin vào Đức Phật

Đức Phật mà chúng ta đang thờ phụng không phải tự nhiên mà Ngài đạt tới giác ngộ tối thượng. Ngài đã từng thực hành đạo đức và gặt hái những nghiệp thiện lành một cách không ngừng nghỉ trong suốt 4 A-Tăng- Kỳ và 100 ngàn đại-kiếp. Ngài là một người đã toàn giác, tức thông suốt mọi sự. Vì vậy , những người Phật tử có niềm tin vào Đức Phật.

  Được trong sạch do có niềm tin vào Đức Phật

Bồ -Tát Cồ Đàm đã tích luỹ các hạnh Ba-La-Mật trong suốt 4 A-Tăng- Kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Cuối cùng, Ngài đã đạt tới giác ngộ tối thượng và trở thành Phật. Khi đã trở thành Phật , Ngài được biết đến như là Đấng Toàn Giác ( thông suốt mọi sự). Vì vậy, nếu có niềm tin vào Đức Phật và thờ phụng Ngài, chúng ta phải dâng lên Ngài các loại hoa, nước uống, các loại ánh sáng và vật thực. Nhờ đó, tâm trí của chúng ta sẽ trở nên tinh khiết và trong sáng.

 Niềm tin vào Phật Pháp

Những lời dạy của Đức Phật mà chúng ta đang tôn kính và thực hành theo như bố thí, giữ gìn 5 Giới, thiền tứ niệm xứ ( Satipatthāna Bhāvanā , tức thiền minh sát)… đã được chính Đức Phật truyền bá. Những người thực hành thiền minh sát sẽ thoát khỏi địa ngục luân hồi, loại bỏ được tất cả những loại khổ đau và cuối cùng sẽ đạt tới Niết Bàn.

 Được trong sạch do có niềm tin vào Phật Pháp

Phật Pháp mà chúng ta đang thực hành sẽ khiến cho chúng ta có thể thoát khỏi địa ngục và loại bỏ được tất cả những thứ khổ đau trong cuộc sống hiện tại cho đến khi đạt tới Niết Bàn. Nếu có niềm tin như vậy, chúng ta phải tôn kính Phật Pháp bằng cách đọc tụng các loại Kinh Điển Phật Giáo, thực hành thiền minh sát để gặt hái kiến thức nội quán. Vì vậy, nếu có niềm tin vào Phật Pháp, tâm trí của chúng ta sẽ trở nên tinh khiết và trong sáng. Sự trong sạch của tâm trí sẽ đặc biệt rõ ràng hơn khi chúng ta gặt hái được trí tuệ hiểu biết về trạng thái sanh diệt của vạn hữu

 ( Udayabbaya Ñāna). Trước khi đạt tới trí tuệ hiểu biết về trạng thái sanh diệt của vạn hữu, người thực hành thiền minh sát cần phải đạt tới trạng thái hiểu biết có thể phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất ( Nāma - Rūpapariccheda Ñāna – The stage of the knowledge of the distinction between mind and matter), trạng thái hiểu biết về nhân quả ( Paccayapariggha Ñāna – The stage of the knowledge of cause and effect), trạng thái hiểu biết về chân lý vô thường, khổ và vô ngã ( Sammasana Nàna – The stage of the knowledge truth of anicca, dukkha, anatta ). Để đạt được những điều đó, chúng ta phải giữ gìn cho thân thể của mình được đúng đắn, ngăn chặn không để cho tâm trí lang thang vô định, hội tụ sự chú ý trên thân thể, tinh khiết hoá và làm cho tâm trí trở nên trong sáng. Khi đã có khả năng duy trì sự chú ý một cách liên tục và chính xác, đạt tới trí tuệ hiểu biết về trạng thái sanh diệt của vạn hữu, bạn sẽ trải nghiệm được một trạng thái cực kỳ hạnh phúc, hoan hỷ và nhẹ nhàng trong thân tâm. Khi tâm trí đã được đào luyện, sự chú ý của bạn sẽ trở nên mạnh mẽ hơn trước. Lúc đó, bạn sẽ có khả năng chú ý để nhận thức một đối tượng nào đó một cách dễ dàng và thuận tiện hơn trước rất nhiều ( khi tâm trí chưa được đào luyện). Bởi vì đã có khả năng tập trung sự chú ý một cách dễ dàng và thuận tiện, bạn sẽ gặt hái được lạc thọ hoan hỷ minh sát ( Vipassanā pīti sukha ). Đức Phật đã từng dạy rằng, những người bình thường ở cõi trời không thể gặt hái được lạc thọ hoan hỷ và trạng thái trong sáng của tâm trí, chỉ có con người là có thể gặt hái được những điều đó. Đúng theo những lời giáo huấn của Đức Phật, nếu có niềm tin vào Phật Pháp và thực hành thiền minh sát, bạn sẽ có được một tâm trí tinh khiết và trong sáng.

 Niềm tin vào Tăng Già

Tăng Già( Sangha – Buddhist monastic community) mà chúng ta đang tôn kính là những hậu dụê của những Tăng Già cao quí trong thời Đức Phật còn tại thế. Sự thực hành Phật Pháp của họ là thiện lành và đúng đắn. Họ thực hành Phật Pháp để gặt hái Niết Bàn hạnh phúc. Họ giống như những cánh đồng phì nhiêu, nơi người ta có thể gieo xuống đó những hạt giống tốt lành. Những hạt giống này sẽ phát triển và thịnh vượng. Một khi bạn đã tin rằng, Tăng Già là những người đang thực hành Phật Pháp vì lợi ích của nhiều người khác thì lúc đó, bạn đã có niềm tin vào Tăng Già.

  Được trong sạch do có niềm tin vào Tăng Già

Khi đã có niềm tin vào Tăng Già, bạn phải thờ phụng và tôn kính Tăng Già, dâng cúng tứ vật dụng cho Tăng Già, thực hiện những hoạt động để phụng vụ Tăng Già, quì lạy và đảnh lễ Tăng Già. Vì vậy, tâm trí của bạn sẽ trở nên tinh khiết và trong sáng. Sự trong sáng của tâm trí sẽ hiển lộ một cách rõ ràng khi bạn gần gũi và thân thiện với các bậc Trưởng-Lão và Tăng Già có thực hành việc giữ Giới, thiền định và thiền minh sát.

  Niềm tin vào nghiệp

Nghiệp thiện lành như bố thí không phát xuất từ thể xác mà phát xuất từ tâm trí. Bạn không thể thấy được danh pháp ( tức tâm trí hay tinh thần) bằng mắt thường. Điều này không có nghĩa là các nghiệp thiện lành không mang lại lợi ích gì cả. Nếu những nghiệp thiện lành chưa mang lại lợi ích cho bạn trong kiếp sống này, chúng vẫn luôn hiện hữu trong tiềm thức của bạn cho đến khi bạn đạt tới Niết Bàn. Mỗi khi tin như vậy, bạn đã có niềm tin vào nghiệp ( Kamma – Action).

 Được trong sạch do có niềm tin vào nghiệp

Nếu đã có niềm tin vào nghiệp, bạn cần phải thực hiện những hành động thiện lành. Mặc dù bạn chưa nhận biết được sự lợi ích của những hành động thiện lành. Tuy nhiên, những nghiệp thiện lành vẫn luôn hiện hữu trong tiềm thức của bạn như là một loại tài sản riêng, cho đến khi bạn đạt tới Niết Bàn. Bởi vì có niềm tin vào nghiệp, bạn sẽ thực hiện những hành động thiện lành. Nhờ đó, tâm trí của bạn sẽ trở nên tinh khiết và trong sáng.

 Niềm tin vào tác động của nghiệp

Những người thực hiện những hành động thiện lành như bố thí chẳng hạn, sẽ gặt hái được những lợi ích ngay trong kiếp sống ở hiện tại. Những lợi ích này có nguồn gốc từ trạng thái tâm tự nguyện đã phát khởi vào giây đầu tiên, kể từ khi họ bắt đầu thực hiện hành động bố thí.Trong kiếp sống thứ hai, họ cũng sẽ gặt hái được những lợi ích đến từ trạng thái tâm tự nguyện đã phát khởi vào giây thứ 7, kể từ khi họ bắt đầu thực hiện hành động bố thí trong kiếp sống này.Tâm tự nguyện đã phát khởi trong giây thứ 5, kể từ khi họ bắt đầu thực hiện hành động bố thí trong kiếp sống ở hiện tại sẽ mang lại những lợi ích cho họ vào kiếp sống thứ 3 cho đến khi đạt tới Niết Bàn. Mỗi khi tin như vậy thì bạn đã có niềm tin vào tác động của nghiệp rồi.

 Được trong sạch do có niềm tin vào tác động của nghiệp

Khi đã có niềm tin vào tác động của nghiệp, bạn sẽ gặt hái được những lợi ích trong kiếp sống ở hiện tại, trong kiếp sống thứ hai và kiếp sống thứ ba cho đến khi đạt tới Niết Bàn. Mỗi khi quán niệm về những lợi ích do tác động của nghiệp thiện lành mang lại, tâm trí của bạn sẽ trở nên tinh khiết và trong sáng. Khi có niềm tin đúng đắn, tâm trí của bạn sẽ trở nên trong sáng bởi vì niềm tin là nhân tố nền tảng cao thượng nhất trong quá trình phát triển sự nhận thức. Những người có niềm tin mạnh mẽ và tròn đủ sẽ có khả năng thực hành bố thí, giữ Giới, thiền định và thiền minh sát. Vì vậy, họ sẽ được hạnh phúc trong cõi luân hồi cho đến khi đạt tới Niết Bàn. Họ chỉ còn phải sống trong luân hồi tối đa là trong 7 kiếp nữa mà thôi. Sau đó, họ sẽ đạt tới Niết Bàn.

                                                                               ( Am ttha – 1 / 369)        

 

                         Những sự thật về bình minh

 

Khoảng thời gian lúc bình minh đang hiện khởi có thể không quan trọng đối với những người bình thường. Tuy nhiên, đối với các bậc Trưởng Thượng và Tăng Già, những người tôn kính ngày Sabbath và các hành giả thực hành thiền minh sát thì khoảng thời gian này là cực kỳ quan trọng, đặc biệt là đối với Tăng Già. Nếu Tăng Già không nhớ đến khoảng thời gian lúc bình minh đang hiện khởi thì có thể họ sẽ bị vi phạm Giới luật. Đối với những người tôn kính ngày Sabbath và các hành giả thực hành thiền minh sát, nếu họ không nhớ đến khoảng thời gian đó thì xem như họ đã phá vỡ Giới luật không được ăn sái giờ ( Vikālabhoanā) . Đó là lý do tại sao những bậc Trưởng Thượng có Giới đức ( Sīlavanta) đều đặc biệt chú ý đến khoảng thời gian lúc bình minh đang lên. Nếu những người vừa nêu trên không nhớ đến khoảng thời gian lúc bình minh đang hiện khởi và những điều mà họ có thể làm trước lúc bình minh thì họ có thể vi phạm những điều sau đây :

1. Cất giữ các loại vật thực và ăn chúng trước lúc bình minh

2. Ăn sau sau giờ ngọ ( giờ ngọ bắt đầu từ 11 giờ trưa cho đến 13 giờ)

3. Đi đến một nơi khác trước lúc bình minh và không mặc tam y ( Adhitthāna Ticīvarit)

 Cất giữ các loại vật thực và ăn chúng trước lúc bình minh

Một vài Tỳ Kheo đã thọ nhận vật thực cúng dường từ ngày hôm trước và cất giữ chúng để ăn trong ngày kế tiếp. Những Tỳ Kheo này đã vi phạm Giới luật không được ăn các loại vật thực cất giữ. Như vậy, họ đã vi phạm Giới luật Pāsik Āpatti. Nếu các Tỳ-kheo thọ nhận các loại vật thực trước lúc bình minh và ăn chúng sau bình minh thì cũng bị xem như đã vi phạm Giới luật Pāsik Āpatti.

  Ăn sau bữa giờ ngọ

Mặc dù đã được giáo huấn về Giới hạnh ( Sikkhā) rằng không được ăn các loại vật thực sau giờ ngọ. Tuy nhiên, có một vài Tỳ-kheo vẫn làm như thế. Như vậy là họ đã vi phạm Giới luật Pāsik Āpatti. Những Tỳ Kheo đã ăn các loại vật thực trước lúc bình minh cũng bị xem như họ đã thọ thực sau giờ ngọ, bởi vì khoảng thời gian trước lúc bình minh là lúc mà một ngày mới chưa đến.

 Đi đến một nơi khác trước lúc bình minh và không mặc tam y

Có một số Tỳ Kheo rời khỏi nơi cư trú để đi đến một nơi khác trước lúc bình minh và không mặc tam y. Những Tỳ Kheo này đã vi phạm giới luật mà Đức Phật đã ban bố. Như vậy, họ đã vi phạm Giới luật Nissaggi Pāsik Āpatti. Đó là lý do tại sao, những Tỳ-kheo không được rời khỏi nơi cư trú để đi đến một nơi khác trước lúc bình minh và không mặc tam y. ( Điều này có nghĩa là họ không được đi đến một nơi khác trước lúc bình minh khi đang cư trú tại một nơi nào đó. Đồng thời khi rời khỏi nơi đang cư trú, họ phải mặc đủ tam y – ND). Liên quan đến khoảng thời gian mà bình minh đang hiện khởi còn có nhiều Giới luật khác. Tuy nhiên, trong phạm vi bài thuyết Pháp này, chúng tôi chỉ đề cập đến những điều quan trọng nhất. Như vậy, nếu khi đã vi phạm Giới luật, dù là Giới luật nhỏ hay lớn cũng đều là vi phạm. Những bậc Trưởng Thượng có Giới đức thường xem trọng khoảng thời gian lúc bình minh đang hiện khởi. Họ đã được học tập và thường xuyên ghi nhớ về khoảng thời gian này.Vì vậy, để tránh được những sự vi phạm Giới luật có liên quan đến khoảng thời gian lúc bình minh đang hiện khởi, các bậc Trưởng Thượng ngày xưa đã dạy rằng, các Tỳ Kheo nên thức dậy cùng một lúc khi bình minh sắp lên. Thường xuyên hội họp để bàn chuyện vào khoảng thời gian mà bình minh sắp lên để mọi người có thể nhớ về khoảng thời gian này một cách dễ dàng hơn.

 

        Tránh được nhiều loại bệnh tật bằng cách trở thành

                             những Bậc Cao Thượng

 

Những người biết được lợi ích của việc thực hành thiền minh sát sẽ thực hành loại thiền này bất cứ lúc nào mà họ có thời gian. Thực hành thiền minh sát là cách xử dụng thời gian hữu ích nhất. Việc thực hành thiền minh sát sẽ mang lại cho bạn 2 lợi ích lớn nhất. Một mặt, bạn có thể loại bỏ được tham lam, sân hậnsi mê – những căn bệnh của tinh thần có thể dẫn đưa chúng ta xuống địa ngục. Mặt khác, bạn có thể phát triển được trạng thái định tâm và đạt tới Niết Bàn .Vì vậy, trong mỗi sự chú ý khi đang thực hành thiền minh sát, bạn sẽ tích luỹ được 2 lợi ích lớn lao vừa nêu trên. Thực hành thiền minh sát tức là nhận thức, vun trồng Thất giác chi ( 7 nhân tố dẫn đến giác ngộ - Bojjhanga) và Tứ diệu đế để trở thành những bậc cao thượng. Nhờ đó, các loại bệnh tật sẽ bị tiêu trừ. Từ bojjhanga là sự kết hợp của 2 từ bodhianga. Từ bodhi nghĩa làgiác ngộ hayđã nhận thức được Tứ diệu đế. Từ anga có nghĩa là những nhân tố cần thiết (để trở thành những bậc cao thượng). Những người thực hành Thất giác chi để trở thành những bậc cao thượng phải nhận thức được Tứ diệu đế và loại bỏ được những căn bệnh thuộc về tinh thần. Nếu đọc tụng Kinh Thất Giác Chi ( Bojjhanga Sutta), bạn sẽ có khả năng  tự giải phóng ra khỏi những nỗi khổ đau. Trong thời Đức Phật còn tại thế, một hôm Tôn Giả Xá-Lợi-Phất ( Asin Sariputta) và Tôn Giả Mục- Kiền- Liên

( Asin Moggallāna) đột nhiên trở bệnh. Lúc đó, Đức Phật đã đến thăm 2 Ngài và đọc tụng Kinh Thất Giác Chi. Sau đó, Tôn Giả Xá-Lợi- Phất và Tôn Giả Mục-Kiền-Liên đã được lành bệnh. Đó là lý do tại sao, chúng ta có thể biết rằng, bằng cách đọc tụng và vun trồng 7 nhân tố giác ngộ ( tức Thất giác chi) thì người ta sẽ trở thành những bậc cao thượng, những loại bệnh tật mà họ đã mắc phải cũng sẽ được chữa khỏi. Những người mong muốn thực hành Thất giác chi phải thực hành thiền tứ niệm xứ ( Catu Satipatthāna Bhāvanā. Đây cũng là một loại thiền minh sát - ND). Khi thực hành loại thiền này, hành giả phải thực hành sự chú ý để nhận thức trên 4 đề mục nền tảng là thân, thọ, tâm, pháp. Bằng cách thực hành thiền tứ niệm xứ, bạn cũng có thể vun trồngThất giác chi. Những người thực hành thiền minh sát theo đúng phương pháp của Ngài Đại Trưởng Lão Mahasì phải biết chọn một nơi yên tĩnh và một tư thế thực hành thiền thích hợp để có thể ngồi thiền được lâu. Bạn có thể ngồi bắt tréo 2 cẳng chân lại với nhau theo thế hoa sen hoặc ngồi trên 2 đầu gối gặp lại theo thế khổ hạnh, giữ đầu và lưng trên một đường thẳng, nhắm mắt và hội tụ tâm ý một cách tích cực lên bụng. Khi bạn đang thở vào, bụng sẽ dần dần phồng lên, lúc này bạn cần niệm thầm trong tâm “ đang phồng lên, đang phồng lên…”. Bạn không cần chú ý để nhận thức hình dáng của bụng, bởi vì hình dáng này chỉ là một khái niệm ( Paññatti - Concept), bạn chỉ cần chú ý tích cực đến chuyển động đang dần dần căng lên của bụng, khi không khí từ bên ngoài đi vào trong bụng, bởi vì chuyển động này chính là thực tại cùng tột

( Paramattha – Ultimate reality). Khi bạn thở ra, bụng sẽ dần dần xẹp xuống, ngay lúc này bạn phải niệm thầm trong tâm “ đang xẹp xuống, đang xẹp xuống…”. Bạn không cần chú ý đến hình dáng của bụng, bởi vì nó chỉ là khái niệm ( Pannatti), bạn chỉ cần tập trung chú ý một cách tích cực để nhận thức được bản chất của chuyển động đang dần dần xẹp xuống của bụng, bởi vì chuyển động này chính là thực tại cùng tột ( Paramattha). Khi khả năng tập tâm ý của bạn đã phát triển, nếu chú ý đến chuyển động đang dần dần phồng lên của bụng, bạn sẽ nhận thức được rằng, tiến trình này là hoàn toàn tách biệt với sự chú ý của tâm trí. Nói cách khác, tiến trình đang phồng lên của bụngsự chú ý của tâm trí không phải là một, chúng là 2 tiến trình tách biệt. Trên một phương diện khác, khi chú ý đến tiến trình đang dần dần xẹp xuống của bụng, bạn sẽ nhận thức được rằng, tiến trình này là thuộc về sắc pháp ( tức vật chất - Rūpa), nó hoàn toàn khác với tiến trình chú ý của tâm trí. Tiến trình phồng lên và xẹp xuống của bụng có tính hữu hình

(Visible), bạn có thể nhìn thấy được những tiến trình này bằng mắt thường, chúng không hề có sự nhận thức bởi vì chúng thuộc về sắc pháp ( tức vật chất – Rūpa – matter). Trong khi đó, sự chú ý của tâm trí có tính vô hình ( Invible), chúng ta không thể nhìn thấy nó bằng mắt thường bởi vì nó thuộc về danh pháp ( tức tinh thần – Nāma – Name or spirits). Từ đó, bạn sẽ có khả năng phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Nói cách khác, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất ( Nāma rūpapariccheda Nāna). Khi thực hành sự chú ý liên tục và năng lực định tâm đã phát triển mạnh mẽ, bạn sẽ nhận thức được rằng, bởi vì hiện tượng đang phồng xẹp lên xuống của bụng đã xuất hiện trước, nên sự chú ý của tâm trí mới khởi lên sau và hướng đến hiện tượng này. Hiện tượng đang phồng xẹp lên xuống của bụngnguyên nhânsự chú ý của tâm tríkết quả. Do đó, bạn sẽ nhận thức được luật nhân quả ( Paccayapariggaha Nāna – The law of cause and effect ). Khi thực hành sự chú ý một cách liên tục và đã gặt hái được một năng lực tập trung tâm ý cao hơn, 3 giai đoạn phồng xẹp lên xuống của bụng ( giai đoạn đầu, giai đoạn giữa và giai đoạn cuối) sẽ trở nên rất rõ ràng trong sự nhận thức của bạn. Những khổ thọ như cảm giác đau nhức, ngứa ngáy, tù túng…cũng sẽ xuất hiện một cách rõ ràng hơn. Tiếp đến, bạn sẽ gặt hái được trí tuệ lãnh hội ( Sammasama Nāna) và nhận thức được rằng, khổ thọ ( Dukkha vedanā) là vô thường ( Anicca), khổ ( Dukkha) và vô ngã ( Anatta). Khi đang liên tục chú ý và khả năng tập trung tâm ý đã phát triển mạnh mẽ, bạn sẽ nhận thức được một cách rõ ràng tiến trình đang phồng xẹp của bụng đã khởi lên và cuối cùng sẽ biến mất đi. ( Bạn cần phải chú ý liên tục từ khi tiến trình này mới khởi lên cho đến khi đã biến mất hẳn) . Lúc đó, bạn sẽ cảm thấy thân tâm của mình trở nên rất nhẹ nhàng và sự chú ý cũng đã tốt hơn. Trạng thái tâm thức này được gọi là hoan hỷ minh sát ( Pīti Vipassanā). Vào giai đoạn đó, bạn sẽ trải nghiệm được trạng thái yên tĩnh của thân thể ( Kāya Passaddhi) và trạng thái yên tĩnh của tâm trí ( Citta Passaddhi) mà bạn chưa bao giờ được trải nghiệm trong suốt cuộc đời của mình. Khi đã có khả năng chú ý một cách liên tục và chính xác đến tiến trình bắt đầu phồng lên cho đến khi đã căng hết mức của bụng, tiến trình bắt đầu xẹp xuống cho đến khi đã xẹp hết mức của bụng thì khả năng đó sẽ khiến cho bạn có thể định tâm. Lúc đó, thân tâm của bạn mới thật sự được yên tĩnh. Vì vậy, khi đã nhận biết được một cách rõ ràng rằng, tiến trình phồng lên và xẹp xuống của bụng khởi lên và biến mất đi như thế nào, đến lúc đó, bạn đã gặt hái được trí tuệ hiểu biết về tạng thái sanh diệt của các hiện tượng

( Udayabbaya – Nāna).

  Thực hiện sự vun trồng Thất giác chi bằng cách thực hành thiền minh sát

1. Bằng cách chú ý đến tất cả mọi hiện tượng đang khởi lên như : Tiến trình đang phồng xẹp của bụng, các chuyển động đang bước đi của bàn chân, tiến trình đang co duỗi cánh tay… ( niệm giác chi - Sati Sambojjhanga).

2. Phân biệt sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất ( Nāmarūpa Pariccheda Nàna), gặt hái được kiến thức về luật nhân quả ( Paccaya pariggaha Nàna), nhận thức được tínhvô thường,khổvô ngã bằngtrí tuệ lãnh hội ( Sammasana Nāna), gặt hái được sự hiểu biết về trạng thái sanh diệt của các hiện tượng

( Udayabbaya Nāna) và gặt hái được tuệ minh sát sau khi đã đạt tới một trình độ nội quán cao cấp đối với tất cả các pháp cấu thành ( Sankhāra Dhamma). Nói cách khác, bạn đã thực hành trạch pháp giác chi ( Vicaya Sambojjhanga).

3. Nổ lực chú ý đến tất cả những gì đang xảy ra như : Tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng, cảm giác đang ngứa ngáy…đồng thời giữ cho đầu và thân thể nằm trên một đường thẳng với một tâm trí ổn định ( tinh tấn Giác chi – Viriya Sambojjhanga).

4. Trong trạng thái trí tuệ nhận biết được tiến trình sanh diệt của các hiện tượng

 ( Udayabbaya Nāna), bạn sẽ trải nghiệm được một trạng thái tâm thức cực kỳ thú vị, hạnh phúc và 5 loại hoan hỷ tái hiện nhiều lần ( hoan hỷ giác chi – Pīti Sambojjhanga).

5. Cũng trong trạng thái trí tụê nhận biết được trạng thái sanh diệt của các hiện tượng, bạn sẽ trải nghiệm được trạng thái yên bình và tĩnh lặng của thân thể

( Kāya passdhi) mà trước đây mình chưa bao giờ được trải nghiệm. Bạn cũng sẽ trải nghiệm được trạng thái tâm mát mẻ, trầm tĩnh và thanh bình ( Citta passadhi). Những trạng thái mà mà sẽ trải nghiệm vừa nói trên chính là khinh an giác chi ( Passaddhi Sambojjhanga).

6. Bắt đầu từ trí tụê hiểu biết có thể phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất ( Nāma Rūpa Parriccheda Nāna), bạn sẽ tiến tới một trình độ nội quán cao cấp hơn. Lúc đó, năng lực tập trung tâm ý của bạn đã thật sự được thiết lập một cách vững chãi trong từng giây từng phút trên các đối tượng của giác quan như : Tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng, cảm giác đang ngứa ngáy, đau nhức …từ lúc những đối tượng này bắt đầu khởi lên cho đến khi đã chấm dứt hẳn. Trình độ nội quán cao cấp này chính là định giác chi ( Samādhi Sambojjhanga).

7. Khi trạng thái trí tuệ hiểu biết được tiến trình sanh diệt của các hiện tượng ( Udayabbaya Nàna ) và kiến thức về sự cấu thành của vật chất

( Sankhārūpekkha Ñāna ) đã chín muồi,  mặc dù bạn không cần nổ lực để chú ý đến các hiện tượng đang khởi lên, tuy nhiên tâm của bạn vẫn tự động hướng sự chú ý đến các hiện tượng đó. Tâm thức của bạn trong giai đoạn này sẽ rất bình thản, không cảm thấy hạnh phúc cũng không cảm thấy đau khổ. Trạng thái tâm thức này chính là xả giác chi ( Upekkhà Sambojjhanga).  Vì vậy, những hành giả thực hành thiền tứ niệm xứ và gặt hái được kiến thức nội quán hay tuệ minh sát

( Vipassanā Nāna – Insight knowledge ), họ sẽ nhận thức được Tứ diệu đế ( Ariyàsaccàni – Four Noble Truths) và trở thành những bậc cao thượng ( Ariyàs). Những căn bệnh thông thường mà họ đã mắc phải sẽ được chữa khỏi khi đạt tới trí tuệ nhận biết được trạng thái sinh diệt của các hiện tượng ( Udayabbaya Nāna). Những căn bệnh hiểm nghèo, nan y mà họ đã mắc phải có thể được chữa khỏi khi họ gặt hái được trí tuệ hiểu biết về sự cấu thành của vật chất

( Sankhārūpekkha Nàna).

    

                   Cách thức ủng hộ cao thượng nhất

 

Cùng nhau sinh sống trong thế giới của loài người, trong một căn nhà, một tu viện, một thị trấn hay một ngôi làng… chúng ta cần phải ủng hộ và tôn trọng danh dự của người khác. Nếu một người nào đó không ủng hộ và giúp đỡ cho người khác thì chắc chắn anh ta phải gặp nhiều sự khổ đau. Chỉ khi đã biết giúp đỡ và tôn trọng danh dự của người khác, anh ta mới được hạnh phúc trong kiếp sống hiện tại và những kiếp sống tương lai, khi phải tái sanh vào luân hồi. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã thuyết Pháp về 4 nhân tố làm nên sự ủng hộ và tôn trọng danh dự của người khác. Bốn nhân tố đó là :

1. DānaBố thí

2. PeyyāvajjaNói lời nhu hoà

3. Atthācariya  - Làm việc vì lợi ích của người khác

4. Samānattatā  -  Xem người khác như bản thân mình

                                                           ( Am – 3 / 174)

Tóm tắtBố thí, nói lời nhu hoà, làm việc vì lợi ích của những người khác và xem người khác như bản thân mình là 4 nhân tố của sự ủng hộ.

1. Bố thí

 Có nhiều kiểu bố thí thông thường như : Bố thí vật thực, nước uống, y phục, giường ngủ, phương tiện đi lại, các loại dù che, giày ủng, thuốc men chữa bệnh và nhiều loại trang thiết bị khác… Ngoài ra, người ta còn có thể bố thí Pháp, tức bố thí bằng cách thuyết Pháp cho người khác nghe, ấn tống các loại Kinh sách, băng hình, đĩa từ nói về Phật Pháp… Trong tất cả các loại hình bố thí thường thấy, bố thí Pháp là vượt trội hơn cả. Vì vậy, bố thí Pháp là kiểu ủng hộ cao thượng nhất. Đức Phật đã từng nói rằng bố thí Pháp thực chất là bố thí Niết Bàn. Chỉ bằng cách lắng nghe thuyết Pháp người ta cũng có thể gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn hạnh phúc. Ngoại trừ Đức Phật và các vị Phật Độc giác ( ( Pacceka Buddha), không có một ai có thể gặt hái Niết Bàn mà không cần lắng nghe thuyết Pháp. Thậm chí các vị đệ tử ( Sāvaka – Disciple) cao thượng bậc nhất của Đức Phật là Tôn Giả Xá-Lợi-Phất ( Asin Sàriputta) và Tôn giả Mục- Kiền- Liên ( Asin Moggallāna) cũng phải lắng nghe thuyết Pháp từ Tôn giả Assaji để gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn. Đó là lý do, tại sao bố thí Pháp là kiểu bố thí cao thượng nhất. Ủng hộ và tôn trong danh dự của người khác bằng cách bố thí Pháp là cao thượng nhất.

2. Nói lời nhu hoà

Có nhiều kiểu nói tốt đẹp dành cho người nghe. Nói lời nhu hoà nghĩa là : Nói đúng thời, nói đúng đối tượng, nói lời lịch thiệp và dịu dàng, nói lời hữu ích và thân mật, nói lời yêu thương tử tế hay nói với tâm từ ( Mettā – Lovingkindness), thuyết Pháp cho người đang mong muốn nghe Pháp và nói lời vui vẻ dễ thương.

Vì vậy, nói lời nhu hoà là cách ủng hộ cao thượng nhất. Trong tất cả cách nói nhu hoà thì thuyết Pháp cho người đang mong muốn nghe Pháp là cao thượng nhất, bởi vì một thính giả có lòng mong muốn nghe Pháp là một đối tượng thích đáng

( Dhamma sàvana sappāya). Thuyết Pháp cho thính giả này nghe sẽ có thể khiến cho người này gặt hái được Pháp Cao Thượng nhất là Đạo Quả và Niết Bàn. Đó là lý do tại sao, bố thí Pháp bằng những lời lẽ lịch thiệp, lời yêu thương tử tế cho người đang có mong muốn nghe Pháp là một cách cao thượng nhất để ủng hộ và tôn trọng danh dự của người khác.

 

3. Làm việc vì lợi ích của người khác

 Có nhiều cách làm việc vì lợi ích của người khác ( ở đây là những người đang mong muốn được giúp đỡ). Bạn có thể giúp đỡ cho những ai có mong muốn đạt được những gì có liên quan đến nghề nghiệp, giúp đỡ cho họ có thể kiếm được nhiều của cải và trở nên giàu có, giúp đỡ họ về mặt sức khoẻ và niềm tin. Đối với những người chưa biết cách thực hành bố thí, giữ Giới và trí tuệ, bạn có thể giúp đỡ cho họ có khả năng thực hiện những công việc đó. Trong tất cả những loại công việc vì lợi ích của người khác, việc giúp đỡ cho một người chưa có niềm tin trở thành có niềm tin, chưa biết cách giữ Giới trở thành biết giữ Giới, chưa biết cách bố thí trở thành biết bố thí là cao thượng và mang lại nhiều lợi ích nhất.

4. Xem người khác như bản thân mình

Kể từ khi là một người thế tục, bạn phải sinh sống, ăn uống, đi du lịch…cùng với những người thế tục khác, Vì vậy, bạn cần phải ủng hộ cho những người thế tục. Nếu một người nào đó là một Tu-Đà-Hườn thì vị này cần phải sinh sống, ăn uống và đi lại với những Tu-Đà-Hườn khác. Vì vậy, vị này cần phải ủng hộ cho những Tu-Đà-Hườn. Nếu một người nào đó là một Tư-Đà-Hàm thì vị này phải sinh sống , ăn uống và đi lại với những Tư-Đà-Hàm khác. Vì vậy, vị này cần phải ủng hộ cho  những Tư-Đà-Hàm. Nếu một người nào đó là một A-Na-Hàm thì vị này phải sinh sống, ăn uống và đi lại cùng với những A-Na-Hàm khác, Vì vậy, vị này cần phải ủng hộ những A-Na-Hàm. Nếu một người nào đó là một A-La-Hán thì vị này phải sinh sống, ăn uống và đi lại với những A-La-Hán. Vì vậy, vị này cần phải ủng hộ cho các A-La-Hán. Ủng hộ những người thế tục là một cách đối xử tử tế. Ủng hộ các vị Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm và A-La-Hán là một cách đối xử tử tế khác. Trong nhiều cách ủng hộ này,  cách ủng hộ cho các vị Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm và A-La-Hán là cao thượng nhất. Trong nhiều cách ủng hộ đa dạng như :

- Bố thí Pháp bằng cách thuyết Pháp là ủng hộ.

- Bố thí Pháp bằng cách nói lời nhu hoà là ủng hộ.

- Giúp đỡ cho người khác đạt được niềm tin, biết cách bố thí, giữ Giới và thực hành trí tuệ là ủng hộ.

- Ủng hộ các vị Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm và A-La-Hán là cách ủng hộ cao thượng nhất. Đây là những lời thuyết Pháp của Đức Phật. Những người nào mong muốn đạt được sự thịnh vượng cho chính mình và cho những người khác cần phải thực hành cung cách ủng hộ cao thượng và tôn trọng danh dự của người khác giống như những lời Đức Phật đã truyền bá.

 

                             Gặt hái Phật Pháp bằng cách ủng hộ

 

Trong thời đại ngày nay, nếu người ta thực hành thiền minh sát ( Vipassanā Bhāvanā - Insight Meditation) một cách đúng phương pháp, người ta vẫn có thể nhận thức được Đạo Quả Tu-Đà-Hườn đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật

( Paramitta – Perfection) mà mình đã từng tích lũy. Người ta cũng có thể nhận thức được Pháp Cao Thượng nhất như Đạo Quả và Niết Bàn. Nếu những ai có niềm tin như vậy, họ sẽ có khả năng thực hành thiền minh sát một cách dễ dàng. Những người có ý chí thực hành thiền minh sát cho đến khi nhận thức được Đạo Quả và Niết Bàn thì việc đầu tiên và quan trọng nhất là họ phải có Chánh kiến ( tức sự hiểu biết đúng đắn – Sammādiţţhi – Right View). Chỉ khi chánh kiến đã được vun bồi một cách tốt đẹp và tròn đủ trong tâm thức, người ta mới có thể gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn như đã mong muốn. Đó là lý do tại sao, Đức Phật đã từng nói về 5 nhân tố cần phải ủng hộ để có được Chánh kiến.

Năm nhân tố đó là :                                  

1. Sīla nuggahito - Ủng hộ bằng cách giữ Giới

2. Sutā nuggahito - Ủng hộ bằng kiến thức phổ quát

3. Sakacchā nuggahito - Ủng hộ bằng cách luận Đạo

4. Samātha nuggahito - Ủng hộ bằng thiền định

5. Vipassanā nuggahito - Ủng hộ bằng thiền minh sát

Bằng cách ủng hộ 5 nhân tố này, người thực hành thiền minh sát sẽ thiết lập được Chánh kiến. Những bậc thầy chú giải Kinh Điển đã từng so sánh việc thực hành thiền minh sát giống như việc chăm sóc cho một cây xoài non. Người đã trồng một cây xoài non cần phải bảo vệ và ủng hộ cho nó bằng 5 nhân tố. Chỉ bằng cách bảo vệ và ủng hộ thì cây xoài non mới được thịnh vượng, lớn mạnh và trưởng thành. Từ đó, nó mới có thể ra hoa và kết quả. Tương tự như vậy, chỉ khi Chánh kiến đã được ủng hộ bằng 5 nhân tố thì người thực hành thiền minh sát mới có thể gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn. Người đã trồng một cây xoài non cần phải ủng hộ cho nó bằng 5 nhân tố sau :

1. Ủng hộ bằng cách rào chắn

2. Ủng hộ bằng cách tưới nước

3. Ủng hộ bằng cách nhổ cỏ chung quanh gốc cây

4. Ủng hộ bằng cách loại bỏ những loài côn trùng và sâu bọ hại cây

5. Ủng hộ bằng cách loại bỏ những mạng nhện che phủ cây non

 Tương tự như vậy, người thực hành thiền minh sát phải ủng hộ Chánh kiến bằng 5 nhân tố sau :

1. Giữ Giới

 Những người thực hành thiền minh sát phải thực hành việc giữ Giới một cách vững chãi. Bằng cách giữ Giới, Chánh kiến sẽ được bảo vệ trước những thứ ô nhiễm như tham lam, sân hận, si mê…Điều này tương tự như việc bảo vệ cây xoài non khỏi bị phá huỷ bởi nhiều loại súc vật như trâu, bò, dê…bằng rào chắn.

Tóm tắt: Thực hành giữ Giới giống như việc thiết lập một hàng rào chắn.

Cây xoài non vừa được trồng có thể ví như Chánh kiến. Nếu người trồng cây xoài non không làm một hàng rào để ngăn chặn các loại súc vật như trâu, bò, dê… phá hoại cây non thì cây xoài này sẽ bị các loại súc vật đó phá hoại. Từ đó, nó không thể lớn được và dĩ nhiên nó cũng không thể ra hoa và kết quả. Một cách tương tự, nếu những người thực hành thiền minh sát không giữ Giới một cách vững chãi, không loại bỏ được những thứ ô nhiễm như tham lam và sân hận thì hậu quả là : Chánh kiến sẽ không phát triển được. Vì vậy, họ sẽ không gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn. Đó là lý do tại sao, việc giữ Giới một cách vững chãi có thể ví như việc thiết lập một rào chắn để bảo vệ cho Chánh kiến.

2. Kiến thức phổ quát

Người thực hành thiền minh sát phải biết lắng nghe những bài thuyết Pháp thích đáng để gặt hái kiến thức phổ quát. Bằng cách lắng nghe thuyết Pháp, Chánh kiến sẽ lớn mạnh như thể việc tưới nước hàng ngày cho cây xoài non.Vì vậy, nó sẽ lớn mạnh và không bị khô héo.

Tóm tắt: Kiến thức phổ quát giống như việc tưới nước.

Nếu cây xoài non vừa trồng không được tưới nước, nó có thể bị khô héo và thậm chí là chết đi. Từ đó, dĩ nhiên nó sẽ không thể ra hoa và kết quả. Nếu những người thực hành thiền minh sát không biết cách lắng nghe thuyết Pháp để gặt hái kiến thức phổ quát, họ sẽ trở nên lười biếng và không thường xuyên thực hành thiền.

 Đó là lý do tại sao, Chánh kiến phải được ủng hộ bằng kiến thức phổ quát thông qua việc thường xuyên lắng nghe thuyết Pháp của hành giả.

3. Luận Đạo :

 Những người thực hành thiền minh sát phải biết trình Pháp và luận Đạo với những vị thầy của họ. Bằng cách trình Pháp và luận Đạo với những vị thầy của mình, Chánh kiến của những người thực hành thiền minh sát sẽ phát triển. Nhờ đó, họ sẽ không bị lạc lối trong quá trình thực hành thiền. Nói cách khác, họ sẽ biết cách hội tụ tâm ý một cách trực tiếp và chính xác lên những đề mục hành thiền thích hợp để có thể hiểu được bản chất của tinh thần và vật chất. Điều này giống như việc nhổ cỏ chung quanh gốc của cây xoài non.

Tóm tắt: Luận Đạo giống như việc nhổ cỏ chung quanh gốc của cây xoài non.

Nếu cây xoài non không được nhổ cỏ chung quanh gốc của nó thì nó sẽ không thể thịnh vượng được bởi vì bị cỏ che phủ. Vì vậy, cây xoài này không thể ra hoa và kết quả. Tương tự như vậy, nếu những người thực hành thiền minh sát không biết cách trình Pháp, luận Đạo với những vị thầy của mình, họ sẽ không biết cách hội tụ tâm ý một cách trực tiếp và chính xác lên những đề mục hành thiền thích hợp để có thể hiểu được bản chất của tinh thần và vật chất. Vì vậy, họ sẽ không gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn. Đó là lý do tại sao, Chánh kiến phải được ủng hộ bằng cách luận Đạo.

4. Thiền định

Những người thực hành thiền minh sát phải thực hành thiền định ( Samātha Bhāvanā – Tranquil Meditation) và thiết lập được nền tảng cho trạng thái định tâm. Bằng cách này, họ sẽ loại bỏ được những thứ ô nhiễm thường khởi lên trong quá trình liên tục nhận thức của mình. Từ đó, họ sẽ không bị những thứ ô nhiễm nói trên quấy rầy và trở nên có Chánh kiến. Điều này giống như việc loại bỏ các loài sâu bọ, côn trùng phá hoại cây xoài non.

Tóm tắt: Thiền định giống như việc loại bỏ các loài côn trùng và sâu bọ có hại.

Nếu các loài côn trùng, sâu bọ xuất hiện trên cây xoài non không bị loại bỏ đi thì nó sẽ phải chịu đau khổ. Cây xoài sẽ không thịnh vượng và cũng không thể ra hoa và kết quả. Tương tự như vậy, nếu côn trùng, sâu bọ - được ví như các thứ làm cho tâm trí bị ô nhiễm ( Pariyutthāna) không bị loại bỏ đi bằng cách thực hành thiền định ( Samàtha Bhàvana), người ta sẽ không thể gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng. Đó là lý do tại sao, Chánh kiến phải được ủng hộ bằng cách thực hành thiền định.

5. Thiền minh sát

  Những người thực hành thiền minh sát cần phải luyện tập năng lực tập trung tâm ý để gặt hái được kiến thức nội quán dũng mãnh ( Balavant vipassanā Nāna –The strong Insight). Nhờ đó, họ sẽ có khả năng quan sát được trạng thái đang tan hoại của các hiện tượng. Thực hành thiền minh sát  (còn gọi là  thiền tuệ hay thiền quán) để gặt hái được kiến thức nội quán dũng mãnh nghĩa là : Thực hành thiền để có khả năng quan và nhận thức được trạng thái đang tan hoại của các hiện tượng thuộc về tinh thần và vật chất. Tiến trình này giống như những mạng nhện che phủ không cho cây xoài non được thịnh vượng hay những thứ ô nhiễm che phủ không cho chánh kiến phát triển ( Ārammanānusaya kilesa). Vì vậy, người thực hành thiền minh sát cần phải xé toạc tấm màng ô nhiễm đang che phủ tâm trí của chính họ để giải phóng cho Chánh kiến. Hành động “ xé toạc” này có thể ví như việc người ta cần phải quét sạch những tấm mạng nhện đang che phủ cây xoài non làm cho nó không thể thịnh vượng được.

Tóm tắt: Việc tập luyện sự chú ý để gặt hái được tuệ minh sát hay kiến thức nội quán giống như việc quét sạch các loại mạng nhện đang che phủ cây non mới trồng.

Nếu những tấm mạng nhện đang che phủ cây xoài non không bị quét sạch đi, cây xoài này sẽ không thể ra hoa và kết quả. Tương tự như vậy, do bị ảnh hưởng khuynh hướng hoạt động của những đối tượng đa dạng, những thứ ô nhiễm đã xuất hiện trong tâm trí của nguời thực hành thiền minh sát. Nếu họ không có khả năng xử dụng tụê minh sát dũng mãnh ( tức kiến thức nội quán dũng mãnh) để quét sạch những thứ ô nhiễm đó đi, họ sẽ không bao giờ gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn. Đó là lý do tại sao, Chánh kiến cần phải được ủng hộ bằng tụê minh sát.

Bởi vì sự chú ý của những người thực hành thiền minh sát đã trở thành một năng lực mạnh mẽ, nhờ đó họ mới có khả năng quan sát và nhận thức được trạng thái đang tan hoại của các hiện tượng thuộc về tinh thần và vật chất. Nói một cách tóm tắt, Chánh kiến cũng giống như cây xoài non. Nó phải được ủng hộ bằng những nhân tố sau :

-  Thực hành giữ Giới, giống như việc thiết lập một hàng rào chắn

-  Kiến thức phổ quát, giống như việc tưới nước

-  Luận Đạo, giống như việc nhổ bỏ các loại cỏ mọc hoang chung quanh gốc cây

-  Thiền định, giống như việc loại bỏ các loài côn trùng, sâu bọ phá hoại cây

- Tụê minh sát dũng mãnh, giống như việc quét sạch những tấm mạng nhện che phủ cây non mới trồng.

 Nếu chăm sóc cho cây xoài non bằng 5 nhân tố đã nêu trên thì cây xoài này mới có thể thịnh vượng được. Từ đó, nó sẽ có khả năng ra hoa và kết quả. Tương tự như vậy, Chánh kiến chỉ có thể phát triển khi được ủng hộ bằng 5 nhân tố đã nêu trên. Nhờ đó, những người thực hành thiền minh sát sẽ gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn. Đây là lời thuyết Pháp của Đức Phật.  

  

                  Bốn kiểu người thực hành thiền cần biết

 

Sự thật, ngày nay phong trào việc thực hành thiền minh sát đang rất hưng thịnh.

Người ta tin rằng, bằng cách thực hành loại thiền này, họ sẽ có khả năng loại bỏ được nhiều nỗi khổ đau như việc bị đọa xuống địa ngục chẳng hạn. Vì có niềm tin như vậy, nhiều người đã có cơ hội để thực hành thiền minh sát. Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều người chưa bao giờ thực hành loại thiền này, bởi vì họ chưa có được cơ hội để nghiên cứu, học tập và tìm kiếm một phương pháp thực hành đúng đắn. Những người đã có cơ hội để thực hành thiền minh sát được chia làm 4 dạng . Sở dĩ có sự phân chia như vậy là vì người ta phải tuỳ thuộc vào quá trình và kết quả thực hành thiền định và thiền minh sát trong các kiếp sống ở quá khứ của những người nói trên. Bốn dạng người thực hành thiền minh sát vừa đề cập ở trên là :

1.Đã thực hành thiền minh sát một cách khó khăn và lãnh hội được Phật Pháp một cách chậm chạp.

2. Đã thực hành thiền minh sát một cách khó khăn nhưng lãnh hội được Phật Pháp một cách nhanh chóng.

3. Đã thực hành thiền minh sát một cách dễ dàng nhưng lãnh hội được Phật Pháp một cách chậm chạp.

4.Đã thực hành thiền minh sát một cách dễ dàng và lãnh hội được Phật pháp một cách nhanh chóng.

                                                                                    ( Atthathālini – ttha – 228 )

Thực hành thiền minh sát một cách khó khăn và lãnh hội được Phật Pháp một cách chậm chạp

Người thực hành thiền minh sát một cách khó khăn và lãnh hội được Phật Pháp một cách chậm chạp nghĩa là :  Một cá nhân nào đó mà trong những kiếp sống ở quá khứ ( hay trước đó trong kiếp sống ở hiện tại) , người này chưa bao giờ thực hành thiền định ( Samātha Bhāvanā – Tranquil Meditation) hay thiền minh sát

( Vipassanā Bhāvanā - Insight Meditation). Khi bắt đầu tập sự thực hành thiền minh sát, người này đã thực hành một cách rất khó khăn và lãnh hội được Phật Pháp một cách chậm chạp.

 Thực hành thiền minh sát một cách khó khăn nhưng lãnh hội được Phật Pháp một cách nhanh chóng

Người thực hành thiền minh sát một cách khó khăn và lãnh hội được Phật Pháp một cách nhanh chóng nghĩa là : Một cá nhân nào đó mà trong những kiếp sống ở quá khứ ( hay trước đó trong kiếp sống ở hiện tại) , người này đã từng thực hành thiền minh sát nhưng chưa bao giờ thực hành thiền định. Dạng người này khi tiếp tục thực hành thiền minh sát vẫn có thể lãnh hội được Phật Pháp một cách nhanh chóng, mặc dù anh ta có thể gặp một số khó khăn trở ngại trong việc phát triển năng lực định tâm.  

Thực hành thiền minh sát một cách dễ dàng nhưng lãnh hội được Phật Pháp một cách chậm chạp

Người thực hành thiền minh sát một cách dễ dàng nhưng lãnh hội được Phật Pháp một cách chậm chạp nghĩa là : Một cá nhân nào đó mà trong những kiếp sống ở quá khứ ( hay trước đó trong kiếp sống ở hiện tại), người này đã từng thực hành thiền định nhưng chưa bao giờ thực hành thiền minh sát. Dạng người này khi chuyển sang thực hành thiền minh sát sẽ lãnh hội được Phật Pháp một cách rất chậm chạp, mặc dù đã có khả năng thực hành loại thiền này một cách dễ dàng.

Thực hành thiền minh sát một cách dễ dàng và lãnh hội được Phật pháp một cách nhanh chóng

Người thực hành thiền minh sát một cách dễ dàng và lãnh hội được Phật Pháp một cách nhanh chóng nghĩa là : Một cá nhân nào đó mà trong những kiếp sống ở quá khứ (  hay trước đó trong kiếp sống ở hiện tại) , người này đã từng thực hành thiền minh sát và thiền định một cách nghiêm túc, cũng như đã gặt hái được một số thành quả tốt đẹp trong cả 2 loại thiền này. Dạng người này khi tiếp tục thực hành thiền minh sát sẽ có khả năng thực hành thiền một cách dễ dàng và lãnh hội được Phật Pháp rất nhanh chóng. Thiền định làm cho tâm trí được trầm tĩnh và đây chính là nguyên nhân dẫn đến hạnh phúc. Thiền minh sát mang lại trí tuệ hiểu biết về nội quán hay tụê minh sát. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến khả năng lãnh hội được bản chất của vạn hữu. Do ảnh hưởng bởi 2 nguyên nhân là thiền địnhthiền minh sát, từ đó mới có 4 dạng người thực hành thiền minh sát khác nhau. Những người mà trong những kiếp sống ở quá khứ ( hay trước đó trong kiếp sống hiện tại) chưa bao giờ thực hành bất cứ một loại thiền nào, khi bắt đầu tập sự thực hành thiền minh sát sẽ lãnh hội được Phật Pháp một cách rất chậm chạp. Vì vậy, họ cần phải có tính kiên nhẫn, bởi vì tính kiên nhẫn là một phẩm chất hoàn hảo giúp cho người thực hành thiền minh sát có khả năng lãnh hội được Phật Pháp. Khi cảm giác mệt mỏi, đau nhức đang khởi lên trong quá trình thực hành thiền minh sát, bạn cần phải biết cách phát khởi trạng thái kiên nhẫn trong tâm thức của chính mình và không nên thay đổi tư thế thực hành thiền… Khi bạn nhất quyết không thay đổi tư thế thực hành thiền thì trạng thái định tâm ( Samādhi - Concentration) sẽ được thiết lập. Nhờ đó, bạn mới có thể lãnh hội được Phật Pháp. Những người mà trong quá khứ chỉ thực hành thiền định nhưng không thực hành thiền minh sát, khi chuyển sang thực hành thiền minh sát họ sẽ có khả năng thực hành loại thiền này rất dễ dàng nhưng lại lãnh hội được được Phật Pháp một cách chậm chạp. Nếu trong quá trình thực hành thiền minh sát, họ đã thực hành sự chú ý một cách tích cực thì họ vẫn có thể trải nghiệm được Phật Pháp. Trạng thái chú ý tích cực ở đây nghĩa là :  Hành giả thực hành thiền minh sát phải biết cách lờ đi và không cần chú ý đến những hình thức của thân xác như :  Hình dáng của đầu, thân thể, 2 bàn tay và 2 cẳng chân… hành giả chỉ xem những hình thức vật chất đó giống như là những hình dáng biểu kiến bên ngoài của thực tại hay chỉ là những khái niệm

( Paññati – Concepts) mà thôi. Trong quá trình thực hành thiền minh sát, bạn chỉ cần chú ý một cách tích cực và chính xác để nhận biết được độ căng của thân thể, cảm giác nóng hay lạnh, trạng thái đang xúc chạm cứng hay mềm, trạng thái đang chuyển động của thân thể… với hết khả năng có thể, bởi vì bản chất của những tiến trình nói trên chính là thực tại cùng tột ( Paramattha – Ultimate reality). Bằng cách chú ý tích cực trong từng khoảng khắc ở hiện tại, bạn sẽ trải nghiệm được Phật Pháp. Việc có thực hành hay không có thực hành thiền định và thiền minh sát trong quá khứ là nguyên nhân dẫn đến sự phân loại 4 dạng người thực hành thiền minh sát :

- Người thực hành thiền minh sát một cách khó khăn và lãnh hội được Phật Pháp một cách chậm chạp.

- Người thực hành thiền minh sát một cách khó khăn nhưng lại lãnh hội được Phật Pháp một cách nhanh chóng.

- Người thực hành thiền minh sát một cách dễ dàng nhưng lại lãnh hội được Phật Pháp một cách chậm chạp.

- Người thực hành thiền minh sát một cách dễ dàng và lãnh hội được Phật Pháp một cách nhanh chóng.

 Nếu tư duy về 4 dạng người thực hành thiền minh sát nói trên, nghe và thực hành theo những lời giáo huấn của các vị thiền sư một cách nghiêm túc và chuyên cần, bạn sẽ gặt hái được tuệ minh sát dũng mãnh, trở thành Tu – Đà- Hườn

( Sotāpañña – Streamwinner) và đạt tới Niết Bàn hạnh phúc đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật đã hằng mong ước. Niết Bàn hạnh phúc mà 4 dạng người thực hành thiền minh sát vừa được phân loại ở trên sẽ gặt hái được không có gì khác nhau. Hạnh phúc của Niết Bàn là giống nhau và hoàn toàn bình đẳng trong bản chất. 

 

                          

 

 

                             An cư trong mùa mưa

 

Những Tỳ Kheo bắt đầu sống ẩn dật vào ngày trăng tròn đầu tiên của tháng Āsālha ( tiếng Miến Điện gọi là tháng Wāso, một tháng trong lịch của Ấn Độ cổ đại, khoảng tháng 6 hay tháng 7 dương lịch) để an cư trong mùa mưa. Cách sống ẩn dật trong 3 hay 4 tháng mùa mưa này còn gọi là mùa chay của những người Phật tử nói chung. Tuỳ thuộc vào khí hậu, địa hình và nhiều điều kiện khác nhau của từng địa phương, nếu một Tỳ-kheo nào đó không thể sống ẩn dật vào ngày trăng tròn đầu tiên của tháng Āsālha, vị này có thể bắt đầu sống ẩn dật vào ngày đầu tiên của tháng Savana ( tiếng Miến Điện gọi là tháng Wāgaung , còn gọi là tháng nước chảy, khoảng tháng 10 hay tháng 11 dương lịch). An cư vào ngày trăng tròn đầu tiên của tháng Āsālha được gọi là An cư trước mùa mưa

( Pūrima vassāvana). An cư vào ngày trăng tròn của tháng Savana được gọi là An cư sau mùa mưa – Pacchima vassāvana. ( Ở đây chúng ta cần biết rằng mùa mưa ở Ấn Độ thường bắt đầu vào khoảng tháng 6 âm lịch của Việt Nam, tức khoảng tháng 6 hay tháng 7 dương lịch. Mùa mưa ở Ấn Độ không phải là mùa đông hay mùa lạnh. Đa số các vùng miền ở Ấn Độ trong một năm chỉ có 3 mùa, đó là : Mùa mưa, mùa lạnhmùa nóng. Tuy nhiên, một số ít vùng miền khác ở quốc gia này cũng có đủ 4 mùa xuân, hạ, thu, đông – ND).   

 Lý do tại sao các Tỳ Kheo lại sống ẩn dật trong mùa mưa

Một thời khi Đức Phật đang trú tại tịnh xá Trúc lâm ( Veluvana vihara – Veluvana monastery) ở thành Vương-Xá ( Rājagaha ). Các Tỳ Kheo thường đi lại khắp nơi suốt 3 mùa trong năm ( mùa mưa, mùa lạnh và mùa nóng) và điều này đã bị những người thế tục phê phán và chỉ trích. Trong mùa mưa, những người dị giáo ( Titthiya – Heretics) cũng sống cố định tại nơi cư trú của họ. Thậm chí các loài chim cũng làm tổ và sống cố định tại một nơi nào đó. Trong khi đó, các Tỳ Kheo lại đi lại khắp nơi và điều này có thể phá hỏng tư cách của họ. Vì vậy, Đức Phật đã ban bố rằng, các Tỳ Kheo phải an cư trong mùa mưa. Đức Phật cũng đã qui định về những nơi chốn mà các Tỳ-kheo nên lựa chọn để an cư trong mùa mưa và những nơi chốn không nên an cư trong mùa mưa.

  Những nơi chốn không nên lựa chọn để an cư trong mùa mưa

1. Các hốc cây là những nơi các Tỳ-kheo không nên lựa chọn để an cư trong mùa mưa, bởi vì nếu làm như vậy thì những người thế tục có thể phê phán và chỉ trích rằng, các Tỳ-kheo giống như loài ma quỷ.

2. Chạc ba của một thân cây to là nơi mà các Tỳ Kheo không nên lựa chọn để an cư trong mùa mưa, bởi vì nếu làm như vậy thì những nguời thế tục có thể phê phán và chỉ trích rằng, các Tỳ-kheo giống như những người thợ săn.

3. Một nơi trống trải, không có mái che và tường xây bao quanh là nơi các Tỳ Kheo không nên lựa chọn để an cư trong mùa mưa, bởi vì nếu làm như vậy thì khi trời mưa họ phải chạy đến nấp dưới những tán cây to.

4. Nơi không có tu viện là nơi các Tỳ-kheo không nên lựa chọn để an cư trong mùa mưa, bởi vì họ không thể chịu đựng nổi cái lạnh hay nóng của thời tiết và gặp nhiều điều bất tiện khác.

5. Một cái lò dùng để hoả thiêu người chết là nơi mà các Tỳ Kheo không nên lựa chọn để an cư trong mùa mưa, bởi vì nếu làm như vậy thì những người thế tục có thể phê phán và chỉ trích rằng, các Tỳ Kheo giống như những người phụ trách việc đưa ma ( tức nhà đòn).

6. Một cái dù ( tức cái ô) lớn là nơi mà các Tỳ-kheo không nên lựa chọn để an cư trong mùa mưa, bởi vì nếu làm như vậy thì những người thế tục có thể chỉ trích và phê phán rằng, các Tỳ Kheo giống như những người chăn bò.

7. Các loại chậu, bể, nồi lớn bằng đất nung là những nơi các Tỳ Kheo không nên lựa chọn để an cư trong mùa mưa, bởi vì nếu làm như vậy thì những người thế tục có thể phê phán và chỉ trích rằng, các Tỳ-kheo giống như những người dị giáo.

Nếu các Tỳ-kheo an cư trong mùa mưa tại 7 nơi đã nêu trên thì xem như họ đã vi phạm Giới luật ( Dukkuta apatti). Vì những lý do vừa đề cập ở trên mà Đức Phật đã ban bố Luật an cư trong mùa mưa đối với các Tỳ-kheo.      

 Những nơi chốn mà các Tỳ Kheo nên chọn lựa để an cư trong mùa mưa

Những nơi chốn mà các Tỳ Kheo nên chọn lựa để an cư trong mùa mưa là : Những tu viện có tứ vật dụng dồi dào, những chiếc xe bò to lớn ngày xưa, các loại thuyền, các toa tàu hoả và các loại xe tải lớn ngày nay…

 Ba cách sống ẩn dật trong mùa mưa

Tuỳ theo những nơi cư trú có đầy đủ tứ vật dụng hay không mà phát sinh 3 cách sống ẩn dật trong mùa mưa :

1. Đọc tụng một câu dài bằng lời để thể hiện ý nguyện và vào cư trú

2. Đọc tụng một câu ngắn bằng lời để thể hiện ý nguyện và vào cư trú

3. Chỉ đọc tụng thầm trong tâm một câu ngắn để thể hiện ý nguyện và vào cư trú

  Đọc tụng bằng lời một câu dài để thể hiện ý nguyện

Đọc tụng một câu dài bằng lời để thể hiện ý nguyện và vào cư trú nghĩa là : Khi vào an cư trong mùa mưa tại một tu viện nào đó có đầy đủ các trang thiết bị như :

a. Mái che

b. Tường xây bao quanh

c. Cửa ra vào hoàn chỉnh ( bao gồm khung cửa, song cửa, then cài…) và có cửa sổ

d. Tứ vật dụng được dâng cúng đầy đủ trong suốt mùa an cư

 Các Tỳ Kheo phải đọc tụng một câu dài bằng lời như sau : “Imasamam Vihāre, Imam temāsam Vassam Upemi”. Câu này có nghĩa là :“ Khi đã vào an cư thì phải sống ẩn dật trong tu viện này cho hết thời hạn 3 tháng mùa mưa”.

 Đọc tụng bằng lời một câu ngắn để thể hiện ý nguyện

Đọc tụng bằng lời một câu ngắn để thể hiện ý nguyện và vào an cư nghĩa là : Những Tỳ-kheo đang du hành trên đường xa bằng xe hơi, tàu hoả, thuyền và tàu thuỷ… trong khoảng thời gian trùng khớp với thời điểm phải an cư trong mùa mưa,  những Tỳ-kheo này cần phải tìm cho được một nơi cư trú tạm thời nào đó. Họ cần phải nắm chắc rằng, nơi mà họ sắp vào sống ẩn dật phải có mái che, tường xây bao quanh, cửa ra vào đầy đủ… Vì vậy, khi vào an cư tạm thời tại một tu viện nào đó trong trường hợp vừa nêu trên thì các Tỳ Kheo phải đọc tụng bằng lời câu ngắn sau : “ Idha vassam upemi”. Câu này có nghĩa là : “ Có ý nguyện vào sống ẩn dật tạm thời tại nơi này”.

  Chỉ đọc tụng thầm trong tâm một câu ngắn để thể hiện ý nguyện

Chỉ đọc tụng thầm một câu ngắn trong tâm để thể hiện ý nguyện nghĩa là : Khi những Tỳ-kheo nào đó đang du hành trên đường xa trong khoảng thời gian trùng khớp với khoảng thời gian phải an cư trong mùa mưa mà họ vẫn không thể kiếm được một tu viện nào để vào sống ẩn dật. Vì vậy, họ đành phải vào an cư trong các phương tiện như :  Mái che của một chiếc xe hơi, một khoang tàu hoả, thuyền và tàu thuỷ…Trong trường hợp này, họ phải đọc tụng thầm trong tâm một câu ngắn sau đây, trước khi vào cư trú : “ Idha vassam upemi”. Câu ngắn này cũng có nghĩa là : “ Có ý nguyện vào sống ẩn dật tại nơi này”. Vì vậy đã có 3 cách thức an cư trong mùa mưa.

 

           Phá vỡ bánh xe liên hệ nhân duyên bằng cách

                           thực hành thiền minh sát

 

Những người Phật tử thường mang trong tâm trí của họ một điều rằng, chỉ khi bánh xe liên hệ nhân duyên ( Paticcasamuppāda) đã bị phá vỡ thì đến lúc đó, họ sẽ đạt tới Niết Bàn và loại trừ được tất cả những thứ khổ đau. Vì vậy, họ luôn luôn cố gắng tìm kiếm một phương pháp có thể phá vỡ được đường dẫn của những nguyên nhân gốc mà các hiện tượng phụ thuộc vào đó để phát khởi.Thiền minh sát là một phương pháp có đủ năng lực để thực hiện sự phá vỡđường dẫn của những nguyên nhân gốc kết nối với nhau qua 12 nhân tố tạo nên vòng trònluân hồihaybánh xeluân hồi ( Samsāra). Vô minh ( Avijjā – Ignorence) và tham ái

( tức khao khát -Tanhā – Craving) là 2 nhân tố nền tảng hay2 nguyên nhân gốc đã tạo nênbánh xe luân hồi ( Bhavacakka – The wheel of rebirths). Chỉ khi 2 nhân tố nền tảng này đã bị triệt tiêu thì người ta mới có thể đạt tới trạng thái bình yên cùng tột và loại bỏ được tất cả những thứ khổ đau. Những hành giả thực hành thiền minh sát mong muốn cắt đứt được2 nguyên nhân gốc đã tạo nên bánh xe luân hồi làvô minh và tham ái thì họ phải thực hành thiền minh sát. Từ đó, qua quá trình thực hành thiền, họ sẽ tự nhận biết được cách thức để loại bỏ đượcvô minh và tham ái khi đã gặt hái được trí tuệ hiểu biết về trạng thái sanh diệt của các hiện tượng ( Udayabbaya Ñāna) và kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu ( Bhanga Ñāna).

 Những nguyên nhân phụ thuộc chủ yếu chịu ảnh hưởng của vô minh

Trong mỗi lúc bạn đang nhìn, đang nghe, đang ngửi, đang ăn, đang xúc chạm, đang suy nghĩ thì những tiến trình này vừa khởi lên đã biến mất đi một cách ngay lập tức. Trong những trạng thái biến mất đi cực kỳ nhanh chóng đó, những tiến trình nói trên đã tạo ra một áp lực đè nặng lên tâm lý của bạn. Vì vậy, bạn đã cảm thấy đau khổ. Trong khi đó, tâm trí của bạn lại thường nghĩ tưởng một cách lầm lạc rằng, những tiến trình này là tồn tại một cách thường còn, chứ không phải biến mất đi một cách cực kỳ nhanh chóng sau khi vừa khởi lên. Những tiến trình này là những gì thật sự đã làm cho bạn cảm thấy thích thú, hạnh phúc hay khổ đau. Sở dĩ tâm trí của bạn đã nghĩ tưởng một cách sai lầm như vậy bởi vì nó đã bị ảnh hưởng bởi vô minh. Khi đã có một sự nhận thức lầm lạc, bạn sẽ tiếp tục tạo ra những hành động và lời nói theo sở thích của chính mình. Chính những hành động thuộc về thân và khẩu đã được thực hiện theo sở thích này đã khiến cho nghiệp ( Kamma – Action) được thiết lập. Nghiệp đượccấu thành ( Sankhāra – Formation) đã khiến cho bánh xe liên hệ nhân duyên có thể hoạt động.

Thiền minh sát phá vỡ bánh xe liên hệ nhân duyên bằng cách loại bỏ vô minh

Bằng cách thực hành thiền minh sát và đã gặt hái được kiến thức về trạng thái đang tan hoại của vạn hữu.Trong khi đang nhìn, đang nghe, đang ngửi, đang ăn, đang xúc chạm và đang suy nghĩ, năng lực chú ý của bạn sẽ tập trung trên các tiến trình này rất tốt. Vì vậy, bạn đã nhận thức được rằng, những đối tượng của giác quan như hình ảnh, âm thanh, mùi ,vị, cảm giác xúc chạm và tâm ý là vô thường

( Anicca – Impermanent), khổ ( Dukkha – Suffering) và vô ngã ( Anatta -  No self) hay không thể điều khiển được ( Uncontrollability ). Đến lúc đó, bạn sẽ có một sự nhận thức đúng đắn rằng, vô minh đã bị triệt tiêu. Bởi vì vô minh đã chấm dứt, nên sự cấu thành nghiệp cũng đã bị loại bỏ. Bởi vì nhân tố nền tảng là vô minh đã bị thiền minh sát triệt tiêu, nên bánh xe liên hệ nhân duyên đã bị phá vỡ.

 Những nguyên nhân phụ thuộc chủ yếu chịu ảnh hưởng của tham ái

Tham ái( tức khao khát - Tanhā – Craving) là sự nghĩ tưởng lầm lạc rằng, những đối tượng của giác quan như hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, sự xúc chạm và tâm ý là đáng yêu và dễ chịu. Vì vậy, hậu quả của sự nghĩ tưởng lầm lạc này là tâm bám víu, quyến luyến vào những đối tượng của giác quan. Bởi vì bám víu, quyến luyến ( Upadāna – Clinging), mang tâm thức chiếm hữu ( Bhava – Becoming)… là những nguyên nhân chủ yếu cấu thành bánh xe liên hệ nhân duyên và giúp cho nó có thể hoạt động.

 Thiền minh sát phá vỡ bánh xe nhân duyên bằng cách loại bỏ tham ái

Khi hành giả thực hành thiền minh sát đã gặt hái được kiến thức về tạng thái tan hoại của vạn hữu ( Bhanga Ñāna) thì trong lúc đang nhìn, đang nghe, đang ngửi, đang ăn, đang xúc chạm và đang suy nghĩ, năng lực chú ý của hành giả sẽ tập trung trên các tiến trình này rất tốt. Vì vậy, hành giả đã trải nghiệm được rằng, sự chú ý của tâm trí mình và những đối tượng của giác quan như hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, cảm giác xúc chạm, tâm ý vừa khởi lên đã biến mất đi một cách cực kỳ nhanh chóng. Khi các đối tượng của giác quan biến mất đi một cách cực kỳ nhanh chóng thì chúng đã tạo nên một áp lực đè nặng lên tâm lý của hành giả. Vì vậy, hành giả đã cảm thấy đau khổ. Khi hành giả đã đạt tới một khả năng nhận thức như vậy, tâm khao khát về những đối tượng của giác quan sẽ bị triệt tiêu. Bởi vì tham ái đã bị loại bỏ, nên tâm bám víu vào các đối tượng của giác quan cũng sẽ tiêu tan. Đến lúc đó, tham ái là nguyên nhân gốc đã bị thiền minh sát loại bỏ một cách hoàn toàn. Điều này đã dẫn đến việc bánh xe liên hệ nhân duyên cũng đã bị phá vỡ.

 Phá vỡ bánh xe liên hệ nhân duyên bằng cách chú ý đến cảm thọ

Trong những bài thuyết Pháp của Đức Phật, Ngài đã dạy rằng tham ái ( Tanhā - Greed) là do cảm thọ ( tức cảm giác – Vedanā - Sensation) mà hiện khởi. Bởi vì do tham áitâm bám víu ( Upādana) hiện khởi, do bám víutâm chiếm hữu ( Bhava Citta – Becoming mind) hiện khởi… Bởi vì bạn chưa thể loại bỏ được cảm thọ, nên tham ái vẫn còn là nhân tố nền tảng tạo nên bánh xe liên hệ nhân duyên và giúp cho bánh xe này tiếp tục hoạt động. Do đó, khi cảm thọ bị bạn tập trung chú ý đến thì tham ái sẽ không có cơ hội để khởi lên. Cuối cùng, bánh xe liên hệ nhân duyên đã bị phá vỡ bởi thiền minh sát. Có 3 pháp thường lập đi lập lại và tiềm tàng trong cảm thọ đã khiến cho bánh xe liên hệ nhân duyên tiếp tục quay, đó là :

1. Tham ái tiềm ẩn trong lạc thọ

 2. Sân hận tiềm ẩn trong khổ thọ

3. Vô minh tiềm ẩn trong thọ vô ký tính

 Tham ái tiềm ẩn trong lạc thọ

Đang khi thực hành thiền minh sát, bạn có thể gặt hái được kiến thức về trạng thái đang tan hoại của các hiện tượng ( Udayabbaya Ñāna – The knowledge of arising and passing away).  Đến lúc đó, bạn sẽ được tận hưởng trạng thái nhẹ nhàng và hạnh phúc trong thân tâm, cũng như sẽ có khả năng thực hiện sự chú ý rất dễ dàng. Ở trình độ thực hành thiền này, tâm trí của bạn sẽ tự động hướng sự chú ý đến các đối tượng của giác quan như là kết quả của trạng thái tâm hoan hỷ minh sát ( Pīti vipassanī) đã được thiết lập. Với loại hoan hỷ minh sát này, bạn sẽ cảm thấy rằng thân tâm của chính mình đang được bình yên. Thông thường, khi đã bắt gặp được trạng thái tâm thức dễ chịu này, tâm trí của bạn sẽ ngã theo xu hướng tận hưởng lạc thọ. Vì vậy, trong trạng thái tâm hoan hỷ minh sát, bạn rất dễ khởi tâm bám víu và muốn duy trì trạng thái dễ chịu này lâu hơn nữa trong tâm thức của mình. Thậm chí, bạn còn khởi tâm mong muốn nó trở lại nhiều lần bởi vì cảm thấy thích ý. Do đó, tham ái đã tiềm ẩn trong lạc thọ.

Chú ý để loại bỏ tham ái

Khi hành giả thực hành thiền minh sát đã nhận thức được rằng tham ái ( Tanhā) đã hiện khởi trong lạc thọ ( Sukkha vedanā). Ngay lúc này, hành giả cần phải chú ý một cách nghiêm túc và tích cực đến lạc thọ, đồng thời niệm thầm trong tâm mình “ bình yên, bình yên…”. Vì đã tập trung chú ý đến lạc thọ một cách tích cực trong một trạng thái tâm thức như vậy, hành giả sẽ gặt hái được kiến thức về trạng thái đang tan hoại của các hiện tượng. Khi đang quán niệm về trạng thái bình yên của lạc thọ, hành giả sẽ nhận thức được rằng, trạng thái này đã khởi lên và đã biến mất đi một cách ngay lập tức, chỉ trong một khoảnh khắc ngay sau khi đã khởi lên.

Phá vỡ bánh xe liên hệ nhân duyên bằng cách loại bỏ tham ái

Hành giả đã lãnh hội được rằng, trạng thái khởi lên và biến mất đi một cách cực kỳ nhanh chóng của lạc thọ là một áp lực đè nặng lên tâm lý của chính mình.Vì vậy, trạng thái này không còn là lạc thọ ( Sukkha vedanā) nữa. Nó đã trở thành khổ thọ ( Dukkha vedanā). Khi hành giả đã nhận thức được như vậy, tham ái tiềm ẩn trong lạc thọ đã bị loại bỏ. Bởi vì tham ái ( Tanhā) đã bị triệt tiêu, nên tâm bám víu ( Upadāna –Attachement), tâm chiếm hữu ( Bhava – Becoming mind)…cũng đã tiêu tan. Do đó, bánh xe liên hệ nhân duyên đã bị phá vỡ. Nó không còn hoạt động được nữa.

Sân hận tiềm ẩn trong khổ thọ

Khi hành giả đang thực hành thiền minh sát và gặt hái được kiến thức lãnh hội

( Sammasana Ñāna – The knowledge of comprehension), những khổ thọ như cảm giác đau nhức, ngứa ngáy…sẽ hiện khởi. Khi những khổ thọ này đang khởi lên thì tâm trí của hành giả bắt đầu cảm thấy khó chịu, buồn bực và sân hận ( Dosa – Anger). Trạng thái bất như ý này cứ lập đi lập lại nhiều lần. Vì vậy, sân hận đã tiềm ẩn trong khổ thọ. Một điều nên chú ý là, trong khổ thọ nhân tố sân hận thường tiềm ẩn một cách mạnh mẽ nhất, hơn bất cứ một nhân tố nào khác. Khi khổ thọ ( Dukkha vedanā – Unpleasant sensation) khởi lên, hành giả sẽ khởi tâm khao khát được giải phóng khỏi loại cảm thọ này. Trong khi đó, tâm khao khát chính là tham ái và nó đã làm cho bánh xe liên hệ nhân quả tiếp tục hoạt động.

 Phá vỡ bánh xe liên hệ nhân quả bằng cách loại bỏ sân hận

Khi đang thực hành thiền minh sát, hành giả lãnh hội được rằng, sân hận đang tiềm ẩn trong khổ thọ. Ngay lúc đó, anh ta phải lập tức chú ý đến khổ thọ một cách nghiêm túc và tích cực để loại bỏ sân hận. Khi hành giả đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại, anh ta niệm thầm trong tâm “ đang đau, đang đau” hoặc “ đang nhức, đang nhức”… Lúc đó, hành giả sẽ lãnh hội được rằng, khổ thọ chỉ là một hiện tượng nhất thời. Nó khởi lên và sẽ biến mất đi một cách nhanh chóng. Tiếp đến, nếu hành giả hội tụ sự chú ý một cách chính xác và liên tục lên hiện tượng khó chịu này, anh ta sẽ nhận thấy cảm giác đau nhức đã biến mất. Nó không còn là đối tượng của sự chú ý nữa. Lúc đó, hành giả đã nhận biết được một cách rõ ràng rằng, khổ thọ chỉ khởi lên trong một khoảnh khắc và đã biến mất đi ngay lập tức. Vì vậy, khổ thọ đã bị loại bỏ. Khi khổ thọ ( Dukkha vedanā) đã bị triệt tiêu thì nhiệm vụ loại bỏ sân hận ( Dosa – Anger) tiềm ẩn trong khổ thọ của hành giả đã được hoàn thành. Khi hành giả mang tâm khao khát được giải phóng khỏi khổ thọ vì cảm thấy buồn khổ và bất như ý thì tham ái đã hiện khởi. Ngay lúc đó, anh ta cần phải chú ý một nghiêm túc và tích cực đến khổ thọ để vượt qua nó. Đây là cách thức để loại bỏ sân hận tiềm ẩn trong khổ thọ. Mỗi khi tham ái đã bị loại bỏ, bánh xe liên hệ nhân duyên cũng đã bị phá vỡ. Nó không còn hoạt động được nữa.

Vô minh tiềm ẩn trong xả thọ hay thọ vô ký tính

Đang khi thực hành thiền minh sát, hành giả gặt hái được trí tuệ hiểu biết về sự cấu thành của vật chất ( Sankhārūpekha Ñāna). Lúc đó, nếu hành giả tập trung sự chú ý vào một đối tượng nào đó ( dù là một đối tượng mang lại hạnh phúc hay khổ đau), anh ta cũng sẽ không có một ý kiến hay một nhận xét nào nữa cả. Mỗi khi hành giả quán niệm về các hiện tượng với một tâm thức bàng quan như vậy, anh ta sẽ không trải nghiệm được trạng thái tan hoại của các hiện tượng đang không ngừng xảy ra trong thực tại. Vì vậy, vô minh hay vọng tưởng ( Avijjānusaya hay Moha – Ignorence or Delusion) đã tiềm ẩn và lập đi lập lại nhiều lần trong xả thọ hay thọ vô ký tính ( Upekkhā vedanā – Neutral sensation).

Chú ý để loại bỏ vô minh

Nếu muốn loại bỏ vô minh ( Avijjānusaya – Ignorence) tiềm ẩn trong xả thọ

( Upekkhà vedanā – Neutral sensation), bạn cần phải lãnh hội được rằng, xả thọvô thường ( Anicca – Impermanent). Tuy nhiên, xả thọ thường khởi lên một cách rất huyền ảo ( subtle), không rõ ràng và rất khó chú ý để nhận biết. Đó là lý do tại sao, khi muốn loại bỏ xả thọ, bạn phải quay trở lại chú ý một cách tích cực đến những đề mục chính như : Tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng, tiến trình đang co duỗi chân tay hay tiến trình đang xúc chạm của thân thể… Khi đang tập trung chú ý một cách nghiêm túc và tích cực lên các đề mục chính hay đề mục gốc ( Original object), bạn sẽ lãnh hội được rằng, các tiến trình này luôn luôn biến mất đi một cách rất nhanh chóng ngay sau khi vừa khởi lên. Nói cách khác, những tiến trình này là phù du, chúng chỉ thoáng qua trong khoảnh khắc. Ngay cả sự chú ý của tâm trí cũng chỉ là một hiện tượng phù du.

Phá vỡ bánh xe liên hệ nhân duyên bằng cách loại bỏ vô minh

Trong sự lãnh hội được rằng các đối tượng của giác quan đang tan hoại đi trong từng khoảnh khắc, nếu tập trung sự chú ý một cách tích cực đến những hiện tượng như :  Tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng, tiến trình đang co duỗi chân tay hay tiến trình đang xúc chạm của thân thể… bạn sẽ nhận thức được rằng tất cả những tiến trình này đều là vô thường ( Anicca – Impermanent). Khi bạn đã gặt hái được kiến thức về tính vô thường ( Anicca Nàna – The knowledge of impermanence), vô minh tiềm ẩn trong xả thọ sẽ bị triệt tiêu. Bởi vì nguyên nhân gốc là vô minh ( Avijjānusaya – Ignorence) đã bị loại bỏ, nên bánh xe liên hệ nhân duyên cũng đã bị phá vỡ. Nó không còn hoạt động được nữa. Vì vậy, tham ái tiềm ẩn trong lạc thọ, sân hận tiềm ẩn trong khổ thọvô minh tiềm ẩn trong xả thọ đã bị thiền minh sát loại bỏ. Từ đó bánh xe luân hồi ( Bhavacakha – The wheel of rebirths)  hay bánh xe liên hệ nhân duyên đã bị phá vỡ.

 

  Gặt hái được 2 trạng thái tụê minh sát bằng cách chú ý

 

Ngày nay, phong trào thực hành thiền minh sát đang rất hưng thịnh. Theo trào lưu đó, những người già cả lẫn những người trẻ tuổi đều thực hành loại thiền này mỗi khi họ có thời gian. Những người đã thực hành thiền minh sát nhưng chưa lãnh hội được Phật Pháp luôn mong muốn thực hiện được điều đó một cách ngay lập tức. Những người đã lãnh hội được Phật Pháp lại mong muốn tiến trình thực hành thiền của họ được phát triển một cách nhanh chóng. Vì vậy, điều đầu tiên và quan trọng nhất là những người vừa nói trên cần phải biết lắng nghe những lời giáo huấn về phương pháp thực hành thiền minh sát. Nói một cách vắn tắt, theo những giáo huấn về phương pháp thực hành thiền minh sát, có 3 cách thực hành sau đây:

1. Thiền Tọa ( tức ngồi thiền – Sitting Meditation)

2. Thiền Hành ( tức thực hành thiền khi đang đi bộ – Walking Meditation)

3.  Thực hành thiền bằng cách chú ý đến các hoạt động của chính mình một cách chi tiết ( General detailed activities meditation).

 Thiền tọa

Theo những giáo huấn của Ngài Đại Trưởng Lão Tăng thống Mahàsi, những người có tâm nguyện muốn thực hành thiền tọa phải tìm đến một nơi yên tĩnh và lựa chọn cho mình một tư thế thực hành thiền thích hợp ( để có thể ngồi thiền được trong một khoảng thời gian dài). Bạn có thể ngồi thiền theo thế bắt chéo hai cẳng chân lại với nhau, còn gọi là thế ngồi hoa sen ( Padmāsana -  The lotus posture) hoặc có thể ngồi theo thế khổ hạnh ( Bajrasana - The ascetic posture), tức ngồi lên trên 2 cẳng chân, đầu gối gập cong xuống mặt sàn, 2 bàn chân quay lên phía trên, giữ đầu và lưng trên một đường thẳng đồng thời nhắm mắt lại và hội tụ sự chú ý lên bụng. Khi bạn đang thở vào, bụng sẽ dần dần phồng lên. Ngay lúc này, bạn phải chú ý đến chuyển động đang phồng lên đó và niệm thầm trong tâm “ Đang phồng lên, đang phồng lên…”, bạn chỉ cần chú ý một cách thuần tuý, nghĩa là chú ý mà không phân tích và không đưa ý thức vào trong trạng thái mà mình đang chú ý. Bạn hãy xem hình dáng của bụng chỉ là một khái niệm ( Paññati – Concept). Vì vậy, bạn không cần phải chú ý đến hình dáng này. Thay vào đó, bạn cần chú ý đến chuyển động dần dần căng lên của bụng, khi không khí đang di chuyển từ bên ngoài vào trong cơ thể để có thể nhận biết được bản chất của chuyển động này, bởi vì nó chính là thực tại cùng tột ( Paramattha – Ultimate reality). Khi bạn đang thở ra, bụng sẽ dần dần xẹp xuống, Ngay lúc này, bạn cũng không cần chú ý đến hình dáng của bụng, bởi vì hình dáng này chỉ là một khái niệm ( Paññati), bạn chỉ cần chú ý đến tiến trình chuyển động dần dần xẹp xuống của bụng để nhận biết được bản chất của tiến trình này, bởi vì tiến trình này chính là thực tại cùng tột

( Paramattha).

 

 Thiền hành

Trong thiền hành có tất cả 4 cách thực hiện sự chú ý sau đây :

1. Chú ý để nhận biết 1 giai đoạn trong một bước chân

2. Chú ý để nhận biết 2 giai đoạn trong một bước chân

3. Chú ý để nhận biết 3 giai đoạn trong một bước chân

4. Chú ý để nhận biết 6 giai đoạn trong một bước chân

 Trong cách chú ý để nhận biết 3 giai đoạn trong một bước chân, bạn cần phải chú ý một cách chính xác và liên tục đến các giai đoạn sau : “ khi bàn chân đang dở lên”, “ khi bàn chân đang bước tới” và “ khi bàn chân đang đặt xuống”. Theo cách như vậy , khi “ bàn chân đang dở lên”, bạn không cần chú ý đến hình dáng của nó bởi hình dáng này chỉ là thực tại biểu kiến hay chỉ là một khái niệm

( Paññati – Concept). Bạn chỉ cần chú ý tích cực đến tiến trình chuyển động đang dần dần dở lên của bàn chân để nhận biết được bản chất của tiến trình này, bởi vì đây chính là thực tại cùng tột ( Paramattha). Khi “bàn chân đang dần dần bước tới ”, bạn không cần chú ý đến hình dáng của bàn chân ( Paññati), chỉ cần chú ý tích cực đến tiến trình chuyển động đang dần dần bước tới của nó để nhận biết được bản chất của tiến trình chuyển động này ( Paramattha). Khi “ bàn chân đang đặt xuống”, bạn không cần chú ý đến hình dáng của bàn chân ( Paññati), chỉ cần chú ý tích cực đến tiến trình chuyển động đang dần dần đặt xuống của nó để nhận biết được bản chất của tiến trình chuyển động này ( Paramattha).

 Chú ý một cách chi tiết đến những hoạt động của chính mình  

Thực hành sự chú ý tích cực đến tiến trình đang ngồi xuống, đang đứng, đang uốn cong thân mình, đang co duỗi chân tay…nghĩa là chú ý một cách chi tiết đến tất cả các hoạt động hàng ngày của chính mình. Đức Phật đã từng dạy rằng, để nhận biết chính mình ( Sampajānna ), bạn phải thực hành sự chú ý đến tất cả các hoạt động của thân thể và tâm trí như : Hoạt động đang ngồi xuống, đang đứng, đang uốn cong thân mình, đang co duỗi chân tay, đang suy nghĩ, đang dự tính, đang buồn bực hay đang hoan hỷ…Tuy nhiên, Đức Phật cũng khuyên rằng, lúc mới khởi đầu thực hành sự chú ý, bạn nên thực hành phương pháp thiền này với những hiện tượng rõ ràng nhất có thể thấy được bằng mắt thường. Bạn cũng cần phải thực hành sự chú ý đến ý định muốn thực hiện một hành động nào đó của chính mình như : Ý định muốn ngồi xuống, ý định muốn đứng dậy, có ý định muốn co duỗi chân tay…Những ý định này luôn luôn xảy ra trước các chuyển động của thân thể. Tiếp liền sau đó, chúng ta mới chú ý đến tiến trình đang chuyển động của thân thể . Nếu thực hành thiền minh sát một cách nghiêm túc, tích cực và đúng phương pháp thì trong vòng khoảng 10 ngày, bạn sẽ có khả năng nhận biết được những ý định luôn luôn xảy ra trước các hành động như đã nói ở trên. Đó là lý do tại sao, trong tuần tự thực hành sự chú ý đến các hành động của chính mình và những ý định muốn thực hiện những hoạt động ấy, bạn cần phải thực hiện các hành động hàng ngày của mình một cách chậm rãi để có thể quan sát chúng một cách dễ dàng.

Khi bạn “ đang đứng” và có “ ý định muốn ngồi xuống” thì rõ ràng là “ ý định muốn ngồi xuống” đã xảy ra trước “ hành động ngồi xuống”. Ngay lúc đó, bạn cần phải thực hành sự chú ý đến “ ý định muốn ngồi xuống” này và niệm thầm trong tâm mình “ đang có ý định muốn ngồi xuống, đang có ý định muốn ngồi xuống…”. Tiếp đến, do “ ý định muốn ngồi xuống” đã chiến thắng “tất cả những ý định khác” và trở thành yếu tố thúc đẩy khiến cho thân thể của bạn dần dần chuyển động ngồi xuống. Ngay lúc này, bạn phải chú ý đến “chuyển động đang dần dần ngồi xuống” đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang ngồi xuống, đang ngồi xuống…”. Trong trường hợp này, những người thực hành thiền tự nhận thức được rằng, bởi vì có “ ý định muốn ngồi xuống” mà “ hành động ngồi xuống xuống” mới hiện khởi. Khi đã nhận thức được như vậy, hành giả thực hành thiền minh sát sẽ nhận biết được “ ý định muốn ngồi xuống” là đối tượng có sự nhận thức vì bản chất của nó là thuộc về tinh thần. “ Hành động ngồi xuống” là một đối tượng không hề có sự nhận thức vì bản chất của nó là thuộc về vật chất. Khi đã nhận biết được như vậy, có nghĩa là bạn đã đạt tới trí tuệ phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất, còn gọi là kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tâm và vật ( Nāmarūpapariccheda Ñāna – The knowledge of discernment of mind and matter). Khi một hành giả thực hành thiền minh sát đã nhận thức được rằng, bởi vì có “ ý định muốn ngồi xuống” mà “ hành động ngồi xuống” mới hiện khởi. Ở đây “ ý định muốn ngồi xuống” chính là nguyên nhân và “ hành động ngồi xuống” chính là kết quả. Từ đó, hành giả sẽ nhận biết được định luật về nguyên nhân và kết quả. Điều này đồng nghĩa với việc hành giả đã gặt hái được trí tuệ hiểu biết về luật nhân quả ( Paccayaparigaha Ñāna). Khi đang muốn đứng dậy sau khi đã ngồi thiền hay đã ngồi nghe một bài thuyết Pháp, bạn cần phải chú ý đến “ ý định muốn đứng dậy” và nhận biết nó một cách rõ ràng, đồng thời niệm thầm trong  tâm mình “ có ý định muốn đứng dậy, có ý định muốn đứng dậy…”. Sau đó, bởi vì “ ý định muốn đứng dậy” đã chiến thắng “ tất cả những ý định khác” và trở thành yếu tố thúc đẩy khiến cho thân thể của bạn dần dần chuyển động đứng dậy. Ngay lúc này, bạn cần phải chú ý đến “ tiến trình chuyển động đang dần dần đứng dậy của thân thể”, đồng thời niệm thầm trong tâm mình “ đang đứng dậy, đang đứng dậy…”. Hành giả thực hành thiền minh sát sẽ tự nhận thức rằng, bởi vì có “ ý định muốn đứng dậy” mà “ hành động đứng dậy” mới hiện khởi. “ Ý định muốn đứng dậy” là đối tượng có sự nhận thức vì bản chất của nó là thuộc về tinh thần. Hành động đứng dậy của thân thể không hề có sự nhận thức vì bản chất của nó là thuộc về vật chất. Sự nhận biết vừa nêu của hành giả có nghĩa là anh ta đã đạt tới trí tuệ phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất ( Nāmarūpapariccheda Ñāna). Trong sự nhận thức rằng, bởi vì  có “ ý định muốn đứng dậy” cho nên “ hành động đứng dậy” mới hiện khởi, “ ý định muốn đứng dậy” chính là nguyên nhân và “ hành động đứng dậy” chính là kết quả. Vì vậy, hành giả đã gặt hái trí tuệ hiểu biết về luật nhân quả

( Paccayaparigaha Ñāna – The understanding for knowing the law of cause and effect). Cánh tay của bạn chỉ co lại khi bạn có “ ý định muốn co” nó. Ở đây “ ý định muốn co” cánh tay sẽ trở nên rất rõ ràng khi bạn chú ý tích cực đến nó. Ngay lúc đó, bạn cần phải niệm thầm trong tâm “ có ý định muốn co cánh tay, có ý định muốn co cánh tay…”. Bởi vì “ ý định muốn co cánh tay” đã chiến thắng“những ý định khác” và trở thành yếu tố thúc đẩy khiến cho cánh tay của bạn dần dần chuyển sang trạng thái co lại. Ngay khi tiến trình chuyển động co lại của cánh tay đang tiếp diễn, bạn cần phải niệm thầm trong tâm mình “ đang co, đang co”…

Ý định muốn co cánh tay” là một đối tượng có sự nhận thức vì bản chất của nó là thuộc về tinh thần. Trong khi đó, “ hành động co” của cánh tay là đối tượng không hề có sự nhận thức vì bản chất của nó là thuộc về vật chất. Sự nhận biết này đã chứng tỏ rằng bạn đã gặt hái được trí tụê phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất ( Nāmarūpapariccheda Ñāna). Trong sự nhận thức rằng bởi vì có “ ý định muốn co” mà “ hành động co” của cánh tay đã hiện khởi. Ở đây, “ ý định muốn có cánh tay” chính là nguyên nhân và “ hành động co” của cánh tay chính là kết quả. Vì vậy, bạn đã gặt hái được trí tuệ hiểu biết về luật nhân quả ( Paccayaparigaha Ñāna). Khi bạn muốn chú ý đến “ hành động duỗi của cánh tay” thì ngay trước đó đã có sự xuất hiện cảu “ ý định muốn duỗi cánh tay”. Ý định này là có thể nhận thấy một cách rõ ràng. Vì vậy, bạn cần phải chú ý đến “ ý định muốn duỗi cánh tay” và niệm thầm trong tâm mình “ đang duỗi, đang duỗi…”. Bởi vì “ ý định muốn duỗi cánh tay” đã chiến thắng “ tất cả những ý định khác” và trở thành yếu tố thúc đẩy khiến cho cánh tay của bạn dần dần chuyển sang trạng thái duỗi ra. Ngay lúc này, bạn cần phải niệm thầm trong tâm mình “ đang duỗi ra, đang duỗi ra…”. Ở đây “ ý định muốn duỗi cánh tay” là một đối tượng có sự nhận thức  vì bản chất của nó là thuộc về tinh thần. Trong khi đó, “ hành động duỗi ra” của cánh tay là một đối tượng không hề có sự nhận thức vì bản chất của nó là thuộc về vật chất. Với sự nhận thức như vậy, bạn đã gặt hái trí tuệ phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất

( Nāmarūpapariccheda Ñāna). Bởi vì có “ ý định muốn duỗi cánh tay” cho nên

hành động duỗi ra” của cánh tay mới hiện khởi. Điều này có nghĩa : “ Ý định muốn duỗi cánh tay” chính là nguyên nhân và “ hành động duỗi ra” của cánh tay chính là kết quả. Vì vậy, bạn đã gặt hái được trí tuệ hiểu biết về luật nhân quả ( Paccayaparigaha Ñāna).  Những người thực hành thiền minh sát cần phải thiết lập được một nền tảng căn bản cho trạng thái định tâm ( Samàdhi). Vì vậy, họ cần phải thực hành sự chú ý đến những ý định luôn luôn xảy ra trước các hành động như: Đang ngồi xuống, đang đứng lên, đang co, đang duỗi…Mỗi khi đã có khả năng chú ý và nhận biết được những điều trên, bạn sẽ gặt hái được trí tuệ phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất, trí tuệ nhận biết được luật nhân quả. Vì vậy, bạn đã gặt hái được 2 trạng thái tụê minh sát.

 

           Kiến thức để làm cho Phật Giáo trở nên bất diệt

 

Tất cả những người Phật tử đều phải có niềm tin lớn lao vào những lời giáo huấn của Đức Phật ( Sāsana – The teachings of the Buddha) bởi vì Phật Pháp có khả năng phân biệt được điều gì là đúng đắn và điều gì là lầm lạc. Ánh sáng của Phật Pháp hằng chiếu rọi và chỉ ra cho chúng ta những con đường nào là đúng đắn và những con đường nào là lầm lạc. Có con đường dẫn đến 4 cảnh sống sầu muộn thống khổ trong luân hồi và đó là con đường của bóng tối. Tuy nhiên, cũng có con đường dẫn tới ánh sáng của cõi người , Chư thiên và Phạm Thiên. Ngoài ra, còn có con đường dẫn tới Niết Bàn hạnh phúc. Con đường dẫn tới Niết-Bàn luôn luôn ngập tràn ánh sáng. Nó không bao giờ bị bóng tối che phủ. Nếu ánh sáng của Phật Pháp ( Sāsana – The teachings of the Buddha) không còn thì con đường dẫn tới cõi người, Chư Thiên, Phạm Thiên và Niết Bàn sẽ trở nên tối tăm và dần dần biến mất đi. Lúc đó, chỉ còn lại con đường tối tăm dẫn đến 4 cảnh sống sầu muộn thống khổ trong luân hồi sanh tử. Đó là lý do tại sao, để cho ánh sáng của Phật Pháp không bị lịm tắt và những lời giáo huấn của Đức Phật được duy trì dài lâu, những người Phật tử phải biết cách loại bỏ những nhân tố có thể khiến cho Phật Pháp bị tiêu diệt, đồng thời phải thực hành nó trong đời sống hàng ngày. Đức Phật cũng đã từng thuyết về 15 nhân tố có liên quan đến sự tồn vong của Phật Pháp. Trong 15 nhân tố này, có 5 nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất mà những người Phật tử thế tục và các Tỳ -kheo cần phải nắm vững và thực hành theo :

1. Không biết lắng nghe thuyết Pháp và biết lắng nghe một cách nghiêm túc

2. Không học tập, không nghiên cứu Pháp học ( Pariyatti Dhamma – The theoretic tenets) và có học tập, nghiên cứu.

3. Không đọc tụng thuộc lòng các loại Kinh Điển Phật Giáo và có đọc tụng

4. Không cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của các loại Kinh Điển Phật Giáo và có cố gắng tìm hiểu.

5. Không thực hành những điều mình đã học được và có thực hành

  Nếu những người tự nhận là Phật tử không chịu thực hành 5 yếu tố này, Phật Giáo có thể dẫn đến tình trạng diệt vong. Nếu họ có thực hành 5 yếu tố này thì Phật Giáo sẽ được duy trì một cách dài lâu.

Không biết lắng nghe thuyết Pháp một cách nghiêm túc

 Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo không biết lắng nghe thuyết Pháp một cách nghiêm túc, họ sẽ không nhận thức được những lợi ích của hành động này. Những người chưa biết được lợi ích của việc lắng nghe thuyết Pháp sẽ không thực hành theo những lời dạy của Đức Phật. Khi có nhiều người không thực hành theo những lời dạy của Đức Phật thì Phật Giáo sẽ bị diệt vong. Đó là lý do tại sao, không biết lắng  nghe thuyết Pháp là một nhân tố sẽ khiến cho Phật Giáo có thể bị diệt vong.

 

 Biết lắng nghe thuyết Pháp một cách nghiêm túc

Biết lắng nghe thuyết Pháp một cách nghiêm túc là một nhân tố sẽ khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu. Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo biết lắng nghe thuyết Pháp một cách nghiêm túc, họ sẽ nhận thức được những lợi ích của hành động này và sẽ thực hành theo Phật Pháp. Bởi vì những Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo có thực hành theo những lời dạy của Đức Phật, nên Phật Giáo sẽ được duy trì dài lâu. Đó là lý do tại sao, biết lắng nghe thuyết Pháp là một nhân tố sẽ khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu.

  Không học tập, nghiên cứu Phật Pháp một cách nghiêm túc

Khi những Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo không học tập, không nghiên cứu Phật Pháp một cách nghiêm túc thì dĩ nhiên họ cũng sẽ không nghiêm túc trong việc học tập Tạng Kinh ( Sutta), Tạng Luật ( Vinaya) và Vi Diệu Pháp ( Abhidhamma). Điều này sẽ dẫn đến thái độ vô trách nhiệm của họ đối với nguy cơ biến mất của Phật Giáo. Đó là lý do tại sao, việc không học tập và không nghiên cứu Phật Pháp là một nhân tố sẽ khiến cho Phật Giáo có thể bị diệt vong.

 Có học tập, nghiên cứu Phật Pháp một cách nghiêm túc

Khi những Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo có nghiên Phật Pháp thì họ sẽ học tập Tam Tạng Kinh Điển ( Tipitaka - Triad pitakas). Bởi vì có nhiều người học tập, nghiên cứu những lời dạy của Đức Phật, nên Phật Giáo sẽ không bị diệt vong mà tồn tại một cách dài lâu. Đó là lý do tại sao việc học tập, nghiên cứu Phật Pháp là một nhân tố có thể duy trì Phật Giáo.

 Không tụng đọc thuộc lòng các loại Kinh điển Phật Giáo

Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo không đọc tụng thuộc lòng các loại Kinh Điển Phật Giáo sau khi đã học tập, nghiên cứu Tam Tạng Kinh Điển, các loại Kinh sách và các câu ghi khắc trên đá nói về Phật Pháp… thì Phật Giáo có thể bị 5 loại kẻ thù ( lửa, nước, trộm cướp, nhà cầm quyền xấu xa và người thừa kế không xứng đáng) phá huỷ và dẫn đến tình trạng diệt vong. Đó là lý do tại sao, việc không đọc tụng thuộc lòng các loại Kinh Điển Phật Giáo nói chung là một nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo bị diệt vong.

 Có đọc tụng thuộc lòng các loại Kinh Điển Phật Giáo

Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo có đọc tụng thuộc lòng Tam Tạng Kinh Điển, các loại Kinh sách và các câu khắc ghi trên đá nói về Phật Pháp… thì Phật Giáo sẽ không bị phá huỷ mà được duy trì dài lâu. Đó là lý do tại sao, việc những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo có đọc tụng thuộc lòng các loại Kinh Điển Phật Giáo nói chung là một nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu.

 Không cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của các loại Kinh Điển Phật Giáo                                

Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo không cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của các loại Kinh Điển Phật Giáo thì chắc chắn họ sẽ không hiểu được ý nghĩa của các loại Kinh Điển này một cách đúng đắn. Thậm chí, họ có thể bị ngộ nhận về những ý nghĩa của Phật Pháp. Do đó, Phật Giáo có thể biến mất. Đó là lý do tại sao, việc không cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của các loại Kinh Điển Phật Giáo là một nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo bị diệt vong.

Có cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của các loại Kinh Điển Phật Giáo

 Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo có cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của các loại Kinh Điển Phật Giáo để có thể hiểu được ý nghĩa của những loại Kinh Điển này một cách đúng đắn thì Phật Giáo sẽ không biến mất mà được duy trì dài lâu. Đó là lý do tại sao, việc cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của các loại Kinh Điển Phật Giáo là một nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu.

 Không thực hành những điều đã học được

Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo đã không nhận biết được ý nghĩa của Phật Pháp một cách đúng đắn, họ sẽ không thực hành Phật Pháp để gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn. Từ đó, Phật Giáo có thể bị diệt vong. Đó là lý do tại sao, việc không thực hành Phật Pháp để gặt hái Đạo Quả và Niết Bàn là một nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo dẫn đến tình trạng diệt vong.

 Thực hành những kiến thức về Phật Pháp đã học được

Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo đã nhận biết được những ý nghĩa đúng đắn của Phật Pháp và thực hành theo, họ sẽ gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn. Nhờ vậy, Phật Giáo sẽ không bị diệt vong mà được duy trì dài lâu. Đó là lý do tại sao, việc có thực hành những kiến thức về Phật Pháp đã học được để gặt hái Đạo Quả và Niết Bàn là một  nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu. Do đó, những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo phải biết tránh xa 5 nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo bị diệt vong, đồng thời phải thực hành một cách nghiêm túc 5 nhân  tố lợi ích có thể khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu.

Tóm tắt 1: Theo đúng như trong Tăng-Chi-Bộ-Kinh ( Anguttara Sutta), nếu các Tỳ-kheo và những người Phật tử thế tục không biết lắng nghe thuyết Pháp, không nghiên cứu và học tập các loại Kinh Điển Phật Giáo, không đọc tụng thuộc lòng các loại Kinh Điển Phật Giáo, không hiểu được ý nghĩa của Phật Pháp một cách đúng đắn và không thực hành Phật Pháp thì đó là 5 nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo bị diệt vong.

Tóm tắt 2: Theo đúng như trong Tăng-Chi-Bộ-Kinh ( Anguttara Sutta), nếu các Tỳ Kheo và những người Phật tử thế tục biết lắng nghe thuyết Pháp, có học tập và nghiên cứu các loại Kinh Điển Phật Giáo, có đọc tụng thuộc lòng các loại Kinh Điển Phật Giáo, hiểu được ý nghĩa của Phật Pháp một cách đúng đắn và có thực hành Phật Pháp thì đó là 5 nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu.

 

    

 

     Cách thứ hai để làm cho Phật Giáo trở nên bất diệt

 

Những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo cần phải có niềm tin lớn lao và biết nương tựa vào những lời dạy của Đức Phật. Bởi vì ánh sáng vĩ đại của Phật Pháp có thể phân biệt được điều gì là đúng đắn và điều gì là lầm lạc. Ánh sáng vĩ đại của Phật Pháp hằng chiếu rọi và có thể chỉ ra cho chúng ta những con đường nào là đúng đắn và những con đường nào là lầm lạc. Có con đường dẫn đến với bóng tối của 4 cảnh sống sầu muộn thống khổ trong luân hồi sanh tử. Tuy nhiên, cũng có con đường dẫn đến với ánh sáng của cõi người, Chư Thiên và Phạm Thiên. Ngoài ra, còn có con đường dẫn đến Niết Bàn hạnh phúc. Con đường dẫn đến Niết Bàn luôn luôn ngập tràn ánh sáng. Nó không bao giờ bị bóng tối che phủ. Khi ánh sáng vĩ đại của Phật Pháp không còn thì con đường dẫn đến cõi người, Chư-Thiên, Phạm-Thiên và Niết Bàn hạnh phúc sẽ trở nên tối tăm và cuối cùng sẽ biến mất. Lúc đó, chỉ còn lại con đường tối tăm dẫn đến 4 cảnh sống sầu muộn thống khổ trong luân hồi sanh tử. Đó là lý do tại sao, nếu mong muốn ánh sáng vĩ đại của Phật Pháp sẽ không bao giờ biến mất mà được duy trì dài lâu, các Tỳ-kheo và những người thế tục phải biết loại trừ 5 nhân tố có thể khiến cho Phật Pháp bị diệt vong. Họ cần phải thực hành Phật Pháp để duy trì những lời giáo huấn của Đức Phật. Trong quá khứ, Đức Phật đã từng thuyết về 15 nhân tố có liên quan đến sự tồn vong của Phật Pháp. Sau đây là 5 nhân tố thứ hai nằm trong 15 nhân tố đã nói trên :

1. Không học tập, nghiên cứu Pháp Học ( Pariyatti Dhamma – The practical tenets) và có học tập, nghiên cứu.

2. Không truyền bá và có truyền bá Pháp Học một cách tích cực

3. Không giảng dạy và có giảng dạy Pháp Học một cách tích cực

4. Không đọc tụng thuộc lòng và có đọc tụng thuộc lòng các loại Kinh Điển Phật Giáo một cách tích cực

5. Không thường xuyên hồi tưởng và thường xuyên hồi tưởng về Pháp Học  

  Không học tập và nghiên cứu Pháp Học

Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo không học tập, không nghiên cứu Pháp Học như : Tạng Kinh, Tạng LuậtVi Diệu Pháp thì Phật Giáo có thể bị diệt vong. Đó là lý do tại sao việc không học tập và nghiên cứu Pháp Học là một nhân tố có thể khiến cho Phật Pháp dẫn đến tình trạng diệt vong.

  Có học tập và nghiên cứu Pháp Học

Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo có học tập, nghiên cứu Pháp Học như Kinh Tạng, Luật Tạng và Vi Diệu Pháp thì Phật Giáo sẽ không bao giờ bị diệt vong mà được duy trì dài lâu. Đó là lý do tại sao, việc có học tập và nghiên cứu Pháp Học là một nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu.

 Không truyền bá Pháp học một cách tích cực

Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo không truyền bá Pháp Học một cách tích cực cho nhiều người khác thì những học sinh và các thế hệ mai sau sẽ không còn nhận biết được ý nghĩa của Phật Pháp một cách thích đáng. Bởi vì đã không nhận biết được ý nghĩa của Phật Pháp một cách thích đáng, những học sinh và các thế hệ mai sau cũng sẽ không thực hành Phật Pháp một cách thích đáng. Đến khi đó, Phật Giáo có thể dẫn đến tình trạng bị diệt vong. Đó là lý do tại sao, việc không truyền bá Pháp Học cho nhiều người khác một cách tích cực là một nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo bị diệt vong.

 Có truyền bá Pháp Học một cách tích cực

Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo có truyền bá Pháp Học cho nhiều người khác một cách tích cực thì những học sinh và các thế hệ mai sau sẽ nhận biết được ý nghĩa của Phật Pháp một cách thích đáng. Bởi vì đã nhận biết được ý nghĩa của Phật Pháp một cách thích đáng, những học sinh và các thế hệ mai sau cũng sẽ thực hành Phật Pháp một cách thích đáng. Vì vậy, Phật Giáo sẽ không bị diệt vong mà được duy trì dài lâu. Đó là lý do tại sao, việc truyền bá Pháp Học cho nhiều người khác một cách tích cực là một nhân tố sẽ khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu.

 Không giảng dạy Pháp Học cho nhiều người khác một cách tích cực

Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo không giảng dạy Pháp Học cho nhiều người khác một cách tích cực thì những học sinh và các thế hệ mai sau cũng sẽ không thể học tập Phật Pháp một cách đúng đắn và đầy đủ. Có thể họ chỉ nhận biết được ý nghĩa của Phật Pháp một cách đại khái và chưa được thích đáng. Sự nhận biết ý nghĩa của Phật Pháp một cách đại khái và chưa thích đáng sẽ khiến cho Phật Giáo dần dần bị diệt vong. Đó là lý do tại sao, việc không giảng dạy Pháp Học cho nhiều người khác một cách tích cực là một nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo dần dần bị diệt vong.

 Có giảng dạy Pháp Học cho nhiều người khác một cách tích cực

Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo có giảng dạy Pháp Học cho nhiều người khác một cách tích cực thì những học sinh và các thế hệ mai sau sẽ học tập Phật Pháp một cách đúng đắn và đầy đủ. Vì vậy, Phật Giáo sẽ không bị diệt vong mà được duy trì dài lâu. Đó là lý do tại sao, việc giảng dạy Pháp Học cho nhiều người khác một cách tích cực là một nhân tố sẽ khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu.

 Không đọc tụng thuộc lòng các loại Kinh Điển Phật Giáo một cách tích cực

Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo không đọc tụng thuộc lòng các loại Kinh điển Phật Giáo một cách tích cực thì họ cũng sẽ không học tập hay nghiên cứu các loại Kinh Điển này một cách đúng đắn và đầy đủ. Vì vậy, họ sẽ rất mau quên chúng. Đến lúc đó, Phật Giáo có thể dẫn đến tình trạng dần dần bị diệt vong. Đó là lý do tại sao, việc không đọc tụng thuộc lòng các loại Kinh Điển Phật Giáo một cách tích cực là một nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo bị diệt vong.

 

 Có đọc tụng thuộc lòng các loại Kinh Điển Phật Giáo một cách tích cực

Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo có đọc tụng các loại Kinh Điển Phật Giáo một cách tích cực thì họ sẽ học tập hay nghiên cứu các loại Kinh Điển này một cách đúng đắn và đầy đủ. Vì vậy, họ sẽ ghi nhớ chúng rất lâu. Khi Pháp Học được nhiều người học tập và nghiên cứu một cách công phu thì lúc đó Phật Pháp sẽ không biến mất mà được duy trì dài lâu. Đó là lý do tại sao việc đọc tụng thuộc lòng các loại Kinh Điển Phật Giáo một cách tích cực là một nhân tố sẽ khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu.

 Không thường xuyên hồi tưởng về Pháp Học

Những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo sau khi đã học tập, nghiên cứu Pháp Học nhưng họ không thường xuyên hồi tưởng lại những ý nghĩa của Phật Pháp đã gặt hái được thì Phật Giáo sẽ có nguy cơ bị diệt vong. Nếu không thường xuyên hồi tưởng về những ý nghĩa của Phật Pháp thì người ta sẽ rất khó nhận thức được Phật Pháp một cách đúng đắn. Đó là lý do tại sao việc không thường xuyên hồi tưởng lại những ý nghĩa của Phật Pháp là một nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo dẫn đến tình trạng diệt vong.

 Thường xuyên hồi tưởng về Pháp Học

Những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo sau khi đã học tập, nghiên cứu Pháp Học, nếu họ thường xuyên hồi tưởng lại những ý nghĩa của Phật Pháp đã gặt hái được thì Phật Giáo sẽ không bị diệt vong mà được duy trì dài lâu. Bởi vì nếu làm như vậy, họ sẽ có khả năng nhận thức được những ý nghĩa của Phật pháp một cách đúng đắn. Đó là lý do tại sao, việc nhận thức được những ý nghĩa của Phật Pháp một cách đúng đắn là một nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu. Do đó, những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo phải loại bỏ được 5 nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo bị diệt vong, đồng thực thực hành 5 nhân tố mang lại lợi ích để duy trì Phật Giáo.

Tóm tắt 1:  Theo đúng như trong Tăng-Chi-Bộ -Kinh ( Anguttara Sutta), nếu các Tỳ-kheo và những người Phật tử thế tục không học tập và không nghiên cứu Pháp Học, không truyền bá và không giảng dạy Pháp Học một cách tích cực, không đọc tụng thuộc lòng các loại Kinh Điển Phật Giáo một cách tích cực và không thường xuyên hồi tưởng lại những ý nghĩa của Phật Pháp mà họ đã gặt hái được thì đó là 5 nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo bị diệt vong.

Tóm tắt 2:  Theo đúng như trong Tăng-Chi-Bộ-Kinh ( Anguttara Sutta), nếu các Tỳ-kheo và những người Phật tử thế tục có học tập hay nghiên cứu Pháp Học, có truyền bá và có giảng dạy Pháp Học một cách tích cực, có đọc tụng các loại Kinh Điển Phật Giáo một cách tích cực và thường xuyên hồi tưởng lại những ý nghĩa của Phật Pháp mà họ đã gặt hái được thì đó là 5 nhân tố sẽ khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu.

 

        Cách thứ ba để làm cho Phật Giáo trở nên bất diệt

 

Những người Phật tử mộ đạo nói chung cần phải có niềm tin lớn lao và trông cậy vào những lời giáo huấn của Đức Phật. Bởi vì ánh sáng vĩ đại của Phật Pháp có thể phân biệt được những điều nào là đúng đắn và những điều nào là lầm lạc. Ánh sáng vĩ đại của Phật Pháp hằng chiếu rọi và có thể chỉ ra cho chúng ta con đường nào là đúng đắn và con đường nào là lầm lạc. Có con đường dẫn đến với bóng tối của 4 cảnh sống sầu muộn thống khổ trong luân hồi. Tuy nhiên, cũng có con đường dẫn đến với ánh sáng của cõi người, Chư-Thiên và Phạm-Thiên. Ngoài ra, còn có con đường dẫn đến Niết Bàn hạnh phúc. Con đường dẫn đến Niết-Bàn luôn luôn ngập tràn ánh sáng và không bao giờ bị bóng tối che phủ. Nếu ánh sáng vĩ đại của Phật Pháp không còn thì con đường dẫn đến cõi người, Chư-Thiên, Phạm-Thiên và Niết Bàn sẽ trở nên u tối và cuối cùng sẽ biến mất. Lúc đó, chỉ còn lại con đường tối tăm của 4 cảnh sống sầu muộn thống khổ trong luân hồi. Đó là lý do tại sao những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo cần phải loại bỏ được những nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo bị diệt vong. Họ phải thực hành theo những lời giáo huấn của Đức Phật để có thể duy trì Phật Giáo được dài lâu. Vì vậy, ánh sáng vĩ đại của Phật Pháp sẽ không bao giờ biến mất. Trong 15 nhân tố có liên quan đến sự tồn vong của Phật Giáo, sau đây là 5 nhân tố cuối cùng :

1. Giảng dạy tiếng Pāli một cách sai lạc và đúng đắn.

2. Không chịu lắng nghe những lời khuyên nhủ, cố chấp, bất phục tùng và biết lắng nghe những lời khuyên nhủ.

3. Những người đã học Tam Tạng Kinh Điển Pāli nhưng không truyền bá và có truyền bá cho nhiều người khác.

4. Có một số vị Trưởng Lão chỉ thực hành Phật Pháp với mục đích tìm kiếm địa vị, danh tiếng và tứ vật dụng. Họ không thực hành Phật Pháp vì lợi ích của Phật Giáo và để gặt hái Đạo Quả Niết Bàn. Bên cạnh đó, cũng có những vị Trưởng Lão Cao Thượng. Họ luôn luôn thực hành Phật Pháp với mục đích phát triển Phật Giáo và để có khả năng đạt tới Niết-Bàn hạnh phúc.

5. Sự tranh cãi, tranh chấp, chia rẽ giữa Tăng-Già với nhau và sự không tranh cãi, không tranh chấp, duy trì sự thống nhất giữa các Tăng-Già.

 Giảng dạy tiếng Pāli một cách sai lạc

Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo giảng dạy các mẫu tự, từ ngữ và các phụ âm trong ngôn ngữ viết Pāli một cách sai lạc thì ngôn ngữ này ngày càng trở nên khó hiểu hơn. Nếu ý nghĩa của ngôn ngữ viết Pāli bị những người học tập nó hiểu biết một cách sai lạc thì Phật Giáo có thể dẫn đến tình trạng diệt vong. Đó là lý do tại sao việc giảng dạy tiếng Pāli một cách sai lạc là một nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo bị diệt vong.

 Giảng dạy tiếng Pāli một cách đúng đắn

Khi những Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo giảng dạy ngôn ngữ viết Pāli một cách đúng đắn thì những người học tập ngôn ngữ này có thể hiểu được ý nghĩa của nó một cách đúng đắn. Điều này sẽ khiến cho Phật Giáo không bị diệt vong mà được duy trì dài lâu. Đó là lý do tại sao, việc giảng dạy tiếng Pāli một cách đúng đắn là một nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu.

 Không chịu lắng nghe những lời khuyên nhủ, cố chấp và bất phục tùng

Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo hành động trái ngược lại với Phật Pháp thì đó gọi là cố chấp. Họ bất phục tùng, không chịu lắng nghe những lời khuyên nhủ của những bậc Trưởng Thượng, các Tỳ-kheo lớn tuổi và đáng kính. Đến lúc đó, Phật Giáo có thể dần dần bị diệt vong. Đó là lý do tại sao, việc không chịu lắng nghe những lời khuyên nhủ, cố chấp và bất phục tùng là một nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo bị diệt vong.

 Biết lắng nghe những lời khuyên nhủ và phục tùng

Khi những người Phật tử và các Tỳ-kheo biết lắng nghe những lời khuyên nhủ và phục tùng các bậc Trưởng Thượng, các vị Tỳ-kheo lớn tuổi và đáng kính thì cung cách ăn ở, đối xử của họ sẽ thuận theo Phật Pháp. Nếu được như vậy thì Phật Giáo sẽ không bị diệt vong mà được duy trì dài lâu. Vì vậy, biết lắng nghe những lời khuyên nhủ và phục tùng các bậc Trưởng Thượng, các Tỳ-kheo lớn tuổi và đáng kính là một nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu.

 Không truyền bá Tam Tạng Kinh Điển Pāli cho nhiều người khác

Những người người Phật tử thế tục và các Tỳ-Kheo đã học tập Tam Tạng Kinh Điển Pāli nhưng họ không truyền bá cho nhiều người khác thì các thế hệ mai sau sẽ không còn người học tập các loại Kinh Điển này nữa. Đến lúc đó, Phật Giáo sẽ dần dần bị diệt vong. Đó là lý do tại sao việc không truyền bá Tam Tạng Kinh Điển Pàlì cho nhiều người khác là một nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo bị diệt vong.

 Có truyền bá Tam Tạng Kinh Điển Pāli cho nhiều người khác

Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo đã học tập Tam Tạng Kinh Điển Pāli và có truyền bá cho nhiều người khác thì các thế hệ mai sau sẽ học tập các loại Kinh Điển này. Bởi vì trong các thế hệ mai sau có nhiều người học tập Tam Tạng Kinh Điển Pāli, nên Phật Giáo sẽ được duy trì dài lâu. Đó là lý do tại sao việc truyền bá Tam Tạng Kinh Điển Pāli là một nhân tố sẽ khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu.

 Thực hành Phật Pháp chỉ để tìm kiếm địa vị, danh tiếng và tứ vật dụng

Có những Tỳ-kheo thực hành Phật Pháp chỉ để tìm kiếm địa vị, danh tiếng và tứ vật dụng. Họ không thực hành Phật Pháp vì lợi ích của Phật Giáo và để gặt hái được Đạo Quả Niết Bàn. Nếu như vậy, Phật Giáo sẽ dần dần bị diệt vong. Đó là lý do tại sao, việc thực hành Phật Pháp không nhằm mục đích gặt hái được Đạo quả Niết Bàn mà chỉ để tìm kiếm địa vị, danh tiếng và tứ vật dụng là một nhân tố sẽ khiến cho Phật Giáo bị diệt vong.

 Thực hành Phật Pháp với mục đích là gặt hái được Đạo Quả Niết Bàn

Khi những Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo thực hành Phật Pháp với mục đích chính yếu là đạt tới Đạo Quả Niết Bàn, thì lúc đó, Phật Giáo sẽ không bao giờ bị diệt vong. Những thế hệ Phật tử mai sau sẽ noi theo những tấm gương sáng của những người đi trước họ để có thể thực hành Phật Pháp một cách đúng đắn. Vì vậy, Phật Giáo sẽ được duy trì dài lâu. Đó là lý do tại sao, việc thực hành Phật Pháp với mục đích chính yếu là gặt hái được Đạo quả Niết Bàn là một nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu.

Tranh cãi ,tranh chấp và chia rẽ Tăng già

Nếu các Tỳ-kheo tranh cãi, tranh chấp và chia rẽ lẫn nhau trong nội bộ thì Phật Giáo sẽ có thể dần dần bị diệt vong. Khi những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo trở nên vô trách nhiệm đối với tôn giáo của họ, chia rẽ và đe dọa lẫn nhau thì những người Phật tử thế tục sẽ không còn tôn kính Tăng Già và chính họ nữa. Đến lúc đó, Phật Giáo có thể dẫn đến tình trạng diệt vong. Đó là lý do tại sao, việc tranh cãi, tranh chấp và chia rẽ giữa các Tỳ-kheo với nhau, giữa những người Phật tử thế tục với Tăng Già là một nhân tố sẽ khiến cho Phật Giáo bị diệt vong.

Không tranh cãi, không tranh chấp và không chia rẽ

Khi trong nội bộ các Tỳ-kheo, những người Phật tử thế tục và các Tỳ-kheo không tranh cãi, không tranh chấp, không chia rẽ lẫn nhau. Họ sống đoàn kết và hạnh phúc bên nhau thì lúc đó, những người Phật tử thế tục sẽ tôn kính Tăng Già và Tăng già cũng sẽ tôn trọng họ. Vì vậy, Phật Giáo sẽ không bị diệt vong mà được duy trì dài lâu. Do đó, không tranh cãi, không tranh chấp và không chia rẽ là một nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu.

Tóm tắt 1: Theo đúng như trong Tăng-Chi-Bộ-Kinh ( Anguttara sutta ), việc giảng dạy tiếng Pāli một cách sai lạc, không chịu lắng nghe những lời khuyên nhủ của các bậc Trưởng Thượng, cố chấp và bất phục tùng, không truyền bá Tam Tạng Kinh Điển Pāli cho nhiều người khác, thực hành Phật Pháp chỉ để tìm kiếm địa vị, danh tiếng và tứ vật dụng, tranh cãi, tranh chấp và chia rẽ là 5 nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo bị diệt vong.

Tóm tắt 2Theo đúng như trong Tăng-Chi-Bộ-Kinh ( Anguttara sutta ), việc giảng dạy tiếng Pāli một cách đúng đắn, biết lắng nghe và phục tùng những lời khuyên nhủ của các bậc Trưởng Thượng, truyền bá Tam Tạng Kinh Điển Pāli cho nhiều người khác, thực hành Phật Pháp với mục đích chính yếu là gặt hái được Đạo Quả Niết Bàn, không tranh cãi, không tranh chấp và không chia rẽ là 5 nhân tố có thể khiến cho Phật Giáo được duy trì dài lâu.

 

 

                                    

 

 

 

                                Patthāna Desanā

                    ( Nhân duyên – Hetu Paccaya)

 

Patthāna Desanā ( Nhân Duyên Thuyết hayĐại Xứ) là bài thuyết Pháp hoàn chỉnh nhất nói về những nguyên nhân phụ thuộc lẫn nhau của tinh thần và vật chất đã được Đức Phật thuyết giảng một cách chi tiết và công phu. Từ rất lâu trong quá khứ, các nhà khoa học đã thừa nhận bài thuyết Pháp này. Những người Phật tử mộ Đạo và nhiều thiện tri thức khác nên học tập và nghiên cứu Patthāna Desanā. Nhân Duyên Thuyết là một bài thuyết Pháp uyên thâm, khó hiểu và tinh tế. Nó đã được giới thiện tri thức khảo sát và diễn giải bằng nhiều kỹ thuật đa dạng rất thú vị. Các bậc hiền triết ngày xưa đã từng nói rằng, trong tất cả các loại Kinh Điển của Phật Giáo thì Patthāna Desanā là một luận thuyết uyên thâm và gây nhiều kinh ngạc nhất cho giới nghiên cứu Phật Học. Nói một cách tóm lược, Patthāna Desanā gồm có tất cả 24 nguyên nhân phụ thuộc. Trong 24 nguyên nhân phụ thuộc này thì nhân duyên ( Hetu Paccaya) được Đức Phật thuyết giảng đầu tiên và có tầm quan trọng nhất. Nhân duyên ( Hetu Paccaya)là một từ kép được kết hợp bởi 2 từ hetupaccaya. Trong đó, từ hetu có nghĩa là nguyên nhân gốc ( The root cause) và từ paccaya có nghĩa là duyên hay nguyên nhân phụ thuộc ( The causally dependent). Vì vậy, hetu paccaya có nghĩa lànguyên nhân phụ thuộc với nguyên nhân gốc. Có 3 nguyên nhân gốc bất thiện, đó là :

1. Bám víu vào những đối tượng đa dạng của các giác quan, còn gọi là tham lam ( Lobha – Greed ) hay tham ái ( Tanhā - Craving).

2. Tức giận và ác ý, còn gọi là sân hận ( Dosa – Anger)

3. Không có quan điểm đúng đắn, còn gọi là vọng tưởng ( Moha – Delusion) hay vô minh ( Avijjā – Ignorance)

Bên cạnh 3 nguyên nhân gốc bất thiện cũng có 3 nguyên nhân gốc thiện lành, đó là :

1. Không bám víu vào những đối tượng đa dạng của các giác quan, còn gọi là vô tham ( Alobha – No Greed).

2. Không tức giận và không ác ý, còn gọi là vô sân ( Adosa – No anger)

3. Có quan điểm hay quan kiến đúng đắn, không vọng tưởng hay không vô minh mà có trí tuệ ( Amoha or Paññā).

Ba nguyên nhân gốc bất thiện3 nguyên nhân gốc thiện lành gộp lại thành 6 nguyên nhân gốc. Ngoại trừ các vị A-Na-Hàm ( Anāgāmi – Non returner) và A-La- Hán ( Arahant), 6 nguyên nhân gốc nói trên đều tồn tại trong tiềm thức

 ( Bhavanga Santāna – Mind Subconsciousness) của tất cả muôn loài chúng sanh. Trong tiềm thức của một A-Na-Hàm không có nguyên nhân gốc là sân hận mà chỉ tồn tại 5 nguyên nhân gốc còn lại. Trong tiềm thức của một A-La-Hán có thể chỉ còn lại 3 nguyên nhân gốc thiện lànhvô tham, vô sânvô si. Tham lam ( Lobha) và vô tham ( Alobha) là 2 nguyên nhân gốc mâu thuẫn với nhau. Khi tham lam xuất hiện thì vô tham không có cơ hội hiện khởi và ngược lại. Sân hận ( Dosa) và vô sân là 2 nguyên nhân gốc đối đầu trực tiếp. Khi cái này xuất hiện thì cái kia không có cơ hội hiện khởi và ngược lại. Khi nóiduyên ( paccaya) là nguyên nhân phụ thuộc vào nguyên nhân gốc thì điều này có nghĩa là :  Ba nguyên nhân gốc bất thiện ( Tham lam, sân hận và si mê) sẽ mang lại những kết quả bất thiện, 3 nguyên nhân gốc thiện lành ( vô tham, vô sân, vô si) sẽ mang lại những kết quả thiện lành. Ba nguyên nhân gốc bất thiện ( Tham lam, sân hận, si mê) được cụ thể hoá qua các hành động như : Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời vu khống, xử dụng ngôn ngữ lỗ mãng và lăng mạ, nói lời phù phiếm vô nghĩa, âm mưu chiếm đoạt tài sản của người khác một cách bất hợp pháp, mang tâm khao khát muốn tiêu diệt người khác, có quan kiến  lầm lạc… Đây là những nguyên nhân gốc bất thiện tạo điều kiện để nghiệp bất thiện phát khởi. Ba nguyên nhân gốc thiện lành được cụ thể hoá qua các hành động như : Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói lời vu khống, không nói lời lỗ mãng và lăng mạ, không nói lời cay nghiệt hăm dọa, không nói lời phù phiếm vô nghĩa, không âm mưu chiếm đoạt tài sản của người khác một cách bất hợp pháp, không mang tâm khao khát tiêu diệt người khác, có quan kiến đúng đắn ( tức Chánh kiến)… Đây là những nguyên  nhân gốc thiện lành sẽ mang lạinhững nghiệp thiện lành. Khi một người nào đó thực hành việc bố thí, giữ Giới và tham thiền ( Bhāvanā - Meditation) thì những nghiệp bất thiện như tham lam, sân hận và si mê… sẽ không bao giờ khởi lên được. Chỉ khi những vô tham, vô sân và vô si phát khởi trong tâm thức của chúng ta thì những nguyên nhân gốc thiện lành này sẽ khiến cho chúng ta có thể thực hiện được các công việc thiện lành như bố thí, giữ Giới và tham thiền …

 Không bám víu vào những đối tượng đa dạng của các giác quan

Không bám víu vào những đối tượng đa dạng của các giác quan tức là vô tham

( Alohba – No greed). Vô tham là nguyên nhân gốc thiện lành thúc đẩy và trợ lực cho việc thực hành bố thí, gặt hái được nghiệp thiện lành bố thí qua nhân duyên. Những người có bản tính vô tham và không có tính bám víu sẽ được hạnh phúc trong khi thực hành bố thí. Họ sẽ trở nên giàu có và sở hữu nhiều của cải. Bám víu vào những đối tượng đa dạng của các giác quan là nguyên nhân gốc bất thiện dẫn đến việc không biết thực hành bố thí. Người có bản tính tham lam không thể thực hành việc bố thí. Họ có thể trở thành giàu có nhưng cuối cùng những của cải của họ cũng sẽ tiêu tán. Trong những kiếp sống ở tương lai, dạng người này rất khó tìm kiếm của cải.

 Không nói lời cay nghiệt và lăng mạ

Những người không nói lời cay nghiệt và lăng mạ mà có tâm từ ( Mettā – Loving kindness) thì đó là nguyên nhân gốc thiện lành sẽ thúc đẩy họ thực hành việc giữ gìn những Giới luật thuộc về thân xác và lời nói. Tính vô sân giúp cho người sở hữu nó gặt hái được phước báu giữ Giới ( Sīlakusala) qua nhân duyên. Những người có bản tính vô sân chắc chắn sẽ được bình yên và hạnh phúc qua việc giữ Giới của họ. Họ sẽ được nhiều người yêu mến và có nhiều bạn tốt. Sân hận và nói lời lăng mạnguyên nhân gốc bất thiện khiến cho người sở hữu nó không thể thực hành việc giữ Giới. Những người có bản tính sân hận thì chắc chắn họ sẽ không được hạnh phúc và cũng không thể làm cho nhiều người khác hạnh phúc. Những hành động thô thiển thuộc về thân xác và lời nói mà những người này đã thực hiện sẽ khiến cho họ mất đi rất nhiều người bạn tốt. Chắc chắn họ sẽ bị nhiều người ghét bỏ.

 Có quan điểm hay quan kiến đúng đắn

 Những người có quan kiến đúng đắn, rõ ràng và dứt khoát tức là đã có trí tuệ. Đây là nguyên nhân gốc thiện lành sẽ khiến cho họ có thể gặt hái được phước báu tham thiền ( Bhāvanā Kusala). Vì vậy, phước báu tham thiền cứ lập đi lập lại nhiều lần trong tâm thức của họ. Trí tuệ giúp cho người sở hữu nó gặt hái được phước báu tham thiền qua nhân duyên. Những người từ trong bản tính đã có quan kiến đúng đắn hay trí tuệ sẽ được hạnh phúc trong lúc tham thiền và cuối cùng sẽ đạt tới Niết Bàn. Những người không có quan kiến đúng đắn hay vô minh thì họ đã sở hữu một nguyên nhân gốc bất thiện. Nguyên nhân gốc bất thiện này sẽ khiến cho họ không thể thực hành thiền với mục đích đạt tới Niết Bàn. Những người có bản tính vô minh hay vọng tưởng ( Moha – Delusion) sẽ không được hạnh phúc trong lúc thực hành thiền. Bởi vì họ không biết được lợi ích của việc thực hành thiền, họ có thể có những hành động bất lợi cho chính công việc tham thiền của họ. Do đó, những người này chỉ thực hành thiền một cách hình thức chứ không thực hành một cách hoàn chỉnh để nhận biết được bản chất của các hiện tượng. Nói tóm lại, không khao khát và không bám víu vào những đối tượng đa dạng của các giác quan ( vô tham – Alobha) là nguyên nhân gốc thiện lành dẫn đến một trạng thái sức khỏe tốt, tránh được nhiều loại bệnh tật. Qua nhân duyên, tính vô tham sẽ giúp cho người sở hữu nó gặt hái được một trạng thái sức khoẻ tốt và có khả năng tránh được nhiều loại bệnh tật. Những người có bản tính vô tham có thể tránh được nhiều điều bất như ý mà họ không mong muốn như : Cái nóng, cái lạnh và nhiều loại vật thực có hại… Đó là lý do tại sao họ sẽ tránh được nhiều loại bệnh tật và có sức khoẻ tốt.  Bám víu vào những đối tượng đa dạng của các giác quan là tham lam. Đây là nguyên nhân gốc bất thiện dẫn đến mộttrạng thái sức khỏe yếu kémsẽ bị mắc phải nhiều loại bệnh tật. Những người có bản tính tham lam không thể tránh được những điều bất như ý như cái nóng, cái lạnh và nhiều loại vật thực có hại khác… Đó là lý do tại sao, họ sẽ phải đau khổ vì có một tình trạng sức khoẻ yếu kém và sẽ bị mắc phải nhiều loại bệnh tật. Không nói lời cay nghiệt và lăng mạ là có tâm từ. Đây chính là nguyên nhân gốc thiện lành sẽ khiến cho người sở hữu tâm từ được trẻ trung, lâu bị lão hoá. Qua nhân duyên, tính vô sân sẽ giúp cho người sở hữu đức tính này có được một diện mạo trẻ trung . Những người có bản tính vô sân sẽ không bị lửa sân hận thiêu đốt. Vì vậy, diện mạo của họ trông trẻ hơn so với tuổi thật của họ. Những người hay nói lời cay nghiệt và lăng mạ ( tức có tính sân hận và ác ý) thì da dẻ của họ sẽ sớm có nhiều vết nhăn, chóng bạc tóc và diện mạo trông già hơn tuổi thật của họ. Những người có bản tính sân hận sẽ bị lửa sân hận thiêu đốt. Những người có quan kiến đúng đắn, rõ ràng và dứt khoát là những người có trí tuệ.  Đây là nguyên nhân gốc thiện lành khiến cho họ có thể sống rất thọ. Qua nhân duyên, trí tuệ sẽ giúp cho người sở hữu nó có một cuộc sống trường thọ. Những người mà từ trong bản tính đã có trí tuệ thì họ sẽ phân biệt được điều gì là hữu ích và điều gì là vô ích. Vì vậy, họ sẽ có khả năng tránh được những điều bất lợi và thực hiện những điều có lợi cho họ. Không có quan kiến đúng đắn hay vô minh ( Avijjā – Ignorance) là nguyên nhân gốc bất thiện dẫn đến một cuộc sống đoản thọ. Những người có bản tính vô minh không thể phân biệt điều gì là hữu ích và điều gì là vô ích. Vì vậy họ sẽ bị đoản thọ. Trong 6 nguyên nhân gốc được trình hiện qua nhân duyên thì tínhtham lam ( Lobha – Greed), sân hận ( Dosa – Anger) và vọng tưởng ( Moha – Delusion) là 3 nguyên nhân gốc mang lại những nghiệp bất thiện, nhiều loại bệnh tật, làm cho người ta chóng già và bị đoản thọ.Tính vô tham, vô sântrí tuệ sẽ mang lại nhiều nghiệp thiện lành, giúp cho người ta tránh được nhiều loại bệnh tật, có sức khoẻ tốt, có diện mạo trẻ trung và sống lâu. Vì vậy, tính tham lam, sân hậnsi mê là những nguyên nhân gốc bất thiện. Tính vô tham , vô sântrí tuệ là những nguyên nhân gốc thiện lành. Từ trong tiềm thức

 ( Bhavanga Santāna – Mind subconsciousness), những nguyên nhân gốc thiện lành này có thể khởi lên đến tầng ý thức của bạn. Lúc đó, chúng sẽ thúc đẩy và trợ lực để bạn có thể thực hiện được việc bố thí, giữ Giới và tham thiền.

 

      Patthà Desanā - Nguyên nhân liên hệ là các đối tượng

                  của giác quan ( Ārāmmama paccaya)                        

 

Patthāna Desanālà bài thuyết Pháp hoàn chỉnh nhất nói về các nguyên nhân phụ thuộc giữa danh ( Nàma) và sắc ( Rùpa), tức tinh thầnvật chất. Đã từ lâu trong quá khứ, bài Pháp này đã được các nhà khoa học thừa nhận. Những người Phật tử mộ Đạo và các thiện tri thức nên học tập và nghiên cứu Patthāna Desanā. Patthāna Desanā là một bài thuyết Pháp uyên thâm, khó hiểu và tinh tế. Nó đã được giới thiện tri thức khảo sát và diễn giải bằng nhiều kỹ thuật đa dạng rất thú vị. Các bậc hiền triết ngày xưa đã từng nói rằng trong tất cả các loại Kinh Điển của Phật Giáo thì Patthāna Desanā là một bài thuyết Pháp mang nhiều  ý nghĩa uyên thâm và gây nhiều kinh ngạc nhất cho giới nghiên cứu Phật học. Patthāna Desanā được tóm tắt trong 24 nguyên nhân liên hệ ( Causal relation). Trong 24 nguyên nhân liên hệ đó thì Ārāmmana Paccaya ( Sở duyên – tức đối tượng của các giác quan làm duyên cho một hiện tượng khác) đã được Đức Phật thuyết như là một nguyên nhân liên hệ thứ hai, đứng liền sau nhân duyên ( Hetu Paccaya).

Từ Ārāmmana Paccaya được phối hợp bởi từ Ārāmmana và từ Paccaya. Trong đó, từ Ārāmmana có nghĩa là đối tượng của các giác quan và từ Paccaya nghĩa là nguyên nhân liên hệ hay duyên. Vì vậy,Ārāmmana Paccaya có nghĩa là nguyên nhân liên hệ là đối tượng của các giác quan ( tức Sở duyên). Đối tượng của các giác quan ( tức sở duyên) gồm có :

1. Đối tượng hữu hình ( Visible Object), tức những đối tượng thuộc về vật chất ( Rūpa rammana )

2. Đối tượng có thể nghe được ( Audible Object), tức âm thanh và tiếng động

( Saddā rammana ).

3. Đối tượng là mùi có thể ngửi được ( Odorous Object) – Gandhā rammana.

4. Đối tượng là vị có thể nếm được ( Sapid Object) – Rāsa rammana.

5. Đối tượng có thể sờ mó, xúc chạm ( Tangible Object) – Photthabbā rammana.

6. Đối tượng có thể nhận thức bằng của tâm ý ( Cognizable by consciousness Object) – Dhamma rammana.

Nói cách khác, 6 loại đối tượng của các giác quan là : Sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp.

Các duyên liên hệ

Các đối tượng hữu hình là điều kiện nhận thức của  mắt ( Cakkhu Viññāna).

Các đối tượng có thể nghe được là điều kiện nhận thức của tai ( Sota Viññāna).

 Các đối tượng là mùi có thể ngửi được là điều kiện nhận thức của mũi ( Ghāna Vinnàna). Các đối tượng là vị có thể nếm được là điều kiện nhận thức của lưỡi

( Jivihā Viññāna). Các đối tượng có thể sờ mó hay xúc chạm được là điều kiện nhận thức của thân thể ( Kāya Viññāna). Các đối tượng nhận thức ( tức khách thể hay đối tượng không phải là mình) là điều kiện nhận thức của tâm ý ( Mano Viññāna). Mặc dù 6 loại đối tượng của các giác quan liên kết với 6 kiểu cảm nhận của các giác quan. Tuy nhiên, những đối tượng này không thể hiện khởi trừ khi các giác quan như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, vàtâm ý cảm nhận chúng. Sáu đối tượng của các giác quan chỉ là các yếu tố kích thích, trong khi đó 6 kiểu cảm nhận của các giác quan ( thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và tư duy)là các nhân tố tiếp nhận và nhận thức. Sáu kiểu cảm nhận này là 6 nhân tố quyết định và điều khiển tất cả những cảm giác của chúng ta. Khi một đối tượng hữu hình ( Visible Object) kích thích vào năng lực cảm nhận của mắt ( The eye - sensitivity) thì sự nhận thức của mắt ( tức nhãn thức – Cakkhu Viññāna – Eye consciousness) hiện khởi. Đối tượng hữu hình này là nguyên nhân liên hệ với nhãn thức như là một đối tượng của giác quan ( tức làm sở duyên - Ārāmmana Paccaya ). Khi một đối tượng có thể nghe được như âm thanh hay tiếng động kích thích vào năng lực cảm nhận của tai ( The ear- Sensitivity) thì sự nhận thức của tai ( tức nhĩ thức – Sota Viññāna – Ear consciousness )hiện khởi. Đối tượng có thể nghe được này là nguyên nhân liên hệ với nhĩ thức như là một đối tượng của giác quan ( Tức làm sở duyên- Ārāmmana Paccaya). Khi một đối tượng là mùi có thể ngửi được kích thức vào năng lực cảm nhận của mũi ( The nose – Sensitivity) thì sự nhận thức của mũi ( tức tỷ thức – Ghāna Viññāna – Nose consciousess) hiện khởi. Đối tượng có thể ngửi được này là nguyên nhân liên hệ với nhĩ thức như là một đối tượng của giác quan ( Tức làm sở duyên - Ārāmmana Paccaya). Khi một đối tượng là vị có thể nếm được kích thích vào năng lực cảm nhận của lưỡi ( The tongue sensitivity) thì sự nhận thức của lưỡi

( tức thiệt thức – Jivihā Viññāna – Tongue consciousness) hiện khởi. Đối tượng là vị có thể nếm được này là nguyên nhân liên hệ với thiệt thức như là một đối tượng của giác quan ( Tức làm sở duyên - Ārāmmana Paccaya). Khi một đối tượng có thể sờ mó hay xúc chạm được kích thích vào năng lực cảm nhận của thân thể ( Body sensitivity) thì sự nhận thức của thân thể ( tức thân thức – Kāya Viññāna – Body consciousness) xuất hiện. Đối tượng có thể sờ mó, xúc chạm này là nguyên nhân liên hệ với thân thức như là một đối tượng của giác quan

( Tức làm sở duyên - Ārāmmana Paccaya). Khi một đối tượng của nhận thức hay đối tượng không phải là mình ( khách thể - Object of consciousness) kích thích vào năng lực cảm nhận của tâm trí ( Mind sensitivity) thì sự nhận thức của tâm trí ( tức ý thức – Mano Viññāna – mind consciousness) hiện khởi. Đối tượng của nhận thức là nguyên nhân liên hệ với ý thức như là một đối tượng của giác quan ( Tức làm sở duyên - Ārāmmana Paccaya). Vì vậy, do 6 năng lực cảm nhận của các giác quan bị 6 loại đối tượng của các giác quan kích thích mà sinh ra 17 chập nhận thức liên tiếp ( còn gọi là 17 sát na tâm) trong tiến trình phát khởi của bất cứ một hiện tượng nào. Mười bảy chập nhận thức liên tiếp này là một khoảng thời gian cực nhanh mà một hiện tượng nào đó đã sinh ra và tan biến đi bao gồm cả 7 chập tư tưởng thúc đẩy hay 7 xung lực nhận thức ( Javana – Impulsive consciousness). Sau đó nghiệp thiện lành ( Kusala) hay nghiệp bất thiện

( Akusala) mới được tạo thành. Nếu nghiệp được tạo ra không phải thiện lành thì nó là bất thiện hay ngược lại. Bất cứ khi nào, 6 đối tượng của các giác quan kích thích 6 năng lực cảm nhận của các giác quan trong sự liên tục nhận thức, nếu ngay lúc đó bạn có được một quan kiến đúng đắn thì thiện nghiệp sẽ phát sanh. Ngược lại, nếu ngay lúc đó bạn không có quan kiến đúng đắn thì bất thiện nghiệp sẽ phát sanh. Một người có thực hành thiền minh sát cần phải luôn luôn gặt hái được phước báu. Nếu không gặt hái được thiện nghiệp thì họ phải gặt hái bất thiện nghiệp.

Tóm tắtCó quan kiến đúng đắn và có thực hành sự chú ý là thiện lành, ngược lại là bất thiện.

 Không có quan kiến đúng đắn sẽ dẫn đến nghiệp bất thiện

Một người nào đó không có một quan kiến đúng đắn sẽ trở nên bám víu khi bắt gặp những đối tượng có thể làm cho anh ta cảm thấy dễ chịu như : Các hình ảnh đẹp, âm thanh thuận  tai, mùi thơm, vị dễ chịu, cảm giác êm ái… Đây chính là trạng thái tâm tham lam ( lobha – greed).Tâm tham lam này chính là nguyên nhân gốc của nghiệp bất thiện ( Akusala- demerit). Người không có một quan kiến đúng đắn sẽ trở nên sân hận khi phải đối diện với những đối tượng bất như ý như : Các hình ảnh xấu xí, âm thanh chát tai, mùi hôi, vị khó chịu và cảm giác xúc chạm không ưa thích… Tâm sân hận này chính là nguyên nhân gốc của nghiệp bất thiện. Những người không có quan kiến đúng đắn sẽ trở nên bám víu và tham lam khi bắt gặp những đối tượng có thể làm cho giác quan của họ được thoả mãn. Đành rằng, tâm tham lamnguyên nhân gốc của nghiệp bất thiện. Tuy nhiên, những đối tượng không thể làm thỏa mãn các giác quan cũng là nguyên nhân gốc của nghiệp bất thiện.

 Có quan kiến đúng đắn sẽ dẫn đến nghiệp thiện lành

Những người có quan kiến đúng đắn sẽ nghĩ rằng, bởi vì trong những kiếp sống ở quá khứ họ đã thực hiện nhiều hành động xứng đáng, nên trong kiếp sống này họ mới gặp được những đối tượng dễ chịu như : Các hình ảnh đẹp, âm thanh thuận tai, mùi thơm... Mỗi khi bắt gặp những đối tượng như ý, họ không khởi tâm tham lam hay bám víu vào chúng. Ngược lại, họ sẽ cố gắng vượt qua chúng. Họ sẽ nghĩ rằng, ngay trong kiếp sống hiện tại này họ cần phải thực hành bố thí, giữ Giới, tham thiền để có được những kết quả tốt đẹp cho những kiếp sống ở tương lai và đạt tới Niết Bàn. Vì vậy, họ tránh được tham lam và những nghiệp bất thiện. Những người có quan kiến đúng đắn sẽ nghĩ rằng, bởi vì trong những kiếp sống ở quá khứ họ đã thực hiện nhiều hành động bất thiện, nên trong kiếp sống hiện tại này họ phải chạm trán với những đối tượng bất như ý như : Các hình ảnh xấu xí, âm thanh chát tai, mùi khó chịu…Họ chỉ có thể vượt qua được những kết quả xấu của nghiệp bằng cách thực hiện những hành động thiện lành, cũng như cố gắng để thực hiện những hành động thiện lành này càng nhiều càng tốt và nhiều hơn trong quá khứ. Do đó, khi đã vượt qua được những kết quả xấu của nghiệp, những người này sẽ không còn sân hận mỗi khi bắt gặp những đối tượng bất như ý. Nói tóm lại, khi đã có một quan kiến đúng đắn thì người ta sẽ không bao giờ tham lamsân hận. Thay vào đó, họ sẽ gặt hái được nhiều nghiệp thiện lành.

 Không chú ý sẽ trở nên bất thiện

Mỗi khi bắt gặp những đối tượng có thể làm thoả mãn các giác quan như :  Các hình ảnh đẹp, âm thanh thuận tai, mùi thơm dễ chịu… những người không thực hành thiền minh sát thường có thói quen khởi tâm tham lam và bám víu vào các đối tượng đó. Tâm tham lam và bám víu này là nguyên nhân gốc của nghiệp bất thiện. Khi bắt gặp những đối tượng bất như ý như : Các hình ảnh xấu xí, âm thanh chát tai, mùi khó chịu… những người không thực hành thiền minh sát sẽ trở nên sân hận, phiền lòng.Tâm sân hận này là nguyên nhân gốc của nghiệp bất thiện.   

 

 Chú ý sẽ trở nên thiện lành

Mỗi khi bắt gặp những đối tượng bất như ý như : Các hình ảnh xấu xí, âm thanh chát tai, mùi khó chịu… Những người có thực hành thiền minh sát thường tập trung sự chú ý một cách chính xác lên tiến trình “ đang thấy”, “ đang nghe”, “ đang ngửi”… của chính họ. Vì vậy, họ sẽ gặt hái được kiến thức về trạng thái đang tan hoại của vạn hữu và lãnh hội được rằng, khi những đối tượng bất như ý nói trên bị họ chú ý một cách tích cực, chúng sẽ dần dần biến mất đi. Do đó, người đã gặt hái được kiến thức về trạng thái đang tan hoại của vạn hữu sẽ không bao giờ bám víu vào bất cứ một cái gì, dù cái đó có làm cho họ hài lòng hay không. Thay vào đó, họ sẽ gặt hái được phước báu minh sát ( Vipassanā Kusala).

 Mỗi khi những người đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu suy nghĩ về một điều gì, tâm thức của họ thường phát khởi những đối tượng làm cho họ hài lòng hoặc không hài lòng. Ngay lúc đó, họ sẽ nhận thức được rằng, trạng thái tâm đang suy nghĩ của chính mình cũng sẽ tan biến đi khi họ tập trung sự chú ý lên nó. Vì vậy, thay vì phải đối diện với những nghiệp bất thiện do bị tham lam và sân hận chi phối, họ sẽ gặt hái được phước báu thiện lành do thiền minh sát mang đến. Nói tóm lại, khi 6 giác quanmắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý bị những đối tượng như hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, cảm giác xúc chạm và đối tượng của tâm ý  kích thích thì ngay lúc đó, bạn cần phải có một quan kiến đúng đắn về những cảm nhận của các giác quan. Nói cách khác, bạn cần phải tập trung sự chú ý một cách chính xác và liên tục lên những cảm nhận của giác quan ( tức cảm giác) để nhận biết được bản chất của chúng. Nếu thực hành như vậy, bạn sẽ gặt hái được những nghiệp thiện lành.

 

                           Patthāna Desanā  - Adhipati Paccaya

              ( Duyên vượt trội hay tăng thượng duyên)

 

Patthāna Desanā là một bài Pháp hoàn chỉnh nhất nói về các nguyên nhân liên hệ ( causal relationship) giữa tinh thầnvật chất, tức danh ( Nāma) và sắc

( Rūpa). Đặc biệt, từ lâu trong quá khứ, các nhà khoa học đã thừa nhận Patthāna Desanā. Những người Phật tử mộ Đạo và nhiều thiện tri thức khác nên học tập và nghiên cứu bài Pháp này. Patthāna Desanā là một bài thuyết Pháp rất khó hiểu, uyên thâm và tinh tế. Nó đã được giới thiện tri thức khảo sát và diễn giải bằng nhiều kỹ thuật đa dạng rất thú vị. Các bậc hiền triết ngày xưa đã từng nói rằng, trong tất cả các loại Kinh Điển của Phật Giáo, Patthāna Desanā là một bài Pháp có ý nghĩa uyên thâm và gây nhiều kinh ngạc nhất cho giới nghiên cứu Phật học. Nói một cách tóm tắt, Patthāna Desanā bao gồm 24 nguyên nhân liên hệ. Trong 24 nguyên nhân liên hệ này, Adhipati paccaya ( tức tăng thượng duyên) đã được Đức Phật thuyết giảng như là một nguyên nhân thứ ba. Từ Adhipati paccaya là một từ kép. Trong đó, Adhipati có nghĩa là vượt trội hay chiếm ưu thế, từ paccaya có nghĩa là nguyên nhân liên hệ ( tức duyên).Vì vậy, Adhipati paccaya có nghĩa là duyên vượt trội hay tăng thượng duyên. Adhipati paccaya đã được Đức Phật thuyết giảng dưới 2 hình thức : Ārammanā AdhipatiHasajata Adhipati. Trong đó, Ārammanā Adhipati có nghĩa là 6 đối tượng của các giác quan có chức năng kích thích 6 giác quan và làm phát khởi 6 loại cảm giác như làmột nguyên nhân liên hệ. Ārammanā Adhipati cũng là một nguyên nhân liên hệtương tự nhưĀrammanā paccaya. Tuy nhiên, trong Ārammanā Adhipati,  yếu tố nhân duyên đã được Đức Phật thuyết giảng một cách chi tiết và mang tính đặc thù hơn. Vì vậy, ở đây chúng ta chỉ khảo sát duyên vượt trội hay tăng thượng duyên ( Adhipati paccaya) qua hình thức Sahajata Adhipati. Trong tăng thượng duyên ( Adhipati paccaya) có những yếu tố vượt trội sau đây :

1. Chandā  dhipati Ý chí vượt trội ( Predominant desire)

2. Viriya dhipatiNăng lực tinh tấn vượt trội ( Predominant effort)  

3. Citta dhipatiNăng lực nhận thức vượt trội ( Predominant consciousness)

4. Vimamsa dhipati  -  Trí tuệ khảo sát vượt trội ( Predominant investigating wisdom).

 Tăng thượng duyên ( Adhipati paccaya –  tức duyên vượt trội) khởi lên trong tiến trình liên tục nhận thức của những bậc cao thượng - những người có ý chí lớn lao để thực hiện những công việc tốt lành nào đó cho đến khi đạt tới mục đích. Họ là những người dũng cảm luôn luôn mang trong mình một tâm thức cao thượng như các vị Bồ-Tát chẳng hạn. Khi nói Paccayaduyên hay nguyên nhân liên hệ với nguyên nhân gốc thì điều này có nghĩa là : Tăng thượng duyên đã đồng thời xảy ra cùng lúc với một ý chí vượt trội mà nó đã liên hệ ( Ở đây ý chí vượt trộinguyên nhân gốc -ND). Sức mạnh tinh thần vượt trội hay ý chí vượt trội đã lôi cuốn tăng thượng duyên bằng cách loại bỏ năng lực của những duyên khác.

 Tăng thượng duyên hiện khởi trong tiến trình liên tục nhận thức của một vị Bồ-Tát

Khi ý chí vượt trội ( Chandā dhipati – Predominant desire) khởi lên trong tiến trình liên tục nhận thức của một vị Bồ-Tát,ý thức cũng đồng thời hiện khởi với ý chí ( Chandā – Desire) của Ngài. Hai hiện tượng đồng thời hiện khởi cùng lúc này được gọi là tâm song hành ( Sampayuttakkhanda – Mental concomitants). Tâm song hành ( ý thức và ý chí) đã sản sinh ra các hoạt động thuộc về thể xác và lời nói ( tức tâm vật chất – Cittajarūpa). Tuỳ thuộc vào ý chí của một vị Bồ- Tát, các hiện tượng thuộc về thể xác và lời nói của Ngài mới hiện khởi và hoạt động theo đường lối của ý chí đó. Ý chí vượt trộinguyên nhân liên hệ với ý thức. Chính tư tưởng hay tâm song hành của vị Bồ- Tát đã sản sinh ra các hiện tượng vật chất qua cách thức mà chúng ta gọi là tăng thượng duyên. Khi năng lực tinh tấn vượt trội ( Viriya dhipati – Predominant effort) khởi lên trong tiến trình liên tục nhận thức của một vị Bồ- Tát, ý thức và ý chí bị năng lực tinh tấn này dẫn dắt và cả 3 đã xảy ra một cách đồng thời, mỗi khi vị Bồ- Tát thực hiện các công việc cao quí của Ngài với mục đích trở thành Phật. Do những nhân tố tinh thần này ( tức ý thức, ý chínăng lực tinh tấn vượt trội ) mà các hoạt động tích cực thuộc về thể xác, lời nói của vị Bồ-Tát đã hiện khởi theo sự dẫn dắt của năng lực tinh tấn vượt trội. Ở đây năng lực tinh tấn vượt trộinguyên nhân liên hệ với tâm song hànhtâm vật chất ( tức các hoạt động thuộc về thân thể và lời nói) qua cách thức của tăng thượng duyên. Khi năng lực nhận thức vượt trội ( Citta dhipati – Predominant consciousness) khởi lên trong tiến trình liên tục nhận thức của một vị Bồ-Tát, tâm song hành ( tức ý thức và ý chí) liền bị sự nhận thức này dẫn dắt và cả 2 đều xảy ra đồng thời. Do những yếu tố tinh thần này ( ý thức, ý chínăng lực nhận thức vượt trội) mà các hoạt động thuộc về thể xác và lời nói đã hiện khởi theo kế  hoạch của tâm ( tức năng lực nhận thức vượt trội). Vì vậy, năng lực nhận thức vượt trộinguyên nhân liên hệ với tâm song hànhtâm vật chất qua cách thức của tăng thượng duyên. Khi trí tuệ khảo sát vượt trội

( Vimamsa adhipati hay Paññā adhipati – Predominent investigateing wisdom) khởi lên trong tiến trình liên tục nhận thức của một vị Bồ-Tát thì tâm song hành đã nhận biết được nó và cả hai đã xảy ra một cách đồng thời. Lúc đó, tâm song hành sản sinh ra các hiện tượng như các hoạt động thuộc về thân xác và lời nói. Các hoạt động này bị trí tuệ khảo sát vượt trội dẫn dắt. ( Ở đây trí tuệ khảo sát vượt trội còn được gọi là năng duyên, tức duyên hiện khởi đồng thời và hỗ trợ cho sở duyên. Ví dụ một ngọn lửa đã hiện khởi đồng thời và hỗ trợ cho ánh sáng phát ra từ ngọn lửa đó – ND). Trí tuệ khảo sát vượt trộinguyên nhân liên hệ của tâm song hànhtâm vật chất qua cách thức của tăng thượng duyên. Vì vậy, vị Bồ-Tát đã phát triển được 10 hạnh Ba-La-Mật bằng 4 loại tăng thượng duyên, 5 sự hy sinh lớn lao và cuối cùng Ngài đã giác ngộ thành Phật.

 Tăng thượng duyên khởi lên trong tiến trình liên tục nhận thức của một người thực hành thiền minh sát

Khi bạn đang thực hành thiền minh sát, ý chí vượt trội đã đồng thời hiện khởi với tâm song hành trong tiến trình liên tục nhận thức của bạn. Ngay lúc đó, trạng thái tinh thần vừa được cấu thành ( tức ý chí vượt trội và tâm song hành) đã có chiều hướng nghiêng về phía ý chí vượt trội. Các hoạt động thuộc về thể xác và lời nói phát khởi từ trạng thái tinh thần này luôn luôn bị ý chí vượt trội dẫn dắt. Vì vậy, tâm song hành đã sản sinh ra các hiện tượng như là những nguyên nhân liên hệ với ý chí vượt trội qua cách thức của tăng thượng duyên. Khi bạn đang thực hành thiền minh sát, năng lực tinh tấn vượt trội sẽ hiện khởi trong tiến trình liên tục nhận thức của bạn. Tâm song hành đồng thời khởi lên cùng lúc với năng lực tinh tấn vượt trội và có chiều hướng bị dẫn dắt bởi năng lực này. Vì vậy, tâm vật chất, tức các hoạt động thuộc về thân xác và lời nói cũng đã khởi lên theo chiều hướng của năng lực tinh tấn vượt trội. Do đó, tâm vật chấtnguyên nhân liên hệ với năng lực tinh tấn vượt trội qua cách thức của tăng thượng duyên. Khi bạn đang thực hành thiền minh sát, năng lực nhận thức vượt trội sẽ khởi lên trong tiến trình liên tục nhận thức của bạn. Lúc này, tâm song hành đã được cấu thành và hiện khởi theo chiều hướng dẫn dắt của năng lực nhận thức vượt trội. Lúc này, Tâm vật chất cũng hiện khởi và hoạt động theo sự dẫn dắt của năng lực nhận thức vượt trội.Vì vậy, tâm vật chấtnguyên nhân liên hệ với năng lực nhận thức vượt trội qua cách thức của tăng thượng duyên. Khi bạn đang thực hành thiền minh sát, trí tuệ khảo sát vượt trội ( tức năng duyên) sẽ hiện khởi trong tiến trình liên lục nhận thức của bạn. Lúc này, tâm song hành đã nhận biết được và đồng thời hiện khởi theo sự dẫn dắt của trí tuệ khảo sát vượt trội. Tâm vật chất cũng chịu sự chi phối và dẫn dắt bởi trí tuệ khảo sát vượt trội. Vì vậy, tâm song hành đã sản sinh ra tâm vật chất như là nguyên nhân liên hệ với trí tuệ khảo sát vượt trội qua cách thức của tăng thượng duyên.

Do đó, hành giả thực hành thiền minh sát phải :

-  Thực hành thiền với ý chí vượt trội ( Chandā dhipati), thành thật mong muốn đạt tới Đạo Quả Niết Bàn.

-  Thực hành thiền với năng lực tinh tấn vượt trội ( Viriya dhipati)

-  Thực hành thiền với năng lực nhận thức vượt trội ( Citta dhipati), không nên nản chí khi khả năng chú ý để nhận thức của mình chưa phát triển tốt.

-  Thực hành thiền với trí tuệ khảo sát vượt trội ( Vimamsa dhipati) để từng bước gặt hái được tuệ minh sát hay kiến thức nội quán ( Vipassanà Nàna - Insight knowledge). Nói tóm lại, những hành giả đã có được 4 cách thức của Tăng thượng duyên nêu trên, thực hành thiền minh sát một cách bền bỉ và đúng phương pháp thì cuối cùng, họ sẽ đạt tới Đạo Quả Niết Bàn đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật mà họ hằng mong ước.

 

                      

                   Patthàna Desanà – Anantara Paccaya

                     ( Duyên kế cận hay vô gián duyên )

 

 Patthāna Desanā là bài thuyết Pháp hoàn chỉnh nhất về mối quan hệ giữa tinh thầnvật chất ( Nāma and Rūpa). Đặc biệt, từ lâu các nhà khoa học đã thừa nhận Patthāna Desanā. Những người Phật tử mộ Đạo và nhiều thiện tri thức khác nên học tập và nghiên cứu bài Pháp này. Patthāna Desanā là một bài Pháp rất khó hiểu, uyên thâm và tinh tế. Nó đã được các nhà thiện tri thức khảo sát, diễn giải bằng nhiều kỹ thuật đa dạng và rất thú vị. Các bậc hiền triết ngày xưa đã từng nói rằng trong tất cả các loại Kinh Điển của Phật Giáo, Patthāna Desanā là một bài Pháp khó hiểu, uyên thâm và gây nhiều kinh ngạc nhất cho giới nghiên cứu Phật học. Patthāna Desanā được tóm tắt trong 24 nguyên nhân liên hệ hay24 duyên

( Paccaya – The causally related). Trong 24 nguyên nhân liên hệ này, Duyên kế cận – Anantara Paccaya đứng ở vị trí thứ tư trong quá trình thuyết Pháp của Đức Phật. Trong duyên kế cận ( còn gọi là vô gián duyên hay thứ đệ duyên).Anantara có nghĩa là không gián đoạn, tương tục hay tương liên ( without break) và Paccaya có nghĩa là nguyên nhân liên hệ hay duyên ( The causally dependent). Vì vậy, Anantarapaccaya có nghĩa là duyên kế cận hay vô gián duyên. Vô gián duyên hay Duyên kế cận nghĩa là : Khi 6 đối tượng của giác quan hay 6 trần ( sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) tiếp xúc với 6 căn ( mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) thì 6 thức ( nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức ) sẽ hiện khởi. Khi 6 thức hiện khởi, mỗi thức sẽ liên tục khởi lên trong 17 chập tư tưởng ( một chập tư tưởng được gọi là sát na tâmCittakshana – Instant mind) . Trong tiến trình tư tưởng ( bao gồm ý chí và ý thức) của một người, trạng thái nhận thức nào khởi lên trước thì nó sẽ làm nguyên nhân liên hệ hay duyên cho trạng thái nhận thức hiện khởi tiếp liền sau nó. Tiến trình tư tưởng của chúng ta cứ tiếp tục diễn ra như thế… Mười bảy chập tư tưởng này trong ngôn ngữ Pàlì gọi là Vīţţhi ( tiến trình nhận thức với ý chí – The process of consciousness with daire ). Chỉ khi một người nào đó đã nhận biết được rằng, 3 nhân tố thiện, bất thiệnvô ký tính( Abyākata hay Upekhā – Neutral) đều được bao gồm trong Vīţţhi thì đến lúc đó, người này sẽ  lãnh hội được 7 nguyên nhân liên hệ trong vô gián duyên. Vì vậy, một tiến trình nhận thức với ý chí ( Vīţţhi – bao gồm 17 chập tư tưởng ) về bất cứ một hiện tượng nào đã được tóm tắt bằng những âm tiết đơn giản như : Ti, na, da, pa, ca, sam, nti, vu, ja, yum…Khi những đối tượng của thị giác tiếp xúc với nhãn thức, trạng thái nhận thức của mắt trải qua chập tư tưởng đầu tiên. Chập tư tưởng đầu tiên này được gọi là ti ( Atīta bhavanga). Tiếp đến, trạng thái nhận thức của mắt sẽ chuyển sang một chập tư tưởng khác gọi là na ( Bhavanga calāna – life continum). Tiếp theo, dòng tâm thức bị chận lại bởi một chập tư tưởng được gọi là da ( Bhavanga upaccheda – arrest of the life continuum). Sau đó, nhãn thức mới bắt đầu phát khởi. Chập tư tưởng khi nhãn thức mới bắt đầu phát khởi được gọi là pa ( pañca dvāravajjana – Tức ngũ môn hướng tâm - five door adverting conciousness). Tiếp đến, tiến trình “ đang thấy” của mắt mới thật sự hiện khởi một cách rõ ràng. Chập tư tưởng này được gọi là ca ( tức nhãn thức - Cakkhu viññāna - eyes conciousness). Tiếp theo, nhãn thức sẽ tiếp nhận và thích ứng với những đối tượng của thị giác. Chập tư tưởng này được gọi là sam ( sampaticchina – receiving conciousness). Về sau, trí tuệ khảo sát những đối tượng của thị giác mới  hiện khởi và chập tư tưởng này được gọi là nti ( santīrana – investigating conciousness). Tiếp đến, tâm thức mới xác định những đối tượng của thị giác là đẹp hay xấu, như ý hay bất như ý… Chập tư tưởng này được gọi là vu ( vuttho – determining conciousness). Tám chập tư tưởng nhận thức nói trên đều là vô ký tính ( tức pháp duy tác, có tính bị động, tịch tĩnh và không có năng lực thúc đẩy - Abyākatas – Neutrals). Muộn hơn là 7 chập tư tưởng nhận thức tính chất của đối tượng thị giác ( được gọi chung làja) sẽ phát khởi và mang lại hiệu quả tốt hoặc xấu cho tâm. Bảy chập tư tưởng nhận thức này được gọi là 7 xung lực nhận thức ( tức 7 lực thúc đẩy sự nhận thức - Javana - impulsive consciousness). Chính 7 xung lực nhận thức này đã xếp loại 3 nhân tố thiện, bất thiệnvô ký tính. Trong một tiến trình tư tưởng, 2 chập tư tưởng nhận thức duy tác được gọi là tadarum hay tadārammana hiện khởi song hành với những đối tượng của thị giác đã được tâm thức xác định. Bhavanga - hộ kiếp

( dòng tiềm thức luôn luôn trôi chảy, còn gọi là dòng tâm thức không có đối tượng nhận thức) có 3 loại : Atita bhavanga, salana bhavangapaccheda bhavanga. Sự phát động trạng thái nhận thức các đối tượng gọi là pañcadvārā vijjāna. Trạng thái tâm lãnh hội các đối tượng của thị giác gọi là cakhuviññāna. Trạng thái tâm tiếp nhận các đối tượng gọi là sampaticchana. Trạng thái tâm khảo sát các đối tượng gọi là santīrana. Trạng thái tâm quyết định các đối tượng là xấu hay tốt gọi là vuthāna. 7 xung lực nhận thức phát khởi về sau đều đồng thời hiện hữu trong 7 chập tư tưởng của tiến trình nhận thức một cái gì đó. Trong vô gián duyên nguyên thủy có 3 nhân tố là thiện, bất thiệnvô ký tính. Nói cách khác, 7 nguyên nhân liên hệ trong tiến trình nhận thức bao gồm cả 3 nhân tố thiện, bất thiệnvô ký tính. Bảy nguyên nhân liên hệ này là yếu tố căn bản dùng để phân biệt thiện,bất thiệnvô ký tính trong 17 sát na tâm của tiến trình nhận thức bất cứ một cái gì đó. Bắt đầu từ atīta bhavanga cho đến vuttho, tám chập tư tưởng này đều là vô ký tính. Hai chập tư tưởng duy tác hiện khởi song hành với những đối tượng của thị giác đã được tâm thức xác định ngay sau chập tư tưởng được gọi là vu. Tiếp đến là 7 xung lực nhận thức được xếp loại thành thiện, bất thiệnvô ký tính. Những xung lực nhận thức của các vị A-La-Hán đều là vô ký tính hay duy tác. Những xung lực nhận thức của các vị Thánh còn lại như : Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm và tất cả những chúng sanh khác là thiện hay bất thiện. Bảy nguyên nhân phụ thuộc trong vô gián duyên được tóm tắt như sau :

1. Thiện là nguyên nhân liên hệ với thiện

2. Thiện là nguyên nhân liên hệ với vô ký tính

3. Bất thiện là nguyên nhân liên hệ với bất thiện

4. Bất thiện là nguyên nhân liên hệ với vô ký tính

5. Vô ký tính là nguyên nhân liên hệ với vô ký tính

6. Vô ký tính là nguyên nhân liên hệ với với thiện

7. Vô ký tính là nguyên nhân liên hệ với bất thiện

  Bảy điểm phức tạp và tinh vi trong vô gián duyên

1. Thiện là nguyên nhân liên hệ với thiện nghĩa là : Trong 7 xung lực nhận thức

( impulsive consciousness), những hiện tượng thiện lành xảy ra trước sẽ làm nguyên nhân liên hệ  với những hiện tượng thiện lành xảy ra liền sau chúng qua một hình thức tương tục tương liên. Nguyên văn Pāli là :  Purima kusala dhamma pacchimànam pacchimānam kusalanam dhammanam, anantara paccayena paccayo.

2. Thiện là nguyên nhân liên hệ với vô ký tính nghĩa là :  7 xung lực nhận thức những hiện tượng thiện lành xảy ra sau cùng sẽ làm duyên cho chập tư tưởng vô ký tính đầu tiên ( có tên là ti – Khi trần tiếp xúc vớithức) qua một hình thức tương tục tương liên. Nguyên văn Pāli là :  Purima kusala dhamma pacchimanam pacchimānam, abyākātānam dhammanam anantara paccayena paccayo.

3. Bất thiện là nguyên nhân phụ thuộc với bất thiện nghĩa là : 7 xung lực nhận thức những hiện tượng bất thiện xảy ra trước sẽ làm nguyên nhân liên hệ hay duyên với những hiện tượng bất thiện xảy ra liền sau chúng qua một hìnhthức tương tục tương liên. Nguyên văn Pālilà : Purima akusala dhamma pacchimanam, pacchimànam, akusalānam, dhammānam ,anantara pacchayena paccayo.

4. Bất thiện là nguyên nhân liên hệ với vô ký tính nghĩa là : 7 xung lực nhận thức những hiện tượng bất thiện cuối cùng sẽ làm nguyên nhân liên hệ với chập tư tưởng vô ký tính đầu tiên ( có tên là ti – khi trần tiếp xúc vớithức) qua một hình thức tương tục tương liên. Nguyên văn Pāli là : Purima akusala dhamma pacchimānam, pacchimānam, abyākatanam, dhammānam, anantara paccayena paccayo.

5. Vô ký tính là nguyên nhân liên hệ với vô ký tính nghĩa là : Trong tiến trình tư tưởng về một cái gì đó ( Vīţţhi - bao gồm 17 chập tư tưởng), chập tư tưởng vô ký tính đầu tiên ( có tên là ti – khi trần tiếp xúc với thức) sẽ làm nguyên nhân liên hệ với chập tư tưởng vô ký tính xảy ra liền sau nó qua một hình thức tương tục tương liên. Nguyên văn Pàlì là : Purima , abyākata dhamma pacchimānamm, pacchimānam abyākatanam dhammānam anantara paccayena paccayo.

6. Vô ký tính là nguyên nhân liên hệ với thiện nghĩa là : Chập tư tưởng vô ký tính có tên là vu sẽ làm nguyên nhân liên hệ với xung lực nhận thức thiện lành đầu tiên ( có tên là ja thiện lành) qua một hình thức tương tục tương liên. Nguyên văn Pāli là purima, abyākata dhamma pacchimānam, pacchimānam, kusalānam dhammānam, anatara paccayena paccayo.

7. Vô ký tính là nguyên nhân liên hệ với bất thiện nghĩa là : Chập tư tưởng vô ký tính có tên là vu sẽ làm nguyên nhân liên hệ với xung lực nhận thức bất thiện đầu tiên ( tức ja bất thiện) qua một hình thức tương tục tương liên. Nguyên văn Pāli là : Purima abyākata dhamma pacchimānam, pacchimānam, kusalanam dhammanam, anatara paccayena paccayo

 Vì vậy, trong vô gián duyên có 7 nguyên nhân liên hệ qua một hình thức tương tục tương liên, đó là : Thiện liên hệ với thiện, thiện liên hệ với vô ký tính, bất thiện liên hệ với bất thiện, bất thiện liên hệ với vô ký tính, vô ký tính liên hệ với vô ký tính, vô ký tính liên hệ với thiệnvô ký tính liên hệ với bất thiện. Trạng thái cảm nhận của các giác quantrạng thái cấu thành của tâm thức chính là nguyên nhân liên hệ với những yếu tố của tâm thức để cấu thành một tâm thức mới một cách liên tục không ngừng nghỉ. Nghiên cứu về 7 nhân tố chính yếu và phức tạp trong vô gián duyên (Anantara paccaya) tức là nghiên cứu cách thức tương tục tương liên khi tiến trình cấu thành tâm thức đầu tiên làm nguyên nhân liên hệ một cách ngay lập tức với những hiện tượng xảy ra liền sau nó. Đẳng vô gián duyên ( Samanantara paccaya) là một loại duyên có chức năng đồng nhất hay giống hệt như vô gián duyên ( Anantara paccaya). Vì vậy, mạo từ samanantara paccaya ( Đẳng vô gián duyên) là một thuật ngữ không thể bỏ sót trong bài thuyết Pháp này.

  

 

                    Patthāna Desanā – Sahajāta paccaya

             ( Duyên mới hình thành hay câu hữu duyên)

 

Patthāna desanā được tóm tắt trong 24 nguyên nhân liên hệ hay duyên

( paccaya). Trong 24 duyên này, duyên mới hình thành hay câu hữu duyên

( Sahajāta paccaya – ) đứng ở vị trí thứ 6 theo tuần tự thuyết Pháp của Đức Phật. Trong câu hữu duyên – Sahajāta paccaya, từ sahajāta có nghĩa là hiện khởi đồng thời ( Arising together) và từ paccaya có nghĩa là nguyên nhân liên hệ hay duyên. Đối với những người học tập và nghiên cứu về Patthāna desanā, điều đầu tiên và quan trọng nhất là họ phải lãnh hội được từ ngữ Pāli paccayapaccayuppan. Hai từ này có nghĩa là nguyên nhânkết quả ( The cause and effect). Thông thường, nguyên nhân sẽ xảy đến trước rồi sau đó kết quả mới xảy ra sau. Có một điều đáng chú ý là trong câu hữu duyên, nguyên nhân và kết quả cùng xảy ra đồng thời, chứ không phải cái này xảy ra trước rồi cái kia mới xảy ra sau. Điều này chỉ được biểu lộ một cách rõ ràng và chói lọi trong trí tuệ của Đức Phật Toàn Giác. Nó không hiển thị một cách rõ ràng trong trí tuệ của một người bình thường. Đó là lý do tại sao, những bậc thầy chú giải Kinh Điển thường nêu lên nhiều ví dụ để làm cho điều vừa nói trên được rõ ràng hơn. Ví dụ, khi một cây nến được thắp lên thì nó sẽ cháy sáng. Ánh sáng của cây nến xuất hiện đồng thời với ngọn lửa và cây nến tiếp tục cháy. Tương tự như vậy, trong câu hữu duyên

( Sahajāta paccaya), nguyên nhân và  kết quả đều xuất hiện đồng thời và cùng hiện hữu trong cùng một khoảnh khắc nhất định. Bài Pháp về duyên mới hình thành ( tức duyên câu hữu)được tóm tắt trong 4 danh uẩn bao gồm : 89 loại tâm hữu hình hay tâm cấu thành ( Nāmakkhandha Citta), 52 nhân tố thuộc về tinh thần còn gọi làtâm sở ( Cetasika), 4 yếu tố là đất ( Pathavī – Earth), nước

( Āpo – Water), lửa hay hơi nóng ( Tejo – Light or heat), gió hay sự chuyển động ( Vayo – Wind or Motion) và các hình thức vật chất của tâm ( Hādaya vatthu rūpa). Tất cả những yếu tố vừa kể trên khởi lên một cách liên tục trong tâm thức của chúng ta. Khi đang đọc một cuốn sách, nếu có khả năng chiêm nghiệm về những điều được viết trong cuốn sách đó thì dĩ nhiên bạn sẽ lãnh hội kiến thức một cách tốt hơn.

 6 cách thức của những nguyên nhân phụ thuộc

1. Tinh thần và tinh thần là nguyên nhân liên hệ với một hiện tượng tinh thần khác

2. Vật chất và vật chất là nguyên nhân liên hệ với mộthiện tượng vật chất khác

3.Tinh thần và vật chất là nguyên nhân liên hệ với một hiện tượng tinh thần và vật chất khác

4. Tinh thần là nguyên nhân phụ thuộc với vật chất

5. Vật chất là nguyên nhân phụ thuộc với vật chất

6. Vật chất là nguyên nhân phụ thuộc với tinh thần   

 1. Tinh thần và tinh thần là nguyên nhân liên hệ với một hiện tượng tinh thần khác nghĩa là :  Duyên tinh thần ( Paccaya nāma dhamma) là nguyên nhân liên hệ với kết quả của nó ( paccayuppana) -  cũng là một hiện tượng tinh thần. Nguyên văn Pàlì là : Cattārokhanda arūpino annamannam sahajāta paccayena – paccayo.

Theo khái niệm về ngũ uẩn mà Đức Phật đã thuyếtthì có 4 loại danh uẩn, bao gồm 52 loại tâm sở ( Cetasika). Chúng bao gồm những cảm thọ tâm sở ( Vedanā cetasika) được gọi là thọ uẩn ( Vedanākkhandha ), tưởng uẩn ( Sannakkhandha) và nhiều loại tâm sở khác được gọi chung là hành uẩn ( Sankhārakhandha).

Còn 89 loại tâm cấu thành thì gọi là thức uẩn ( Viññānakkhandha). Chính 4 loại cảm thọ tâm sở vừa nói trênđã tạo nên danh uẩn ( Nāmakkhandha). Annamannanguyên nhân liên hệ với một nguyên nhân khác. Nếu thọ uẩn làm nguyên nhân liên hệ thì tưởng uẩn, hành uẩnthức uẩnkết quả tất yếu phải xảy ra của nguyên nhân liên hệ này. Khi tưởng uẩn, hành uẩnthức uẩnnguyên nhân liên hệ thì ngược lại, thọ uẩn sẽ là kết quả của nguyên nhân liên hệ này. Khi thọ uẩntưởng uẩnnguyên nhân liên hệ thì hành uẩnthức uẩn sẽ là kết quả của nguyên nhân liên hệ này. Khi hành uẩnthức uẩn là nguyên nhân liên hệ thì thọ uẩntưởng uẩn sẽ là kết quả của nguyên nhân liên hệ này. Vì vậy, danh uẩn ( Nāmakkhandha – bao gồm 4 nhân tố là thọ, tưởng, hành, thức) tự nó đã và đang trở thành nguyên nhânkết quả trong một vòng quay bất tận. Trong vòng quay này, một nguyên nhân nào đó sẽ liên hệ với một nhóm hiện tượng khác ( Annamanna). 

 2. Vật chất và vật chất là nguyên nhân liên hệ với một hiện tượng vật chất khác nghĩa là :  Một hiện tượngnguyên nhân liên hệ với một hiện tượng kháckết quả của chính nó. Nguyên văn Pāli là Cattàro mahābhūtā annamannam, sahajāta paccayena paccayo. Bốn yếu tố đất, nước, lửa, gió ( Cattāro mahabhūta) là nguyên nhân liên hệ của nhau. Annamannanguyên nhân liên hệ với một nhóm hiện tượng khác có nghĩa là :  Khi Đất ( Pathavī) làm nguyên nhân liên hệ thì nước, lửagió sẽ là các hiện tượng làm kết quả của nguyên nhân này. Khi nước, lửagiónguyên nhân liên hệ thì đất sẽ là kết quả do 3 hiện tượng này tạo ra. Nếu đấtnướcnguyên nhân liên hệ thì lửagió là những hiện tượng làm kết quả cho nguyên nhân liên hệ này. Khi lửagió làm nguyên nhân liên hệ thì đấtnước sẽ là kết quả của lửa và gió. Vì vậy, 4 yếu tố đất, nước, gió, lửa đã và đang trở thành nguyên nhân liên hệkết quả của chính bản thân chúng trong một vòng quay bất tận được gọi là annamanna

( Nguyên nhân liên hệ với một nhóm hiện tượng khác).

 3. Tinh thần và vật chất là nguyên nhân liên hệ với một hiện tượng tinh thần và vật chất nghĩa là :  Theo khái niệm về sự tạo thành ngũ uẩn mà Đức Phật đã thuyết ra, danh uẩn là hiện tượng chính yếu đã tạo nên các hiện tượng vật chất. Danh uẩntâm vật chất  (tức các hình thức vật chất như đất, nước, gió, lửa) hiện khởi đồng thời để tạo ra khái niệm về ngũ uẩn như là một nguyên nhân liên hệ với các nhóm hiện tượng khác. Nguyên văn Pāli là okkantikkhane nāmarūpan annamannan sahajāta paccayena paccayo. Trong danh sắc ( Nāmarūpam – khái niệm về tinh thần và vật chất), khi các yếu tố tinh thần hiện khởi như là danh uẩn thì tâm vật chất ( Rūpam hādaya vatthu) sẽ hiện khởi và ngược lại. Annamanam là nguyên nhân liên hệ với một nhóm hiện tượng khác nghĩa là : Nếu danh uẩnnguyên nhân liên hệ thì tâm vật chất sẽ là kết quả của nguyên nhân này. Ngược lại, nếu tâm vật chấtnguyên nhân liên hệ thì danh uẩn sẽ là kết quả của tâm vật chất.Vì vậy, danh uẩntâm vật chất đã trở thành nguyên nhânkết quả của nhau trong một vòng tròn bất tận gọi là Annamanam.

 4. Tinh thần là nguyên nhân liên hệ với vật chất nghĩa là : tâmtâm cấu thành ( tức tâm sở hay trạng thái tâm) hiện hữu đồng thời trong tâm thức của chúng ta, bởi vì vật chất là do tâm tạo ra. Tâm sở ( Citta Cetasikà – Mind constituent) chính là nguyên nhân liên hệ. Nguyên văn Pàlì là Citta cetasika dhamma samutthānānam rūpānam sahajāta paccayena paccayo. Tâm vật chất được cấu thành bởi 75 loại danh uẩn52 loại tâm sở ( tức trạng thái tâm hay tính cách của một cá nhân). Theo khái niệm về tâm vật chất trong Kinh Điển Pāli, các hoạt động như đi, đứng, nằm, ngồi đều do các loại tâm vật chất này tạo nên. Tâm vật chất là một đối tượng quan trọng cần phải lưu ý đối với người thực hành thiền minh sát. Khi đang đứng, nếu những hành giả thực hành thiền minh sát đã gặt hái được kiến thức về luật nhân quả có ý định muốn bước đi thì họ sẽ nhận ra rằng “ý định muốn bước đi” sẽ khởi lên trước “ hành động bước đi”. Ngay lúc này, họ cần phải chú ý đến “ ý định muốn bước đi” và niệm thầm trong tâm “ có ý định muốn bước đi, có ý định muốn bước đi...”. Cách thực hành chú ý theo lối này là cách chú ý đến các hiện tượng thuộc về tâmtánh (Citta and Cetasika ). Do ảnh hưởng của “ ý định muốn bước đi” mà các tâm sở ( tức tánh hay tính cách – Cetasika - Character)đã tạo ra tâm vật chất được biểu hiện qua “ tiến trình đang đi”. Ngay lúc này, hành giảcần phải chú ý đến tiến trình “ đang đi”.

Cách chú ý này chính là chú ý đến tâm vật chất. Mỗi khi đang ở trong tư thế đứng, ngồi, nằm bạn hãy chú ý đến các ý định “ muốn đứng”, “ muốn ngồi” và “ muốn nằm”. Nói cách khác, sự chú ý theo lối này cũng có nghĩa là thực hành sự chú ý đến tâm sở . Chú ý đến các hoạt động của thân thể như “ đang đứng”, “ đang ngồi”, “đang nằm” tức là chú ý đến tâm vật chất đang đóng vai trò như là một nguyên nhân liên hệ.

 - Vật chất là nguyên nhân liên hệ với những hiện tượng vật chất khác nghĩa là :

 4 yếu tố vật chất ( đất, nước, lửa, gió) là  nguyên nhân liên hệ với kết quả của chúng ( kết quả này cũng là những hiện tượng vật chất). Nguyên văn Pāli là : Mahābhūta upādā rūpanam sahajāta paccayena paccayo. Theo khái niệm về tứ đại ( đất, nước, lửa, gió) thì tập hợp này bao gồm 24 loại vật chất cấu thành

( Upāda – Meterial constituent). Bốn hiện tượng đất, nước, lửa, giónguyên nhân liên hệ với 24 loại vật chất cấu thành này. Tuy nhiên, 24 loại vật chất cấu thành vừa nói trên không bao giờ là nguyên nhân liên hệ với tứ đại  (Đất, nước, lửa và gió). Vì vậy, ở đây mặc dù vật chất liên hệ với vật chất nhưng mối quan hệ nhân quả này không phải là một Annamanna ( tức làm nguyên nhân và kết quả cho nhau). Ví dụ, tứ đại ( Mahābhūta) giống như một cái cây, 24 loại vật chất cấu thành ( Upāda – Meterial constituent) giống như cái bóng của cây. Mặc dù cái cây có thể là nguyên nhân của bóng cây, nhưng bóng cây thì không thể nào là nguyên nhân của cây được. Vì vậy, chúng không có quan hệ hợp tác qua lại với nhau theo 2 chiều mà chỉ liên hệ với nhau theo một chiều duy nhất như đã trình bày ở trên.

- Vật chất là nguyên nhân liên hệ với tinh thần nghĩa là :  Các hiện tượng được cấu thành làm nguyên nhân liên hệ với kết quả của chúng trong một khoảng thời gian cực ngắn – gần như là một khái niệm. Tuy vậy, không phải là ngẫu nhiên mà mối quan hệ này lại xảy ra. Nó phải cần đến một nhân tố thứ 3 làm động lực xúc tác. Nguyên văn Pāli là Rūpino dhamma arūpīnam dhammānam kincikāle sahajāta paccayena paccayo, kincikāle na sahajāta paccayena paccayo.

 Theo khái niệm về vật chất trong Kinh Điển Pāli, tâm vật chất là một sự cấu thành. Theo khái niệm về ngũ uẩn thì tâm vật chất thuộc về danh uẩn. Trong duyên mới hình thành ( tức câu hữu duyên), tâm vật chất chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian cực ngắn – gần như là một khái niệm. Trong khoảnh khắc cực ngắn đó, nó có thể là nguyên nhân liên hệ với tinh thần. Tuy nhiên, trong duyên mới hình thành hay câu hữu duyên ( Sahajāta paccaya), đôi khi tâm vật chất chỉ là một khoảng thời gian cực ngắn thoảng qua. Ngay trong khoảnh khắc đó, nó không phải là một nguyên nhân liên hệ

 

                         Hạnh phúc trong cõi thế gian  

 

 Những người Phật tử thế tục luôn luôn mong muốn một cuộc sống hạnh phúc trong cõi thế gian ( Lokiya – The mundance world) trước khi họ đạt tới Niết Bàn bình yên ở cõi xuất thế gian ( Lokuttara – The supramundance world). Đồng thời, họ cũng mong muốn gặt hái được Đạo Quả Niết Bàn ( Magga phala Nibbāna).

Đó là lý do tại sao, Đức Phật đã từng thuyết Pháp về hạnh phúc ở cõi thế gianxuất thế gian. Trong vô số nhân tố hạnh phúc ở thế gian, Đức Phật đã thuyết Pháp về 4 nhân tố sau đây nhằm mang lại hạnh phúc cho chính người thực hành chúng và nhiều người khác :

1. Tâm từ ( Mettā) -  Có lòng yêu thương tử tế đối với những chúng sanh khác.

2. Tâm bi ( Karunā) - Có lòng trắc ẩn đối với những những ai đang bị khổ đau.

3. Tâm hỷ ( Muditā) -  Hoan hỷ và mong muốn cho người khác được tốt hơn.

4. Tâm xả ( Upekkhā)  - Có một tâm trí thăng bằng tĩnh lặng, dù ở trong hoàn cảnh nghèo khổ hay giàu có cũng đều bình thản.

Đa số chúng sanh sống trong cõi thế gian đều quan tâm đến 4 nhân tố hạnh phúc này. Đó là lý do tại sao, những người mong muốn thực hành 4 nhân tố hạnh phúc này phải có tâm từ, bi, hỷ, xả mỗi khi họ bắt gặp bất cứ một chúng sanh nào. Những người mong muốn thực hành 4 nhân tố hạnh phúc trong cõi thế gian phải làm sao đó để vượt qua được số phận của chính họ, bất luận đang ở trong hoàn cảnh khổ đau hay hạnh phúc, họ cũng đều phải xem những hoàn cảnh đó như nhau. Những người có khả năng thực hành tâm từ, bi, hỷ, xả đối với mọi tầng lớp trong xã hội không những gặt hái được phước báu mà còn được hạnh phúc về thể xác và tinh thần.

Tránh việc thực hành tâm từ do ganh đua với người khác

Khi  gặp những người có địa vị ngang hàng với mình, nếu không có thói quen thực hành tâm từ, bạn sẽ dễ phát sinh tính muốn ganh đua với họ. Bạn có thể nghĩ rằng : “ tôi cũng tốt như ông ấy, tại sao tôi lại không thể tự hào như ông ấy ?..”

Tóm tắt: Nơi nào không có thực hành tâm từ thì nơi đó sẽ có tính ganh đua.

 3 loại tâm từ làm gia tăng hạnh phúc

Đó là lý do tại sao khi gặp những người có địa vị ngang hàng với mình, bạn phải nghĩ rằng họ cũng mong muốn được hạnh phúc về thể xác và tinh thần giống như mình vậy. Do đó, nên nên rải tâm từ đến với họ, “ cầu chúc cho họ được hạnh phúc trong thân tâm”. Bằng cách thực hành tâm từ, bạn sẽ gặt hái được ý nghiệp thiện lành ( Manokamma kusala) và phước báu. Nếu có một tâm thức tốt lành và cao thượng thì điều sẽ làm cho bạn được bình yên và hạnh phúc trong thân tâm.

Tóm tắtHãy luôn luôn mang tâm từ bởi vì ai cũng mong muốn được hạnh phúc về thể xác và tinh thần giống như bản thân mình.

Khi gặp những người có địa vị ngang hàng với mình, bạn hãy nói về những điều tốt đẹp và hạnh phúc của họ. Khi gặp những người có địa vị ngang hàng với mình đang thực hiện một chuyến du hành, hãy mang tâm từ để chúc họ thượng lộ bình an và mong chóng đến nơi mà họ mong muốn. Khi những người có địa vị ngang hàng đến thăm nhà của mình, bạn hãy chào mừng họ, hoan hỷ nói với họ rằng :

 “ Hãy đến đây, mời ngồi xuống đây…”. Tương tự như vậy, bằng cách nói với họ bằng những lời yêu thương tử tế, bạn sẽ gặt hái được ngôn nghiệp thiện lành

( Vacīkamma kusala). Nhờ vậy, bạn sẽ được hạnh phúc về thể xác và tinh thần.

Tóm tắtHãy luôn luôn mang tâm từ trong lời ăn tiếng nói đối với những người có địa vị ngang hàng với mình.

Khi phải làm một công việc gì cho những người có địa vị ngang hàng với mình, bạn hãy làm việc đó với tâm yêu thương tử tế. Khi những người có địa vị ngang hàng với đến thăm nhà của mình, bạn phải tiếp đón họ một cách nồng ấm, bố trí chỗ nghỉ ngơi, chuẩn bị các loại vật thực và nước uống để tiếp đãi họ. Vì vậy, bằng cách phục vụ những tiện nghi cho những người có địa vị ngang hàng với mình, bạn sẽ gặt hái được thân nghiệp thiện lành ( Kāyakamma kusala). Bởi vì có cung cách ăn ở tốt, bạn sẽ được hạnh phúc về thể xác và tinh thần.

Tóm tắtKhi gặp những người có địa vị ngang hàng với mình, bạn nên mang lòng yêu thương tử tế trong những hành động của mình, né tránh những hành động hung bạo hay tàn ác.

Khi bị người khác làm cho đau khổ, nếu không có tâm bi, bạn thường có khuynh hướng thù ghét họ. Bạn có thể có những lời nói, hành động với ý bạc đãi và đàn áp những người này. Bạc đãi và đàn áp trong tiếng Pāli gọi là vihimsa và đây là một hành động bất thiện ( Akusala).

Tóm tắtNơi nào không có tâm bi thì nơi ấy sẽ có lòng thù hận và tàn ác.

  3 loại tâm bi làm gia tăng hạnh phúc

Khi gặp những người bất hạnh và nghèo khổ, bạn cần phải có tâm bi, có lòng mong muốn loại bỏ được những nổi buồn khổ giúp cho họ. Những người bất hạnh và nghèo khổ là do trong nhiều kiếp sống ở quá khứ, họ đã thực hiện được quá ít phước báu. Vì vậy, họ luôn mong muốn thoát khỏi hoàn cảnh buồn khổ của chính mình. Bạn nên cầu chúc cho họ thoát được tất cả những hình thức buồn khổ đó. Bạn hãy vun bồi tâm bi và hoan hỷ đối với họ. Khi có tâm bi và lòng trắc ẩn, bạn sẽ gặt hái được ý nghiệp thiện lành. Do ảnh hưởng của một tâm thức cao thượng, bạn sẽ được hạnh phúc và bình yên trong thân tâm .

Tóm tắtKhi gặp những hoàn cảnh khổ đau của những người khác, bạn hãy phát khởi tâm bi và có ý muốn giúp đỡ họ.

Khi nói với những người đang bị khổ đau, bạn phải giải thích cho họ hiểu rằng họ có thể thoát khỏi cảnh nghèo khổ và bất hạnh. Đồng thời làm cho họ biết rằng, họ nên nói và làm những điều gì để có thể gặt hái được phước báu. Để nhờ đó, họ sẽ thoát được cảnh nghèo khổ và buồn lo. Bằng cách nói với những người vừa nêu trên một cách tử tế, bạn sẽ gặt hái được phước báu ngôn nghiệp thiện lành ( Vacīkamma kusala ). Do ảnh hưởng của những lời nói thiện lành, bạn sẽ trở nên được hạnh phúc và bình yên trong thân tâm.

Tóm tắtKhi gặp những hoàn cảnh khổ đau của người khác, bạn cần phải có tâm bi trong khi nói năng.

Mỗi khi có cơ hội, bạn nên giúp đỡ cho những người nghèo khổ và bất hạnh hơn mình. Bạn cần thể hiện cung cách ăn ở tử tế của chính mình bằng cách cho họ thuốc men chữa bệnh, các loại vật thực, nước uống, y phục…Theo cách đó, do đã có hành động làm giảm bớt nổi buồn khổ cho những người khác bằng cách giúp đỡ họ về mặt vật chất, bạn sẽ gặt hái được phước báu thân nghiệp thiện lành ( kayākamma kusala). Kể từ khi đã thực hiện những hành động thiện lành, bạn sẽ trở nên được hạnh phúc và bình yên trong thân tâm.

 Vun bồi tâm hỷ để tránh xa tính ghen tị

Tuy muốn vượt qua những người may mắn và hạnh phúc hơn mình nhưng bạn không thể có được sự sung sướng giống như họ. Lúc đó, có thể bạn sẽ trở nên đố kỵ và ghen tị đối với họ. Đây là một hành động bất thiện.

Tóm tắtNếu không vun bồi tâm hỷ thì tính đố kỵ và ghen tị sẽ phát khởi.

 3 loại tâm hỷ làm gia tăng hạnh phúc

Khi gặp những người có địa vị tốt đẹp hơn mình, bạn cần phải quán niệm rằng :

“ Sở dĩ những người này được giàu có và thịnh vượng là do trong những kiếp sống ở quá khứ, họ đã thực hiện được rất nhiều hành động tốt lành xứng đáng và những hành động của họ là cao thượng…” Nói chung, bạn cần phải cóý nghiệp hoan hỷ ( Manokamma muditā) trong tâm thức của chính mình.

Tóm tắtLuôn luôn mang tâm hỷ khi gặp những người nào đó có địa vị tốt đẹp hơn mình.

Khi gặp những người có địa vị tốt đẹp hơn mình, bạn phải nói với họ rằng :

“ Do những phước báu đặc biệt mà họ đã thực hiện trong nhiều kiếp sống ở quá khứ, nên họ mới được thịnh vượng trong kiếp sống này”. Bạn cũng nên nói với họ rằng :  “ Cầu chúc cho anh, chị, cô, bác…được giàu có và thịnh vượng trong những kiếp sống ở tương lai…”. Bởi vì đã nói như vậy, nên bản thân bạn và nhiều người khác sẽ trở nên được hạnh phúc và gặt hái được phước báu ngôn nghiệp thiện lành ( Vacīkamma kusala).

Tóm tắtKhi gặp những người có hoàn cảnh tốt đẹp hơn mình quí vị nên có tâm hỷ trong khi nói năng.

Mỗi khi có cơ hội làm việc gì cho những người có địa vị tốt đẹp hơn mình, bạn phải mang trong tâm phẩm chất tốt đẹp và cao thượng, đồng thời thực hiện công việc đó với một tâm trạng sung sướng. Nếu thực hành như vậy, bản thân bạn và nhiều người khác sẽ được mãn nguyện, hạnh phúc, cũng như sẽ gặt hái được phước báu thân nghiệp thiện lành ( Kāyakamma kusala).

Tóm tắtKhi gặp những người có địa vị tốt đẹp hơn mình, bạn phải luôn luôn có tâm hỷ trong những hành động của chính mình.

 Thực hành tâm xả để tránh xa tính lo lắng

Khi gặp những người có địa vị tốt đẹp hoặc có hoàn cảnh nghèo khổ và bất hạnh hơn mình, bạn sẽ trở nên lo lắng nếu chưa từng thực hành việc vun bồi tâm xả. Lúc đó, bạn sẽ lo lắng rằng : “ Không biết liệu mình có được giàu có lâu dài hay không. Nếu không còn được giàu có nữa thì mình sẽ buồn khổ biết bao. Khi gặp những người nghèo khổ, bạn cũng sẽ lo lắng rằng : “ Không biết liệu mình có bị nghèo khổ suốt đời và sẽ không bao giờ thoát khỏi hoàn cảnh đó chăng ?” Những tư tưởng như vậy có thể làm cho bạn trở nên lo lắng. Đây là một hành động bất thiện nên tránh.

Tóm tắt: Nơi nào không có tâm xả thì nơi ấy sẽ có âu lo.

Khi chưa có khả năng vun bồi tâm hỷ đối với những người giàu có và tâm bi đối với những người nghèo khổ, bạn cứ suy nghĩ rằng những người được giàu có là những người mà trong những kiếp sống ở quá khứ, họ đã làm được nhiều hành động xứng đáng thiện lành. Nhờ đó, họ đã gặt hái được những điều tốt đẹp. Những người nghèo khổ là những người mà trong nhiều kiếp sống ở quá khứ, họ đã thực hiện được quá ít những hành động xứng đáng thiện lành. Do đó, kết quả là họ đã bị nghèo khổ trong kiếp sống này. Những người nghèo khổ là những người mà trong nhiều kiếp sống ở quá khứ họ đã có những hành động bất thiện, nên trong kiếp sống này họ phải gánh chịu sự nghèo khổ. Để có được tâm xả đối với hoàn cảnh giàu có hay nghèo khổ, bạn phải vun bồi nghiệp từ bỏ của cải ( Kammassakā upekkhā). Bởi vì khi thực hành hạnh từ bỏ của cải, bạn sẽ thoát khỏi lo lắng và gặt hái được phước báu ( Kusala – Merit).

Tóm tắt: Sự giàu có hay nghèo khổ đều do nghiệp mà thành.

 Những thiện nam tín nữ đang sinh sống trong cõi thế gian có mong muốn mang lại lợi ích cho tha nhân thì họ cần phải có tâm từ ( yêu thương tử tế), tâm bi ( lòng trắc ẩn), tâm hỷ ( tính lịch thiệp và vui vẻ) đối với những người nghèo khổ. Những thiện nam tín nữ này cũng cần có tâm hỷ đối với những người giàu có. Bạn cần phải làm cho tâm trí của chính mình luôn luôn được thăng bằng khi đối diện với những hoàn cảnh giàu có hay nghèo khổ của người khác. Vun bồi tâm từ, bi, hỷ, xả đối với người khác là 4 cách thực hành cao thượng. Những ai thực hành như vậy sẽ được hạnh phúc về thể xác và tinh thần trong cõi thế gian.

 

                              Bốn nhân tố để nhận thức Niết Bàn

 

Khi đã lãnh hội được những nổi khổ đau trong vòng sanh tử luân hồi, tất cả những người Phật tử đều mong muốn thoát khỏi những khổ đau này và nhận thức được Niết Bàn hạnh phúc.Những người mong muốn đạt tới Niết Bàn hạnh phúc phải lãnh hội 4 nhân tố sau : Có được kiến thức rõ ràng và sâu sắc, sự loại bỏ, vun trồng và nhận thức. Chỉ khi người ta có được 4 nhân tố này thì lúc đó, họ mới có thể đạt tới Niết Bàn. Vì vậy, Đức Phật đã chỉ ra 4 nhân tố dưới đây cho những người có tâm mong muốn thoát khỏi khổ đau trong sanh tử luân hồi và đạt tới Niết Bàn, bốn nhân tố đó là :

1. Parinneyya –  Phật pháp là sự nhận thức

2. Pahātabba -  Phật Pháp là sự loại bỏ

3. Bhāvetabba -  Phật Pháp là sự vun trồng

4. Sacchikātabba –  Phật Pháp là thực hành

    Phật Pháp sự nhận thức

Trong tiến trình liên tục nhận thức của chúng ta có 5 nhân tố cần phải lãnh hội được đó là : Sắc uẩn ( Rūpa upādānakkhandha), thọ uẩn ( Vedana upādānakkhandha), tưởng uẩn ( Sanna upādānakkhandha), hành uẩn ( Sankhāra upādānakkhandha) và thức uẩn ( Viññāna upādānakkhandha). 5 uẩn này xuất hiện khi mắt cảm nhận hình ảnh, tai cảm nhận âm thanh, mũi cảm nhận mùi hương, lưỡi cảm nhận vị, thân thể cảm nhận sự xúc chạm và tâm ý cảm nhận các đối tượng của nó. Nói cách khác, khi 6 căn ( mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với 6 trần ( sắc, thanh, hương, vị,xúc, pháp)  thì bạn cần phải nhận thức được bản chất của 6 thức

( sự nhận thức của mắt, sự nhận thức của tai, sự nhận thức của mũi, sự nhận thức lưỡi, sự nhận thức của thân, sự nhận thức của tâm ý).

  Sự xuất hiện 5 uẩn khi đang nhìn

1. Trong khoảnh khắc mắt đang cảm nhận các hình ảnh thì các đối tượng hữu hình của nó là sắc uẩn.

2. Cảm giác dễ chịu hay khó chịu khi đang nhìn của chúng ta chính là thọ uẩn.

3. Sự nhận biết các đối tượng là tưởng uẩn.

4. Sự nổ lực để nhìn và phản hồi hình ảnh trong tâm thức là hành uẩn.

5. Sự nhận thức lúc đang nhìn là thức uẩn.

 5 uẩn vừa đề cập trênlà 5 nhân tố mà bạn cần phải nhận thức và lãnh hội được chúng ngay trong khoảnh khắc mình đang nhìn. Bạn sẽ nhận thức và lãnh hội được 5 uẩn khi đang thực hành thiền minh sát. Trong các khoảnh khắc đang nghe, đang ngửi, đang ăn, đang xúc chạm, đang suy nghĩ thì 5 uẩn cũng xuất hiện như khi bạn đang nhìn. 5 uẩn hiện khởi trong những tiến trìnhnày cũng cần phải được nhận thức và lãnh hội. Bạn sẽ nhận thức và lãnh hội được chúng khi thực hành thiền minh sát.

Phật Pháp là sự loại bỏ

 Vô minh( tức ngu si - Avijjā – Ignorance) và tham ái ( tức khao khát - Tanhā - Craving) là những nguyên nhân gốc của khổ đau trong luân hồi.

 Vô minh khởi lên

Vô minhnghĩa là không nhận biết được trạng thái đang khởi lên và biến mất đi một cách cực kỳ nhanh chóng của những trạng thái đang thấy, đang nghe, đang ngửi, đang ăn, đang xúc chạm và đang suy nghĩ. Vô minh là không nhận biết được rằng những trạng thái đó chính là khổ đau và là áp lực đè nặng lên tâm lý. Vô minh là nghĩ rằng những trạng thái đó là thường còn, thiện lành và như ý. Sự nhận thức sai lầm như vậy được gọi là vọng tưởng ( Moha – Delusion) hay vô minh. Sự nhận thức lầm lạc này cũng được gọi là ngu si.

 Loại bỏ vô minh bằng thiền minh sát

Bạn thực hành thiền minh sát và đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu ( Bhanga Ñāna – The knowledge of the dissolution). Đến lúc đó, khi đang nhìn, đang nghe, đang ngửi, đang ăn, đang xúc chạm, đang suy nghĩ, bạn sẽ lãnh hội được trạng thái tan hoại của sự chú ýnhững đối tượng của sự chú ý đó. Nói cách khác, bạn sẽ nhận biết được trạng thái đang khởi lên và biến mất đi một cách nhanh chóng của chúng. Lúc đó, bạn sẽ lãnh hội được rằng, sự chú ý của bạn và những đối tượng của sự chú ývô thường ( Anicca), khổ đau ( Dukkha) và vô ngã ( Anatta). Vì đã có được sự hiểu biết đúng đắn như vậy, nên tính vô minh đã không còn khởi lên trong tâm thức của bạn nữa. Nó đã bị thiền minh sát loại bỏ.

  Tham ái khởi lên

Tham ái nghĩa là nghĩ rằng những đối tượng hữu hình ( Visible objects) như : Hình ảnh, âm thanh, mùi ,vị, trạng thái xúc chạm là tốt đẹp, là như ý rồi trở nên khao khát và bám víu vào chúng.

 Loại bỏ tham ái bằng thiền minh sát

Bạn thực hành thiền minh sát và gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của những đối tượng hữu hình ,kiến thức về trạng thái tan hoại của những đối tượng của tâm ý ( như trạng thái đang thấy, đang nghe, đang ngửi, đang ăn, đang xúc chạm và đang suy nghĩ), kiến thức về trạng thái tan hoại của sự chú ý của chính mình. Khi đã lãnh hội được trạng thái đang tan hoại của vạn hữu, bạn sẽ nhận thức được rằng những đối tượng đã nêu trên ( đối tượng hữu hình, đối tượng của tâm ý và sự chú ý của bạn) là áp lực, là khổ và chúng không có nghĩa lý gì cả. Khi đã nhận thức được như vậy, bạn sẽ không còn bám víu vào những đối tượng đó nữa. Do đó, tham ái đã bị thiền minh sát loại bỏ. 

 Phật Pháp là sự vun trồng

Loại bỏ những pháp bất thiện có nguồn gốc từ vô minhtham ái nghĩa là phải vun trồng thiền địnhthiền minh sát. Chúng ta có thể loại bỏ những pháp bất thiện có nguồn gốc từ vô minh và tham ái bằng thiền định. Tuy nhiên, thiền định chỉ có thể loại bỏ vô minhtham ái bằng cách thức đình chỉ tạm thời

( Vikkhambhana pahāna) chứ không thể loại bỏ được chúng một cách hoàn toàn. Thiền minh sát có thể loại bỏ được những pháp bất thiện có nguồn gốc từ vô minhtham ái trong mỗi sự chú ý bằng cách thức loại bỏ từng phần

( Tandanga pahāna). Khi tuệ minh sát đã chín muồi, hành giả thực hành thiền minh sát sẽ gặt hái được Đạo tuệ ( Magga Ñāna). Đến lúc đó,  Đạo tuệ sẽ loại bỏ được những pháp bất thiện có nguồn gốc từ vô minhtham ái một cách hoàn toàn bằng cách thức giải thoát hay giải phóng ( Samuccheda pahāna hay Vimutti – ngày nay người ta thường xử dụng từ giải phóng thay cho từ giải thoát - ND).

Đó là lý do tại sao những người mong muốn loại bỏ được hoàn toàn các pháp bất thiện có nguồn gốc từ vô minhtham ái phải thực hành thiền minh sát để gặt hái được Đạo tuệ.

  Phật Pháp là thực hành

Chúng ta có thể gặt hái được Niết Bàn hạnh phúc bằng  Đạo Quả Trí Tuệ ( Magga phala ñāna). Để gặt hái đượcĐạo Quả Trí Tuệ người ta phải thực hành thiền minh sát. Khi một người đã gặt hái được Đạo Quả Trí Tuệ thì người đó sẽ đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Duy trì thiền định như một nhân tố căn bản, thực hành sự chú ý một cách chính xác và liên tục trong từng khoảnh khắc khi thực hành thiền minh sát là vun trồng Phật Pháp ( Bhāvetabba – Cultivate for Buddha ‘s Teaching). Thực hành Bhāvetabba có thể nhận thức đượcPhật Pháp, 5 uẩn, loại bỏ đượcvô minh và tham ái, có thể thực hành được Phật Pháp và đạt tớiNiết Bàn.

Tóm tắt: Vun trồng, nhận thức, loại bỏ vô minh và tham ái, thực hành Phật Pháp bằng cách chú ý một cách chính xác và liên tục trong từng khoảnh khắc là 4 nhân tố cần phải nhận biết được một cách đúng đắn.          

    

        Lời huấn từ của bậc trưởng thượng  trung tâm thiền                          

           Saddhammaramsī ( 1354 lịch Miến Điện – 1992)     

 

Lời huấn từ thường được thuyết ra trong những buổi gặp mặt thường niên của tổ chức phụng vụ trung tâm thiền Saddhammaramsī. Năm nay, tôi sẽ gửi đến quí vị những huấn từ vắn tắt. Những người đã đến tham dự buổi gặp mặt này bao gồm những người có ý định muốn phát triển trung tâm thiền Saddhammaramsī và những người đã từng tham gia thực hiện công việc đó. Những người có ý định muốn phát triển trung tâm thiền Saddhammaramsī sẽ có khả năng thực hiện ý định nói trên của họ một cách lâu dài và bền bỉ chỉ khi họ được hướng dẫn những phương pháp để phát triển trung tâm. Những phẩm chất mà những người này cần phải có để thực hiện công việc đó là :

1. Tâm từ ( Mettā) – Yêu thương tử tế đối với tất cả những chúng sanh khác.

2. Tâm bi  ( Karunā) – Có lòng trắc ẩn đối với những người đang đau khổ.

3. Tâm hỷ ( Muditā) -  Vui vẻ, cảm thông và tôn trọng những người khác.

4. Tâm xả ( Upekhā) -  Có một tâm trí thăng bằng khi đối diện với hoàn cảnh giàu có hay nghèo khổ.

 Những thành viên, những đệ tử và những người đang làm việc vì sự thịnh vượng của trung tâm thiền Saddhammaramsī cần phải sở hữu 4 phẩm chất đạo đức chính yếu vừa được đề cập ở trên. Bởi vì khi quí vị đã có khả năng sở hữu 4 phẩm chất đạo đức đó và làm việc để phát triển trung tâm thiền Saddhammaramsī thì trung tâm này mới có thể thịnh vượng được. Những thành viên, những đệ tử và những người đang làm việc vì tương lai phát triển của trung tâm thiền phải có 4 phẩm chất đạo đức chính yếu là từ, bi, hỷ, xả. Nếu chưa có được 4 phẩm chất đạo đức chính yếu này, quí vị vẫn có thể làm việc vì sự thịnh vượng của trung tâm thiền.  Tuy nhiên, thành quả lao động của quí vị có thể bị giảm sút giá trị. Đó là lý do tại sao tất cả những thành viên, những đệ tử và những người nói trên cần phải luôn luôn có được 4 phẩm chất đạo đức chính yếu là từ, bi, hỷ, xả.

 

1. Làm với tâm từ

 Những thành viên và những đệ tử của trung tâm thiền Saddhammaramsī phải luôn luôn tỏ ra hoan hỷ đối với tất cả những Tỳ-kheo và các hành giả tìm đến với trung tâm thiền, bất luận họ là những người giàu có hay nghèo khổ. Không nên phân biệt người này với người khác, dù là một mảy may nào. Mặt khác, phải có lòng yêu thương tử tế và giúp đỡ cho họ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng. Đối với các thí chủ đến dâng cúng tại trung tâm thiền cũng vậy, những thành viên và những đệ tử của trung tâm phải tỏ ra sung sướng và vui thích khi đón tiếp họ, giúp đỡ cho họ gặt hái được phước báu.

2. Làm với tâm bi

Những thành viên và những đệ tử của trung tâm thiền Saddhammaramsī phải tỏ ra hoan hỷ đối với những Tỳ Kheo và những hành giả tìm đến với trung tâm, không nên phân biệt đối xử và xử dụng tâm bi để giúp đỡ cho họ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng. Đối với những thí chủ nghèo khổ nhưng có niềm tin cũng vậy, những thành viên và những đệ tử của trung tâm cũng phải luôn luôn có tâm bi để giúp đỡ cho họ gặt hái được phước báu.

3. Làm với tâm hỷ

Những thành viên và những đệ tử của trung tâm thiền Saddhammaramsī phải tiếp đón một cách chu đáo, cao thượng và cảm thông đối với những Tỳ Kheo và hành giả tìm đến với trung tâm, phải giúp đỡ cho họ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng. Đối với những thí chủ nghèo khổ tìm đến với trung tâm, phải xử dụng tâm hỷ để đón tiếp họ, giúp đỡ cho họ gặt hái được phước báu.

4. Làm với tâm xả

Những thành viên và những đệ tử của trung tâm thiền Saddhammaramsī phải có tâm xả để tiếp đón các Tỳ-kheo, các hành giả và các thí chủ tìm đến với trung tâm, không nên phân biệt họ là những người giàu có hay nghèo khổ.

  Có tâm từ đối với những người cùng hoàn cảnh với mình

Khi những người có địa vị ngang hàng với mình tìm đến với trung tâm, nếu không có tâm từ trong sự nhận thức, quí vị có thể phát sanh tính ganh đua. Đó là lý do tại sao, khi gặp những người có địa vị ngang với mình tìm đến với trung tâm thiền thì quí vị cần phải biết lắng nghe họ nói và cảm thông với họ. Quí vị nên vun trồng tâm từ và cầu chúc cho họ được bình yên về thể xác và tinh thần, cầu chúc cho họ thoát khỏi những điều có hại cho họ. Quí vị cũng nên dành cho họ nhiều tiện nghi thuộc về vật chất và tinh thần.

Tóm tắt: Quí vị nên luôn luôn có tâm từ đối với những người có địa vị ngang hàng với mình, xử dụng tâm từ trong cung cách đối xử và lời nói để tiếp đãi họ, dành cho họ nhiều tiện nghi về vật chất và tinh thần.

  Có tâm bi đối với những người đang khổ đau

Khi những người nghèo khổ và bất hạnh tìm đến với trung tâm thiền, nếu không có tâm bi, quí vị có thể phát sanh tính xem thường họ. Trong những tình huống như vậy, quí vị nên có sự cảm thông đối với những người này. Đó là lý do tại sao, quí vị cần phải biết lắng nghe họ nói và cảm thông với họ bằng cách vun bồi tâm bi, cầu chúc cho họ thoát được cảnh nghèo khổ, giúp đỡ họ bằng vật chất và những lời nói đúng đắn để họ có thể thoát khỏi buồn khổ.

Tóm tắtĐối với những người có hoàn cảnh khổ đau, quí vị nên có tâm bi trong lời nói và trong cung cách đối xử với họ.

 Có tâm hỷ đối với những người có địa vị cao hơn mình

Khi những người có địa vị cao hơn mình, có tâm thức cao thượng và giàu có hơn mình tìm đến với trung tâm thiền, nếu không có tâm hỷ, quí vị có thể phát sanh tính đố kỵ và ghen tị đối với họ. Đây là một hành động bất thiện. Đó là lý do tại sao, quí vị cần phải biết lắng nghe họ nói và cảm thông với họ bằng cách vun bồi tâm hỷ, cầu chúc cho họ luôn luôn được giàu có, thịnh vượng và hạnh phúc. Quí vị cũng nên xử dụng lời nói và cung cách đối xử với thái độ hoan hỷ, sung sướng khi được gặp gỡ họ.

Tóm tắtNên có tâm hỷ trong lời nói và cung cách đối xử với những người có địa vị cao hơn mình.

 Có tâm xả đối với tất cả mọi người

Khi những người giàu có hay nghèo khổ tìm đến với trung tâm thiền, nếu không có tâm xả thì có thể quí vị sẽ phục vụ và dành nhiều tình cảm cho những người giàu có. Bên cạnh đó, quí vị sẽ không phục vụ và không dành tình cảm cho những người nghèo khổ. Đây là một hành động bất thiện. Đó là lý do tại sao, khi những người giàu có hay nghèo khổ tìm đến với trung tâm thiền, quí vị nên nghĩ rằng sự giàu có hay nghèo khổ đó chẳng qua là do nghiệp thiện hay bất thiện của riêng từng người mà tạo thành. Vì vậy, điều đầu tiên và quan trọng nhất là quí vị phải thực hành tâm xả đối với cả hai dạng người vừa nêu trên.

Tóm tắtGiàu có hay nghèo khổ đều có nguyên nhân từ nghiệp riêng của từng người.

Vì vậy, khi quí vị đã biết lắng nghe 4 phẩm chất đạo đức chính yếu

( Brahmavihāra dhamma – Cardinal virtue) vừa nêu trên và thực hành theo những phẩm chất đạo đức này thì trung tâm thiền saddhammaramsī sẽ trở nên phát đạt và thịnh vượng. Bởi vì quí vị đã bỏ ra thời gian để lắng nghe bài thuyết Pháp này, nên tôi xin cầu chúc cho quí vị sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng một cách dễ dàng và mau chóng giống như đã hằng mong ước. Lành thay !

 

                                        Sự thật về những giấc mơ

 

Ngoại trừ các vị A-La-Hán, tất cả mọi người ít nhiều gì cũng đã từng có những giấc mơ khi đang ngủ. Mỗi khi đã có những giấc mơ, theo lẽ thường bạn sẽ mong muốn biết được những giấc mơ đó có mang lại lợi ích gì không cho mình hay không, chúng có gây ra loại bệnh tật nào không, chúng có trở thành sự thật hay không… Vì băn khoăn muốn biết về sự thật của những giấc mơ mà mình đã có, có thể bạn sẽ đi hỏi những người lớn tuổi có sự hiểu biết sâu rộng. Tất nhiên những người lớn tuổi có nhiều kiến thức và kinh nghiệm sẽ trả lời theo những cách thích hợp nhất để làm thoả mãn trí tò mò của bạn. Tuy nhiên, điều mà bạn quan tâm nhất là các giấc mơ đó tốt hay xấu, chúng có trở thành sự thật hay không. Thật ra, có rất ít người có khả năng trả lời một cách chính xác về những giấc mơ. Để có được sự hiểu biết về những giấc mơ, các bậc thầy chú giải Kinh Điển đã từng nói đến 5 loại giấc mơ khác thường của một vị Bồ-Tát, bốn nhân tố đi kèm theo làm nguyên nhân để những giấc mơ có thể xảy ra, những điều thuận lợi hay không thuận lợi mà những giấc mơ đã báo trước, những giấc mơ đó có trở thành hiện thực hay không, chúng là thiện hay bất thiện hay là chúng không thiện và cũng không bất thiện, chúng có mang lại lợi ích gì không… Dưới đây là 5 giấc mơ khác thường của một vị Bồ-Tát : Bồ-Tát Cồ-Đàm ( Gotama Boddhisatta -  tiền thân của Đức Phật Thích  Ca) đã từng có 5 giấc mơ khác thường vào ngày trăng tròn 14 tháng Vesakha , năm thứ 103 thuộc triều đại Mahā :

1. Ngài đã nằm ngủ trên một chiếc giường thượng hạng. Chiếc giường này là toàn bộ bề mặt của trái đất. 

2. Khi đang nằm ngủ trên một chiếc giường thượng hạng nói trên, đầu của Ngài gối lên đỉnh của Hy-Mã-Lạp- Sơn.

3. Khi đang nằm ngủ trên chiếc giường đó, cánh tay trái của Ngài duỗi tới Thái- Bình- Dương.

4. Khi đang nằm ngủ, cánh tay phải của Ngài duỗi tới Đại- Tây- Dương.

5. Khi đang nằm ngủ, 2 chân của Ngài duỗi tới Ấn- Độ- Dương.

Bốn nhân tố là nguyên nhân của những giấc mơ

Các bậc chú giải Kinh Điển đã chỉ ra rằng, có 4 nhân tố là nguyên nhân của những giấc mơ, đó là :

1. Dhātukkhobhato – Sự nhiễu loạn của nhiều yếu tố

2. Anubhūta pubbato – Những kinh nghiệm trong quá khứ

3. Devatopasamhārato – Năng lực của Chư Thiên

4. Pubhanimittato -  Những dấu hiệu báo trước

 Sự nhiễu loạn của nhiều yếu tố

Sở dĩ chúng ta nằm mơ khi ngủ là do sự rối loạn của nhiều yếu tố. Nói như vậy có nghĩa là chúng ta đã nằm mơ do bị ảnh hưởng bởi sự rối loạn của những yếu tố bất như ý trong đời sống hàng ngày. Những yếu tố này khiến cho chúng ta cảm thấy hằn học trong thân tâm. Chúng có thể gây ra những cơn ác mộng đa dạng. Có một số người nằm mơ thấy mình bị rơi tự do từ một ngọn đồi cao xuống mặt đất. Một số người khác lại nằm mơ thấy họ đang bay ngang qua bầu trời một cách thật khủng khiếp, một số khác lại nằm mơ thấy họ đang bị các loài thú hoang như voi, ngựa ,sư tử, cọp và nhiều loài thú dữ khác rượt đuổi… Cũng có người lại nằm mơ thấy mình đang bị các loài ma quái, yêu tinh rượt đuổi. Có một vài người lại nằm thấy ác mộng như bị các loài ma lôi kéo, đè lên người, bọp cổ…Mặc dù khi đang nằm mơ thấy ác mộng khủng khiếp, họ vẫn cố gắng chiến đấu để chống lại nhưng kỳ thực họ không làm gì được cả. Họ muốn la lên để tìm kiếm sự giúp đỡ nhưng tiếng kêu cứu của họ lại không thể phát ra khỏi cửa miệng. Thỉnh thoảng, do quá khiếp sợ, những người nằm mơ thấy ác mộng đã dùng hết sức bình sinh của họ để la lên kêu cứu và đôi khi họ cũng có thể la lên thành tiếng. Chỉ khi được những người chung quanh đánh thức dậy thì lúc đó, họ mới được giải phóng khỏi cơn ác mộng. Người ta nói rằng những người nằm mơ thấy ác mộng đã bị ma hớp hồn. Thật ra, những cơn ác mộng đã xảy ra là do chúng ta  bị ảnh hưởng bởi sự rối loạn của nhiều yếu tố. Những yếu tố trong thân tâm sẽ bị rối loạn khi chúng ta xử dụng những loại vật thực không thích hợp, cũng có thể là do chúng ta đã xử dụng các loại thuốc chữa bệnh không thích hợp hoặc giường ngủ bị gồ ghề, không bằng phẳng. Những giấc mơ khủng khiếp xảy ra do ảnh hưởng bởi sự rối loạn của nhiều yếu tố sẽ không trở thành sự thật ở tương lai. Vì vậy, những giấc mơ này cũng không thật. Đối với những người hay có các giấc mơ khủng khiếp do ảnh hưởng bởi sự rối loạn của  nhiều yếu tố, trước lúc đi ngủ họ không nên xử dụng các loại vật thực gây ra tình trạng nặng bụng. Họ cần phải kiêng xử dụng các loại thuốc chữa bệnh có hoạt tính và tác dụng mạnh. Họ cũng không nên ngủ trên những chiếc giường gồ ghề và kém vệ sinh.

 Những kinh nghiệm trong quá khứ

Những giấc mơ xảy đến do ảnh hưởng từ những kinh nghiệm trong quá khứ nghĩa là : Những giấc mơ này chứa đựng những điều tốt đẹp và như ý muốn hay những điều khủng khiếp và bất như ý mà bạn đã từng nhìn trải nghiệm trong quá khứ như : Những âm thanh dễ chịu và khó chịu mà bạn đã nghe được trước đó, những mùi vị khác nhau của thức ăn mà bạn đã dùng trước đó. Nói tóm lại, trong kiểu nằm mơ này, bạn sẽ nằm thấy những gì trước đó mình đã thấy, đã nghe và đã ăn…Những Pháp sư và những vị thầy đã từng nằm mơ thấy chính họ đang thuyết Pháp và đưa ra những lời giáo huấn cho những người Phật tử. Các bậc Trưởng Thượng cũng đã từng nằm mơ thấy họ đang chỉ dạy các đệ tử của mình. Những người có thói quen hay nghe thuyết Pháp cũng nằm mơ thấy rằng họ đang lắng nghe thuyết Pháp. Những giấc mơ này xảy ra là do ảnh hưởng từ những trải nghiệm nghiệm trong quá khứ. Những người hay đến viếng thăm các ngôi chùa thiêng liêng cũng nằm mơ thấy rằng họ đang thực hiện việc thờ phụng tại các ngôi chùa này. Những nhân viên văn phòng cảm thấy thú vị với công việc của họ sẽ nằm mơ thấy họ đang làm việc trong mơ. Những vị giáo viên ở các trường học cũng sẽ nằm mơ thấy họ đang giảng dạy cho học sinh. Các nhà buôn và thợ kim hoàn cũng sẽ nằm mơ thấy rằng họ đang mua bán các loại vàng, ngọc, đá quí… Tất cả những giấc mơ đó đều có nguyên nhân là những trải nghiệm nghiệm trong quá khứ. Đối với những người thợ săn và những người đánh bắt thuỷ hải sản, tuỳ theo cách mà họ đã giết chết các loài động vật và đánh bắt chúng như thế nào, trong khi nằm mơ họ sẽ thấy lại như thế ấy. Đối với những kẻ cướp và những tên ăn trộm cũng vậy, tuỳ theo cách trộm cướp mà họ đã xử dụng để làm kế sinh nhai, trong khi đang nằm mơ họ sẽ thấy lại những cảnh ấy. Những người có thói quen phạm tội ngoại tình sẽ thấy lại những hành vi xấu xa của họ trong khi nằm mơ. Những người kiếm sống một cách bẩn thỉu như làm và bán hàng giả sẽ thấy lại những hành động bất chính của họ khi đang nằm mơ. Những người uống và xử dụng các chất gây say cũng sẽ thấy họ đang làm như vậy trong lúc đang nằm mơ. Những giấc mơ này xảy ra là do ảnh hưởng từ những trải nghiệm trong quá khứ của những người nói trên. Chúng chỉ là sự hồi tưởng và nhớ lại những trải nghiệm trong quá khứ. Những giấc mơ này không xảy ra trong tương lai. Vì vậy, chúng không thật.

  Năng lực của Chư Thiên

Những giấc mơ xảy đến do bị ảnh hưởng bởi năng lực của Chư Thiên nghĩa là :  Khi bạn được Chư Thiên yêu mến. Họ có ý cầu chúc cho bạn được sống khoẻ mạnh và hạnh phúc thì họ sẽ dùng những thần thông của mình để làm cho bạn nằm mơ thấy những giấc mơ đa dạng. Khi Chư Thiên ghét người nào thì họ sẽ dùng thần thông để cho người đó nằm thấy những giấc mơ bịnh hoạn và bất hạnh. Nếu bạn được Chư Thiên yêu mến và có ý cầu chúc cho bạn gặt hái được nhiều lợi ích thì họ sẽ dùng thần thông để làm cho bạn nằm mơ. Những lợi ích mà bạn nằm mơ thấy theo kiểu này sẽ xảy ra y hệt như vậy trong tương lai. Khi những người cư ngụ tại các loại cây to lớn hay những toà nhà đã bị phá huỷ nằm mơ thấy Chư Thiên thì đó là dấu hiệu thể hiện sự tức giận và ghét bỏ của họ đối với những người này. Những giấc mơ theo kiểu này có thể mang lại những hiệu quả xấu.

 Những hiệu quả xấu từ những giấc mơ xấu do Chư Thiên mang lại 

Cách đây rất lâu, có một vị Tỳ-kheo lớn tuổi sống trong tu viện Nāga thuộc Yohana tại Tích Lan (  Sri Lanka - Ceylon). Vị Tỳ-kheo này đã đốn hạ một cây to mà không xin phép Tăng Già trước. Chư Thiên đang sống trên cây đã nổi giận và cho vị Tỳ-kheo nằm mơ thấy những điều bất hạnh. Trong lần đầu tiên, Chư Thiên này đã làm cho giấc mơ của vị Tỳ-kheo già trở thành sự thật và làm cho vị này phải tin mình. Sau đó, Chư Thiên sống trên cây đã làm cho vị Tỳ-kheo cảm thấy bối rối khó hiểu bằng những điều bất hạnh mà vị này đã nằm thấy trong mơ. Đến giấc mơ thứ hai, Chư Thiên đã nói với vị Tỳ-kheo Trưởng Lão rằng, đệ tử của ông là nhà vua sẽ chết trong vòng 7 ngày tới. Sau đó, vị Tỳ-kheo Trưởng Lão đã mang chuyện nằm mơ của chính mình đi nói với những vị quan cận thần của nhà vua. Triều thần cảm thấy rất buồn khổ, thương tiếc và khóc than cho nhà vua bất hạnh. Khi thấy như vậy, nhà vua bèn hỏi có chuyện gì đã xảy ra, các quan cận thần liền trả lời rằng, họ khóc bởi vì vị Tỳ-kheo lớn tuổi đã nói nhà vua sẽ chết trong vòng 7 ngày tới. Sau đó, nhà vua đã ngồi tính từng ngày và chờ đợi cho đến ngày thứ 7 nhưng Ngài thấy rằng không có chuyện gì xảy ra đối với mình cả. Tiếp đến, nhà vua đã ra lệnh cho người của triều đình chặt đứt 2 chân và 2 tay của vị Tỳ-kheo bởi vì vị này đã phạm tội nói những điều sai trái và phạm thượng. Bởi vì Chư Thiên sống trên cây đã làm cho vị Tỳ-kheo nằm thấy một giấc mơ không đúng với sự thật và không có lợi ích gì cả, nên Ngài phải chịu đau khổ. Những giấc mơ phát xuất từ sự yêu mến của Chư Thiên có thể trở thành sự thật. Những những giấc mơ phát xuất từ sự ghét bỏ và thiếu thiện chí của Chư Thiên sẽ không trở thành sự thật.

 Di chuyển chỗ ở của Chư Thiên

Khi gần chỗ xây dựng của bạn có những cây to hay các loại am miếu thờ phụng Chư Thiên và bạn đã biết chắc rằng có những vị thần đang sống tại đó thì bạn phải rải tâm từ hỏi xin họ trước khi chuyển chỗ ở của họ đi nơi khác. Bạn phải cầu xin họ và nói lớn lên : “ Hỡi Chư Thiên ! Hãy làm ơn chuyển đi khỏi cây này, toà nhà này, ngai vàng này…để đến một nơi ở mới !”. Khi không có một cây to khác, một toà nhà khác hay một ngai vàng khác…để cúng dường cho Chư Thiên thì phải nói với họ là hãy đến hỏi xin trời Đế Thích một nơi ở nào đó. Bạn cũng phải cầu xin trời Đế Thích ban cho những Chư Thiên đó một chỗ ở mới.

 Những dấu hiệu báo trước

Những giấc mơ xảy đến như những dấu hiệu báo trước nghĩa là : Do năng lực của các thiện nghiệp mà bạn đã tạo ra trước đó, bây giờ kết quả của chúng là những lợi ích mà bạn sẽ gặt hái được báo trước trong những giấc mơ. Kết quả xấu của những nghiệp bất thiện cũng được báo trước trong những giấc mơ của chúng ta.Vì vậy, những giấc mơ theo kiểu này sẽ mang lại những kết quả tốt hoặc xấu tuỳ theo nghiệp riêng của từng người. Những người có những giấc mơ phát xuất từ các thiện nghiệp hay bất thiện nghiệp mà họ đã thực hiện trong quá khứ sẽ nhận được những kết quả của chúng ngay trong kiếp sống hiện tại. Những kết quả tốt hoặc xấu này xảy đến là do sự thúc đẩy của thiện nghiệp và bất thiện nghiệp trong chập tư tưởng đầu tiên, kể từ khi những nghiệp này bắt đầu khởi lên. Mặt khác, những kết quả xấu hoặc tốt đó sẽ không xuất hiện trong những kiếp sống ở tương lai. Nói cách khác, đối với tương lai, kết quả của những nghiệp thiện lành và bất thiện đã trở nên mất hiệu lực.Lực thúc đẩy của những thiện nghiệp và bất thiện nghiệp trong chập tư tưởng thứ 7 sẽ mang lại hiệu quả của chúng trong kiếp sống thứ hai. Nếu những nghiệp này không có cơ hội để cho quả thì chúng sẽ trở nên mất hiệu lực. Lực thúc đẩy của những thiện nghiệp và bất thiện nghiệp trong chập tư tưởng thứ 5 sẽ cho quả kéo dài từ kiếp sống thứ ba cho đến khi bạn đạt tới Niết Bàn. Lực thúc đẩy của những thiện nghiệp và bất thiện nghiệp trong chập tư tưởng thứ 5 là lực thúc đẩy có tác động cho quả mạnh nhất. Những người đã tạo được thiện nghiệp sẽ nằm mơ thấy các dấu hiệu báo trước quả tốt mà họ sẽ được hưởng. Những người đã tạo nghiệp bất thiện sẽ nằm mơ thấy những dấu hiệu báo trước quả xấu mà họ phải gánh chịu. Những điều sẽ xảy ra được báo trước qua những dấu hiệu trong khi nằm mơ theo kiểu này sẽ trở thành sự thật. Có một điều chắc chắn rằng, những người đã tạo ra thiện nghiệp sẽ gặt hái được những kết quả tốt, những người đã tạo ra bất thiện nghiệp sẽ bị tác động của nghiệp xấu trừng phạt. Đó là lý do tại sao những giấc mơ xảy đến với những dấu hiệu báo trước sẽ trở thành sự thật. Năm 103 triều đại Mahā, ngày trăng tròn 14 tháng Vesakha, vào lúc gần bình minh Bồ-Tát Cồ-Đàm ( Gotama Bodhisatta) đã có 5 giấc mơ khác thường. Những giấc mơ đó là :

1. Toàn bộ bề mặt của địa cầu đã trở thành một chiếc giường nguy nga và Bồ -Tát đã nằm ngủ trên chiếc giường đó. Trong giấc mơ này, Ngài nằm thấy một dấu hiệu báo trước rằng Ngài sẽ trở thành một bậc vô song – một vị hoàng đế của toàn cõi vũ trụ.

2. Trong giấc mơ này, Ngài nằm thấy mình đang nằm ngủ và gối đầu lên đỉnh của Hy-Mã-Lạp-Sơn – dấu hiệu này báo trước rằng Ngài sẽ trở thành bậc trí tuệ Toàn Giác ( Sabbannuta – The omniscient wisdom).

3. Trong giấc mơ này, Ngài nằm thấy mình đang nằm ngủ với cánh tay trái duỗi thẳng tới biển Thái Bình.

4. Trong giấc mơ này, Ngài nằm thấy mình đang nằm ngủ với cánh tay phải duỗi thẳng tới Đại Tây Dương.

5. Trong giấc mơ này, Ngài nằm thấy mình đang nằm ngủ với 2 chân duỗi thẳng tới Ấn Độ Dương.

Các giấc mơ này là những dấu hiệu báo trước rằng Ngài sẽ thuyết Kinh Chuyển Pháp Luân ( Dhamma Cakka Pavatthana Sutta) cho 5 tu sĩ khổ hạnh, 10 triệu Chư Thiên và Bà-La-Môn nghe vào ngày trăng tròn của tháng Waso, năm 103 triều đại Mahā.

                                                                              ( Am / ttha – 3/ 74)

Những kiểu giấc mơ sau đây của Bồ-Tát mà con người trong cõi thế gian không bao giờ nằm thấy được, đó là : Trở thành những vị hoàng đế trị vì nhân loại, trở thành Đấng quân vương của toàn cõi vũ trụ. Thậm chí, Chư Thiên và các vị Phật Độc Giác cũng không thể có những giấc mơ vừa nêu trên. Chỉ có duy nhất Bồ-Tát Cồ Đàm – người đang đứng bên bờ giác ngộ thành Phật mới có những giấc mơ khác thường như vậy.

  Những người có và không có những giấc mơ

Các vị A-La-Hán là những người đã loại bỏ được hoàn toàn các loại ảo giác

( Vippallāsa – Hallucinations). Vì vậy, họ mới không bao giờ nằm mơ. Các Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm và A-Na-Hàm cũng đã loại bỏ được một số loại ảo giác. Vì vậy, cũng hiếm khi họ có những giấc mơ. Những người phàm tục ( Puthujjanas – Worldly people) là những người chưa loại bỏ được các loại ảo giác. Vì vậy, họ sẽ có rất nhiều loại giấc mơ. Chỉ khi các loại ảo giác đã bị triệt tiêu hoàn toàn thì người ta mới trở A-La-Hán. Chỉ sau khi gặt hái được quả vị A-La-Hán thì đến lúc đó, bạn mới không còn nằm mơ và giấc ngủ của bạn mới thật sự được bình yên. Chỉ khi đã loại bỏ được một số loại ảo giác nào đó, bạn mới có thể trở thành Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm hay A-Na-Hàm. Đến lúc này, rất hiếm khi bạn nằm mơ. Vì vậy, bạn sẽ ngủ rất bình yên. Các loại ảo giác đã xảy ra như thế nào? Chúng đã bị các vị Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm và A-Na-Hàm triệt tiêu như thế nào ? Những giấc mơ của các vị này đã giảm bớt như thế nào? Các loại ảo giác đã bị các vị A-La-Hán tiêu diệt một cách hoàn toàn như thế nào? Chúng ta giải thích như thế nào đối với việc không còn nằm mơ của các vị A-La-Hán ?

  Các loại ảo giác chính yếu

Có 3 loại ảo giác ( Vippallāsa Dhamma – Hallucination) :

1. Chối bỏ những điều đúng đắn, bóp méo nhận thức và cố chấp ( Sanna Vippallāsa)

2.Nhận thức lầm lạc và cố chấp ( Citta Vippallāsa)

3. Chối bỏ sự thật, bám víu vào những quan kiến lầm lạc và cố chấp ( Diţţhi Vippallāsa)

  Trạng thái hiện khởi của 12 loại ảo giác trong 4 hiện tượng

Có 4 hiện tượng, nơi mà các loại ảo giác sẽ hiện khởi, đó là : Hiện tượng vô thường ( Anicca – Impermanence), khổ ( Dukkha – Suffering), vô ngã ( Anatta – No self or Uncontrollability) và ô nhiễm ( Asubha – Impurity).

 Ba loại ảo giác trong vô thường

1. Bóp méo nhận thức, cố chấp rằng vô thường là thường còn ( Sanna Vippallāsa).

2. Nhận thức hiện tượng vô thường một cách lầm lạc và cố chấp ( Citta Vipallāsa).

3. Có quan kiến lầm lạc về vô thường và cố chấp quan kiến của mình ( Ditthi Vipallāsa).

 Ba loại ảo giác trong sự khổ

1. Bóp méo nhận thức và cố chấp rằng khổ là sướng ( Sanna Vippallāsa).

2. Nhận thức một cách lầm lạc về hiện tượng khổ và cố chấp ( Citta Vippallāsa).

3. Có quan kiến lầm lạc về sự khổ và cố chấp quan kiến của mình ( Diţţhi Vippallāsa).

  Ba loại ảo giác trong vô ngã

1. Bóp méo nhận thức và cố chấp rằng vô ngã là có ngã ( Sanna Vippallāsa).

2. Nhận thức một cách lầm lạc về hiện tượng vô ngã và cố chấp ( Citta Vippallāsa).

3. Có quan kiến lầm lạc về vô ngã và cố chấp quan kiến của mình ( Diţţhi Vippallāsa).

 Ba loại ảo giác trong hiện tượng ô nhiễm

1. Bóp méo và cố chấp rằng ô nhiễm là tinh khiết ( Sanna Vippallāsa).

2. Nhận thức một cách lầm lạc về hiện tượng ô nhiễm và cố chấp ( Citta Vippallāsa).

3. Có quan kiến lầm lạc về hiện tượng ô nhiễm và cố chấp quan kiến của mình

 ( Diţţhi Vipppallāsa).

 Vì vậy, có tất cả 3 loại ảo giác trong hiện  tượng vô thường, 3 loại ảo giác trong hiện tượng khổ, 3 loại ảo giác trong hiện tượng vô ngã3 loại ảo giác trong hiện tượng ô  nhiễm. Tổng cọng trong tâm thức của chúng ta thường hiện khởi 12 loại ảo giác.

                                                                                    ( Am – 1/ 361)     

 Giấc mơ hiếm hoi của Tu-Đà-Hườn

Trong 12 loại ảo giác vừa nêu trên, những Tu-Đà-Hườn ( Sotāpaññas) là những người có khả năng loại bỏ được 4 loại quan kiến ảo tưởng về sự thường còn trong vô thường, trạng thái sung sướng trong hiện tượng khổ, trạng thái tồn tại của bản ngã trong vô ngãtrạng thái tinh khiết trong ô nhiễm. Họ cũng đã loại bỏ được 2 loại bóp méo nhận thức2 loại nhận thức ảo tưởng về thường còn trong vô thường, có ngã trong vô ngã. Như vậy, một Tu-Đà-Hườn đã loại bỏ được 8 loại ảo giác. Vì vậy, họ ít khi nằm mơ hơn người phàm tục.

 Giấc mơ hiếm hoi của Tư-Đà-Hàm

 Những Tư-Đà-Hàm ( Sakadāgāmis) là những người có khả năng loại bỏ được một phần sự bóp méo nhận thức ( Sanna Vippallāsa) khi cho rằng trạng thái ô nhiễm cũng giống như tinh khiết. Họ cũng đã loại bỏ được một phần sự nhận thức lầm lạc ( Citta Vippallāsa) khi cho rằng trạng thái tinh khiết cũng giống như hiện tượng ô nhiễm. Vì vậy, họ ít khi nằm mơ hơn những Tu-Đà-Hườn.

  Giấc mơ hiếm hoi của A-Na-Hàm

A-Na-Hàm( Anāgāmis) là những người đã loại bỏ được hoàn toàn sự bóp méo nhận thức khi cho rằng trạng thái ô nhiễm cũng giống như tinh khiết, loại bỏ được hoàn toàn sự nhận thức lầm lạc khi cho rằng trạng thái ô nhiễm cũng giống như sự tinh khiết. Nếu cọng thêm 8 loại ảo giác đã bị loại bỏ trong quả vị Tu-Đà-Hườn thì những A-Na-Hàm có khả năng loại bỏ được 10 loại ảo giác. Vì vậy, họ ít khi nằm mơ hơn Tu-Đà-Hườn và Tư-Đà-Hàm. 

Những vị A-La-Hán không bao giờ nằm mơ

Những vị A-La-Hán là những người có khả năng loại bỏ sự bóp méo nhận thức khi cho rằng khổ cũng giống như sướng ( Sanna Vippallāsa), sự nhận biết lầm lạc khi cho rằng khổ cũng như sướng ( Citta Vippallāsa). Một A-Na-Hàm không thể loại bỏ được những sự bóp méo nhận thức và nhận biết này. Nếu cọng thêm 10 loại cảm giác đã bị loại bỏ trong quả vị A-Na-Hàm thì những vị A-La-Hán sẽ có khả năng loại bỏ được 12 loại ảo giác trong 4 hiện tượng vô thường, khổ, vô ngãô nhiễm. Đó là lý do tại sao, họ không bao giờ nằm mơ.Vì vậy, trong số những người có nằm mơ và những người không có nằm mơ, nếu quả vị tu chứng mà họ đã gặt hái được càng cao lên thì giấc ngủ của họ càng được bình yên hơn.

Những người nào muốn loại bỏ được những loại ảo giác vừa nêu trên phải thực hành thiền tứ niệm xứ ( Satipatthāna vipassanā bhāvanā). Khi năng lực định tâm ( Samādhi Ñāna – Concentration ‘s power) của hành giả thực hành loại thiền này đã chín muồi, đến lúc đó họ sẽ tự nhận biết được chính họ và rất hiếm khi nằm mơ. Năm giấc mơ vĩ đại mà Bồ-Tát Cồ Đàm đã có là những dấu hiệu báo trước

( Pubbanimitta – The fore going sigh) phát xuất từ quá trình tích luỹ các hạnh Ba-La-Mật của Ngài trong khoảng thời gian là 4 A-Tăng-Kỳ ( Four uncountable) và 100 ngàn Đại-kiếp( chu kỳ sinh diệt của thế giới – The world cycles). Sau khi đã có những giấc mơ nói trên, Bồ-Tát Cồ-Đàm đã giác ngộ thành Phật. Ngài đã gặt hái được trí tuệ toàn giác ( Sabbannutā ), năng lực nội quán cùng tột và có khả năng thuyết Kinh Chuyển Pháp Luân ( Dhamma Cakka Pavuttana Sutta). Vì vậy, những giấc mơ vĩ đại như những dấu hiệu báo trước đó sẽ  trở thành sự thật.

 Gặt hái phước báu qua những giấc mơ

Một vài người hay thực hiện việc thờ phụng tại các ngôi chùa thiêng liêng sẽ thấy lại những hình ảnh Phật và Bảo Tháp trong khi họ đang nằm mơ. Việc bố thí tài vật, bố thí Pháp, đặt Bát, lắng nghe thuyết Pháp… cũng tái diễn trong những giấc mơ của họ. Mỗi khi có những giấc mơ đó, họ sẽ gặt hái được phước báu ( Kusala - merit).              

Những giấc mơ không mang lại lợi ích cho việc dẫn đến những cõi sống cao thượng

Những giấc mơ mang lại phước báu vừa nêu trên không có khả năng đưa những người nằm mơ đến với cõi người, cõi Chư Thiên và những cõi sống cao thượng khác trong kiếp sống kế tiếp, bởi vì phước báu mà họ gặt hái được trong lúc đang nằm mơ chỉ kéo dài trong một vài giờ đồng hồ ngắn ngủi. Phước báu đó không đủ năng lực để đưa họ đến với những cõi sống cao thượng khi họ tái sanh.

 Những giấc mơ mang lại hiệu quả khi chúng đang xảy ra

Do chịu ảnh hưởng bởi các phước báu thiện lành của những kiếp sống làm người cao thượng và Chư Thiên cao quí trong quá khứ, những giấc mơ của một người có thể mang lại lợi ích cho chính người đó ngay khi chúng đang xảy ra. Ngược lại, do bị ảnh hưởng của những nghiệp bất thiện trong quá khứ, người đang nằm mơ có thể phải thọ nhận những  nghiệp bất thiện trong kiếp sống hiện tại.

 Gặt hái những nghiệp bất thiện qua những giấc mơ

Một vài người đã có hành động sát sanh, trộm cắp, tà dâm… sẽ nằm mơ và thấy lại những hành động bất thiện của họ. Vì vậy, họ chỉ gặt hái được những nghiệp bất thiện.

 Những giấc mơ không có tác dụng đối với việc tái sanh

Những giấc mơ diễn lại các hành động bất thiện vừa nêu trên không có khả năng đưa những người nằm mơ đến với những cảnh giới thấp kém như địa ngục, ngạ quỉ, A-Tu-La… bởi vì chúng chỉ xảy ra trong một vài giờ đồng hồ ngắn ngủi, chúng không đủ năng lực để dẫn đến điều đó.

  Những giấc mơ không cấu thành tội phạm

Những vị Tỳ-kheo có thể nằm mơ thấy cảnh sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và xử dụng các chất gây say. Tuy nhiên, điều đó không làm cho họ trở nên bị phạm tội bởi vì họ đã được miễn nhiễm.

 Những giấc mơ vô ký tính

Những giấc mơ được hình thành từ sự nhận thức chứ không phải phát xuất từ những hành động, dù là nhận thức thiện hoặc bất thiện thì chúng cũng là những giấc mơ vô ký tính. Những giấc mơ này không mang lại kết quả gì cả.

 Thời điểm nằm mơ – thật và không thật

Những giấc mơ xảy ra vào lúc đầu hôm và nữa đêm sẽ không trở thành sự thật.

Những giấc mơ trước lúc bình minh sẽ trở thành sự thật. Những giấc mơ xảy ra vào lúc vật thực trong cơ thể của chúng ta đã thật sự được tiêu hóa hết sẽ trở thành sự thật. Đó là lý do tại sao, những giấc mơ xảy ra lúc sau nữa đêm hay trước lúc bình minh sẽ trở thành sự thật.

 

                    

 

 

                         Hướng dẫn về thiền minh sát

 ( Bậc Trưởng Thượng trung tâm thiền Saddhammaramsī)   

 

Tất cả những hành giả thực hành thiền minh sát chưa có kinh nghiệm về Phật Pháp sẽ có kinh nghiệm một cách nhanh chóng sau khi lắng nghe bài hướng dẫn về thiền minh sát này của Ngài Saddhammaramsī. Những kinh nghiệm mà họ sẽ có được là kinh nghiệm nội quán. Từ đó, năng lực nhận thức Phật Pháp của họ cũng sẽ phát triển rất nhanh chóng. Vì vậy, để có hướng đi đúng và nhanh trong tiến trình gặt hái những kinh nghiệm về Phật Pháp, năng lực nội quán được tăng trưởng, nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng, các hành giả  phải biết lắng nghe bài hướng dẫn về thiền minh sát này một cách nghiêm túc. Nói một cách vắn tắt,  thiền minh sát có thể được tạm chia làm 3 loại :

1. Thiền tọa ( tức ngồi thiền)

2. Thiền hành ( tức thực hành thiền khi đang đi bộ)

3. Hành thiền bằng cách thực hành sự chú ý đến các hoạt động hàng ngày của mình      

 Thực hành thiền tọa

Lúc ban đầu mới tập sự hành thiền tọa, những hành giả sẽ được hướng dẫn về tư thế ngồi. Sau đó, họ sẽ tìm đến một nơi yên tĩnh và ngồi xuống với thế ngồi hoa sen hay thế ngồi bắt chéo 2 cẳng chân lại với nhau ( còn gọi là thế ngồi kiết già - The cross-legged sitting). Hành giả cũng có thể ngồi thiền theo thế khổ hạnh ( tức gập cong 2 đầu gối lại và ngồi lên trên 2 cẳng chân với bàn chân quay ngữa lên trời – The bent- knees sitting). Bạn cần phải tìm được cho mình một tư thế ngồi thiền thích hợp để ngồi được lâu mà không bị mỏi hay đau nhức. Khi tọa thiền, bạn phải giữ lưng và đầu của mình trên một đường thẳng, 2 mắt nhắm lại, tâm trí hội tụ lên bụng. Khi bạn đang thở vào, bụng của bạn sẽ dần dần phồng lên. Ngay lúc đó, bạn cần phải hội tụ sự chú ý của mình một cách chính xác lên bụng, kể từ khi nó bắt đầu phồng lên cho đến khi đã phồng hết mức, đồng thời niệm thầm trong tâm

 “ đang phồng lên, đang phồng lên…”. Bạn cần phải làm chủ được tâm trí của mình và đừng để cho nó lang thang vô định. Khi bạn đang thở ra, bụng của bạn sẽ dần dần xẹp xuống. Ngay lúc đó, bạn cần phải hội tụ sự chú ý của mình một cách chính xác lên bụng, kể từ khi nó bắt đầu xẹp xuống cho đến khi đã xẹp xuống hết mức, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang xẹp xuống, đang xẹp xuống…”. Bạn cần phải làm chủ được tâm trí của mình và đừng để cho nó lang thang vô định. Trong khi quán niệm về trạng thái đang phồng xẹp lên xuống của bụng, bạn không cần phải chú ý đến hình dáng vật chất của bụng mà chỉ cần tập trung chú ý đến chuyển động đang dần dần phồng lên của nó mà thôi. Khi bạn đang thở vào, phía bên trong bụng sẽ xuất hiện một áp lực và áp lực này làm cho bụng dần dần căng lên. Bạn cần hội tụ sự chú ý một cách chính xác lên áp lực vừa nêu để lãnh hội được nó càng nhiều càng tốt. Trong quá trình thực hành thiền minh sát, hình dáng vật chất của bụng chỉ là một khái niệm ( Paññatti – Concept). Minh sát-Vipassanā  ở đây không phải là sự quan sát để nhìn thấy một khái niệm vật chất mà để nhận biết được thực tại cùng tột ( Paramattha – Ultimate Reality). Áp lực bên trong bụng mà bạn phải lãnh hội cho bằng được chính là bản chất của thực tại. Vì vậy, trạng thái tâm lãnh hội được áp lực này chính là tiến trình lãnh hội được thực tại cùng tột của chính bạn. Khi bạn đang thở ra cũng vậy, bạn không cần chú ý đến hình dáng của bụng khi nó đang dần dần xẹp xuống. Bạn chỉ cần hội tụ sự chú ý một cách chính xác vào chuyển động đang dần dần xẹp xuống của bụng để lãnh hội được bản chất của độ căng ở phía trong bụng càng nhiều càng tốt. Nếu tâm trí vẫn còn chưa đủ bình tĩnh để chú ý vào chuyển động đang phồng xẹp lên xuống của bụng, bạn phải lập tức gia tăng sự chú ý vào một trong hai trường hợp sau mà bạn cho là thích hợp với mình hơn : Tiến trình chuyển động đang dần dần phồng lên của bụng hoặc tiến trình chuyển động đang dần dần xẹp xuống của bụng. Có 3 đề mục cần phải hội tụ sự chú ý lên đó một cách chính xác là : Chuyển động đang phồng lên của bụng, chuyển động đang xẹp xuống của bụng và trạng thái đang xúc chạm của thân thể với sàn tọa. Khi hội tụ tâm ý lên trạng thái đang xúc chạm giữa thân thể và sàn tọa, bạn không cần chú ý đến hình dáng vật chất của thân thể mà chỉ cần chú ý một cách chính xác đến độ căng của nó (đã được tạo ra do ảnh hưởng của trạng thái xúc chạm giữa thân thể và sàn tọa) để lãnh hội được bản chất của độ căng này. Nếu tâm trí vẫn chưa đủ trầm tĩnh mà vẫn còn khuynh hướng lang thang, mặc dù bạn đã thực hành sự chú ý trên 3 đề mục vừa nêu trên

( tiến trình phồng, xẹp và xúc chạm của bụng), lúc này bạn có thể thực hành sự chú ý đến một 4 đề mục sau : Chuyển động đang phồng lên của bụng, chuyển động đang xẹp xuống của bụng, trạng thái đang ngồi và trạng thái đang xúc chạm giữa thân thể với sàn tọa. Khi hội tụ tâm ý lên trạng thái đang ngồi, bạn không cần chú ý đến hình dáng vật chất của bụng mà chỉ cần hội tụ tâm ý một cách chính xác lên độ căng của nó để lãnh hội được bản chất của độ căng này. Bạn cũng không cần lưu tâm đến hình dáng vật chất của đầu, thân thể và tứ chi khi đang thiền tọa, chỉ cần tập trung chú ý đến độ căng của thân thể như là một hệ quả của việc không khí đi từ bên ngoài vào phía trong bụng. Thông thường, tâm trí sẽ trở nên trầm tĩnh khi bạn thực hành sự chú ý trên 1 trong 4 đề mục hành thiền là : Chuyển động đang phồng lên của bụng, chuyển động đang xẹp xuống của bụng, trạng thái đang ngồi, trạng thái đang xúc chạm giữa thân thể và sàn tọa như đã đề cập ở trên. Nếu bạn nhận thấy rằng, việc thực hành sự chú ý trên 1 trong 4 đề mục này là vượt quá khả năng tinh tấn của chính bản thân mình và điều này đã làm cho năng lực chú ý của bạn bị giảm sút thì bạn có thể trở lại với phương pháp quán niệm trên 3 đề mục mà thôi ( tiến trình đang phồng lên của bụng, tiến trình đang xẹp xuống của bụng, tiến trình đang xúc chạm giữa thân thể và sàn tọa. Như vậy, để phát triển năng lực chú ý của mình, bạn có thể tự do chọn lấy một trong 2 phương pháp thực hành thiền sau : Thực hành sự chú ý trên 3 hay 4 đề mục đã nêu trên. Nếu nhận thấy rằng thực hành sự chú ý trên 3 đề mục hành thiền đã nêu trên là vượt quá khả năng tinh tấn của chính mình thì bạn có thể chỉ thực hành việc ấy trên 2 đề mục , miễn sao năng lực định tâm của bạn vẫn phát triển tốt là được. Khi thực hành sự chú ý trên 2 đề mục hành thiền, bạn chỉ cần quán niệm về chuyển động đang dần dần phồng lên và xẹp xuống của bụng. Như vậy, trong thực tế hành thiền, phương pháp thực hành sự chú ý trên 4 đề mục hay 3 đề mục không phải là những phương pháp bắt buộc để có thể mang lại hiệu quả cho năng lực định tâm của bạn. Đối với những hành giả mới tập sự hành thiền, tâm trí của họ thường có khuynh hướng lang thang vô định khi họ thực hành sự chú ý đến chuyển động đang phồng lên của bụng, chuyển động đang xẹp xuống của bụng, trạng thái đang ngồi, trạng thái đang xúc chạm của thân thể đối với sàn tọa. Lúc đó, tâm trí của họ đang bị lang thang đây đó hay đang bị dính mắc vào hình ảnh các ngôi chùa,  các tu viện, các ngôi chợ hay nhiều nơi khác… Mỗi khi tâm trí bị lang thang vô định như vậy, bạn cần phải thực hành sự chú ý ngay trên trạng thái lang thang vô định của nó và niệm thầm trong tâm mình “ đang lang thang vô định, đang lang thang vô định…”. Khi năng lực định tâm đã phát triển một cách đáng kể qua việc thực hành  sự chú ý ngay trên tình trạng thái lang thang vô định của chính tâm trí mình, bạn sẽ có được kinh nghiệm về trạng thái này. Nói cách khác, bạn chỉ cần từ 4 đến 5 lần hội tụ sự chú ý một cách liên tiếp và chính xác ngay trên trạng thái lang thang vô định của tâm trí mình thì bạn sẽ tự nhận biết được tiến trình đang khởi lên và tan biến đi của trạng thái tâm thức này. Sau đó, bạn sẽ gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu

( Bhanga Ñāna – The knowledge of dissolution). Đến lúc đó, năng lực định tâm của bạn sẽ trở nên mạnh mẽ hơn trước và từng bước càng thêm phát triển. Tiếp đến, qua sự chú ý, bạn sẽ tự kinh nghiệm được trạng thái tan hoại và biến mất đi một cách cực kỳ nhanh chóng của trạng thái tâm thức lang thang vô định mà mình đã mắc phải. Sau nữa, khi năng lực định tâm đã thực sự mạnh mẽ, qua sự chú ý đến trạng thái tâm thức lang thang vô định, bạn sẽ lãnh hội được rằng tiến trình đang tan hoại của trạng thái này là xảy ra đồng thời với tiến trình tan hoại của sự chú ý để nhận thức của chính mình. Điều này có nghĩa là trạng thái tâm thức lang thang vô định của bạn chỉ có tính nhất thời và sự chú ý để nhận thức của bạn cũng như thế. Cả hai hiện tượng này đều là vô thường ( Anicca – Impermanence). Tiến trình khởi lên và tan biến đi của những hiện tượng này xảy ra với một tốc độ cực kỳ nhanh chóng, dường như chúng đã tạo ra một áp lực dày vò tâm thức của bạn. Vì vậy chúng là khổ. Chúng ta có cách nào để ngăn chặn những tiến trình đang tan hoại vừa đề cập ở trên không ? Câu trả lời là không. Chúng ta không có cách nào để ngăn chặn tiến trình tan hoại đang xảy ra của các hiện tượng nói chung. Tiến trình tan hoại của các hiện tượng luôn luôn xảy ra theo cách riêng của chúng và không thể nào điều khiển được.Vì vậy, tiến trình tan hoại của các hiện tượng là vô ngã hay không thể điều khiển được ( Anatta – No self or uncontrollable). Từ đó, sự hiểu biết về tính vô thường, khổvô ngã của bạn đã được phát triển. Đối với những người mới tập sự hành thiền, cảm giác đau nhức có thể sẽ khởi lên sau nữa giờ hoặc 45 phút thực hành sự chú ý đến các đề mục hành thiền. Cảm giác đau nhức này sẽ khiến cho năng lực chú ý của bạn bị giảm sút, cũng như bạn sẽ có những cảm giác khó chịu.

 Chú ý đến những cảm giác bất như ý

 Có 3 cách để thực hành sự chú ý đến khổ thọ ( tức những cảm giác khó chịu hay bất như ý - Dukkha vedanà)  :

1. Chú ý với mục đích làm cho khổ thọ biến mất đi.

2. Chú ý với mục đích xoá bỏ khổ thọ một cách hoàn toàn với thái độ nôn nóng và hung hăng.

3. Chú ý với mục đích lãnh hội được bản chất của khổ thọ.       

 Cách chú ý thứ nhất

Chú ý với mục đích làm cho khổ thọ biến mất đi có nghĩa là bạn đã khao khát muốn làm cho khổ thọ biến mất đi. Như vậy là tham lam ( Lobha – Greed). Bạn thực hành thiền minh sát là để thoát khỏi tính tham lam. Trong khi đó, tính tham lam đã làm cho năng lực chú ý của hành giả bị ô nhiễm. Do đó, bạn sẽ không lãnh hội được Giáo Pháp.Vì vậy, đây là một phương pháp mà bạn không nên thực hành.

  Cách chú ý thứ 2   

 Khi bạn thực hành sự chú ý với mục đích xoá bỏ khổ thọ một cách hoàn toàn trong lúc đang đi, đứng, ngồi, nằm… với thái độ hung hăng và nôn nóng nghĩa là bạn đã đồng thời chất chứa tính sân hận ( Dosa – Anger) ngay trong tâm thức của mình. Khi bị loại ô nhiễm này chen vào giữa sự chú ý của mình, bạn không thể nào lãnh hội được Giáo Pháp. Đó là lý do tại sao, bạn không nên thực hành thiền minh sát theo phương pháp này.

 Cách chú ý thứ 3

 Chỉ khi bạn thực hành sự chú ý với mục đích nhận biết được bản chất của khổ thọ thì lúc đó, bạn mới có thể lãnh hội được trạng thái đang khởi lên và biến mất đi của nó. Theo phương pháp này, bạn phải luôn luôn giữ cho tâm trí và thân thể của mình được vững chãi, thích hợp với từng mức độ đau nhức, ngứa ngáy… trong lúc đang thực hành thiền minh sát. Bạn phải giữ sao cho tâm trí của mình đừng bị căng thẳng quá. Thay vào đó, bạn phải biết thư giãn ở một mức độ vừa phải và hợp lý. Trong suốt quá trình thực hành thiền minh sát, do bạn phải ngồi lâu hàng giờ đồng hồ, nên khổ thọ có thể khởi lên bất cứ lúc nào. Vì vậy, bạn phải biết cách chú ý ngay lập tức khi khổ thọ đang khởi lên. Bạn cần phải giữ cho tâm trí của mình luôn luôn bình tĩnh. Cảm giác đau nhức thường khởi lên từng đợt theo qui trình của riêng nó. Ngay lúc trạng thái đau nhức đang khởi lên, bạn cần phải hướng sự chú ý thật chính xác và trực tiếp lên nó. Bạn cần phải duy trì được một tâm thức có khả năng chịu đựng nổi loại khổ thọ này một cách hoàn toàn. Phần còn lại là bạn phải tuyệt đối biết kiên nhẫn khi khổ thọ đang xuất hiện. Những hành giả thực hành thiền minh sát phải luôn luôn niệm thầm trong tâm mình câu “ Chỉ có tính kiên nhẫn mới có thể giúp cho mình nhận thức được Niết Bàn”. Sau khi đã quyết định thực hiện tính kiên nhẫn, giữ cho tâm trí luôn luôn bình tĩnh, cẩn thận để tâm trí và thân thể không bị căng thẳng quá mức, giữ chúng trong trạng thái thư giãn vừa phải. Bạn cần phải hội tụ sự chú ý một cách chính xác và liên tục trên khổ thọ. Sau khi đã hội tụ tâm ý một cách chính xác và liên tục trên khổ thọ, bạn phải cố gắng nhận biết một cách xuyên thấu vào chiều sâu của cảm giác đau nhức. Bạn phải hội tụ sự chú ý của mình một cách chính xác lên khổ thọ để nhận biết được rằng nó đang ở đâu : Ở trên da, trên thịt, trên các dây thần kinh, thông qua xương hay tuỷ. Chỉ sau khi đã hội tụ sự chú ý một cách chính xác lên khổ thọ, bạn mới có thể quan sát và nhận thức được bản chất của cảm giác đau nhức. Tương tự như vậy, trong lần chú ý thứ hai và thứ ba bạn cũng tiếp tục hội tụ tâm ý chính xác lên khổ thọ để nhận biết được bản chất của nó. Tiến trình thực hành sự chú ý phải được thực hiện với một tốc độ hợp lý, không nên thực hiện nhanh quá, nhất là không nên thực hành sự chú ý một cách hời hợt lên khổ thọ. Bạn cần phải thực hành sự chú ý một cách chính xác và liên tục. Sau từ bốn đến năm lần bị chú ý, khổ thọ sẽ gia tăng cường độ. Vì vậy, bạn sẽ kinh nghiệm được khổ thọ một cách rõ ràng hơn. Mỗi khi cường độ của khổ thọ đã gia tăng đến đỉnh điểm thì tự nhiên cường độ của nó sẽ giảm xuống đúng theo như bản chất của nó. Khi cường độ của khổ thọ đang dần dần giảm xuống, bạn vẫn phải tiếp tục hội tụ sự chú ý trên tiến trình này, đừng buông lơi sự chú ý. Sau từ bốn đến năm lần hội tụ sự chú ý lên khổ thọ, bạn sẽ kinh nghiệm được bản chất của nó. Đến lúc này, khổ thọ sẽ lắng xuống hoặc chuyển đến một nơi khác. Khi đã nhận biết được rằng bản chất của khổ thọ là luôn luôn biến đổi, bạn sẽ cảm thấy càng lúc càng thú vị hơn với năng lực hội tụ sự chú ý của mình. Sau đó, khi năng lực định tâm đã trở nên mạnh mẽ hơn thì năng lực chú ý để nhận biết của bạn sẽ từng bước phát triển theo. Đến lúc đó, bạn sẽ tự kinh nghiệm được bản chất khổ thọ. Sau khi cường độ của khổ thọ đã gia tăng đến cực điểm thì cường độ này sẽ từ từ giảm xuống. Ngay khi khổ thọ đang giảm cường độ, bạn không nên buông lơi sự tập trung tâm ý. Bằng cách liên tục hội tụ sự chú ý lên khổ thọ, bạn sẽ tự lãnh hội được rằng, cảm giác đau nhức, chóng mặt, ngứa ngáy… đang từ từ giảm xuống hoặc chuyển đến một nơi khác. Theo thời gian trôi chảy, cường độ của khổ thọ sẽ thay đổi mỗi lúc mỗi khác. Thỉnh thoảng, cường độ của nó lại gia tăng và đôi khi lại giảm xuống. Vì vậy, bạn sẽ nhận biết được bản chất của khổ thọ một cách sâu sắc hơn. Tiếp đến, do đã có khả năng hội tụ sự chú ý một cách liên tục, nên năng lực định tâm của bạn đã trở nên mạnh mẽ hơn trước. Đến lúc này, hành giả sẽ gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng ( Bhanga Ñāna – The knowledge of dissolution). Khi đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng, bất cứ lúc nào hội tụ tâm ý lên khổ thọ thì bạn cũng sẽ kinh nghiệm được tiến trình đang tan hoại của nó. Nếu đã đến mức như thế, bạn sẽ có khả năng kinh nghiệm được trạng thái đang tan biến đi của khổ thọ như thể bạn đang nhìn thấy tiến trình đang tan hoại này bằng mắt thường. Năng lực có thể thấy được tiến trình đang tan hoại của khổ thọ trong mỗi lần hội tụ sự chú ý lên nó sẽ mang lại cho bạn sự hiểu biết rằng, khổ thọ là vô thường. Khả năng hội tụ sự chú ý của bạn bây giờ đã vượt xa và có thể bao trùm lấy khổ thọ. Sau đó, khi năng lực định tâm của bạn đã từng bước trở nên mạnh mẽ hơn, bạn sẽ tự kinh nghiệm được rằng, ngay cả sự chú ý củabạn cũng đã biến mất theo tiến trình tan hoại của khổ thọ. Một người có trí tuệ sắc bén khi hội tụ tâm ý lên khổ thọ thì anh ta sẽ tự lãnh hội được 3 tiến trình sau : Tiến trình đang tan biến của khổ thọtiến trình tan biến của trang thái tâm nhận biết được khổ thọtiến trình đang tan biến đi của trạng thái chú ý mà hành giả đã hội tụ lên khổ thọ. Trạng thái đau nhức là vô thường, trạng thái tâm nhận biết cảm giác đau nhức cũng vô thường và sự chú ý để nhận biết cảm giác đau nhức cũng vô thường. Như vậy cả 3 tiến trình này đều tồn tại một cách nhất thời hay vô thường ( Anicca – Impermanent). Những tiến trình tan hoại của chúng thường xảy đến rất nhanh và những tiến trình này chính là nguyên nhân gây ra khổ đau. Vì vậy chúng là khổ ( Dukkha – Suffering). Chúng ta không có cách nào để ngăn chặn được những tiến trình tan hoại này. Chúng luôn luôn diễn ra theo bản chất tự nhiên của riêng chúng. Chúng ta cũng không có cách gì để điều khiển được những tiến trình này. Vì vậy, chúng là vô ngã hay không thể điều khiển được ( Anatta – No self or Uncontrollable).Từ đó, những tiến trình tan hoại vừa nêu trên đã tự động lưu lại dấu vết trong sự nhận thức và trong trí tuệ của chúng ta. Sau khi tính vô thường, khổvô ngã của cảm thọ đã in dấu trong trí tuệ của một người nào đó thì người này sẽ gặt hái được kiến thức về tính vô thường, khổ và vô ngã. Do đó, người này sẽ nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng. Có thể nói rằng đến lúc đó, năng lực hội tụ tâm ý lên khổ thọ để nhận biết bản chất của nó mà hành giả đang sở hữu đã trở nên hoàn chỉnh hơn trước.

 Chú ý khi đang nghe

Khi đang thiền tọa, bạn có thể tình cờ nghe được nhiều loại âm thanh phát ra chung quanh khu vực mà mình đang ngồi. Bạn cũng có thể nhìn thấy những đối tượng của thị giác, ngửi thấy các mùi thơm… Những âm thanh mà bạn có thể tình cờ nghe thấy được như tiếng gà kêu, tiếng chim hót, tiếng búa đập, tiếng người cười nói hay tiếng động cơ của xe hơi… Khi đang tình cờ nghe được những loại âm thanh đó, bạn cần phải điều khiển được tâm trí của mình để chỉ nghe chúng một cách thuần tuý, nghĩa là chỉ nghe mà không phân tích hay phán đoán gì cả. Nói cách khác, bạn vẫn nghe nhưng đừng để cho tâm trí của mình bị cuốn hút hay dính mắc vào những âm thanh này. Đồng thời hành giả phải niệm thầm trong tâm 

“ đang nghe, đang nghe…”. Khi năng lực tập trung tâm ý đã đạt tới mức trung bình, nếu bạn thực hành sự chú ý đến những âm thanh mà mình đang tình cờ nghe được một cách thuần tuý thì những âm thanh đó sẽ trở nên nhỏ dần và giảm cường độ. Khi bị tập trung chú ý, những âm thanh vừa nói trên lại di chuyển đến một nơi khác cách xa chỗ mà bạn đang ngồi. Có khi vừa mới đột ngột xuất hiện và bị chú ý thì chúng đã biến mất đi hoặc trở thành những tạp âm rất khó phân biệt. Khi bắt gặp những trường hợp như vậy xảy ra, bạn cũng vẫn duy trì sự tập trung chú ý để nghe chúng một cách thuần tuý. Sau đó, do đã liên tục thực hành sự chú ý, năng lực định tâm của bạn đã trở nên mạnh mẽ hơn. Trong khi tập trung chú ý đến tiến trình đang nghe, với trí tuệ sắc bén, bạn sẽ tự lãnh hội được một cách chi tiết về tiến trình đang  tan hoại đi của những âm thanh vừa nói ở trên, tiến trình đang tan hoại của trạng thái đang nghe của bạn và tiến trình đang tan hoại của trạng thái tập trung chú ý. Trong mỗi khoảnh khắc của những tiến trình tan hoại này, bạn cũng phải luôn niệm thầm trong tâm mình “ đang nghe, đang nghe…”. Khi những âm thanh tình cờ nghe được đang dần dần biến mất đi từng phần một cách rất vi tế, những hành giả mới tập sự thực hành thiền minh sát cũng có thể kinh nghiệm được tiến trình này. Những âm thanh không hề phát ra một cách liên tiếp, từng âm tiết một tuần tự phát ra và biến mất đi. Ví dụ, khi âm thanh phát ra với từ “ Gentlemanngười đàn ông hào hoa phong nhã”, nếu không tập trung chú ý lúc đang nghe từ này thì bạn không thể nào lãnh hội được nó, dù chỉ là một mảy may nào. Lý do đơn giản là vì âm tiết Gen, tle, và man không hề được phát ra một cách liên tiếp mà ở giữa chúng vẫn có những khoảng trống, mỗi âm tiết biến mất đi một cách rõ ràng và tách bạch với những âm tiết khác. Mỗi khi đã có khả năng nhận biết được tiến trình đang tan hoại của âm thanh. Lúc đó, bạn sẽ lãnh hội được rằng, âm thanh là vô thường. Khi nhận biết được tiến trình đang tan hoại của sự chú ý, bạn cũng sẽ lãnh hội được rằng, ngay cả sự chú ý của chính mình cũng vô thường. Trạng thái tâm nhận thức về những âm thanh đó cũng vô thường  ( Anicca – Impermanent). Những tiến trình tan hoại vừa nói trên đã xảy ra một cách cực kỳ nhanh chóng và gây ra một áp lực lên tâm lý của bạn. Vì vậy, chúng chính là khổ

( Dukkha – suffering). Chúng ta có cách nào để ngăn chặn được những tiến trình tan hoại khổ đau này không ? Câu trả lời là không. Những tiến trình này luôn luôn xảy ra theo cách riêng của chúng, phù hợp với từng bản chất riêng biệt mà chúng thực sự đang là. Chúng ta không thể nào điều khiển được những tiến trình tan hoại này. Vì vậy chúng là vô ngã hay không thể điều khiển được ( Anatta – No self or Uncontrolable). Khi đang chú ý đến tiến trình nghe của mình, bạn sẽ lãnh hội được kiến thức về tính vô thường, khổvô ngã. Từ đó, bạn sẽ nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng.

Chú ý trong lúc đang ngồi

Khi bạn đang tập trung tâm ý vào tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng, tiến trình đang xúc chạm … tức là bạn đang đặt sự chú ý lên chính thân thể của mình. Nói cách khác, bạn đang quán thân ( Kāyānupassanà). Khi bạn đang tập trung tâm ý vào cảm giác đau nhức hay ngứa ngáy… tức là bạn đang tập trung chú ý vào các cảm giác. Nói cách khác, bạn đang quán cảm thọ ( Vedanānupassanā). Khi bạn đang chú ý đến trạng thái tâm thức lang thang vô định của chính mình tức là bạn đang đặt sự chú ý lên chính tâm trí của chính bạn. Nói cách khác, bạn đang quán tâm ( Cittānupassanā ). Khi bạn đang chú ý đến trạng thái “đang thấy”, “ đang nghe”, “ đang ngửi”… tức là bạn đang đặt sự chú ý của mình lên những đối tượng của tâm ý.Nói cách khác, bạn đang quán pháp ( Dhammānupassanā).

 Như vậy có thể nói, theo phương pháp thực hành thiền của Ngài Mahāsī thì thân, thọ, tâm, pháp là 4 nền tảng của sự chú ý trong quá trình thực hành thiền tọa.

 Thực hành thiền trong tư thế đang đi bộ

Khi nói đến thiền hành thì có 4 cách để thực hành sự chú ý :

a. Thực hành sự chú ý đến một giai đoạn chuyển động trong mỗi bước chân

b.  Thực hành sự chú ý đến hai giai đoạn chuyển động trong mỗi bước chân

c. Thực hành sự chú ý đến ba giai đoạn chuyển động trong từng bước chân

d. Thực hành sự chú ý đến sáu giai đoạn chuyển động trong mỗi bước chân

  Chú ý đến một giai đoạn chuyển động trong mỗi bước chân

Trong tiến trình thực hành sự chú ý đến một giai đoạn chuyển động trong mỗi bước chân, bạn phải tập trung chú ý đến “ chuyển động bước tới của bàn chân trái”. Khi bàn chân trái bước, bạn cần phải hội tụ tâm ý một cách chính xác và liên tục lên chuyển động này,  kể từ khi bàn chân trái bắt đầu bước tới cho đến khi chấm dứt một bước chân. Bạn phải thực hành như thế để nhận biết được bản chất của chuyển động liên tục bước tới. Trong bước thực hành thiền này, bạn không cần chú ý đến hình dáng vật chất của bàn chân trái. Đối với chuyển động bước tới của bàn chân phải, bạn cũng hội tụ tâm ý một cách chính xác và liên tục lên tiến trình chuyển động này như cách thức chú ý đến chuyển động của bàn chân trái. Trong bước thực hành này, bạn cũng không cần chú ý đến hình dáng vật chất của bàn chân phải. Trên đây là những hướng dẫn cụ thể và đầy đủ nói về cách thực hành sự chú ý đến giai đoạn chuyển động trong mỗi bước chân.

  Chú ý đến hai giai đoạn trong mỗi bước chân

Trong tiến trình thực hành sự chú ý đến hai giai đoạn trong mỗi bước chân, bạn phải hội tụ tâm ý trên “ chuyển động đang dở lên và đang đặt xuống của bàn chân”. Đối với “chuyển động đang dở lên của bàn chân”, bạn cần phải hội tụ tâm ý một cách chính xác và liên tục lên chuyển động này để nhận biết được bản chất của nó. Bạn không cần chú ý đến hình dáng vật chất của bàn chân. Tiếp đến, bạn hãy hội tụ tâm ý một cách chính xác và liên tục lên “chuyển động đang đặt xuống của bàn chân” để nhận biết được bản chất của chuyển động này. Ngay lúc này, hình dáng vật chất của bàn chân chỉ là một khái niệm ( Paññatti – Concept). Nó không phải là đối tượng để chú ý trong quá trình thực hành thiền minh sát. Thay vào đó, bạn phải hội tụ tâm ý một cách chính xác và liên tục trên chuyển động của bàn chân để nhận biết được bản chất đích thực của nó. Trên đây là những hướng dẫn cụ thể và đầy đủ nói về cách thực hành sự chú ý đến hai giai đoạn chuyển động trong mỗi bước chân.

 Chú ý đến ba giai đoạn trong mỗi bước chân

Trong tiến trình thực hành sự chú ý đến ba giai đoạn trong mỗi bước chân, bạn phải tập trung chú ý đến “ chuyển động đang dở lên, chuyển động đang bước tới và chuyển động đang đặt xuống của bàn chân. Trong giai đoạn “ bàn chân đang từ từ dở lên” , bạn cần phải hội tụ sự chú ý một cách chính xác và liên tục lên hành động này để nhận biết được bản chất của “ chuyển động đang từ từ dở lên”. Trong giai đoạn bàn chân bị một lực đẩy và ‘đang chuyển động dần dần bước tới”, bạn cũng hội tâm ý lên hành động này để nhận biết được bản chất của chuyển động đang dần dần bước tới. Trong  giai đoạn bàn chân đang từ từ đặt xuống cũng vậy, bạn cũng hội tụ tâm ý một cách chính xác và liên tục để nhận biết được bản chất của

 “ chuyển động đang dần dần đặt xuống”. Hội tụ tâm ý một cách chính xác và liên tục nghĩa là hội tụ tâm ý một cách chính xác lên những chuyển động liên tục đang xảy ra trong khoảnh khắc ở hiện tại. Ở đây là chuyển động liên tục xảy ra khi bạn đang đi bộ. Bạn cần phải hội tụ tâm ý một cách chính xác và liên tục để nhận biết được bản chất của những chuyển động này. Khi đã có khả năng hội tụ tâm ý một cách chính xác và liên tục đến chuyển động “ đang dở lên” của bàn chân, bạn sẽ không chỉ tự nhận thức được “trạng thái từ từ chuyển động dở lên của bàn chân” mà còn nhận thấy rằng chuyển động này càng lúc càng trở nên nhẹ nhàng hơn.

Khi tập trung sự chú ý đến tiến trình đang bước tới của bàn chân, bạn sẽ không chỉ nhận thấy được “chuyển động dần dần bước tới phía trước” của nó mà còn lãnh hội được rằng chuyển động này càng lúc càng trở nên nhẹ nhàng hơn. Khi hội tụ tâm ý trên chuyển động đang đặt xuống của bàn chân, bạn sẽ không chỉ nhận thấy nó đang chuyển động dần dần về phía dưới theo hướng đặt xuống mà còn lãnh hội được rằng chuyển động đặt xuống này của bàn chân càng lúc càng nặng nề hơn.

 Những hành giả thực hành thiền minh sát sẽ cảm thấy rất thú vị khi đã có kinh nghiệm về chuyển động đang dở lên, đang bước tới và đang đặt xuống của bàn chân. Đặc biệt là khi đã nhận thấy được những chuyển động dở lên và bước tới của bàn chân càng lúc càng nhẹ nhàng hơn khi họ đang thiền hành. Đối với tiến trình đặt xuống của bàn chân, hành giả sẽ nhận thấy rằng chuyển động này càng lúc càng trở nên nặng nề hơn. Từ đó, họ đã bắt đầu kinh nghiệm được Phật Pháp.

Kinh nghiệm về những chuyển động càng lúc càng nhẹ nhàng hơn của bàn chân là lãnh hội được bản chất của lửa ( Tejo – lights) và gió ( Vāyo – winds). Kinh nghiệm về chuyển động đang đặt xuống của bàn chân càng lúc càng trở nên nặng nề hơn lúc đang thiền hành là lãnh hội được bản chất của đất ( Pathavi – lands) và nước ( Āpo – waters). Từ đó, những người thực hành thiền minh sát sẽ bắt đầu kinh nghiệm được Phật Pháp. Đến đây, phương pháp thiền hành trên 3 giai đoạn của mỗi bước chân đã được trình bày một cách đầy đủ.

 Chú ý đến 6 giai đoạn trong mỗi bước chân

Tiến trình chú ý đến 6 giai đoạn trong mỗi bước chân của hành giả bao gồm : Lúc bàn chân đang bắt đầu dở lên cho đến khi chấm dứt giai đoạn này, lúc bàn chân bắt đầu bước tới cho đến khi chấm dứt giai đoạn này, lúc bàn chân bắt đầu đặt xuống cho đến khi chấm dứt giai đoạn này. Tập trung sự chú ý lúc bàn chân đang bắt đầu dở lên có nghĩa là chỉ chú ý lúc gót chân đang dở lên. Chú ý đến giai đoạn bàn chân đã chấm dứt tiến trình dở lên nghĩa là chú ý khi các ngón chân đã hoàn toàn dở lên khỏi mặt đất. Chú ý lúc bàn chân đang bước tới nghĩa là chú ý đến giai đoạn bàn chân đang bắt đầu bước tới. Chú ý đến giai đoạn bàn chân đã chấm dứt tiến trình bước tới nghĩa là chú ý đến giai đoạn bàn chân có sự ngưng nghỉ trong thoát chốc trước khi đặt xuống. Chú ý đến giai đoạn bắt đầu đặt xuống của bàn chân nghĩa là chú ý lúc nó đang đặt xuống . Chú ý đến giai đoạn bàn chân đã chấm dứt hành động đặt xuống nghĩa là chú ý đến lúc bàn chân đã chạm vào mặt sàn hay mặt đất. Vì vậy, 6 giai đoạn trên được gói gọn trong mỗi bước chân. Sáu giai đoạn này chỉ là sự chia tách làm đôi của 3 giai đoạn dở lên, bước tới và đặt xuống của bàn chân bằng cách quan sát lúc mới khởi đầu và lúc chấm dứt của những chuyển động. Ngoài ra, hành giả cũng có thể thực hành quan sát 6 giai đoạn trong mỗi bước chân một cách liên tục. Điều này có nghĩa là hành giả phải chú ý đến tiến trình “ bắt đầu dở lên” và “ đang dở lên”, “ bắt đầu bước tới” và “đang bước tới”, “ đang đặt xuống” và “ đã đặt xuống” của bàn chân. Nói cách khác, hành giả thực hành sự chú ý để nhận thức được bản chất của thân và tâm mình. Cũng có một phương pháp thiền hành bằng cách chú ý đến 6 giai đoạn trong mỗi bước chân khác, đó là quan sát  lúc “ bắt đầu dở bàn chân lên”, “ đang dở bàn chân lên”, “ đang bước tới”, “ đang đặt xuống”, “ bắt đầu chạm đất” và “ đã chạm đất hoàn toàn”. “ Bắt đầu dở bàn chân lên” nghĩa là chỉ có gót chân là đã dở lên, “ đang dở bàn chân lên” nghĩa là các ngón chân đã hoàn toàn dở lên khỏi mặt đất. “ Đang bước tới” nghĩa là toàn bộ bàn chân đang bước tới, trong tiến trình này chúng ta không phân biệt sự khởi đầu và kết thúc.  “ Đang đặt bàn chân xuống” nghĩa là bàn chân chỉ mới bắt đầu đặt xuống. “ Bắt đầu chạm mặt đất” nghĩa là bàn chân chỉ mới bắt đầu chạm mặt đất hay mặt sàn. “ Đã chạm đất hoàn toàn ” nghĩa là bàn chân đã hoàn toàn chạm mặt đất hay mặt sàn và bàn chân kia đã tiếp tục bắt đầu dở lên. Với phương pháp này, người thực hành thiền tập luyện sự chú ý và quan sát một cách sắc bén. Từ đó, năng lực lãnh hội Phật Pháp của hành giả sẽ gia tăng một cách khác thường. Trên đây, các phương pháp thiền hành đã được trình  bày một cách đầy đủ.

 Chú ý một cách chi tiết đến các hoạt động hàng ngày của chính mình

Chú ý một cách chi tiết đến các hoạt động hàng ngày của chính mình không phải là chú ý đến  “ tiến trình đang ngồi” hay “ tiến trình đang đi bộ”. Những hoạt động hàng ngày mà chúng ta cần thực hành sự chú ý là : Hành động đang mở cửa hay đóng của lúc trở về nơi cư trú, lúc đang rời khỏi giường ngủ, đang thay đổi hay giặt giũ quần áo, lúc đang chuẩn bị các bữa ăn và đồ uống…

Chú ý lúc đang đi khất thực

Hành giả cần tập trung chú ý “ tiến trình đang nhìn” của chính mình trong lúc đi khất thực, nhất là khi thọ nhận vật thực cúng dường của các thí chủ. Hành giả cũng cần chú ý đến “ tiến trình xúc chạm” khi đang thọ dụng vật thực bằng tay không, khi đang chuẩn bị đưa từng miếng vật thực vào miệng, khi đang cúi đầu xuống hay ngẫng đầu lên, khi đang mở miệng để đưa vật thực vào, khi đang kéo đầu trở về vị trí cũ trong tiến trình thọ thực, khi đang nhai vật thực, biết rõ mùi vị của thức ăn, lúc đang nuốt thức ăn …Trên đây là những chỉ dẫn về phương pháp thực hành thiền trong lúc đang đi khất thực của Ngài Đại đức Mahasì. Phương pháp này là để dành cho những hành giả nào muốn thực hành thiền một cách nghiêm túc, chính xác và liên tục. Trong giai đoạn lúc mới tập sự thực hành thiền, có thể hành giả chưa có khả năng chú ý đến tất cả các hoạt động hàng ngày của mình. Đa số hành giả đã bỏ qua rất nhiều hành động thay vì phải tập trung sự chú ý để quan sát những hành động ấy. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, hành giả cần phải dũng cảm, kiên nhẫn và tiếp tục thực hành thiền. Không lâu sau đó, khi năng lực tập trung của hành giả đã đủ mạnh thì tự nhiên anh ta sẽ có khả năng quan sát các hoạt động hàng ngày của mình một cách tốt hơn. Những người mới tập sự thực hành thiền minh sát nên tự tìm cho mình một số đề mục hành thiền chính yếu nào đó để quan sát. Ví dụ như một số hoạt động được thực hiện bằng tay, bạn có thể tập trung tâm ý để quan sát những hoạt động này và luôn luôn theo dõi tiến trình  chuyển động của chúng, cố gắng  đừng để mất dấu. Một ví dụ khác, nếu chọn “hành động cúi đầu xuống” để làm đề mục thực hành thiền thì bạn cần phải tập trung tâm ý trên “chuyển động cong” của đầu. Cố gắng đừng để mất dấu dù chỉ là một chuyển động rất đơn giản. Nếu chọn “ đề mục nhai vật thực” để làm đề mục hành thiền chính yếu thì bạn cần phải tập trung tâm ý để quan sát “hành động  nhai”, cố gắng đừng để mất dấu , dù chỉ là một chuyển động  nhỏ nhặt. Vì vậy, những người thực hành thiền có thể chọn cho mình bất cứ hành động nào để làm đề mục hành thiền chính yếu. Sau khi năng lực tập trung tâm ý của hành giả đã phát triển tốt trên một hoạt động bất kỳ nào đó, anh ta có thể tiếp tục phát triển sự quan sát của mình sang những hoạt động khác để nâng cao năng lực tập trung tâm ý.Với tiến trình gặt hái và phát triển “ kiến thức nội quán”, hành giả thực hành thiền minh sát sẽ nhận thức được Phật Pháp trong khi đang đi khất thực. Đặc biệt, tiến trình chuyển động của hành động nhai vật thực là rất dễ nhận biết. Ngài Đại đức Mahàsì đã từng nói rằng, trong hành động nhai chỉ có vật thực là tự vỡ nát ra làm thành từng mãnh nhỏ, không có ai thực hiện hành động nhai cả. Khi năng lực tập trung tâm ý của hành giả đã phát triển thì việc quan sát chuyển động của các hoạt động hàng ngày sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Nếu đã có khả năng quan sát hành động nhai vật thực của chính mình một cách chính xác và hiệu quả thì bạn cũng có thể làm như thế đối với những hành động khác. Đến đây, những hướng dẫn chi tiết về cách thực hành thiền trong lúc đang đi khất thực đã được trình bày một cách đầy đủ.

 Chú ý lúc đang ngồi xuống

Chú ý đến tiến trình “ đang ngồi xuống”, “ đang đứng lên”, “ các hoạt động đang co duỗi của thân thể”… cũng là phương pháp để thực hành sự chú ý một cách chi tiết đến các hoạt động hàng ngày. Đối với những hành giả có năng lực chú ý ở mức trung bình, nếu họ có ý định muốn xử dụng tâm trí của mình để quan sát hành động “đang ngồi xuống” của mình thì lúc mới có ý định muốn ngồi xuống, họ nên niệm thầm trong tâm  rằng “ có ý định muốn ngồi xuống, có ý định muốn ngồi xuống”. Tiếp liền sau “ ý định muốn ngồi xuống”, “ hành động ngồi xuống” của thân thể sẽ xảy đến. Ngay lúc này, hành giả cần phải chú ý đến “ hành động đang ngồi xuống” của thân thể để nhận biết được bản chất của hành động này. Trong lúc đang tập trung chú ý quan sát “ hành động đang ngồi xuống” của thân thể, hành giả không cần phải chú ý đến các hình dáng vật chất của đầu, thân thể và tứ chi mà chỉ cần hội tụ tâm ý một cách chính xác và liên tục lên hành động này. Sau khi đã hội tụ tâm ý một cách chính xác và liên tục để nhận biết được bản chất của “ hành động đang ngồi xuống, hành giả còn phải có khả năng chú ý một cách chính xác và liên tục trong từng khoảnh khắc khi “ trạng thái chuyển động dần dần ngồi xuống” của thân thể đang xảy ra để nhận biết được bản chất của chuyển động này. Tiếp đến, hành giả chuyển sang chú ý đến “ trạng thái đang ngồi xuống”. Hành giả không những phải chú ý đến chuyển động dần dần ngồi xuống mà còn phải tự lãnh hội được rằng,  trạng thái chuyển động này càng lúc càng trở nên nặng nề hơn.

 Chú ý lúc đang đứng lên sau khi ngồi

Đặc biệt, hành giả thực hành thiền minh sát cần phải tập trung chú ý khi đang đứng lên từ tư thế ngồi. Thông thường, “ý định muốn đứng lên” sẽ xảy ra trước “hành động đứng lên” một cách rất rõ ràng. Hành giả cần phải chú ý đến “ ý định muốn đứng lên” và niệm thầm trong tâm mình “ có ý định muốn đứng lên, có ý định muốn đứng lên…”. Tiếp đến những yếu tố như dáng điệu, không khí xung quanh hay một chuyện gì đó… sẽ liên kết với “ý định đứng lên” để tạo ra một lực đẩy và thúc ép thân thể đứng lên. Ngay lúc đó, hành giả cần niệm thầm trong tâm mình “ đang có sức ép, đang có sức ép”. Khi đang chống tay xuống sàn tọa để giúp cho thân thể đứng lên, hành giả cần niệm thầm trong tâm rằng “ đang chống tay, đang chống tay…”. Khi yếu tố năng lượng đã hội đủ thì trạng thái chuyển động đứng lên của thân thể sẽ xuất hiện. Khi thân thể đang dần dần chuyển động để đứng lên, hành giả cần xử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ để niệm thầm trong tâm mình “ đang đứng lên, đang đứng lên…”.Tuy nhiên, ngôn từ chỉ là một khái niệm ( Paññatti – Concept), điều quan trọng là hành giả phải hội tụ tâm ý để nhận biết “trạng thái đang chuyển động về trước để đứng lên” của thân thể. Chuyển động vừa nêu xảy ra một cách liên tục. Vì vậy, hành giả cần phải hội tụ tâm ý lên chuyển động này một cách chính xác trong từng khoảnh khắc ở hiện tại. Hành giả nào có khả năng hội tụ tâm ý một cách chính xác trong từng khoảnh khắc ở hiện tại thì anh sẽ lãnh hội được bản chất của thực tại cùng tột ( Paramattha – Ultimate Reality) khi đang chú ý đến “tiến trình chuyển động dần dần đứng lên” của thân thể. Ngoài ra, anh ta còn tự lãnh hội được rằng, tiến trình này càng lúc càng trở nên nhẹ nhàng nhàng hơn.

 Mỗi khi hành giả đã có kinh nghiệm và tự nhận biết được rằng “tiến trình chuyển động đang dần dần đứng lên” của thân thể là càng lúc càng trở nhẹ nhàng hơn, nghĩa là khi đó anh ta đã lãnh hội được bản chất của lửa ( Tejo – Lights) và gió

( Vāyo – Winds). Khi hành giả đã tự nhận biết được “tiến trình chuyển động đang dần dần ngồi xuống” của thân thể là càng lúc càng nặng nề hơn nghĩa là khi đó anh ta đã lãnh hội được bản chất của đất ( Pathavī – Lands) và nước ( Āpo – Waters).

 Tóm tắt :  Mỗi khi hành giả thực hành thiền minh sát đã nhận biết được bản chất của đất, nước, lửa và gió thì điều này có nghĩa là anh ta đã lãnh hội được qui luật tan hoại của vạn hữu ( tức sự khởi lên và chắc chắn sẽ biến mất đi của bất cứ một hiện tượng nào đó).

 Mỗi khi hành giả đã nhận biết được “ qui luật khởi lên và sẽ biến mất đi” của một hành động hay một hiện tượng nào đó, anh ta cũng sẽ nhận biết được “ qui luật này” trong một hành động hay một hiện tượng khác và cứ tiếp tục như thế…

Như vậy, các hiện tượng khởi lên và biến mất đi trong suốt quá trình thực hành thiền đã được hành giả lãnh hội. Khi hành giả đã lãnh hội được tiến trình khởi lên và biến mất đi của các hiện tượng tức là anh ta đã lãnh hội được tính chất đặc trưng của sự cấu thành vạn hữu (Conditioning – Sankhata). Năng lực tập trung tâm ý của hành giả sẽ trở nên mạnh mẽ hơn mỗi khi anh ta đã lãnh hội được “ qui luật tan hoại của các hiện tượng”. Đến lúc đó, “tiến trình khởi lên” của một hiện tượng nào đó mà hành giả đang tập trung quan sát sẽ không còn xuất hiện một cách rõ ràng trong tâm thức của anh ta nữa, chỉ còn “tiến trình biến mất đi và tan hoại” của hiện tượng là còn xuất hiện rõ ràng mà thôi. Khi tiến trình tan hoại đã xuất hiện một cách rõ ràng trong lúc hành giả đang quan sát một hiện tượng nào đó thì lúc ấy, anh ta sẽ nhận biết được rằng hiện tượng đó là vô thường. Tiếp đến, hành giả sẽ lãnh hội được rằng “ trạng thái tập trung tâm ý để quan sát” và thân tâm của chính hành giả cũng đều có chung một bản chất là vô thường ( Anicca – Impermanent).

 Những tiến trình tan hoại của các hiện tượng xảy ra rất nhanh chóng. Vì vậy, bản chất chúng chính là những nổi dày vò và áp lực. Đây chính là khổ đau ( Dukkha – Suferring). Trạng thái khổ đau đã xảy ra như thế nào ? Chúng ta có cách gì để ngăn chặn nó được không ? Tiến trình tan hoại của một hiện tượng nào đó là tiến trình khổ đau xảy ra theo bản chất của riêng nó. Chúng ta không có cách gì để ngăn chặn hay điều khiển được tiến trình này. Một khi đã lãnh hội được điều đó, hành giả thực hành thiền minh sát sẽ gặt hái được sự hiểu biết về tính vô ngã ( Anatta – No self or uncontrollable) của tất cả những hiện tượng thuộc về vật chất và tinh thần. Đến lúc đó, anh ta sẽ nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng như đã hằng mong ước. Khi đang quán niệm tiến trình “ đang ngồi, đang đứng…” hành giả sẽ lãnh hội được kiến thức về tính vô thường, khổvô ngã – như là những đặc tính phổ quát ( Sāmanna – General) của Giáo Pháp.

  Chú ý lúc đang co duỗi thân thể

Chú ý đến hành động đang co duỗi của thân thể cũng có nghĩa là chú ý một cách chi tiết đến các hoạt động hàng ngày của chúng ta. Ví dụ, khi hành giả muốn co cánh tay lại thì “ ý định muốn co” sẽ xảy ra trước “ hành động co”. Ngay lúc này, hành giả phải chú ý và niệm thầm trong tâm mình rằng  “có ý định muốn co cánh tay”.Tiếp đến, hành giả phải hội tụ tâm ý một cách chính xác để nhận biết được trạng thái đang chuyển động dần dần của hành động co cánh tay với hết khả năng có thể của mình. Khi cánh tay đang vươn lên vai hoặc đầu thì các phần khác trong thân thể cũng có chiều hướng tiến lên phía trên cao, lúc này hành giả sẽ tự lãnh hội được rằng, tiến trình chuyển động dần dần lên phía trên của cánh tay sẽ càng lúc càng trở nên nhẹ nhàng hơn. Sau khi đã đưa cánh tay lên vai hoặc đầu, hành giả có ý định muốn duỗi cánh tay xuống. “ Ý định muốn duỗi cánh tay xuống” cũng xảy ra trước “ hành động duỗi”. Ngay lúc này, hành giả cần phải chú ý và niệm thầm trong tâm mình rằng “ có ý định muốn duỗi cánh tay xuống”.Tiếp đến, “hành động duỗi cánh tay” sẽ xảy ra và hành giả phải tập trung chú ý khi hành động này đang xảy ra. Bản chất của trạng thái chuyển động dần dần về phía dưới của cánh tay sẽ khiến cho các phần khác trong cơ thể cũng hướng xuống phía dưới. Ngay lúc này, hành giả phải chú ý và niệm thầm trong tâm mình “ đang duỗi xuống, đang duỗi xuống…”.Cứ như vậy, hành giả sẽ lãnh hội được rằng tiến trình chuyển động từ từ duỗi xuống phía dưới của cánh tay càng lúc càng trở nên nặng nề hơn. Ở đây tính nặng, nhẹ là bản chất đặc trưng ( Sabbhāva lakkhana – Natural characteristic) của hành động co duỗi cánh tay.

Tóm tắt :  Chỉ khi hành giả đã nhận thức được tiến trình khởi lên ( Udaya – Arising) và tan biến đi ( Vaya – Passing away) của hiện tượng co duỗi cánh tay thì lúc đó, anh ta mới lãnh hội được Giáo Pháp.

Tập trung chú ý một cách thành công để nhận biết được tính nặng, nhẹ khi co duỗi cánh tay tức là đã lãnh hội được đặc tính cấu thành của các hiện tượng. Sau khi đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại ( Bhanga Ñāna – Dissolution), hành giả sẽ tự lãnh hội được rằng, hành động co duỗi cánh tay là vô thường, sự chú ý của chính hành giả cũng vô thường. Gặt hái được kiến thức về tính vô thường, khổvô ngã  khi đang co duỗi cánh tay nghĩa là đã lãnh hội được Giáo Pháp Cao Thượng. Đến lúc này, bạn đã được lắng nghe những chỉ dẫn về phương pháp thực hành thiền minh sát một cách tương đối đầy đủ. Sau khi bạn đã nghe , thực hành theo và vun trồng những điều mà mình đã nghe thấy, chúng tôi cầu chúc cho bạn nhanh chóng thành công với phương pháp thực hành thiền này, nhanh chóng lãnh hội được Giáo Pháp Cao Thượng, Niết Bàn hạnh phúc và vượt thoát khỏi những khổ đau như đã hằng mong muốn. Chúng tôi cũng xin thay mặt gửi lời chúc phúc của Ngài Đại đức Mahàsì đến với tất cả các bạn ! Lành thay !

                       

                          Tập 4 của cuốn Pháp Như Ý kết thúc tại đây.

                

                      Danh sách các thí chủ hùn phước ấn tống

                          cuốn Pháp Như Ý ( tập 4 – bản tiếng Anh )

                           

 

Úc Đại Lợi(  Australia)

1. Daw Chando Bhasi ( Băng Thiên Hương) 

2. Graham White

3. Lynn Bousfield

4. Gabrielle Cusack

5. Maria Jawor

6. Tiến sĩ Rosiland và tiến sĩ Eng Hoe

7. U Than Lwin và Daw Yi Yi Myint

8. Daw Than Than Tin

9. Ma New New San

Bỉ quốc ( Belgium)

10. Henry Vander Gucht

11. Marie Cecile Forget

Gia Nã Đại  ( Canada)

12. Nguyễn Thị A

13. Shelton Mendis

Pháp quốc( France)

14. Nguyễn Huy Suzanne ( Ananda)

Đức quốc  ( Germany)

15. Marion Gehring

16. Johannes Emmering

Ái Nhĩ Lan  ( Ireland)

17. Daw Agga Nanni ( Maria Johanna Oosienhoff)

Nhật Bản  ( Japan)

18. Eimi Taminaga

 

Hàn quốc  ( Korea)

19. Ashin Nanna Loka

20. Ashin Punna

21. Ashin Dhamma Nandi

22. Daw Khema Nandi

23. Daw Vayami

24. Sun Ji Sunim

25. Oh Hyun Jung

26. Kim Young Sook

Mã Lai Á  (  Malaysia)

27. Madam Liew Nyuk Mui

28. Daw Panna Nandi

Miến Điện  ( Myanmar)

29. Ashin Paññindriya ( Tiến sĩ Moe Myat Aung)

30. Ashin Paññā Dipa ( Ko Phyo)

31. Daw Sumanacari ( Daw Thein New)

32. Tiến sĩ Than Than Nyein

33. Tiến sĩ Saw Tin và Daw Thida

34. Ma Saw Yee

35. May Chee

36. U Kaung Yin và Daw Aye Myint

37. U Kyaw Htun và Daw May Thein Win

38. U Aye Ko và Daw Pho Pho

39. U Maung Mya Mya Han

40. Daw Nu Nu Yi và con gái May Oo Lwin

41. Daw Hla Than và trưởng nữ Su Lei Phyo

42. Daw Gyawt Eng

43. Daw Ah Mar

Hà Lan  ( Netherland)

44. Daw Jotika ( J.A.M Hermsem)

45. Hayo Huizinga

Tân Gia Ba  ( Singapore)

46. Poh Hwee Hwee

47. Daw Than Myint

Tích Lan  ( Sri Lanka)

48. Madam Dhamani Basnayake

Vương quốc Anh( United Kingdom)

49. Tiến sĩ Wint Maw

50. Daw Khin Hinin Yin

 

Mỹ quốc ( U.S.A)

51. Daw Pyone Pyone Kyi ( Debbie)

52. Huỳnh Kim Chi ( Cintā)

53. Seth Castleman

54. Edward P. Soolt

55. Huỳnh Phương

56. Trương Hà

57. Trương Diệp

   

 Cầu chúc cho tất cả các thí chủ đã có công đóng góp cho việc xuất bản cuốn Pháp Như Ý ( tập 4- bản tiếng Anh)  được hoan hỷ với những phước báu xứng đáng mà họ đã có và nhanh chóng gặt hái Niết Bàn, vượt thoát mọi khổ đau. Lành thay !                   

 

 

                                                                                                   +

Tác giả bài viết: Admin

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

top

Những tin cũ hơn

top