Pháp Như Ý (Tập 3)

Thứ tư - 12/02/2014 08:18
Pháp Như Ý (Tập 3)

Pháp Như Ý (Tập 3)

Pháp Như Ý (Tập 3). Những đề mục thực hành thiền cao quí nhất của người Phật Tử theo phương pháp của Ngài Trưởng Lão Tăng Thống Mahāsī.

 

     Biên soạn:  Ngài  Kundalābhivamsa  ( Trưởng Lão trung tâm thiền Saddhammaramsī) 

     Biên tập:  Hội đồng biên tập trung tâm thiền Saddhammaramsì

     Nguyên bản tiếng Miến Điện:   Dhamma Padetha

     Dịch sang tiếng Anh:  Daw Khin Hla Hla ( Kanbawza Myitzu )

      Xuất bảnLt. Col Tin Aung Saddhammaramsi Sapei, Số 7 đường Zeiyakhemar, quận Mayangone,  Ngưỡng Quang – Miến Điện

      Dịch sang tiếng Việt từ bản tiếng Anh:  Phạm Xuân Quang

                                         Địa chỉ24 A / 257 Chi Lăng – Huế- Việt Nam

                                         Điện thoại (NR):     0542460293

                                         Điện thoại di động : 0948753810

                                         Thư điện tửsachthienhaiau@yahoo.com.vn

 

 

                                    Mục Lục              

 

 1. Chỉ khi đạt được quả vị Tu-Đà-Hườn thì mới được bình yên  

 2. Hai kiểu gặt hái hạnh phúc                                                                                

 3.  Bốn nơi chốn có ích cho tinh thần                                                           

 4. Những sự thật về trung tâm thiền Saddhammaransī                                              

 5. Tục thảy nước cúng                                                                                                    

 6.  Sự lợi ích khi quán niệm những phẩm hạnh cao quí của Đức Phật    

 7.  Từ bỏ điều xấu, vun trồng điều tốt tại trung tâm thiền                                      

 8.  Ba lời khuyên của bậc Trưởng Thượng trung tâm thiền Saddhammaransī      

 9.  Những nền tảng căn bản của Phật Pháp                                                                  

10. Lòng biết ơn vô hạn đối với cha mẹ                                                                          

11. Bốn Chân Lý Cao Thượng                                                                                             

12. Ba thông điệp từ thế giới của Chư Thiên                                                                 

13. Những sự thật về ngày Đại Hội                                                                                 

14. Nếu có Nibanddhā thì sẽ không còn bị đọa xuống địa ngục                                 

15. Bộ 3 Giáo Pháp bất diệt                                                                                             

16. Cân bằng được 4 nhân tố sẽ gặt hái hạnh phúc                                      

17. Bốn phẩm chất để trở thành một Tu-Đà-Hườn                                                      

18. Những dạng Tu-Đà-Hườn                                                                                         

19. Hoàn thiện việc cúng dường vật thực                                                                      

20. Những nền tảng của thiền minh sát                                                                          

21. Thiền minh sát giống như sự đập vỡ vỏ trứng                                                        

22. Loại bỏ ô nhiễm tiềm tàng bằng thiền minh sát                                   

23. Tích luỹ thiện nghiệp sẽ dẫn đến Niết Bàn                                                              

24. Những lợi ích của thiền minh sát                                                                              

25. Phật Pháp sẽ phát triển chỉ khi làm chủ được các giác quan                     

26. Chỉ gặt hái được Phật Pháp nếu thực hành một cách nghiêm túc            

27. Phật Pháp sẽ phát triển khi sự chú ý được duy trì liên tục                                    

28. Phật Pháp sẽ phát triển nếu biết vận dụng thích hợp                                             

29. Điều trước tiên để phát triển Phật Pháp là đạt được sự định tâm                        

30. Phát triển Phật Pháp bằng cách vun trồng Thất Giác Chi                                    

31. Phật Pháp chỉ phát triển khi biết buông bỏ tham đắm

32. Vượt qua khổ đau sẽ gặt hái được Phật Pháp                                           

33. Sự buông bỏ không thể xảy ra trước sự đạt được                                                   

34. Những huấn từ của Ngài Saddhammaransī                                                         

35. Điều cần biết về những sự thật đã hình thành                                                      

36. Danh sách thí chủ hùn phước để ấn tống sách ( bản tiếng Anh)                                                      

  

              

 

 

 

           

             Chỉ khi đạt được quả vị Tu-Đà-Hườn

                   thì mới chắc chắn được bình yên

 

Những người Phật tử mộ Đạo khôn ngoan sáng suốt thừa biết rằng, trước khi đạt tới Niết Bàn, họ phải trải qua rất nhiều kiếp sống.Trong những kiếp sống đó, không có bất cứ cái gì có thể bảo đảm cho họ được bình yên, trừ khi họ đã trở thành những Tu-Đà-Hườn ( Sotāpañña– Stream Winner). Những kiếp sống mà họ sẽ phải trải qua đó thế nào cũng có liên quan đến những cảnh giới khổ đau như địa ngục ( Niraya –Hell), súc sanh

( Tiracchāna - Animals), ngạ quỷ ( Peta – Devil) và A-Tu-La ( Asura – Ogress). Khi sắp chết, họ có thể trông thấy những ảnh tượng hãi hùng bất như ý. Vì vậy, họ sẽ bị tái sanh vào những cảnh giới sầu muộnthống khổ( Apāya – The woeful states). Đó là lý do tại sao, họ không được bình yên trong những kiếp sống bấp bênh đó. Những người Phật tử khôn ngoan sáng suốt biết rằng, họ chỉ  được thật sự bình yên khi đã trở thành những Tu-Đà-Hườn. Vì vậy, nhằm đáp ứng cho những người có mong ước trở thành Tu-Đà-Hườn, Đức Phật đã thuyết một bài Pháp  nói về 4 phẩm chất cần thiết để trở thành một Tu-Đà-Hườn :

1. Sappurisa Samsevo – Phải tìm kiếm những lời khuyên và sự chỉ dẫn từ những vị thầy có đạo đức.

2. Saddhamma Savanam – Phải biết lắng nghe Phật Pháp

3. Yonisomanasikara – Phải biết tích luỹ những quan kiến đúng đắn hay có ý thức thiện lành.

4. Dhammānudhamma Patipatti – Phải thực hành 9 Pháp siêu thế  để dẫn đến Chánh Pháp, Đạo Quả và Niết Bàn. ( Pātheyya – trang 190)

 Tìm kiếm những lời khuyên và sự chỉ dẫn từ những vị thầy có đạo đức

 Những người mong muốn trở thành Tu-Đà-Hườn cần phải kết giao với những vị thầy có đạo đức, có khả năng truyền đạt cho họ nền tảng của thiền minh sát để thực hành sự chú ý cho đến khi đạt được Đạo Quả trong Giáo Pháp Cao Thượng. Nếu bạn có thể tìm được một vị A-La-Hán ( Araham - Arahant) để học tập và thực hành Giáo Pháp thì điều này quả là tuyệt vời. Nếu không thể tìm được một vị A-La-Hán, bạn phải tìm được một vị A-Na-Hàm ( Anàgàmi – Non returner), nếu không tìm được một vị A-Na-Hàm thì phải tìm được một vị Tư-Đà-Hàm ( Sakadāgāmi – Once returner), nếu không tìm được một vị Tư-Đà-Hàm thì phải tìm được một vị Tu-Đà-Hườn ( Sotāpañña – Stream Winner), nếu không tìm được một vị Tu-Đà-Hườn thì phải tìm được một vị thầy Tam Tạng ( Tipitaka Bhikkhu), nếu không tìm được một vị thầy Tam Tạng thì phải tìm được một vị thầy Nhị Tạng hay Nhất Tạng. Nếu không thể tìm được tất cả những người có đạo đức cao trọng đã nêu trên, bạn phải tìm cho được một vị thầy đã có nhiều kinh nghiệm trong việc thực hành thiền minh sát. Vị thầy này phải có khả năng truyền đạt một phương pháp thực hành thiền đúng đắn.Trong thời Đức Phật còn tại thế, có nhiều người không thể gặt hái được Giáo Pháp bởi vì họ không thể tìm kiếm được những lời khuyên và chỉ dẫn từ những vị thầy có đạo đức. Ngược lại, cũng có nhiều người đã lãnh hội được Giáo Pháp vì đã gặp được những vị thầy xứng đáng. Một thời Đức Phật đang trú tại tu viện Kỳ-Viên ( Jetavana vihāra) ở thành Xá-Vệ ( Sāvatthi). Có một người thợ kim hoàn trẻ tuổi sống ở thành Xá-Vệ đã thọ giới Tỳ Kheo với Tôn giả Xá-Lợi-Phất. Vị Tỳ Kheo này thực hành Pháp quán tử thi, mặc dù ông đã thực hành Pháp này liên tiếp 3 tháng trong rừng nhưng vẫn không gặt hái được Giáo Pháp. Sau đó, vị Tỳ Kheo đã trở về gặp Tôn giả Xá-Lợi-Phất để trình Pháp. Tuy nhiên, Tôn giả vẫn nói với ông là hãy trở lại khu rừng  để tiếp tục thực hành thiền với đề mục cũ mà Ngài đã dạy, bởi vì Ngài nghĩ rằng đề mục quán tử thi rất thích hợp với những Tỳ Kheo trẻ tuổi có diện mạo xinh đẹp . Sau đó, vị Tỳ Kheo trẻ đã 3 lần trở lại khu rừng có nhiều tử thi để thực hành thiền nhưng ông vẫn không thể lãnh hội được Giáo Pháp. Vì vậy, Tôn giả Xá-Lợi-Phất đã gửi vị Tỳ Kheo trẻ này cho Đức Phật và tin chắc rằng Đức Giáo Chủ có thể giáo huấn được ông ta.

Khi Đức Phật gặp vị Tỳ Kheo trẻ tuổi, Ngài liền hiểu được rằng trong 500 kiếp sống về trước, vị Tỳ Kheo này chuyên kiếm sống bằng nghề kim hoàn. Do đó, ông đã gắn bó nhiều với vàng bạc ngọc ngà. Nghiệp lực gắn bó mà ông đã tạo ra là cực kỳ mạnh mẽ. Sau đó, Đức Phật đã tạo ra một đoá hoa sen bằng vàng và đưa cho vị Tỳ Kheo trẻ tuổi. Ngài nói với ông rằng, hãy lấy nó làm đề mục hành thiền ( Kammatthāna – Heading for practical meditation). Không bao lâu sau, vị Tỳ Kheo đã đạt được tầng thiền thứ tư, tiếp đến Đức Phật đã dạy ông thực hành thiền minh sát. Kỳ diệu thay, chẳng bao lâu vị Tỳ Kheo trẻ tuổi đã lần lượt đạt tới quả vị Tu-Đà-Hườn, rồi đến Tư-Đà-Hàm, A-Na-hàm và cuối cùng trở thành một A-La-Hán.

 Đó là lý do tại sao, những người mong muốn trở thành Tu-Đà-Hườn phải tìm kiếm được những lời khuyên nhủ và chỉ dẫn từ các vị thầy tài giỏi và cao thượng.

Phải biết lắng nghe Phật Pháp

Những người mong muốn trở thành Tu-Đà-Hườn phải biết lắng nghe Giáo Pháp trong quá trình thực hành thiền minh sát để có thể gặt hái được Đạo Quả Niết Bàn ( Magga Phala Nibbāna). Những người biết lắng nghe Giáo Pháp có thể trở thành những bậc cao quí như : Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm…đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính họ. Trong thời Đức Phật còn tại thế, đã có rất nhiều người trở thành Tu-Đà-Hườn khi đang lắng nghe thuyết Pháp. Trong một lần, khi Đức Phật đang trú tại tu viện Kỳ-Viên ở thành Xá-Vệ, có một người đàn ông giàu có tên là Cấp-Cô-Độc ( Anāthapindika) đã nói với người con trai của ông tên là Kāla như sau :

“ Cha sẽ cho con 1000 đồng bạc nếu con có thể tường thuật lại một bài thuyết Pháp của Đức Phật ”. Sau đó, Kàla vì mong muốn có được 1000 đồng bạc đã đến nghe Đức Phật thuyết Pháp. Đang khi Kàla cố gắng để nhớ bài Pháp thứ nhất thì Đức Phật đã chuyển sang bài Pháp thứ hai. Khi Kāla đang cố gắng nhớ bài Pháp thứ hai thì Đức Phật lại chuyển sang bài Pháp thứ ba. Mặc dù vậy, Kāla vẫn nổ lực hết mình để nhớ hết tất cả những bài Pháp mà Đức Phật đã thuyết ra. Khi đang chú tâm để lắng nghe Đức Phật thuyết Pháp, Kāla đã trở thành một Tu-Đà-Hườn. Vì vậy, những người mong muốn trở thành Tu-Đà-Hườn phải biết lắng nghe Giáo Pháp của Đức Phật.

Phải biết tích lũy những quan kiến đúng đắn hay có ý thức thiện lành

 Những người mong muốn trở thành Tu-Đà-Hườn khi gặp được những đối tượng như ý phải cố gắng gặt hái được thiện nghiệp ( Kusala kamma). Khi bắt gặp những đối tượng bất như ý, họ cũng phải cố gắng gặt hái được thiện nghiệp. Những người không biết nắm bắt và tận dụng những điều xảy đến với họ ( cả điều tốt lẫn diều xấu) thì họ sẽ có khuynh hướng gắn bó với những đối tượng nào có thể làm cho họ hài lòng. Từ đó, họ đã tạo ra tâm tham dục và bất thiện nghiệp ( Akusala kamma). Khi bắt gặp những đối tượng khó chịu, những người này sẽ trở nên bất mãn và nóng giận. Vì vậy,  họ đã tạo ra sân hận và buồn khổ cho chính họ.

 Làm thế nào để gặt hái được phước báu qua những đối tượng như ý

 Những người có thể mang trong tâm mình trạng thái quán niệm hợp lý khi  nhìn thấy những đồ vật xinh đẹp, nghe những âm thanh bùi tai, ngửi những mùi thơm ngào ngạt, nếm những vị ngon lành, tiếp cận với những trạng thái xúc chạm dễ chịu và êm ái… thì họ sẽ hiểu rằng, sở dĩ họ đã gặp được những điều như ý đó là bởi vì trong quá khứ, họ đã từng tạo được nhiều nghiệp thiện lành. Những người này cũng thường siêng năng thực hiện những hành động thiện lành ở kiếp sống hiện tại. Vì vậy, trong những kiếp sống tương lai họ cũng sẽ gặp được những điều tốt đẹp cho đến khi đạt tới Niết Bàn. Tâm tham ái trong họ đã bị loại bỏ và nhờ đó, họ đã gặt hái được phước báu thiện lành ( Kusala dhamma – Good merit).

 Làm thế nào để gặt hái được phước báuqua đối tượng bất như ý

 Những người có thể mang trong tâm mình trạng thái quán niệm hợp lý khi nhìn thấy những đối tượng bất như ý, đang nghe những âm thanh chướng tai, ngửi những mùi hôi thối, nếm những vị tồi tàn nhạt nhẽo, tiếp cận với những trạng thái xúc chạm khó chịu…thì họ vẫn có thể vượt qua được những nghiệp bất thiện này.Trong quá khứ, họ đã từng vượt qua chúng bằng cách thực hiện rất nhiều hành động xứng đáng. Nếu vẫn tiếp tục duy trì đường lối suy nghĩ này trong tâm, họ sẽ loại bỏ được những nghiệp bất thiện do buồn khổ tạo ra và gặt hái được phước báu thiện lành.

Phải thực hành 9 Pháp siêu thế để dẫn đến Chánh Đạo,Đạo Quả và Niết Bàn

 Khi đang bố thí hay cúng dường, bạn nên hướng tâm trí của mình về phía Đạo Quả Niết Bàn. Khi thực hành việc giữ Giới ( Sīla) và thiền định

( Samātha bhāvanā – Tranquil meditation), mục đích của bạn cũng là Đạo Quả Niết Bàn ( Magga Phala Nibbāna). Những người mong muốn trở thành Tu-Đà-Hườn phải thực hành thiền minh sát để gặt hái được Đạo quả Niết Bàn. Nếu mong muốn thực hành thiền minh sát đúng theo phương pháp của Ngài Mahāsī, bạn phải chọn một nơi yên tĩnh để tu tập. Với dáng điệu an nhiên tự tại, bạn có thể ngồi xuống và thực hành thiền trong một quãng thời gian rất lâu. Bạn phải giữ đầu, thân thể và lưng của mình trên một đường thẳng. Tâm ý của bạn phải hội tụ ở bụng. Khi hít vào, bụng của bạn từ từ căng lên. Tiếp đến, bạn hãy tập trung chú ý tích cực vào bụng mình kể từ khi nó bắt đầu căng lên cho đến khi đã căng hết mức. Khi thở ra, bụng của bạn từ từ xẹp xuống. Lúc này, bạn vẫn tiếp tục tập trung chú ý tích cực vào hiện tượng đang xẹp xuống của bụng, kể từ khi bụng bắt đầu xẹp xuống cho đến khi đã xẹp hẳn. Ở đây, sự tập trung chú ý của bạn phải được thực hiện một cách liên tục và không bị ngắt quãng, kể từ khi bụng bắt đầu dần dần phồng lên cho đến khi đã xẹp xuống hẳn. Đang khi tập trung sự chú ý và gặt hái được kiến thức nội quán ( tức tuệ minh sát - Vipassanā Ñāna -  Insight knowledge ), bạn sẽ nhận thức được rằng, các hiện tượng phồng lên, xẹp xuống của bụngsự tập trung chú ý của tâm trí là 2 hiện tượng tách biệt, chúng là hai chứ không phải là một. Tiến trình chuyển động phồng lên và xẹp xuống của bụng thuộc về sắc pháp hay vật chất ( Rūpa – Physical or Matter). Vì vậy, chúng không có sự nhận thức, chỉ có sự chú ý của tâm trí là có sự nhận thức, bởi vì nó thuộc về danh pháp hay tinh thần  ( Nāma – Spirits). Từ đó, bạn có thể phân biệt được thế nào là danhsắc. Khi bạn thực hành sự tập trung sự chú ý một cách liên tục, tuệ Minh sát sẽ từng bước phát triển. Đến khi tuệ Minh sát đã chín muồi, nếu chú ý vào tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng, bạn sẽ nhận thức được rằng tiến trình này đã tan biến đi. Sự chú ý của tâm trí cũng đã tan biến luôn. Tiến trình phồng xẹp lên xuống của bụng thường ( Anicca – Impermanent), sự chú ý của tâm trí cũng vô thường. Bởi vì 2 hiện tượng này luôn luôn tan biến đi một cách nhanh chóng. Vì vậy, chúng đã tạo ra một áp lực lên tâm lý của bạn. Do đó bạn sẽ thấy áp lực này là khổ ( Dukkha – Suffering). Bạn không có cách gì để ngăn chặn được trạng thái tan biến của 2 hiện tượng này, chúng luôn luôn hoạt động theo cách riêng của chúng. Vì vậy, chúng là vô ngã ( Anatta – No self ). Khi đã có được kinh nghiệm về vô thường, khổvô ngã một cách đầy đủ, bạn sẽ gặt hái được Đạo Quả Dự Lưu ( Sotāpatti Magga Phala) và trở thành một Tu-Đà-Hườn. Một khi đã trở thành một Tu-Đà-Hườn, bạn mới có thể chắc chắn rằng mình sẽ không bao giờ còn bị tái sanh vào địa ngục luân hồi khổ đau. Lúc đó, bạn sẽ được sống những kiếp sống còn lại một cách bình yên.

 

                     Hai kiểu gặt hái hạnh phúc

 

 Những người Phật tử mộ Đạo khôn ngoan sáng suốt và có sự hiểu biết đầy đủ sẽ nhận thức được rằng, nếu đã có kiếp sống hiện tại thì chắc chắn phải  có những kiếp sống tương lai. Trước khi đạt tới Niết Bàn và thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, họ mong muốn được hạnh phúc và thịnh vượng trong kiếp sống hiện tại cũng như trong những kiếp sống ở tương lai. Vì vậy, Đức Phật đã thuyết về 4 nhân tố để gặt hái được hạnh phúc trong kiếp sống hiện tại. Ngài cũng đã từng thuyết về 4 nhân tố để gặt hái được hạnh phúc trong những kiếp sống ở tương lai.

 Gặt hái hạnh phúc trong kiếp sống ở hiện tại

 Những người mong muốn được hạnh phúc trong kiếp sống hiện tại cần phải hoàn thiện được 4 Pháp sau đây :

1. Uthāna Sampadā –  Hăng hái nhiệt tình và siêng năng cần mẫn

2. Ārakkha Sampadā –Bảo trọng chính mình một cách đúng đắn

3. Kalyanamittatā -  Có những người bạn tốt

4. Samajivita – Cân bằng cán cân thu chi

                                                                                ( Am 3 / 107) 

  Hăng hái nhiệt tình và siêng năng cần mẫn

Những người mong muốn được thịnh vượng và hạnh phúc trong kiếp sống ở hiện tại cần phải thiết lập được một cách thức làm việc có thể đưa họ đến với mục đích mong muốn.

a. Những người mong muốn được thịnh vượng và hạnh phúc trong kiếp sống ở hiện tại cần phải biết làm việc một cách siêng năng cần mẫn và có nghị lực mạnh mẽ.

b. Họ cần phải có kiến thức đúng đắn để phát triển công việc của mình, đồng thời có khả năng ngăn chặn được những yếu tố có thể làm hư hỏng và giảm giá trị của công việc mà họ đang thực hiện.

c. Họ cần phải có năng lực làm việc một cách thực chất.

d. Họ phải có khả năng quản lý và điều hành công việc của mình trên mọi phương diện.

 Bảo trọng chính mình một cách đúng đắn

 Những người mong muốn được thịnh vượng trong kiếp sống hiện tại phải biết giữ gìn của cải mà họ đã kiếm được, đừng để cho những của cải đó bị phá huỷ bởi 5 loại kẻ thù ( hoả hoạn, lụt lội, trộm cướp, nhà cầm quyền xấu xa và những người thừa kế không xứng đáng).

 Có những người bạn tốt

 Những người mong muốn được thịnh vượng trong kiếp sống hiện tại cần phải có những người bạn tốt đồng chí hướng và đồng đẳng trong niềm tin (  Saddhā – Faith), năng lực giữ Giới ( Sīla – Morality), khoan dung độ lượng ( Khanti – Tolerant), trí tuệ ( Paññā – Wisdom)… Đồng thời họ cũng cần phải có những người bạn thuộc đẳng cấp cao hơn họ để làm mục đích học tập và nổ lực. Họ nên kết giao với những kiểu bạn bè sau đây :

a. Những người bạn có niềm tin vào Phật, Pháp, Tăng, nghiệp ( Kamma) và kết quả của nghiệp ( Vipāka - Kamma ‘s result ). 

b. Những người bạn có tư cách đạo đức tốt. Những người bạn này không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không xử dụng các chất say.

c. Những người bạn không có tính keo kiệt  bủn xỉn và biết thực hành bố thí một cách thích đáng.

d. Những người bạn có trí tuệ luôn suy nghĩ đến những điều thích hợp với cuộc sống thế gian và xuất thế gian. Họ phải có khả năng để nhận biết được điều gì có thể mang lại lợi ích cho kiếp sống ở hiện tại và những kiếp sống trong tương lai.

Cân bằng cán cân thu chi

Những người mong muốn được hạnh phúc và thịnh vượng trong kiếp sống hiện tại phải có khả năng cân bằng được lợi tức của họ qua cán cân thu chi. Của cải mà họ kiếm được một cách hợp pháp phải được chia làm 4 phần. Hai phần dùng để đầu tư cho công việc làm ăn, kinh doanh, buôn bán. Một phần dùng để chi dùng cho gia đình, bạn bè, những người thân quen và cúng dường. Phần còn lại đem cất đi để xử dụng vào việc chữa bệnh khi cần thiết. Đức Phật đã nói rằng những bậc cha mẹ đáng kính phải thành tựu được 4 Pháp đã nêu trên một cách chắc chắn để được thịnh vượng và hạnh phúc trong kiếp sống hiện tại.

 Gặt hái hạnh phúc trong những kiếp sống ở tương lai

 Một người mong muốn được thịnh vượng và hạnh phúc trong những kiếp sống ở tương lai cho đến khi đạt tới Niết Bàn cần phải thực hành theo 4 nhân tố sau đây :

1. Saddhā Sampadā – Phải có niềm tin

2. Sīla Sampadā -  Phải có khả năng giữ Giới

3. Cāga Sampadā -  Phải có thiện chí để có thể bố thí

4. Paññā Sampadā -  Phải thành tựu được trí tuệ

                                                                 ( Am – 3 / 110)

 Phải có niềm tin

Những người mong muốn được thịnh vượng và hạnh phúc trong những kiếp sống ở tương lai phải có niềm tin vào Phật, Pháp, Tăng, nghiệp và kết quả của nghiệp. Những người có niềm tin như thế sẽ thực hành bố thí

( Dāna– to give alms), giữ Giới, thực hành thiền định và thiền minh sát. Nhờ đó, trong những kiếp sống ở tương lai, họ sẽ được hạnh phúc và thịnh vượng. Trong những kiếp sống tương lai đó, họ sẽ gặt hái được nhiều loại hạnh phúc và có được một trình độ nhận thức vượt trội. Đó là lý do tại sao, những người mong muốn được thịnh vượng và hạnh phúc trong những kiếp sống ở tương lai phải hoàn thiện được niềm tin trong chính họ.

Phải có khả năng giữ Giới hay có đạo đức tốt

Những người mong muốn được thịnh vượng và hạnh phúc trong những kiếp sống ở tương lai cần phải biết kiêng cữ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và xử dụng các chất gây say. Họ cần phải giữ gìn Giới luật đối với thân thể và lời nói của chính mình. Những người có gìn giữ 5 Giới một cách vững chãi, trong những kiếp sống ở tương lai họ sẽ được tái sanh vào 6 cõi trời Chư Thiên. Vì vậy, họ sẽ được tận hưởng nhiều loại hạnh phúc. Đó là lý do tại sao, những người mong muốn được hạnh phúc và thịnh vượng trong những kiếp sống ở tương lai thì họ cần phải hoàn thiện được việc giữ gìn Giới luật thuộc về thân thể và lời nói.

Phải có thiện chí để có thể bố thí

Những người mong muốn được thịnh vượng và hạnh phúc trong những kiếp sống ở tương lai phải biết bố thí cho người nghèo khó, cha mẹ và thân bằng quyến thuộc, các bệnh viện từ thiện, nhà dưỡng lão, các cô nhi viện, Tăng Già và các Tu nữ…tùy theo khả năng có được.

Phải thành tựu được trí tuệ cao thượng

Những người mong muốn được thịnh vượng và hạnh phúc trong những kiếp sống ở tương lai cho đến khi đạt tới Niết Bàn cần phải thường xuyên trau dồi và thu thập kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng

( Udayabbaya Ñāna). Những người thực hành thiền mong muốn gặt hái được Niết Bàn cần phải thực hành thiền minh sát để xoá tan màn đêm ô nhiễm của tham lam, sân hận và vọng tưởng. Họ có thể làm được điều này chỉ khi đã lãnh hội được kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng ( Udayabbaya Ñāna). Khi có thể xuyên thủng được màn đêm của những thứ ô nhiễm, đến lúc đó, họ mới có thể đạt tới Niết Bàn. Đó là lý do tại sao, những người mong muốn được thịnh vượng và hạnh phúc trong những kiếp sống ở tương lai cho đến khi đạt tới Niết Bàn cần phải có kiến thức nội quán về trạng thái tan hoại của các hiện tượng. Đức Phật đã từng thuyết rằng, những bậc cha mẹ đáng kính đã thực hành Giáo Pháp để có được 4 nhân tố vừa nêu trên chắc chắn sẽ được thịnh vượng và hạnh phúc trong những kiếp sống ở tương lai cho đến khi đạt tới Niết Bàn.

 

              Bốn nơi chốn có ích cho tinh thần

 

Ngày nay, khoa học đã phát triển một cách vượt bậc đến nổi người ta có thể tìm thấy chân lý bằng những phương pháp của nó. Thậm chí, khoa học đã có thể khám phá và tìm ra được sự thật về niềm tin truyền thống của nhiều tôn giáo trên thế giới. Hiện nay, sau khi đã bỏ công tìm kiếm và nghiên cứu rất kỹ lưỡng về những tôn giáo lớn trên thế giới, các nhà khoa học đã tìm thấy sự thật rằng, Phật Giáo Nguyên Thuỷ ( Theravāda Buddhism) là một tôn giáo đúng đắn và gần gũi với chân lý nhất. Đó là lý do tại sao, các nhà khoa học đặc biệt rất mong muốn tìm hiểu tất cả những gì có liên quan đến cuộc đời của Đức Phật Thích Ca. Phật Giáo Nguyên Thuỷ đã được toàn thế giới công nhận qua những bằng chứng thu thập được từ Kinh Điển Pāli. Đây là những sự thật hiển nhiên mà ngày nay qua đó, chúng ta có thể biết được những gì có liên quan đến cuộc đời của Đức Phật Thích-Ca. Trong những sự thật về Ngài, có 4 bốn nơi chốn mang lại nhiều lợi ích cho tinh thần của chúng ta - bốn nơi chốn mà ngày xưa Đức Phật đã từng ngồi đó để trầm tư về những nổi khổ đau của nhân loại. Bốn nơi chốn thiêng liêng có thể làm cho chúng ta phải cảm động :

1. Nơi Đức Phật Đản Sanh

2. Nơi Đức Phật đạt tới Giác Ngộ Tối Thượng

3. Nơi Đức Phật đã thuyết bài Pháp đầu tiên có tên là Kinh Chuyển Pháp Luân

4. Nơi Đức Phật nhập Đại-Niết-Bàn ( Am-pa 435)

 - Nơi Đức Phật Đản Sanh

 Nơi Đức Phật Đản Sanh là công viên Lâm-Tỳ-Ni ( Lumbini ) nằm tại Nepal, cách biên giới của Ấn Độ và quốc gia này khoảng 6 dặm Anh ( một dặm Anh được tính bằng 1609 mét – ND ). Công viên Lâm-Tỳ-Ni cách bến xe Naunga khoảng 20 dặm Anh. Bến xe này nằm trên vùng đất biên giới thuộc về Ấn Độ. Ngày xưa, chúng ta có thể di chuyển bằng xe hơi từ bến xe Naunga đến nơi Đức Phật Đản Sanh. Ngày nay, người ta lại đi từ Gorakhpur ( Ấn Độ) đến Nantanavasonoli - nơi có trạm gác biên giới, sở di trú, văn phòng hải quan và những ngân hàng chuyển đổi tiền tệ.

 Sự hiểu biết qua tri giác

 Khi Bồ Tát Sĩ-Đạt-Ta Đản Sanh, công viên Lâm-Tỳ-Ni lúc đó có  nhiều cây Vô-Ưu còn non và rất tráng lệ. Nó trông giống như một vườn Thượng uyển ở cõi trời. Tuy nhiên, bây giờ thì không còn lại cái gì cả. Mặc dù ngày nay hình ảnh cổ xưa của công viên Lâm-Tỳ-Ni không còn lưu lại một dấu vết gì, nhưng mỗi khi đến đó để viếng thăm, bạn vẫn thấy ngập tràn cảm xúc như thể nơi đây vẫn có một cái gì đó thiêng liêng và vĩ đại.  Tượng đá của hoàng hậu Mahā Māyā đang đứng vít một nhánh cây Vô-Ưu và tượng của Bồ Tát Sĩ-Đạt-Ta lúc vừa mới Đản Sanh được thờ trong một căn phòng nhỏ xây bằng gạch đã xỉn màu. Khi bước vào căn phòng bằng gạch này để chiêm bái, bạn cũng sẽ cảm thấy dâng tràn những cảm xúc khó tả. Những huyền thoại sống về cuộc đời của Đức Phật và những cảnh tượng nhộn nhịp đầy sinh khí , những thế giới được tạo thành như thế giới vật chất, cảm giác, các tầng thiền, các hiện tượng về tâm linh… vào thời của Đức Phật hầu như đã biến đổi và không còn lưu lại bất cứ một dấu vết nào. Do đó, khi đến viếng thăm công viên Lâm-Tỳ-Ni, bạn sẽ có được một sự nhận thức đúng đắn về trạng thái vô thường của cuộc sống.

 - Nơi Đức Phật đạt tới Giác Ngộ Tối Thượng

 Nơi Đức Phật đạt tới Giác Ngộ Tối Thượng nằm gần Gaya, thuộc tiểu bang Bihar của Ấn Độ. Địa điểm này cách thị trấn Gaya  khoảng 6 dặm Anh, tính theo đường chim bay. Kể từ khi nơi này được xác định là tọa lạc gần Gaya. Nó được gọi tên là Bodhi GayaBồ Đề Đạo Tràng. Thị trấn Gaya cách Calcutta khoảng 300 dặm Anh. Người ta phải mất 8 giờ tàu lửa để đi từ Calcutta đến Gaya. Nếu đi bằng xe hơi thì mất hết 10 tiếng đồng hồ. Ngoài ra, bạn có thể đi máy bay từ Calcutta đến Patna ( tức Hoa-Thị-Thành- Pātaliputta ngày xưa - ND), rồi từ Patna bạn sẽ đi xe hơi đến Gaya. Có một tu viện Miến Điện nằm cạnh Bồ-Đề Đạo-Tràng. Khi lưu lại trong tu viện này, người ta có thể nghiên cứu và chiêm bái Bảo tháp nơi Đức Phật đã đạt tới Giác Ngộ Tối Thượng và 7 nơi mà Ngài đã lưu lại sau khi Thành Đạo ( Sattathana). Bảo Tháp Đại Bồ Đề ( The Mahābodhi Cetiya) lúc ban đầu là do vua A-Dục ( Aśoka Rāja – King Siridhamma Śoka) xây dựng. Sau đó, nó đã được nhiều thế hệ Phật tử mộ Đạo bảo vệ, duy trì, sửa chữa và nâng cấp. Một thời, có một người mộ đạo đến Bồ Đề Đạo Tràng để chiêm bái. Sau đó, ông đã mong muốn được thể hiện lòng tôn kính của mình mãi mãi đối với Đức Phật. Người đó không ai khác chính là Đức vua A-Dục vĩ đại. Chiều dài của chân Bảo Tháp Đại-Bồ-Đề là 48 feet ( tương đương 14,6 mét), chiều cao là 170 feet ( tương đương 51,8 mét). Ở phía tây của ngôi đền có trồng một cây Bồ-Đề mà tại cội cây này, Đức Phật đã đạt tới Giác Ngộ Tối Thượng. Cây Bồ-Đề này cũng đã được vinh danh như là Bảo Tháp Đại-Giác-Ngộ ( Paribhoga Cetiya). Nó được nhiều người Phật tử mộ Đạo thờ phụng và tôn kính. Gần Bảo Tháp Đại-Bồ- Đề có 7 nơi mà tại mỗi nơi Đức Phật  đã từng ở lại đó 7 ngày, sau khi Ngài đạt tới Giác Ngộ Tối Thượng. Bảy nơi đó là :

1. Sau khi đạt tới Giác Ngộ Tối Thượng, Đức Phật đã la lên một cách hớn hở. Sau đó, Đức Phật đã ngồi xuống tại Ngai Vàng Bất Khả Xâm Phạm

( Aparājita throne – Ngôn ngữ thế tục thường gọi là Bồ Đoàn - ND) của Ngài trong 7 ngày.

2. Đứng tại Bảo Tháp Animisa, Đức Phật đã nhìn về phía cây Giác Ngộ và Ngai Vàng của Ngài trong 7 ngày liên tiếp không nhắm mắt.

3. Sau khi Thành Đạo ( Phala Samāpatti), Đức Phật đã đi dạo trên con đường quí báu ( Cankamana) trong 7 ngày.

4. Tại ngôi nhà Vàng ( Ratanàghara – Golden house) Đức Phật đã hồi tưởng  về Vi Diệu Pháp trong 7 ngày.

5. Dưới cây đa Ajapāla nơi rừng Dê, Đức Phật đã hồi tưởng về Giáo Pháp mà Ngài vừa chứng ngộ được liên tiếp trong  7 ngày.

6. Gần ao Mucalinda, dưới một cây sồi Ấn Độ, Đức Phật đã nhập vào Niết Bàn trong 7 ngày.

7. Dưới cây Rāsāyatana ( Lynlun tree), Đức Phật đã nhập vào Niết Bàn trong 7 ngày.

 Sự hiểu biết qua tri giác

 Trong 7 nơi chốn mà Đức Phật đã từng lưu lại ngay sau khi Ngài đạt tới Giác Ngộ Tối Thượng, chỉ có một vài nơi là còn để lại một số dấu vết ít ỏi. Những nơi hấp dẫn, duyên dáng và thanh lịch mà trước đây Đức Phật đã từng sống ở đó nay không còn lưu lại bất cứ một dấu vết nào cả. Khi hồi tưởng lại tất cả những cái vô thường ( Anicca – Impermanence) đó, bạn sẽ có được một sự nhận thức đúng đắn về cuộc sống. Mặc dù Bảo tháp Đại-Bồ-Đề đã được sửa chữa và nâng cấp. Tuy nhiên, nó vẫn có thể khiến cho người ta nảy sinh trạng thái tâm tôn kính hơn bất cứ một cái gì khác. Mặc dù thanh danh của Đấng Toàn Giác là vĩ đại tột bậc đối với chúng ta. Sự hiểu biết về nội tâm và năng lực thần thông của Ngài là cực kỳ vĩ đại. Tuy vậy, Ngài cũng không thể sống mãi với thời gian mà vẫn phải tuân theo định luật vô thường nghiệt ngã của đời sống. Do đó, khi hồi tưởng về những điều này, bạn sẽ có được một sự nhận thức đúng đắn về cuộc sống.

 - Nơi Đức Phật thuyết bài Pháp đầu tiên

 Nơi Đức Phật đã thuyết bài Pháp đầu tiên – Kinh Chuyển Pháp Luân

( Dhammacakkappavattana Sutta) có tên là vườn Nai hay rừng Nai

( Migadāvana). Khu vườn này nằm cạnh Ba-La-Nại ( Benares). Vườn Nai cách Ba-La-Nại khoảng 6 dặm Anh ( một dặm Anh bằng 1609 mét - ND). Từ Calcutta, bạn có thể du hành đến vườn Nai bằng tàu lửa hoặc xe hơi. Tại vườn Nai ở Ba-La-Nại, có rất nhiều thứ liên quan đến Đức Phật để bạn có thể tỏ lòng tôn kính, nghiên cứu và học tập. Từ Migadāvana trong ngôn ngữ Pāli là sự phối hợp của từ Miga + dāya. Từ Miga có nghĩa là con nai và từ dāya có nghĩa là nơi ẩn náu. Vì vậy, từ Migadāya có nghĩa là nơi ẩn náu của loài nai. Ngày nay, những con nai ở đây đã được người ta nuôi nhốt trong những khu vườn có hàng rào vây quanh. Những khu vườn này cũng nằm gần Thánh Địa Migadāvana. Tại nơi Đức Phật đã từng thuyết Kinh Chuyển Pháp Luân có xây dựng một ngôi Bảo Tháp được gọi là Dhammarājika ( từ này khó có thể dịch sang tiếng Việt một cách hoàn chỉnh, chỉ có thể hiểu nôm na là Đánh dấu sự ra đời của Đạo Phật – ND).  Mặc dù chúng ta gọi Dhammarājika là một Bảo Tháp nhưng thật ra, nó chỉ là một cái bệ hình tròn được xây bằng gạch. Trung tâm của cái bệ hình tròn bằng gạch này là móng của một ngôi Bảo Tháp ( hay đúng hơn chỉ là một cột đá nhỏ) đã bị thời gian phá huỷ. Những nhà hành hương đã thuật lại rằng, Kinh Chuyển Pháp Luân đã từng được Đức Phật thuyết giảng tại một nơi đâu đó nằm gần cột đá nhỏ này. Không xa lắm về phía đông của Bảo Tháp Dhammarājika, có một nơi được các nhà hành hương thờ phụng và cho rằng đó chính là nơi mà Đức Phật đã thuyết giảng Kinh Vô Ngã Tướng ( Anatta Lakkhana Sutta).

 Sự hiểu biết qua tri giác

  Trải qua hơn 2500 năm trước đây, Đức Phật đã từng lưu trú tại Vườn Nai (Migadāvana). Ngài đã thuyết giảng tại đây tất cả là 11 bộ Kinh. Trong đó bao gồm cả Kinh Chuyển Pháp Luân. Trước đây, Migadāvana là một nơi chốn tuyệt vời nhất đối với con người, Chư Thiên và Phạm Thiên khi họ đến đây để nghe Đức Phật thuyết Pháp. Ngày nay, Đức Phật và những người đã lắng nghe Ngài thuyết Pháp không còn nữa. Vườn Nai bây giờ chỉ còn là một công trình xây dựng bằng gạch đã đổ nát. Những huyền thoại sống về cuộc đời của Đức Phật và những cảnh tượng nhộn nhịp đầy sinh khí vào thời của Ngài, những thế giới được tạo thành như thế giới vật chất, cảm giác, các tầng thiền, các hiện tượng tâm linh, thế giới tự nhiên …  đã hoàn toàn biến đổi và không để lại bất cứ một dấu vết nào khi phải đối diện với định luật vô thường ( Anicca). Vì vậy, khi đến thăm viếng nơi này, bạn sẽ có được một sự nhận thức đúng đắn về cuộc sống.

Nơi Đức Phật nhập Đại Niết Bàn

 Địa danh mà Đức Phật đã nhập Đại Niết Bàn có tên gọi là Kusinara.

Có một ngôi làng nhỏ nằm trong tiểu bang Uttar Pradesh của Ấn Độ được gọi là Kusinara. Ngôi làng này cách thị trấn Kasiya 5 km. Để đến được Kusinara, bạn phải khởi hành bằng tàu lửa hoặc xe hơi từ Gorakhpur.

 Khi đã tới Kusinara, bạn phải vào trong tu viện Miến Điện có hàng rào bao quanh. Tất cả khu vực này được gọi là Kusinara Mahā Parinibbāna Cetiya ( Bảo Tháp Đại Niết Bàn Vô Dư Câu-Thi-Na-La).  Bảo Tháp Đại Niết Bàn Vô Dư Câu-Thi-Na-La nằm trong một ngôi đền mà khi bước vào ngôi đền này, bạn có thể thấy ảnh tượng Đức Phật đang nằm gác tay lên đầu khi Ngài nhập vào Đại-Niết-Bàn. Chiều dài từ đầu đến chân của ảnh tượng này khoảng 20 feet ( tương đương 6 mét). Đầu của Đức Phật quay về hướng Bắc và khuôn mặt của Ngài quay về hướng Tây. Ảnh tượng Đức Phật nhập Đại- Niết- Bàn trông rất tự nhiên. Đây là cảnh tượng đáng tôn kính nhất đã từng làm cho nhiều người cảm động đến rơi nước mắt. Khi thờ phụng ảnh tượng nhập Đại Niết Bàn của Đức Phật, các bậc Trưởng Thượng đặc biệt hay nghĩ đến những lời nói cuối cùng của Ngài : “ Handa dani bhikkhave Āmantayāmi Vovayadhamma Sankhāra Apamādena Sampadetha”. Các bậc Trưởng Thượng thường tụng đọc những lời nói cuối cùng này của Đức Phật và thể hiện sự tôn kính đối với Ngài. Ý nghĩa của những lời nói cuối cùng này là “ Ta sắp sửa nhập vào Đại Niết Bàn rồi ! Nay ta muốn khuyên các con những lời cuối cùng  này : Danh, Sắc, Uẩn, tất cả đều phải đi đến chỗ tận diệt. Vì vậy, các con hãy thường xuyên xử dụng Giáo Pháp của ta để thực hành đạo đức, đừng có sao lãng. Nếu làm được như vậy, các con sẽ đạt tới Niết-Bàn bất sinh bất diệt”.Tất cả Giáo Pháp mà Đức Phật đã truyền bá trong suốt 45 năm hoạt động  tôn giáo của Ngài đã được gói gọn trong những lời nói cuối cùng này. Vì vậy, đây là những lời nói trang nghiêm và đáng tôn kính nhất đối với những người Phật tử. Sau khi nói những lời cuối cùng này, Đức Phật không còn nói thêm một điều gì nữa, Ngài đã nhập vào Đại Niết Bàn.

 Sự hiểu biết qua tri giác

Thanh danh của Đấng Toàn Giác là vĩ đại tột bậc đối với chúng ta. Sự hiểu biết về nội tâm và năng lực thần thông của Ngài là cực kỳ vĩ đại. Vì vậy, Ngài đã có thể nhập vào Đại-Niết-Bàn bất sanh bất diệt. Chúng ta không thể tìm được một từ ngữ , một hình ảnh hay bất cứ một cái gì trên thế gian này có thể diễn tả nổi những phẩm chất siêu phàm của Đức Phật. Bằng cách nào đây để có thể thoát khỏi được cái chết, một điều mà chúng ta không thể nào tránh khỏi. Khi hồi tưởng về những điều này, bạn sẽ có được một sự nhận thức đúng đắn về cuộc sống.

 Đường lối suy nghĩ đúng đắn sau khi  trở về từ chuyến hành hương

 Một vài người nghĩ rằng, mỗi khi đã hành hương đến 4 Thánh Địa thiêng liêng của Phật Giáo vừa nêu trên thì họ sẽ không còn bị tái sanh vào địa ngục. Tuy nhiên, trong Kinh Đại-Bát Niết-Bàn ( Mahā Parinibbāna Sutta) không hề nói như vậy. Kinh này chỉ nói rằng, nếu một người đang hấp hối có được một tâm thức biết tôn kính 4 Thánh địa này thì người đó sẽ được tái sanh vào cõi trời Chư Thiên. ( Sutta Mahāva 116) 

 

  Những sự thật về trung tâm thiền Saddhammaramsī

 

 Vị trí :

Trung tâm thiền Saddhammaransī tọa lạc tại quận Mayangone, trên con đường trước đây gọi là đường Tu viện Nānacāgi. Nay thì con đường này được gọi là Zeyakhema. Như vậy địa chỉ của trung tâm hiện nay là : Phường 6 đường Zeyakhema.

  Tên của trung tâm thiền

  Cái tên Saddhammaramsī là do Ngài Đại Trưởng Lão Tăng Thống Mahàsì lựa chọn.

  - Saddhamma có nghĩa là Đạo Pháp

  - Ramsī nghĩa là ánh sáng

  - Yeiktha nghĩa là bóng mát bình yên ( nó còn có nghĩa là một trung tâm thiền) Vì vậy, Saddhammaramsī Yeiktha có nghĩa là Trung tâm thiền “Ánh Sáng Đạo Pháp”.

 Trung tâm thiền Saddhammaramsī đã được hình thành như thế nào

 Trong quá khứ, đất nước Miến Điện đã từng trải qua nhiều chế độ hay nhà cầm quyền theo truyền thống chấp nhận và ủng hộ cho nhiều bậc Trưởng Thượng và Tăng Già. Các bậc Trưởng Thượng và Tăng Già thường giảng dạy Kinh Điển Pāli cho mọi người trong các ngôi làng, quận, huyện và các tiểu bang của Miến Điện. Quốc gia này cũng có những tu viện lớn với đầy đủ tiện nghi.Vì vậy, Pháp Học (Patipayatti Sasanā) ở Miến Điện rất hưng thịnh. Ở Miến Điện có khá nhiều trung tâm thiền giảng dạy Pháp Học. Tuy nhiên, chỉ có một vài trung tâm có thể giảng dạy Pháp Hành

(Patipatti Sasanà ) một cách đầy đủ. Đó là lý do tại sao, bạn cần phải kiếm được một trung tâm thiền có thể giảng dạy Kinh Điển Pàlì đúng theo những lời thuyết Pháp của Đức Phật. Với tiêu chí đó, trung tâm thiền Saddhammaransī đã được thiết lập đúng theo sự chỉ dẫn của Ngài Mahàsì để có thể vừa giảng dạy Pháp Học vừa có thể giảng dạy Pháp Hành.

  Thời điểm và người thành lập trung tâm thiền Saddhammaramsī

Trung tâm thiền Saddhammaramsī được thành lập vào ngày trăng tròn tháng Waso năm 1341 theo lịch của Miến Điện ( tức ngày chủ nhật, mồng 8 tháng 7 năm 1979). Những người thành lập trung tâm thiền này bao gồm:

- Daw Myint Kyi – thí chủ của trung tâm thiền, hiện trú tại số 15 đường Kyaukkon, quận Yankin, Yangon ( Ngưỡng Quang).

- Daw Khin Ma Ma – thí chủ của trung tâm, hiện trú tại toà nhà số 126, phòng số 2, quận Yankin, Yangon.

- Ngài Asin U Kundalābhivamsa – thiền viện trưởng.

  Ngài Ashin U Kundalābhivamsa trước đây là Tăng sinh và sau đó là Pháp sư tại tu viện trong rừng Medini ( thuộc đường Kyaukkon) từ năm 1307 đến năm 1338 theo lịch Miến Điện ( tức từ năm 1945 đến năm 1976). Sau đó, Ngài đậu bằng Cetiyamgana Dhammacariya ( tạm dịch là Đại cương về Pháp Hành) và bằng Dhammacariya ( Giáo Pháp Cao Quí) qua các kỳ thi của chính phủ. Từ năm 1338 đến năm 1339 theo lịch Miến Điện ( tức từ năm 1976 đến năm 1977), Ngài Kundalābhivamsa thực hành thiền tại trung tâm thiền Mahāsī dưới sự chỉ dẫn của Ngài Đại Trưởng Lão Tăng Thống Mahāsī ( Mahāthera Nāyaka Mahāsī Sayadaw). Từ năm 1339 đến năm 1341 theo lịch Miến Điện ( tức từ năm 1977 đến năm 1979), Ngài Kundalābhivamsa đã học hết Tam Tạng Kinh Điển Pāli và trở thành thiền viện trưởng trung tâm thiền Mahāsī, thay thế cho Ngài Đại Trưởng Lão Mahāsī và cư trú tại đây. Vào ngày trăng tròn 15 tháng Waso năm 1341 theo lịch Miến Điện ( chủ nhật ngày 8 / 7/ 1979), được sự cho phép của Ngài Đại Trưởng lão Mahāsī, Ngài Kundalābhivamsa đã chuyển đến ở tại trung tâm thiền Saddhammaramsī với tư cách là thiền viện trưởng cho đến ngày nay. Ngài Kundalābhivamsa hiện nay ( 1991) đã 70 tuổi và đã trải qua 50 tuổi Hạ.

Thành lập trung tâm thiền

Trung tâm thiền Saddhammaramsī tại phường 6, quận Mayangon, Yangon -  nằm trên đường tu viện Nānacāgi trước đây, bây giờ gọi là đường Zeyakhema. Nơi này trước đây là nơi ở của U Win và Daw Mya Mya Win ( Trợ lý bộ trưởng Bộ Nhà ở và Tôn giáo), khu vực này rộng hơn 1 mẫu Anh ( một mẫu Anh rộng khoảng hơn 0,4 héc ta). Sau đó, thí chủ Daw Myint Kyi và thí chủ Daw Khin Ma Ma đã mua lại khu đất này với giá 530 ngàn Kyats ( đơn vị tiền tệ của Miến Điện). Tiếp đến, họ dâng cúng nó cho Ngài Ashin U Kundalābhivamsa để xây dựng một trung tâm thiền.

 Những thí chủ sau cùng

Theo thứ tự những thí chủ đã tài trợ kinh phí để duy trì trung tâm thiền Saddhammaramsī, cuối cùng là một nhóm Phật tử mộ Đạo đã được hình thành vào ngày trăng tròn 13 tháng Pyàtho năm 1342 theo lịch Miến Điện

 ( tức ngày chủ nhật, 18 tháng 1 năm 1981). Kể từ đó, nhóm phụng vụ ( Veyyàvacca) này đã đứng ra điều hành công tác ngoại giao để trợ cấp kinh phí và duy trì trung tâm thiền Saddhammaramsī. Họ cũng đảm trách các hoạt động truyền bá và phát triển tôn giáo của trung tâm một cách hăng hái và nhiệt tình.

   Các thành viên trong hội đồng phụng vụ của trung tâm

 1. Chủ tịch hội đồng  -  Daw Myint Kyi (  Thí chủ của trung tâm) 

 2. Phó chủ tịch hội đồng thứ nhất – U Ting Aung ( Đại tá binh chủng không quân Miến Điện đã nghỉ hưu)

 3. Phó chủ tịch hội đồng thứ hai – Daw Nu Nu Shwe

 4. Thư ký hội đồng -  U Kyi Win

 5. Trợ lý thứ nhất của thư ký hội đồng – U Hla Aye

 6.  Trợ lý thứ hai của thư ký hội đồng -  Daw Mya Sann

 7. Thủ quỹ - Daw Myint Kyu

 8.  Trợ lý thủ quỹ thứ nhất – Daw Han Tint

 9.  Trợ lý thủ quỹ thứ hai – Daw Khin Soe

10.  Tổng biên tập – Daw Khin Khin Win

11.  Trợ lý tổng biên tập thứ nhất – Daw San San

12.  Trợ lý tổng biên  tập thứ hai -  Daw Kyin Kyin Shwe

13. Trưởng phòng tổ chức – Daw Khin Sein

14. Trưởng phòng thông tin – U Kaung Yin

Hội đồng phụng vụ làm việc dưới sự cố vấn của Ngài U Kundalābhivamsa – Bậc Trưởng Thượng của trung tâm thiền Saddhammaramsì. Họ làm việc rất siêng năng mẫn cán. Hiệu quả là số lượng Tăng Già và các hành giả đến với trung tâm ngày càng gia tăng. Cho đến nay, trung tâm đã phải xây thêm rất nhiều toà nhà để có thể tiếp tục hoạt động và phát triển.

 Số lượng các hành giả đến với trung tâm gia tăng rõ rệt

Khi trung tâm thiền mới được thành lập lần đầu tiên vào năm 1979, chỉ có 4 Tỳ Kheo và 5 hành giả phụng vụ. Đến nay ( năm 1991), đã có 20 Tỳ kheo, 8 nam hành giả ( male yogis) và 45 nữ hành giả ( female yogis) thuộc hội đồng phụng vụ. Mỗi năm, tính trung bình có 862 hành giả đã đến thực hành thiền tại trung tâm. Nếu tính từ khi thành lập trung tâm ( năm 1979) cho đến bây giờ ( năm 1991), tổng cọng đã có tất cả 3352 hành giả đã đến thực hành thiền tại trung tâm thiền Saddhammaramsī. Vì vậy, có thể nói, số lượng hành giả đến với trung tâm là gia tăng rõ rệt.

  Số lượng các toà nhà mà trung tâm đã xây dựng thêm cũng gia tăng

Khi trung tâm thiền mới được thành lập vào ngày 8 tháng 7 năm 1979, chỉ có 2 toà nhà, đến nay ( năm 1991) đã có :

-  Tu viện San Kyaungdaw (  có 2 tầng) – diện tích 50 feet × 50 feet ( một feet bằng 0,3048 mét - ND).

- 1 ký túc xá dành cho Tăng già (  có 2 tầng) – diện tích 40 feet × 23 feet

- 1 nhà ăn một tầng – diện tích 50 feet × 27 feet

- 1 toà nhà 3 tầng có biên giới cách biệt ( Sīmā)- diện tích 70 feet × 50 feet

- 1 Ký túc xá 1 tầng dành riêng cho nữ hành giả - diện tích 45 feet × 26 feet

- 1 Ký túc xá 2 tầng dành riêng cho nữ hành giả - diện tích 52 feet × 24 feet

- 1 đại sảnh dùng để thuyết Pháp –  Diện tích 40 feet × 15 feet

- 2 đại sảnh một tầng dành cho Tăng già – diện tích 16 feet × 16 feet

- 1 đại sảnh một tầng dành cho Tăng già – diện tích 20 feet × 12 feet

- 1 ký túc xá 2 tầng dành cho nữ hành giả - diện tích 24 feet × 24 feet

    Hiện nay ( năm 1991), tổng cọng trung tâm thiền Saddhammaramsì có tất cả 11 toà lớn nhỏ khác nhau.

  Nơi chốn yên tĩnh và thích hợp

 Trung tâm thiền Saddhammaramsī  nằm cách xa đường cái và tọa lạc gần văn phòng Bộ Phúc Lợi Xã Hội. Vì vậy, nó rất yên tĩnh và thích hợp. Nguồn điện nước và các hệ thống vệ sinh được đáp ứng đầy đủ. Trước đây có 2 giếng phun nước, bây giờ lại khoan thêm 2 giếng nữa. Vì vậy, nguồn nước ở đây được cung cấp rất dồi dào.

 

 Phúc lợi và cúng dường

 Tăng già, nam, nữ hành giả từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới đến thực hành thiền tại trung tâm thiền Saddhammaramsī đều nhận được sự chăm sóc chu đáo của hội đồng phụng vụ. Các loại vật thực thích hợp đã được chuẩn bị sẵn. Buổi ăn sáng bắt đầu vào lúc 5 giờ 30 phút. Buổi ăn trưa bắt đầu vào lúc 10 giờ 30 phút. Tất cả những bữa ăn này đều do các thành viên trong hội đồng phụng vụ đảm trách. Nước giải khát được phục vụ cho Tăng già vào lúc 5 giờ chiều. Các vấn đề về sức khoẻ và chăm sóc y tế thì do 2 bác sĩ người Mỹ đảm trách vào các ngày thứ tư và thứ bảy hàng tuần. Đây là chương trình Medicare do chính phủ Mỹ tài trợ cho người già trên 65 tuổi. Trung tâm thiền Saddhammaramsī cũng có một quỹ tài trợ đặc biệt về thuốc men chữa bệnh và các trang thiết bị y tế. Các công việc vệ sinh quét dọn, chùi rửa…đều do những hành giả trong hội đồng phụng vụ của trung tâm đảm trách.

 Thời khoá biểu thực hành thiền minh sát hàng ngày

 Tăng Già, nam và nữ hành giả thực hành thiền minh sát phải ra khỏi giường vào lúc 3 giờ 30 phút sáng, khi nghe thấy tiếng cồng bằng đồng đánh thức dậy. Vào lúc 4 giờ sáng, tất cả mọi người đều phải thực hành thiền tọa trong đại sảnh một tầng có biên giới cách biệt. Vào lúc 5 giờ sáng, phải thực hành quan sát 9 Giới. Bữa ăn đầu tiên trong ngày ( bữa ăn sáng) được dâng cúng vào lúc 5 giờ 30 phút. Sau khi ăn sáng, phải thực tập thiền hành cho đến 6 giờ 30 phút. Từ 6 giờ 30 phút đến 7 giờ 30 phút tiếp tục thực hành thiền tọa. Từ 7 giờ 30 phút đến 8 giờ tiếp tục thiền hành. Từ 8 giờ đến 9 giờ lại tiếp tục thiền tọa. Từ 9 giờ đến 10 giờ, tuần tự thay phiên nhau đi tắm rửa và giặt giũ.  Buổi ăn trưa bắt đầu vào lúc 10 giờ 30 phút .

  Thời khoá biểu buổi sáng

  - 3 giờ 30 phút :Cồng đánh thức, các hành giả thức dậy và rời khỏi giường

  -  4 giờ đến 5 giờ :  Thiền tọa

  -  5 giờ : Thực hành giữ 9 Giới

  -  5 giờ 30 phút : Ăn sáng

  -  Từ 5 giờ 30 phút đến 6 giờ 30 phút : Thiền hành sau khi ăn sáng

  -  Từ 6 giờ 30 phút đến 7 giờ 30 phút : Thiền tọa

  -  Từ 7 giờ 30 phút đến 8 giờ : Thiền hành

  -  Từ 8 giờ đến 9 giờ :  Thiền tọa

  -  Từ 9 giờ đến 10 giờ : Đi tắm và giặt giũ

  -  10 giờ 30 : Ăn trưa

                 Thời khoá biểu buổi chiều và buổi tối

  -  12 giờ đến 1 giờ :  Thiền tọa

  -  Từ 1 giờ đến 2 giờ : Thiền hành

  -  Từ 2 giờ đến 3 giờ :  Nghe thuyết Pháp

  -  Từ 3 giờ đến 4 giờ :  Trình Pháp với Thiền sư

  -  Từ 4 giờ đến 5 giờ :  Thiền tọa

  -  Từ 5 giờ đến 6 giờ :  Thiền hành

  -  Từ 6 giờ chiều đến 7 giờ tối : Thiền tọa

  -  Từ 7 giờ tối đến 8 giờ tối : Thiền hành

  -  Từ 8 giờ tối đến 9 giờ tối : Thiền tọa

  -   9 giờ tối : Có thể tiếp tục thiền hành hoặc đi ngủ (tùy ý).

  Đây là thời khoá biểu cho một ngày tại trung tâm thiền Saddhammaramsī.

                      

                          Tục thảy nước cúng

 

Những người Phật tử mộ Đạo có niềm tin ( Saddhā – Faith) cậy trông vào những hành động xứng đáng. Sau khi thực hiện những hành động xứng đáng, họ thảy nước cúng như là một hành động chia xẻ phước báu với tất cả mọi người và gặt hái thêm nhiều lợi ích. Trong những điều mà chúng ta hiểu biết thì việc thảy nước cúng cũng là một điều mà bạn nên biết, bởi vì hành động này làm gia tăng phước báu. Có 3 nhân tố chính trong hành động thảy nước cúng, đó là :

1. Bố thí qua lời nói

2. Cầu mong những điều tốt lành

3. Chia xẻ phước báu và gặt hái thêm phước báu

  Bố thí qua lời nói

 Khi dâng cúng hay bố thí những món quà, bạn hãy buộc miệng nói rằng :

“ Nay con xin dâng cúng tứ vật dụng ( Y phục, vật thực, chỗ ở và thuốc men chữa bệnh) cho tu viện và Tăng Già”. Nếu dâng cúng tiền mặt, bạn hãy nói lớn rằng mình muốn dâng cúng tiền mặt để Tăng Già có thể mua những vật dụng thiết yếu…Những hành động này được biết đến như là bố thí thiện lành qua lời nói.

  Cầu chúc những điều tốt lành

Sau khi dâng cúng hay bố thí, bạn hãy cầu mong cho mình sẽ gặp được những điều tốt lành. Đây là một truyền thống đạo đức lâu đời được xem như là hạnh nguyện của Bồ-Tát.Vì vậy, qua việc dâng cúng hay bố thí  bạn hãy cầu mong cho mình có để gặt hái được phước báu. Trong thời Đức Phật Tối-Thắng-Bạch-Liên ( Padumuttara Buddha), sau khi thực hiện bố thí rất hào phóng liên tiếp trong vòng 7 ngày, Tôn giả Sìvalì ( lúc đó đang là một thương gia) đã cầu mong rằng Ngài sẽ trở thành một người cao thượng có nhiều của cải. Đến thời Đức Phật Cồ-Đàm, sự thật Tôn giả đã trở thành một người giàu có và cuối cùng trở thành A-La-Hán. Đó là lý do tại sao, việc cầu mong những điều mình muốn có khi thực hành bố thí hay dâng cúng là một hành động mang lại nhiều lợi ích.

 Chia xẻ phước báu cho người khác và gặt hái thêm phước báu

 Chia xẻ phước báu nghĩa là :  Chia xẻ những phẩm hạnh xứng đáng đã gặt hái được việc bố thí, giữ Giới, thiền định… bằng cách nói lớn câu

Ahmya, ahmya, ahmya” cho người mà mình muốn chia xẻ phước báu nghe. Đó là chia xẻ phước báu. Bằng cách chia xẻ phước báu theo kiểu này, bạn sẽ gặt hái được thêm nhiều phước báu khác. Bạn cũng nên nói câu “Lành thay !”( Sādhu – Well done, Âm tiếng Việt là Xạ thú. Tuy nhiên, thật ra trong ngôn ngữ Pāli từ này có nghĩa là dạ, vâng, được - ND) khi thấy người khác thực hiện những hành động xứng đáng ( Pattānumodanā). Đó là lý do tại sao, khi chia xẻ phước báu với nhiều người khác, bạn cũng gặt hái được thêm nhiều lợi ích.

 Những điều nên ghi nhớ khi thảy nước cúng

Người chia xẻ phước báu bằng cách thảy nước cúng phải ghi nhớ rằng, những người nói câu “Lành thay” có thể được mát mẻ và bình yên như nước. Khi thảy nước cúng trong lúc đang thực hiện bố thí hay dâng cúng, bạn cần phải loại bỏ tâm thức keo kiệt bủn xỉn. Nếu thực hành như vậy, bạn sẽ gặt hái được nhiều lợi ích.

  Có 3 cách chia xẻ phước báu

a.Chia xẻ phước báu sau khi bố thí hay cúng dường

b.Chia xẻ phước báu sau khi thực hành giữ Giới

c. Chia xẻ phước báu sau khi thực hành thiền định và thiền minh sát

- Chia xẻ phước báu sau khi bố thí hay cúng dường

Bằng cách chia xẻ phước báu sau khi bố thí hay cúng dường, thí chủ sẽ gặt hái được thêm nhiều nghiệp bố thí thiện lành. Nếu có 100 người nói câu “Lành thay” thì bạn sẽ gặt hái được 100 lần phước báu bố thí thiện lành. Nếu có 1000 người nói câu “Lành thay” thì bạn sẽ gặt hái được 1000 lần như thế…Những người thốt ra câu “Lành thay” 100 hay 1000 lần cũng gặt hái được chừng ấy lần phước báu thiện lành. ( Am-ttha 137) 

Tóm tắt: Chia xẻ phước báu sẽ gặt hái được phước báu

- Chia xẻ phước báu sau khi thực hành giữ Giới

Người chia xẻ phước báu sau khi thực hành giữ giới không tiếp tục gặt hái được phước báu giữ Giới mà chỉ gặt hái được nghiệp bố thí thiện lành

( dāna kusala kamma). Người nói câu “Lành thay” đối với những người thực hành giữ Giới cũng không gặt hái được phước báu giữ Giới mà chỉ gặt hái được nghiệp bố thí thiện lành.

Tóm tắt: Chia xẻ phước báu giữ Giới sẽ gặt hái được nghiệp bố thí thiện lành

- Chia xẻ phước báu sau khi thực hành thiền định và thiền minh sát

 Người chia xẻ phước báu sau khi thực hành thiền định và thiền minh sát sẽ không gặt hái thêm phước báu từ việc thực hành những loại thiền này, họ chỉ gặt hái được nghiệp bố thí thiện lành. Người nói câu “Lành thay”với những người thực hành thiền định và thiền minh sát cũng không gặt hái được phước báu từ việc thực hành những loại thiền này, họ chỉ gặt hái được nghiệp bố thí thiện lành ( dāna kusala kamma).

Tóm tắt:  Chia xẻ phước báu hành thiền sẽ gặt hái được nghiệp bố thí thiện lành.

 Chia xẻ phước báu trong ngôn ngữ Pāli gọi là Pattidāna. Hành động nói câu “Lành thay” (Sāddhu – Well done) thì gọi là Pattānumodāna. Hành động chia xẻ phước báuhành động nói câu “Lành thay” đều được cho là thực hành bố thí. Đó là lý do tại sao, những người chia xẻ phước báu sau khi thực hành bố thí, giữ Giới, thực hành thiền và nói câu “Lành thay” đều được xem như là đã thực hiện những hành động thiện lành. Vì vậy, họ chỉ gặt hái được nghiệp bố thí thiện lành mà thôi. Khi chia xẻ phước báu bạn không mất gì cả. Trong khi đó, nghiệp bố thí thiện lành của bạn lại được gia tăng. Vì vậy, hành động chia xẻ phước báu là rất lợi ích. Những người nói câu “Lành thay” cũng không mất gì cả. Ngược lại, nghiệp bố thí thiện lành trong họ sẽ được gia tăng. Vì vậy, hành động nói câu lành thay cũng mang lại nhiều lợi ích cho nhiều người khác. Cả hai hành động chia xẻ phước báunói câuLành thay” không chỉ mang lại lợi ích cho những người còn sống trên thế gian mà còn mang lại lợi ích cho những người đã quá cố, Chư Thiên và ma quỉ.

Trong thời Đức Phật đang trú tại Ba-La-Nại ( Benares). Vào lúc đó, có một vị nữ thần Vemanika ( Vệ Nữ - Venus) đang sống trên một hòn đảo ngoài đại dương không có áo quần để mặc, bởi vì trong một kiếp sống ở quá khứ, vị thần này đã ăn cắp áo quần của người khác. Nghiệp bất thiện trong quá khứ của vị này kéo dài cho đến kiếp sống hiện tại ( khi Đức Phật đang trú tại Ba-La-Nại) mới trả quả. Một ngày nọ, một số lái buôn từ thành Xá-Vệ

( Sāvatthi) đã đi thuyền đến hòn đảo mà vị nữ thần đang sống. Khi những lái buôn lên bờ và đi vào nhà của thần Vệ-Nữ. Họ rất ngạc nhiên bởi vì không thấy có ai trong nhà cả. Sau đó, họ nói lớn lên rằng mình muốn gặp chủ nhà. Lúc đó, vị thần Vệ-Nữ là chủ nhân của ngôi nhà mới trả lời vọng ra là mình đang ở trong phòng ngủ. Những người lái buôn thỉnh cầu vị thần hãy bước ra ngoài vì họ đang muốn gặp. Vị nữ thần lại trả lời rằng không dám ra vì không có áo quần để mặc. Do đó, những người lái buôn đã dâng cho vị nữ thần áo quần. Tuy nhiên, vị thần đã giải thích rằng : “ Đừng cho tôi những loại áo quần như thế này, bởi vì tôi không thể mặc được, hãy bố thí chúng cho một người có giữ Giới trong sạch, tiếp đến hãy chia xẻ phước báu đó cho tôi !”. Nghe theo lời vị nữ thần, những lái buôn đã đem số áo quần đó đi bố thí cho một người có giữ Giới trong sạch và chia xẻ phước báu cho thần Vệ- Nữ. Khi vị thần này thốt lên câu “Lành thay” thì tự nhiên vị ấy đã có đủ áo quần để mặc. Một thời, vua Bình-Sa ( Bimbisāra Rāja) cũng đã chia xẻ phước báu với những người bà con của ông.Những người bà con này là những con ma đang sống vất vưỡng đói khát, không có áo quần để mặc. Nhờ có hành động phước thiện của nhà vua, các con ma này mới được các vị thần ban tặng cho một số áo quần. Đó là lý do tại sao, hành động chia xẻ phước báu cũng có thể mang lại lợi ích cho Chư Thiên và ma quỉ.

 

    Sự lợi ích khi quán niệm những phẩm hạnh cao quí

                                 của Đức Phật

 

Những người Phật tử có niềm tin lớn lao và cậy trông vào những phẩm hạnh cao quí của Đức Phật. Họ cũng đã từng nghe nói về sự lợi ích khi quán niệm những phẩm hạnh cao quí của Ngài. Họ biết rằng điều này là hoàn toàn có thật, cũng như nó đã được viết trong nhiều Kinh Điển của Phật Giáo. Các Kinh Chú giải  ( Aţţhakathā Sutta – Commenterial  Scriptures) đã nêu rõ rằng, có 2 loại lợi ích dành cho những người có quán niệm đến 9 phẩm hạnh cao quí của Đức Phật, đó là :

1. Có được một tâm trí sáng suốt

2. Có khả năng thực hành thiền minh sát một cách bình yên

                                                              ( Am. ttha 366 )

  Có được một tâm trí sáng suốt

Có được một tâm trí sáng suốt nghĩa là : Một hành giả ( Yogi – Meditator) thực hành đề mục quán tử thi ( Asubha kammaţţhāna) thỉnh thoảng sẽ trở nên lười biếng và mệt mỏi. Tâm trí của hành giả này không hội tụ được trên đề mục quán niệm ( Kammaţţhāna – Heading in meditation). Nó lang thang lạc lối và không được sáng suốt. Ngay lúc đó, hành giả này cần phải quán niệm  9 Ân Đức Phật thì tâm trí của anh ta sẽ sáng suốt trở lại.

Có khả năng thực hành thiền Minh sát một cách bình yên

 Có khả năng thực hành thiền minh sát một cách bình yên nghĩa là : Những người mới khởi sự tập hành thiền có quán niệm về những phẩm hạnh cao quí của Đức Phật thì họ sẽ gặt hái được tuệ minh sát. Từ đó, họ có thể tiếp tục công việc thực hành thiền một cách trôi chảy. Bởi vì trạng thái định tâm trong những người này đã bắt đầu phát triển. Tâm trí của họ đã ổn định một cách chắc chắn. Vì vậy, họ đã có thể thực hành thiền minh sát một cách rất thoải mái. Những người có quán niệm về 9 ân đức Phật sẽ gặt hái được những lợi ích đúng theo ý nghĩa của những ân đức này :

1. Araham  – Nghĩa là một người cao quí đã loại bỏ được tất cả những thứ ô nhiễm hay phiền não. Nếu quán niệm về ân đức này, bạn sẽ thoát khỏi những điều nguy hiểm. Đó là lý do tại sao, khi đang gặp phải một mối nguy hiểm nào đó người ta thường niệm ân đức Araham để ngăn chặn nó. Một người có quán niệm về ân Đức Araham sẽ loại bỏ được những mối nguy hiểm đang đe dọa anh ta.

Tóm tắt:   Nếu mong muốn thoát khỏi những mối nguy hiểm thì phải quán niệm về ân Đức Araham.

2. Sammāsambuddho – Nghĩa là người đã toàn giác, tự mình biết hết mọi sự một cách đúng đắn nhất . Nếu có quán niệm về ân Đức nay, bạn sẽ gặt hái được phúc lành là hiểu biết được những điều khó hiểu biết một cách sâu sắc. Những người không quán niệm Ân Đức này sẽ không thể có khả năng lãnh hội như vậy được. Đó là lý do tại sao khi mong muốn hiểu biết được tường tận một điều gì đó rất khó hiểu, khi phải trả lời những câu hỏi khó hay khi phải trải qua một cuộc thi gay go, bạn hãy quán niệm ân Đức Sammàsambuddho.

Tóm tắtKhi mong muốn biết được một điều gì thật tường tận, hãy quán niệm về Ân Đức Sammāsambuddho.

3. Vijjācaranasampanno -  Nghĩa là người đã có Tam minh ( tức Minh Hạnh Túc), đó là : Túc mạng minh, Thiên nhãn minhLậu tận minh. Túc mạng minh là trí tụê có thể hiểu rõ tiền kiếp của mình và người khác, có thể là một kiếp, mười kiếp, một trăm kiếp hay vô lượng kiếp trong quá khứ…Thiên nhãn minh là trí tuệ thấy rõ bằng mắt thường các kiếp sống ở quá khứ và vị lai. Lậu tận minh là trí tuệ có được do thực hành thiền (còn gọi là thiền tuệ). Người đã sở hữu Lậu tận minh có thể hiểu thông tam giới ( cõi dục giới, sắc giới và vô sắc giới), có thể đoạn diệt tất cả những phiền não trầm luân và tất cả các nghiệp xấu đã thực hiện trong quá khứ. Vijjācaranasampanno còn có nghĩa là người đã có được 15 loại đức hạnh cao thượng, đó là : Có Giới đức hoàn toàn trong sạch và thanh tịnh, có khả năng thu thúc lục căn thanh tịnh, biết tri túc trong vật thực, luôn luôn tỉnh thức, có đức tin mạnh mẽ và sáng suốt, có trí nhớ phi thường, biết tự hổ thẹn không làm điều xấu ác, học nhiều hiểu rộng tất cả các pháp, tinh tấn, có trí tuệ siêu việt, đạt được các tầng thiền hữu sắc và vô sắc ( bao gồm sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền). Ngoài ra, Vijjācaranasampanno cũng có nghĩa là người đã có Bát minh, tức 8 loại trí tuệ siêu thế. Bát minh gồm có : Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh, Thiền tuệ minh, Hoá tâm minh, Thần thông minh, Thiên nhĩ minh và Tha tâm minh. Thiền tuệ minh là trí tuệ có được do thực hành thiền, có thể biết rõ trạng thái sanh diệt của sắc phápdanh pháp ( tức vật chất và tinh thần), có thể hiểu thông tam giới ( Dục giới, sắc giới và vô sắc giới), có thể chứng đắc Chánh Đạo, Quả Tuệ và Niết Bàn. Hóa tâm minh là trí tuệ có khả năng phân thân theo ý muốn của mình. Loại trí tuệ này do năng lực thiền định mang lại. Thần thông minh cũng là trí tuệ do năng lực thiền định mà có, người có trí tuệ này sẽ có nhiều phép biến hoá như : Một người hoá thành nhiều người, tàng hình, hiện hình nơi khác, đi xuyên qua núi, đi trên hư không…Thiên nhĩ minh là trí tuệ có khả năng nghe siêu việt, nghe được nhiều thứ tiếng như : Tiếng người, súc sanh, tiếng Chư Thiên…

Tha tâm minhlà trí tuệ có khả năng biết được tâm chúng sanh khác đang nghĩ điều gì, thiện hay bất thiện. Như vậy gọi là Bát minh. Đó là lý do tại sao, khi thực hành thiền minh sát và mong muốn hoàn thiện được Giới ( Sìla - Laws), Định ( Samādhi – Tranquility of mind) và Tụê ( Paññā- intelligence or Perspicacity) thì bạn phải quán niệm Ân Đức Vijjācaranasampanno.

Tóm tắt: Khi mong muốn hoàn thiện được Giới, Định và Tuệ thì nên quán niệm về Ân Đức Vijjācaranasampanno.

4. Sugato  – Nghĩa là người đã đạt tới Chánh ngữ hay đã lập ngôn, lời nói ra bao giờ cũng đúng. Ngày nay Đức Phật đã nhập Đại Niết Bàn. Vì vậy, những người có quán niệm về ân Đức Sugato sẽ thành công trong lời nói, có thể tránh được nhiều sai lầm khi nói năng. Đó là lý do tại sao khi nói tới một điều gì quan trọng, bạn nên quán niệm về ân đức Sugato.

Tóm tắtTrước khi nói năng, nhất là khi nói những điều quan trọng chúng ta nên quán niệm về Ân Đức Sugato.

 Ngoài ra Sugato còn có nghĩa là người đã đạt được Bát Chánh Đạo, đó là : Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh Định. Chánh kiến là có quan niệm đúng đắn. Chánh tư duy là ước muốn chân chánh, là trạng thái suy nghĩ đã thoát khỏi ngũ trần ( sắc, thanh, hương, vị, xúc), không còn thù oán và không có ý sát hại. Chánh ngữ là lời nói chân chánh, không nói dối, không nói lời đâm thọc chia rẽ, không nói lời thô tục, không nói lời vô ích. Chánh nghiệp là có hành động chân chánh nói chung, nhưng thông thường khi nói đến chánh nghiệp tức làmuốn nói đến sự không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm ( 3 hành động thuộc về thân nghiệp). Chánh mạng là kiếm sống bằng phương tiện đúng đắn và chân chánh, không làm điều xấu ác khi tìm kế sinh nhai. Thật ra, khi đã thật sự hoàn thiện được 4 phẩm chất thiện lành thuộc về lời nói và 3 phẩm chất thiện lành thuộc về thân xác thì bạn đã có chánh mạng. Chánh tinh tấn nghĩa là tiến bộ về vật chất và tinh thần một cách chân chính và trong sạch, ngăn ngừa không cho các ác pháp sanh khởi, loại bỏ các ác pháp đã sanh, làm cho các thiện pháp phát sanh và gia tăng các thiện pháp đã sanh. Chánh niệm là nhớ nghĩ chân chánh, niệm ở đây là niệm thân, thọ, tâm ,Pháp.Chánh định là trạng thái định tâm chân chánh, tức sự định tâm trong tứ thiền hay đệ ngũ thiền tam giới, lấy Niết Bàn làm đối tượng. 

5. Lokavidū – Nghĩa là người hiểu biết được cả 3 loại cảnh giới , đó là : Chúng sanh thế giới (Sattaloka), Cõi thế giới ( Okāsaloka), Pháp hành thế giới ( Sankhāraloka). Chúng sanh thế giới khi nói về nơi sinh thì có 4 loại : Thai sanh là chúng sanh được sinh từ thai bào, noãn sanh là chúng sanh sinh từ trứng, thấp sanh là chúng sanh sinh từ nơi ẩm thấp và hóa sanh là chúng sanh sinh bằng cách hiện hữu ngay lập tức như Chư Thiên, Phạm Thiên, các loại ngạ quỉ, chúng sanh ở địa ngục, con người đầu tiên trên trái đất…Cõi thế giới hay còn gọi là cõi luân hồi,là nơi ở của các loài chúng sinh hiện hữu tuỳ theo nghiệp đã tạo. Cõi này thường gọi là Tam giới, gồm có : Dục giới ( có 11 cõi), Sắc giới ( có 16 cõi) và Vô sắc giới

( có 4 cõi). Pháp hành thế giới là thế giới do chấp thủ ngũ uẩn mà có hay do nhân duyên cấu tạo. Vì vậy, cõi này có sanh có diệt. Chúng sanh thế giớiCõi luân hồi thuộc về thế giới chế Định pháp ( tức thế giới do quan niệm mà có - Pannattidhamma). Pháp hành thế giới thuộc về thế giới chân nghĩa pháp ( tức thế giới tự nhiên hay pháp tuyệt đối -  Paramatthadhamma). Những người có quán niệm về ân Đức Lokavidū sẽ hiểu được những sự việc trên cõi trần gian một cách đúng đắn và nhanh chóng. Đó là lý do tại sao, khi học tập, nghiên cứu để phát triển công việc làm ăn, buôn bán, kinh doanh trong cõi trần gian hay khám phá các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bạn nên quán niệm ân Đức Lokavidū.

Tóm tắtĐể được thông thạo mọi việc trên thế gian ,chúng ta nên quán niệm về ân đức Lokavidū.

6. Anuttaropurisa Dhammasārathi – Nghĩa là bậc thầy vô thượng và vô song trong sự nghiệp giáo huấn muôn loài chúng sanh. Đức Phật có thể giáo huấn cho một người điên, Chư Thiên, các loài ma quỉ và thậm chí cả loài vật trở thành lịch thiệp và đứng đắn. Những người có quán niệm về ân đức Anuttaropurisa Dhammasārathi sẽ gặt hái lợi ích là được người khác lắng nghe khi họ muốn chỉ dạy cho người khác một điều gì đó.

Tóm tắtKhi muốn rèn luyện tinh thần và tính cách thì chúng ta nên quán niệm về ân đức Anuttaro.

7. Satthādevamanussānam – Nghĩa  là thầy của Chư Thiên và loài người . Nếu các vị thầy cô giáo trong các trường học có quán niệm về Ân Đức Satthādevamanussānam thì việc truyền đạt kiến thức cho học sinh của họ sẽ được trôi chảy và hanh thông. Những học sinh của họ sẽ tiếp thu được kiến thức một cách nhanh chóng. Đó là lý do tại sao, khi muốn truyền đạt kiến thức cho học sinh của mình, các vị thầy cô giáo nên quán niệm về ân đức Satthādevamanussānam.

Tóm tắtKhi truyền đạt kiến thức, chúng ta nên quán niệm về ân đức Satthādevamanussānam.

8. Buddho – Nghĩa là một người đã tự giác ngộ về Bốn Chân Lý Cao Thượng ( tức Tứ Diệu Đế- Catu Ariyasccani) và truyền bá những sự thật này cho nhiều người khác biết . Những người có quán niệm về ân đức Buddho sẽ có khả năng học tập Giáo Pháp của Đức Phật một cách nhanh chóng. Đó là lý do tại sao, khi đang trong quá trình học tập Phật Pháp, bạn nên quán niệm về ân đức Buddho.

Tóm tắt:   Nếu mong muốn học tập bất cứ cái gì một cách nhanh chóng thì hãy quán niệm về Ân Đức Buddho.

9. Bhagavà – Nghĩa là người đã có thanh danh vẻ vang cùng tột, bởi vì đã có đủ 6 phẩm chất vĩ đại nhất. Những người có quán niệm về ân đức Bhagavā sẽ được mãn nguyện, bởi vì gặt hái được nhiều lợi ích cho chính mình và cho nhiều người khác.

Tóm tắtNhững người mong muốn được lợi ích viên mãn thì nên quán niệm về ân đức Bhagavā.

 Những lời giáo huấn nguyên thuỷ của Đức Phật được truyền đạt bằng tiếng Pāli. Vì vậy, khi quán niệm 9 ân đức Phật, bạn nên quán niệm bằng tiếng Pāli.Việc xử dụng các thứ tiếng khác khi quán niệm ân đức Phật sẽ làm giảm sút tính nguyên bản, thiêng liêng và oai lực của Pháp môn này. Một điều nữa rất quan trọng cần phải lưu ý là, bạn phải quán niệm ân đức Phật hay những phẩm hạnh cao quí của Ngài chứ không phải quán niệm danh hiệu của Ngài. Đang khi quán niệm về 9 ân đức Phật, bạn cần phải lưu tâm để hiểu rõ về ý nghĩa của chúng, chứ không phải chỉ quán niệm suông những từ ngữ dùng để chỉ những ân đức ấy.Vì vậy, tất cả những người có quán niệm và tập trung tư tưởng vào 9 ân đức Phật hay 9 phẩm hạnh cao quí của Ngài sẽ gặt hái được lợi ích đúng theo ý nghĩa của những ân đức này. Lành thay !   

  Cách thực hành quán niệm 9 phẩm hạnh cao quí của Đức Phật

  Có 3 cách quán niệm Ân Đức Phật thông dụng, đó là :

1. Quán niệm đủ cả 9 Ân Đức Phật :

  Hành giả niệm Phật có thể quán niệm như sau :

Itipiso Bhagavā Araham , Itipiso Bhagavā Sammāsambuddho, Itipiso Bhagavà Vijjācaranasampanno, Itipioso Bhagavà Sugato, Itipiso Bhagavà Lokavidù, Itipiso Bhagavā Anuttaro purisadammasārathi, Itipiso Bhagavā Satthādevamanussānam, Itipiso Bhagavā Buddho, Bhagavā”. Hành giả quán niệm thầm Ân Đức Phật trong tâm mình hàng trăm lần, hàng ngàn lần, càng nhiều càng tốt và niệm một cách liên tục các Ân Đức Phật trong một thời quán niệm, đừng để bị ngắt quãng. Nếu bị ngắt quãng do tâm ý không được tập trung thì lập tức dừng quán niệm và bắt đầu một chu kỳ quán niệm khác. Khi niệm đến Ân Đức Phật nào thì định tâm an trú nơi Ân Đức Phật đó. Hành giả không những phải an trú tâm trên những Ân Đức Phật mà còn phải hiểu rõ  ý nghĩa của chúng. Nhờ vậy, hành giả mới có thể phát sanh Đức tin trong sạch nơi Đức Phật và có trí tuệ sáng suốt.

2. Chỉ quán niệm 1 câu chỉ Ân Đức Phật :

Hành giả có thể chọn 1 trong 9 Ân Đức Phật để quán niệm. Sau một thời gian đã quán niệm Ân Đức Phật này một cách thuần thục thì có thể chuyển sang quán niệm Ân Đức Phật khác. Ví dụ, có thể chọn “ Itipi so Bhagavā Araham” để quán niệm. Câu Itipi so Bhagavā có nghĩa là “Như vậy Đức Phật là” dùng để bắt đầu một Ân Đức Phật khi thực hành quán niệm.

Hành giả niệm thầm trong tâm Ân Đức Phật mà mình đã chọn một cách liên tục, càng lâu càng tốt và đừng để bị ngắt quãng. Nếu bị ngắt quãng thì dừng lại và thực hiện một chu kỳ quán niệm khác.

3Chỉ quán niệm một từ chỉ Ân Đức Phật :

 Hành giả có thể chọn một từ nào đó chỉ Ân Đức Phật để quán niệm. Ví dụ, có thể chọn từ “ Araham”. Lúc đó, hành giả sẽ quán niệm là :  “Araham…Araham…Araham…”. Nếu chọn từ “ Buddho” thì quán niệm là : “ Buddho…Buddho…Buddho…”.  Hành giả quán niệm thầm từ chỉ Ân Đức Phật đã chọn trong tâm mình hàng trăm, hàng ngàn lần, càng nhiều càng tốt và quán niệm một cách liên tục, đừng để bị ngắt quãng. Nếu bị ngắt quãng thì dừng lại và bắt đầu một chu kỳ quán niệm khác. Khi quán niệm phải định tâm an trú trên đề mục quán niệm và hiểu rõ ý nghĩa của đề mục đó. Nhờ vậy, hành giả sẽ phát sanh Đức tin trong sạch nơi Đức Phật và có một tâm trí sáng suốt. Tất cả các đề mục thiền Định đều có một mục đích duy nhất là định tâm trên một đối tượng nào đó. Có những đề mục thiền Định có thể dẫn đến Cận định ( Upacārasamādhi) rồi tiến đến An chỉ định ( Appanāsamādhi) để chứng đắc các bậc thiền hữu xứ. Riêng đối với đề mục “ Niệm Ân Đức Phật”, đây một đề mục vô cùng vi tế, sâu sắc và rộng lớn, vô lượng vô biên. Vì vậy, hành giả không thể định tâm an trú trên một đối tượng nhất định nào cả. Do đó, Pháp môn “ Niệm Ân Đức Phật” chỉ dùng để phát khởi Đức tin trong sạch nơi Đức Phật ( một yếu tố nền tảng cao quí và quan trọng nhất của những người Phật tử trong quá trình học tập và thực hành Phật pháp) và làm cho tâm trí được sáng suốt. Pháp môn này chỉ có khả năng dẫn đến Cận Định mà thôi, không thể dẫn đến An chỉ định. Vì vậy, không thể dẫn đến sự chứng đắc các bậc thiền. Cận định trong Pháp môn “ Niệm Ân Đức Phật” vẫn còn là Dục giới đại thiện tâm, thuộc về Dục giới thiện nghiệp. Tuy nhiên, Pháp môn “ Niệm Ân Đức Phật” là một pháp môn rất kỳ diệu và hữu ích cho đời sống thường nhật của chúng ta. Các hành giả Niệm Ân Đức Phật thường có thân tâm an lạc, tránh được nhiều rủi ro, tai họa một cách phi thường, được mọi người kính mến và được Chư Thiên hộ trì. Pháp môn này chủ yếu tạo nên Thiện nghiệp. Vì vậy, những người thực hành Pháp môn này sẽ gặt hái được nhiều phước báu trong kiếp sống hiện tại và trong những kiếp sống ở tương lai.

 Cách phát âm các Ân Đức Phật

1. Itipi so Bhagavā Araham  ( Ý- tí- pí xô phá-gá-va Á-rá-hăng)

2. Itipi so Bhagavā Sammàsambuddho ( Ý- tí- pí xô phá-gá-va Săm-ma- Săm bút- thô)

 - Ghi chú : Âm d đọc thành t , âm bh thì đọc thành ph

3. Itipiso Bhagavā Vijjācaranasampanno

   (  Ý- tí- pí- xô phá-gá-va Vít-xà-chá- rá-ná- săm- panh-nô)

4. Itipiso Bhagavā Sugato  ( Ý-tí-pí- xô phá-gá-va Sú-gá-tô)

5. Itipiso Bhagavà Lokavidū ( Ý-tí-pí- xô phá-gá-va Lô-ká-ví-đu)

6. Itipiso Bhagavā Anuttaro purisadhammasārathi

   ( Ý- tí-pí- xô phá-gá-va Á-nút-tá-rô pú-rí-sá-đăm-má-sa-rá-thí)

7. Itipiso Bhagavā Satthādevamanussānam

   ( Ý-tí-pí- xô phá-gá-va Xặt-tha-đê-va-má-nút-sa-năng)

8. Itipiso Bhagavā Buddho ( Ý-tí-pí- xô phá-gá-va Bút-thô)

9. Itipiso Bhagavā ( Ý-tí-pí- xô phá-gá-va)

 Cách quán niệm Ân Đức Phật bằng xâu chuỗi 108 hạt

 Xâu chuỗi 108 hạt được dùng trong nhiều Pháp môn quán niệm khác nhau. Tuy nhiên, bất cứ phương pháp quán niệm nào cũng đều nhắm đến trạng thái định tâm. Phương pháp quán niệm 9 Ân Đức Phật với xâu chuỗi 108 hạt là một phương pháp rất kỳ diệutuyệt vời, mang lại nhiều lợi ích có thể kiểm chứng trong một thời gian ngắn. Trong 9 Ân Đức Phật có tất cả 108 âm và xâu chuỗi có 108 hạt. Như vậy, khi quán niệm 9 Ân Đức Phật rất là thuận tiện, bởi vì khi “ Tâm niệm mỗi âm thì tay lần theo mỗi hạt”. Khi niệm xong 9 Ân Đức Phật thì tay cũng đã lần xong 108 hạt. Phương pháp này giúp cho hành giả quán niệm Ân Đức Phật kiểm soát được tâm mình, các đề mục thiền Định khác không có tính ưu việt này. Hành giả muốn thực hành phương pháp quán niệm 9 Ân Đức Phật với xâu chuỗi 108 hạt trước tiên phải học thuộc lòng 108 âm trong 9 Ân Đức Phật, bởi vì mỗi âm trong 9 Ân Đức Phật tương ứng với những vị trí nhất định trong xâu chuỗi 108 hạt.

Chín Ân Đức Phật có thứ tự các âm như sau :

1. I-ti-pi-so Bha-ga-và A-ra-ham  =  có 10 âm tương ứng với 10 hạt

2. I-ti-pi-so Bha-ga-và Sam-mà-sam-bud-dho  =  có 12 âm tương ứng với 12 hạt

3. I-ti-pi-so Bha- ga- và Vij-jā-ca-ra-na-sam-pan-no =15 âm tương ứng với 15 hạt

4. I-ti-pi-so Bha-ga-và Su-ga-to  =10 âm tương ứng với 10 hạt

5. I-ti-pi-so Bha-ga-và Lo-ka-vi-dū  = 11 âm tương ứng với 11 hạt

6. I-ti-pi-so Bha-ga-vā A-nut-ta-ro

    -pu-ri-sa-dam-ma-sā-ra-thi   =   có 19 âm tương ứng với 19 hạt

7. I-ti-pi-so Bha-ga-và Sat-thā-de-va

   - ma-nus-sà-nam  = 15 âm tương ứng với 15 hạt

8. I-ti-pi-so Bha-ga-và Bud- dho  = 9 âm tương ứng với 9 hạt

9. I-ti-pi- so Bha-ga-vā  =7 âm tương ứng với 7 hạt

 Tổng cọng có tất cả 108 âm tương ứng với 108 hạt. Phương pháp quán niệmnày được cho là kỳ diệu, bởivì dễ dàng làm cho tâm an trú trọn đủ trên 9 Ân Đức Phật một cách liên tục theo thứ tự trước sau. Nó được cho là tuyệt vời, bởi vì hành giả có thể tự kiểm soát và biết được tiến trình quán niệm của mình có đúng theo phương pháp hay không. Hành giả tự kiểm soát như thế nào ? Phương pháp quán niệm này có 2 đặc tính ưu việt sau đây :

1. Theo dõi được cách Ân Đức Phật sau tiếp nối với Ân Đức Phật trước

2. Hành giả kiểm soát được tâm mình

Theo dõi được cách Ân Đức Phật sau tiếp nối với Ân Đức Phật trước

 Ví dụ : Ân Đức Phật thứ nhất là : “ Itipiso Bhagavā Araham” thì Ân Đức Phật sau sẽ là “ Itipiso Bhagavā Sammāsambuddho” và cứ tiếp tục như thế cho đến Ân Đức Phật thứ 9 là “ Itipiso Bhagavā”. Mỗi Ân Đức Phật đều bắt đầu giống nhau bằng câu “ Itipiso Bhavā”. Câu bắt đầu này có thể khiến cho hành giả phải chú tâm đến nó, nếu không chú tâm thì sẽ lẫn lộn Ân Đức Phật này với Ân Đức Phật kia. Sự thật, mỗi Ân Đức Phật có một vị trí thứ tự nhất định trong xâu chuỗi 108 hạt. Thứ tự này là không thể thay đổi. Vì vậy, hành giả cần phải chú tâm nhiều hơn. Ví dụ : khi bắt đầu niệm “ I-ti-pi-so Bha-gha-và A-ra-ham”, tay lần theo mỗi hạt tương ứng với mỗi âm được niệm. Tiếp đến sẽ là “ I-ti-pi-so Bha-ga-vā…”, điều này sẽ khiến cho hành giả có thời gian liên tưởng đến Ân Đức Phật trước là “ Araham”, vậy Ân Đức Phật kế tiếp phải là “ Sammāsambuddho”. Tiếp theo hành giả lại niệm “ Sam-mā-sam-bud-dho”, tay lần theo mỗi hạt tương ứng với mỗi âm được niệm và liên tưởng đến Ân Đức Phật trước… cho đến Ân Đức Phật cuối cùng là “ Itipiso Bhagavā”.

Hành giả phải có trí nhớ ( niệm), trí tuệtâm tinh tấn để tiến hành quán niệm 9 Ân Đức Phật một cách liên tục và khắn khít với nhau, không để cho một khoảng thời gian trống nào chen vào giữa chu kỳ quán niệm.Tâm của hành giả không có thời gian để nghĩ ngợi chuyện này chuyện kia. Nhờ vậy, tâm sẽ an trú trên những những Ân Đức Phật. Khi hành giả quán niệm tới Ân Đức Phật nào thì phải làm cho tâm an trú trên Ân Đức Phật đó và cứ tiếp tục chu kỳ quán niệm theo trên 9 Ân Đức Phật. Điều cần lưu ý là, Không nên quán niệm 9 Ân Đức Phật giống như cách trả bài học thuộc lòng.

 Hành giả tự kiểm soát tâm của mình

 Trong xâu chuỗi 108 hạt, mỗi hạt đều tương ứng với một vị trí âm nhất định trong 9 Ân Đức Phật. Hành giả có thể lấy phẩm màu đỏ để làm dấu trên 9 âm cuối cùng trong 9 Ân Đức Phật theo cách sau : Âm cuối cùng của Ân Đức Phật thứ nhất là “ ham”- tương ứng với hạt ở vị trí số 10. Âm cuối cùng của Ân Đức Phật thứ 2  là “ dho”- tương ứng với hạt ở vị trí số 22. Âm cuối cùng của Ân Đức Phật thứ 3 là “ no”- tương ứng với hạt ở vị trí số 37. Âm cuối cùng của Ân Đức Phật thứ 4 là “ to” – tương ứng với hạt ở vị trí số 47. Âm cuối cùng của Ân Đức Phật thứ 5 là “ ”- tương ứng với hạt ở vị trí số 58.Âm cuối cùng của Ân Đức Phật thứ 6 là “ thi”- tương ứng với hạt ở vị trí số 77. Âm cuối cùng của Ân Đức Phật thứ 7 là “ nam”- tương ứng với hạt ở vị trí số 92. Âm cuối cùng của Ân Đức Phật thứ 8 là “ dho” – tương ứng với hạt ở vị trí số 101. Âm cuối cùng của Ân Đức Phật thứ 9 là “ ” – tương ứng với hạt ở vị trí số 108. Như vậy, khi hành giả tâm niệm mỗi âm thì tay lần theo mỗi hạt. Nếu thấy sai vị trí thì biết mình đã quán niệm sai phương pháp, nên phải bắt đầu lại với một chu kỳ quán niệm mới. Có một số hành giả hay bị phóng tâm hoặc suy nghĩ miên man hết chuyện này sang chuyện khác, nếu niệm Ân Đức Phật không có xâu chuỗi hạt sẽ rất khó kiểm soát được tâm. Vì vậy, phương pháp niệm Ân Đức Phật với xâu chuỗi 108 hạt là một phương tiện rất hữu hiệu để kiểm soát tâm. Không có phương pháp quán niệm Ân Đức Phật nào có thể hữu hiệu hơn phương pháp này, nhất là những người hay phóng tâm, lo nghĩ, hay quên, bận rộn nhiều công việc, học sinh phải học quá nhiều môn học nên tâm trí không ổn định, khó hiểu và khó nhớ được bài học, những người thực hành thiền nhưng không định tâm được…

Phương pháp niệm Ân Đức Phật với xâu chuỗi 108 hạtcó thể áp dụng cho bất kỳ một người nào, bất luận làm nghề nghiệp gì, bao nhiêu tuổi, ở đâu, giới tính là gì… Những người thường xuyên thực hành Pháp môn niệm Ân Đức Phật với xâu chuỗi 108 hạt sẽ gặt hái được nhiều lợi ích thiết thực và phi thường. Hỷ lạc và niềm tin trong sạch vào Đức Phật sẽ phát sanh trong họ .Tâm trí của họ từ đó cũng trở nên tươi tỉnh và sáng suốt. Cầu mong cho những ai có cơ duyên gặp được pháp môn này sẽ phát tâm tinh tấn thực hành phương pháp niệm Ân Đức Phật với xâu chuỗi 108 hạt, để có thể nhanh chóng gặt hái được những phước báu thiện lành trong kiếp sống hiện tại và những kiếp sống ở tương lai. Mong thay !

Ghi chú: Với mục đích làm cho bài thuyết Pháp này thêm phần ý nghĩa, thực dụng và thích hợp hơn đối với những Phật tử ở Việt Nam, người dịch đã mạo muội trích dẫn thêm phần “ Cách thực hành quán niệm 9 phẩm hạnh cao quí của Đức Phật”. Phần này đã được trích dẫn từ tác phẩmPháp Môn Niệm Phậtcủa Tỳ-kheo Hộ Pháp ( chùa Bửu Long- Quận 9- Sài Gòn). Xin chân thành ghi nhận ân đức vô lượng của tác giả. Kính chúc Sư vạn sự như ý, thân tâm an lạc ! Lành thay !

    

 Từ bỏ điều xấu, vun trồng điều tốt tại trung tâm thiền

 

Những người làm việc để phát triển Giáo Pháp của Đức Phật tại trung tâm thiền phải biết cách từ bỏ những điều bất thiện và vun trồng những phước báu thiện lành. Những người làm việc để phát triển Giáo Pháp của Đức Phật phải biết cách rãi tâm từ ( Metta – Loving kindness) lên chính mình và lên những chúng sanh khác. Họ phải biết cách tôn trọng, giữ gìn tiền bạc và của cải của Tam Bảo do các thí chủ cúng dường, biết cách giữ gìn vệ sinh và có thói quen ngăn nắp trật tự. Những người thiện lành có hảo tâm đến viếng thăm trung tâm thiền, nên phát khởi ý định cúng dường tiền bạc, của cải một cách hoan hỷ khi thấy các hành giả hăng say và tiến bộ trong việc thực hành thiền, không nên tiếc nuối hay ray rứt về những của cải mà mình đã bỏ ra để cúng dường với tâm tự nguyện.

Tóm tắtKhi đến các trung tâm thiền chúng ta cần phải loại bỏ được tâm tham lam, vun trồng những điều thiện lành và phát tâm cúng dường cho Tam Bảo một cách tự nguyện.

 Những người thực hiện các bổn phận để phát triển Giáo Pháp của Đức Phật phải biết cách giúp đỡ những người có đạo đức, có tâm hướng Phật khi đến trung tâm để học tập và thực hành thiền.Với tiêu chí đó, những người đang thực hiện các bổn phận để phát triển Phật Pháp cần phải loại bỏ được tất cả những trạng thái phiền muộn hay sân hận trong tâm họ, khi phải đối diện với bất cứ một tình huống nào trong suốt quá trình làm việc tại trung tâm. Nhờ vậy, họ mới có thể thực hành việc rải tâm từ để làm cho chính mình và nhiều người khác được hạnh phúc.

Tóm tắt: Khi đến trung tâm thiền, chúng ta cần phải loại bỏ được những trạng thái sân hận trong tâm mình, rải tâm từ lên chính mình và nhiều người khác.

Những người làm việc để phát triển Giáo Pháp của Đức Phật phải có thiện chí, không nên có thái độ bực tức hay đố kỵ đối với những người tìm đến trung tâm để học tập và thực hành thiền. Họ cần phải loại bỏ được những ý nghĩ tiêu cực, lấy tấm gương đức hạnh của các Bồ-Tát ngày xưa để soi mình và thực hành tâm khoan dung độ lượng ( Khanti – Tolerant), phát triển khả năng tự chủ, kiên nhẫn chịu đựng.

Tóm tắt:  Khi đến trung tâm thiền, chúng ta cần phải loại bỏ được thái độ bực tức hay đố kỵ, phát triển tâm khoan dung độ lượng.

Những người làm việc để phát triển Giáo pháp của Đức Phật phải có một quan điểm hay quan kiến đúng đắn về các lỗi lầm của những người có thiện ý đến với trung tâm thiền để học tập và thực hành thiền. Những người làm việc để phát triển Giáo Pháp của Đức Phật phải có khả năng làm cho những người phạm lỗi hiểu được sự thật đúng đắn. Từ đó, những người đã phạm lỗi sẽ có kiến thức hay sự hiểu biết, có trí tuệ và kinh nghiệm nội quán.

Tóm tắtKhi đến trung tâm thiền, chúng ta cần phải loại bỏ được trạng thái tâm sân hận, vun trồng sự hiểu biết và trí tuệ.

 Vì vậy, những người làm việc để phát triển Giáo Pháp của Đức Phật tại trung tâm thiền phải có khả năng làm việc vì lợi ích của tha nhân ( những người đã tìm đến với trung tâm để học tập và thực hành thiền) :

 -  Loại bỏ được tâm tham lam, biết thực hành bố thí hay cúng dường.

 -  Loại bỏ tâm sân hận, biết rãi tâm từ ( Mettta) lên chính mình và nhiều  người khác.

-   Loại bỏ tật đố kỵ, phát triển tâm khoan dung độ lượng

-   Loại bỏ vọng tưởng ngu si ( tức thói quen hay suy nghĩ đến những điều hão huyền không có thật), tìm kiếm sự hiểu biết và trí tụê.

 

                Ba lời khuyên của bậc Trưởng Thượng

                trung tâmthiền Saddhammaramsì

 ( Chủ nhật, ngày mồng 5 tháng Tabodwe năm 1352 – Lịch Miến Điện)

 

 Trong các cuộc gặp mặt thường kỳ hàng năm của tổ chức những người phụng vụ ( Veyyāvacca – Servicer ‘s organization), tôi vẫn thường có những lời khuyên. Bây giờ, tôi sẽ tóm tắt những lời khuyên mà mình mong muốn gửi đến những người có ý nguyện muốn làm việc để phát triển trung tâm, những người đã và đang làm việc tại trung tâm. Những thành viên của tổ chức những người phụng vụ làm việc với ý nguyện phát triển trung tâm phải thực hiện được 3 bổn phận sau đây :

1. Tạo dựng

2. Duy trì

3. Phát triển

  Tạo dựng

 Tạo dựng nghĩa là bạn phải bắt tay vào thực hiện ngay và hoàn thành càng sớm càng tốt tất cả những công việc của trung tâm một cách chu đáo. Thời gian không chờ đợi một ai, mọi thứ sẽ biến đổi một cách nhanh chóng. Nếu không khẩn trương để thực hiện những công việc cần thiết trước mắt, trong tương lai, nếu muốn thực hiện những công việc đó, chắc chắn bạn sẽ gặp phải rất nhiều điều khó khăn. Thậm chí, sẽ không bao giờ còn khả năng thực hiện được những điều mà mình đã mong muốn trước đây. Đó là lý do tại sao, khi thấy những công việc nào cần làm thì phải làm ngay. Những công việc trước mắt cần phải làm ngay của tổ chức những người phụng vụ - Trung tâm thiền Saddhamaramsī là :

1. Biến những mảnh đất của trung tâm trở thành những mảnh đất Phật Pháp màu mỡ và trù phú.

2. Cúng dường đất đai, tiền của, công sức, trí tuệ và thời gian để xây dựng các cơ sở truyền giáo.

3. Xây dựng những đại sảnh lớn với mục đích truyền giáo.

4. Khoan dò các giếng phun nước thật tốt để có đủ nước sinh hoạt. 

Trong quá khứ, những công việc tại trung tâm thiền Saddhammaransì thường được thực hiện rất chu đáo và mau mắn. Vì vậy, những người có ý nguyện gánh vác các bổn phận này phải thực hiện chúng một cách đến nơi đến chốn và mau mắn giống như thế. Khi đến trung tâm thiền, các thành viên trong tổ chức những người phụng vụ cũng phải thực hành thiền khi độ tuổi đang còn trẻ. Nếu chỉ thực hành thiền khi tuổi đã già trong tình trạng ốm yếu thì bạn rất khó lãnh hội được Giáo Pháp của Đức Phật. Đó là lý do tại sao, bạn nên thực hành thiền trong một thời điểm thích hợp và tốt nhất. Trong thời Đức Phật còn tại thế, có một số người khi còn trẻ tuổi không chịu thực hành thiền. Vì vậy, họ đã trở nên sa đọa trong cuộc sống thế gian lẫn cuộc sống xuất thế gian. Vào lúc đó, Đức Phật đang trú tại Migadāvana ( tức Vườn Nai -  Một địa danh nằm gần Ba-La-Nại, tức Benares), có một người đàn ông giàu có tên là Mahādana và vợ của ông sở hữu một số tiền là 160 kotis ( 1600 triệu đồng bạc) đang sống tại Ba-La-Nại. Tuy nhiên, đôi vợ chồng này chỉ biết ăn không ngồi rồi để hưởng thụ sự giàu có. Họ cũng không chịu thực hành Giáo Pháp của Đức Phật để có thể đạt tới Đạo Quả Niết Bàn. Hàng ngày, người đàn ông giàu có nói trên thường đến đảnh lễ Đức vua Ba-La-Nại. Mỗi khi ra về, ông ta thường la cà tại những quán rượu, nhập hội với những người say và trở thành một người nghiện rượu. Khi đã nhập hội với những người nghiện rượu, ông ta mải mê chè chén và cho đó là một công việc rất vui vẻ. Cuối cùng, Mahàdava đã tiêu hết số tiền 160 kotis và trở thành một gã ăn xin với một bình bát trên tay. Một ngày nọ Đức Phật và Tăng Đoàn đang đi khất thực. Đức Phật đã mỉm cười khi thấy đôi vợ chồng trước đây rất giàu có, nhưng bây giờ lại đi ăn xin lại những thức ăn thừa của các Tỳ Kheo và những Giới tử tân học. Sau đó, Tôn giả A-Nan-Đà ( Ashin Ānadā) đã thỉnh vấn Đức Phật tại sao Ngài lại mỉm cười. Đức Phật đã trả lời rằng, bởi vì đôi vợ chồng này khi còn trẻ đã không chịu làm lụng gì cả. Họ cũng không chịu thực hành thiền. Vì vậy, đến bây giờ họ đã mất hết niềm hy vọng vào cuộc sống thế gian lẫn cuộc sống xuất thế gian. Nếu trước đây khi còn trẻ, đôi vợ chồng này chịu khó làm ăn để gia tăng của cải thì bây giờ họ đã trở thành những người giàu có bậc nhất . Nếu khi đang còn trẻ ( giai đoạn thứ nhất của đời người) và giàu có, họ biết thực hành Phật Pháp thì người chồng đã trở thành một A-La-Hán (Araham – Arahant) và người vợ đã trở thành một A-Na-Hàm

(Anāgāmi – non Returner). Nếu ở độ tuổi trung niên ( giai đoạn thứ nhì của đời người), đôi vợ chồng này biết cách làm ăn và tích luỹ của cải thì bây giờ họ đã trở thành những người người giàu có bậc nhì. Nếu khi ở độ tuổi trung niên và đang còn giàu có, họ biết thực hành Phật Pháp thì bây giờ người chồng đã trở thành một A-Na-Hàm và người vợ đã trở thành một Tư-Đà-Hàm ( Sakadāgàmi – once Returner). Khi đã gần già ( giai đoạn thứ ba của đời người), nếu chịu khó làm ăn, buôn bán hay kinh doanh thì họ đã trở thành những người giàu có bậc ba. Trong giai đoạn này, nếu họ biết thực hành Phật Pháp thì người chồng đã trở thành một Tư-Đà-Hàm và người vợ đã trở thành một Tu-Đà-Hườn. Bởi vì trước đây họ đã không chịu làm lụng gì cả, họ cũng không chịu thực hành Phật Pháp. Do đó, bây giờ họ đã không được hạnh phúc trong cuộc sống thế gian. Trong cuộc sống xuất thế gian, họ cũng không gặt hái được Đạo quả gì cả. Bây giờ, họ đã trở thành những con sếu già ngớ ngẫn trong đám sình lầy, nơi không có nước và cá để nuôi thân. Tương tự như vậy, khi còn trẻ và còn nhiều khả năng, nếu có một cuộc sống bê tha và xao lãng thì chắc chắn bạn sẽ có một kết cục như đôi vợ chồng giàu có đã nói ở trên. Đó là lý do, khi thấy những công việc đang ở trong thời điểm thuận lợi nhất, bạn phải chớp lấy cơ hội và thực hiện ngay, đừng trì hoãn để rồi sau này khi hối tiếc thì đã muộn.

 Duy trì

 Duy trì ở đây có nghĩa là bạn phải biết giữ gìn và duy trì những điều kiện thuận lợi mà mình đang có trong tay, đừng để chúng bị thoái hoá suy đồi, bởi vì tình  trạng suy đồi này sẽ làm cho bạn trở nên nhụt chí và bỏ cuộc. Có rất nhiều người thực hiện những công việc tôn giáo rất dẻo dai và bền bỉ để phát triển Giáo Pháp của Đức Phật. Tâm tự nguyện của những người này rất hăng hái nhiệt tình, đức tin của họ vô cùng trong sạch và vững chãi.

 Hiện nay, trong số họ có những người đã tìm được cảm hứng thú vị trong cuộc sống. Đó là lý do tại sao, Giáo Pháp của Đức Phật phải được xây dựng, bồi đắp và tổ chức để phát triển một cách dẻo dai và bền chí. Vì vậy, mọi người phải biết cách nhìn xa trông rộng và hiểu được duy trì là như thế nào. Hiện nay, những công việc cần thiết và cấp bách là phải duy trì trung tâm thiền Saddhammaransī. Chúng ta cần phải biết cách duy trì trung tâm trong thời điểm hiện tại và hiểu được cách duy trì cho những năm sắp tới. Những bổn đạo của trung tâm và tổ chức những người phụng vụ phải có trách nhiệm thực hiện những bổn phận của mình để duy trì trung tâm vì sự lợi ích của những thế hệ mai sau.

 Phát triển

 Phát triển nghĩa là chúng ta phải làm việc để phát triển trung tâm với thiện chí và nổ lực hết mình trong sự tôn trọng Giáo Pháp của Đức Phật. Tại sao chúng ta phải làm việc để phát triển ? Bởi vì bất cứ nơi nào không có sự phát triển thì nơi đó sẽ trở nên suy đồi và thoái hoá. Vì vậy, tất cả những người bạn của trung tâm, những người Phật tử và những người mộ Đạo phải làm việc để phát triển trung tâm bằng tất cả những sức mạnh thể chất và tinh thần mà họ có được. Những người mong muốn cho sự phát triển của trung tâm phải có lời nói đi đôi với việc làm, khi có cơ hội thực hiện những công việc hữu ích vì sự phát triển ấy. Bạn cũng cần phải suy tư để tìm ra những phương cách, kế hoạch đúng đắn và khả thi để phát triển trung tâm. Trên đây là 3 lời khuyên của bậc Trưởng Thượng trung tâm thiền Saddhammaransī. Những lời khuyên này là những phương tiện đúng đắn để chúng ta có thể áp dụng vào thực tế nhằm mục đích duy trì và phát triển công việc mà mình đang làm. Trong khi thực hiện những bổn phận mà trung tâm đã giao phó, bạn có thể áp dụng 3 lời khuyên trên để gặt hái Niết Bàn một cách dễ dàng và nhanh chóng như đã mong muốn.

 

                 Những nền tảng căn bản của Phật Pháp

 

Ngày nay là thời đại của khoa học. Vì vậy, chân lý đã được chúng minh bằng những khám phá khoa học. Hầu như mọi lãnh vực của đời sống đã được người ta nghiên cứu và chân lý đã được phơi bày. Tôn giáo của chúng ta và nhiều tôn giáo khác đều đã được khoa học khám phá và kiểm chứng. Các nhà khoa học đã thực hiện những cuộc nghiên cứu cẩn thận về nhiều tôn giáo trên thế giới và cuối cùng họ đã nhận thấy rằng, Phật giáo là một tôn giáo hợp lý, có thể thích nghi được với thời đại mới khi tôn giáo này đã chỉ ra nguyên lý của định luật nhân quả.Vì vậy, các nhà khoa học đã quyết định tiếp tục nghiên cứu về những sự thật căn bản của Phật Giáo, cũng như đã ra sức tìm kiếm thêm nhiều thông tin về tôn giáo này từ những người Phật tử mộ Đạo. Vì vậy, những người Phật tử mộ Đạo cần phải có sự hiểu biết về những nền tảng sau đây trong tôn giáo của họ :

1. 10 hành động bất thiện ( 10 Unwholesome of actions)

2. 10 hành động thiện lành ( 10 wholesome of actions)

3. 10 phước báu thiện lành xứng đáng ( 10 meritorious good behaviours) mang lại nhiều lợi ích cho những  người thực hành chúng.

1. 10 hành động bất thiện nghĩa là 3 hành động bất thiện thuộc về thân thể, 4 hành động bất thiện thuộc về lời nói3 hành động bất thiện thuộc về tâm ý.

 Ba hành động bất thiện thuộc về thân thể là :

a. PānātipātaSát sanh ( killing or taking life)

b. AdinnādānaTrộm cắp hay lấy của không cho ( Stealing or taking things not given)

c. KāmesumicchācāraTà dâm hay có hành động không đứng đắn về giới tính ( Committing sexual misconduct).

 Bốn hành động bất thiện thuộc về lời nói là :

a. Musāvada – Nói dối ( Telling lies)

b. Pisumavācā  - Nói lời bất hoà gây chia rẽ ( Speaking to bring disharmony between two loved ones)

c. Pharusavācā  - Nói lời cay nghiệt và đe dọa ( speaking harshly and threateningly)

d. Samphappāla  - Nói lời điên rồ, nhảm nhí và vô nghĩa ( Foolish babble)

 - Nguyên nhân của lời nói bất hoà gây chia rẽ là sự thiếu tôn trọng và ghét bỏ người khác. Từ đó mới có lời nói vu khống và phỉ báng.

 - Nói lời cay nghiệt và đe dọa nghĩa là xử dụng ngôn ngữ để chửi rủa, lăng nhục với thái độ lỗ mãng cộc cằn. Đây thật ra là hành động bất thiện thuộc về cả lời nói lẫn tâm ý.

 Nếu chỉ nói lời lăng nhục nhưng không có thái độ lỗ mãng cộc cằn thì chưa thể gọi là Pharusavācā. Mặt khác, tuy nói lời dịu ngọt nhưng thái độ hay tâm ý lại lỗ mãng cộc cằn thì cũng được cho là Pharusavàcà. Một thời, một vị vua nắm quyền cai trị trong một vương quốc nọ đang có một cuộc hội kiến với những hoàng tử và các vị quan thượng thư. Lúc đó, người đao phủ của triều đình đã đến và tâu rằng có một người khét tiếng nổi loạn chống lại triều đình đã bị bắt. Lúc đó, nhà vua không muốn nói những lời lỗ mãng trước những hoàng tử và các vị quan thượng thư danh giá. Vì vậy, Ngài chỉ nói rằng : “ Hãy đưa người nổi loạn này đến một khu rừng và làm cho anh ta ngủ đi !”. Mặc dù những lời nói thốt ra của nhà vua rất ngọt ngào và lịch sự. Tuy nhiên, ý của Ngài muốn nói rằng hãy giết kẻ phản loạn đi. Vì vậy, những lời nói đó cũng được cho là Pharusavācā. Mặt khác, lời nói của một người thốt ra có vẻ cộc cằn thô lỗ nhưng tâm ý của người đó không phải như vậy thì anh ta có thể thoát khỏi tội Pharusavācā.

Cách đây rất lâu, có một bà mẹ và người con trai của bà đang sống chung trong một ngôi nhà. Kể từ khi tính tình và quan điểm của họ bất đồng với nhau, họ thường có những cuộc cãi vã và tranh chấp. Người con trai đã nói rằng, anh ta không còn khả năng để sống chung với một người mẹ thô lỗ như thế nữa. Sau khi nói như vậy,  người con trai nọ đã bỏ đi để tìm một nơi khác để sống riêng. Người mẹ không muốn con trai của bà bỏ đi. Vì vậy bà đã nói rằng : “ Nếu mày bỏ đi thì con trâu hoang ở trong rừng sẽ húc mày chết, tao cầu cho mày sẽ bị con trâu đó húc chết ! ”. Người mẹ đã nguyền rủa con trai mình như thế. Người con trai không chịu nghe lời của mẹ mình và đã bỏ nhà ra đi và đến một khu rừng hoang. Đúng như lời người mẹ đã nói, một con trâu cái hoang dã từ trong rừng đã chạy ra và tiến về phía người con trai nọ với một tốc độ cực nhanh. Người con trai nọ không có cách nào khác để chạy thoát, bởi vì khoảng cách của anh ta và con trâu lúc đó đã quá gần. Anh ta liền buộc miệng thề rằng : “ Nếu như những lời nói của mẹ tôi là có chủ ý xấu thì con trâu này cứ húc tôi chết, nếu như những lời nói của bà là vô ý thì con trâu này phải chừa tôi ra”.

Lúc đó, tự nhiên con trâu lại đổi hướng và chạy đi nơi khác. Những lời nói của người mẹ nói trên rất lỗ mãng. Tuy nhiên, tâm ý của bà không phải như vậy. Do đó, những lời nói này không phải là Pharusavācā. Trong trường hợp này, người mẹ đó vẫn không bị phạm tội.

- Nói lời điên rồ, nhảm nhí và vô nghĩa nghĩa là vì nhẹ dạ, nông nổi nên đã thốt ra những lời nói vô nghĩa không mang lại lợi ích gì cả. Lời nói điên rồ, nhảm nhí và vô nghĩa không mang lại lợi ích cho kiếp sống ở hiện tại, không mang lại lợi ích cho kiếp sống ở tương lai và cũng không mang lại lợi ích cho ước muốn đạt tới Niết Bàn.

 Ba hành động bất thiện thuộc về tâm ý là :

a. Abhijjihā – tham lam, thèm khát, có âm mưu chiếm đoạt tài sản của người khác một cách bất hợp pháp.

b. Vyāpāda -  có tâm ý tiêu cực nhỏ nhen, ghen ghét, sân hận , có âm mưu hãm hại người khác và làm cho người khác phải đau khổ hay chết đi.

c. Micchadiţţhi – có quan điểm hay quan kiến lầm lạc khi cho rằng không có thiện nghiệp, bất thiện nghiệp. Dĩ nhiên, những đã có quan kiến lầm lạc như vậy cũng sẽ không tin là có tác động hay kết quả của nghiệp.

  Mười hành động bất thiện vừa nêu trên nếu khai triển rộng ra thì chúng có thể trở thành 40 hành động bất thiện :

a. Sāhaţţhika – tự mình hành động 10 điều bất thiện đã nêu trên

b. Ānaţţhika  -  xúi giục người khác thực hiện 10 hành động bất thiện đã nêu trên

c. Vannabhanana – khuyến khích và ca ngợi khi thấy người khác thực hiện 10 hành động bất thiện vừa nêu trên.

d. Samanunnā –  thú vị, hoan hỷ và cho phép người khác thực hiện 10 hành động bất thiện vừa nêu trên.

Tóm tắt: 40 hành động căn bản sau đây được Phật giáo cho là bất thiện gồm có : Tự mình thực hiện 10 hành động bất thiện thuộc về thân, khẩu, ý. Xúi giục người khác thực hiện 10 hành động bất thiện này, khuyến khích người khác thực hiện 10 hành động bất thiện này, hoan hỷ khi thấy người khác thực hiện 10 hành động bất thiện này.

2. 10 hành động  thiện lành nghĩa là 3 hành động thiện lành thuộc về thân thể, 4 hành động thiện lành thuộc về lời nói3 hành động thiện lành thuộc về tâm ý.

 Ba hành động thiện lành thuộc về thân xác là:

a. Kiêng cữ sát sanh

b. Kiêng cữ trộm cắp

c. Kiêng cữ tà dâm

 Bốn hành động thiện lành thuộc về lời nói là:

a. Kìm chế không nói những lời dối trá

b. Kìm chế không nói lời bất hoà gây chia rẽ

c. Kìm chế không nói lời cay nghiệt và hăm dọa

d. Kìm chế không nói những lời điên rồ, nhảm nhí và vô nghĩa

 Ba hành động thiện lành thuộc về tâm ý là:

a. Không âm mưu chiếm đoạt tài sản riêng của người khác

b. Không âm mưu làm cho người khác phải đau khổ hay chết đi

c. Có niềm tin đúng đắn về thiện nghiệp và bất thiện thiện nghiệp

 Nếu kìm chế được 10 hành động bất thiện căn bản, bạn sẽ gặt hái được 10 hành động thiện lành căn bản. Những người Phật tử cần phải thực hành 10 hành động thiện lành đã nêu trên.

Tóm tắt: Nếu kìm chế được 10 hành động bất thiện, sẽ gặt hái được 10 hành động thiện lành.          

 10 hành động thiện lành có thể trở thành 40 hành động thiện lành

a. Tự mình kìm chế được 10 hành động bất thiện

b. Làm cho người khác có thể kìm chế được 10 hành động bất thiện

c. Khuyến khích động viên người khác kìm chế 10 hành động bất thiện

d.  Sung sướng và hoan hỷ khi thấy người khác kìm chế được 10 hành động bất thiện

Tóm tắt: Tự mình kiêng cữ được 10 hành động bất thiện, làm cho người khác có thể kiêng cữ được 10 hành động bất thiện, khuyến khích người khác kiêng cữ được 10 hành động bất thiện, hoan hỷ khi thấy người khác kiêng cữ được 10 hành động bất thiện.

3. Mười loại phước báu ( Puññakiriya Vatthu – 10 meritorious deeds) Nếu gặt hái được sẽ mang lại rất nhiều lợi ích :

a. Dāna – bố thí

b. Sīla –  giữ Giới, tức kìm chế thân thể, lời nói và tâm ý, không làm những hành động bất thiện

c. Bhāvanā – thực hành thiền

d. Apacayana – kính trọng người già và người lớn tuổi hơn mình

e. Veyyāvacca – thực hành bổn phận do các vị Trưởng Thượng giao phó

g. Paţţidanà – chia xẻ phước báu với nhiều người khác

h. Paţţinumodanā – nói câu “ Lành thay” khi thấy người khác gặt hái được phước báu

i. Dhammasavanā – lắng nghe thuyết Pháp

j. Dhammadesanā – bố thí Pháp

k. Diţţhijukamma – có niềm tin đúng đắn

  10 phước báu có thể tăng trưởng thành 40 phước báu :

a. Tự mình thực hiện được 10 phẩm hạnh thiện lành xứng đáng

b. Làm cho người khác có thể thực hiện được 10 phẩm hạnh thiện lành xứng đáng

c. Khuyến khích động viên người khác thực hiện 10 phẩm hạnh thiện lành xứng đáng

d. Sung sướng và hoan hỷ khi thấy người khác có được 10 phẩm hạnh thiện lành xứng đáng.Theo cách đó, 10 phước báu đã tăng trưởng thành 40 phước báu.

Tóm tắtTự mình gặt hái được 10 phước báu, làm cho người khác gặt hái được 10 phước báu, khuyến khích người khác gặt hái được 10 phước báu, sung sướng và hoan hỷ khi thấy người khác gặt hái được 10 phước báu.

   Tóm tắt :

10 hành động bất thiện khi khai triển rộng ra sẽ trở thành 40 nghiệp bất thiện

10 hành động thiện lành khi khai triển rộng ra sẽ trở thành 40 nghiệp thiện lành

10 phước báu khi khai triển ra sẽ trở thành 40 phước báu .

Trên đây là những nền tảng căn bản của Phật Pháp mà mọi người Phật tử cần phải hiểu rõ và nắm bắt được một cách chắc chắn.

  

                                              

              Lòng biết ơn vô hạn đối với cha mẹ

 

Trong thế giới của loài người, tất cả mọi gia đình đều có cha mẹ và con cái. Những người con nào có ý hướng nhớ đến công ơn của cha mẹ phải cố gắng đền đáp công ơn của họ bằng cách chăm sóc và phụng dưỡng. Những người con có phước báu đều nhớ đến công ơn của cha mẹ. Từ đó, họ sẽ loại trừ được những điều bất lợi trong cuộc sống và những điều thuận lợi sẽ đến với họ. Những người con này sẽ có khả năng làm việc để phát triển và thịnh vượng trong cuộc sống này, gặt hái được phước báu thiện lành trong cõi xuất thế gian. Trong những kiếp sống ở tương lai, họ sẽ đạt tới những cảnh giới cao hơn. Những người con nào không có ý hướng nhớ đến công ơn của cha mẹ và không đền đáp những công ơn đó sẽ không có phước báu. Những điều lợi ích trong cuộc sống sẽ còn lâu mới đến với họ và họ chỉ gặp toàn những điều trở ngại, bất như ý. Những người con bất hiếu này sẽ bị khổ đau về mặt vật chất và tinh thần do nhiều nguyên nhân đa dạng. Họ sẽ bị tái sanh vào những cảnh giới thấp kém hơn trong những kiếp sống ở tương lai. Đó là lý do tại sao, chúng ta cần phải có ý hướng nhớ đến công ơn của cha mẹ và biết rằng mình cần phải đền đáp công ơn đó cho họ. Một người có ý hướng nhớ đến công ơn của cha mẹ sẽ cố gắng đền đáp công ơn đó bằng cách gánh mẹ trên vai phải và gánh cha trên vai trái, nuôi dưỡng họ cho đến khi họ đã mãn kiếp sống này. Một người có thể đền đáp công ơn của cha mẹ bằng cách thực hành Phật Pháp, bố thí Phật Pháp và chỉ dẫn cho cha mẹ biết cách thực hành Phật Pháp, nếu cha mẹ của mình là những người chưa biết cách giữ Giới, chưa biết thực hành thiền định và thiền minh sát. Chỉ bằng cách biết xử dụng Phật Pháp một cách đúng đắn, bạn cũng đã có thể đền đáp công ơn của cha mẹ một cách tương đối đầy đủ. Đức Phật cũng đã từng nói rằng, chỉ vì 3 nhân tố sau đây mà chúng ta sẽ không thể thực hiện sự đền đáp công ơn của cha mẹ một cách hoàn toàn được. Ba nhân tố đó là :

1. Brahmātimātapitaro  -  Cha mẹ giống như những vị Trời Phạm-Thiên

2. Pubbāsariyativucare  -  Cha mẹ là những vị thầy đầu tiên và tốt nhất

3. Ahuneyyocaputtanam – Cha mẹ là những người đáng tôn kính nhất

Bởi vì 3 nhân tố này mà chúng ta không thể nào đền đáp hết công ơn của cha mẹ.

  Cha mẹ giống như những vị Trời Phạm Thiên

 Cha mẹ là những vị Trời Phạm Thiên nghĩa là : Những vị Trời Phạm Thiên sống ở cõi trời của họ với tâm từ ( Mettā – Loving kindness), lòng trắc ẩn ( Karunā – Compassion), tâm hoan hỷ với hạnh phúc của người khác ( Muditā– Delight in other ‘s welfare), tâm Xả ( Upekkhā– Equanimity). Đó là 4 Pháp cao quí của các vị Trời Phạm Thiên.

Tương tự như vậy, những bậc cha mẹ cũng rải 4 Pháp cao quí này lên con cái của họ. Các vị Trời Phạm Thiên sống trên cõi trời của họ, thỉnh thoảng họ cũng rải tâm từ xuống cho muôn loài chúng sanh và nói : “ Cầu chúc cho muôn loài chúng sanh thoát khỏi những hiểm nguy, cầu chúc họ thoát khỏi những nổi bất hạnh về thể xác và tinh thần, cầu chúc cho họ có thể chịu đựng nổi những gánh nặng của cuộc sống thế gian”. Các vị Trời Phạm Thiên sống trên cõi trời của họ,  thỉnh thoảng họ cũng rải tâm bi ( lòng trắc ẩn) xuống cho những ai đang đau khổ về thể xác và tinh thần. Với lòng trắc ẩn và hoan hỷ họ nguyện rằng : “  Cầu chúc cho những ai đang khổ đau sẽ được giải phóng ngay lập tức khỏi trạng thái ấy”. (  Ngày nay người ta thường xử dụng từ giải phóngliberate thay cho từ giải thoátRelease / ND). Các vị Trời Phạm Thiên sống trên cõi trời Phạm Thiên, họ xử dụng năng lực thần thông thấu thị ( Maracle eyes ‘s ability ) để nhìn xuống trần gian và thấy được ai là người đang được hạnh phúc, thịnh vượng và nguyện rằng : “ Chúng tôi hoan hỷ với niềm hạnh phúc và sự thịnh vượng của họ. Cầu chúc cho họ sẽ không bao giờ bị thoái hóa suy đồi”. Các vị Trời Phạm Thiên rải tâm hỷ ( Muditā – elated mind ) xuống cho những người đang hạnh phúc và thịnh vượng ở trần gian. Những vị Trời Phạm Thiên sống trên cõi trời của họ, thỉnh thoảng họ cũng rải tâm xả ( Upekkhā – Equanimity) xuống muôn loài chúng sanh đang khổ đau và những người đang hạnh phúc và thịnh vượng dưới trần gian rồi nói : “ Sở dĩ họ là như thế bởi vì do ảnh hưởng của nghiệp trong những kiếp sống quá khứ mà họ đã tạo”. Cứ như thế, các vị Trời Phạm Thiên đã hành động với tâm thanh thản. Các bậc cha mẹ cũng vậy, đang khi còn sống với con cái, họ thường rải tâm từ lên con cái của mình khi thấy chúng và nguyện rằng : “ Cầu chúc cho con cái của tôi thoát khỏi những hiểm nguy, cầu chúc cho chúng được mạnh khoẻ và hạnh phúc về mặt thể xác lẫn tinh thần”. Đối với những người con hiện không có mặt tại gia đình mà đang ở xa, các bậc cha mẹ vẫn thường nhớ đến họ, cũng như cầu chúc cho họ được mạnh khoẻ và hạnh phúc với tâm từ rộng mở. Vì vậy, tâm từ hay lòng yêu thương tử tế của cha mẹ đối với con cái là vô lượng vô biên không thể nào đo lường được. Khi con cái còn nhỏ, thường hay đau ốm hay bị một tai nạn gây ra sự đau đớn, các bậc cha mẹ thường tỏ ra thương xót vô hạn, họ thường nguyện cầu với lòng thành kính : “ Cầu cho con tôi thoát khỏi đau đớn ngay tức thì”. Vì vậy, lòng trắc ẩn của cha mẹ đối với con cái là vô lượng vô biên và không thể nào đo lường được. Khi thấy con cái có được trình độ học vấn và giàu có thì các bậc cha mẹ lấy làm vui sướng vô cùng, đó là tâm hỷ

( Muditā – Elated mind ). Lúc đó, họ sẽ nguyện cầu một cách thành kính :

“ Cầu cho con cái tôi được mãi mãi như thế, chúng sẽ không bao giờ bị thoái hoá và suy đồi”. Vì vậy, tâm hỷ của cha mẹ đối với con cái là không thể đo lường được. Các bậc cha mẹ hiếm khi để mặc cho con cái của họ ra sao thì ra và nghĩ rằng chúng được hạnh phúc hay khổ đau cũng là do nghiệp của chúng. Những trường hợp này vẫn có, tuy nhiên chỉ là ngoại lệ hay không phổ biến. Chỉ khi con cái của họ đã trở nên có học vấn, thành công trên đường đời và đứng vững trên đôi chân của chúng thì các bậc cha mẹ mới tạm yên tâm. Tuy nhiên, đó không phải là trạng thái yên tâm thật sự của họ. Vì vậy, do các bậc cha mẹ luôn luôn có tâm từ, bi, hỷ,xả đối với con cái của mình, cho nên họ giống như những vị Trời Phạm-Thiên.

  Cha mẹ là những vị thầy đầu tiên và tốt nhất

Các bậc cha mẹ thường dạy dỗ con cái của họ cho đến khi chúng có được những sự hiểu biết tối thiểu để làm người. Cha mẹ vừa là bậc sinh thành ra con cái vừa là thầy giáo của con cái. Họ dạy cho con cái của mình cung cách đối xử lịch sự và hoà nhã khi chúng đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống hay nói chuyện…Các bậc cha mẹ thường dạy dỗ con cái của họ cho đến khi chúng hiểu được rằng “ chúng không nên sát sanh, nếu sát sanh thì sẽ bị đoản thọ. Không nên trộm cắp, nếu trộm cắp sẽ bị nghèo túng. Không nên tà dâm, nếu tà dâm thì sẽ bị mọi người ghét bỏ. Không nên nói dối, nếu nói dối thì sẽ không được mọi người lắng nghe. Thậm chí sẽ bị mọi người chống đối . Không nên xử dụng các chất gây say, nếu xử dụng chúng thì có thể trở thành người điên cuồng, mất trí nhớ, tâm trí sẽ bị mờ ám và ngu đần. Các bậc cha mẹ với tâm từ luôn luôn muốn dạy dỗ cho con cái của họ những điều lợi ích. Đó là lý do tại sao, cha mẹ là những vị thầy đầu tiên và tốt nhất. Khi các bậc cha mẹ có khả năng dạy cho con cái của họ những điều tốt, chúng sẽ trở nên được hạnh phúc và thịnh vượng. Nếu các bậc cha mẹ không thể dạy được con cái của mình, dạy được rất ít hoặc rất hiếm khi chỉ bảo cho con cái của họ, chúng sẽ phá hỏng tất cả những điều đáng tôn kính. Mặc dù chưa gặp được cha mẹ của một người nào đó, nhưng chỉ cần nhìn người này thì ngườ ta cũng có thể biết được cha mẹ của anh ta là những người như thế nào, họ có văn hoá hay không, cha mẹ của người này có phải là những Phật tử thuần thành có truyền thống và văn hoá lâu đời hay không… Các bậc cha mẹ thường dạy dỗ con cái của họ khi chúng còn thơ ấu. Vì vậy đến khi lớn lên, dù có ở bất cứ nơi đâu, chúng cũng sẽ không bao giờ quên những lời dạy của những bậc sinh thành. Đó là lý do tại sao, công ơn của cha mẹ là thật sự vĩ đại.

Cha mẹ là bậc đáng tôn kính nhất

Đối với con cái, cha mẹ là bậc sở hữu những đức hạnh đáng tôn kính

( Ahuneya – worthy for reverence) như những phẩm chất cao quí của Tăng Già. Đó là lý do tại sao, cha mẹ là bậc đáng tôn kính nhất. Khi một người mẹ đang bị đau ốm, thì người con trai của bà phải có khả năng chăm sóc cho mẹ mình bằng cách tổng quất, tắm rửa, lo việc thuốc thang, giặt giũ quần áo, chuẩn bị các loại vật thực giàu dinh dưỡng để đút cho mẹ mình ăn. Anh ta phải có khả năng chăm sóc cho mẹ mình một cách chu đáo, đồng thời phải biết cách thể hiện sự tôn kính. Khi một người cha bị bệnh thì con gái của ông phải có khả năng chăm sóc cho cha mình bằng cách tổng quất, vệ sinh thân thể, sức dầu thơm, lo việc thuốc thang, giặt giũ áo quần, chuẩn bị các loại vật thực giàu dinh dưỡng và đút cho cha mình ăn. Cô ta phải có khả năng chăm sóc cha mình một cách chu đáo, đồng thời phải biết cách thể hiện sự tôn kính. Vì vậy, theo lẽ tự nhiên, con cái phải biết cách chăm sóc và thể hiện sự tôn kính đối với cha mẹ khi họ đang đau ốm hay khi đã già yếu. Cha mẹ là những người có 4 phẩm hạnh cao quí giống như những vị Trời Phạm Thiên, bao gồm : Tâm từ, tâm bi, tâm hỷtâm xả. Họ luôn luôn hướng những phẩm hạnh cao quí này đến với con cái của họ.

Các bậc cha mẹ thường dạy cho con cái của họ những điều tốt đẹp nhất khi chúng còn ấu thơ. Cha mẹ là những người có đức hạnh bậc nhất đối với con cái của họ, đồng thời họ cũng là những người thầy đầu tiên của chúng. Cha mẹ cũng là những người có đức hạnh đáng tôn kính. Họ sở hữu 3 nhân tố giống như những phẩm hạnh cao quí của các vị Trời Phạm Thiên. Vì vậy, những người làm con cái không thể nào đền đáp hết công ơn của cha mẹ. Công ơn của cha mẹ thật sự là bao la rộng lớn như trời biển.

Tóm tắt: Cha mẹ giống như Trời Phạm Thiên, là những người thầy đầu tiên và đáng tôn kính nhất. Công ơn của cha mẹ là cực kỳ to lớn, không thể đền đáp hết được.           

 

                   Bốn Chân Lý Cao Thượng

 

Trong những lời giáo huấn của Đức Phật, Giáo Lý Tứ Diệu Đế ( Cattāri Ariyasaccani  – Four noble truths ‘ s Catechism) là nền tảng căn bản nhất. Trong suốt 45 năm hoằng Pháp cứu độ chúng sanh, Đức Phật đã thuyết giảng tất cả là 84 ngàn Pháp môn tu học ( Dhammakhandas – Academic discipline in Buddhism ‘s Catechism ), còn gọi là Tam Tạng Kinh Điển

( Tipitaka Dhamma – Three Baskets’s Bible ). Tứ Diệu Đế hay Bốn Chân Lý Cao Thượng là một trong 84 ngàn Pháp môn tu học mà Tam Tạng Kinh Điển chứa đựng. Tuy nhiên, giáo lý này cũng đã bao hàm tất cả những lời dạy của Đức Phật như là những nền tảng căn bản. Đó là lý do tại sao, tất cả mọi người Phật tử cần phải biết và hiểu về Tứ Diệu Đế. Khi đã thực sự hiểu hết ý nghĩa của Tứ Diệu Đế, bạn sẽ đạt tới Niết Bàn đúng như đã mong muốn mỗi khi thực hiện những hành động phước thiện.

 ( Mijjhima Pannasa tthi 41- Trung Bộ kinhKinh Cây mít – trang 41)

 Tứ Diệu Đế hay Bốn Chân Lý Cao Thượng gồm có :

1. Dukkha – Sacca  =   Sự thật về khổ đau

2. Samudàya – Sacca = Sự thật về nguyên nhân dẫn đến khổ đau

3. Nirodha – Sacca =   Sự thật về trạng thái chấm dứt khổ đau

4. Magga- Sacca = Sự thật về con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau

  Có 4 cách để hiểu biết về Tứ Diệu Đế, đó là :

1. Hiểu biết bằng Văn Tuệ ( Sutamaya Ñāna)

2. Hiểu biết bằng Trí Tuệ ( Cintāmaya Ñāna)

3. Hiểu biết bằng Thiền Tuệ ( Bhāvanāmaya Ñāna)

4. Hiểu bằng Đạo Tuệ ( Magga Ñāna) hay con đường trí tuệ chân chánh của các bậc đã giác ngộ.  

 1. Hiểu biết Tứ Diệu Đế bằng Văn Tuệ ( Sutamaya Ñāna) :

 Tức sự hiểu biết bằng cách lắng nghe cha mẹ hay các vị thầy thuyết giảng về Phật Pháp, đọc và hiểu các Kinh Điển Phật Giáo nói về Tứ Diệu Đế. Đó là cách hiểu Tứ Diệu Đế bằng Văn Tuệ.

  2.  Hiểu biết Tứ Diệu Đế bằng Trí Tuệ( Cintāmaya Ñāna) :

 Sau khi đã có sự hiểu biết về Tứ Diệu Đế bằng Văn Tuệ, bạn xử dụng tư duy luận lý của mình để suy luận và tìm ra chân lý về sự khổ ( Dukkha Sacca – The truth of Suffering). Bởi vì sự khổ đau luôn luôn có nguyên nhân của nó ( Samudaya Sacca – The Cause of Suffering). Kể từ khi có chân lý hay sự thật về khổ đau ( Dukkhà Sacca – The Truth of Suffering)  thì từ đó đã có chân lý về trạng thái chấm dứt của khổ đau ( Nirodha Sacca – The Truth of the Cessation of Suffering. Tức là Niết Bàn – Nibbāna vậy). Kể từ khi có chân lý về trạng thái chấm dứt của khổ đau, từ đó sẽ có chân lý về con đường dẫn đến trạng thái chấm dứt của khổ đau ( Magga Sacca – The Truth of the way leading to the Cessation of Suffering. Con đường chính là Bát Chánh Đạo - Ariyamaggani). Đây là sự hiểu biết về Tứ Diệu Đế bằng Trí Tuệ.

  3. Hiểu biết Tứ Diệu Đế bằng Thiền Tuệ( Bhāvanāmaya Ñāna)

  Những hành giả thực hành thiền minh sát bằng cách chú ý vào những hiện tượng để thấy được bản chất của DanhSắc ( tức tinh thầnvật chất - NāmaRūpa – Spirits and matter) mỗi khi chúng đang khởi lên. Người ta thực hành thiền minh sát để phát triển chân lý về con đường dẫn đến trạng thái chấm dứt của khổ đau ( Magga Sacca). Từ đó, họ sẽ nhận thức được một cách rõ ràng sự thật về khổ đau ( Dukha Sacca), loại trừ được những nguyên nhân của khổ đau ( Samudaya Sacca) và đạt tới chân lý về trạng thái chấm dứt của khổ đau hay Niết Bàn ( Nirodha Sacca hay Nibbāna ).Vì vậy, có được sự hiểu biết về Tứ Diệu Đế bằng cách thực hành thiền được gọi là Thiền tuệ ( Bhāvanāmaya Ñāna).

Tóm tắtChú ý vào một hiện tượng nào đó khi nó đang khởi lên thì chắc chắn sẽ hiểu được Tứ Diệu Đế. Phát triển, nhận thức rõ ràng, loại trừ và đạt tới giải thoát.

 Bằng cách chú ý đúng đắn và chính xác vào tiến trình đang khởi lên của các hiện tượng thuộc về thân xác và tinh thần của chính mình, bạn sẽ có khả năng hiểu được Tứ Diệu Đế một cách ngay lập tức, khi sự chú ý để nhận thức của bạn đã thật sự hoàn hảo. Tứ Diệu Đế sẽ trở nên rất dễ hiểu bằng cách chú ý vào tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng. Khi năng lực chú ý đã phát triển, bạn cũng có thể hiểu Tứ Diệu Đế bằng cách quan sát các tiến trình đang đi tới, đi lui, đang đứng lên, đang ngồi xuống, khi đang xúc chạm vào một cái gì đó… Bát Chánh Đạo ( Ariya maggani – Eightfold Noble Path) được xử dụng để gia tăng năng lực chú ý. Bát-Chánh- Đạo bao gồm : 3 cách giữ Giới thuộc về thân, khẩu, ý (Sīla Magganga), 3 cách thức định tâm ( Samādhi Magganga) và 2 cách thức phát triển trí tuệ ( Paññā Magganga). Nếu thực hành Bát Chánh Đạo, điều này có nghĩa là bạn đang phát triển chân lý về con đường dẫn đến trạng thái chấm dứt của khổ đau ( Magga Sacca). Vì vậy, 3 cách thức giữ Giới thuộc về thân, khẩu, ý được bao hàm trong Bát Chánh Đạo.

 Ba cách thức giữ Giới( Sīla Magganga):

Khi thực hành thiền minh sát, điều quan trọng trước hết là bạn phải biết giữ Giới một cách nghiêm túc. Ở đây, những Giới cần phải giữ gìn là :

a. Kiêng cữ 4 hành động bất thiện thuộc về lời nói ( nói dối, nói lời bất hoà chia rẽ, nói lời cay nghiệt và hăm dọa, nói lời ngu xuẩn, nhảm nhí và vô nghĩa – Sammāvāsā Magganga).

b. Kiêng cữ 3 hành động bất thiện thuộc về thân xác ( sát sanh, trộm cắp, tà dâm – Sammākammanta).

c. Khi đã kiêng cữ được 3 hành động bất thiện thuộc về tâm ý( Âm mưu chiếm đoạt tài sản của người khác một cách bất hợp pháp, tâm ý nhỏ nhen và đố kỵ muốn hãm hại người khác, có quan kiến lầm lạc về bản chất của cuộc sống). Thật ra, khi đã kiêng cữ được 3 hành động bất thiện thuộc về lời nói và 3 hành động bất thiện thuộc về thân xác thì bạn đã đạt tới Chánh mạng ( Sammā ajiva – Right Livelihood). Đến lúc này, bạn đã hoàn thiện được 3 cách thức giữ Giới và làm cho tâm trí của mình được tinh khiết một cách đặc biệt. Sự hoàn thiện của 3 cách thức giữ Giới chỉ bị phá vỡ khi bạn có những hành động bất thiện thuộc về thân xác hoặc lời nói. Tuy nhiên, khi bạn đang thực hành thiền một cách liên tục thì những hành động bất thiện thuộc về thân xác và lời nói không thể nào phá vỡ được năng lực của tinh thần. Vì vậy, 3 cách thức giữ Giới càng được gia tăng trong quá trình thực hành thiền minh sát.

 Ba cách thức định tâm( Samādhi Magganga)

Khi muốn gia tăng năng lực chú ý, bạn phải có khả năng chú ý vào những hiện tượng đang khởi lên trong thân tâm mình một cách tinh tấn và dũng mãnh. Năng lực này được gọi là Sammā Vāyama Magganga ( Chi Đạo Chánh tinh tấn – Right effort) . Khi các hiện tượng đang khởi lên , bạn phải biết tập trung sự chú ý vào chúng càng sớm càng tốt, chứ không phải suy nghĩ vẩn vơ và để tâm lang thang vô định . Đây chính là năng lực được gọi là Sammā Sati Magganga ( Chi Đạo Chánh niệm hay sự chú ý đúng đắn  – Right Mindfulness). Trạng thái tập trung tâm ý liên tục bắt đầu từ lúc các hiện tượng vừa mới khởi lên cho đến khi đã chấm dứt và tan biến đi được gọi là Sammā Samādhi Magganga ( Chi Đạo Chánh Định – Right Concentration). Vì vậy, 3 cách thức định tâm ( Samādhi Magganga) đã được bao hàm trong thiền Minh sát.

Hai cách thức phát triển trí tuệ

Khi muốn gia tăng năng lực chú ý, bạn phải tập trung sự chú ý một cách trực tiếp, liên tục, chính xác và tích cực lên các hiện tượng đang xảy ra trong thân tâm mình. Năng lực này được gọi là Sammā Sankappa Magganga ( Chi Đạo Chánh Tư duy hay suy nghĩ và ước muốn đúng đắn – Right Thought). Các hiện tượng đang khởi lên trong thân tâm của bạn là tách biệt và khác với trạng thái chú ý để nhận biết của tâm trí, chúng thuộc về sắc Pháp ( tức vật chất – Rūpa - Matter) Vì vậy, chúng không hề có sự nhận thức. Trạng thái chú ý để nhận biết của tâm trí là tách biệt và khác với những hiện tượng đang khởi lên trong thân tâm của bạn. Trạng thái này không ăn nhập gì với các hiện tượng này cả. Trạng thái chú ý để nhận biết của tâm trí thuộc về danh Pháp ( tức tinh thần – Nāma – Spirits). Vì vậy, nó có sự nhận thức. Sự hiểu biết được rằng, danh phápsắc pháp là 2 thành phần tách biệt và khác nhau được gọi là có Sammā Diţţhi Magganga ( Chi Đạo Chánh Kiến hay sự hiểu biết đúng đắn - Right understanding ). Vì vậy, hai cách thức phát triển trí tuệ đãđược bao hàm trong tiến trình thực hành thiền Minh sát.

Nhận biết sự thật về khổ đau

 Các hiện tượng khởi lên trong thân tâm thuộc về sắc pháp. Chúng không thể nhận biết được điều gì cả. Vì vậy, sắc Pháp ( Rūpa) là khổ. Trạng thái chú ý của tâm trí là có sự nhận thức vì nó thuộc về danh pháp ( Nāma). Trạng thái này đã biết được rằng sắc pháp là khổ. Vì vậy, danh pháp

( Nāma) cũng là khổ. Đây là một sự hiểu biết đúng đắn. Khi thực hành thiền minh sát, bạn sẽ nhận thức được trạng thái đau khổ của thân xác một cách mạnh mẽ và toàn diện ( tức Samasana Ñāna- Kiến thức lãnh hội).

Vì vậy, chúng ta biết được rằng, chân lý về sự khổ đau là một sự thật hiển nhiên, bởi vì đã có thân xác cho nên chúng ta phải đau khổ.

  Loại bỏ những nguyên nhân gây ra khổ đau

Khi thực hành sự tập trung chú ý, bạn sẽ loại bỏ được những nguyên nhân gây nên khổ đau. Chúng ta đã biết rằng ham muốn là nguyên nhân dẫn đến tham ái hay khao khát ( Tanhā – Craving). Tuy nhiên, khi ham muốn đã bị loại bỏ thì khao khát sẽ không có cơ hội để xuất hiện, bởi vì nguyên nhân dẫn đến khao khát đã bị triệt tiêu.

               Gặt hái chân lý về trạng thái chấm dứt của khổ đau

Khi khao khát vừa khởi lên, bạn liền chú ý tích cực lên nó. Nhờ vậy, nó không có cơ hội để xuất hiện và sẽ bị tiêu hủy. Bởi vì khao khát đã bị tiêu tan, nên tâm quyến luyến bám víu ( tức tâm chấp thủ - Upādāna- Attachment ‘s mind) cũng sẽ bị tan biến theo. Khi tâm chấp thủ đã bị triệt tiêu thì nghiệp sẽ không được tạo thành. Vì vậy, nghiệp ( Kamma – Action) coi như cũng đã tiêu tan luôn. Bởi vì nghiệp đã không còn hiện hữu, nên sựu sanh cũng sẽ chấm dứt. Khi sự sanh đã chấm dứt thì tất cả mọi sự khác như đầu thai, tuổi già, bệnh tật và cái chết cũng đã chấm dứt theo. Vì vậy, bạn sẽ gặt hái được chân lý về trạng thái chấm dứt của khổ đau một cách ngay tức thì. Bằng cách thực hành thiền minh sát, bạn sẽ có được sự hiểu biết về Tứ Diệu Đế một cách ngay lập tức. Trên một phương diện khác, đang khi nằm xuống, ngồi, sờ mó xúc chạm, nhảy lên…người thực hành thiền minh sát cũng có thể hiểu biết được Tứ Diệu Đế một cách ngay lập tức. Vì vậy, sự hiểu biết về Tứ Diệu Đế bằng cách thực hành thiền minh sát được gọi là Thiền Tuệ.      

4. Cách nhận thức đặc biệt về Tứ Diệu Đế bằng Đạo Tuệ :

Khi tuệ minh sát trong bạn đã  trở nên mạnh mẽ hay chín muồi, lúc đó bạn sẽ gặt hái được tuệ thích nghi ( Anuloma Ñāna – Adaptation ‘s brainpower. Còn gọi là tuệ thuận thứ) để nhập vào Đạo Quả. Tiếp đến, bạn sẽ gặt hái được tuệ vượt ranh ( Còn gọi là tuệ chuyển tánh - Gotrabhu Ñāna- Escape from the limit ‘s Brainpower) và cắt đứt quan hệ với đồng loại trên phương diện tâm thức. Nói cách khác, khi đã gặt hái được tuệ vượt ranh, bạn đãcó một năng lực hiểu biết vượt ra ngoài phạm vi nhận thức của người phàm tục. Sau đó, bạn sẽ đạt tới con đường hiểu biết của một Tu-Đà-Hườn ( tức trí tuệ của Thánh nhân – Sotāpatti Magga Ñāna – Brainpower of the Saint). Theo sự tường thuật lại của những hành giả thực hành thiền minh sát đã đạt tới tuệ vượt ranh, lúc đó sự chú ý của họ đã trở nên cực tốt một cách đặc biệt như thể họ đang vượt qua một biên giới và đạt tới một trạng thái tâm cực kỳ  bình yên. Sau đó, những đối tượng của giác quan cùng với sự chú ý đã dừng lại và họ không còn biết gì nữa, chính xác là như vậy. Sự vượt qua biên giới tâm thức giữa người phàm tục và các bậc thánh nhân để đi vào một trạng thái tâm bình yên nghĩa là người thực hành thiền minh sát đã gặt hái được tuệ vượt ranh. Những đối tượng của giác quan cùng với sự chú ý đã dừng lại nghĩa là người thực hành thiền minh sát đã đạt tới chân lý về trạng thái chấm dứt của khổ đau ( Nirodha sacca), gặt hái Đạo TuệNiết Bàn bình yên. Một khi đã nhận thức được Niết Bàn cao thượng ( tức Nirodha Sacca) bằng Đạo Tuệ, bạn nhận thức được rằng, thế giới của danh pháp và sắc pháp mà chúng ta đang cố nắm giữ thật sự chỉ là những hiện tượng nhất thời. Những hiện tượng này đã khởi lên và rồi sẽ tan biến đi một cách cực kỳ nhanh chóng, có thể nói là trong từng khoảnh khắc. Vì vậy, danh phápsắc pháp chính là khổ đau. Từ đó, bạn sẽ nhận thức được chân lý về sự khổ đau. Khi đã biết sự thật về khổ đau, bạn sẽ loại bỏ được những nguyên nhân thật sự đã gây ra khổ đau ( Samudaya Sacca). Trong khoảnh khắc đang lãnh hội Đạo Tuệ ( Magga Ñāna), bạn cũng đồng thời gặt hái luôn Tứ Diệu Đế. Vì vậy, chân lý về con đường dẫn đến trạng thái chấm dứt của khổ đau ( Magga Sacca) đã phát triển một cách hoàn thiện. Trạng thái nhận thức vừa nói trên được gọi là cách nhận thức đặc biệt về Tứ Diệu Đế bằng Đạo Tuệ.  Khi đã nhận thức được Niết Bàn bình yên hay đã có Đạo Tuệ bằng con đường hiểu biết của một Tu-Đà-Hườn, bạn sẽ không bao giờ còn bị tái sanh vào địa ngục với những trạng thái thống khổ phiền muộn. Bạn sẽ phải sống tối đa là thêm 7 kiếp nữa trong luân hồi, kể từ khi đã gặt hái được Đạo Tuệ. Sau đó, bạn sẽ đạt tới Niết Bàn Cao Thượng. Đó là lý do tại sao, để có được cách nhận thức đặc biệt về Tứ Diệu Đế bằng Đạo Tuệ, bạn cần phải thực hành thiền minh sát để gặt hái được Đạo Tuệ ( Magga Ñāna).

 

              Ba thông điệp từ thế giới của Chư Thiên

 

Những người Phật tử trong thế giới của loài người thừa biết rằng có thế giới của Chư-Thiên và Phạm-Thiên ở phía trên cao. Thế giới của Chư Thiên và Phạm Thiên cũng giống như thế giới của loài người.Những chúng sanh được sinh ra trong thế giới của loài người, Chư Thiên và Phạm Thiên đều là những người có nhiều nghiệp thiện lành ( Kusala kamma). Những người bị sinh ra trong 4 cảnh giới sầu muộn thống khổ ( Catu Apāya – bao gồm súc sanh, ma quỷ, A-tu-la và địa ngục) là những người có nhiều nghiệp bất thiện. Vì biết như vậy, mọi người đều cố gắng hết khả năng để có được thật nhiều thiện nghiệp chừng nào thì tốt chừng đó. Những người Phật tử thuần thành thường được tái sanh vào thế giới cao thượng của Chư Thiên và Phạm Thiên. Tuy nhiên, cũng có những người Phật tử bị tái sanh vào 4 cảnh giới khổ đau phiền muộn. Những người sống tại cõi Chư-Thiên sẽ có được những điều kiện sống cực kỳ sung sướng và  hạnh phúc. Vì vậy, chúng ta đừng quên thực hiện những hành động phước thiện. Những người sống trong 4 cảnh giới sầu muộn thống khổ phải luôn luôn chạm trán với nhiều điều bất như ý, bởi vì tất cả những gì họ có đều là nghèo khó và cùng cực. Vì vậy, những người sống ở đó không thể thực hiện được bất cứ một hành động phước thiện nào cả. Họ còn lâu mới có cơ hội để thực hiện được những hành động này. Chỉ khi được tái sanh vào thế giới của loài người thì họ mới có thể thực hiện được điều đó. Thế giới của loài người là một nơi chốn tốt đẹp nhất để tích luỹ phước báu. Những vị Phật Toàn Giác, Phật Độc Giác và A-La-Hán đã đạt tới Niết Bàn, bởi vì trong quá khứ khi còn làm người, họ đã thực hiện trọn vẹn các hạnh Ba-La-Mật và đã tích luỹ được rất nhiều phước báu. Đức hạnh của Chư-Thiên và các vị Thánh cũng phát xuất từ việc biết tôn trọng và thực hiện các hành động phước thiện, khi họ đang còn làm người. Khi một vị Chư-Thiên hay một vị Thánh qua đời thì những vị Chư Thiên khác thường khuyên họ hãy đầu thai vào thế giới tốt đẹp của loài người. Trước khi qua đời, các vị Trời thường thấy những dấu hiệu báo trước sau đây :

1. Những bông hoa mà họ kết trên người tự nhiên bị khô héo

2. Áo quần mà họ đang mặc tự nhiên bị nhạt màu

3. Họ bị đổ mồ hôi trong nách và trên toàn thân

4. Diện mạo xinh đẹp của họ sẽ tàn phai và trở nên xấu xí

5. Tự nhiên họ cảm thấy khó ở

 Khi một vị Trời nào đó thấy 5 dấu hiệu này thì những vị Trời đức hạnh khác sẽ gửi cho họ 3 thông điệp hân hoan tốt lành sau đây :

a. Hãy đi đến cõi người tốt lành và cao quí.

b. Khi bạn đã đến cõi người thì hãy cố gắng mang về cõi Trời niềm tin vào Giáo Pháp của Đức Phật Thích Ca.

c. Bạn nên làm cho niềm tin ấy ngày càng trở nên trong sáng và vững chãi hơn. Vì tôn kính cõi người, các vị Trời đã đưa ra 3 thông điệp tốt lành này

                                                                           ( Itivatta – Pa 247).

Những người Phật tử cũng phải đến cõi Trời nhiều lần. Khi đang ở cõi trời, lúc gần chết, họ sẽ nghe thấy tiếng nói của Chư Thiên rằng : “ Hãy đi đến cõi người tốt lành và cao quí khi bạn có thể làm như vậy, hãy cố gắng mang về cõi trời niềm tin vào Giáo Pháp của Đức Phật Thích Ca, hãy làm cho niềm tin ấy ngày càng trở nên trong sáng và vững chãi hơn”. Đây là 3 thông điệp từ thế giới của Chư Thiên mà mỗi người trong chúng ta chắc hẳn ai cũng có ít nhất là một lần được nghe. Tuy nhiên, vì phải trải qua nhiều kiếp sống đó đây, chúng ta đã quên những thông điệp này. Đức Phật đã từng thuyết Pháp về 3 thông điệp từ thế giới của Chư Thiên. Bởi vì trong quá khứ xa xưa, đã có một hội đồng gồm 6 vị Phật đã từng nghe thấy 3 thông điệp này. Nhờ vậy, mãi cho đến bây giờ chúng ta vẫn còn được nghe người ta nói đến chúng. Theo đúng như thông điệp đầu tiên, “ hãy đi đến cõi người cao quí và tốt lành”. Chúng ta có thể thấy rằng, hiện bây giờ chúng ta đang ở tại cõi người. Vì vậy, bạn cần phải thực hành thông điệp thứ hai và thứ ba. Thông điệp thứ hai là “ hãy cố gắng mang niềm tin vào Đức Phật Thích-Ca về đến cõi trời”. Niềm tin trong ngôn ngữ Pāli được gọi là “ Saddhā”, tiếng Miến Điện thì gọi là “ Yonekyi”. Vì vậy, bạn nên có niềm tin vào Phật, Pháp, Tăng, Nghiệp và kết quả của Nghiệp. Nếu có niềm tin này một cách vững chãi, tâm trí của bạn sẽ trở nên tinh khiết khi đảnh lễ Tam Bảo, thực hiện các hành động phước thiện và hồi hướng các nghiệp thiện lành. Khi những người Phật tử mộ Đạo có niềm tin vào Phật, Pháp, Tăng, Nghiệp và kết quả của Nghiệp, nghĩa là họ đã hoàn thiện được thông điệp thứ hai từ thế giới của Chư Thiên. Thông điệp thứ ba là

Hãy làm cho niềm tin ấy ngày càng trở nên trong sáng và vững chãi hơn”. Khi đã có niềm trong sáng và vững chãi thì không có ai có thể làm gì tổn hại đến bạn.Vì vậy, bạn nên cố gắng gặt hái cho được loại niềm tin đó.

Có một lần, khi Đức Phật đang trú tại Tuntadhāna, một vùng quê tại Ấn Độ. Lúc đó, một bổn đạo của Tôn giả Mục-Kiền-Liên đã cung thỉnh Đức Phật và Tăng Già vào ngày mai hãy đến nhà của ông để Trai Tăng. Sau đó, mẹ của Tôn Giả Sīvali ( công chúa Suppavāsa) cũng đã nói với chồng bà hãy đến cung thỉnh Đức Phật về Trai Tăng tại nhà của ông bà trong 7 ngày để mừng lễ cẩm tháng của Ngài Sīvali. Lúc đó, Đức Phật đã nhận thức được rằng sẽ có thêm một sự lợi ích nữa cho Tăng Đoàn. Vì vậy, Ngài đã chấp lời cung thỉnh của công chúa Suppavāsa ( mẹ của Tôn giả Sīvali) trước. Do đó, Đức Phật đã phái Tôn giả Mục-Kiền-Liên đến nói với vị bổn đạo của Ngài hãy hoãn lễ Trai Tăng của ông ta lại thêm 7 ngày nữa, đợi đến ngày thứ 8 thì ông ta có thể thực hiện việc cúng dường của mình. Tuân theo lời chỉ dẫn của Đức Phật, Tôn Giả Mục-Kiền-Liên đã đến gặp vị bổn đạo của Ngài và nói lại với ông ta y như lời Đức Phật đã nói. Sau đó, vị thí chủ của Tôn Giả Mục-Kiền-Liên đã trả lời với Ngài rằng :   “Bạch Đại Đức ! Tôi sẽ chấp nhận lời yêu cầu của Ngài nếu Ngài có thể bảo đảm cho mạng sống, của cải và niềm tin của tôi không bị phá huỷ cho đến ngày tôi có thể thực hiện việc cúng dường. Nếu Ngài không thể làm như vậy thì tôi sẽ không thể chấp nhận lời yêu cầu của Ngài được”. Tôn Giả Mục-Kiền-Liên đã trả lời rằng, Ngài có thể bảo đảm cho mạng sống và tài sản của vị thí chủ nọ sẽ không bị phá huỷ cho đến ngày ông ta thực hiện việc cúng dường. Tuy nhiên, Ngài  không thể bảo đảm cho niềm tin của ông ta được. Mặc dù đã đạt được danh hiệu Etadagga ( danh hiệu cao quí nhất trong Tăng đoàn của Đức Phật. Người đã có danh hiệu này sẽ được ngồi ở hàng đầu khi nghe Đức Phật thuyết Pháp) và có nhiều năng lực thần thông siêu phàm. Tuy nhiên, Ngài Mục-Kiền-Liên cũng không thể bảo đảm được cho niềm tin của người khác sẽ không bị phá huỷ hay làm cho niềm tin của họ được vững chãi hơn. Vì vậy, chỉ có chính bạn mới có thể làm cho niềm tin của mình được vững chãi hơn. Ngoài ra, sẽ không có ai làm được điều đó. Niềm tin của bạn sẽ trở nên vững chắc nếu bạn thực hành thiền minh sát. Chỉ khi một cá nhân nào đó thực hành thiền minh sát, gặt hái được Đạo Quả trí tuệ và trở thành một Tu-Đà-Hườn thì niềm tin của người này mới thật sự được vững chãi. Trong cuộc sống này không có bất cứ một cái gì có thể phá huỷ được niềm tin của một Tu-Đà-Hườn. Trong những kiếp sống ở tương lai của vậy, niềm tin của một Tu-Đà-Hườn sẽ luôn luôn được vững chãi. Thông điệp thứ ba từ thế giới của Chư Thiên là “ hãy làm cho niềm tin ấy ngày càng trở nên trong sáng và vững chãi hơn”, điều này có nghĩa là “ hãy thực hành thiền minh sát haythiền tứ niệm xứ

( Satthipaţţhāna Vipassanā Bhāvanā) và trở thành một người cao quí như Tu-Đà-Hườn để niềm tin được mãi mãi trong sáng và vững chãi”.

Đó là lý do tại sao, tất cả những người Phật tử đang sống trong thế giới của loài người cần phải thực hành thiền minh sát, mỗi khi họ có thể để gặt hái được một niềm tin trong sáng và vững chãi. 

 

               

                 Những sự thật về ngày Đại Hội

 

Ngày trăng tròn của tháng jettha ( một tháng trong lịch Ấn Độ cổ đại, khoảng tháng 6 hay tháng 7 dương lịch -ND) đã được đánh dấu và xác định là Ngày Đại hội ( Mahāsamaya day ) lớn nhất của Tăng Đoàn qua các thời đại được ghi lại trong lịch sử Phật Giáo. Trong ngôn ngữ Pāli, mahā là một từ riêng lẻ có nghĩa là to lớn, vĩ đại  hay đám đông, Samaya là một từ khác có nghĩa là sự tập họp của con người, Chư Thiên hay Phạm Thiên. Vì vậy, Mahāsamaya có nghĩa là sự tập họp của một đám đông gồm có con người, Chư Thiên và Phạm Thiên. Tam Tạng Kinh Điển Pāli cũng nói rằng có một sự tập họp giống như thế. Khi câu chuyện về Ngày Đại Hội được kết tập lại thành Kinh điển thì nó được gọi là Mahāsamaya Suttanta. ( Vì vậy, Kinh Mahāsamaya có thể tạm dịch sang tiếng Việt hiện đại là Kinh Đại Hội – ND). Những người sống ở cõi Trời rất thích đọc tụng Kinh Đại hội ( Mahāsamaya Suttanta ).Vì vậy, người ta đã ra sức bảo vệ cho Kinh Đại Hội khỏi bị mai một hay mất mát và làm cho nó trở nên có nhiều lợi ích hơn. Đó là lý do tại sao, ngày xưa mỗi khi xây dựng một ngôi nhà hay một thị trấn mới, người ta thường đọc tụng Kinh Đại Hội trong lễ khánh thành. Kinh Đại Hội có nguồn gốc từ thời Đức Phật đang cư trú tại Đại Lâm- Mahāvanà ( một khu rừng to lớn nằm gần tỉnh Thích Ca- Sakya thuộc thành bang Ca Tỳ La Vệ- Kāpilavatthu) cùng với 500 vị Tỳ Kheo A-La-Hán. Vào lúc đó, Chư Thiên và Phạm Thiên từ 10 ngàn thế giới đã tập họp lại để đảnh lễ Đức Phật và các vị A-La-Hán. Năm trăm vị A-La-Hán đang cư trú cùng với Đức Phật tại Đại-Lâm trước đó là những thành viên của hoàng gia đã trở thành A-La-Hán khi tuổi đời của họ vẫn còn rất trẻ. Một điều thú vị là, những hoàng tử này trước đây là người của 2 vương quốc khác nhau và họ đã từng có chiến tranh với nhau để tranh giành quyền lực và kinh tế. Sau đó, họ đã làm hoà với nhau và trở thành những A-La-Hán.

 Những vị A-La-Hán không thù hằn và không kiêu hãnh

Năm trăm vị A-La-Hán hoàng gia này trước đó đã từng cư trú tại Ca-Tỳ-La-Vệ ( Kāpilavatthu) và Câu- Lị ( Koliya) thuộc tỉnh Sakka. Koliya là tên của một dòng họ có bà con với thị tộc Thích-Ca đồng thời cũng là tên của một thị trấn của tỉnh Sakka. Trong 500 vị A-La-Hán này, có 250 vị trước đó là những hoàng tử sống tại Ca-Tỳ-La-Vệ. Hai trăm năm mươi vị A-La-Hán còn lại trước đó là những hoàng tử sống tại Koliya. Biên giới  của Ca-Tỳ-La-Vệ và Câu-Lị tại thành bang Thích-Ca là một con sông nhỏ có tên là Rohini. Con sông này chỉ có một nguồn nước duy nhất, đầu sông có hình như cái chĩa hai và cuối sông thì có hình như cái đuôi con cá. Vì vậy, nó trở thành như 2 dòng suối nhỏ nằm 2  bên tả ngạn và hữu ngạn. Người ở Ca-Tỳ -La-Vệ lấy nước tại một trong 2  nhánh sông để tưới cho ruộng lúa và cây trồng . Người ở Câu-Lị cũng lấy nước tưới cho ruộng lúa và cây trồng của họ tại nhánh sông còn lại. Khi ngày trăng tròn của tháng Jettha đã đến, trời không có một giọt mưa. Nước trên sông Rohini chỉ còn lại rất ít. Vì vậy, lúc bấy giờ nước là một nhu cầu rất khan hiếm. Lúa trên những cánh đồng bắt đầu khô vì thiếu nước. Người ở 2 bên của dòng sông Rohini không có ai có thể lấy được nước tưới. Do đó, những người ở Câu-Lị đã thỉnh cầu những người ở Ca-Tỳ-La-Vệ rằng : “ Nếu chúng tôi có thể lấy được nước một lần thôi, cây trồng của chúng tôi sẽ tươi tốt, hãy đóng nguồn nước bên phía Ca-Tỳ-La-Vệ lại để cho chúng tôi lấy nước trước”.

Những người Ca-Tỳ-La-Vệ cũng nói : “ Cây trồng của chúng tôi sẽ tươi tốt nếu như chúng tôi có thể lấy được nước, dù chỉ một lần thôi, hãy để cho chúng tôi lấy trước”. Những người Câu-Lị đã từ chối. Sau đó, đã xảy ra tranh chấp, ẩu đả và lăng nhục lẫn nhau giữa các thành viên của hoàng gia. Những nông dân Câu-Lị đã lăng nhục các thành viên của hoàng gia Ca-Tỳ-La-Vệ rằng : “ Họ kiêu căng và ngạo mạn bởi vì họ là thành viên của hoàng gia. Thật ra, họ giống như những con chó và heo, giống như loài thú vật. Họ kết hôn với  những chị em gái của mình. Họ là đồ cặn bã thấp hèn”. Những nông dân Ca-Tỳ-La-Vệ cũng trả đũa lại rằng:  “ Những thành viên của hoàng gia Câu-Lị kiêu căng và ngạo mạn. Thật ra họ rỗng tếch và chẳng có giá trị gi cả. Họ chỉ là những con hủi sống nhờ vào sự giúp đỡ của người khác. Họ che dấu sự giả dối của chính mình dưới bóng những cây táo ( Kulaw – Jujube tree). Họ là hậu dụê của những người hủi”. Cứ như thế, người của 2 bên dòng họ Câu-Lị và thị tộc Thích Ca đã lăng nhục nhau một cách tàn nhẫn không thương xót. Khi nhà cầm quyền của 2 vương quốc được nhiều người khác tường thuật lại những từ ngữ lăng nhục phát xuất từ những nông dân nói trên. Họ đã điều động một số lượng lớn các chiến binh và dấy lên làn sóng chiến tranh. Đức Phật đã nhận thấy một cuộc chiến tranh có thể nổ ra giữa 2 dòng họ Thích Ca và Câu-Lị. Ngài liền đi đến thành Xá-Vệ ( Sāvatthi) và đứng trên bầu trời để chiếu ra những vầng hào quang lấp lánh vào ngay giữa chỗ quân đội của 2 vương quốc đang đứng. Những hoàng tử và các chiến binh đến từ Ca-Tỳ-La-Vệ đã nhìn thấy Đức Phật trên bầu trời và nói : “ Chúng ta không nên giết chóc và làm bị thương người khác trước mặt Đức Phật, nếu những người Câu-Lị muốn giết chóc và làm cho chúng ta bị thương thì hãy để cho họ làm theo ý muốn của họ”. Nói xong, những hoàng tử và các chiến binh Ca-Tỳ-La-Vệ đều đồng loạt hạ vũ khí. Họ quì xuống và đảnh lễ Đức Phật. Sau đó, những hoàng tử và các chiến binh Koliya cũng làm y như thế. Khi thấy vậy, Đức Phật đã hỏi các hoàng tử của 2 vương quốc rằng : “ Các ông đến đây để buôn bán cái gì vậy ?” Các hoàng tử đã trả lời : “ Chúng tôi đến đây không phải để buôn bán mà để chiến đấu”. Đức Phật lại hỏi : “ Vì sao các ông lại chiến đấu ?” Các hoàng tử lại trả lời : “ Bạch Giáo Chủ ! Nguyên nhân là do nguồn nước bị cạn kiệt”. Sau đó, Đức Phật đã giải thích rằng đất quan trọng hơn nước. Những hậu dụê của hoàng gia quan trọng hơn đất. Chỉ vì chuyện nước mà tiêu diệt những hậu dụê của hoàng gia là một việc không đáng làm”. Mối thù sinh ra từ một việc nhỏ nhặt đó đã được miêu tả rất sinh động trong Kinh Bổn Sanh ( Jataka Suttanta). Kinh này cũng mô tả những lời nói của những nông dân điên rồ vừa được nêu trong phẩm Pathavī Ondiya. Sự phá vỡ mối quan hệ bền chặt và lâu đời giữa dòng họ Câu-Lị và thị tộc Thích Ca cũng được mô tả trong Kinh Bổn Sanh ở phẩm Lodukika. Sau khi đã thuyết những câu chuyện Bổn Sanh này, Đức Phật đã thuyết Phẩm Gốc câyPhẩm phận sự cũng nằm trong Kinh Bổn Sanh,  nhằm chỉ ra lợi ích của việc hợp nhất 2 dòng họ Câu-Lị và Thích Ca. Sau đó, những thành viên của 2 hoàng gia đã nói với Đức Phật rằng, họ sẽ không tiến hành chiến tranh nữa, bởi vì chuyện đó sẽ dẫn đến đổ máu và phá vỡ mối quan hệ ruột thịt. Họ nói bây giờ họ đã thoát khỏi được sự nguy hiểm của chết chóc. Nếu Đức Phật không từ bỏ thế giới trần tục thì Ngài đã là một Đấng quân vương của các hoàng tử. Bây giờ, Ngài đã thành Phật thì các hoàng tử lại xem Ngài như là một Đấng Giáo Chủ. Vì vậy, 250 vị hoàng tử của Ca-Tỳ-La-Vệ và 250 vị hoàng tử của Câu-Lị đã cúi đầu xin qui y Đức Phật. Tiếp đến, Đức Phật lại nói : “ Lại đây các Tỳ Kheo !

( Ehi Bhikkhu !) để chấp nhận cho họ gia nhập vào Tăng Đoàn của Ngài. Tuy nhiên, sau đó 500 vị Tỳ Kheo đã nghe được tin rằng những gia đình của họ đã trở nên rất buồn bực và bất bình khi biết họ gia nhập vào Tăng Đoàn của Đức Phật. Khi Đức Phật biết được chuyện này, Ngài đã ca ngợi hồ Chim cu (Kunāla daha) tại Hy Mã Lạp Sơn ( Himavanta – Himalaya mountain ) là một nơi rất thú vị và yêu cầu 500 vị Tỳ Kheo hãy đi theo Ngài. Tiếp đến, bằng năng lực thần thông ( Abhinnā – Supernormal powers) phi thường, Đức Phật đã đưa họ bay ngang qua bầu trời. Khi đến hồ Chim cu, Đức Phật đã nói với 500 vị Tỳ Kheo rằng, bây giờ họ hãy hỏi Ngài bất cứ điều gì mà họ muốn biết. Năm trăm vị Tỳ Kheo đã hỏi Đức Phật về các loài cá, những loài thú và các loại cây cối mà trước đó họ chưa bao giờ được thấy. Sau đó, Đức Phật đã nói cho họ biết tên của những thứ mà họ đã hỏi Ngài. Khi Đức Phật đang trả lời những câu hỏi của 500 Tỳ Kheo thì có 2 con chim bay đến và mang theo một cây gậy. Hai con chim này dùng mỏ của chúng giữ chặt 2 đầu một cây gậy. Tiếp theo, một con chim chúa đã bay đến và đậu ngay giữa chiếc gậy. Những con chim khác đậu vây quanh bốn phía con chim chúa. Năm trăm vị Tỳ Kheo đã nhìn thấy được một cảnh tượng rất đẹp mắt. Các vị Tỳ Kheo đã nói rằng : “ Con chim đậu ở giữa chiếc gậy phải là con chim chúa và 2 con chim giữ 2 đầu gậy phải là thị giả của nó. Lúc đó, Đức Phật lại nói :  “ Hỡi các Tỳ Kheo ! Những gì mà các ông vừa nói là đúng chăng ? cách đây rất lâu trong luân hồi ( Samsāra – Rounds of births) chúng là những hậu dụê của ta”. Sau đó, các Tỳ Kheo đã thỉnh cầu Đức Phật : “ Bạch Giáo Chủ ! Chúng tôi mong muốn biết những kiếp sống ở quá khứ của Giáo Chủ khi hạnh Ba-La-Mật của Ngài hãy còn non nớt ? ”. Do đó, Đức Phật đã thuyết  Kunāla Jataka Sutta ( Kinh Bổn Sanh – Phẩm Chim Cu). Khi các vị Tỳ Kheo được nghe Kinh Kunāla Jataka, họ vô cùng thích thú, hoan hỷ và phấn khích. Vì hoan hỷ nên các Tỳ Kheo đã gặt hái được trạng thái tâm khinh an

( Passaddhi – Joy, tức trạng thái nhẹ nhàng trong thân tâm), sự điềm đạm và trầm tĩnh. Do hài lòng họ đã  gặt hái được năng lực định tâm. Do trạng thái định tâm vững chãi, họ đã gặt hái được kinh nghiệm nội quán

( Vipassanā Ñāna, tức tuệ minh sát) và nhận thức được danh - sắc ( Nāma - Rūpa), nhân quả, vô thường ( anicca), khổ ( dukkha) và vô ngã

( anatta). Khi tuệ minh sát ( Vipassanā Ñāna – Insightful Wisdom ) đã ở trong trạng thái chín muồi, 500 vị Tỳ Kheo đã trở thành Tu-Đà-Hườn, có năng lực thần thông và sự hiểu biết đặc biệt. Khi 500 vị Tỳ Kheo đã trở thành Tu-Đà-Hườn, Đức Phật bèn đưa họ trở về Đại-Lâm ( Mahāvana- Great Forest). Họ đã thực hiện một cuộc hành trình bay ngang qua bầu trời bằng năng lực thần thông của chính mình. Khi vừa về tới Đại-Lâm, Đức Phật đã truyền cho họ cách thực hành thiền minh sát để đạt tới 3 trạng thái Đạo Quả cao hơn ( tức Đạo quả Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm và A-La-Hán). Tiếp đến, mỗi vị Tỳ Kheo đã tự tìm cho mình một nơi yên tĩnh để thực hành thiền minh sát và trở thành những A-La-Hán. Sau đó một thời gian, những vị A-La-Hán này mong muốn trình Pháp với Đức Phật về Đạo Quả A-La-Hán và Pháp môn đặc biệt mà họ đã đạt được. Vào lúc đó, Đức Phật đã hoàn tất mùa an cư thứ tư, nhằm ngày trăng tròn của tháng Jettha năm 107 triều đại Mahā, mặt trăng sáng vằng vặc và quan cảnh tuyệt đẹp.Vào đêm trăng sáng đó, 500 vị A-La-Hán bây giờ đã hoàn toàn loại bỏ được những thứ ô nhiễm trong tâm và trở nên cực kỳ tinh khiết. Họ đã đảnh lễ Đức Phật – người đã có 6 phẩm chất huy hoàng và danh tiếng vĩ đại. Các vị thần ở gần Đại-Lâm đã nhìn thấy được cảnh tượng rực rỡ và vinh quang này. Họ đã nói với những vị thần khác : “ Tất cả hãy đến Đại-Lâm để đảnh lễ Đức Phật và lắng nghe thuyết Pháp. Hãy đảnh lễ Tăng-Già ( Sangha) để có những lợi ích lớn lao”. Vì vậy, các vị thần đã thể hiện sự tôn kính Đức Phật và 500 vị A-La-Hán. Khi nghe được tin về cuộc đại hội trên,  các Chư Thiên và Phạm Thiên từ 10 ngàn thế giới đã tập họp đông kín tại Đại-Lâm. Các Chư Thiên và Phạm Thiên đã biến đổi chính họ trở thành những sinh vật cực kỳ bé nhỏ. Gần nơi Đức Phật ngồi, cứ 10, 20 hay 30 Chư Thiên có thể trú trên bề ngang của một sợi tóc. Xa hơn một chút, cứ 60 vị Chư Thiên và Phạm Thiên tập trung lại và trú trên bề ngang của một sợi tóc. Sau đó, vô số các Chư Thiên và Phạm Thiên đã tiếp tục đổ dồn về Đại-Lâm. Đức Phật đã hỏi danh tánh và nơi ở của họ rồi Ngài bắt đầu thuyết Pháp. Tuỳ theo bản tánh và căn cơ của mỗi người, Đức Phật đã thuyết 6 bài Pháp mà ngày nay chúng ta gọi là Kinh Đại Hội ( Mahāsamaya Suttanta). Sáu bài Pháp đó là :

1. Sự khao khát – dành cho những Chư Thiên và Phạm Thiên có một đời sống tham đắm dục lạc ( rāga- carita). Đây là Kinh Sammāparibbājaniya.

2. Sự loạn tâm và hay thích gây gỗ - dành cho những Chư-Thiên và Phạm-Thiên có một đời sống sân hận. Đây là Kinh Kalahavivāda.

3. Sự huyễn hoá – dành cho những Chư-Thiên và Phạm-Thiên ngu si hay thích nghĩ đến những chuyện hão huyền không có thật. Đây chính là Kinh Mahābyuhā .

4. Quan niệm tư duy - trang bị cho các Chư-Thiên và Phạm-Thiên một đời sống suy tưởng ( Vittakka – carita) đúng đắn. Chúng ta gọi đó là Kinh Culabyuha .

5. Niểm tin – trang bị cho các Chư-Thiên và Phạm-Thiên một đời sống đức tin ( Saddhā – carita) đúng đắn. Đây chính là Kinh Tuvataka .

6. Có được trí tuệ - trang bị cho các Chư -Thiên và Phạm -Thiên một đời sống trí tuệ ( Buddhi carita). Đây chính là Kinh Purabeda.

                                                 ( Mahāvagga -  Đại Phẩm- ttha 266 )

 Khi Đức Phật vừa thuyết xong Kinh Đại Hội , 100 tỷ Chư-Thiên và Phạm-Thiên đã trở thành A-La-Hán. Nhiều người khác không thể đếm xuể đã trở thành Tu-Đà-Hườn ( Sotàpanna – Stream Winner), Tư-Đà-Hàm

( Sakadāgāmi – Once Returner), và A-Na-Hàm ( Anāgāmi – Non Returner). Bởi vì Kinh Đại Hội mang lại nhiều lợi ích to lớn cho các Chư- Thiên và Phạm-Thiên, nên họ đã ra sức bảo vệ và rất thích đọc tụng Kinh này. Kinh Đại Hội ( Mahāsayama Suttanta) có thể khiến cho tất cả muôn loài chúng sanh thoát được hiểm nguy, được chúc phúc, được bình yên và thịnh vượng.

 

 Nếu có Nibanddhā thì sẽ không bị đọa xuống địa ngục

 

Tất cả những người Phật tử đều có sự sợ hãi ghê gớm khi phải tái sanh vào địa ngục luân hồi ( Niraya Samsāra – Hell in the Rounds of births) với những trạng thái sầu muộn thống khổ ( Āpaya - Woeful state). Họ thừa biết rằng, mỗi khi đã bị đọa xuống địa ngục thì rất khó để trở lại thế giới của loài người và Chư Thiên. Đó là lý do tại sao, những người Phật tử thường mong muốn  thực hiện các hành động phước thiện càng nhiều càng tốt để có thể thoát khỏi địa ngục luân hồi. Các bậc thầy chú giải Kinh Điển biết được rằng, Đức Phật đã từng mong muốn chỉ ra cho chúng ta hiểu được thế nào là phước báu của một Tu-Đà-Hườn. Người ta sẽ gặt hái được loại phước báu này khi liên tục thực hiện những hành động thiện lành

( Nibanddhā Kusala – continuously good actions). Những Tu-Đà-Hườn sẽ không bao giờ bị đọa xuống địa ngục. Nibanddhā Kusala bao gồm 7 kiểu bố thí ( Danà) :

1. Tinisaranāni –  Nương tựa nơi Tam Bảo – Tiratanà

2. Pancasīlani -   Giữ gìn 5 Giới

3. Sālakabhattam – Cúng dường nhiều thứ vật thực ,vật dụng

4. Pakkhikabhattam – Cúng dường mỗi  tháng 2 lần vào ngày trăng non đầu tháng ( mồng 1 hàng tháng âm lịch) và ngày trăng tròn giữa tháng ( ngày 15 hàng tháng âm lịch).

5. Vassamvasikam – Dâng Y vào tháng Assayuja

6. Pokkharani  -  Cúng dường các loại chậu, bể và hồ chứa nước uống

7. Āvàsikan – Cúng dường các tu viện hay tịnh xá

                                                                                  ( Atth 3 / 266)  

 

 1. Nương tựa nơi Tam Bảo

  Trong câu nói “ Bằng cách nương tựa nơi Tam Bảo,quí vị sẽ gặt hái được nghiệp thiện lành liên tục như một Tu-đà-hườn”. Câu nói này không có nghĩa là bạn chỉ cần cầu nguyện suông bằng lời nói một cách hình thức, mà phải thực hiện sự nương tựa vào Tam Bảo bằng một niềm tin viên mãn, vững chãi và tôn kính. Khi bạn nói rằng : “ Tôi thực hiện sự nương tựa nơi Tam Bảo” tức là bạn phải mang tâm chấp nhận tất cả những tình huống bất lợi trong thế giới này, cũng như có thể hoá giải được những tình huống bất lợi đó để chúng trở thành những điều thuận lợi cho chính bạn một cách ngay lập tức. Nếu có thể làm được như thế thì đó là một phúc lành lớn lao cho bạn. Đức Phật là Đấng vô song và cao thượng nhất. Bằng cách nương tựa vào Đức Phật, bạn có thể thoát khỏi tất cả những loại khổ đau. Đây là điều mà bạn cần nên khắc ghi trong tâm mình. Khi bạn nói : “ Tôi nương tựa nơi Phật Pháp”, nghĩa là bạn phải mang tâm chấp nhận tất cả những tình huống bất lợi trong thế giới này, cũng như có thể hoá giải được những tình huống bất lợi đó để chúng trở thành những điều thuận lợi cho chính bạn một cách ngay lập tức. Nếu làm được như thế thì đó là một phúc lành lớn lao cho bạn. Phật pháp là cực kỳ thâm diệu và tinh tế. Bằng cách nương tựa vào Phật pháp, bạn có thể thoát khỏi tất cả những loại khổ đau. Đây là điều mà bạn nên khắc ghi trong tâm mình. Khi bạn nói : “ Tôi nương tựa vào Tăng Già”, nghĩa là bạn phải mang tâm chấp nhận tất cả những tình huống bất lợi trong thế giới này, cũng như có thể hoá giải được những tình huống bất lợi đó để chúng trở thành những điều thuận lợi cho chính bạn một cách ngay lập tức. Nếu có thể làm được như thế thì đó là một phúc lành lớn lao cho bạn. Trong thế giới này, Tăng Già là cao thượng và xứng đáng thọ nhận những của cải cúng dường nhất. Bằng cách nương tựa vào Tăng Già, bạn có thể thoát khỏi tất cả những loại khổ đau. Đây là điều mà bạn nên khắc ghi tâm mình. Vì vậy, bằng cách nương tựa vào Tam Bảo, tất cả những tình huống bất lợi mà chúng ta gặp phải trong cuộc sống có thể được hoá giải và trở thành những điều thuận lợi một cách ngay lập tức. Nếu có một niềm tin viên mãn, tự mình biết cách tôn kính và nương tựa vào Phật, Pháp, Tăng, chúng ta sẽ gặt hái được nhiều lợi ích một cách ngay lập tức. Vì vậy, bạn đừng nên xao lãng và bỏ bê cơ hội quí báu này. Bạn cần phải sống như thế nào đó để có thể nói và nhớ rằng, từng giây từng phút trong đời sống mình đang gặt hái được phước báu. Đó chính là nghiệp thiện lành liên tục của Tu-Đà-hườn ( Nibanddhā Kusala – Continuosly good actions of the Stream- winner ).

2. Gìn giữ 5 Giới

Bằng cách liên tục giữ gìn 5 Giới, bạn sẽ gặt hái được phước báu như là một Tu-Đà-Hườn. Khi tình cờ bắt gặp một cơ hội giết chóc xuất hiện, bạn nhất quyết không sát sanh. Nếu làm được như vậy thì ngay lúc đó, bạn đã gặt hái được phước báu. Khi bắt gặp một tình huống thuận lợi cho việc trộm cắp tài sản của người khác, bạn nhất quyết không trộm cắp. Nếu làm được như vậy thì ngay lúc đó, bạn đã gặt hái được phước báu. Mặc dù có một cơ hội để tà dâm. Tuy nhiên, bạn nhất quyết không tà dâm. Nếu làm được như thế thì ngay lúc đó, bạn đã gặt hái được phước báu. Khi rơi vào một tình huống có thể dẫn đến nói dối. Tuy nhiên, bạn nhất quyết không nói dối. Nếu làm được như thế thì ngay lúc đó, bạn đã gặt hái được phước báu. Khi có một cơ hội để xử dụng các chất gây say. Tuy nhiên, bạn nhất quyết không xử dụng thì ngay lúc đó, bạn đã gặt hái được phước báu. Vì vậy, bằng cách giữ 5 Giới thật vững chãi, bạn luôn luôn gặt hái được phước báu như một Tu-Đà-Hườn.

3. Cúng dường nhiều thứ vật thực và vật dụng

Sự bố thí hay cúng dường đủ thứ nói chung cũng có thể giúp chúng ta gặt hái được phước báu như một Tu-Đà-Hườn. Những người dâng cúng đủ thứ vào các ngày trăng tròn 15 âm lịch hàng tháng, các ngày trăng non đầu tháng ( mồng một âm lịch) hoặc 7 ngày dâng cúng một lần sẽ gặt hái được nhiều loại phước báu ngay khi dâng cúng. Loại phước báu này cũng được kể như là phước báu liên tục của Tu-Đà-Hườn.

4. Cúng dường một tháng hai lần vào ngày mồng 1 và 15 âm lịch

 Những người dâng cúng vật thực trong những ngày trăng tròn và trăng non đầu tháng âm lịch sẽ gặt hái được phước báu liên tục giống như Tu-Đà-Hườn. Sau khi dâng cúng vật thực họ còn tổ chức quyên góp để chuẩn bị cho lần dâng cúng sắp tới.

5. Dâng y vào tháng assayuja

 Những người dâng Y hằng năm sẽ gặt hái được phước báu liên tục giống như Tu-Đà-Hườn. Những người nhớ đến lễ Dâng Y hằng năm vào tháng Assayuja thường dâng cúng y phục cho Tăng già và nhiều thứ vật dụng khác, bởi vì họ nhận thức được đó là một hành động phước thiện mang lại nhiều lợi ích. Vì vậy, họ sẽ gặt hái được phước báu liên tục giống như một Tu-Đà-Hườn. Tăng già khi thọ nhận Tứ vật dụng ( Catudhātu – bao gồm y phục, vật thực, chỗ ở và thuốc men chữa bệnh) cúng dường của các thí chủ phải nổ lực tu tập và giảng dạy Kinh Điển để duy trì và phát triển Phật Pháp. Những Tỳ- kheo thực hành thiền định và thiền minh sát phải cố gắng lãnh hội được Giáo Pháp Cao Thượng của Đức Phật trong vòng 3 tháng an cư. Khi Tăng Già bắt đầu mặc những chiếc y vừa được dâng cúng thì các thí chủ cũng đã gặt hái được phước báu liên tục ( Nibanddhā Kusala – Merit continuously).

6. Cúng dường các loại chậu, bể và hồ chứa nước uống

Cúng dường các loại chậu, bể hay hồ chứa nước uống cũng gặt hái được phước báu giống như Tu-Đà-Hườn, bởi vì khi khách thập phương đến viếng tu viện hay tịnh xá họ sẽ có nước để sinh hoạt. Những thí chủ cũng có thể dâng cúng các loại nước uống giải khát đóng chai, các phụ tùng để dẫn nước như ống, vòi, máy bơm …

7. Cúng dường các tu viện hay tịnh xá

Những thí chủ dâng cúng các tu viện hay tịnh xá sẽ gặt hái được rất nhiều phước báu, bởi vì Tăng Già và các hành giả có chỗ để tu tập, nghiên cứu và thực hành Phật Pháp. Họ có thể thực hiện các hoạt động thuyết Pháp, thiền hành, thiền tọa… Ngoài ra, các tu viện còn được dùng vào nhiều việc khác như làm chỗ cư trú cho Tăng Già, tiếp khách, phát quà từ thiện, tổ chức các lớp học phổ thông , các lớp học tiếng Pāli và tiếng Anh, in ấn và phát hành các ấn phẩm Phật Giáo… Đó là lý do tại sao, các thí chủ dâng cúng các tu viện sẽ gặt hái được phước báu liên tục như một Tu-Đà-Hườn. Tất cả những ai có thực hành 1 trong 7 kiểu bố thí đã nêu trên đều gặt hái được phước báu liên tục như một Tu-Đà-Hườn. Một điều quan trọng là phải có thiện chí khi thực hiện các kiểu bố thí đã nêu trên. Nếu không có thiện chí, bạn không thể nào thực hành Phật Pháp và dĩ nhiên là không thể nào trở thành Tu-Đà-Hườn được. Những người đã gặt hái được phước báu liên tục như một Tu-Đà-Hườn sẽ không bao giờ bị tái sanh vào  những cảnh sống thống khổ sầu muộn như : Địa ngục, súc sinh, ngạ quỉ và A-tu-la. Họ sẽ được tái sanh vào những cảnh giới hạnh phúc cao thượng. Đó là lý do tại sao, những bậc cha mẹ thiện lành và đáng kính phải thực hành Phật Pháp để gặt hái được phước báu thiện lành liên tục giống như Tu-Đà-Hườn càng nhiều càng tốt. Những phước báu giống như phước báu của Tu-Đà-Hườn  có thể giúp họ thoát khỏi địa ngục khổ đau.

Tóm tắt: Nương tựa vào Tam-Bảo ( Tiniratanāni ), giữ gìn 5 Giới

(pañcasīlani),dâng cúng vật thực và nhiều thứ khác, dâng cúng hệ thống cung cấp nước sinh hoạt, dâng cúng Y phục, dâng cúng các tu viện hay tịnh xá…có thể giúp chúng ta gặt hái được phước báu liên tục ( Nibbanddhā Kusala –  continuously merit) giống như một Tu-Đà-Hườn. Khi đã có phước báu như các Tu-Đà-Hườn, chúng ta sẽ không bao giờ bị tái sanh vào địa ngục.              

                                                

                    Bộ ba Giáo Pháp bất diệt

                                      

Những người Phật tử mộ Đạo làm việc để duy trì, phát triển và truyền bá Giáo Pháp của Đức Phật. Họ luôn khuyến khích, động viên người khác cố gắng đừng làm và tránh xa những hành động tội lỗi với hết khả năng có thể. Họ sẵn sàng thực hành bố thí và giúp đỡ những người khác. Những lời dạy của Đức Phật có thể làm tiêu tan bóng tối vô minh trong tâm trí của chúng ta và làm cho nó trở nên sáng chói, rực rỡ. Phật Pháp vĩ đại là luồng ánh sáng rạng rỡ chiếu rọi và chỉ rõ cho những người Phật tử biết được một cách nhanh chóng rằng, con đường nào là lầm lạc và con đường nào là đúng đắn. Con đường đúng đắn và cao thượng mà Phật Pháp đã vạch ra cho chúng ta là con đường dẫn đến trạng thái diệt tận của khổ đau, mang lại sự bình yên và Niết Bàn hạnh phúc. Con đường này dẫn dắt chúng ta đến với thế giới của loài người, Chư Thiên và Phạm Thiên. Đi ngược lại với con đường này là đến với những cảnh giới thấp kém và khổ đau như : Địa ngục, súc sinh và ngạ quỷ, A-Tu-La. Khi luồng ánh sánh vĩ đại của Phật Pháp đã tắt thì con đường dẫn đến sự bình yên cao thượng và Niết Bàn hạnh phúc cũng sẽ biến mất. Con đường dẫn đến thế giới của loài người, Chư Thiên và Phạm Thiên cũng sẽ trở nên mù mịt. Lúc đó, chỉ còn lại con đường dẫn đến địa ngục tối tăm và đau khổ. Đến lúc đó, hầu hết muôn loài chúng sanh sẽ bị tái sanh vào cảnh sống sầu muộn thống khổ. Đó là lý do tại sao, chúng ta phải cố gắng duy trì và phát triển luồng ánh sáng của Phật Pháp, để nó vẫn còn mãi mãi chiếu rọi và trở nên bất diệt. Khi còn sống trong luồng ánh sáng vĩ đại của Phật Pháp, chúng ta phải biết lựa chọn cho mình một con đường thiện lành và cao thượng để thực hành nó. Bố thí, giữ Giới và thiền định là con đường nhanh chóng và ngắn nhất để dẫn đến thế giới của loài người, Chư Thiên và Phạm Thiên. Ngoài ra, không có một con đường nào tốt hơn con đường đó. Tuy nhiên, để tận dụng hết luồng ánh sáng vĩ đại của Phật Pháp, chúng ta phải thực hành thiền minh sát. Đó là lý do tại sao, khi luồng ánh sáng vĩ đại của Phật Pháp đang còn chiếu rọi và soi sáng những ngõ ngách tối tăm của tâm hồn, chúng ta phải thực hành thiền minh sát, bởi vì thiền minh sát là con đường dẫn đến sự bình yên cao thượng và Niết Bàn hạnh phúc. Đang khi thực hành thiền minh sát, chúng ta phải thực hiện những việc sau đây để có thể duy trì và phát triển luồng ánh sáng của Phật Pháp :

1. Pariyatti – Học tập Giáo Pháp của Đức Phật ( tức Pháp học)

2. Patipatti  - Thực hành Phật Pháp ( tức Pháp hành )

3. Pativeda -  Gặt hái được kinh nghiệm nội quán

                                                                              ( Uparipannasattha 80 )

     

 Trong Pháp Học - Pariyatti có 3 loại Giáo Pháp cần phải học tập

a. Vinaya PitakasGiới Luật ( Disciplinary rules)

b. Suttanta PitakasKinh Tạng hay những lời thuyết Pháp của Đức Phật ( Buddha ‘s Discourse)

c. Abhidhamma PitakasVi Diệu Pháp hay Luận Tạng ( Higher Dhamma)

  Vinaya Pitakas – Giới luật

 Giới luật dùng để khuyên nhủ, nhắc nhở, đánh thức, gìn giữ cho Tăng Già và những người Phật tử thế tục tránh được các điều tội lỗi thuộc về thân tâm. Đức Phật đã lập ra những giới luật phổ quátgiới luật đặc biệt để Tăng Già và những người Phật tử thế tục có thể thực hành theo.

 Suttanta Pitakas – Kinh tạng

 Kinh tạng đã được Đức Phật thuyết ra để những chúng sanh trong cõi thế gian, cõi xuất thế gian nghiên cứu và tu học. Từ đó, họ sẽ gặt hái được nhiều lợi ích. Kinh tạng chỉ dẫn cho chúng ta thấy rõ lợi ích của việc thực hành các hạnh Ba-La-Mật và cách thức để thực hành những hạnh ấy.

 Abhidhamma Pitakas – Vi Diệu Pháp hay Luận tạng

Vi Diệu Pháp liệt kê, phân tích Giáo Pháp của Đức Phật một cách tỉ mỉ và công phu hơn Kinh Tạng. Vì vậy, nó có những phẩm chất đặc biệt. Vi Diệu Pháp đề cập và xem xét đến tất cả những bộ phận vi tế trong Phật Pháp và không bỏ sót bất cứ một khía cạnh nào. Vi Diệu Pháp nói đến những điều đúng đắn, chính xác và đầy đủ nhất về Phật Pháp mà đôi khi Kinh Tạng bỏ qua, bởi vì Kinh Tạng chỉ là những lời thuyết Pháp vắn tắt của Đức Phật về Giáo Pháp của Ngài.

 Trong Pháp hành (Patipatti),có 3 cách thực hành Phật Pháp

a. Thực hành giới luật ( Sīla practice )

b. Thực hành sự định tâm ( Samādhi practice)

c.  Thực hành trí tuệ  ( Paññā practice)

 

 Thực hành Giới luật

Những Tỳ Kheo phải gìn giữ 227 Giới luật bằng cách thực hành Giới hạnh ( Sikkhā). Nếu 227 Giới luật này được khai triển một cách chi tiết, tỉ mỉ và công phu thì chúng sẽ trở thành 90 tỷ điểm Luật cần phải thực hành. Đối với những người Phật tử thế tục thì họ chỉ phải thực hành 5 Giới, 8 Giới hay 9 Giới…mà thôi.

  Thực hành sự định tâm

Thực hành sự định tâm là quán niệm về những đức hạnh vĩ đại của Đức Phật (Buddhanusatti Kammaţţhāna), rải tâm từ lên muôn loài chúng sanh ( Mettà Kammatthàna), quán niệm về tính cách ghê tởm và nhờm gớm của tử thi ( Asubha Kammatthàna), quán niệm về sự chết

( Maranasatti Kammaţţhāna), thực hành thiền định ( Samātha Bhāvanā).

 Thực hành trí tuệ

Thực hành trí tuệ là tập luyện sự chú ý vào những hiện tượng thuộc về thân thể ( Kāyānupassanā Satipaţţhāna), chú ý vào những cảm thọ như cảm giác khó chịu, dễ chịu thọ vô ký tính ( Vedanānupassanā Satipaţţhāna), chú ý vào những hoạt động của tâm ý ( Cittānupassanā Satipaţţhāna), chú ý vào những đối tượng của tâm ý, tức vạn pháp

( Dhammānupassanā Satipaţţhāna). Vì vậy, thực hành trí tuệ là thực hành sự chú ý trên 4 nền tảng là thân, thọ, tâm, pháp.

  Pativeda – gặt hái kinh nghiệm nội quán một cách liên tục

Cao thượng và quan trọng nhất là kiến thức nội quán về Tứ Diệu Đế , Con đường trí tuệ ( Magga- ñāna) và Đạo Quả trí tuệ ( Phala Ñāna). Điều căn bản nhất mà bạn cần phải gặt hái được là kiến thức nội quán về danh sắc ( tức kiến thức nội quán về tinh thần và vật chất - Nāmarūpapariccheda Ñāna – The insightful knowledge about name and form ). Nói cách khác, đầu tiên bạn cần phải hiểu được bản chất của các hiện tượng thuộc về vật chất và tinh thần để có thể thực hành Phật Pháp một cách lâu dài. Bạn cần phải có được sự nhận thức liên tục về bộ 3 Giáo Pháp ( Pariyatti, Patipatti và Pativeda). Chỉ khi đã có được một sự  nhận thức liên tục như vậy, bạn mới có thể thực hành Giáo Pháp của Đức Phật đến nơi đến chốn, cũng như có thể truyền bá Phật Pháp cho những người khác. Để liên tục gặt hái được kiến thức nội quán trong quá trình nhận thức Phật Pháp, những người Phật tử thế tục cần phải đọc các loại Kinh Điển của Phật Giáo, lắng nghe thuyết Pháp, tụng đọc các Kinh hộ trì

( Paritta Suttanta), Kinh Chuyển Pháp Luân ( Dhammacakka sutta)…

mà Đức Phật đã thuyết giảng. Những người có lắng nghe hay tụng đọc các loại Kinh Điển của Phật Giáo sẽ có được kiến thức nội quán một cách liên tục trong quá trình nhận thức Phật Pháp. Để có được những kinh nghiệm nội quán như vậy, bạn phải giữ gìn 5 Giới thật vững chãi giống như việc mặc áo quần để bảo vệ thân thể. Bạn cũng nên thực hành việc giữ 8 Giới hay 9 Giới nếu có khả năng. Quán niệm về những đức hạnh vĩ đại của Đức Phật, thực hành pháp rãi tâm từ ( Mettā),  pháp quán tử thi, pháp quán niệm về sự chết,  thiền định và thiền minh sát trên bốn nền tảng quán niệm ( thân, thọ, tâm, pháp) để phát triển trí tụê. Vì vậy, những người thực hành giữ Giới, thiền định và thiền tuệ ( tức thiền minh sát) sẽ gặt hái được kiến thức nội quán một cách liên tục trong quá trình nhận thức Phật Pháp. Để liên tục gặt hái được kiến thức nội quán ( tức năng lực thấy được bản chất của danhsắc), bạn phải thực hành thiền tứ niệm xứ ( Satipaţţhāna vipassanā meditation). Khi đã đạt tới trí tuệ nhận thức được bản chất của danhsắc ( Nāmarūpapariccheda Ñāna), bạn sẽ liên tục gặt hái được kiến thức nội quán trong quá trình nhận thức Giáo Pháp của Đức Phật.

Khi đã gặt hái được năng lực định tâm ( Samādhi  ñāna), bạn sẽ nhận thức được rằng, sự chú ý của tâm trí và tiến trình khởi lên của các hiện tượng vật chất là 2 thành phần tách biệt. Nói cách khác, bạn sẽ có khả năng chú ý vào các hiện tượng khi chúng đang khởi lên cho đến khi đã hoàn toàn tan biến đi, để nhận biết được một cách đúng đắn về bản chất của chúng . Năng lực định tâm giúp chúng ta tách bạch được sự quan sát một đối tượng và đối tượng được quan sát. Năng lực này có thể khiến cho tâm của chúng ta không bị dính mắc vào các sự vật đang biến đổi không ngừng trong từng khoảnh khắc. Các hiện tượng vật chất khởi lên một cách vô tri vô giác, bởi vì chúng thuộc về sắc pháp ( tức vậy chất). Trong khi đó, sự chú ý của chúng ta lại thuộc về danh pháp ( tức tinh thần). Vì vậy, sự chú ý là có sự nhận thức. Từ đó, bạn sẽ hiểu được bản chất về mối quan hệ giữa tinh thần ( Nāma) vàvật chất ( Rūpa). Nhờ vậy, bạn sẽ gặt hái trí tuệ nhận biết được bản chất của danhsắc

( Nāmarūpapariccheda  Ñāna) hay kiến thức phân biệt được mối quan hệ giữa tâm và vật. Những người có thực hành thiền một cách nghiêm túc, ít nhất họ cũng đạt tới trạng thái liên tục gặt hái được kiến thức nội quán trong quá trình nhận thức Phật Pháp. Khi đã đạt tới trí tuệ nhận biết được bản chất của danh và sắc, bạn cũng đã gặt hái được kinh nghiệm nội quán về Tứ Diệu Đế, bởi vì lúc đó năng lực chú ý của bạn đã  tăng cao đến một mức độ khác thường. Đối với những hành giả thực hành thiền minh sát, điều quan trọng đầu tiên là phải giữ Giới một cách vững chãi bằng cách luôn luôn chú ý để không bị vi phạm 4 hành động bất thiện thuộc về lời nói ( nói dối, nói lời bất hoà gây chia rẽ, nói lời cay nghiệt và hăm dọa, nói lời nhảm nhí vô nghĩa – Samāvācā). Kiêng cữ 3 hành động bất thiện thuộc về thân xác ( sát sanh, trộm cắp và tà dâm – Sammā Kammanta). Gặt hái được Chánh mạng ( tức kiếm sống bằng phương tiện chân chánh - Sammā ajiva – Right livelihood) bằng cách kiêng cữ 3 hành động bất thiện thuộc về thân xác4 hành động bất thiện thuộc về lời nói. Ngoài ra, họ còn phải chú ý đến 3 cách thức giữ Giới thuộc về lời nói, thân xáctâm ý ( Sīla magganga) để thân, khẩu, ý ngày càng được tinh khiết. Khi bạn hướng năng lực chú ý của mình đến những hiện tượng đang khởi lên để nhận biết được bản chất của chúng thì đó gọi là Chánh niệm ( chú ý đúng đắn- Sammāsati – Right mindfulness). Khi đã có khả năng chú ý đúng đắn, bạn sẽ nhận biết được rằng, những hiện tượng đang khởi lên và sự chú ý là 2 nhân tố tách biệt. Các hiện tượng đang khởi lên thuộc về sắc pháp ( tức vật chất – Rūpa) và sự chú ý là thuộc về danh pháp ( tức tinh thần – Nāma). Sự nhận biết này được gọi là Chánh kiến ( hiểu biết hay quan niệm đúng đắn – Sammādiţţhi- Right understanding). Từ đó, 2 cách thức phát triển trí tuệ ( Paññā magganga) sẽ được hoàn thiện. Vì vậy, khi tập luyện sự chú ý đến các hiện tượng đang khởi lên trong thân tâm, bạn phải thực hành Tứ Diệu Đế bằng cách vận dụng 3 cách thức giữ Giới ( Sīla magganga), 3 cách thức định tâm ( Sammādhi magganga) và 2 cách thức phát triển trí tuệ ( Paññā Magganga). Chúng ta cũng phải thực hành Tứ Diệu Đế khi đặt tâm chú ý đến tiến trình đang tan hoại của các hiện tượng, sau khi chúng đã khởi lên. Khi đang đứng lên hay ngồi xuống, đang đi tới hay đi lui, đang đứng hay đang nằm… bạn hãy chú ý đến trạng thái khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng thuộc về thân xác. Như vậy là đang thực hành sự nhận thức về chân lý khổ đau của thân xác ( Rūpa dukkha Sacca). Khi đã gặt hái được sự hiểu biết về bản chất của các hiện tượng đang khởi lên và tan biến đi như : Hành động đang đứng lên, đang ngồi xuống, đang co duỗi chân tay… tức là bạn đã nhận thức được chân lý về sự khổ. Khi chú ý tích cực đến các đối tượng của cảm thọ như : Tâm ham muốn, khao khát được thỏa mãn… thì  tham lam sẽ không có cơ hội để khởi lên trong tâm thức của chúng ta. Vì vậy, nguyên nhân thật sự gây ra khổ đau ( Samudaya Sacca) là tham lamái dục đã bị loại bỏ. Khi tâm tham lam không có cơ hội để hiện khởi trong sự nhận thức của bạn thì nó sẽ tự tiêu tan đi. Do tâm ham muốn và khao khát đã chấm dứt, nên tâm quyến luyến và bám víu cũng chấm dứt theo. Bởi vì tâm quyến luyến và bám víu đã tiêu tan, nên nghiệp ( Kamma – action) cũng không thể hiện hữu. Khi sự hiện hữu ( Bhava - Existence) không tồn tại thì trạng thái đầu thai, sanh, lão, bệnh, tử cũng đã chấm dứt.

Từ đó, bạn sẽ gặt hái được chân lý về trạng thái chấm dứt của khổ đau một cách ngay tức khắc. Bởi vì có thực hành thiền minh sát, nên bạn sẽ gặt hái được kinh nghiệm nội quán về Tứ Diệu Đế một cách liên tục. Vì vậy, bạn đã gặt hái được Pativeda Sasanā ( phương pháp liên tục gặt hái được kiến thức nội quán). Bằng cách thực hành thiền minh sát và phương  pháp liên tục gặt hái được kiến thức nội quán ( continuously insight knowledge ‘s method ), đạt tới con đường trí tuệ của Tu-Đà-Hườn ( Sotāpatti Magga Ñāna) và Quả Tụê ( Ñāna Phala – The wise fruition), người thực hành thiền minh sát sẽ đồng thời nhận thức được Tứ Diệu Đế. Cuối cùng, hành giả thực hành thiền minh sát sẽ trở thành một Tu-Đà-Hườn – người liên tục gặt hái được kiến thức nội quán. Những bậc cha mẹ thiện lành và đáng kính có mong muốn duy trì được bộ ba Giáo Pháp bất diệt trong chính họ để trở thành những người cao thượng giống như Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm…thì việc đầu tiên họ phải có là bộ ba Giáo Pháp này trong một sự nhận thức liên tục. Để có được điều đó, họ cần phải học tập Tam Tạng Kinh Điển, thực hành việc giữ Giới, thiền định và thiền minh sát để vun bồi trí tuệ.

Tóm tắt:  Học tập, thực hành và gặt hái kiến thức nội quán một cách liên tục là bộ ba Giáo Pháp bất diệt.

 

         Cân bằng được 4 nhân tố sẽ gặt hái hạnh phúc

 

 Tất cả những người sinh sống trong thế giới này đều phải phụ thuộc và giúp đỡ lẫn nhau. Thật đúng như vậy, các bậc cha mẹ thường giúp đỡ và ủng hộ cho con cái của họ. Sau đó, con cái lại trở lại giúp đỡ và ủng hộ cho họ. Thầy cô giáo giúp đỡ cho những học sinh của họ. Tương tự như vậy, những học sinh lại trở lại giúp đỡ và ủng hộ cho thầy cô giáo. Chồng giúp đỡ, ủng hộ và khuyến khích vợ. Sau đó, vợ lại trở lại giúp đỡ, ủng hộ và khuyến khích chồng. Trong sự giúp đỡ và ủng hộ lẫn nhau đó, một đôi vợ chồng nào đó sẽ được gần gũi và sống gắn bó với nhau dài lâu hơn. Họ cũng cầu chúc cho nhau có một cuộc sống tốt đẹp. Vì vậy, họ sẽ tìm mọi cách để mang đến hạnh phúc cho nhau. Tuy nhiên, khi muốn đem đến hạnh phúc cho người khác, người ta phải có được những quan điểm hay quan kiến giống nhau. Vì vậy, nếu mong muốn sống với nhau một cách hạnh phúc và sẽ gặp lại nhau trong những kiếp sống ở tương lai, không bị tái sanh vào địa ngục và có thể đạt tới cõi Chư Thiên, người ta phải thực hành 4 Pháp mà Đức Phật đã chỉ dạy sau đây :

1. Sammā SaddhāPhải có niềm tin giống nhau                                

2. Sammā Sīla  - Phải giữ Giới đồng đẳng với nhau

3. Sammā CāgāPhải có quan điểm bố thí tương đồng

4. Sammā PaññāPhải có trí tụê tương đưong với nhau

                                                                                (  Am 1 / 173 )

1. Sammā Saddhā – Niềm tin giống nhau

Phải có niềm tin giống nhau nghĩa là : Chồng và vợ phải có niềm tin vào Phật, Pháp, Tăng, nghiệp và kết quả của nghiệp. Chỉ khi cả 2 vợ chồng đều có niềm tin vào 5 nhân tố này thì họ mới có thể mang đến hạnh phúc về thể xác và tinh thần cho nhau. Họ chỉ thật sự được hạnh phúc khi đã có niềm tin giống nhau. Họ sẽ có khả năng hiểu biết lẫn nhau một cách nhanh chóng chỉ khi họ đã có một lối suy nghĩ biết tôn kính Phật, Pháp, Tăng giống nhau. Nếu một người trong họ biết tôn kính Phật, Pháp, Tăng, nghiệp, kết quả của nghiệp và biết thực hiện những hành động phước thiện… còn người kia thì không biết được như thế, chắc chắn họ sẽ không được hạnh phúc dài lâu. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã nói rằng, họ cần phải có niềm tin giống nhau.

2. Sammā Sīla – Giữ Giới đồng đẳng

Phải thực hành giữ Giới đồng đẳng nghĩa là :  Chồng và vợ phải có khả năng kiêng cữ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và việc xử dụng các chất gây say đồng đẳng với nhau. Chỉ khi đã có khả năng thực hành 5 Giới đồng đẳng với nhau thì lúc đó, họ mới có thể mang đến hạnh phúc cho nhau. Nếu một người trong họ biết giữ gìn 5 Giới còn người kia thì không biết, chắc chắn họ sẽ không được hạnh phúc dài lâu và trở nên bất hạnh trong đời sống thể xác và tinh thần. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã nói rằng, họ phải thực hành việc giữ Giới đồng đẳng với nhau. Khi đã có khả năng giữ Giới đồng đẳng với nhau và có một lối suy nghĩ biết tôn kính Phật, Pháp, Tăng giống nhau, họ sẽ có khả năng hiểu biết lẫn nhau một cách nhanh chóng và dễ dàng.

3. Sammā Cāgā – Quan điểm bố thí tương đồng

Phải có quan điểm bố thí tương đồng nghĩa là : Chồng và vợ phải có quan điểm và hành động tương đồng với nhau khi thực hiện bố thí cho cha mẹ và những người thân của 2 vợ chồng, cho những người nghèo và những người đang có nhu cầu nhận bố thí. Họ cần phải biết điều chỉnh chính mình để có thể hoà hợp với nhau khi thực hiện những hành động bố thí. Chỉ khi như thế, họ mới có thể mang lại hạnh phúc về mặt thể xác và tinh thần cho những người khác. Khi đã có quan điểm bố thí tương đồng với nhau và có một lối suy nghĩ biết tôn kính Phật, Pháp, Tăng giống nhau, họ sẽ có khả năng hiểu biết lẫn nhau một cách nhanh chóng và dễ dàng. Nếu một người trong họ có thói quen bố thí và cảm thấy hứng thú khi làm công việc đó còn người kia thì không. Nếu như vậy thì chắc chắn họ sẽ không được hạnh phúc dài lâu và trở nên bất hạnh trong đời sống thể xác và tinh thần. Đó là lý do tại sao, họ cần phải có quan điểm bố thí tương đồng với nhau, cũng như cần phải tham khảo ý kiến của nhau khi thực hiện những công việc bố thí. Đây là lời thuyết Pháp của Đức Phật.

4. Sammā Paññā – Trí tuệ tương đương

Phải có trí tuệ tương đương với nhau nghĩa là :  Họ phải có quan điểm đúng đắn, khả năng tư duy và lập luận tương đương nhau. Họ cần phải có khả năng tương đương khi đưa ra ý kiến trước một vấn đề nào đó, cũng như phải có khả năng tương đương để đề ra một tiêu chí đúng đắn và thích hợp trong cách ăn ở, nói năng, làm việc... Nói tóm lại, họ phải có một trí năng tương đương với nhau. Chỉ khi đã có một lối suy nghĩ và khả năng lập luận tương đương thì họ mới có thể hạnh phúc với nhau được. Một điều hiển nhiên, nếu có tâm biết tôn kính Phật, Pháp, Tăng, nghiệp và kết quả của nghiệp một cách tương đồng, họ sẽ có được khả năng hiểu biết lẫn nhau một cách nhanh chóng và dễ dàng. Nếu một người trong họ đã có được một sự hiểu biết đúng đắn và thích hợp trong cách xử lý các vấn đề gặp phải khi đang chung sống với nhau, đứng đắn trong cung cách ăn ở, nói năng và làm việc… Ngược lại, người kia lại không có sự hiểu biết giống như thế thì chắc chắn họ sẽ không được hạnh phúc dài lâu và trở nên bất hạnh trong đời sống thể xác và tinh thần. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã dạy rằng, khi muốn được hạnh phúc về mặt thể xác và tinh thần, người ta cần phải có quan điểm đúng đắn, khả năng tư duy và lập luận tương đương với nhau. Một thời Đức Thế Tôn đang trú tại rừng Đậu, gần thành phố Susumāragira trong xứ Bagga. Một ngày nọ, gia đình Nakulamātā và Nakulapitā cung thỉnh Đức Phật và 500 vị Tỳ Kheo đến nhà của họ để trai Tăng. Sau khi Đức Phật và các đệ tử của Ngài thọ thực xong, Nakulamātā và Nakulapitā ( người đã đạt được danh hiệu Etadagga – Pre eminant) đã tiến lại gần Đức Thế Tôn và thỉnh cầu Ngài nói cho họ biết những điều mà họ đang muốn biết. Nakulapitā đã lên tiếng trước :

“ Bạch Đức Thế Tôn ! Con đã thành hôn với Nakulamātā từ khi còn rất trẻ và con đã sống rất hạnh phúc trong sự chăm sóc của vợ con cho đến ngày hôm nay. Bà ấy chưa bao giờ làm một điều gì khiến cho con phải bất hạnh về mặt thể xác và tinh thần. Đó là lý do tại sao con mong muốn được sống với bà ấy mãi mãi, không những trong cuộc sống này mà còn trong những kiếp sống mai sau. Bạch Đức Thế Tôn ! Bây giờ con phải thực hành Pháp nào để được mãn nguyện ? ” Sau đó, người vợ tên là Nakulamātā cũng tiến lại gần Đức Thế Tôn và bạch với Ngài giống như chồng mình đã làm. Đức Phật đã đáp rằng : “ Nếu cả hai người đã mong muốn sống với nhau cho hết kiếp sống này và cũng mong muốn gặp lại nhau trong những kiếp sống ở tương lai thì phải thực hành 4 Pháp sau đây một cách bình đẳng, 4 Pháp đó là : Phải có niềm tin giống nhau ( Sammā Saddhā), thực hành việc giữ Giới đồng đẳng với nhau ( Sammā Sīla), có quan điểm bố thí tương đồng ( Sammā Cāgā) và có trí tuệ tương đương ( Sammā Paññā)”. Nếu có thể hoàn thiện được 4 nhân tố trên, chắc chắn bạn sẽ được sống hạnh phúc bên nhau với người bạn đời của mình một cách trọn vẹn trong kiếp sống này, những kiếp sống ở tương lai và được tái sanh vào những cõi trời.

Tóm tắtNếu những cặp vợ chồng đã thành hôn với nhau có niềm tin giống nhau, thực hành việc giữ Giới đồng đẳng nhau, có quan điểm bố thí tương đồng và có trí tuệ tương đương thì họ sẽ được sống hạnh phúc bên nhau trọn vẹn kiếp sống này, những kiếp sống trong tương lai và sẽ được tái sanh vào những cõi trời Chư Thiên.    

 

   Bốn phẩm chất để trở thành một Tu- Đà-Hườn

 

Ngày nay, việc thực hành thiền minh sát đang rất hưng thịnh. Những người đã có cơ hội để thực hành thiền minh sát cũng nhiều. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có rất nhiều người chưa gặp được cơ hội để học tập và thực hành những nguyên lý căn bản về thiền Minh sát. Trong kiếp sống này, khi người ta muốn thực hành thiền minh sát để trở thành một Tu-Đà-Hườn thì họ cần phải có được 4 phẩm chất sẽ được trình bày dưới đây. Chỉ khi đã trở thành một Tu-Đà-Hườn thì những khát vọng của người ta mới được thoả mãn. Vì vậy, Đức Phật đã chỉ dạy về 4 phẩm chất cần phải có để trở thành một Tu-Đà-Hườn ( Sotàpanna – Stream Winner) :

1. Sappurisasansevo – Phải biết nương tựa vào những vị thầy có đức hạnh và tài năng.

2. Saddhammasāvanam -  Phải biết lắng nghe Giáo Pháp của Đức Phật.

3. Yonisomanasikāra  - Phải có quan kiến đúng đắn để có thể gặt hái được phước báu.

4. Dhammanudhammapatipatti – Phải có khả năng thích ứng với Đạo quả và Niết Bàn.

  Phải biết nương tựa vào những vị thầy có đức hạnh và tài năng

Phải biết nương tựa vào những vị thầy đức hạnh và tài năng nghĩa là : Những người có mong muốn trở thành Tu- Đà- Hườn ngay trong kiếp sống này cần phải biết tôn kính những vị thầy đức hạnh và tài năng – những người có thể chỉ dạy cho họ con đường dẫn đến Đạo Quả và Niết Bàn. Trong nhiều vị thầy có đức hạnh và tài năng, bạn cần phải biết được vị thầy đáng kính nào là tốt nhất. Vị thầy đáng kính và tốt nhất ở đây nghĩa là một vị thầy đã gặt hái được Quả vị A-La-Hán. Nếu không thể tìm được một vị A-La-Hán để theo học Phật Pháp thì bạn phải tìm cho được một vị A-Na-Hàm.  Nếu không tìm được một vị A-Na-Hàm thì phải tìm cho được một vị Tư-Đà-Hàm, nếu không tìm được một vị Tư-Đà-Hàm thì phải tìm cho được một vị Tu-Đà-Hườn, nếu không tìm được một vị Tu-Đà-Hườn thì phải tìm cho được một vị thầy Tam tạng ( Tipitaka Bhikkhu - người đã học hết và thông suốt Tam Tạng Kinh Điển), nếu không tìm được một vị thầy Tam Tạng thì phải tìm cho được một vị thầy Nhị Tạng, nếu không tìm được một vị thầy Nhị Tạng thì phải tìm cho được một vị thầy Nhất Tạng, nếu không tìm được một vị thầy Nhất Tạng thì phải tìm cho được một vị thầy nào đó đã có kinh nghiệm thực hành và có khả năng chỉ dạy về thiền minh sát.

Phải biết lắng nghe Giáo Pháp của Đức Phật

Phải biết cách lắng nghe Giáo Pháp của Đức Phật nghĩa là : Những người mong muốn trở thành Tu-Đà- Hườn ngay trong kiếp sống này phải biết lắng nghe Giáo Pháp về thiền minh sát theo một cách thức đúng đắn, để có thể dẫn đến Đạo Quả và Niết Bàn. Ngoại trừ các vị Phật Toàn Giác

( Sabbinnū Buddha) và các vị Phật Độc Giác ( Pacceka Buddha), không có ai có thể trở thành những bậc cao quí ( Ariyas – noble persons) mà không cần phải lắng nghe Giáo Pháp của Đức Phật. Đó là lý do tại sao, những người mong muốn trở thành Tu-Đà-Hườn phải biết cách lắng nghe Giáo Pháp về thiền Minh sát. Những người mong muốn trở thành Tu-Đà-Hườn ngay trong kiếp sống này phải thực hành thiền minh sát. Thực hành thiền minh sát không chỉ là việc thực hành sự chú ý đến các hành động thuộc về thân thể và lời nói, mà còn phải thực hành sự chú ý đến những hành động thuộc về tinh thần. Một điều quan trọng và chính yếu là, bạn phải biết cách thực hành thiền minh sát bằng tâm thức và khả năng của chính mình. Bất cứ công việc gì được thực hiện bằng tâm trí thì công việc đó là rất khó khăn và vi tế. Thỉnh thoảng, những người thực hành thiền minh sát bắt gặp trong tâm thức của mình một cái gì đó khiến cho họ cảm thấy khó chịu. Việc tập luyện khả năng chú ý và lãnh hội được Phật Pháp là một công việc đòi hỏi nhiều công phu và thời gian lâu dài. Vì vậy, trong quá trình thực hành thiền minh sát, đã có một số người trở nên chán nản và mất hết ý chí. Bên cạnh đó, cũng có nhiều người đã lãnh hội được Phật Pháp rất tốt. Họ đã gặt hái được nhiều điều kỳ diệu, trở nên rất vui vẻ và phấn chấn. Khi đã nhận thức được Phật Pháp đến một mức nào đó, những người thực hành thiền minh sát sẽ chấm dứt được tâm thức chán chường vô định của họ và bắt đầu một cuộc sống bình yên, an lạc để tiếp tục học tập và thực hành Phật Pháp. Mỗi khi cảm thấy chán nản và thất chí thì lúc đó, bạn cần phải biết lắng nghe những lời thuyết Pháp của Đức Phật một cách thích hợp. Nhờ đó, bạn sẽ thoát được những cảm giác khó chịu, sự chú ý của bạn sẽ trở nên tốt hơn. Bạn cũng bắt đầu nhận thấy tâm trạng của mình đã có nhiều tiến bộ và khá hơn trước. Đó là lý do tại sao, người mong muốn trở thành Tu-Đà-Hườn phải biết cách lắng nghe Phật Pháp.

 Phải có quan kiến đúng đắn để gặy hái được phước báu

Bạn cần phải có quan kiến hay quan điểm đúng đắn để gặt hái được phước báu nghĩa là : Khi bắt gặp những đối tượng của giác quan như : Vui, buồn, âm thanh êm tai hoặc chát tai, đàn ông hay đàn bà, các mùi thơm hay hôi thối, cảm giác êm ái hay thô ráp… bạn cần phải có một quan kiến đúng đắn về những đối tượng đã làm cho các giác quan của mình cảm thấy dễ chịu hay khó chịu. Những người nào chưa biết cách tập trung chú ý, họ sẽ trở nên gắn bó và bám víu vào những đối tượng đã làm cho các giác quan của họ cảm thấy dễ chịu, mỗi khi bắt gặp chúng. Từ đó, chắc chắn họ sẽ nảy sinh tâm tham lam muốn sở hữu những đối tượng dễ chịu đó hoặc muốn kéo dài tiến trình hiện khởi của chúng. Ngược lại, khi phải chạm trán với những đối tượng đã làm cho các giác quan cảm thấy khó chịu, họ lại không hài lòng và có thể trở nên sân hận. Mỗi khi bắt gặp những đối tượng nào đó đã làm cho các giác quan của mình cảm thấy dễ chịu, bạn cần phải suy luận rằng : “  Bởi vì những nghiệp thiện lành mà mình đã tạo ra trong ở quá khứ , cho nên bây giờ mình mới gặp được những đối tượng tốt đẹp và dễ chịu như vậy”. Nghiệp mà chúng ta đã tạo ra có thể tồn tại rất lâu. Nó có thể đi xuyên từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Vì vậy, những nghiệp thiện lành trong quá khứ mà bạn đã tạo ra có thể đi xuyên tới kiếp sống hiện tại mà bạn đang sống. Những nghiệp thiện lành này cũng có thể sẽ đi xuyên tới những kiếp sống trong tương lai của bạn. Chúng chỉ hoàn toàn tiêu tan khi bạn đã đạt tới Niết Bàn. Nói tóm lại, nghiệp mà chúng ta đã tạo ra sẽ luôn luôn đi theo chúng ta như bóng với hình từ kiếp sống này qua kiếp sống khác. Những người đã đạt tới quả vị A-Na-Hàm trở lên ( tức những người đã không còn tái sanh vào luân hồi) sẽ không còn bị nghiệp mới tác động. Tuy nhiên, họ vẫn còn phải trả hết những nghiệp cũ, nếu vẫn còn sống trong luân hồi. Mặc dù vậy, cũng có một vài loại nghiệp mà chúng ta đã làm trong quá khứ sẽ bị tiêu huỷ một cách tự nhiên hoặc bị chuyển hoá, bởi vì lực thúc đẩy của chúng đã bị giảm sút và không còn khả năng cho quả. Thông thường, chỉ khi chúng ta đã đạt tới Niết Bàn thì lúc đó, những nghiệp mà chúng ta đã tạo ra trong quá khứ mới thật sự tiêu tan.Vì vậy, bạn nên thực hiện thật nhiều hành động phước thiện. Nếu suy luận theo cách này, bạn sẽ có khả năng thoát khỏi tâm tham lam và gặt hái được phước báu.  Mỗi khi bắt gặp những đối tượng làm cho các giác quan cảm thấy khó chịu, bạn cần phải suy luận rằng “  Bởi vì những nghiệp bất thiện mà mình đã tạo ta trong quá khứ, cho nên bây giờ mình mới gặp những đối tượng khó chịu đó. Tuy nhiên, khi đang còn sống trong kiếp hiện tại, đối với những nghiệp xấu thông thường ở quá khứ ( không phải là nghiệp xấu có tính chất nghiêm trọng. Còn gọi  là trọng ác nghiệp- Garuka Akusala Kamma - ND), bạn vẫn có thể để vượt qua chúng bằng cách cố gắng thực hiện thật nhiều hành động thiện lành, đến mức mà những nghiệp thiện lành đã tạo chiếm số lượng nhiều và mạnh hơn những nghiệp xấu đã tồn tại trong tâm thức trước đó. Nếu suy luận theo cách này, bạn sẽ thoát khỏi được buồn khổ

( Domanasa – Grief ), sân hận ( Dosa - Anger) và gặt hái được phước báu.

Phải có khả năng thích ứng với Đạo quả và Niết Bàn

Phải có khả năng thích ứng với Đạo quả và Niết Bàn nghĩa là : Khi thực hiện những hành động xứng đáng, bạn phải biết hướng đến mục đích là Đạo quả và Niết Bàn. Khi thực hiện những hành động đó,bạn hãy nói : “ Idamme dānam magga phala nibbānassa paccayo hotu”. Câu này có nghĩa là : “ Cầu mong cho sự bố thí của tôi sẽ là nguyên nhân dẫn đưa tôi đến với trạng thái gặt hái được Đạo quả và Niết Bàn”. Khi thực hành giữ Giới, bạn hãy nói : “ Idamme Sīla magga phala nibbānassa paccayo hotu”. Câu này có nghĩa là : “ Cầu mong cho sự giữ Giới của tôi là nguyên nhân dẫn đưa tôi đến với trạng thái gặt hái được Đạo quả và Niết Bàn ”. Như vậy, bạn thực hành việc bố thí và giữ Giới là nhằm mục đích đạt tới Đạo quả và Niết Bàn. Cách thực hành tốt nhất để đạt tới Đạo quả và Niết Bàn là thực hành thiền minh sát. Những bậc cha mẹ thiện lành và đáng kính mong muốn trở thành Tu-Đà-Hườn phải thực hành thiền minh sát càng nhiều càng tốt, mỗi khi có thể. Những người mới tập thực hành thiền minh sát thường cảm thấy mệt mỏi hay kiệt sức về mặt thể xác hoặc tinh thần. Tuy nhiên, trong quá trình thực hành thiền minh sát, họ cũng sẽ gặt hái được trạng thái bình yên và hoan hỷ ở một mức độ tương đối nào đó, tuỳ theo khả năng của mỗi người.  Những người bình thường ( tức những người không thực hành thiền minh sát) và thậm chí cả những Chư Thiên cũng chưa có cơ hội được trải nghiệm trạng thái bình yên và hoan hỷ này. Trong thiền minh sát, bạn tìm thấy trạng thái tâm hài lòng, hoan hỷ và hạnh phúc.Sau khi đã vượt qua giai đoạn khó khăn ban đầu của quá trình thực hành thiền minh sát, những người mới thực hành loại thiền này sẽ gặt hái được lợi ích là có thể tập trung sự chú ý một cách dễ dàng hơn trước. Những hành giả này sẽ cân bằng được cảm giác hạnh phúc và bất hạnh. Họ sẽ không còn quá sợ hãi đối với những đối tượng khó chịu của các giác quan. Họ cũng không còn gắn bó và bám víu thái quá vào những cảm giác đã làm họ cảm thấy dễ chịu. Đến khi đó, mặc dù phải đối diện với những thăng trầm của cuộc sống, họ vẫn có khả năng đón nhận những thăng trầm ấy một cách bình thản, bởi vì họ đã gặt hái được một năng lực tư duy và nhận biết đúng đắn về chúng. Họ cũng sẽ có khả năng chịu đựng những gánh nặng của cuộc sống một cách kiên nhẫn và phi thường. Khi những hành giả này tiếp tục thực hành thiền minh sát và gặt hái được tụê minh sát ( Vipassanā Ñāna -  insight ‘s ability) hay năng lực nội quán thì họ sẽ đạt tới con đường trí tuệ của một Tu-Đà-Hườn ( Sotāpatti magga Ñāna – intelligential way of the Stream Winner) và Quả tuệ Tu-Đà-Hườn ( Sotāpatti Phala Ñāna – Resultant wisdom ‘s Stream Winner). Sau đó, dĩ nhiên họ sẽ trở thành một Tu-Đà-Hườn. Vào lúc đó, những nghiệp thông thường ( nghiệp có sức tác động không mạnh lắm) mà họ đã làm trong những kiếp sống ở quá khứ đã hoàn toàn bị triệt tiêu, ngoại trừ những trọng nghiệp – Garuka Kamma ( có thể tốt hoặc xấu). Những nghiệp bất thiện mà họ đã tạo ra trong cuộc sống này, đáng ra sẽ dẫn đưa họ xuống địa ngục thì nay chúng đã bị tiêu huỷ. Cánh cửa địa ngục đã hoàn toàn khép lại đối với một Tu-Đà-Hườn. Đó là lý do tại sao, những bậc cha mẹ thiện lành và đáng kính có mong muốn trở thành một Tu-Đà-Hườn và đóng lại cánh cửa của địa ngục khổ đau phải có được 4 phẩm chất sau : Phải biết nương tựa vào những vị thầy có đức hạnh, phải biết lắng nghe Phật Pháp, phải có quan kiến đúng đắn để gặt hái phước báu, phải thực hành thiền minh sát để có khả năng thích ứng với Đạo quả và Niết Bàn.

Tóm tắtBiết nương tựa vào những vị thầy có đức hạnh, biết lắng nghe Giáo Pháp của Đức Phật, có quan điểm đúng đắn để gặt hái phước báu, có khả năng thích ứng với Đạo quả và Niết Bàn khi thực hành Phật pháp là 4 nhân tố cần phải được hoàn thiện trong chính một người nào đó có mong muốn trở thành một Tu-Đà-Hườn.                   

 

                                

                              Những dạng Tu-Đà-Hườn

 

 Ngày nay phong trào thực hành thiền minh sát đang rất thịnh vượng.

Khi thiền minh sát đang hưng thịnh thì những người đã từng thực hành loại thiền này sẽ có cơ hội để thực hành nhiều hơn. Những người chưa bao giờ thực hành thiền minh sát cũng sẽ có cơ hội để học tập những nguyên lý căn bản về loại thiền này. Đa số mọi người đều thực hành thiền minh sát với mục đích tối thiểu là trở thành Tu-Đà-Hườn. Nếu mục đích của bạn trong kiếp sống này là trở thành một Tu-Đà-Hườn thì bạn cần phải thực hành thiền minh sát. Đúng theo hạnh nguyện Ba-La-Mật ( Pāramīta) của bạn khi thực hành thiền minh sát, có đến 24 dạng Tu-Đà-Hườn. Bạn có thể có một hạnh nguyện Ba-La-Mật căn bản. Tuy nhiên, khi thực hành thiền minh sát với hạnh nguyện này, bạn sẽ không lãnh hội được Phật Pháp giống như một số người khác. Có một vài hành giả cũng thực hành thiền minh sát với hạnh nguyện Ba-La-Mật căn bản giống như bạn. Tuy nhiên, họ lại nhận thức được Phật Pháp một cách rất nhanh chóng và chính xác. Trong khi đó, một số người khác cũng thực hành thiền với hạnh nguyện như thế nhưng trạng thái nhận thức Phật pháp của họ lại hiện khởi một cách không được rõ ràng cho lắm. Sau một thời gian thực hành thiền minh sát, những người nhận thức Phật Pháp không được rõ ràng thường có khuynh hướng nghĩ rằng, họ không thể trở thành những Tu-Đà-Hườn trong kiếp sống này. Do đó, có thể họ sẽ trở nên ngã lòng thối chí. Nếu như không muốn bị rơi vào tâm trạng ngã lòng thối chí trong quá trình thực hành thiền minh sát, bạn cần phải nhận thức được những dạng Tu-Đà-Hườn nào đó mà mình có hạnh nguyện muốn thực hiện. Có những người thực hành thiền đúng theo hạnh nguyện cao nhất của một Tu-Đà-Hườn và họ có thể thực hành một cách dễ dàng và thoải mái. Ngược lại, cũng có một số người khác đã cảm thấy khổ sở vì kiệt sức. Những người đã gặp phải nhiều trở ngại lớn và bị kiệt sức khi thực hành thiền minh sát đúng theo hạnh nguyện cao nhất của một Tu-Đà-Hườn thường có khuynh hướng nghĩ rằng, họ không thể trở thành những Tu-Đà-Hườn ngay trong kiếp sống này. Từ đó, có thể họ sẽ trở nên mất hết can đảm rồi bỏ cuộc. Vì vậy, họ cần phải có một sự hiểu biết đúng đắn và rõ ràng về 24 dạng Tu-Đà-Hườn. Những bậc cha mẹ thiện lành và đáng kính thực hành thiền minh sát để trở thành Tu-Đà-Hườn ngay trong kiếp sống này có thể hoặc không thể lãnh hội được Phật Pháp một cách nhanh chóng đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật căn bản của họ. Có một vài người cũng nhận thức được Phật Pháp nhưng chưa được rõ ràng cho lắm. Cũng có một số người lại đã có khả năng thực hành thiền rất dễ dàng và thoải mái. Trong khi đó, cũng có một số người khác lại cảm thấy bất hạnh và mệt mỏi. Tuy nhiên, qua những sự trải nghiệm đã có, nếu biết được có tất cả 24 dạng Tu-Đà-Hườn thì bạn sẽ không bao giờ nản chí và chắc chắn sẽ trở thành một Tu-Đà-Hườn nếu nổ lực hết mình để thực hành thiền minh sát. Vì vậy, bạn cần phải biết về 24 dạng Tu-Đà-Hườn. Có 3 dạng Tu-Đà-Hườn được tính theo số lượng kiếp sống mà họ còn phải trải qua trước khi đạt tới Niết Bàn hạnh phúc, đó là :

1. Sattakhattuparama Sotāpañña –  Tu-Đà-Hườn theo dạng này còn phải sống thêm 7 kiếp nữa trong thế giới của loài người và Chư Thiên, kể từ khi đạt được quả vị này. Sau đó, họ sẽ đạt tới Niết Bàn.

2. Kolankola Sotāpañña – Tu-Đà-Hườn theo dạng này còn phải sống thêm từ 2 đến 6 kiếp nữa trong thế giới của loài người và Chư Thiên kể từ khi đạt được quả vị này. Sau đó họ sẽ đạt tới Niết Bàn.

3. Ekabiji Sotāpañña – Tu-Đà-Hườn theo kiểu này chỉ phải sống thêm một kiếp nữa trong thế giới của loài người hoặc Chư Thiên. Sau đó, họ sẽ đạt tới Niết Bàn. Có tất cả 2 dạng Tu-Đà-Hườn khi phân loại theo nền tảng căn bản của họ :

a. Tu-Đà-Hườn có sở trường về niềm tin ( Saddhā dhura Sotāpañña)

b. Tu-Đà-Hườn có sở trường về trí tuệ  ( Paññā dhura Sotāpañña)

 Những người mong muốn trở thành Tu-Đà-Hườn ngay trong kiếp sống này phải thực hành thiền minh sát. Khi thực hành thiền minh sát, những người có sở trường là niềm tin có thể trở thành một Tu-Đà-Hườn. Họ được biết đến như là những Tu-Đà-Hườn có nền tảng là niềm tin. Những người sẽ trở thành Tu-Đà-Hườn bằng trí tụê sẽ trở thành những Tu-Đà-Hườn có nền tảng là trí tuệ. Một người nào đó có sở trường là niềm tin thì người này sẽ có khả năng trở thành một Tu-Đà-Hườn có nền tảng là niềm tin. Khi thực hành thiền minh sát, người này có niềm tin rằng, anh ta sẽ trở thành một Tu-Đà-Hườn ngay trong kiếp sống này. Do đó, anh ta đã thực hành thiền với một niềm tin mãnh liệt. Tuy nhiên, anh ta sẽ không lãnh hội được Phật Pháp một cách nhanh chóng. Khi đã đạt tới năng lực nhận thức được bản chất của danhsắc ( Nāmarūpa pariccheva Ñāna – Realizable brainpower about name and form ) nhưng anh ta vẫn không thể phân biệt được sự khác nhau về những tiến trình của chúng một cách rõ ràng, mà chỉ nhận biết được một cách mập mờ. Chỉ đến khi được vị thầy của mình giảng cho hiểu rõ về vấn đề này thì đến lúc đó, anh ta mới có khả năng phân biệt được sự khác nhau giữa những tiến trình thuộc về tinh thần và vật chất một cách rõ ràng. Đây là dạng người sẽ trở thành một Tu-Đà-Hườn có nền tảng là niềm tin. Khi đang thực hành thiền minh sát, một hành giả nào đó có thể gặt hái được sự hiểu biết về luật nhân quả ( Paccaya pariggaha Ñāna ( Knowledge of cause and effect), kiến thức lãnh hội được 3 tính cách vô thường, khổvô ngã

( Sammasana Ñāna – Knowledge of comprehension of the 3 characteristics : Impermanent, suffering and noself ), kiến thức về trạng thái khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng thuộc về tinh thần và vật chất ( Udayabbaya Ñāna – Knowledge of arising and passing away of mental and physical phenomena), kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu ( Bhanga Ñāna – Knowledge of dissolution), kiến thức về trạng thái tâm sợ hãi ( Bhaya Ñāna – Knowledge of fear), kiến thức về trạng thái tâm nhàm chán ( Adinava Ñāna – Knowledge of disgust), kiến thức về trạng thái bị kiệt sức ( Nibbida Ñāna – Knowledge of weariness ), kiến thức về tâm ước muốn được giải phóng ( Muncitukamyata Ñāna – Knowledge of desire for liberation), kiến thức để nâng cao khả năng thực hành sự chú ý ( Patisankha Ñāna – Knowledge to further the practise of mindfulness), kiến thức về trạng thái tâm trầm tĩnh

( Sankharupekha Ñāna – Knowledge of equanimity ). Mặc dù vậy, hành giả này vẫn không nhận thức được Phật Pháp một cách nhanh chóng.

Đây là loại hành giả sẽ trở thành một Tu-Đà-Hườn có nền tảng là niềm tin. Vì vậy, mặc dù hành giả này thực hành thiền và đã lãnh hội được Phật Pháp nhưng anh ta chỉ mới lãnh hội được một cách mập mờ mà thôi. Tuy nhiên, khi đã gặt hái được trí tuệ nội quán, anh ta vẫn trở thành một Tu-Đà-Hườn. Đây là dạng Tu-Đà-Hườn được gọi là Tu-Đà-Hườn có nền tảng là niềm tin. Người sẽ trở thành Tu- Đà-Hườn có sở trường là trí tuệ là một người thực hành thiền minh sát và nhận thức Phật Pháp một cách rất nhanh chóng. Khi đã đạt tới trí tuệ nhận thức được danh và sắc, anh ta có thể phân biệt được bản chất của chúng một cách rất minh bạch. Đây là người được biết đến như là một Tu-Đà-Hườn có nền tảng là trí tuệ. Một hành giả đang đi bộ, anh ta chú ý đến các hoạt động đi bộ của chính mình và lãnh hội được một cách rất rõ ràng những tiến trình của thân tâm qua hành động dở chân lên, bước tớiđặt chân xuống. Thỉnh thoảng, khi đang thiền hành, anh ta đã nhận thức được một cách rõ ràng rằng, thân thể của mình đã bước đi như một người máy, còn tâm trí của anh ta thì chú ý để quan sát các hoạt động của thân thể. Vì vậy, một người đã lãnh hội và phân biệt được bản chất danh và sắc một cách rõ ràng thì người này đã trở thành một Tu-Đà-Hườn có nền tảng là trí tuệ. Người này cũng tập trung sự chú ý đang khi thực hành thiền và gặt hái được kiến thức về nhân quả, kiến thức về tính vô thường, khổvô ngã, kiến thức về trạng thái khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng vật chất và tinh thần, kiến thức về trạng thái sợ hãi, kiến thức về trạng thái tâm nhàm chán, kiến thức về sự kiệt sức, kiến thức về tâm ước muốn được giải phóng, kiến thức để nâng cao khả năng thực hành sự chú ý, kiến thức về trạng thái tâm trầm tĩnh. Tuy nhiên, anh ta đã lãnh hội được Phật Pháp một cách minh bạch. Người này bây giờ đã trở thành một Tu-Đà-Hườn có nền tảng là trí tuệ ( Paññā dhura Sotāpañña ). Nếu phân loại theo cách thức hành thiền ( Patipada), Tu-Đà-Hườn có nền tảng trí tuệ sẽ có 4 dạng:

1. Những người thực hành thiền một cách miễn cưỡng vì gặp phải nhiều trở ngại làm cho tiến trình gặt hái được Phật Pháp của họ bị chậm lại.

2. Những người thực hành thiền một cách miễn cưỡng vì gặp phải nhiều trở ngại nhưng tiến trình gặt hái được Phật Pháp của họ diễn ra một cách rất nhanh chóng.

3. Những người thực hành thiền một cách rất thanh thản và thoải mái nhưng tiến trình gặt hái được Phật Pháp của họ diễn ra rất chậm chạp.

4. Những người thực hành thiền một cách rất thanh thản và thoải mái, tiến trình gặt hái được Phật Pháp của họ diễn ra rất nhanh chóng. Vì vậy, Tu-Đà-Hườn có nền tảng là trí tuệ sẽ có 4 dạng. Tương tự như vậy, nếu phân loại theo cách thức hành thiền thì Tu-Đà-Hườn có nền tảng là niềm tin cũng có 4 dạng. Do đó, khi cọng 4 dạng Tu-Đà-Hườn có nền tảng là niềm với 4 dạng Tu-Đà-Hườn có nền tảng là trí tuệ, chúng ta sẽ có 8 dạng Tu-Đà-Hườn.

 24 dạng Tu-Đà-Hườn

Bốn dạng Tu-Đà-Hườn có nền tảng là niềm tin cọng với 4 dạng Tu-Đà-Hườn có nền tảng là trí tuệ làm thành 8 dạng Tu-Đà-Hườn. Mỗi dạng Tu-Đà-Hườn trong 8 dạng này có thể phân loại thành 3 dạng khác, đó là : Sattakkattuparama Sotāpañña, Kolankola SotāpaññaEkabiji.

Như vậy, 8 dạng Tu-Đà-Hườn đã nêu từ trước nhân với 3 dạng Tu-Đà-Hườn vừa kể sẽ thành 24 dạng Tu-Đà-Hườn. Những người nào đã đạt tới trí tuệ ngang bằng với một trong 24 dạng Tu-Đà-Hườn đã được đề cập trong bài này sẽ thoát khỏi địa ngục luân hồi và những cõi sống thấp kém.Vì vậy, những bậc cha mẹ thiện lành và đáng kính có mong muốn thoát khỏi địa ngục luân hồi và những cảnh sống thấp kém phải thực hành thiền minh sát cho đến khi trở thành một Tu-Đà-Hườn.

 

            Hoàn thiện việc cúng dường vật thực

 

 Những người Phật tử mộ Đạo luôn luôn tôn kính những lời giáo huấn của Đức Phật, học tập và thực hành theo những lời giáo huấn đó. Họ băn khoăn muốn biết về những lời giáo huấn của Đức Phật mà mình chưa biết để thực hành theo. Đặc biệt, họ rất muốn biết về những cách thức cúng dường vật thực cho Tăng già mà mình chưa biết. Khi cúng dường vật thực cho Tăng Già, bạn phải nhớ lại cách thức thực hiện đúng đắn mà mình đã được học để Tăng Già và người dâng cúng khỏi bị phạm Giới. Tuy nhiên, cũng có một số người khi dâng cúng vật thực lại không suy nghĩ được như vậy. Có một số người đã suy nghĩ rằng, sau khi cúng dường cho Tăng Già, những người thế tục không được đụng vào các loại vật thực đã dâng cúng. Nếu họ có suy nghĩ như vậy thì Tăng Già không thể thọ được bất cứ một loại vật thực nào cả. Thậm chí, có một vài người lại nói rằng, nếu những người thế tục đụng vào vật thực đã cúng dường thì Tăng Già không thể thọ dụng được những vật thực đó. Thật ra không phải như vậy, việc đụng hay không đụng vào các vật thực dâng cúng thì cũng không có tác động gì đến việc cúng dường cả. Một vài người nghĩ rằng, khi cúng dường chúng ta phải đứng cách xa Tăng Già để dâng cúng thì mới được cho là cao thượng và biết tôn kính. Một vài người khác lại nghĩ rằng khi dâng cúng, chúng ta cần phải đứng thật gần Tăng Già thì mới được cho là tốt và biết thể hiện sự tôn kính. Vì vậy, những thí chủ khi cúng dường cho Tăng Già thường có nhiều ý nghĩ khác nhau. Đó là lý do tại sao khi dâng cúng vật thực, chúng ta cần phải biết cách thực hiện như thế nào để có thể hoàn thiện được hạnh này. Có 5 nhân tố có thể áp dụng để hoàn thiện việc cúng dường vật thực cho Tăng Già, đồng thời cũng có 6 nhân tố nên tránh bởi vì những nhân tố này có thể làm cho việc cúng dường của chúng ta không được hoàn thiện.

  5 nhân tố để hoàn thiện việc cúng dường vật thực cho Tăng Già

Có 5 nhân tố mà những người thế tục cần phải biết khi dâng cúng dường vật thực cho Tăng Già. Chúng ta cần phải hoàn thiện được 5 nhân tố này để Tăng Già và cả chúng ta có thể thọ dụng được những vật thực ấy. Năm nhân tố đó là :

1. Vật thực cúng dường phải được mang đến với ý định cúng dường cho Tăng Già

2. Vật thực cúng dường phải được đặt cách Tăng Già trong vòng bán kính 2,5 cubits khi dâng cúng ( một cubit bằng 45,72 cm, như vậy khoảng này là 114, 3 cm - ND) và không được vượt quá khoảng cách đã qui định.

3. Trọng lượng vật thực cúng dường không được nặng quá sức mang của một người bình thường.

4. Vật thực cúng dường phải được dâng cúng theo 3 cách dâng cúng truyền thống.

5. Vật thực cúng dường phải được Tăng Già chấp nhận một cách hoan hỷ và họ chỉ được thọ nhận những vật thực ấy theo một trong 3 cách truyền thống. Khi cúng dường vật thực cho Tăng Già, nếu 5 nhân tố nói trên đã được hoàn thiện thì Tăng Già mới có thể thọ nhận được những vật thực dâng cúng.

1. Vật thực cúng dường phải được mang đến với ý định cúng dường cho Tăng Già nghĩa là  : Những loại vật thực muốn dâng cúng phải được Tăng già chấp nhận. Những vật thực cúng dường phải được mang đến với ý định cúng dường cho Tăng Già. Nếu lúc ban đầu, những vật thực dường này được mang đến với một ý định khác thì việc dâng cúng sẽ không được hoàn thiện. Những đối tượng được phép thực hiện việc cúng dường vật thực cho Tăng Già và có thể hoàn thiện được hạnh này là các Giới tử hay các Tỳ Kheo tân học ( Sāmanera – Probational Buddhist monks), nam giới hay nữ giới , các Chư Thiên ( Devas – celestial persons), các loài vật hiền lành đã được thuần hoá ( good and tame animals), và các Tỳ kheo Ni ( Bhikkhunī – Buddhist Nun). Việc cúng dường vật thực chỉ được hoàn thiện khi vật thực được những đối tượng kể trên mang đến với ý định dâng cúng cho Tăng Già. Vì vậy, Tăng Già mới có thể thọ nhận những vật thực cúng dường này.

2. Vật thực cúng dường phải được đặt cách các Tỳ-kheo trong vòng bán kính 2,5 cubits, tức 114,3 cm ( trên dưới 1,2 mét) và không được vượt quá khoảng cách đã qui định nghĩa là : Những thí chủ cúng dường vật thực cho Tăng Già phải đặt những vật thực này cách Tăng Già trong vòng bán kính 2, 5 cubits khi dâng cúng. Khoảng cách này được tính từ vị trí của các Tỳ Kheo đến vị trí của những thí chủ. Vì vậy, những người cúng dường vật thực chỉ được có một khoảng cách tối thiểu đối với các Tỳ Kheo là 2,5 cubits khi dâng cúng. Khi dâng cúng vật thực, các thí chủ phải tiến lại gần các Tỳ Kheo với một khoảng cách thích hợp, có thể là gần hơn 2,5 cubits một chút cũng không bị mắc tội gì cả. Việc cúng dường như vậy được cho là đúng hoàn toàn. Dĩ nhiên khi dâng cúng vật thực, chúng ta cũng không nên tiến lại quá gần các Tỳ Kheo. Có một vài thí chủ khi dâng cúng vật thực lại giữ một khoảng cách quá xa ( vượt quá 2,5 cubits) đối với các Tỳ Kheo, bởi vì họ nghĩ rằng làm như vậy là thể hiện sự tôn kính, điều này là không đúng. Nếu thực hiện cúng dường theo cách này thì  việc dâng cúng của họ sẽ không được hoàn thiện và bị xem như đã vi phạm Giới luật.

                                                                         (  Pacityā – ttha 92 )

3. Vật thực cúng dường phải có trọng lượng không được nặng quá sức mang của một người bình thường nghĩa là : Vật thực cúng dường cho Tăng Già  (được đặt trong một bình bát, trên một cái bàn hay trên một mặt phẳng với khoảng cách đã qui định) phải có trọng lượng tương đương với sức mang của một người bình thường. Tuy nhiên trong thực tế, một Tỳ Kheo có thể thọ nhận sự cúng dường từ nhiều thí chủ. Nếu vị Tỳ-kheo này không thể mang nổi các vật thực được cúng dường thì sẽ có những người đi theo mang giúp. Người tháp tùng các Tỳ Kheo để mang giúp các loại vật thực cúng dường được gọi làngười sớt bát. Như vậy, việc cúng dường vật thực đã được hoàn thiện.

4. Vật thực cúng dường phải được dâng cúng theo 3 cách dâng cúng truyền thống nghĩa là : Khi cúng dường vật thực, các thí chủ có thể xử dụng tay không đặt các loại vật thực vào trong bát của các vị Tỳ Kheo để dâng cúng. Cách dâng cúng truyền thống thứ hai là thí chủ phải sắm một bình bát chuyên dùng vào việc cúng dường và đặt vật thực vào đó để dâng cúng. Cách dâng cúng truyền thống thứ ba là đặt vật thực trên một mặt phẳng sạch sẽ nào đó để dâng cúng. Vật thực dâng cúng có thể được đặt tại một nơi hơi cao hay hơi thấp một chút cũng được, miễn là không vượt quá bán kính 2,5 cubits ( tính từ nơi đặt vật thực đến chỗ ngồi của Tăng già). Các thí chủ khi cúng dường vật thực cho Tăng Già có thể tự do dâng cúng theo một trong 3 cách dâng cúng truyền thống đã nêu trên.

5. Những vật thực cúng dường phải được các Tỳ Kheo chấp nhận một cách hoan hỷ, Các Tỳ-kheo chỉ được thọ nhận những vật thực ấy theo một trong 3 cách truyền thống nghĩa là : Khi được những thí chủ dâng cúng vật thực, các Tỳ Kheo có thể thọ nhận vật thực bằng tay không, bằng bình bát hay trên một mặt phẳng nào đó. Các Tỳ Kheo phải chấp nhận các vật thực dâng cúng đúng theo 5 nhân tố qui định khi cúng dường. Các thí chủ khi dâng cúng vật thực cũng phải tuân thủ theo 5 nhân tố này.

Tóm tắt:  Mang đến với ý định cúng dường, trong vòng bán kính 2,5 cubits, có thể mang nổi, dâng cúng và thọ nhận theo 3 cách truyền thống là 5 nhân tố để hoàn thiện việc cúng dường vật thực.

 

 6 nhân tố không nên làm khi hoàn thiện việc dâng cúng vật thực

 Sau khi cúng dường vật thực cho Tăng Già xong, hiệu quả của việc dâng cúng có thể bị phá huỷ bởi 6 nhân tố sau :

1. Sau khi chấp nhận các vật thực cúng dường và thuốc men chữa bệnh, các Tỳ Kheo đem những thứ ấy cho đi vì không muốn xử dụng chúng.

2. Sau khi chấp nhận các vật thực cúng dường và thuốc men chữa bệnh, các Tỳ kheo lại trở thành một người thế tục ( tức hoàn tục).

3. Sau khi chấp nhận các vật thực cúng dường và thuốc men chữa bệnh, các Tỳ Kheo đem những thứ ấy đi cho người khác vì một lý do nào đó.

4. Sau khi chấp nhận các vật thực cúng dường và thuốc men chữa bệnh, các Tỳ Kheo bị ai đó dùng sức mạnh để cướp đi hoặc các Tỳ Kheo mang đi cho người thân.

5. Sau khi chấp nhận các vật thực cúng dường và thuốc men chữa bệnh, các Tỳ Kheo đem chúng bán lại cho người khác.

6. Sau khi chấp nhận các vật thực cúng dường và thuốc men chữa bệnh, các Tỳ Kheo đem chúng vất đi hoặc phá huỷ.

 Bởi vì 6 nhân tố nói trên mà việc cúng dường sẽ trở nên vô hiệu, chỉ cần 1 trong 6 yếu tố này phát khởi thì việc cúng dường vật thực xem như đã bị hỏng.

 Tóm tắt :  Sự ruồng bỏ, trở thành người thế tục, đem cho đi, bị cướp hay cho người thân, phá huỷ hoặc vất đi là 6 nhân tố làm hỏng ý nghĩa của việc cúng dường vật thực.

 Có những vật thực và thuốc men chữa bệnh được dâng cúng trước đó đã bị các Tỳ Kheo đem cho người khác hoặc vất đi. Tuy nhiên, nếu những thứ này vẫn chưa bị hư hỏng, còn mới và còn dùng được thì chúng ta có thể lấy chúng để đem dâng cúng cho một Tỳ Kheo khác. Những vật thực và thuốc men chữa bệnh được dâng cúng lần thứ hai theo cách này vẫn được xem là còn giá trị cúng dường. Vì vậy, các Tỳ Kheo vẫn có thể xử dụng chúng. Ngày nay, người già và các người lớn tuổi nói chung rất tôn kính những lời giáo huấn của Đức Phật. Họ thường cảnh báo với những người trẻ tuổi rằng, không nên đụng vào những vật thực đã được dâng cúng cho Tăng Già. Thậm chí, không nên đụng vào những nơi xử dụng để đặt vật thực dâng cúng. Trong thực tế, nếu khi Tăng Già có ý định cho người khác những vật thực đã được dâng cúng thì dĩ nhiên bất cứ ai cũng có thể thọ nhận và đụng chạm vào chúng. Việc dâng cúng như vậy vẫn có ý nghĩa và đã được hoàn thiện.

 

          

 

                Những nền tảng của thiền minh sát

 

 Ngày nay, thiền minh sát đang rất hưng thịnh. Những người Phật tử mộ Đạo thường thực hành loại thiền này mỗi khi họ có thể, bởi vì đó là một cách thực hành mang lại nhiều lợi ích nhất. Thực hành thiền minh sát không chỉ là sự hoàn thiện năng lực chú ý mà còn có nhiều điều khác nữa. Thứ nhất, bằng cách thực hành thiền minh sát, chúng ta sẽ loại bỏ được tâm tham lam ( Lobha – Greed ), sân hận ( Dosa – Anger) và vọng tưởng ( Moha – Delusion ) - là những thứ ô nhiễm có thể dẫn đưa chúng ta đến với 4 cảnh sống sầu muộn thống khổ trong luân hồi. Thứ hai, khi năng lực định tâm đã chín muồi thì năng lực này sẽ dẫn dắt chúng ta đến với Niết Bàn hạnh phúc. Mỗi sự chú ý của người thực hành thiền minh sát là một trợ lực quan trọng có thể giúp cho người này dần dần tránh xa được địa ngục luân hồi và càng tiến lại gần Niết Bàn hơn. Bằng cách thực hành thiền minh sát, bạn sẽ  thoát khỏi địa ngục và đạt tới Niết Bàn. Mặc dù việc thực hành thiền minh sát mang lại nhiều lợi ích. Tuy nhiên, khi mới khởi sự tập luyện, bạn phải chạm trán với nhiều trạng thái khổ sở. Nếu có thể vượt qua được giai đoạn khó khăn lúc ban đầu trong quá trình thực hành loại thiền này, ở giai đoạn giữa và giai đoạn cuối, bạn sẽ gặt hái được hạnh phúc và bình yên. Khi thực hành thiền minh sát, bạn cần phải chọn một nơi yên tĩnh để thực hành sự chú ý đến hơi thở vào và hơi thở ra hay những tiến trình phồng xẹp lên xuống của bụng.Trong lúc đang thực hành thiền tọa, bạn không được cử động thân thể mà phải tập trung sự chú ý trong vòng khoảng 1 giờ đồng hồ. Khi tập cách giữ cho thân thể đứng yên trong vòng khoảng 1 giờ đồng hồ, lúc ban đầu, bạn thường có cảm giác đau nhức và mệt mỏi. Lúc ban đầu, tập cách giữ cho tâm ý của mình không bị đi hoang trong vòng khoảng một giờ đồng hồ cũng là một việc khó khăn đối với bạn. Hành giả thực hành thiền minh sát cần phải gặt hái được kiến thức phân biệt được những tiến trình của danhsắc ( Nāmarūpapariccheda Ñāna – Knowledge of the difference between mental and physical processes), tức sự hiểu biết rằng, tinh thần và vật chất là 2 thành phần tách biệtkhác nhau.Tiếp đến, hành giả phải gặt hái được sự hiểu biết về luật nhân quả (Paccayapariggaha Ñāna – Knowledge of the law of cause and effect ). Sau khi đã gặt hái được 2 loại kiến thức vừa nêu, mỗi khi thực hành thiền Minh sát, hành giả sẽ nhận thức được rằng, vì sao khi thể xác bị khổ đau thì tinh thần cũng bị khổ đau theo. Ngoài ra, hành giả thực thiền minh sát cũng phải gặt hái được kiến thức lãnh hội

( Sammasana Ñāna – Knowledge of comprehension ). Lãnh hội ở đây là lãnh hội được 3 tính cách vô thường ( annica – impermanent), khổ

( dukkha – suffering) và vô ngã ( anatta – noself ), lãnh hội được cái khổ của đau nhức, cảm giác choáng váng chóng mặt ( Dizzness), cảm giác ngứa ngáy ( itchiness), buồn nôn ( nausea), cảm giác bị đu đưa lúc lắc như đánh võng ( swayying), cảm giác nặng nề ( heaviness), cảm giác căng thẳng ( tightness) của thân thể… Một vài hành giả đã gặt hái được kiến thức lãnh hội sẽ chuyển sang một giai đoạn tâm lý tiêu cực, cụ thể là họ sẽ nghĩ rằng mình không thể nào lãnh hội được Phật Pháp ngay trong kiếp sống này, bởi vì trước đó họ đã trải nghiệm được quá nhiều sự khổ đau thuộc về  thể xác như đã nêu trên. Hậu quả là, họ đã trở nên chán nản và mất hết ý chí. Khi mới bắt đầu tập sự thực hành thiền minh sát, hành giả cần phải vượt qua được những điều bất như ý và trạng thái tâm lý tiêu cực này. Cốt tuỷ giá trị đáng bỏ công của Phật Pháp sẽ hiển lộ khi bạn đã vượt qua được những cảm giác khổ đau bất như ý của thân thể trong bước đầu tập sự thực hành thiền minh sát. Khi những hành giả đã gặt hái được một năng lực nội quán cao hơn, họ sẽ nhận thức được trạng thái bình yên và hạnh phúc. Vì vậy, các vị thiền sư cần phải khuyến khích, động viên những người học trò của mình trong suốt quá trình dạy và học thiền minh sát. Khi hành giả đã có thể vượt qua được tất cả những trạng thái tâm lý bất như ý trong quá trình lãnh hội những cảm giác khổ đau thuộc về thân thể, họ sẽ gặt hái được sự hiểu biết về tiến trình khởi lên và tan biến đi của những hiện tượng thuộc về tinh thần và vật chất ( Udayabbaya Ñāna – Knowledge of arising and passing away of mental and physical phenomena). Đến giai đoạn đó, hành giả sẽ có được niềm hoan hỷ và hạnh phúc đến từ một tâm trí đã tinh khiết. Niềm hân hoan và hỷ lạc theo kiểu này chỉ có con người mới có thể tận hưởng được. Chư Thiên sống ở các cõi trời không thể được như vậy. Do đó, những lời động viên và khuyến khích của các vị thiền sư đối với các thiền sinh đang thực hành thiền Minh sát là một nhân tố quan trọng. Những người đang theo học và thực hành thiền minh sát cần phải biết lắng nghe những chỉ dẫn của các vị thiền sư đang hướng dẫn cho họ, thực hành thiền một cách hăng hái nhiệt tình, không một chút buông lung. Nếu có thể thực hành như thế, họ sẽ gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng ( Udayabbaya Ñāna – Knowledge of the birth and extermination ‘s phenomena) trong vòng 2 hoặc 3 ngày. Khi một hành giả đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng, anh ta sẽ nhận thức được bản chất của những tiến trình thuộc về tinh thần và vật chất một cách rõ ràng, cũng như sẽ nhận thức được tính mềm dẻo dễ uốn nắn và khả năng tự động chú ý tài tình của tâm thức ( The pliancy and adaptability for well-trained and automatically proficiency notes of the noting consciousness). Nhờ vậy, hành giả sẽ có được khả năng chú ý đến những đối tượng đang khởi lên trong từng khoảnh khắc đúng theo cách thức riêng của chúng. Đến lúc đó, hành giả thực hành thiền minh sát có thể ngồi lâu hơn, có thể là 2 hay 3 tiếng đồng hồ liên tiếp…Sau khi đã có khả năng tọa thiền liên tiếp trong 2 hay 3 tiếng đồng hồ, hành giả sẽ tận hưởng được trạng thái bình yên và hoan hỷ trong thiền minh sát ( Vipassanā piti sukha) mà các Chư Thiên không thể có được. Hành giả sẽ tận hưởng được trạng thái hỷ lạc này vào giai đoạn giữa của quá trình thực hành thiền minh sát.

Khi hành giả thực hành thiền minh sát chú ý một cách liên tục và gặt hái được kiến thức về sự cấu thành của vật chất ( Sankhārupekkha Ñāna- Knowledge about the component of the matter), anh ta sẽ có khả năng thực hành nội quán trong một tâm trí tĩnh lặng. Mỗi khi phải chạm trán với những đối tượng đáng sợ của giác quan, anh ta sẽ không còn quá sợ hãi chúng. Lúc đó, hành giả vẫn giữ được sự bình tĩnh. Khi bắt gặp những đối tượng dễ chịu của các giác quan thì những đối tượng này có thể khiến cho hành giả nảy sinh tâm khao khát và bám víu. Tuy nhiên, lúc đó hành giả vẫn giữ được sự bình tĩnh và không hề bị dính mắc vào những đối tượng dễ chịu này.Những người đã thật sự gặt hái được thành công trong giai đoạn giữa của quá trình thực hành thiền minh sát thì họ sẽ không bao giờ còn cảm thấy bối rối trước những sự thăng trầm của cuộc sống ( The vicissitudes of life). Họ sẽ có khả năng nhận thức về các hiện tượng tâm-vật lý ( The psycho-physical phenomena) - là những đối tượng hài lòng hay không hài lòng của giác quan với một tâm thức bình thản. Họ đã vượt qua được những thăng trầm của thế giới. Họ đã thật sự được bình yên và hạnh phúc. Bằng cách liên tục thực hành thiền minh sát, hành giả sẽ đạt tới Đạo tuệ của một Tu-Đà-Hườn, thoát khỏi được khổ đau và sẽ không bao giờ còn bị tái sanh vào địa ngục. Một Tu-Đà-Hườn sẽ tiếp tục sống trong luân hồi tối đa là 7 kiếp nữa và sau đó sẽ đạt tới Niết Bàn. Vì vậy, cuối cùng, những người thực hành thiền minh sát sẽ gặt hái được trạng thái tâm bình yên và hạnh phúc. Trước khi đạt tới giác ngộ tối thượng, Đức Phật vẫn còn là một vị Bồ-Tát ( Buddhisatta). Ngài đã nói rằng khi mới tập sự thực hành thiền minh sát để đạt tới Đạo quả và trí tuệ, tất cả mọi người đều sẽ gặp phải những điều bất như ý và khổ đau. Trong quá trình thực hành thiền minh sát, trạng thái bình yên và hạnh phúc sẽ thình lình xuất hiện trong tâm thức của hành giả. Anh ta không thể biết trước được trạng thái này sẽ xảy ra vào lúc nào. Vì vậy, bạn cứ yên tâm mà thực hành thiền minh sát. Ngay lập tức trong một khoảnh khắc nào đó, bạn sẽ đạt tới một tâm thức bình yên và hạnh phúc. Một thời, lúc Đức Phật đang còn là một ẩn sĩ ( tức một Sa môn – Sāmanna- Anchorit) có tên là Sarabhanga. Lúc đó, Ngài đang sống cùng với những đệ tử của mình và thực hành phép tu ẩn dật. Có một ẩn sĩ trẻ tuổi đã mất hết trí tuệ vì suy nghĩ đến một cô gái. Do lòng khao khát của mình, anh ta đã trở thành một người thế tục khi tận hưởng những khoái cảm xác thịt và không còn thực hành phép khổ hạnh nữa. Vì vậy, Bồ-Tát ẩn sĩ Sarabhanga đã giải thích cho vị ẩn sĩ trẻ tuổi hiểu được tội lỗi của sự thèm khát những khoái cảm xác thịt : “ Hỡi vị ẩn sĩ trẻ tuổi ! Ngay lập tức sau khi tận hưởng những khoái cảm xác thịt chỉ toàn là khổ đau. Tuy nhiên sự khó khăn phức tạp của việc thực hành thiền định, thiền minh sát sẽ lập tức dẫn đến trạng thái bình yên và hạnh phúc, trí tuệ, Đạo Quả và Niết Bàn”. Vì vậy, những bậc cha mẹ thiện lành và đáng kính phải biết rằng, trong giai đoạn đầu của quá trình thực hành thiền minh sát, họ sẽ gặp phải những điều bất như ý.Trong giai đoạn giữa của quá trình này họ sẽ gặt hái được trạng thái hoan hỷ và hạnh phúc. Trong giai đoạn cuối của quá trình thực hành thiền minh sát, họ cần phải nổ lực thực hành một cách hăng hái và tích cực hơn để đạt tới Đạo Quả và Niết Bàn.

                 

          Thiền minh sát giống như sự đập vỡ vỏ trứng

 

Ngày nay, thiền minh sát đang rất hưng thịnh. Những người Phật tử mộ Đạo thường thực hành loại thiền này mỗi khi họ có thể. Những người chưa bao giờ thực hành thiền minh sát cũng muốn tìm kiếm và học tập một phương pháp thiền đúng đắn để có thể thực hành nó, đồng thời họ cũng mong muốn biết được những lợi ích mà loại thiền này mang lại. Trong giai đoạn khởi đầu, khi mới tập sự thực hành thiền minh sát, những lợi ích mà phương pháp thiền này mang lại chưa xuất hiện một cách rõ ràng. Những sự lợi ích này chỉ xuất hiện dần dần trong suốt quá trình thực hành thiền. Khi một con gà mái ấp trứng mới được một ngày thì nó không thể biết được vỏ trứng đang mỏng dần đi như thế nào, chất lỏng trong lòng trứng đang dần dần khô lại như thế nào, trứng sẽ nở thành gà con như thế nào… Vì vậy, tác động của việc ấp trứng để nở thành gà con không xuất hiện một cách rõ ràng. Tuy nhiên, tác động này là có thật và đang xuất hiện một cách dần dần. Sau khi quả trứng được gà mẹ ấp khoảng 21 ngày, vỏ của nó đã trở nên rất mỏng, lòng trứng đã đặc lại và trở thành hình dáng của gà con. Sau đó, gà con sẽ tự chui ra khỏi vỏ trứng khi trứng đã được ấp đủ 21 ngày. Theo những nông dân nuôi gia cầm, gà mái phải cần đến 28 ngày ấp trứng để nở thành gà con, bởi vì nó phải cần có thêm thời gian để ăn và nghỉ ngơi. Bằng cách đó, sức nóng phủ lên trứng sẽ bị giảm bớt để trứng nở thành gà con đúng kỳ, chứ không bị nở sớm. Tương tự như việc gà mái ấp trứng, những lợi ích của thiền minh sát không xuất hiện một cách rõ ràng trong giai đoạn mới tập sự thực hành loại thiền này. Những lợi ích nói trên sẽ hiển lộ một cách rõ ràng sau một thời gian thực hành loại thiền này.

 Ví dụ và so sánh

1. Vỏ trứng được ví như bóng tối vô minh ( Avijjā – Darkness).

2. Chất lỏng nhớp nháp trong lòng trứng được ví như tâm bám víu hay quyến luyến ( Upadāna – Attachment).

3. Gà con được ví như  năng lực nội quán hay tuệ minh sát ( Vipassanā Ñāna – Insight knowledge)

( Ở đây từ Vipassanā được tạm dịch sang tiếng Việt là minh sát, nghĩa là sự hiểu biết được bản chất của sự vật một cách sáng suốt. Thật ra, trong ngôn ngữ Pāli, từ Vipassanā là một từ kép có nghĩa là sự thấy được bằng nhiều cách khác nhau – ND).

 Vỏ trứng được ví như bóng tối vô minh

Khi gà mái đã ấp trứng được một ngày, nó không thể biết được một cách rõ ràng vỏ trứng đang dần dần mỏng đi như thế nào. Sự thật, khi gà mái đã ấp trứng được một ngày, vỏ trứng đang từ từ bị kéo giãn ra và mỏng dần. Tương tự như vậy, mỗi lần hành giả thực hành thiền minh sát tập trung sự chú ý thì anh ta không thể biết được một cách rõ ràng rằng, bóng tối vô minh ( Avijjā– Darkness) đang tan dần đi như thế nào. Bóng tối vô minh chính là nguyên nhân ngăn chặn không cho anh ta thoát khỏi luân hồi

( Samsāra – The cycle of life). Tuy nhiên trong thực tế. bóng tối vô minh vẫn đang bị tan dần. Trước khi đủ 28 ngày cho một kỳ ấp trứng của gà mái, vỏ trứng đã trở nên mỏng dần. Sau 28 ngày, gà con có thể thấy được ánh sáng bên ngoài khi vỏ trứng đã trở nên rất mỏng. Vì vậy, chúng ta biết được khi gà mái bắt đầu ấp trứng thì vỏ trứng cũng đã bắt đầu mỏng dần đi. Tương tự như vậy, khi thực hành thiền minh sát, bóng tối vô minh bắt đầu tan ra và mỏng dần đi trong mỗi lần tập trung chú ý của hành giả. Sau khi thực hành thiền minh sát được một tháng, bóng tối vô minh sẽ trở nên rất mỏng. Vì vậy, sự chú ý để nhận thức của hành giả đã rõ ràng hơn và điều này đã khiến cho năng lực nội quán của anh ta cũng trở nên mạnh mẽ hơn. Vì vậy, hành giả đã gặt hái được những lợi ích một cách rõ ràng.

 Chất lỏng nhớp nháp được ví như tâm bám víu hay quyến luyến

Khi gà mái ấp trứng được một ngày, nó không thể biết được một cách rõ ràng rằng, chất lỏng trong lòng trứng đang dần dần khô lại như thế nào. Trong thực tế, khi gà mái bắt đầu ngồi vào ổ trứng để ấp thì chất lỏng trong lòng trứng cũng bắt đầu dần dần khô lại. Tương tự như vậy, mỗi khi hành giả thực hành thiền minh sát tập trung sự chú ý đến một đề mục nào đó, anh ta không thể biết được một cách rõ ràng rằng, tâm bám víu hay quyến luyến vào những cảm giác dễ chịu trong anh ta đang giảm dần đi. Tâm bám víu hay quyến luyến chính là nguyên nhân ngăn chặn không cho hành giả thoát khỏi luân hồi. Trong thực tế, tâm bám víu hay quyến luyến trong hành giả đó đang giảm dần đi, mỗi khi anh ta tập trung sự chú ý vào một đề mục để thực hành thiền. Trước khi đủ 28 ngày cho mỗi kỳ ấp trứng của gà mái, chất lỏng nhớp nháp trong lòng trứng đã bắt đầu khô dần đi. Khi gà mẹ đã ấp trứng đủ 28 ngày, chất lỏng trong lòng trứng gà đã khô hoàn toàn. Vì vậy, gà con trong lòng trứng đã có khả năng chui ra ngoài một cách rất dễ dàng. Tương tự như vậy, trạng thái đang dần dần khô đi của chất lỏng nhớp nháp nằm trong vỏ trứng gà cũng giống như việc hành giả thực hành thiền minh sát đã loại bỏ được trạng thái tâm thức quyến luyến hay bám víu vào những cảm giác dễ chịu. Tâm bám víu hay quyến luyến vào những cảm giác dễ chịu là nguyên nhân khiến cho hành giả không thể thoát khỏi luân hồi. Khi hành giả đã thực hành thiền được một tháng, tâm bám víu hay quyến luyến vào những đối tượng làm thoả mãn các giác quan của anh ta đã giảm dần. Sự khổ đau do bám víu hay quyến luyến từ đó cũng đã bị triệt tiêu. Vì vậy, hành giả đã gặt hái được những lợi ích.

 Gà con được ví như năng lực minh sát

Khi gà mái đã ấp trứng được một ngày, nó không thể biết được một cách rõ ràng rằng, trứng sẽ nở thành gà con như thế nào. Trong thực tế, khi gà mái đang ấp trứng thì trứng được ấp đang dần dần trở thành gà con trong trạng thái khó nhận biết được một cách rõ ràng. Tương tự như vậy, khi một hành giả thực hành thiền minh sát đang tập trung sự chú ý vào những đề mục hành thiền thì anh ta không thể biết được một cách rõ ràng rằng, năng lực minh sát trong chính mình đang dần dần chín muồi như thế nào. Trong thực tế, khi đang tập trung sự chú ý, năng lực minh sát trong một hành giả thực hành thiền chắc chắn đang trở nên mạnh mẽ hơn một cách đáng kể. Trước khi đủ 28 ngày cho một kỳ ấp trứng của gà mái, gà con nằm trong lòng trứng đang dần dần được hình thành và trở nên mạnh mẽ hơn, móng vuốt và mỏ của nó cũng đã trở nên sắc bén. Bởi vì vỏ trứng đã trở nên rất mỏng, nên gà con nằm trong vỏ trứng có thể thấy được ánh sáng bên ngoài. Vì đã thấy được ánh sáng bên ngoài, gà con nằm trong vỏ trứng đã dùng mỏ để phá vỡ vỏ trứng với tất cả sức mạnh của nó và chui ra ngoài. Cuối cùng vỏ trứng đã bị phá vỡ, gà con đã chui ra khỏi vỏ trứng và được hạnh phúc trong ánh sáng chói loà. Tương tự như vậy, khi một hành giả thực hành thiền minh sát thực hành sự chú ý một cách liên tục đến các hiện tượng thuộc về tinh thần và vật chất, năng lực minh sát trong anh ta đang dần dần chín muồi. Sau khi thực hành thiền khoảng một tháng, hạnh Ba-La-Mật căn bản của hành giả đã hoàn tất. Kiến thức nội quán mà hành giả đã đạt được sẽ đưa anh ta đến với con đường trí tuệ của một Tu-Đà-Hườn ( Sotāpatti Magga Ñāna – Intelligential way of the Stream Winner ). Bây giờ, bóng tối vô minh trước đây đã ngăn chặn khả năng thoát khỏi luân hồi của hành giả đã bị chọc thủng. Bằng sự nhận thức sáng suốt, hành giả thực hành thiền minh sát đã thấy được “ánh sáng của Niết Bàn”. Bằng cách thực hành thiền minh sát và đạt được Đạo quả trí tuệ của một Tu-Đà-Hườn ( Sotāpatti magga phala ñāna – Intelligential way ‘s result of the Stream Winner), bóng tối vô minh trong tâm trí của bạn sẽ bị phá tan. Điều này sẽ giúp cho bạn không còn bị tái sanh vào những cảnh giới khổ đau trong luân hồi. Khi một hành giả thực hành thiền minh sát đã lãnh hội được Niết Bàn, tất cả những nghiệp bất thiện không thể đếm xuể mà anh ta đã tạo ra trong nhiều kiếp sống ở quá khứ sẽ bị tiêu huỷ hoàn toàn. Chính Đạo quả trí tuệ của một Tu-Đà-Hườn đã triệt tiêu những nghiệp bất thiện đó. Những nghiệp bất thiện mà bạn đã tạo ra trong kiếp sống hiện tại ( khi còn vô minh) cũng sẽ bị Đạo quả trí tuệ của một Tu-Đà-Hườn tiêu huỷ một cách hoàn toàn. Kể từ khi không bao giờ còn bị tái sanh vào địa ngục, một người đã trở thành Tu-Đà-Hườn sẽ không còn sợ hãi khi phải tái sanh vào luân hồi. Sau khi từ giã kiếp sống hiện tại này, một Tu-Đà-Hườn đã vĩnh viễn thoát khỏi 4 bốn cảnh sống sầu muộn thống khổ trong luân hồi. Trong những kiếp sống ở tương lai, một Tu-Đà-Hườn sẽ có địa vị xã hội cao hơn kiếp sống trong hiện tại, được tái sanh vào một gia đình cao quí. Vì được hạnh phúc và thịnh vượng trong những kiếp sống ở tương lai, một Tu-Đà-Hườn có thể quên thực hành thiền minh sát trong vòng 7 kiếp sống là tối đa. Sau đó, vị này sẽ nhớ lại và tiếp tục thực hành thiền minh sát cho đến khi trở thành một A-La-hán. Nhờ đó, vị này sẽ đạt tới Niết Bàn.Vì vậy, lúc ban đầu mới thực hành thiền minh sát, những hành giả sẽ chưa nhận thức được lợi ích của Pháp thiền này. Sau khi đã trở thành một Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm và A-La-Hán thì lúc đó, họ sẽ lãnh hội được những lợi ích của thiền minh sát một cách nhanh chóng và rõ ràng.

 

      Loại bỏ  ô nhiễm tiềm tàng bằng thiền minh sát

 

Ngày nay, thiền minh sát đang rất hưng thịnh. Những người Phật tử mộ Đạo thường có thói quen thực hành thiền minh sát ở một mức độ tối đa mà họ có thể. Những người chưa có thời gian và cơ hội để thực hành loại thiền này vẫn muốn nghiên cứu và học tập một phương pháp hành thiền đúng đắn để khi có thể họ sẽ bắt tay vào tập luyện. Khi thực hành thiền minh sát, những hành giả sẽ bắt gặp 3 loại cảm thọ hay cảm giác

( Vedanā – Sensation). Có 3 thứ ô nhiễm tiềm tàng ( Anusaya – Latent defilement) cố hữu trong 3 loại cảm thọ. Chỉ khi có thể loại bỏ được 3 đặc tính của 3 thứ ô nhiễm tiềm tàng bằng thiền minh sát, lúc đó bạn mới có thể lãnh hội được Giáo Pháp Cao Thượng. Ba thứ ô nhiễm tiềm tàng là :  

1. Sân hận tiềm tàng ( Patigānusaya ) cố hữu trongkhổ thọ ( Dukkha vedanā).

2. Tham ái tiềm tàng ( Rāganusaya ) cố hữu tronglạc thọ ( Sukha vedanā).

3. Vọng tưởng tiềm tàng ( Mohanusaya )hayvô minh tiềm tàng ( Avijjā nusaya) cố hữu trongthọ vô ký tính (tức cảm giác không khổ cũng không sướng - Upekkha vedanā).

Ở đây từ cố hữu (inherent)có nghĩa là sự xảy đến một cách lập đi lập lại nhiều lần. Người thực hành thiền minh sát đúng theo phương pháp của Ngài Đại Trưởng Lão Mahàsi ( Mahāthera Mahāsī Sayadaw) phải chọn một nơi yên tĩnh, một tư thế đúng đắn để có thể ngồi thiền được lâu và hội tụ tâm ý lên bụng. Khi đang thở vào, bụng sẽ dần dần phồng lên, bạn phải chú ý đến tiến trình đang phồng lên này. Khi đang thở ra, bụng sẽ dần dần xẹp xuống, bạn cũng phải chú ý đến tiến trình đang xẹp xuống này. Ngoài ra, bạn còn phải thực hành sự chú ý đến tiến trình đang ngồitiến trình xúc chạm của thân thể. Khi đã gặt hái được năng lực định tâm

( Samādhi Ñāna – Concentration), bạn sẽ nhận thức được sự khác nhau giữa tiến trình đang phồng lên của bụngtrạng thái chú ý của tâm trí, tiến trình xẹp xuống của bụng là khác với trạng thái chú ý của tâm trí, tiến trình đang ngồi của thân thể là khác với trạng thái chú ý của tâm trí, tiến trình xúc chạm của thân thể cũng khác với trạng thái chú ý của tâm trí.Tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng, tiến trình đang ngồi và đang xúc chạm là những hình thức đa dạng của vật chất hữu hình . Những hình thức này không hề có sự nhận thức, bởi vì chúng thuộc về sắc pháp, tức vật chất ( Rùpa – Matter), chỉ có trạng thái chú ý của tâm trí là có khả năng nhận thức, bởi vì nó thuộc về danh pháp, tức tinh thần

( Ñāma – Spirits). Bạn cần phải nhận thức được sự khác nhau giữa danh phápsắc pháp ( tức tinh thần và vật chất). Trong khả năng hiểu biết về sự khác nhau giữa vật chấttinh thần ( Nāmarūpapariccheda Nāna), khổ thọ chưa xuất hiện một cách rõ ràng.Vì vậy, sân hận tiềm tàng ( Patiganusaya) cố hữu trong khổ thọ ( Dukkha vedanā – Miserable sensation) cũng chưa xuất hiện một cách rõ ràng. Sau khi đã tập trung chú ý liên tục, hành giả thực hành thiền Minh sát sẽ đạt tới sự hiểu biết về nguyên nhân bám víu hayquyến luyến ( Paccayapariggaha Ñāna – The knowledge about attachment ‘s cause ). Nói cách khác, hành giả sẽ hiểu được rằng, khi anh ta đang chú ý đến tiến trình  phồng lên và xẹp xuống của bụng, tiến trình đang ngồi và đang xúc chạm… thì sự chú ý của anh ta sẽ bị cuốn hút theo những hình thức thuộc về vật chất này. Tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng, tiến trình đang ngồi và đang xúc chạm chính là nguyên nhân. Năng lực chú ý bị cuốn hút theo những hình thức vật chất này chính là kết quả. Trong sự hiểu biết về nguyên nhân dẫn đến tâm bám víu ( Paccayapariggaha), khổ thọ cũng chưa xuất hiện một cách rõ ràng. Vì vậy, sân hận tiềm tàng trong khổ thọ cũng chưa xuất hiện một cách rõ ràng. Sau khi liên tục hội tụ sự chú ý lên các hiện tượng vật chất đang khởi lên, hành giả sẽ đạt tới trí tuệ lãnh hội được 3 tính cách vô thường,khổvô ngã ( Sammasana Ñāna ), cảm giác đau nhức, ngứa ngáy và mệt mỏi cũng như khổ thọ nói chung sẽ trở nên rất dễ nhận thấy. Đến lúc này, hành giả sẽ nhiều lần cảm thấy khó chịu, mỗi khi bắt gặp trạng thái tâm bực bội hay lo lắng do sự khổ đau về thân xác và tinh thần mang lại. Vì vậy, cảm giác bực bội, khổ sở và khó chịu lập đi lập lại nhiều lần trong tâm thức của hành giả được gọi là sân hận tiềm tàng cố hữu trong khổ thọ ( Patiganusaya sankhāra dukkhatā -  The latent anger inherently in the suffering ‘s sensation).

 Loại bỏ sân hận tiềm tàng cố hữu trong khổ thọ

 Để loại bỏ sân hận tiềm tàng cố hữu trong khổ thọ, bạn phải thực hành thiền minh sát. Khi hành giả đang chú ý vào một đề mục hành thiền nào đó,cảm giác đau nhức có thể khởi lên. Đây là một loại khổ thọ mà bạn cần phải vượt qua như thể phải băng qua một bụi gai. Loại khổ thọ này giống như những cây gai đang đâm chích vào thân thể vật lý của bạn. Khi đau nhức đang khởi lên, bạn cần phải có quyết định sẽ chịu đựng loại khổ thọ này, tập trung sự chú ý vào nó và không thay đổi tư thế thực hành thiền. Bạn đừng nên lo lắng và nghĩ rằng mình sẽ phải chịu đựng nó trong suốt quá trình tọa thiền. Lối suy nghĩ như vậy là không nên có, bởi vì nếu suy nghĩ như vậy sẽ khiến cho thân thể và tâm trí của bạn trở nên căng thẳng. Thay vào đó, bạn cần phải thư giãn thân tâm của mình một chút. Tuy nhiên, cũng không nên thư giãn một cách thái quá. Khi đang thư giãn thân tâm mình một chút, bạn cần phải hội tụ sự chú ý trực tiếp lên khổ thọ để tìm xem nó đang ở đâu, đang ở trên da hay đang ở trên thịt, đang ở trong huyết quản, trong xương hay trong tuỷ. Bạn cần phải tập trung tâm ý một cách chăm chú để biết được thật chính xác rằng, khổ thọ hiện đang ở đâu trong thân tâm của mình. Sau đó ( khi đã xác định được vị trí của khổ thọ), bạn hãy niệm thầm trong tâm : “ đang đau nhức, đang đau nhức…” hoặc “ đang ngứa ngáy, đang ngứa ngáy…”. Sau từ 3 đến 4 lần tập trung sự chú ý vào khổ thọ, bạn sẽ nhận thức được rằng, cảm giác đau nhức và ngứa ngáy…đang gia tăng cường độ. Khi cường độ của khổ thọ đã đạt tới đỉnh điểm, tự nhiên cường độ của nó sẽ giảm dần. Khi cường độ của khổ thọ đang giảm dần, bạn vẫn cứ tiếp tục duy trì sự chú ý lên nó, đừng buông lơi sự chú ý để có thể nhận biết được bản chất của nó. Đến một giai đoạn nào đó trong quá trình thực hành thiền, khi mà năng lực định tâm ( Samādhi Ñāna) của bạn đã trở nên chín muồi, mỗi khi khổ thọ đang khởi lên trong tâm thức, bạn chỉ cần hội tụ sự chú ý liên tục lên nó. Khi đang bị chú ý một cách tích cực, khổ thọ sẽ gia tăng cường độ đến đỉnh điểm rồi tự nhiên giảm dần và từ từ nới lỏng sự câu thúc đối với tâm. Mặc dù cảm giác đau nhức hay ngứa ngáy…không còn câu thúc tâm trí của bạn nữa.  Tuy nhiên, lúc này bạn cũng đừng buông lỏng sự chú ý mà vẫn cứ duy trì và hội tụ sự chú ý một cách mạnh mẽ lên khổ thọ để tiếp tục nhận biết được bản chất vô thường của nó. Bằng cách tập trung chú ý liên tục, năng lực định tâm của bạn sẽ trở nên chín muồi và mạnh mẽ hơn. Sự chú ý để nhận thức của bạn cũng sẽ minh bạch hơn. Đến lúc đó, nếu cảm giác đau nhức hay ngứa ngáy đang khởi lên và bị bạn chú ý đến thì chúng sẽ tan biến đi một cách rất nhanh chóng. Từ đó, bạn sẽ nhận thức rằng, trạng thái đang khởi lên của cảm giác đau nhức hay ngứa ngáy là một điều tự nhiên, không có gì phải bận tâm. Bạn cũng sẽ nhận thức được rằng, trạng thái tan biến đi của cảm giác đau nhức hay ngứa ngáy chính là tính tan hoại tất yếu của vạn hữu. Vì vậy, khi những hành giả đã có khả năng chú ý và nhận biết được bản chất của tiến trình khởi lên và tan biến đi của khổ thọ thì tự nhiên nó sẽ không còn xuất hiện một cách rõ ràng trong tâm thức của họ nữa. Sự chú ý để vượt qua được khổ thọ ( Dukkha Vedanā – Miserable sensation) như thể việc băng qua một bụi gai. Bởi vì cảm giác khó chịu không còn hiện hữu trong tâm thức của bạn, nên tâm sân hận tiềm tàng trong khổ thọ ( Patiganusaya) đã bị triệt tiêu. Bởi vì có thể triệt tiêu những sân hận tiềm tàng trong khổ thọ, bạn đã gặt hái được nhân tố căn bản nhất ( the first basic factor) để lãnh hội Giáo Pháp Cao Thượng như hằng mong muốn. Khi đã vượt qua được khổ thọ, hành giả thực hành thiền minh sát sẽ gặt hái được trí tuệ lãnh hội ( Sammasana Ñāna) và sự hiểu biết về trạng thái sanh diệt của các hiện tượng ( Udayabbaya Ñāna), cảm giác đau nhức và ngứa ngáy, mệt mỏi…đã bị vượt qua. Lúc đó, hành giả sẽ nhận thấy rằng ánh sáng trí tuệ và trạng thái bình yên đã xuất hiện trong  thân tâm của chính mình. Trạng thái tâm hoan hỷ và hạnh phúc do thiền minh sát mang lại này chỉ có con người ở trần gian là cảm nhận được, những Chư Thiên trên các cõi trời không thể cảm nhận được trạng thái tâm này. Bởi vì hành giả thực hành thiền minh sát có thể đã quyến luyến, thích thú và bám víu vào trạng thái hoan hỷ và hạnh phúc nói trên, nên tham dục tiềm tàng ( Rāanusaya) trong lạc thọ đã hiện khởi.

 Loại bỏ tham dục tiềm tàng cố hữu trong lạc thọ

Khi tham dục tiềm tàng ( Rāganusaya – The latent greed ) hiện khởi trong lạc thọ ( Sukha vedanā – Happy ‘s sensation), hành giả cần phải tập trung chú ý vào nó cho đến khi loại tham dục này trở thành khổ thọ

( Dukkha vedanā – Suffering ‘s sensation) và bị thiền minh sát loại bỏ.

Nếu hạnh phúc thuộc về thân xác ( physical happiness) đang hiện khởi một cách rõ ràng, bạn phải tập trung chú ý đến những tiến trình thuộc về thân xác ( Physical process). Nếu hạnh phúc thuộc về tinh thần đang hiện khởi một cách rõ ràng, bạn cần phải tập trung chú ý đến những tiến trình thuộc về tinh thần ( Mental process). Khi đang tập trung chú ý đến lạc thọ, bạn cần niệm thầm trong tâm “ đang cảm thấy hài lòng, đang cảm thấy hài lòng…”. ( Ở đây chúng ta cũng cần lưu ý đến một thuật ngữ tiếng Anh thường được xử dụng trong thiền học và y học rất dễ nhầm lẫn đó là Well-being. Theo định nghĩa mới nhất của tổ chức y tế thế giới - W.H.OWorld health organization thì từ Well-being có nghĩa là trạng thái hạnh phúc thuộc về thể xác và cả tinh thần. Từ này không phải chỉ để ám chỉ riêng cho một trạng thái sức khoẻ tốt đẹp thuộc về thân xác – ND). Khi bạn đã đạt tới một trạng thái tâm thức cao hơn, đó là sự hiểu biết về trạng thái sanh diệt của vạn hữu ( Udayabbaya Ñāna – Knowledge of birth and extermination), trong mỗi sự chú ý bạn sẽ nhận thức được rằng, lạc thọ là một trạng thái hạnh phúc ( A state of well-being) nhất thời. Nó khởi lên rồi tan biến đi một cách nhanh chóng. Khi kiến thức nội quán hay kinh nghiệm nội quán ( Insight knowledge) của bạn đã trở nên sắc bén thì sự khởi lên và tan biến đi một cách nhanh chóng của các hiện tượng như khổ thọ, lạc thọ…dường như đã tạo ra một áp lực lên tâm lý của bạn. Vì vậy, chúng chính là một loại khổ đau. Do đó, khi bạn đã nhận thức được sự khổ ( Dukkha – Sufering) thì tham dục tiềm tàng

( Rāganusaya) cố hữu trong lạc thọ sẽ bị tiêu huỷ. Bởi vì có thể triệt tiêu được tham dục tiềm tàng trong lạc thọ, nên bạn đã gặt hái được nhân tố căn bản thứ hai ( The second basic factor) để lãnh hội Giáo Pháp Cao Thượng như hằng mong muốn. Bằng cách chú ý liên tục và đạt được kiến thức về sự cấu thành của vật chất ( Sankhārūpekkhā Ñāna – Knowledge of matter “s comformation), lúc đó bạn sẽ lãnh hội được rằng, những đối tượng của nhận thức ( Khách thể - Noting objects) và sự chú ý của tâm trí ( Manasikāra - Noting mind) là những hiện tượng xảy đến một cách tự nhiên, chứ không phải do bất cứ một áp lực nào gây ra hay thúc dục chúng xảy đến. Vì vậy, chúng là vô ngã ( Anatta – No self).  Lúc đó, tâm của hành giả sẽ cảm thấy rất thanh thản và tự nhiên, không cảm thấy hạnh phúc và cũng không cảm thấy bất hạnh.Vì vậy, thọ vô ký tính ( Upekkhā vedanā – Neither happy nor unhappy ‘s sensation) sẽ hiện khởi và làm nảy sinh vọng tưởng tiềm tàng ( Mohanusaya – Latent delusion) hay vô minh tiềm tàng ( Avijjanusaya – Latent darkness).

 Loại bỏ vô minh tiềm tàng trong thọ vô ký tính

Khi đang thực hành thiền minh sát, Vô minh tiềm tàng ( Avijjanusaya) hay vọng tưởng tiềm tàng ( Mohanusaya) đến từ sự sống tự nhiên cần phải được loại bỏ bằng cách nhận thức được vô ngã ( Anatta –No self). Mặc dù thọ vô ký tính phải được loại bỏ bằng tuệ minh sát ( Vipassanā Ñāna – Knowledge of clear insight, có thể tạm dịch là kinh nghiệm nội quán sáng suốt hay kiến thức nội quán sáng suốt – ND). Tuy nhiên, thọ vô ký tính thường khởi lên một cách rất huyền ảo và khó chú ý để nhận biết. Đó là lý do tại sao, trong quá trình thực hành thiền minh sát, lúc thọ vô ký tính tình cờ khởi lên, bạn phải quay trở về với đề mục chính hay đề mục hành thiền ban đầu ( Primary object of meditation), tức tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng hoặc là hơi thở vào và hơi thở ra

( Hơi thở còn gọi là sổ tức- Breath), cho đến khi nhận thức được bản chất vô ngã của vô minh hay vọng tưởng. Một hành giả thực hành thiền minh sát và gặt hái được kiến thức về trạng thái cấu thành của vật chất ( Sankhārarūpekkha Ñāna) cũng sẽ gặt hái được sự hiểu biết về trạng thái tan hoại của vật chất ( Bhanga Nàna – Knowledge of the  dissipative matter). Hành giả này sẽ hiểu được rằng,hai trạng thái cấu thànhtan hoại tất yếu của vật chất nói trên chính là nền tảng huyễn hoá của vật chất  ( the basic dissolution of the matter). Vì vậy, khi thọ vô ký tính khởi lên trong lúc đang thực hành thiền, bạn cần phải liên tục chú ý tích cực đến tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng hoặc hơi thở vào ra. Ngay lập tức sau đó, bạn sẽ nhận thức được trạng thái huyền ảo của thọ vô ký tính. Bởi vì thọ vô ký tính cũng là vật chất, nên nó sẽ khởi lên và tan biến đi một cách nhanh chóng theo Định luật cấu thành và tan hoại của vật chất ( the law of the comformational and dissipative matter). Từ đó, bạn sẽ nhận thức được sự chú ý của tâm trí cũng đã tan biến đi theo thọ vô ký tính. Khi đã có khả năng chú ý đến những trạng thái tan hoại của vật chất nói chung, bạn sẽ nhận thức được rằng, những hiện tượng vật chất đã khởi lên và tan biến đi chỉ là những đối tượng nhất thời của giác quan ( The momentary objects of the sense), bạn không có cách nào để ngăn chặn hay điều khiển được trạng thái tan hoại đang xảy ra trong những đối tượng nhất thời của giác quan. Vì vậy, bản chất của những đối tượng nhất thời này là vô ngã ( Anicca – Impermanent). Bởi vì đã triệt tiêu được vô minh tiềm tàng trong thọ vô ký tính, bạn sẽ gặt hái được nhân tố căn bản thứ ba ( The third basic factor) để lãnh hội được Giáo Pháp Cao Thượng ( Dhammacariya) như đã hằng mong muốn.

 Tóm lược

1. Khi đang thực hành thiền minh sát, nếu muốn loại bỏ được tâm sân hận tiềm tàng trong khổ thọ, bạn cần phải vượt qua nó tương tự như khi phải băng qua một bụi gai bằng cách tập trung sự chú ý liên tục để nhận biết được bản chấtvô thường của loại tâm sở ( Cetasika, tức trạng thái tâm – state of mind) này.

2. Nếu muốn triệt tiêu được tính tham dục tiềm tàng trong lạc thọ, khi đang thực hành thiền Minh sát, bạn cần phải tập trung sự chú ý liên tục lên nó cho đến khi nhận thức được rằng tham dục chính là khổ.

3. Nếu muốn chấm dứt được vô minh hay vọng tưởng tiềm tàng trong thọ vô ký tính, khi đang thực hành thiền minh sát, bạn phải tập trung chú ý đến tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng hay hơi thở vào ra cho đến khi nhận thức được rằng vô minh hay vọng tưởng chính là Vô ngã

( Anatta – No self). Một người nào đó thực hành thiền minh sát có thể loại bỏ được 3 đặc tính của 3 loại ô nhiễm tiềm tàng ( 3 characteristics of the 3 latent defilements) sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng ngay trong cuộc sống này và trở thành một Tu-Đà-Hườn ( Sotāpañña).

 

                                          

             Tích luỹ thiện nghiệp sẽ dẫn đến Niết Bàn

 

   Những người Phật tử mộ Đạo mong muốn tránh xa tội lỗi hay các nghiệp bất  thiện càng nhiều càng tốt. Họ ao ước tích luỹ được thật nhiều phước báu hay nghiệp thiện lành. Họ cũng ao ước đạt tới Niết Bàn càng sớm càng tốt. Những người Phật tử mộ Đạo thừa biết về tác động hay hậu quả của nghiệp thiện lành và bất thiện. Nghiệp bất thiện hắc ám làm cho tâm trí bị hôn trầm và ô nhiễm. Ngay sau khi thực hiện các hành động như : Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và xử dụng các chất say … nghiệp bất thiện đã được hình thành. Những nghiệp bất thiện sẽ dẫn dắt chúng ta đến với địa ngục và những cảnh sống thấp kém trong tương lai, khi phải tái sanh vào luân hồi. Chúng ta đã biết được bản chất của nghiệp bất thiện và hậu quả của nó. Vì vậy, chúng ta có mong muốn thoát khỏi nghiệp bất thiện và cần phải cố gắng để thoát khỏi nó.  Nghiệp thiện lành có thể làm cho tâm trí của bạn trở nên  tinh khiết. Ngay khi đang thực hiện các hành động thiện lành như : Cúng dường hay bố thí, chúng ta đã tránh được tội lỗi. Sau khi đã thực hiện các hành động thiện lành, chúng ta gặt hái được nghiệp thiện lành. Nhờ vào những nghiệp thiện lành đã tích luỹ được, trong những kiếp sống ở tương lai chúng ta sẽ được tái sanh vào những cảnh giới tốt đẹp như cõi người hay cõi Chư Thiên. Như vậy, bạn đã biết được bản chất và lợi ích của nghiệp thiện lành. Đó là lý do tại sao, người ta thường mong muốn tích luỹ được thật nhiều nghiệp thiện lành hay phước báu. Người ta cũng mong muốn đạt tới Niết Bàn càng sớm càng tốt để có thể thoát khỏi được những tình trạng khổ đau về vật chất và tinh thần. Có nhiều người từ ngày này sang ngày khác luôn luôn có mong muốn tránh được những nghiệp bất thiện và gia tăng các nghiệp thiện lành, thoát khỏi khổ đau và đạt tới Niết Bàn. Vì vậy, Đức Phật đã chỉ ra 4 Pháp cần phải học tập và thực hành theo để có thể thỏa mãn được ước nguyện :

1. Sīla sampanno - Phải chú tâm học tập và rèn luyện việc giữ Giới một cách đầy đủ.

2. Indriye suguttadvāro – Phải biết kiềm chế để làm chủ được các giác quan của mình một cách chắc chắn.

3. Bhojjane mattaññū – Phải biết tiết độ trong việc thọ dụng vật thực. Hàng ngày chỉ dùng một lượng vật thực vừa đủ nuôi sống.

4. Jāgariyān anuyutto – Phải có giấc ngủ nhẹ nhàng.

 Sīla sampanno

Một người có quan tâm đến Kinh Giới Bổn Tỳ Kheo ( Pātimokkha sutta), Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt ( Singalovāda Suttanta) và giữ gìn 5 Giới viên mãn sẽ thoát khỏi 4 cảnh khổ trong luân hồi sanh tử. Các Tỳ Kheo Phật Giáo tuân thủ 227 chuẩn mực đạo đức căn bản để thực hành việc giữ Giới. Nếu mở rộng 227 Giới luật căn bản này, chúng sẽ trở thành 9000 khoản luật ( Sīlakoti - trong một Sīlakoti lại có 10 triệu điểm luật). Các Tỳ Kheo phải gìn giữ những Giới luật một cách kiên quyết và vững chãi. Những người Phật tử thế tục thì phải giữ gìn 5 Giới, 8 Giới hoặc 9 Giới tuỳ theo khả năng và sở nguyện. Họ cũng phải giữ gìn các Giới này một cách kiên quyết và vững chãi . Thậm chí, chỉ vi phạm một lỗi nhỏ cũng có thể dẫn đến nguy hiểm lớn. Nói một cách căn bản, những người Phật tử cần phải giữ gìn tâm trí của họ một cách cẩn thận để thực hành 5 Giới. Ngày xưa, có một vị Tỳ Kheo cao hạ đang cư trú trong rừng Mahavatti thì bất thình lình Ngài bị những tên cướp khét tiếng hung dữ bắt trói lại. Nếu vị Trưởng Lão có hành động chống lại và làm bị thương những tên cướp kia thì Ngài sẽ mắc tội. Mặc dù vị Trưởng Lão này vẫn biết rằng, nếu Ngài không giết những tên cướp đó đi thì nội trong 7 ngày nữa Ngài sẽ mất mạng. Tuy nhiên cuối cùng, Ngài đã quyết định không tiêu diệt những tên cướp và thực hành thiền minh sát. Sau 7 ngày Ngài viên tịch và trở thành một A-Na-Hàm ( Anāgāmi - Non Returner).

Những bậc cha mẹ thiện lành và đáng kính mong muốn đạt tới Niết Bàn phải lấy tấm gương này để noi theo và thực hành.

 Indriye suguttadvāro

Nghĩa là phải biết cách kiềm chế và điều khiển được các năng lực tri giác của mình một cách chắc chắn. Nói một cách rõ ràng hơn là phải biết kiềm chế và điều khiển được các giác quan của mình ( bao gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) để không phạm phải những hành động bất thiện. Khi xử dụng mắt để nhìn một cái gì, trong khoảnh khắc đang nhìn đó, bạn hãy tập luyện cách nhìn đơn thuần không phân biệt. Khi đang nghe một âm thanh hay tiếng động bất kỳ, ngay trong những khoảnh khắc đang nghe đó, bạn cứ nghe một cách đơn thuần không phân biệt. Khi mũi đang ngửi một mùi gì thì ngay trong khoảnh khắc đó, bạn cứ ngửi một cách đơn thuần và không khởi tâm phân biệt… Nói tóm lại, khi đang thực hiện các hành động như nhìn, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, các hoạt động thuộc về tâm ý… bạn cứ để cho các hành động này diễn ra một cách đơn thuần và tự nhiên, đừng xử dụng ý thức để can thiệp ( tức tác ý - Cetanā) vào chúng, cứ lặng lẽ tập trung sự chú ý đến chúng với một tâm trí không phân biệt. Nếu bạn thực hiện theo cách ấy thì những hành động bất thiện sẽ không có cơ hội để khởi lên. Nếu bạn không tập trung chú ý vào tiến trình đang thấy,đang nghe, đang ngửi, đang nếm, đang xúc chạm và đang tư tưởng một cách đơn thuần, khi bắt gặp những đối tượng làm thoả mãn các giác quan của mình, bạn sẽ nảy sinh tâm tham ái. Từ đó, tâm tham ái này có thể dẫn đến những hành động bất thiện. Khi bắt gặp những đối tượng làm cho giác quan cảm thấy khó chịu, thì tâm trí của bạn có thể phát khởi trạng thái sân hận. Từ đó, trạng thái tâm sân hận này có thể dẫn đến những hành động bất thiện. Đối với những người mới tập sự và chưa xây dựng được một nền tảng cho quá trình thực hành thiền minh sát, việc làm chủ được các giác quan một cách chính xác ngay trong khoảnh khắc chúng đang hoạt động là một điều rất khó. Tuy nhiên, việc này cũng sẽ không khó lắm mỗi khi bạn đã có nền tảng trong thiền tứ niệm xứ ( Satipathāna Vipassanā Bhāvanā). Đến lúc đó, nếu có một hiện tượng nào đang khởi lên trong tâm thức, bạn đã có khả năng tập trung sự chú ý một cách đơn thuần và chính xác đến hiện tượng này. Ngày xưa, có nhiều người thực hành phương pháp chú ý đơn thuần với tâm không phân biệt đã lãnh hội được Phật Pháp ngay trong khoảnh khắc khi họ đang nhìn, đang nghe, đang ngửi …một cái gì đó. Tỳ-kheo Cittaguta lúc đang trú trong hang động Kurandaka đã có được khả năng nhìn một cách thuần túy và chính xác. Nhà vua rất tôn kính Ngài. Do đó đã mời Ngài đến cung điện của ông để trai Tăng. Sau khi thọ thực xong, Cittaguta có ý định trở về hang động nên nhà vua đã tiến đến đảnh lễ Ngài. Lúc đó vị Tỳ Kheo nói : “ Hỡi Đại vương ! Ta cầu chúc cho ông được mạnh khoẻ !”. Khi hoàng hậu tiến lại đảnh lễ Cittaguta xong thì Ngài cũng lập lại câu nói trước : “ Hỡi Đại vương ! Ta cầu chúc cho ông được mạnh khoẻ !”. Bởi vì đã thành tựu được phương pháp nhìn đơn thuần và chính xác, nên Ngài Cittaguta đã không còn phân biệt sự khác nhau giữa nhà vua và hoàng hậu nữa. Bởi vì đã tập trung sự chú ý để nhìn một cách đơn thuần và chính xác liên tiếp trong 7 ngày, Tỳ Kheo Cittaguta đã trở thành một vị A-La-Hán ngay trong đêm Ngài trở về hang động, sau khi đã đến trai Tăng tại cung điện của nhà vua. Tỳ Kheo Cittaguta đã trở thành một A-La-Hán bởi vì Ngài đã có thể nhìn mọi vật theo lối đơn thuần với một thị lực đặc biệt. Sự chú ý của Ngài đã trở nên quá mạnh mẽ. Do đó, trạng thái định tâm của Ngài cũng mạnh mẽ theo. Khi trạng thái định tâm ( Samādhi) đã trở nên sắc bén, Tỳ Kheo Cittaguta đã gặt hái được tuệ minh sát hay năng lực nội quán mạnh mẽ. Khi đã gặt hái được tuệ minh sát( Vipassanā Ñāna), hiểu được bản chất của danh và sắc, định luật nhân quả, tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng, việc thực hành thiền của Tỳ Kheo Cittaguta đã không còn bị giới hạn và lệ thuộc vào thời gian. Nói cách khác, năng lực thực hành thiền của Ngài đã vượt khỏi thời gian. Vào canh một ( đầu hôm), Tỳ Kheo Cittaguta bắt đầu tập trung sự chú ý liên tục cho đến canh giữa ( nữa đêm) rồi đến canh ba  (cuối đêm). Vào lúc bình minh, Ngài trở thành một A-La-Hán. Những bậc cha mẹ thiện lành và đáng kính có mong muốn đạt tới Niết Bàn ngay trong kiếp sống này cần phải lấy gương sáng của Tỳ Kheo Cittaguta để noi theo và thực hành.

 Bhojjane mattannu

 Nghĩa là phải biết tiết chế trong việc thọ dụng vật thực. Hàng ngày chỉ nên dùng một lượng vật thực vừa đủ cho nhu cầu thiết yếu của thân xác. Bạn cũng cần phải biết một cách tương đối chính xác rằng, hàng ngày cơ thể của mình cần đến một số lượng vật thực bao nhiêu là đủ và chỉ dùng chừng đó mà thôi. Các Tỳ Kheo lẫn những người thế tục đều nên thực hành theo cách đó. Chấp nhận vật thực cúng dường từ các thí chủ một cách đúng đắn nghĩa là : Những vật thực cúng dường phải đạt được những tiêu chuẩn đã qui định trong Giới luật, các Tỳ Kheo cần phải có niềm tin khi thọ nhận vật thực. Hàng ngày các Tỳ Kheo chỉ nên thọ dụng một lượng vật thực vừa đủ nuôi sống bản thân để có thể duy trì mạng sống và tiếp tục tu hành. Đây là 3 điều quan trọng cần phải luôn ghi nhớ trong tâm. Thọ dụng vật thực đúng cách nghĩa là phải có khả năng thực hành Phật Pháp và hướng đến Đạo quả Niết Bàn khi đang thọ thực, chứ không phải xử dụng vật thực một cách thoả thích như trẻ nhỏ.

 Tôn giả Xá-Lợi-Phất đã thọ dụng vật thực như thế nào

Theo đúng như ước nguyện của Tôn giả Xá-Lợi-Phất, hành giả thực hành thiền minh sát khi thọ thực phải hướng đến mục đích là Đạo Quả và Niết Bàn, có ước nguyện giảm bớt từ 4 đến 5 miếng vật thực mỗi ngày so với nhu cầu thật sự cần thiết. Thay vì thọ dụng thêm 4 hay 5 miếng vật thực đó, hành giả sẽ uống thêm nước để bù vào số lượng vật thực đã bị cắt giảm bớt. Như vậy cũng vừa đủ no rồi. Tuy nhiên, vì lý do sức khoẻ, thay vì mỗi ngày phải giảm bớt từ 4 đến 5 miếng vật trong mỗi bữa ăn so với nhu cầu thật sự cần thiết, hành giả có thể giảm bớt từ 1 đến 2 miếng vật thực…cũng được.

 Đức Phật đã thọ dụng vật thực như thế nào

Những người mong muốn thực hành Phật Pháp cho đến khi đạt tới Đạo Quả Niết Bàn phải luôn luôn tập luyện sự chú ý trong mọi khoảnh khắc khi thọ thực đúng như sự mong muốn của Đức Phật. Hành giả thực hành thiền minh sát phải biết cách thọ dụng một lượng vật thực vừa đủ nuôi sống cơ thể của mình, không dùng nhiều hơn nhu cầu cần thiết. Những người thực hành theo 2 Pháp vừa kể trên sẽ gặt hái được 3 lợi ích, đó là : Có sức khoẻ tốt, lâu bị lão hoásống rất thọ.

Tóm tắtBiết được tương đối chính xác số lượng vật thực mà cơ thể cần đến mỗi ngày và chỉ thọ dụng một lượng vật thực vừa đủ để nuôi sống sẽ gặt hái được 3 lợi ích là có sức khoẻ tốt, lâu bị lão hoá và sống rất thọ.

Tập trung chú ý khi đang thọ thực cũng là một cách thức có thể khiến cho hành giả sẽ có khả năng ăn đúng số lượng vật thực mà cơ thể thật sự cần đến trong một ngày. Những người thực hành sự chú tâm khi đang thọ thực bắt đầu tập trung chú ý từ lúc nhìn thấy bàn ăn. Họ chú ý đến “ tiến trình đang nhìn của chính mình”. Khi duỗi tay để gắp vật thực họ cũng chú ý đến “ tiến trình đang duỗi cánh tay của chính họ”. Khi tiếp xúc với vật thực họ chú ý đến “ tiến trình đang tiếp xúc của chính họ”. Khi chuẩn bị đưa vật thực vào miệng họ chú ý đến “ tiến trình đang chuẩn bị này”. Khi đưa vật thực vào miệng họ chú ý đến “ tiến trình đang đưa này”. Khi cúi đầu xuống họ chú ý đến “ tiến trình đang cúi xuống”. Khi mở miệng họ chú ý đến “ tiến trình đang mở miệng”. Khi nhai một miếng vật thực họ chú ý đến “ tiến trình đang nhai của chính họ”. Khi nhận biết mùi vị của loại vật thực đang thọ dụng họ chú ý đến “ tiến trình đang nhận biết này”. Khi nuốt vật thực họ chú ý đến “ tiến trình đang nuốt vật thực”…Cứ tập trung chú ý như thế khi đang thọ thực và ước lượng được số vật thực thật sự cần cần phải thọ dụng trong một ngày, bạn sẽ gia tăng được phước báu minh sát đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính mình, cũng như sẽ gặt hái được Niết Bàn hạnh phúc. Ngày xưa có một vị Giới tử ( Sāmanera – Probational monks) đã trở thành A-La-Hán chỉ vì đã tập trung sự chú ý lúc đang thọ thực. Vào lúc đó, Ngài Trưởng Lão Tỳ-kheo Rakkhita đang cư trú với một Giới tử trẻ tuổi trong một tu viện. Vị Tỳ Kheo đã nói với vị Giới tử trẻ tuổi rằng, nếu không muốn bị phỏng lưỡi thì đừng có ăn cơm nóng với cà-ri. Sau đó, vị Giới tử trẻ tuổi đã nghe theo và đã thọ thực trong sự chú ý ( tức ăn trong Chánh niệm) rồi trở thành một vị A-La-Hán vào cuối bữa ăn.

  Jāgariyān Anuyutto

Nghĩa là phải có giấc ngủ nhẹ nhàng. Những người mong muốn tích luỹ được phước báu từ ngày này sang ngày khác và gặt hái được Niết Bàn một cách nhanh chóng thì mỗi đêm chỉ nên ngủ từ cuối canh một đến đầu canh ba ( tức từ 10 giờ đêm đến 2 giờ sáng). 

 Ba canh giờ của một đêm được phân chia như thế nào

Từ 6 giờ chiều đến 10 giờ tối là canh một. Từ 10 giờ đêm đến 2 giờ sáng là canh giữa ( cũng gọi là canh hai,  tức nữa đêm). Từ 2 giờ sáng đến 6 giờ sáng là canh ba. Ngoài 3 canh giờ này, hành giả dành các thời gian khác để thực hành thiền với mục đích nhận thức được Đạo Quả Niết Bàn. Từ 10 giờ đêm đến 2 giờ sáng ( 4 tiếng đồng hồ) là thời gian dành để ngủ. Các bậc Trưởng Thượng đã từng nói rằng, một đêm chúng ta chỉ cần ngủ 4 tiếng đồng hồ thôi là cũng đủ để bảo đảm cho sức khoẻ rồi. Tuy nhiên, những người thực hành thiền minh sát cũng có thể ngủ tối đa là 5 tiếng đồng hồ mỗi đêm. Những người mong muốn tích luỹ được phước báu từ ngày này sang ngày khác và nhận thức được Đạo Quả Niết Bàn một cách nhanh chóng phải :

1. Giữ Giới luật một cách vững chãi.

2. Kiềm chế và điều khiển được 6 giác quan.

3. Phải ước lượng được số vật thực thật sự mà cơ thể cần đến trong một ngày ( 24 giờ).

4. Phải có giấc ngủ nhẹ nhàng từ 10 giờ đêm đến 2 giờ sáng.

Trừ thời gian ngủ ra, cả ngày và đêm khi đang đi bộ, đứng, ngồi, nằm

( tức tứ oai nghi), bạn phải tập trung chú ý đến tất cả những hành động ấy để thực hành thiền minh sát. Những người thực hành thiền minh sát mong muốn có được khả năng chú ý mạnh mẽ một cách nhanh chóng, trước khi tập trung sự chú ý, họ phải biết mình sẽ hướng sự chú ý đến đề mục hành thiền nào. Nếu khi đã cố gắng tập trung sự chú ý nhiều lần nhưng vẫn chưa đạt được như ý muốn, bạn cứ bình tĩnh và tiếp tục tập luyện. Đến một lúc nào đó, khi bạn đang hướng sự chú ý đến một mục tiêu dự định thì tự nhiên nó sẽ tự động điều chỉnh lấy. Đó là lý do tại sao, khi mới bắt đầu tập sự thực hành thiền, nếu chưa thành tựu được điều gì thì bạn cứ bình tĩnh và tiếp tục tập luyện sự chú ý càng nhiều càng tốt. Khi đang tập luyện sự  chú ý, nếu bắt gặp 3 trường hợp sau đây, bạn sẽ nhận biết được rằng năng lực chú ý của mình đang phát triển rất tốt, ba trường hợp này là :

1. Khi đang tọa thiền, bạn hướng sự chú ý đến mục tiêu đã dự định, ngay khi đang chú ý đến tiến trình tan hoại của vật chất và tinh thần thì thân thể và tâm trí của bạn lúc đó tự nhiên trở nên tĩnh lặng. Đây là một trường hợp điển hình cho thấy năng lực chú ý của bạn đang phát triển rất tốt.

2. Khi đang tọa thiền, bạn hướng sự chú ý đến mục tiêu đã dự định, ngay khi đang chú ý đến tiến trình tan hoại của vật chất và tinh thần thì thân thể và tâm trí của bạn tự nhiên trở nên tĩnh lặng. Lúc đó, bạn sẽ có cảm tưởng như thể mình đang ngồi trên một chiếc ghế lò xo. Thân thể và tâm trí của bạn lúc đó sẽ có tính đàn hồi và có thể co giãn một cách rất dễ dàng.

3. Khi đang tọa thiền, bạn hướng sự chú ý đến mục tiêu đã dự định, ngay khi đang chú ý đến tiến trình tan hoại của vật chất và tinh thần, thân thể và tâm trí của bạn lúc đó có tính đàn hồi. Khách thể đã bị sự chú ý triệt tiêu và không còn khởi lên nữa.

 

                Những lợi ích của thiền minh sát

 

Thời đại ngày nay thiền minh sát đang rất hưng thịnh. Những người thực hành loại thiền này đã gặt hái được tuệ minh sát ( Vipassanā Ñāna – Clear insight ‘s ability) và có được một số lợi ích nhất định nào đó. Tuy nhiên, họ vẫn mong muốn biết thêm về những lợi ích của thiền minh sát. Bên cạnh đó, có nhiều người đã thực hành minh sát nhưng chưa nhận biết được lợi ích của loại thiền này một cách rõ ràng và đầy đủ. Lợi ích của thiền minh sát thì nhiều vô kể. Mặc dù vậy, những lợi ích sau đây là dễ nhận thấy nhất :

1. Làm cho tâm trí được sáng suốt

2. Làm cho tâm trí trở nên vững chãi

3. Điều trị các loại bệnh thuộc về thể xác và tinh thần

4. Làm cho trí tuệ trở nên sắc bén

5. Mang lại năng lực nhận thức được Đạo Quả Niết Bàn ( Magga phala Nibbāna ) 

 Thiền Minh sát làm cho tâm trí trở nên sáng suốt

Do ảnh hưởng của những thứ ô nhiễm như tham lam, sân hậnvọng tưởng. Tâm trí của chúng ta đã bị ô nhiễm, vẫn đục và tối tăm. Khi thực hành thiền minh sát bằng cách tập trung chú ý đến một đối tượng nào đó thì ô nhiễm sẽ không có cơ hội để khởi lên trong tâm thức của bạn. Nhờ vậy, tâm trí của bạn sẽ được sáng suốt. Sau khi đã thực hành thiền minh sát một cách liên tục, năng lực nội quán đã phát triển một cách mạnh mẽ trong tâm thức, hành giả sẽ gặt hái được kiến thức về sự cấu thành của vật chất ( Sankhàrùpekkha Nàna – The knowledge about matter ‘s comformation). Đến lúc đó, thậm chí hành giả không cần tập trung chú ý mà tâm trí của anh ta vẫn được xung lượng của trạng thái định tâm

( Momentum of Vipassanā samādhi) làm cho trở nên sáng suốt. Vì vậy, những thứ ô nhiễm như tham lam, sân hậnvọng tưởng sẽ không có cơ hội để khởi lên.

 Thiền minh sát làm cho tâm trí trở nên vững chãi

Người ta có thể rất dễ bị cảm động và mất tự chủ trước tâm tham lam và sân hận. Khi bạn tình cờ bắt gặp những đối tượng có thể làm thỏa mãn các giác quan thì tâm tham lam có thể khởi lên. Khi bạn chạm trán với những đối tượng khiến cho các giác quan cảm thấy khó chịu thì tâm sân hận có thể khởi lên. Vì vậy, tâm trí của bạn đã bị mất thăng bằng. Tuy nhiên, khi bạn đang thực hành thiền minh sát bằng cách tập trung sự chú ý trong từng khoảnh khắc, tham lamsân hận sẽ không có cơ hội để khởi lên trong tâm thức. Bởi vì thiền minh sát có thể khiến cho tâm trí của bạn trở nên vững vàng hơn. Nhờ đó, nó đã không còn mất thăng bằng như trước nữa . Đó là lợi ích mà bạn sẽ gặt hái được khi thực hành thiền minh sát.

Sau khi đã thực hành thiền minh sát một cách liên tục, năng lực nội quán sáng suốt ( Vipassanā Ñāna – Clear insight ‘s ability) đã phát triển mạnh mẽ và đạt tớitrạng thái hiểu biết về sự cấu thành của vật chất, bạn sẽ nhận biết được rằng, mặc dù mình không cần tập trung sự chú ý nhưng tham lam và sân hận vẫn không có khả năng khởi lên trong tâm thức. xung lượng ( tức sức đẩy) của trạng thái định tâm đã ngăn chặn và không cho chúng khởi lên. Nhờ vậy, bạn sẽ gặt hái được lợi ích là có một tâm trí vững chãi.

Thực hành thiền Minh sát để trị bệnh

Lợi ích điều trị được bệnh tật chưa xuất hiện một cách rõ ràng khi những người thực hành thiền minh sát mới gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất ( Nāmarūpapariccheda Ñāna). Thạm chí, khi hành giả đã gặt hái được sự hiểu biết về nhân quả

( Paccayapariggaha ).Tuy nhiên, khi đã gặt hái được kiến thức lãnh hội

( Sammasana Ñāna – lãnh hội ở đây là lãnh hội được 3 tích cách thường, khổvô ngã của vật chất và tinh thần) thì những bệnh tật cố hữu trong bạn sẽ tự bộc lộ một cách rõ ràng hơn. Bằng cách chú ý liên tục để gặt hái được kiến thức về trạng thái khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng thuộc về vật chất và tinh thần ( tức sự tan hoại tất yếu của vạn vật - Udayabbhaya Ñāna), bạn sẽ nhận biết được hiệu quả điều trị bệnh của thiền minh sát là như thế nào. Đây là lợi ích điều trị bệnh của thiền minh sát mà bạn sẽ gặt hái được khi thực hành loại thiền này.

Khi đã gặt hái được kiến thức về trạng thái khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng vật chất và tinh thần, bạn có thể tự thoả mãn và hài lòng với trạng thái tâm thức hoan hỷ mà thiền minh sát sẽ mang lại. Phước báu này chỉ có con người là có thể tận hưởng được, các Chư Thiên không được như vậy. Do trạng thái hoan hỷ của tâm thức này , cả thân và tâm của bạn sẽ trở nên trầm tĩnh và thanh thản. Bởi vì bạn đã tự thiết lập được trạng thái hài hòa trong thân và tâm, nhờ đó, những chứng bệnh thông thường như nhức đầu, cứng cổ, đau bao tử, rối loạn tiêu hoá…đã được chữa trị. Sau khi thực hành thiền minh sát một cách liên tục và gặt hái được kiến thức về sự cấu thành của vật chất ( Sankhārūpekkha Ñāna), bạn sẽ có khả năng tự điều trị được những chứng bệnh nan y mà những vị thầy thuốc tài giỏi nhất cũng không thể chữa được. Lúc đó, những chứng bệnh kinh niên ( Chronic diseases) mà hành giả đang mắc phải đều lành hẳn, như thể vừa được uống thuốc điều trị bệnh. Các bắp thịt của hành giả như thể được tổng quất. Những chỗ đau, các hạch và tuyến chứa mầm bệnh trong thân thể của bạn sẽ bị phá tan. Những chứng bệnh nội tại

( bệnh phát xuất từ trong cơ thể mà ra) của bạn đều bị đẩy ra khỏi cơ thể. Đến lúc đó, nếu vẫn tiếp tục luyện tập sự chú ý thì tất cả những căn bệnh còn lại trong cơ thể của bạn sẽ lần lượt bị tiêu trừ. Đây là một hiệu quả kỳ diệu của thiền minh sát. Thậm chí, những vị thầy thuốc tài giỏi nhất cũng không thể có được khả năng điều trị bệnh đa khoa như thế này.

 Thiền minh sát làm cho trí tuệ trở nên sắc bén

Sau khi đã thực hành thiền minh sát và gặt hái được một số thành tựu nhất định, bạn sẽ có khả năng tự thử nghiệm và hiểu được những điều mà trước đây khi chưa thực hành loại thiền này mình không thể hiểu nổi. Vì vậy, hành giả đã gặt hái được lợi ích là có một trí tuệ sắc bén. Điều này được chứng minh một cách rõ ràng qua trường hợp những học sinh phải học tập nhiều bài vở và trải qua nhiều kỳ thi gay go. Nếu những học sinh này có thực hành thiền minh sát thì trí tuệ của họ sẽ rất sắc bén. Nhờ vậy, họ có thể vượt qua những khó khăn nêu trên một cách dễ dàng hơn trước (khi chưa biết gì về thiền minh sát).Ví dụ, khi một học sinh chưa biết gì về thiền minh sát và đã bị đánh rớt qua một kỳ thi gay go. Sau đó, cậu ta bắt đầu thực hành thiền minh sát để nâng cao trí tuệ và đạt được một vài thành tựu nhất định nào đó. Đến khi phải đối diện với kỳ thi gay go kế tiếp, cậu ta sẽ vượt qua nó một cách phi thường. Vì vậy, việc thực hành thiền minh sát mang lại nhiều lợi ích cho trí tuệ. Ngày nay, kể từ khi thiền minh sát bắt đầu được hưng thịnh, đã có rất nhiều sinh viên và học sinh tìm đến với các trung tâm thiền để học tập và thực hành loại thiền này vào các ngày nghỉ của họ. Những sinh viên và học sinh này đã nhận thức được lợi ích của việc thực hành thiền minh sát. Bởi vì thiền minh sát đã mang lại cho họ một tâm trí bình tĩnh, năng lực định tâm ( Samādhi– Concentration power) cao và một trí tuệ sắc bén. Họ đã nhận thấy rằng, khả năng nhớ các bài học của mình đã trở nên nhanh chóng và vững vàng hơn trước khi chưa thực hành loại thiền này. Những sinh viên và học sinh thực hành thiền minh sát thường luyện tập cách hội tụ tâm trí của họ trên một đối tượng đơn giản. Vì vậy, họ đã có thể nhớ các bài học một cách dễ dàng khi đang nghe thầy cô giáo giảng bài. Trong khi  thực hành thiền minh sát, họ đã gặt hái được kiến thức nội quán đặc biệt ( Special insight knowledge) như có thể chỉ ra được sự khác nhau giữa danhsắc ( tức tinh thần  và vật chất – Nāma and Rūpa – Spirits and matter).Vì vậy, khi bắt tay vào nghiên cứu các bài học, họ tự cảm thấy rằng mình đã có thể thực hiện công việc này dễ dàng hơn trước. Đó là lý do tại sao, những sinh viên và học sinh nói trên đã tự nhận thức được rằng, việc thực hành thiền minh sát đã làm cho trí tuệ của họ trở nên sắc bén hơn.

 

Thiền minh sát mang lại năng lực nhận thức Đạo Quả và Niết Bàn

Những người thực hành thiền minh sát với sự thích thú và nhiệt tâm chắc chắn sẽ gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn. Chắc chắn họ sẽ hoàn thiện được những chuỗi kiến thức nội quán đúng theo hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính họ. Những người có mong muốn đạt tới Đạo Quả và Niết Bàn bằng cách thực hành thiền minh sát, điều trước tiên mà họ cần thực hiện là thực hành để có khả năng phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Để có khả năng phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất, bạn cần phải thực hành thiền theo phương pháp của Ngài Đại Trưởng Lão Mahāsī. Bạn cần tìm đến nơi yên tĩnh và ngồi xuống với một tư thế nào đó khiến cho mình có thể ngồi thiền được lâu. ( Điều quan trọng nhất trong thiền minh sát là trạng thái tâm tỉnh thức, tư thế thực hành thiền cũng quan trọng nhưng không phải là yếu tố quyết định cho sự thành tựu Đạo Quả – ND). Khi đang thở vào, bụng dần dần phồng lên và bạn phải tập trung chú ý đến  “ tiến trình đang phồng lên này”. Khi đang thở ra, bụng dần dần xẹp xuống và bạn cần phải tập trung chú ý đến “ tiến trình đang xẹp xuống này”. Ngoài ra, bạn cũng cần tập luyện sự chú ý đến “ tiến trình đang ngồi” và “ tiến trình đang xúc chạm của thân thể ”. Khi năng lực định tâm ( Samādhi – Concentration) trong chính bạn đã phát triển và đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất ( Nāmarūpapariccheda Ñāna), bạn sẽ nhận thức được rằng, tiến trình đang phồng lên xẹp xuống của bụng, tiến trình đang ngồi và tiến trình đang xúc chạm của thân thể… là khác với trạng thái đang chú ý để nhận thức của bạn. Tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng, tiến trình đang ngồi và tiến trình đang xúc chạm của thân thể… là những tiến trình thuộc về vật chất. Chúng không hề có sự nhận thức, chỉ có trạng thái đang chú ý của tâm là có sự nhận thức bởi vì nó thuộc về tinh thần. Khi hành giả thực hành thiền minh sát tập trung sự chú ý một cách liên tục, anh ta sẽ đạt tới sự hiểu biết về luật nhân quả. Do đã tập trung sự chú ý đến tiến trình đang  phồng lên và xẹp xuống của bụng, tiến trình đang ngồi, tiến trình đang xúc chạm của thân thể và tiến trình đang chú ý để nhận thức của tâm trí, hành giả sẽ nhận thức được rằng, tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng, tiến trình đang ngồi và tiến trình đang xúc chạm của thân thể chính là những nguyên nhân. Sự chú ý để nhận biết được bản chất của những tiến trình này chính là kết quả. Khi đang tập trung chú ý liên tục và đạt tới trí tuệ lãnh hội ( Sammasana Ñāna – The itelligential comprehension), hành giả thực hành thiền minh sát sẽ chạm trán với các khổ thọ ( Dukkha Vedanā – Unpleasant sensation or Unhappy sensation) như : Cảm giác đau nhức trong thân thể, chóng mặt, nhức đầu… Lúc đó, hành giả cần phải chiêm nghiệm về tính luôn luôn thay đổi của khổ thọ để nhận thức được bản chất của khổ thọ là vô thường ( Annica – Impermanence), chiêm nghiệm về trạng thái khổ đau của thân xác để nhận thức được rằng thân xác chính là khổ đau. Mặc dù lúc đó hành giả mong muốn được thanh thản. Tuy nhiên, trạng thái tâm thanh thản vẫn không hiện khởi. Vì vậy, anh ta sẽ nhận thức bản chấtvô ngã

 ( Annatta – Noself) của khổ thọ hay tính không thể điều khiển được

( Uncontrollable) của nó. Khi hành giả tập trung chú ý đến “ tiến trình đang chú ý” của chính mình và gặt hái được kiến thức về trạng thái khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng thuộc về vật chất và tinh thần

( Udayabbaya Ñāna) thì tự nhiên khổ thọ sẽ biến mất. Ngay sau đó, hành giả sẽ gặt hái được trạng thức tâm thức bình yên và hạnh phúc. Với một năng lực hiểu biết mạnh mẽ về trạng thái khởi lên và tan biến đi của vạn hữu đã được thiết lập trong tâm thức, mỗi khi hành giả tập trung sự chú ý đến những hiện tượng vật chất và tinh thần thì những hiện tượng này sẽ biến mất đi. Bất cứ một hiện tượng nào trong tự nhiên hay trong chính thân tâm của chúng ta cũng đều có một tiến trình khởi lên và biến mất đi của nó… Nếu tiếp tục tập trung sự chú ý, hành giả sẽ gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu ( Bhanga Ñāna – Knowledge about the dissolution of everything). Từ trong căn nguyên, hành giả càng lúc càng không còn nhìn thấy vạn hữu theo tích cách đặc trưng của chúng nữa. Đến một lúc nào đó, hành giả chỉ còn nhìn thấy vạn hữu như là những tiến trình tan hoại. Trong tiến trình tan hoại của vạn hữu, đối tượng nào được chúng ta chiêm nghiệm với một năng lực chú ý mạnh mẽ thì đối tượng đó sẽ biến mất đi trong tâm thức. Khi hành giả đã gặt hái được kiến thức về cảm giác sợ hãi ( Bhaya Ñāna – Knowledge about the fear), anh ta sẽ nhận thấy rằng, trong từng khoảnh khắc, vạn hữu luôn luôn ở trong tiến trình đang phân huỷ và trở nên sợ hãi cho thân thể vật chất của chính mình. Khi hành giả gặt hái được kiến thức về trạng thái tâm nhàm chán ( Adinava Ñāna), anh ta sẽ nhận thức được rằng, vạn hữu giống như trò huyễn hoá không có thật, không chắc chắn và bất toại nguyện. Khi hành giả gặt hái được kiến thức có thể chiêm nghiệm về sự nhàm chán

(Nibbida Ñāna), anh ta sẽ cảm thấy mệt mỏi rã rời và không còn ham muốn bất cứ một điều gì nữa. Khi hành giả đạt tới kiến thức về trạng thái tâm ao ước được giải phóng ( Muncitukamyaka Ñāna), lúc đó anh ta chỉ mong muốn được giải phóng ra khỏi luân hồi và không còn muốn sống ở đó thêm một kiếp nào nữa. Thậm chí, anh ta cũng không còn muốn sống thêm một giây phút nào nữa trong luân hồi. Mặc dù sự chú ý để nhận biết vẫn đang phát triển rất tốt. Tuy nhiên bây giờ, anh ta cũng không còn muốn chú ý vào bất cứ một cái gì nữa. Sau đó, khi hành giả sẽ gặt hái được kiến thức về trạng thái quán tưởng quá khứ ( Patisankha Ñāna), xung lượng hay sức đẩy của tâm ao ước được giải phóng sẽ thúc giục anh ta thực hành sự chú ý nhiều hơn nữa. Vào lúc này, nếu hành giả dừng lại và không tiếp tục thực hành sự chú ý nữa, anh ta sẽ không gặt hái được Niết Bàn như ý muốn. Tuy nhiên, nếu tiếp tục tập trung sự chú ý lên khổ thọ để vượt qua cảm giác đau đớn, nhức đầu, chóng mặt… anh ta sẽ gặt hái được kiến thức về sự cấu thành của vật chất. Những đối tượng được quán tưởng sẽ khởi lên một cách tự động và sự chú ý của hành giả cũng tự động khởi lên rồi hướng về các hiện tượng đang diễn ra trong tâm thức của anh ta. Lúc này, hành giả không cảm thấy sợ hãi hay khởi tâm bám víu vào bất cứ cái gì, anh ta cũng không cảm thấy hạnh phúc hay bất hạnh. Những đối tượng của giác quan bây giờ không còn khả năng tác động đến tâm thức của hành giả nữa. Hành giả đã có được một trạng thái tâm thức bình thản và thư thái thật sự. Nếu tiếp tục tập trung sự chú ý, anh ta sẽ gặt hái được kiến thức về sự thích nghi ( Anuloma Ñāna – Knowledge of adaptation). Lúc này hành giả sẽ nhận thức được rằng, năng lực nội quán của anh ta đã trở nên chín muồi và điều này đã cho phép anh ta đạt tới Đạo Quả. Khi đã đạt tới kiến thức vượt ranh ( Gotrabhu Ñāna, còn gọi là kiến thức chuyển tánh), hành giả sẽ cắt đứt tâm thức liên hệ của chính mình đối với cảnh giới trần tục( Puthujjana bhava – Mundance lineage) và nhận thức được ánh sáng của Niết Bàn. Vào lúc đó, hành giả sẽ cảm thấy như thể anh ta vừa ra khỏi một nơi rất nóng nực để vươn tới một nơi rất mát mẻ và bình yên. Khi hành giả thực hành thiền minh sát đã đạt tới con đường trí tuệ của Tu-Đà-Hườn ( Sotāpañña Magga Ñāna – Intelligential way of the Stream-Winner ) thì những thứ ô nhiễm như tà kiến ( Micchadiţţhi – Wrong view ), hoài nghi ( Vicikiccha – Doubt) trước đây có thể làm cho anh ta bị đọa xuống địa ngục, bây giờ đã hoàn toàn bị tiêu huỷ. Băng qua Đạo Tuệ ( Magga Ñāna) và Quả Tuệ ( Phala Ñāna), hành giả đã đạt tới Niết Bàn Hữu Dư ( tức Niết Bàn có điều kiện, có thể nhận thức được bằng lý trí - Nibbāna). Anh ta sẽ không bao giờ còn quay trở lại 4 cảnh sống sầu muộn thống khổ trong luân hồi và tiếp tục sống thêm 7 kiếp nữa là tối đa ( có thể là ở cõi người hoặc là cõi trời) cho đến khi đạt tới Niết Bàn Vô Dư ( tức Niết Bàn tối thượng và vô điều kiện, không thể nhận thức được bằng lý trí – Parinibbāna), dập tắt hoàn toàn5 Uẩn ( Pañcakhandha - Aggregates – gồm có sắc, thọ, tưởng, hành, thức), những sự cấu thành ( Sankhāra – Comformation) và những điều kiện tạo nên vạn hữu ( Conditioned – Sankhāra Dhamma).  

 

 

 

Phật pháp sẽ phát triển chỉ khi làm chủ được các giác quan

            (Phương pháp thứ nhất để làm chủ các giác quan)

 

 Thời đại ngày nay thiền minh sát đang rất hưng thịnh. Rất nhiều người đã có cơ hội để thực hành loại thiền này. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều người chưa có cơ hội  học tập và thực hành những phương pháp căn bản về thiền minh sát. Những người đang thực hành thiền minh sát và chưa có được những kinh nghiệm về Phật Pháp luôn mong muốn có được những điều đó một cách nhanh chóng. Những người đã có kinh nghiệm về Phật Pháp lại mong muốn làm cho tiến trình thực hành thiền của họ phát triển một cách nhanh chóng để có thể nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng ( Noble Dhamma). Vì vậy, để có được kinh nghiệm về Phật Pháp, tiến trình thực hành thiền được phát triển tốt và nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng một cách nhanh chóng, các bậc thầy chú giải Kinh Điển ( Atthakatha teacher) đã trình bày chi tiết về 9 phương pháp để làm chủ các năng lực tri giác hay các giác quan. Khi thực hành thiền minh sát, tất cả sự chú ý của 5 giác quan phải được hướng đến những phạm vi nhất định. Khi 5 giác quan đã trở nên sắc bén và thăng bằng, những người chưa có những kinh nghiệm về Phật Pháp sẽ có được những điều họ mong muốn. Những người đã có kinh nghiệm về Phật Pháp sẽ có một tiến trình thực hành thiền phát triển nhanh chóng. Những người xứng đáng với Phật Pháp sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng. Sau đây là phương pháp thứ nhất để làm chủ các năng lực tri giác (  Indriya – Controlling faculties) ). Phương pháp này đòi hỏi 5 loại năng lực cần phải được hoàn thiện : 

1. SaddhindriyaLàm chủ niềm tin

2. Viriyindriya  -  Làm chủ sự nổ lực và chuyên cần

3. Satindriya  -  Làm chủ năng lực chú ý

4. SamādhindriyaLàm chủ năng lực định tâm

5. Paññindriya –  Làm chủ trí tuệ

 Việc làm chủ các giác quan đã trợ giúp chúng ta như thế nào

Trong quá trình thực hành thiền, các hành giả luôn luôn có hạnh nguyện Ba-La-Mật là được trở thành Tu-Đà-Hườn và lãnh hội được Phật Pháp. Nếu có năng lực tin tưởng ( Saddhindriya), bạn sẽ tin chắc rằng cánh cửa địa ngục có thể bị đóng lại. Nhờ vậy, bạn đã có năng lực tinh tấn

( Viriyindriya) mạnh mẽ. Khi đã có năng lực tinh tấn mạnh mẽ, bạn có thể chú ý một cách chính xác đến những hiện tượng đang khởi lên. Vì vậy, niềm tin của bạn sẽ trở nên vững chãi hơn. Một người đã có năng lực tin tưởng sẽ có năng lực chú ý ( Satindriya) sắc bén đến các đối tượng của giác quan, kể từ khi chúng mới khởi lên cho đến khi đã kết thúc. Vì vậy, việc làm chủ đượcnăng lực chú ý đã khiến cho bạn gặt hái được năng lực định tâm ( Samādhindriya). Khi việc làm chủ được năng lực chú ý đã trở thành năng lực định tâm, trí tuệ phân biệt sự khác nhau giữa danhsắc hay năng lực trí tuệ ( Paññindriya) trong bạn sẽ phát triển. Nói cách khác, tuệ minh sát ( Vipassanā Ñāna) sẽ phát triển trong sự nhận thức của bạn. Khi tuệ minh sát đã phát triển và trở nên chín muồi, bạn sẽ đạt tới Niết Bàn Hữu Dư thông qua sự nhận thức đúng đắn. Những hành giả có mong muốn tiến trình thực hành thiền của họ phát triển tốt và lãnh hội được Phật Pháp một cách nhanh chóng phải cân bằng được 5 năng lực tri giác. Vì vậy, các giác quan của họ sẽ trở nên sắc bén. Nếu năng lực tin tưởng( Saddhindriya) vượt trội hơn năng lực trí tuệ( Paññindriya) thì điều này có thể làm cho tâm thức của bạn trở nên lạc lối so mục đích ban đầu là đạt tới Đạo Quả và Niết Bàn. Điều này cũng có thể khiến cho bạn trở thành một người cuồng tín. Nếu năng lực trí tuệ vượt trội hơn năng lực tin tưởng thì điều này có thể khiến cho bạn trở thành một người có quan kiến lầm lạc ( tức tà kiến – Micchadiţţhi – Wrong view). Nếu năng lực tinh tấn( Viriyindriya) vượt trội hơn năng lực tin tưởng thì tâm trí của bạn sẽ mất khả năng tập trung, lang thang vô định và trở nên lo lắng bồn chồn, có đôi lúc bạn sẽ không ngủ được. Nếunăng lực tin tưởng vượt trội hơn năng lực tinh tấn thì bạn sẽ cảm thấy buồn ngủ và trở nên lười biếng. Những hành giả có năng lực tin tưởng vượt trội hơn năng lực trí tuệ hay tuệ minh sát thìsau khi gặt hái đượckiến thức về trạng thái khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng thuộc về vật chất và tinh thần ( Udayabbaya Ñāna), họ sẽ được tận hưởng hạnh phúc hoan hỷ minh sát ( Vipassanā piti sukha). Họ sẽ trở nên rất tôn kính cha mẹ  và các thầy cô giáo. Bởi vì có niềm tin vững mạnh, họ mong muốn nói cho cha mẹ và bạn bè hay những người có quan hệ với họ biết về Phật Pháp và khuyến khích những người này thực hành Phật Pháp. Đang khi có những ý nghĩ như vậy, những hành giả đó sẽ bị phát tán xung lượng thiền định. Vì vậy, thay vì phải tập trung thực hành sự chú ý, họ đã đi chệch hướng và xa rời mục đích thực hành thiền ban đầu là gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn. Xa hơn nữa, họ có thể trở thành những kẻ cuồng tín ( Fanaticer).

Tóm tắt: Khi niềm tin vượt quá trí tuệ thì sẽ bị chệnh hướng so với mục đích và có thể trở thành cuồng tín.

 Những hành giả có năng lực trí tuệ hay tuệ minh sát vượt trội hơn năng lực tin tưởng sẽ nghĩ rằng, việc thực hành thiền minh sát để nhận thức được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất, luật nhân quả, vô thường, khổ và vô ngã… là điều quan trọng nhất. Tuy nhiên, Đức Phật đã từng trình bày chi tiết về những học thuyết này. Ví dụ như Ngài đã nói rằng :

danh pháp ( Nāma – Spirits) có 52 loại, sắc pháp ( Rūpa – Matter) có 28 loại, nếu nguyên nhân tốt thì sẽ phát sanh kết quả tốt, nếu nguyên nhân xấu thì sẽ phát sanh kết quả xấu. Không có bất cứ cái gì là thường còn, tức vô thường ( Anicca – Impermanence). Vì vậy, vạn hữu đều là khổ

( Dukkha - Unhappy). Chúng ta không thể điều khiển và nắm bắt được bất cứ cái gì. Vì vậy vạn hữu là vô ngã (  Anatta – Noself)… Những hành giả nói trên có thể biết được những điều này từ những lời giáo huấn của Đức Phật. Vì vậy, những điều ấy không phải là đỉnh điểm của việc thực hành thiền minh sát. Nếu những hành giả đó thực hành thiền với mục đích cao nhất là nhận biết được những học thuyết nói trên thì họ chỉ lãng phí năng lượng một cách vô ích. Tâm trí của họ từ đó sẽ đi trật đường so với mục đích ban đầu là Đạo Quả và Niết Bà. Xa hơn nữa, họ có thể trở thành những người có quan kiến lầm lạc ( Micchadiţţhi – Wrong view).

Tóm tắt: Nếu một người có năng lực trí tuệ vượt quá năng lực tin tưởng thì người này có thể trở nên có nhiều mánh khoé và xảo quyệt phát xuất từ quan kiến lầm lạc.          

Đó là lý do tại sao chúng ta cần phải cân bằng được năng lực tin tưởngnăng lực trí tuệ hay tuệ minh sát. Nói cách khác, chúng ta phải cân bằng được niềm tintrí tuệ. Bạn phải hết sức cẩn thận khi thực hành thiền minh sát để không bị mắc phải điều sai lầm này. Những hành giả có năng lực tinh tấn ( Viriyindriya) vượt trội hơn năng lực định tâm

( Samādhindriya) sẽ có khuynh hướng để cho tâm trí của họ chú ý vào những đối tượng thuộc về quá khứ hoặc tương lai. Thậm chí, khi đang chú ý đến tiến trình phồng xẹp lên xuống của bụng, tiến trình đang ngồi và tiến trình xúc chạm của thân thể…  họ không thể hội tụ tâm ý lên những đối tượng này bởi vì đang để tâm đến những đối tượng ở quá khứ hoặc tương lai. Những hành giả này hay có thói quen suy nghĩ để vạch ra những kế hoạch hay mục đích trong lúc đang thực hành thiền bởi vì họ nghĩ rằng, sự nổ lực và chuyên cần ( năng lực tinh tấn)của họ là để phục vụ cho những kế hoạch hay mục đích ấy.Vì vậy, tâm trí của họ dễ bị lang thang và mất khả năng tập trung.

Tóm tắt : Nếu năng lực tinh tấn vượt trội hơn năng lực định tâm thì tâm trí rất dễ bị lang thang và mất khả năng tập trung.

 Cách điều chỉnh sự chú ý hướng vào hiện tại một cách chính xác

Do ảnh hưởng của trạng thái vượt trội của năng lực tinh tấn so với năng lực định tâm, tâm trí của hành giả thực hành thiền minh sát sẽ có thói quen hay suy nghĩ đến những đối tượng thuộc về quá khứ hay tương lai. Để khắc phục nhược điểm này, mỗi khi tâm trí khởi lên trạng thái suy nghĩ về những kế hoạch hay mục đích thuộc về quá khứ hay tương lai, bạn cứ hướng sự chú ý của mình trực tiếp lên trạng thái suy nghĩ đó. Bạn cũng có thể tập trung sự chú ý vào tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng, tiến trình đang ngồi và tiến trình đang xúc chạm của thân thể khi chúng đang khởi lên. Khi bạn đã có khả năng chú ý một cách chính xác đến các hiện tượng trong từng khoảnh khắc mà chúng đang khởi lên thì năng lực tinh tấnnăng lực định tâm sẽ được cân bằng. Nhờ đó, tâm trí của bạn sẽ không còn bị lang thang nữa. Năng lực tập trung tâm ý sẽ được phục hồi. Những hành giả có năng lực định tâm vượt trội hơn năng lực tinh tấn sẽ có khuynh hướng chú ý vào một đề mục hành thiền đắc chí và cứ duy trì trạng thái chú ý này trong suốt tiến trình thực hành thiền. Vì vậy, năng lực chú ý của họ sẽ không phát triển tốt và không có khả năng bao quát phong phú. Lúc này, hành giả sẽ bị hôn trầm và uể oải, lười biếng và lờ đờ. Vì vậy, họ sẽ không còn mong muốn tiếp tục thực hành thiền.

Tóm tắt: Nếu năng lực định tâm vượt trội hơn năng lực tinh tấn thì sẽ phát sinh trạng thái tâm lười biếng.

 Khi năng lực định tâm vượt trội hơn năng lực tinh tấn, trạng thái tâm thức này sẽ phát sanh tính lười biếng và lờ đờ. Ngay lúc đó, bạn nên tuần tự hướng sự chú ý lên 4 đề mục quán niệm chính yếu ( tiến trình đang phồng lên của bụng, tiến trình đang xẹp xuống của bụng, tiến trình đang ngồi và tiến trình đang xúc chạm của thân thể ). Tuy nhiên, lúc đang tọa thiền, nếu bạn đã thực hành sự chú ý đến 4 đề mục quán niệm chính yếu vừa nêu trên mà cảm giác buồn ngủ, lười biếng và lờ đờ vẫn không tan biến đi thì bạn phải hướng sự chú ý đến 5 điểm xúc chạm sau đây :

1. Tiến trình đang xúc chạm của đùi trái với mặt sàn tọa

2. Tiến trình đang xúc chạm của đùi phải với mặt sàn tọa

3. Tiến trình đang xúc chạm của mông trái với mặt sàn tọa

4. Tiến trình đang xúc chạm mông phải với mặt sàn tọa

5. Tiến trình đang xúc chạm của 2 bàn tay với nhau       

 Năm điểm xúc chạm này được dùng để chống lại cảm giác buồn ngủ, lười biếng và lờ đờ. 

Sự khuyến khích để điều chỉnh tâm trí

Hỡi những hành giả thực hành thiền minh sát, quí vị được sống và được thực hành thiền ngay trong cõi người này là một điều may mắn. Tất cả những giác quan của quí vị như mắt, tai, mũi, lưỡi,thân và ý là những điều kiện tốt đẹp để nhận thức. Quí vị có niềm tin đúng đắn và vững chãi. Quí vị cũng được sống trong thời Giáo Pháp của Đức Phật vẫn đang tồn tại. Vì vậy, đừng nên lười biếng mà hãy nổ lực để gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng với khả năng có thể của mình. Vì vậy, khi quí vị cố gắng động viên tâm trí của chính mình thì năng lực định tâmnăng lực tinh tấn sẽ trở nên được thăng bằng. Khi niềm tin, trí tuệ, năng lực tinh tấnnăng lực định tâm của quí vị đã được điều chỉnh cho đúng đắn thì 5 năng lực của giác quan sẽ được thăng bằng.Vì vậy, những người chưa có kinh nghiệm về Phật Pháp sẽ gặt hái được kinh nghiệm. Những người đã có kinh nghiệm về Phật Pháp thì khả năng nội quán sẽ phát triển và họ sẽ nhận thức được Phật Pháp ở tầng mức cao hơn. Những người xứng đáng với Phật Pháp sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng. Những người thực hành thiền nói chung cần phải có được 9 nhân tố hiểu biết để có thể khiến  cho 5 năng lực của giác quan được thăng bằng và sắc bén. Trong 9 nhân tố hiểu biết này, nhân tố đầu tiên  là :

Uppannuppanam Sankharanamkhayameva passati. Câu này có thể tạm dịch là : Tất cả những hiện tượng do duyên sinh khởi lên trong 5 Uẩn, dù thuộc về tinh thần hay vật chất đều phải tan hoại.

                                         ( Visuddhi Magga – Thanh Tịnh Đạo 2 / 248 )

Tóm tắt: Chúng ta cần ghi nhớ rằng trong thực tế, tất cả mọi hiện tượng thuộc về vật chất hay tinh thần đều phải tan hoại sau khi đã khởi lên.

Nói một cách tóm tắt, trong 5 Uẩn chỉ có những tiến trình thuộc về vật chất và tinh thần. Những tiến trình vật chất và tinh thần thường khởi lên và biến mất đi với một tốc độ khủng khiếp. Khi Đức Phật Toàn Giác

( Omniscient Buddha) hồi tưởng về tốc độ chấm dứt cực kỳ nhanh chóng của các hiện tượng, Ngài đã nói rằng tốc độ này có thể đạt tới một phần 100 ngàn Kotis của một giây. ( Từ Koti trong tiếng Pāli có nghĩa là chóp cao, tột đỉnh, chấm cuối câu, 10 triệu… Trong trường hợp này Đức Phật muốn nói đến tốc độ đang luôn luôn tan hoại của các hiện tượng thuộc về vật chất và tinh thần là một phần một ngàn tỷ giây đồng hồ ( 1 / 1000.000.000.000 giây – ND). Những người chưa bao giờ thực hành thiền minh sát sẽ không biết được rằng, những tiến trình thuộc về vật chất và tinh thần sau khi đã khởi lên sẽ tan biến đi với một tốc độ vĩ đại như thế. Thậm chí, cũng có nhiều người đã và đang thực hành thiền minh sát. Tuy nhiên, họ chưa bao giờ hướng sự chú ý của họ đến tiến trình sanh diệt của những hiện tượng thuộc về vật chất và tinh thần để có được kinh nghiệm về chúng. Như một hệ quả, họ sẽ không bao giờ lãnh hội được tiến trình sanh diệt của vạn hữu một cách đúng đắn. Mặc dù nói rằng, hầu như một người bình thường không thể có được bất cứ một kinh nghiệm nội quán nào về trạng thái sanh diệt của các hiện tượng vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bây giờ bạn không cần phải chú ý đến trạng thái tan hoại của các hiện tượng nữa. Theo sự hướng dẫn trong hệ thống thiền minh sát của Ngài Đại Trưởng Lão Mahàsì. Khi đang chú ý đến tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng, bạn cần phải nhận biết được rằng hiện tượng đang phồng lên của bụng hoại diệt trước rồi hiện tượng xẹp xuống của bụng mới hoại diệt sau . Lúc đó, bạn cần phải hướng sự chú ý để nhận biết rằng, hiện tượng đang phồng lên của bụng đã chấm dứt trước hiện tượng xẹp xuống của bụng. Đang khi thiền hành, lúc chú ý đến tiến trình đang dở lên, tiến trình đang bước tới và tiến trình đang đặt xuống của bàn chân, bạn sẽ nhận thấy rằng chuyển động đang dần dần dở lên của bàn chân không chấm dứt ngay trước tiến trình đang bước tới của bàn chân. Chuyển động này đã chấm dứt vào cuối tiến trình đang dở lên của bàn chân. Khi chú ý một cách liên tục và chính xác, bạn sẽ nhận thức được điều này.Chuyển động đang dần dần bước tới của bàn chân không chấm dứt ngay trước tiến trình đang đặt xuống của bàn chân. Nó chấm dứt vào cuối tiến trình đang bước tới của bàn chân. Chuyển động đang đặt xuống của bàn chân không chấm dứt ngay trước tiến trình đang dở lên của bàn chân. Nó chấm dứt vào cuối tiến trình đang đặt xuống của bàn chân. Lúc mới bắt đầu tập sự thực hành thiền minh sát , năng lực tập trung tâm ý đang còn yếu. Mặc dù vậy, bạn vẫn cứ hướng tâm trí của mình đến trạng thái đang tan biến của các hiện tượng. Đến khi 5 năng lực của giác quan đã được thăng bằng, bạn cũng mới kinh nghiệm được thời điểm chấm dứt của các hiện tượng một cách phỏng chừng, chưa được chính xác cho lắm. Chính vì chưa thể kinh nghiệm được thời điểm chấm dứt tiến trình tan hoại của các hiện tượng một cách minh bạch, bạn có thể nghĩ rằng thời điểm này chỉ là một sự tưởng tượng không có thật. Do đó, tâm trí của bạn đã trở nên bị cong vẹo và hướng đến sự bất tử. Mặc dù vậy, bạn hãy cứ duy trì sự chú ý đến tiến trình “  bất tử haykhông chấm dứt” mà tâm trí của mình đang tạm thời nhận thức được. Nhờ đó, dần dần tâm trí của bạn cũng sẽ kinh nghiệm được một vài hiện tượng nào đó đang chấm dứt hay đã tan biến đi. Khi đã có khả năng hướng sự chú ý một cách chính xác vào các mục tiêu đã dự định, tâm trí của bạn có thể kinh nghiệm được trạng thái đang chấm dứt hay tan biến đi của các hiện tượng một cách thực tế và rõ ràng. Sau khi tiếp tục thực hành thiền minh sát và gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng ( Bhanga Ñāna), bạn sẽ có khả năng thấy được bằng mắt thường rằng, đối tượng đang được nhận thức

( tức khách thể - object of contemplation) và cả sự chú ý để nhận thức

( Noting conciousness) của tâm trí đang luôn luôn ở trong tiến trình tan hoại. Vào lúc đó ( lúc đã đạt được kiến thức về sự tan hoại của các hiện tượng), khi chú ý đến tiến trình đang phồng lên của bụng, bạn sẽ nhận thấy rằng chuyển động đang dần dần phồng lên của bụngsự chú ý để nhận biết được bản chất của chuyển động này là 2 hiện tượng thuộc về vật chất và tinh thần. Chúng đang tan hoại đi trong từng khoảnh khắc. Đối với chuyển động đang dần dần xẹp xuống của bụngsự chú ý để nhận biết được bản chất của chuyển động này cũng vậy, bạn sẽ nhận thấy rằng chúng đang tan biến đi trong từng khoảnh khắc. Khi chú ý đến tiến trình đang dở lên, bước tới và đặt xuống của bàn chân, bạn cũng sẽ kinh nghiệm được rằng, chuyển động đang dần dần dở lên của bàn chânsự chú ý để nhận biết được bản chất của chuyển động này đang tan hoại đi trong từng khoảnh khắc. Khi chú ý đến tiến trình đang bước tới của bàn chân, bạn sẽ kinh nghiệm được rằng, chuyển động đang dần dần bước tới của bàn chânsự chú ý để nhận biết được bản chất của chuyển động này đang tan hoại đi trong từng khoảnh khắc. Khi chú ý đến tiến trình đang đặt xuống của bàn chân, bạn sẽ kinh nghiệm rằng chuyển động đang dần dần đặt xuống của bàn chânsự chú ý để nhận biết được bản chất của chuyển động này cũng đang tan biến đi trong từng khoảnh khắc. Vì vậy, lúc bấy giờ bạn sẽ nhận thấy rằng, đối tượng được quán niệm là một hiện tượng thuộc về sắc pháp ( tức vật chất – matter) và sự chú ý để nhận biết bản chất của đối tượng đang được quán niệm là một hiện tượng thuộc về danh pháp ( tức tinh thần - Nāma – Spirits). Cả 2 hiện tượng thuộc về vật chấttinh thần này đều là vô thường ( Anicca – impermanence). Khi những hiện tượng vô thường này đang tan biến đi với một tốc độ vĩ đại, chúng đã gây ra một áp lực lên tâm lý của bạn, vì vậy chúng là khổ ( Dukkha). Bởi vì bạn không có cách gì để ngăn chặn được tiến trình đang tan hoại đi của những hiện tượng này, bạn cũng không thể nào điều khiển được trạng thái tan hoại của chúng. Vì vậy, chúng là vô ngã ( Anatta – Noself or uncontrollable). Khi còn nhỏ, chắc bạn cũng đã từng được nghe cha mẹ, thầy cô giáo…của mình nói về 3 tính cách vô thường, khổvô ngã. Bây giờ bạn đã hoặc sẽ tự nhận thức được 3 tính cách đó bằng cách thực hành thiền minh sát. Nhờ vậy, bạn sẽ cảm thấy cực kỳ hạnh phúc với trạng thái tâm hoan hỷ mà thiền minh sát mang lại. Hãy tiếp tục thực hành thiền minh sát cho đến khi 5 năng lực của giác quan đã được thăng bằng và sắc bén, bạn sẽ gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật mà mình đã hằng mong ước.            

    

               Chỉ  gặt hái được Phật Pháp nếu thực hành

                               một cách nghiêm túc

                ( Phương pháp thứ hai để làm chủ các giác quan )

 

Thời đại ngày nay thiền minh sát đang rất hưng thịnh. Vì vậy, nhiều người đã có cơ hội để thực hành loại thiền này. Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều người chưa có cơ hội để học tập những phương pháp thực hành căn bản của thiền minh sát. Những người thực hành thiền minh sát và chưa gặt hái được những kinh nghiệm về Phật Pháp luôn mong muốn có được những điều đó một cách nhanh chóng. Những người đã có kinh nghiệm về Phật Pháp lại mong muốn tiến trình thực hành thiền của họ được phát triển tốt và gặt hái được Phật Pháp một cách nhanh chóng. Để đáp ứng mong ước của những người thực hành thiền minh sát nói trên, các bậc thầy chú giải Kinh Điển ( Athakathā teacher) đã trình bày chi tiết về 9 phương pháp làm chủ các năng lực tri giác hay giác quan ( 9 Indriya – 9 Controlling faculties ) và làm cho các năng lực này trở nên sắc bén. Sau đây là phương pháp thứ hai để làm chủ các năng lực tri giác có tên gọi là  “Tatthaca Sakkacca Kiriyāya Sampādeti” : Cách làm chủ năng lực tri giác thứ nhất mà chúng ta cần ghi nhớ là “ Lãnh hội được một cách thực tế trạng thái tan hoại của những tiến trình thuộc về tinh thần và vật chất, thực hành sự chú ý một cách nghiêm túc và tích cực để gặt hái được tuệ minh sát. Bằng cách này, các năng lực tri giác của bạn sẽ trở nên thăng bằng và sắc bén”.

                                              ( Visuddhi Magga – Thanh Tịnh Đạo 2 / 2)

Tóm tắt: Sự chú ý phải được thực hành một cách nghiêm túc

 Những người thực hành thiền minh sát chưa có được những kinh nghiệm  về Phật Pháp luôn mong muốn có được những điều đó một cách nhanh chóng. Những người đã có những kinh nghiệm về Phật Pháp lại mong muốn tiến trình thực hành thiền của họ phát triển tốt và gặt hái Phật Pháp một cách nhanh chóng. Nếu muốn được như thế, những  người này cần phải thành tựu được nhân tố chính yếu là phải thực hành thiền với sự chú ý nghiêm túc, chính xác và tích cực. Chú ý một cách nghiêm túc nghĩa là khi đang đi, đứng, nằm, ngồi, uốn éo thân mình, co duỗi chân tay…Những hành động thuộc về vật chất này phải được thực hiện một cách chậm rãi và nhẹ nhàng. Chỉ khi như thế thì sự chú ý mới có thể hội tụ được một cách chính xác lên đề mục hành thiền trong khoảnh khắc hiện tại. Chỉ khi có thể chú ý một cách chính xác trong từng khoảnh khắc ở hiện tại thì bạn mới có thể nhận thức được bản chất của vạn hữu. Đó là lý do tại sao những người thực hành thiền minh sát cần phải có những cử động chậm rãi, nghiêm túc và nhẹ nhàng. Mặc dù chúng tôi nói rằng, bạn cần phải làm mọi việc một cách chậm rãi, nghiêm túc và nhẹ nhàng. Tuy nhiên, bạn cũng không nên làm việc một cách chậm chạp và nhẹ nhàng thái quá, nhất là không nên gò ép hay dồn nén bản thân mình khi làm một việc gì, bởi vì nếu làm vậy bạn trở nên câu nệ hình thức. Bạn nên làm việc một cách tự nhiên. Nếu thực hành theo cách vừa nói, năng lực tinh tấn của bạn sẽ trở nên dũng mãnh. Nhờ đó, sẽ có khả năng lãnh hội được Phật Pháp.

Các cử động của bạn phải được thực hiện thật nghiêm túc, không chậm quá cũng không cần nhanh quá mà chỉ vừa đủ để có thể thực hành sự chú ý một cách chính xác. Những cử động của bạn cần phải giống như cử động của một người bị tàn phế, đặc biệt là phải giống như một người tàn phế bị gù lưng. Một người tàn phế bị gù lưng khi đang đứng lên từ chỗ đang ngồi thì anh ta phải thực hiện động tác đó một cách chậm rãi và nhẹ nhàng để khỏi bị đau lưng. Khi đang đứng và muốn ngồi xuống, anh ta cũng phải thực hiện động tác ngồi xuống một cách chậm rãi và nhẹ nhàng. Khi đang uốn cong thân mình, co duỗi chân tay, xúc chạm hay cầm nắm một vật gì thì anh ta cũng đều thực hiện những hành động của mình một cách chậm rãi và nhẹ nhàng, bởi vì sợ bị đau lưng. Vì vậy, bạn phải thực hành các động tác của mình một cách chậm rãi và nhẹ nhàng giống như một người tàn phế bị gù lưng. Nếu có thể thực hành như vậy, bạn sẽ lãnh hội được Phật Pháp một cách nhanh chóng.

Tóm tắt: Thực hành các động tác chậm rãi và nhẹ nhàng như một người tàn phế, sẽ lãnh hội được Phật Pháp một cách nhanh chóng.

Phải chú ý một cách tích cực nghĩa là bạn phải chú ý một cách chính xác, liên tục và rốt ráo trong từng khoảnh khắc ở hiện tại để có thể lãnh hội được bản chất của một cái gì đó đang diễn ra trong thực tại cùng tột hay chân lý tuyệt đối ( Paramattha – Ultimate reality). Những người thực hành thiền minh sát luôn có mong muốn tiến trình thực hành thiền của họ phát triển tốt và lãnh hội được Phật Pháp một cách nhanh chóng. Nếu có mong muốn như vậy, họ cần phải có được một năng lực chú ý chính xác, liên tục và rốt ráo để lãnh hội được bản chất của một cái gì đó, khi nó đang diễn ra một cách thực tế trong từng khoảnh khắc ở hiện tại. Đây là một nhân tố quan trọng cần phải lưu ý. Những hành giả thực hành thiền minh sát có thể kinh nghiệm được bản chất của vạn hữu chỉ khi họ đã có khả năng chú ý một cách tích cực trong từng khoảnh khắc ở hiện tại. Những tiến trình thuộc về tinh thần và vật chất đang hiện hữu trong dòng tiềm thức liên tục ( Bhavanga Santāna – Continuity of subconsciousness. Còn gọi là dòng hộ kiếp) của bạn chỉ khởi lên trong tầng ý thức một cách chính xác trong từng khoảnh khắc ở hiện tại. Một khi những tiến trình này đã chấm dứt hay tan biến đi, chúng không ở đâu cả trong 5 uẩn ( Khandha –  Aggregates -  những yếu tố tạo thành con người bao gồm vật chất, cảm giác, khả năng nhận biết thông qua các giác quan , hành động thuộc về ý chíý thức).Ví dụ như một tia sáng trên bầu trời. Tia sáng này sẽ loé lên rồi biến mất đi. Chỉ có những người đang nhìn lên bầu trời trong khoảnh khắc mà tia sáng đó loé lên thì họ mới có thể nhìn thấy nó phát xuất từ đâu. Sau khoảnh khắc mà tia sáng nọ đã loé lên, có nhiều người khác cũng nhìn lên bầu trời nhưng họ không thể nhìn thấy nó, cũng như không thể biết được nó đã đi đâu. Tương tự như vậy, những người thực hành thiền minh sát sẽ nhận biết được tiến trình sanh diệt của các hiện tượng thuộc về vật chất và tinh thần chỉ khi họ có khả năng chú ý một cách chính xác, ngay trong khoảnh khắc mà các tiến trình đó đang khởi lên và tan biến đi. Những người không có khả năng chú ý một cách chính xác ngay trong khoảnh khắc ở hiện tại khi vật chất và tinh thần đang khởi lên và tan biến đi thì họ sẽ không thấy được tiến trình sanh diệt của chúng. Đó là lý do tại sao, bạn phải chú ý một cách chính xác vào khoảnh khắc mà các hiện tượng đang khởi lên và tan biến đi. Trong hiện tại, những hiện tượng thuộc về vật chất và tinh thần trong quá khứ đã không còn nữa, chúng đã chết. Những tiến trình của các hiện tượng thuộc về vật chất và tinh thần ở tương lai thì chưa xảy đến. Như vậy, chỉ có những tiến trình thuộc về vật chất và tinh thần đang xảy ra trong từng khoảnh khắc của hiện tại là rõ ràng và có thể nhận biết được. Đó là lý do tại sao, bạn cần phải chú ý một cách chính xác đến những tiến trình thuộc về  vật chất và tinh thần đang xảy ra trong từng khoảnh khắc ở hiện tại ( tức trong thực tại cùng tột). Vì vậy, những người đã có khả năng chú ý một cách chính xác trong thực tại sẽ trải nghiệm được Phật Pháp một cách nhanh chóng, tiến trình thực hành thiền của họ sẽ phát triển rất nhanh. Họ sẽ thực chứng được Phật Pháp một cách ngay tức thì. Nói cách khác, họ đã thực chứng được Phật Pháp trong một khoảng thời gian cực kỳ ngắn ngủi gần như là không có đối với khả năng nhận thức của một người bình thường. Tuy nhiên trong thực tế, khoảng thời gian cực kỳ ngắn ngủi này là có thật. Nó chính là thực tại.  

Tóm tắt: Không đi vào quá khứ, không đặt kế hoạch cho tương lai , chỉ chú ý vào khoảnh khắc ở hiện tại.

 Bạn cần phải chú ý một cách tích cực để lãnh hội thực tại rốt ráo nghĩa là đừng nên chú ý tích cực và sắc bén vàohình dáng biểu kiến ( tức hình dáng bên ngoài) của một hiện tượng nào đó đã được qui định bởi luật lệ của xã hội. Bởi vì luật lệ qui định hay luật lệ chế định ( Paññatti Sīla – Institutional law and practises)cũng chỉ là mộtkhái niệm. Nó không phải là qui luật tự nhiên của vũ trụ. Nếu thực hành như vậy, bạn chỉ có thể nhìn thấy bóng dáng của thực tại cùng tột ( Paramattha - Ultimate Reality) mà thôi. Hãy loại bỏ hình dáng biểu kiến của thực tại ( Paññatti – Apparent figure of reality) để lãnh hội nó với quan niệm cao nhất. Hình dáng biểu kiến của thực tại không phải là đề mục để thực hành thiền minh sát. Chỉ có chân lý tuyệt đối hay thực tại cùng tột ( Paramattha – Ultimate reality) là đề mục nhận thức của thiền minh sát. 

Nhận thức: Loại bỏ hình dáng biểu kiến của các hiện tượng và nhìn thẳng vào thực tại cùng tột, bởi vì chỉ có thực tại cùng tột là đề mục lý tưởng để thực hành thiền minh sát.

 Những người thực hành thiền minh sát chỉ tập trung sự chú ý đến hình dáng biểu kiến bên ngoài của các hiện tượng một cách sắc bén thì họ sẽ không thể lãnh hội được bản chất của vạn hữu ( Dhamma – Everything). Đó là lý do tại sao phải loại bỏthực tại biểu kiến ( Paññatti - Apparent Reality) và tập trung chú ý một cách tích cực vào thực tại cùng tột

 ( Paramattha – Ultimate Reality) mới có thể lãnh hội được chân lý.

Những người thực hành thiền minh sát đúng theo phương pháp của Ngài Đại Trưởng Lão Mahāsī phải chọn một nơi yên tĩnh và quán niệm về tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng, tiến trình đang ngồi và tiến trình đang xúc chạm của thân thể khi đang tọa thiền. Khi đang thiền hành, họ cần phải tập trung sự chú ý đến tiến trình đang dở lên, đang bước tới và đang đặt xuống của 2 bàn chân. Khi đang tập trung chú ý đến tiến trình phồng lên của bụng, bạn đừng hội tụ sự chú ý lên hình dáng bên ngoài của nó mà phải chú ý đến chuyển động đang dần dần phồng lên của bụng, khi không khí từ bên ngoài đang đi vào trong cơ thể và đã làm cho bụng phồng lên như thế nào, tức cần phải nhận biết được yếu tố gió

( Vayo dhātu) với năng lực cao nhất có thể, bởi vì yếu tố gió chính là thực tại cùng tột.  Khi bụng đang dần dần xẹp xuống, bạn cũng đừng chú ý đến hình dáng bên ngoài của nó mà phải chú ý đến chuyển động đang dần dần xẹp xuống của bụng, khi không khí từ trong cơ thể đang thoát ra ngoài và đã làm cho bụng xẹp xuống như thế nào, tức cần phải nhận biết được yếu tố gió ( Vayo dhātu) với năng lực cao nhất, bởi vì yếu tố gió ở đây chính là thực tại cùng tột.  Khi chú ý đến tiến trình đang tọa thiền, bạn cũng đừng chú ý đến hình dáng của đầu, thân thể, 2 cẳng chân và 2 bàn tay…Bởi vì bạn đã cóý định muốn tọa thiền, nên bạn mới chú ý đến chuyển động đang dần dần phồng lên của bụng. Ngay lúc này, bạn nên tập trung chú ý đến độ căng của bụng và tác động của không khí đã làm cho bụng phồng lên như thế nào. Khi chú ý đến tiến trình đang xúc chạm của thân thể, bạn cũng không cần lưu tâm đến hình dáng của bàn tọa ( mông), hình dáng của 2 đùi … vì những hình dáng này chỉ là khái niệm. Thay vào đó, bạn cần phải chú ý để lãnh hội được độ cứnghơi nóng phát sanh từ tiến trình xúc chạm của thân thể với mặt sàn tọa, các bộ phận trong cơ thể với nhau…Bởi vì độ cứnghơi nóng nói trên chính là bản tính tự nhiên của thực tại cùng tột. Ngay lúc đó, bạn hãy loại bỏ thực tại biểu kiến ( Paññatti – Apparent Reality ), chỉ chú ý tích cực để nhận biết thực tại cùng tột ( ở đây là độ cứng và hơi nóng đã nói ở trên). Những người có thể loại bỏ thực tại biểu kiến, chú ý để nhận biết thực tại cùng tột và lãnh hội được Phật Pháp sẽ làm cho tiến trình thực hành thiền của họ được phát triển. Nhờ đó, họ sẽ gặt hái được Giáo Pháp một cách nhanh chóng. 

 Chú ý với năng lực cao nhất khi đang thiền hành

 Khi chú ý đến tiến trình đang dở lên của 2 bàn chân trong lúc đang thiền hành ( Walking meditation), bạn đừng nghĩ tới hình dáng của 2 bàn chân, bởi vì hình dáng của chúng chỉ là những khái niệm, chỉ cần chú ý đếnchuyển động đang dần dần dở lên của chúng khi chúng đang thực hiện hành động đi. Khi chú ý đến tiến trình đang bước tới của bàn chân, bạn cũng đừng chú ý đến hình dáng của 2 bàn chân mà chỉ chú ý đến chuyển động đang dần dần bước tới của chúng với năng lực cao nhất. Khi chú ý đến tiến trình đang đặt xuống của 2 bàn chân, bạn cũng đừng chú ý đến hình dáng của chúng mà chỉ chú ý đến chuyển động đang dần dần đặt xuống của chúng. Bạn hãy chú ý tích cực để nhận biết được bản chất của thực tại cùng tột với năng lực cao nhất.

 Phật pháp đã được lãnh hội như thế nào thông qua chuyển động đangdở lên và bước tới của 2 bàn chân

Hành giả thực hành thiền minh sát sẽ lãnh hội được Phật Pháp bằng cách thực hành sự chú ý đến tiến trình đang đi của 2 bàn chân. Khi chú ý một các chính xác trong từng khoảnh khắc đến tiến trình đang dở lên của bàn chân, hành giả không những phải lãnh hội được chuyển động đang dần dần dở lên của 2 bàn chân mà còn phải nhận biết được chuyển động này càng lúc càng trở nên nhẹ nhàng hơn. Khi hành giả đã lãnh hội được tính nhẹ nhàng trong chuyển động đang dần dần dở lên của 2 bàn chân, anh ta sẽ nhận biết được bản chất tự nhiên của 2 yếu tố lửa và gió. Khi đang thiền hành, bạn cần phải chú ý một cách chính xác đến tiến trình đang bước tới của 2 bàn chân trong từng khoảnh khắc để lãnh hội được bản chất của tiến trình này với một năng lực cao nhất. Bạn không những phải lãnh hội được trong từng khoảnh khắc chuyển động đang dần dần bước tới của 2 bàn chân mà còn phải nhận biết được chuyển động này càng lúc càng trở nên nhẹ nhàng hơn. Vì vậy, khi đã lãnh hội được tính nhẹ nhàng trong chuyển động đang dần dần bước tới của 2 bàn chân, bạn sẽ nhận biết được bản chất tự nhiên của 2 yếu tố lửa và gió.

Tóm tắt: Tính nhẹ nhàng trong yếu tố gió (Vayo dhàtu) và yếu tố lửa ( Tejo dhātu) xuất hiện một cách rõ ràng và rất dễ nhận thấy.

 Khi đang thiền hành, bạn chú ý đến tiến trình đang đặt xuống của 2 bàn chân để lãnh hội được tiến trình này với năng lực cao nhất. Tiến trình dần dần đặt xuống của 2 bàn chân xảy ra trong từng khoảnh khắc ở hiện tại

( tức trong thực tại). Bạn không những phải lãnh hội được chuyển động dần dần đặt xuống của 2 bàn chân mà còn phải nhận biết được chuyển động này càng lúc càng trở nên nặng nề hơn. Lãnh hội được tính nặng nề tức là đã nhận biết được bản chất tự nhiên của đất và nước.

Tóm tắt:   Trong 2 yếu tố đất và nước thì tính nặng nề là yếu tố xuất hiện rõ ràng và dễ nhận thấy nhất.

 Tiến trình phát triển Phật Pháp đã xảy ra như thế nào

Những hành giả đã có khả năng chú ý nghiêm túc và tích cực thì năng lực định tâm ( Samādhi Ñāna – Concentration ‘s ability) của họ càng ngày sẽ càng trở nên mạnh mẽ và sâu sắc hơn. Những người thực hành thiền minh sát có khả năng chú ý đến tiến trình đang dở lên, bước tới và đặt xuống của 2 bàn chân một cách nghiêm túc và chính xác thì họ sẽ lãnh hội được rằng, chuyển động đang dần dần dở lên và bước của 2 bàn chân sẽ càng lúc càng trở nên nhẹ nhàng hơn. Họ cũng lãnh hội được rằng, những chuyển động này đang xảy đến và đồng thời cũng đang dần dần tan biến đi trong từng khoảnh khắc. Như vậy, những hành giả này đã phát triển được Phật Pháp trong chính tâm thức của họ. Một hành giả thực hành thiền minh sát nào đó đã có khả năng chú ý nghiêm túc và chính xác đến chuyển động đang dần dần đặt xuống của 2 bàn chân thì anh ta sẽ lãnh hội được rằng, chuyển động này càng lúc càng trở nên nặng nề hơn. Anh ta cũng lãnh hội được rằng chuyển động này đang xảy đến và đồng thời cũng cũng đang tan biến đi trong từng khoảnh khắc. Như vậy, hành giả này đã phát triển được Phật Pháp trong chính tâm thức của mình. 

 Tiến trình gặt hái được Phật Pháp đã xảy ra như thế nào

Những hành giả thực hành thiền minh sát một cách nghiêm túc và tích cực, đã lãnh hội được tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng một cách đúng đắn và chính xác thì họ sẽ gặt hái được hạnh phúc do loại thiền này mang lại. Khi các hành giả này tiếp tục thực hành sự chú ý thì họ sẽ gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng ( Bhanga Ñāna ). Tiếp đến, họ sẽ gặt hái được kiến thức về cảm giác sợ hãi ( Bhaya Ñāna), kiến thức về sự nhàm chán và kinh khiếp (Adinava Nàna), kiến thức về trạng thái kiệt sức ( Nibbida Ñāna), kiến thức trạng thái tâm ao ước được giải thoát ( Muncitukamyata Ñāna), kiến thức về sự quán tưởng ( Patisankha Ñāna), kiến thức về sự cấu thành của vật chất ( Sankharupekkha Ñāna), kiến thức về trạng thái thích nghi với Đạo Quả ( Anulama Ñāna), kiến thức vượt ranh ( Gotrabhu Nāna) và cắt đứt quan hệ với thế giới trần tục về mặt tâm thức. Cuối cùng hành giả sẽ gặt hái được con đường trí tuệ của Tu – Đà- Hườn

( Sotāpatti Magga Ñāna), Quả tuệ Tu-Đà-Hườn ( Sotāpatti phala Ñāna) và Giáo Pháp Cao Thượng ( Noble Dhamma ).

 

    Phật Pháp sẽ phát triển khi sự chú ý được duy trì liên tục  

                  ( Phương pháp thứ ba để làm chủ các giác quan)

 

Thời đại ngày nay thiền minh sát đang rất hưng thịnh. Khi thiền minh sát đang thu hút sự quan tâm của nhiều người, một số người đã có cơ hội để thực hành loại thiền này. Bên cạnh đó, cũng có một số người khác chưa có cơ hội để học tập những phương pháp thực hành căn bản về thiền minh sát. Những người đã và đang thực hành thiền minh sát nhưng chưa có được những kinh nghiệm về Phật Pháp mong muốn có được những điều đó một cách nhanh chóng. Những người đã có kinh nghiệm về Phật Pháp mong muốn tiến trình thực hành thiền của họ được phát triển tốt và gặt hái được Phật Pháp một cách nhanh chóng. Để đáp ứng niềm ao ước của những người nói trên, các bậc thầy chú giải Kinh Điển đã chỉ ra 9 phương pháp làm chủ các năng lực tri giác để làm cho chúng trở nên thăng bằng và sắc bén. Phương pháp thứ ba để làm chủ các giác quan có tên là : “ Satassa Kiriyāya sampādeti”. Những người thực hành thiền minh sát cần phải duy trì sự chú ý một cách liên tục. Theo phương pháp này, bằng cách liên tục thực hành thiền để giữ cho tuệ minh sát ( Vipassanā Ñāna) không bị gián đoạn hay phá vỡ và dần dần được chín muồi, các năng lực tri giác của hành giả sẽ trở nên thăng bằng và sắc bén hơn.

Tóm tắt: Không bị dừng lại và không bị phá vỡ, sự chú ý phải được duy trì một cách liên tục. ( Visudhi Magga – Thanh Tịnh Đạo 2 / 248)

Những hành giả thực hành thiền minh sát để tập luyện sự chú ý. Phương pháp đầu tiên mà họ xử dụng để làm cho các năng lực tinh thần được sắc bén là hướng tâm trí đến tiến trình đang tan hoại của các hiện tượng. Phương pháp thứ hai là hành giả phải chú ý một cách nghiêm túc và tích cực trên tiến trình đang tan hoại của các hiện tượng thuộc về vật chất và tinh thần. Phương pháp thứ ba để làm cho các giác quan trở nên thăng bằng sắc bén, gìn giữ sao cho năng lực định tâm ( Samādhi – Concentration) và tuệ minh sát ( Vipassanā Ñāna – The clear insight ‘s ability)  luôn luôn được ổn định và phát triển. Có 3 cách chú ý liên tục để làm cho năng lực định tâm được ổn định và liên tục phát triển. Ba cách chú ý đó là : Tập trung chú ý liên tục khi đang tọa thiền, tập trung chú ý liên tục lúc đang thiền hành, tập trung chú ý một cách chi tiết và liên tục đến các hoạt động đa dạng khác của thân thể. Trạng thái định tâm mà hành giả đã có từ trước nay được ổn định và đang phát triển được là nhờ vào sự chú ý liên tục khi anh ta đang tọa thiền. Khi hành giả đang tọa thiền liên tục trong một giờ đồng hồ hoặc có thể lâu hơn, trong khoảng thời gian đó, anh ta luôn luôn giữ cho thân thể của mình không bị cử động, tâm trí của hành giả không bị chệnh hướng trong sự chú ý liên tục thì trạng thái định tâm có từ trước mới được ổn định và tiếp tục phát triển. Đây là cách chú ý liên tục thứ nhất. Cách chú ý liên tục thứ hai là khi đang thiền hành, hành giả tập luyện sự chú ý liên tục lên các chuyển động của 2 bàn chân.Thỉnh thoảng, hành giả vô ý hướng tầm mắt của mình đến những đối tượng có thể nhìn thấy bằng mắt thường và bị những đối tượng này cuốn hút. Vì vậy, tiến trình chú ý của hành giả đã bị gián đoạn. Có khi tiến trình chú ý liên tục của hành giả cũng bị gián đoạn khi anh ta bất chợt nghe thấy một âm thanh nào đó. Ngay lúc này, sự chú ý liên tục của hành giả đã chuyển hướng đến âm thanh đó và bị dính mắc vào nó. Đó là lý do tại sao, hành giả thực hành thiền minh sát phải hết sức cẩn thận để không bị bất cứ một cảnh tượng hay một âm thanh nào cuốn hút khi đang thực hành sự chú ý liên tục. Để có thể chú ý một cách chi tiết và liên tục đến các hoạt động đa dạng khác của thân thể là một điều rất khó khăn. Tuy nhiên, những hành giả thực hành thiền minh sát cần phải thực hành sự chú ý một cách chi tiết và liên tục đến các hoạt động hàng ngày của chính họ. Nếu thực hành như vậy, sự chú ý sẽ trở nên mạnh mẽ và họ sẽ kinh nghiệm được Phật Pháp. Đến lúc đó, tiến trình thực hành thiền của những người này sẽ phát triển rất nhanh chóng. Những hành giả nào có khả năng lãnh hội Phật Pháp một cách xứng đáng thì họ sẽ gặt hái được nó. Chú ý một cách chi tiết lên các hoạt động hàng ngày nghĩa là khi đang đi, đứng, nằm, ngồi tại nơi mình đang cư trú, lúc đang đóng mở cửa, lúc đang đi ngủ, lúc đang dọn dẹp giường ngủ, thay áo quần, tắm rửa ,ăn uống… hành giả phải chú ý một cách chi tiết và liên tục đến các hoạt động thuộc về thể xác này. Để có được khả năng chú ý một cách chi tiết và liên tục đến các hoạt động thuộc về thân xác, bạn phải thực hành theo phương  pháp lãnh hội một cách sáng suốt hay tinh khiết hoá sự nhận thức ( Sampajanna – Clarity conciousness ‘s method) mà Đức Phật đã chỉ dạy. Đây chính là phương pháp chú ý một cách chi tiết và liên tục trên các hoạt động thuộc về thể xác của bản thân mình một cách chính xác nhất. Việc đầu tiên và quan trọng nhất đối với những người thực hành thiền minh sát là họ phải có khả năng chú ý đến các chuyển động tới lui thuộc về thể xác của chính họ và giữ cho sự chú ý đó được liên tục, không bị gián đoạn. Các chuyển động tới lui của thể xác có 3 loại : Chuyển động tới lui khi đang đi bộ, chuyển động tới lui khi đang đứng và chuyển động tới lui khi đang ngồi. Những hành giả đang thực hành thiền minh sát phải chú ý một cách chi tiết đến các hành động bước tới bước lui của chính mình. Những hành giả này cũng phải chú ý đến hành động đang dở lên, đang bước tới và đang đặt xuống của 2 bàn chân theo thứ tự từ đầu đến cuối cho đến khi đã đi bộ qua hết con đường được xử dụng để thiền hành. Lúc đó, họ sẽ quay trở lại và cứ tiếp tục như thế…

 Kinh nghiệm Phật Pháp khi đang đi bộ

Theo phương pháp này, khi đang quay trở lại ở cuối con đường dùng để thiền hành, bạn cần phải hội tụ tâm ý lên chuyển động quay trở lại của thân thể để nhận biết được tiến trình quay này đang xảy ra như thế nào. Lúc đó, không cần chú ý đến hình dạng của đầu, thân thể , 2 cẳng chân và 2 bàn tay…mà chỉ cần chú ý một cách tích cực đến chuyển động dần dần quay trở lại này mà thôi. Vì vậy, khi đang tập trung chú ý liên tục, bạn sẽ nhận thức được sự khác nhau giữa các hoạt động thuộc về thân thể và sự chú ý để nhận thức của tâm trí.  Các hành động thuộc về thể xác không hề có sự nhận thức bởi vì chúng thuộc về sắc pháp ( tức vật chất – Rūpa –Matter), chỉ có sự chú ý liên tục của tâm trí là có sự nhận thức bởi vì nó thuộc về danh pháp ( tức tinh thần – Nāma – Spirits). Chuyển động quay lại của thân thể có tính hữu hình ( Corporeal). Vì vậy, bạn có thể thấy nó bằng mắt thường. Sự chú ý liên tục đến hoạt động quay trở lại này có tính vô hình ( Incorporeal). Vì vậy, bạn không thể nhìn thấy nó bằng mắt thường. Do đó, bạn đã gặt hái được kiến thức về sự khác nhau giữa vật chất và tinh thần ( Nāmarūpapariccheda Ñāna – The Knowledge about the difference between mind and matter).

 Tiến trình đi bộ đã xảy ra như thế nào

Khi hành giả thực hành thiền minh sát đang thực hành sự chú ý liên tục, năng lực định tâm (  Samādhi Ñāna) của anh ta đã trở nên mạnh mẽ.

Lúc đó hành giả sẽ nhận thức được một cách nhanh chóng rằng, bản thân anh ta đang có ý muốn quay trở lại khi đã đi qua hết đoạn cuối của con đường dùng để thiền hành. Vì vậy, hành giả cần phải chú ý một liên tục và tích cực đến “ ý định muốn quay trở lại” và niệm thầm trong tâm “ đang quay trở lại, đang quay trở lại…”. Do chịu ảnh hưởng của ý định muốn quay, hành giả đã thực hiện hành động quay trở lại. Ý định muốn quay trở lại của hành giả là nguyên nhânchuyển động quay trở lại của thân thể là kết quả. Do đã nhận biết được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất, hành giả sẽ gặt hái được sự hiểu biết về luật nhân quả ( The Knowledge about the law of cause and effect).

 Kinh nghiệm về Phật Pháp khi đang đứng

Khi sự định tâm hay năng lực tập trung tâm ý đã phát triển, hành giả thực hành sự chú ý liên tục đến chuyển động uốn cong thân thể của mình và nhận thức được sự khác nhau giữa chuyển động này và sự chú ý liên tục của tâm trí để nhận thức nó. Sự gập cong thân thể về phía trước có tính hữu hình bởi vì nó thuộc về sắc pháp. Sự chú ý đến tiến trình đang gập cong này thuộc về danh pháp. Vì vậy, hành giả đã kinh nghiệm được sự khác nhau giữa vật chất và tinh thần. Từ đó, anh ta đã nhận thức được Phật Pháp.

 Tiến trình đứng đã xảy ra như thế nào

Đang khi chú ý một cách liên tục, năng lực định tâm của hành giả đã phát triển và trở nên mạnh mẽ hơn trước. Lúc đó, hành giả đang đứng và uốn cong thân thể của anh ta, hành động uốn cong này rõ ràng đã bị thúc đẩy bởi ý định muốn uốn cong đã có từ trước. Vì vậy, cách thích hợp nhất là hành giả phải lập tức chú ý đến ý định muốn uốn cong thân thể ngay khi nó vừa khởi lên. Tiếp đến, anh ta mới chú ý liên tục đến chuyển động uốn cong của thân thể mình. Do ảnh hưởng của  ý định muốn uốn cong thân thể, hành giả đã thực hiện hành động uốn cong thân thể. Ý định muốn uốn cong thân thểnguyên nhânhành động uốn cong thân thểkết quả. Do đã nhận biết được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất, hành giả sẽ gặt hái được sự hiểu biết về luật nhân quả. Khi hành giả thực hành thiền minh sát đang cúi xuống để đảnh lễ Đức Phật hay làm một điều gì đó thì thân thể của anh ta đang bị uốn cong. Lúc này, hành giả cần phải chú ý đến chuyển động đang uốn cong thân thể của chính mình và niệm thầm trong tâm “ đang uốn cong, đang uốn cong…”. Theo phương pháp này, hành giả không cần chú ý đến hình dạng của đầu, thân thể, 2 cẳng chân và 2 bàn tay… bởi vì chúng chỉ làbóng dáng của thực tại hay chỉ là thực tại biểu kiến ( Pannatti – Apparent reality). Thay vào đó, anh ta phải chú ý một cách liên tục và tích cực đến tiến trình đang chuyển động của thân thể khi nó đang ở trong  trạng thái từ từ gập cong xuống.

Kinh nghiệm Phật Pháp khi đang ngồi

Khi sự định tâm hay năng lực tập trung tâm ý ( Samādhi Ñāna – Concentration ) của hành giả đã phát triển. Khi đang ngồi xuống hay thực hiện hành động đảnh lễ Đức Phật…  hành giả phải chú ý tích cực đến chuyển động đang uốn cong của thân thể. Nếu thực hành như vậy, anh ta sẽ nhận thức được sự khác nhau giữa tiến trình chuyển động của thân thểsự chú ý của tâm đến chuyển động này. Chuyển động uốn cong của thân thể có tính hữu hình và thuộc về sắc pháp. Vì vậy, bạn có thể nhìn thấy nó bằng mắt thường. Sự chú ý của tâm trí có tính vô hình và thuộc về danh pháp. Vì vậy, bạn không thể nhìn thấy nó bằng mắt thường. Từ đó, bạn đã nhận thức được sự khác nhau giữa vật chất và tinh thần hay đã kinh nghiệm được Phật Pháp.

Tiến trình ngồi đã diễn ra như thế nào

Khi thực hành sự chú ý liên tục, trạng thái định tâm trong quí vị đã phát triển, trở nên mạnh mẽ và chín muồi. Khi bạn đang ngồi xuống hay cúi xuống đảnh lễ Đức Phật thì trước đó, ý định muốn cúi xuống đảnh lễ đã được hình thành. Cách thích hợp nhất là bạn phải bắt đầu chú ý từ lúc “ ý định muốn cúi xuống đảnh lễ” vừa mới khởi lên và niệm thầm trong tâm “ đang có ý định muốn cúi xuống …đang có ý định muốn cúi xuống…” Tiếp đến, bạn mới chú ý đến chuyển động cúi xuống đảnh lễ Đức Phật và sự chú ý của tâm trí đến chuyển động này. Do ảnh hưởng của “ ý định muốn cúi xuống đảnh lễ Đức Phật”, bạn  đã thực hiện hành động uốn cong thân mình và cúi xuống để đảnh lễ Ngài. “ Ý định muốn cúi xuống đảnh lễ Đức Phật” là nguyên nhân và “ hành động cúi xuống đảnh lễ Ngài” chính là kết quả. Vì trước đó bạn đã nhận thức được sự khác nhau giữa vật chất và tinh thần, tiến trình thực hành thiền của bạn đã phát triển rất tốt. Nhờ vậy, đến lúc này, bạn sẽ gặt hái được sự hiểu biết về luật nhân quả.

 Bốn nền tảng của sự chú ý

Những người có khả năng chú ý liên tục đến 4 nền tảng của sự chú ý hay 4 nền tảng quán niệm ( thân, thọ, tâm, pháp) trong tiến trình đang cúi xuống đảnh lễ Đức Phật, họ sẽ tích luỹ được nhiều phước báu. Sự nhận thức về Phật Pháp trong chính họ cũng đã phát triển. Khi thực hành sự chú ý liên tục, trạng thái định tâm đã trở nên mạnh mẽ. Khi đang cúi xuống và đảnh lễ Đức Phật thì ý định muốn thực hiện hành động này đã xảy ra trước đó, cũng như đã xuất hiện rất rõ ràng và rất dễ nhận thấy. Vì vậy, bạn cần phải chú ý đến “ý định này” trước tiên và niệm thầm trong tâm “ đang có ý định muốn cúi xuống đảnh lễ Đức Phật , đang có ý định muốn cúi xuống đảnh lễ Đức Phật…”. Theo phương pháp này, bởi vì bạn đã chú ý đến “ ý định muốn cúi xuống đảnh lễ Đức Phật” ( tức Cittānupassanā Satipatthāna  – quán tâm niệm xứ , tức quan sát xem thử tâm đang nhớ nghĩ đến đối tượng nào) nên Phật Pháp trong bạn đã được phát triển.

Tiếp đến, bạn phải chú ý đến “tiến trình đang chuyển động cúi xuống đảnh lễ” và sự chú ý của tâm trí đến hành động này. Ngay lúc này, bạn cần niệm thầm trong tâm “ đang cúi xuống đảnh lễ Đức Phật, đang cúi xuống đảnh lễ Đức Phật…”. Khi  chú ý đến “hành động đang cúi xuống của thân thể” ( Kāyānupassanā Satipathānaquán thân niệm xứ, tức quan sát hành động của thân thể), bạn đã gặt hái được phước báu, Phật Pháp trong bạn đã được phát triển. Đang khi đảnh lễ Đức Phật, bạn sẽ cảm thấy thân tâm của mình được hoan hỷ. Ngay lúc đó, bạn lập tức chú đến trạng thái tâm hoan hỷ này và niệm thầm trong tâm “ đang hoan hỷ, đang hoan hỷ…”. Sự chú ý đến lạc thọ được gọi là Vedanānupassanā Satipatthāna – quán thọ niệm xứ, tức quan sát những đối tượng của cảm giác như vui, buồn, chán nản, hoan hỷ... Vì vậy, bạn đã gặt hái được phước báu, Phật Pháp trong chính bạn đã được phát triển. Khi đang cúi xuống đảnh lễ Đức Phật, ban có thể tính cờ nghe thấy tiếng ước nguyện của ai đó bổng nhiên phát to lên. Ngay lúc đó, bạn cần phải niệm thầm trong tâm “ đang nghe, đang nghe…” và thiết lập ngay một trạng thái nghe thuần tuý, nghĩa là nghe và chỉ nghe mà thôi chứ không suy nghĩ gì cả. Sự chú ý đến trạng thái nghe thuần tuý này được gọi là Dhammānupassanā Satipatthāna – quán pháp niệm xứ, tức chú ý một cách thuần tuý đến những đối tượng mà giác quan đã phát hiện được và không bị cuốn hút vào những đối tượng đó. Vì vậy, bạn đã gặt hái được phước báu, Phật Pháp trong bạn đã được phát triển.

 

     

 

      Phật Pháp sẽ phát triển nếu biết vận dụng thích hợp

                     ( Cách thứ tư để làm chủ các giác quan)

 

Thời đại ngày nay, phong trào thực hành thiền minh sát đang rất hưng thịnh. Khi thiền minh sát đang hưng thịnh, rất nhiều người đã có cơ hội để thực hành loại thiền này. Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều người chưa có cơ hội để học tập những phương pháp thực hành căn bản của thiền minh sát. Những hành giả thực hành thiền minh sát chưa có được những kinh nghiệm về Phật Pháp luôn luôn mong muốn có được những điều ấy một cách nhanh chóng. Những hành giả thực hành thiền minh sát đã có được những kinh nghiệm về Phật Pháp lại mong muốn tiến trình thực hành thiền của họ phát triển tốt và gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng một cách nhanh chóng. Để đáp ứng nguyện vọng của những hành giả nói trên, các bậc thầy chú giải Kinh Điển đã đưa ra 9 cách làm cho các giác quan trở nên sắc bén. Trong 9 cách làm chủ các năng lực tri giác đó, cách thứ tư có tên là : “ Sappya kiriyāya Sampādeti”. Những người thực hành thiền minh sát phải biết né tránh những điều bất tiện không thích hợp và đạt được 7 phương pháp vận dụng Phật Pháp một cách thích hợp. Bảy phương pháp vận dụng thích hợp này chính là phương pháp thứ tư để làm chủ các giác quan. Phương pháp này có thể làm cho các giác quan trở nên sắc bén, tiến trình thực hành thiền của bạn sẽ phát triển một cách nhanh chóng. ( Visuddhi Magga 2 / 248)

Tóm tắtPhải biết vận dụng 7 phương pháp thích hợp để thực hành Phật Pháp.

Bảy phương pháp thích hợp cần phải đạt được có thứ tự như sau :

1. ĀvasoLưu lại trong một trung tâm thiền thích hợp   

2. GocaroMột nơi chốn thuận tiện cho việc cúng dường vật thực

3. Bhassam –   Xử dụng ngôn ngữ một cách thích hợp

4. Puggalo –  Phải có một người thích hợp để trông cậy

5. BhojanamPhải có vật thực thích hợp để xử dụng

6. Utu –  Phải lưu lại một nơi thích hợp có điều kiện khí hậu ôn hoà

7. Iriyāpatho –  Phải có một tư thế thực hành thiền thích hợp

                                                                          ( Uparipanasa ttha 115)

Lưu lại trong một trung tâm thiền thích hợp

Một trung tâm thiền được gọi là thích hợp, có những hành giả đến học tập và thực hành thiền phải có đủ 5 điều kiện căn bản sau đây :

1. Trung tâm thiền thích hợp phải tọa lạc tại một nơi không quá gần hoặc quá xa so với chỗ cư trú của bạn.

2. Một trung tâm thiền thích hợp phải được yên tĩnh, không có nhiều người qua lại.

3. Một trung tâm thiền thích hợp phải là một nơi có rất ít các loại ruồi muỗi, côn trùng, rắn rít....Nếu trung tâm thiền này tọa lạc trong rừng thì nó phải là một nơi không có nhiều loại thú dữ như : Sư tử, cọp, beo, voi hoang dã …

4. Trung tâm thiền thích hợp phải là một nơi dễ tìm kiếm các nhu cầu tối thiểu như : Vật thực, nước uống, thuốc men chữa bệnh và y phục.

5. Một trung tâm thiền thích hợp phải là một nơi có những thiền sư giỏi, có khả năng truyền đạt phương pháp thực hành thiền đúng đắn và hiệu quả cho những người chưa có kinh nghiệm về Phật Pháp. Những thiền sư này cũng có khả năng hướng dẫn cho những hành giả đã có kinh nghiệm về Phật Pháp và làm cho tiến trình thực hành thiền của những hành giả này tiến bộ hơn, để họ có thể lãnh hội được Phật Pháp một cách nhanh chóng.

Một trung tâm thiền phải có được 5 điều kiện vừa kể trên thì mới có thể gọi là một trung tâm thiền thích hợp. Những người thực hành thiền minh sát trong những trung tâm theo kiểu này sẽ có khả năng làm cho các giác quan của họ trở nên sắc bén, Phật Pháp trong chính họ cũng được phát triển một cách tốt đẹp.

 Một nơi chốn thuận tiện cho việc thọ nhận vật thực

Những Tỳ Kheo thực hành thiền minh sát phải tìm được một nơi thích hợp để thực hành thiền. Nơi này không được cách quá xa trung tâm thành phố để có thể thọ nhận được vật thực cúng dường hàng ngày của các thí chủ một cách dễ dàng.

Xử dụng ngôn ngữ một cách thích hợp

Những người thực hành thiền minh sát  phải biết dè dặt khi nói năng, nếu không có lý do gì chính đáng thì không nên nói. Tuy nhiên, khi bắt gặp chuyện gì có liên quan đến 10 chủ đề để nhận thức Phật Pháp sau đây thì họ nên nói về chúng, 10 chủ đề đó là : 

1. Hạn chế cảm giác thèm muốn

2. Mãn nguyện với những cái gì mà mình đã đạt được

3. Phân biệt rạch ròi nam giới và nữ giới

4. Tìm đến những nơi yên tĩnh và thực hành thiền

5. Luôn luôn tinh tấn và thực hành thiền

6. Giữ Giới luật một cách chắc chắn và vững chãi

7. Năng lực định tâm hay thiền định

8. Nhận thức chân lý bằng kinh nghiệm nội quán

9. Bát Chánh Đạo, Đạo Quả và Niết Bàn

10. Cân nhắc sau khi đã nhận thức được Bát Chánh Đạo, Đạo Quả và Niết Bàn

  Phải có một người thích hợp để trông cậy

Những hành giả thực hành thiền minh sát không nên ở chung với những người không thích hợp. Họ phải cùng lưu trú với những người thích hợp. Chỉ khi như thế thì tinh thần của họ mới được thanh thản. Chỉ khi có được một tâm trí bình yên thì những hành giả thực hành thiền minh sát mới có thể gặt hái được năng lực định tâm ( Samādhì – Concentration). Nhờ đó, các giác quan của họ sẽ trở nên sắc bén.  Phật Pháp trong họ mới có thể phát triển được.

 Phải có vật thực thích hợp để xử dụng

Những người thực hành thiền minh sát phải biết kiêng cữ và thọ dụng những loại vật thực không thích hợp. Họ chỉ nên xử dụng các loại vật thực thích hợp với cơ địa của mình. Xử dụng những loại vật thực thích hợp nghĩa là những người thực hành thiền minh sát không được thọ thực nhiều quá mà chỉ nên tiếp nhận một số lượng vừa đủ. Tôn giả Xá-Lợi-Phất cũng đã từng nhấn mạnh đến việc chỉ nên thọ dụng một lượng vật thực vừa đủ nuôi sống. Những người có mong muốn thực hành thiền minh sát một cách lâu dài cho đến khi đạt tới Niết Bàn phải giảm bớt từ 4 đến 5 miếng vật thực, so số lượng vật thực thật sự cần thiết cho cơ thể trong một bữa ăn. Sau đó, họ sẽ uống thêm nước để bù vào số vật thực đã bị giảm bớt. Những người thực hành việc giảm bớt từ 4 đến 5 miếng vật thực trong một bữa ăn như đã nói ở trên sẽ cảm thấy rất thuận tiện trong bốn tư thế thực hành thiền ( đi, đứng, ngồi và nằm). Nhờ vậy, Phật Pháp trong họ sẽ phát triển một cách tốt đẹp.

Phải lưu lại một nơi thích hợp có điều kiện khí hậu ôn hoà

Những hành giả thực hành thiền minh sát không thực hành thiền tại những nơi quá lạnh hay quá nóng. Họ phải chọn một nơi có khí hậu ôn hoà và ổn định. Nếu thực hành thiền tại một nơi có khí hậu thích hợp thì các giác quan của họ sẽ trở nên sắc bén, Phật Pháp trong họ cũng được phát triển. Thiền minh sát phải được thực hành quanh năm suốt tháng mỗi khi có cơ hội. Theo phương pháp này, bằng cách thực hành thiền minh sát quanh năm suốt tháng, các giác quan của hành giả sẽ trở nên sắc bén và Phật Pháp trong họ sẽ phát triển một cách tốt đẹp.

 Phải có một tư thế thực hành thiền thích hợp

Những hành giả thực hành thiền minh sát phải biết chọn cho mình 1 tư thế thích hợp nhất trong 4 bốn tư thế thực hành thiền để tạp luyện. Bốn tư thế thực hành thiền là đi, đứng, ngồinằm. Sau khi đã chọn được một tư thế tốt nhất đối với bản thân mình, hành giả phải xử dụng tư thế này để thực hành thiền lâu dài về sau. Những hành giả tập luyện thiền hành phải thực hành thiền với cả tư thế đứng, ngồi và nằm. Những hành giả thực hành thiền minh sát đã tìm thấy được hiệu quả tốt hơn khi thực hành thiền ở tư thế đứng thì phải chuyên hành thiền ở tư thế này với thời lượng nhiều hơn so với các tư thế khác. Những hành giả thích hợp với thiền tọa thì phải chuyên hành thiền trong tư thế này với một thời lượng nhiều hơn so với các tư thế khác. Những hành giả mới tập sự thực hành thiền không nên thực hành thiền với tư thế nằm, bởi vì nếu thực hành như thế họ sẽ rất dễ bị rơi vào giấc ngủ khi năng lực định tâm đã phát triển. Đó là lý do tại sao, những người mới tập sự không nên thực hành thiền ở tư thế nằm. Chỉ trừ lúc ban đêm, nếu những hành giả tập sự này cảm thấy quá mệt và muốn ngủ. Lúc đó, họ có thể nằm xuống, tuy nhiên vẫn tiếp tục duy trì sự chú ý trên đề mục hành thiền cho đến khi rơi vào giấc ngủ. Những người thực hành thiền minh sát và đã gặt hái được năng lực định tâm. Nếu đã già hay thường xuyên bị đau ốm, họ sẽ không còn thích hợp khi thực hành thiền với tư thế đi, đứng và ngồi. Lúc này, họ có thể nằm để thực hành thiền minh sát. Theo phương pháp này, những người thực hành thiền minh sát phải biết chọn cho mình một tư thế hành thiền thích hợp nhất để tập luyện lâu dài. Nhờ đó, các giác quan của họ sẽ trở nên sắc bén và Phật Pháp trong chính họ cũng được phát triển.

          Điều trước tiên để phát triển Phật Pháp

                      là đạt đượcsự định tâm

           ( Phương pháp thứ năm để làm chủ các  giác quan )

 

 Ngày nay thiền minh sát đang rất hưng thịnh. Khi thiền minh sát đang hưng thịnh, rất nhiều người đã có cơ hội thực hành loại thiền này. Bên cạnh đó, cũng có một số người chưa có cơ hội để học tập những nguyên lý thực hành căn bản của thiền minh sát.Những người thực hành thiền minh sát chưa có những kinh nghiệm về Phật Pháp luôn mong muốn có được những điều ấy một cách nhanh chóng. Những người đã có kinh nghiệm về Phật Pháp lại mong muốn tiến trình thực hành thiền của họ phát triển tốt và gặt hái được Giáo Pháp cao thượng một cách nhanh chóng. Vì vậy, để đáp ứng cho mong ước của những người nói trên, những bậc thầy chú giải Kinh Điển ( Commentary teachers) đã chỉ ra 9 phương pháp để làm chủ các năng lực tri giác và làm cho chúng trở nên sắc bén. Trong 9 phương pháp làm chủ giác quan nói trên, phương pháp thứ 5 có tên là : Samādhissaca Nimittagganena. Trong phương pháp làm chủ các giác quan thứ 5, người thực hành thiền minh sát phải nhớ lại những trạng thái định tâm mà họ đã từng đạt được. Trong khi thực hành thiền, nếu sự định tâm bị buông lung, tản mác thì bạn phải hồi tưởng lại những trạng thái định tâm ( Samādhi – Concentration) mà trước đó mình đã từng đạt được bằng cách thực hành sự chú ý. Từ đó, năng lực định tâm của bạn sẽ được phục hồi, các năng lực tri giác sẽ trở nên sắc bén và Phật Pháp trong tâm thức của bạn cũng được phát triển hơn trước.

Tóm tắt: Để năng lực định tâm được phục hồi, bạn phải hồi tưởng lại những trạng thái định tâm trước đó mà mình đã đạt được. 

 Một khi những hành giả thực hành thiền có được một nơi chốn và tư thế thực hành thiền thích hợp, vật thực và điều kiện khí hậu thích hợp, năng lực tinh tấn thăng bằng…thì họ sẽ gặt hái được sự định tâm. Từ đó, năng lực chú ý của họ sẽ trở nên tốt hơn. Vì vậy, hành giả thực hành thiền minh sát cần nhớ rằng, một nơi chốn và tư thế hành thiền thích hợp, vật thực và điều kiện khí hậu thích hợp, năng lực tinh tấn thăng bằng…là nguyên nhân dẫn đến trạng thái trầm tĩnh của tâm thức. Khi sự tập trung chú ý không được tốt, bạn phải hồi tưởng lại tất cả những trạng thái định tâm trước đó mà mình đã gặt hái được. Sau đó, năng lực định tâm của bạn sẽ trở nên tốt hơn, các năng lực tri giác được sắc bén và Phật Pháp trong chính bạn cũng được phát triển. Khi tâm trí bị buông lung, tản mác, những người thực hành thiền minh sát phải hồi tưởng lại và cố gắng tìm ra những nhân tố nào trước đó đã từng khiến cho tâm trí của họ được bình yên. Thỉnh thoảng, cũng có một nơi chốn không thích hợp nào đó đã làm cho tâm trí của bạn bị mất thăng bằng. Điều này đã khiến cho sự chú ý của bạn không được tốt trong quá trình thực hành thiền.Trong trường hợp này, bạn phải hồi tưởng về một nơi chốn bình yên nào đó trong quá khứ đã từng làm cho tâm trí của mình được yên ổn. Nhờ đó, sự chú ý của bạn sẽ trở nên tốt hơn, các giác quan trở nên sắc bén hơn và Phật Pháp trong chính bạn cũng được phát triển. Khi năng lực chú ý bị buông lung và tản mác, hành giả thực hành thiền minh sát phải hồi tưởng lại những nhân tố có lợi cho trạng thái định tâm mà hành giả đã từng đạt được trước đó. Hành giả cũng cần phân tích để tìm ra nguyên nhân nào đã khiến cho sự chú ý của mình trở nên không được tốt. Thỉnh thoảng, một loại vật thực không thích hợp nào đó cũng có thể khiến cho sự chú ý của bạn trở nên yếu ớt. Ngay lúc này, bạn cần phải hồi tưởng lại một lượng thức ăn thích hợp vừa đủ nuôi sống nào đó trong quá khứ đã từng khiến cho sự chú ý của bạn trở nên mạnh mẽ. Sau đó, năng lực chú ý của bạn sẽ được phục hồi, các giác quan sẽ trở nên sắc bén hơn, Phật Pháp trong chính bạn cũng được phát triển.  Khi sự chú ý bị buông lung, tản mác, hành giả thực hành thiền minh sát phải hồi tưởng lại những nhân tố có lợi cho trạng thái định tâm mà mình đã từng đạt được trước đó. Hành giả phải cố gắng phân tích để tìm ra nguyên nhân nào đã khiến cho sự chú ý của mình trở nên không được tốt. Thỉnh thoảng, những điều kiện khí hậu lạnh quá hoặc nóng quá cũng có thể làm cho năng lực chú ý của người thực hành thiền minh sát không được tốt. Ngay lúc này, bằng một cách nào đó, bạn cần phải tìm cách điều chỉnh hoàn cảnh sống của mình để có được một nơi lưu trú với những điều kiện khí hậu thích hợp. Ví dụ, bạn có thể thay đổi chỗ thực hành thiền, tìm đến những bóng cây mát mẻ, những hồ nước bình yên, những ngọn đồi hoang vu tĩnh mịch…để hồi phục năng lực chú ý. Nếu thực hành như vậy, năng lực chú ý của bạn sẽ mạnh mẽ trở lại, các giác quan sẽ trở nên sắc bén và Phật Pháp trong chính bạn cũng được phát triển. Khi sự chú ý bị buông lung và tản mác, hành giả thực hành thiền minh sát phải hồi tưởng lại những nhân tố có lợi cho trạng thái định tâm mà mình đã gặt hái được trước đó. Hành giả cũng phải cố gắng phân tích để tìm ra nguyên nhân nào đã khiến cho sự chú ý của mình trở nên không được tốt. Thỉnh thoảng, một tư thế thực hành thiền nào đó cũng có thể khiến cho sự chú ý của người thực hành thiền bị buông lung, tản mác. Vì vậy, trong trường hợp này, hành giả phải hồi tưởng lại một tư thế thực hành thiền thích hợp nào đó trong quá khứ đã từng khiến cho sự chú ý của mình trở nên mạnh mẽ. Từ đó, sự chú ý của hành giả sẽ trở nên tốt hơn, các năng lực tri giác được sắc bén và Phật Pháp trong chính tâm thức của hành giả cũng được phát triển. Khi sự chú ý bị buông lung, tản mác, hành giả thực hành thiền minh sát phải hồi tưởng đến một cách thức nào đó trước đây đã khiến cho mình đạt được trạng thái định tâm sâu sắc. Hành giả cũng phải cố gắng phân tích để tìm ra nguyên nhân nào đã khiến cho năng lực chú ý của mình bị buông lung và tản mác. Thỉnh thoảng, trong quá trình thực hành thiền, năng lực tinh tấn của hành giả không được thăng bằng. Nếu năng lực tinh tấn phát triển mạnh quá hoặc yếu quá thì điều này cũng có thể làm cho năng lực chú ý của bạn bị buông lung và tản mác.  Ngay lúc ấy, bạn phải cố gắng điều chỉnh năng lực tinh tấn của mình sao cho được thăng bằng. Sau đó, sự chú ý của bạn sẽ tiếp tục phát triển, các năng lực tri giác trở nên sắc bén, Phật Pháp trong chính bạn cũng được phát triển. Hồi tưởng về cách thức đã khiến cho mình gặt hái được trạng thái định tâm sâu sắc nghĩa là hồi tưởng đến 9 phương pháp để làm chủ giác quan mà các bậc thầy chú giải Kinh Điển đã chỉ ra. Những phương pháp này được nêu ra là nhằm để dành cho những hành giả thực hành thiền minh sát mà hạnh Ba-La-Mật của họ hãy còn non nớt và chưa chín muồi. Mỗi khi tuệ minh sát ( Vipassanā Ñāna) đã trở nên mạnh mẽ và chín muồi, hành giả thực hành thiền minh sát sẽ đạt được trí tuệ hiểu biết về sự cấu thành của vật chất ( Sankhārūpekkha Ñāna). Đến lúc đó, hành giả sẽ có khả năng điều khiển được năng lực chú ý của mình một cách dễ dàng mà không cần phải có một phương pháp đặc biệt nào để làm chủ các giác quan. Đó là lý do tại sao, những hành giả cần phải thực hành thiền minh sát để đạt tới trí tuệ hiểu biết về sự cấu thành của vật chất. Những hành giả nào đã gặt hái được trí tuệ hiểu biết về sự cấu thành của vật chất sẽ đạt tới Đạo Quả ( Magga Phala) và Niết Bàn đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính họ.

 

 Những nhân tố có trước dẫn đến sự kinh nghiệm về Phật Pháp

Tuỳ thuộc vào năng lực thiền định và thiền minh sát mà bạn đã thực hành trong kiếp sống ở quá khứ và hiện tại, năng lực chú ý của bạn có thể trở nên mạnh mẽ hoặc yếu ớt. Năng lực chú ý đó sẽ khiến cho bạn gặt hái được Phật Pháp một cách nhanh chóng hay chậm chạp. Đó là lý do tại sao, những hành giả thực hành thiền minh sát cần phải biết hồi tưởng về một cách thức nào đó trong quá khứ đã giúp mình gặt hái được trạng thái định tâm sâu sắc. Việc suy xét và lưu tâm đến năng lực chú ý đối với một hành giả thực hành thiền minh sát là điều quan trọng, bởi vì điều này sẽ có ảnh hưởng đến tốc độ nhanh hay chậm trong quá trình kinh nghiệm Phật Pháp của chính hành giả đó. Nếu trong kiếp sống ở quá khứ hay hiện tại, một hành giả nào đó đã không thực hành thiền định và cũng không thực hành thiền minh sát thì đến bây giờ, khi bắt tay vào thực hành thiền minh sát, nhất định anh ta sẽ gặp phải nhiều trở ngại, khó khăn.Tiến trình kinh nghiệm được Phật Pháp của hành giả sẽ xảy ra rất chậm chạp. Nếu trong kiếp sống ở quá khứ hay hiện tại, một hành giả nào đó đã có thực hành thiền minh sát nhưng chưa bao giờ thực hành thiền định thì đến bây giờ, khi bắt tay vào thực hành thiền minh sát, anh ta chắc chắn sẽ gặp phải nhiều sự đau đớn. Tuy nhiên, hành giả sẽ kinh nghiệm được Phật Pháp một cách nhanh chóng. Nếu trong kiếp sống ở quá khứ hay hiện tại, một hành giả nào đó đã thực hành thiền định song song với việc thực hành thiền minh sát. Nếu những tiến trình thực hành thiền trong quá khứ đã phát triển rất tốt thì bây giờ, khi bắt tay vào thực hành thiền minh sát, anh ta sẽ có khả năng thực hành thiền rất thoải mái và kinh nghiệm về Phật Pháp một cách nhanh chóng.

 

        Phát triển Phật pháp bằng cách vun trồng

                               Thất giác chi

             ( Phương pháp thứ 6 để làm chủ các giác quan )

 

 Thời đại ngày nay thiền minh sát đang rất hưng thịnh. Khi thiền minh sát đang hưng thịnh, rất nhiều người đã có cơ hội để thực hành loại thiền này. Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều người chưa có được cơ hội để học tập những nguyên lý thực hành căn bản của thiền minh sát. Những người thực hành thiền minh sát nhưng chưa có những kinh nghiệm về Phật Pháp mong muốn có được những điều ấy một cách nhanh chóng. Những người đã có kinh nghiệm về Phật Pháp lại mong muốn tiến trình thực hành thiền của họ được phát triển tốt và gặt hái được Phật Pháp một cách nhanh chóng. Để đáp ứng ước muốn của những người nói trên, các bậc thầy chú giải Kinh Điển đã chỉ ra 9 phương pháp để làm chủ các giác quan và làm cho những giác quan này trở nên sắc bén. Trong 9 phương pháp nói trên, phương pháp thứ 6 để làm chủ các giác quan có tên là : Bojjhangānanca Anupavattanatāya. Những người thực hành thiền minh sát không thể thực hành thiền bằng thân thể hay lời nói của họ mà chỉ có thể làm được điều đó bằng tâm trí. Việc thực hành thiền minh sát rất vi tế, sâu sắc và khó khăn. Thỉnh thoảng sự chú ý của hành giả không được tốt. Do đó, tiến trình thực hành thiền không được phát triển. Thỉnh thoảng, do tiến trình thực hành thiền phát triển rất chậm và điều này đã khiến cho hành giả trở nên chán nản và lười biếng. Có đôi khi, do vừa gặt hái được kinh nghiệm trong Phật Pháp bằng một cách thức đặc biệt nào đó, hành giả đã cảm thấy vui thích. Cảm giác vui thích vừa nói cũng có thể dẫn đến trạng thái tâm trí lang thang lạc lối. Theo phương pháp này, khi sự chú ý của hành giả trở nên không tốt, dẫn đến tình trạng hành giả bị chán nản và lười biếng. Thỉnh thoảng, sự chú ý của hành giả phát triển rất tốt nhưng tâm trí của anh ta lại lang thang vô định do nó đã bị dính mắc vào trạng thái vui thích, phấn chấn… Ngay lúc đó, hành giả cần phải điều chỉnh tâm trí của mình lại bằng Thất Giác Chi ( Bảy yếu tố dẫn đến giác ngộ, còn gọi là Thất Bồ Đề phần - Bojjhanga – The 7 factors of Enlightenment). Khi Thất Giác Chi đã được thăng bằng trong tâm thức, bạn này sẽ gặt hái được năng lực tập trung tâm ý cao, các giác quan của sẽ trở nên sắc bén, Phật Pháp trong cũng sẽ phát triển một cách tốt đẹp. Đây chính là phương pháp thứ 6 để làm chủ các giác quan.

Tóm tắt:   Thất giác chi phải luôn luôn được vun trồng một cách thích hợp                            

 Do ảnh hưởng của những hoàn cảnh thuận lợi, thỉnh thoảng bạn cũng sẽ có được một năng lực chú ý phi thường khi đang thực hành thiền. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của những hoàn cảnh không thuận tiện, thỉnh thoảng năng lực chú ý của bạn đã trở nên sa sút, buông lung và tản mác. Khi gặp phải những hoàn cảnh bất tiện dĩ nhiên năng lực chú ý để nội quán của bạn có thể sẽ không được tốt. Có đôi khi, do đã gặt hái được năng lực chú ý tốt, bạn đã trở nên vui mừng thái quá và điều này đã làm cho tâm trí của bạn bị lang thang vô định. Ngay lúc đó, bạn thường có ý muốn thuyết Pháp cho người khác nghe. Do đó, bạn phải xử dụng năng lực tinh thần để làm việc ấy. Ngoài ra, bạn cũng có mong muốn thuyết phục những người có quan hệ hay bạn bè của mình thực hành Phật Pháp giống như mình vậy. Trạng thái tâm lý này đã hiện khởi là do ảnh hưởng của việc sung sướng và vui mừng thái quá của bạn. Nó chính là nguyên nhân làm cho tâm trí của bạn bị tán loạn và lang thang vô định. Theo phương pháp này, khi đang thực hành thiền mà tâm trí bị lang thang vô định, bạn phải phát triển xả giác chi ( Upekkha Sambojjhanga), định giác chi ( Samādhi Sambojjhanga) và khinh an giác chi ( passaddhi Sambojjhanga) để gặt hái trạng thái bình tĩnh cho tâm trí.

Tóm tắt: Sung sướng hay vui mừng thái quá có thể làm cho tâm trí hoá cuồng và lang thang vô định. Ngay lúc đó, bạn cần phải phát triển xả giác chi, định giác chi và khinh an giác chi.

 Những hành giả thực hành thiền minh sát khi đã gặt hái được những kinh nghiệm tốt đẹp về Phật Pháp thường trở nên hạnh phúc và sung sướng thái quá. Điều này có thể làm cho tâm trí của họ bị lang thang vô định. Tiếp đến, năng lực chú ý của họ sẽ giảm sút và trở nên yếu ớt. Ngay lúc đó, họ cần phải phát triển xả giác chi. Những hành giả thực hành thiền minh sát khi đã gặt hái được những kinh nghiệm tốt đẹp về Phật Pháp thường có khuynh hướng bám víu vào lạc thọ ( Sukkha) và quên đi khổ thọ

( Dukkha). Vì vậy, tâm trí của họ sẽ bị lang thang vô định. Trong trường hợp này, những hành giả đó phải hồi tâm lại và nhớ rằng hạnh phúc hay khổ đau chỉ là những hiện tượng tự nhiên. Chúng đều có cùng bản chất như nhau. Vì vậy, họ không nên bám víu vào chúng. Nói cách khác, những hành giả này phải điều phục tâm trí của họ để không còn cảm thấy hạnh phúc và cũng không cảm thấy đau khổ. Họ cần phải hành thiền trong sự chú ý một cách trung dung, tức không nghiên về cảm giác hạnh phúc và cũng không nghiêng về cảm giác khổ đau đang hiện khởi trong tâm thức của mình. Theo phương pháp này, khi bạn có thể giữ cho sự chú ý của mình được trung dung thì xả giác chi ( Upekkha Sambojjhanga) sẽ phát triển, năng lực chú ý sẽ mạnh mẽ trở lại , các giác quan được sắc bén và Phật Pháp trong bạn cũng được phát triển. Tuy nhiên, khi xả giác chi đã phát triển thái quá, nó có thể làm cho bạn trở nên hôn trầm dã dượi. Nếu bị rơi vào trạng thái tâm thức hôn trầm, bạn phải trở lại chú ý đến đề mục chính, tức chuyển động đang phồng xẹp lên xuống của bụng hoặc hơi thở vào ra… Những người thực hành thiền minh sát khi đã gặt hái được những kinh nghiệm tốt đẹp về Phật Pháp thường có khuynh hướng bám víu vào những đối tượng nào đó mà trong quá khứ, họ đã từng thực hành sự chú ý một cách thành công trên những đối tượng này, cũng như đã gặt hái được cảm giác thoải mái và hoan hỷ. Vì vậy, họ thường có thói quen muốn quay trở lại với những đối tượng đó để thực hành thiền. Nếu những hành giả này đã từng trải nghiệm được một vài trạng thái tâm thoải mái và hoan hỷ trong quá trình thực hành thiền ở quá khứ, họ cũng thường có thói quen muốn tìm lại những trạng thái tâm này để thực hành thiền.Vì vậy, tâm trí của họ có thể sẽ bị lang thang vô định. Tiếp đến, họ cũng có thể khởi tâm bám víu vào nhiều đối tượng đa dạng khác được cho là tốt đẹp, bởi vì nghĩ rằng những đối tượng này có thể làm thỏa mãn các giác quan của họ trong tương lai. Vào lúc đó, họ có thể mong muốn và chờ đợi những đối tượng tốt đẹp ở tương lai đó xảy đến trong tâm thức của mình. Vì vậy, năng lực chú ý của họ đã trở nên yếu ớt. Khi tâm trí của bạn đã lang thang về phía quá khứ hoặc đi về phía tương lai, ngay lúc đó, bạn cần phải chú ý đến tiến trình đang lang thang của nó, những kế hoạch và những ý nghĩ đang hiện khởi trong tâm mình. Tiếp đến, bạn phải chú ý đến những đề mục chính như : Tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng, tiến trình đang ngồi, đang  xúc chạm, hơi thở vào ra…và chú ý thật chính xác trong từng khoảnh khắc đến bất cứ hiện tượng nào đang xảy đến trong tâm thức của mình.  Khi bạn đã có khả năng hội tụ sự chú ý trực tiếp lên một đối tượng nào đó trong từng khoảnh khắc ở hiện tại thì định giác chi ( Samādhi Sambojjhanga) đã phát triển. Năng lực chú ý của bạn lúc này đã trở nên vững chãi, các giác quan đã sắc bén và Phật Pháp trong chính bạn cũng đang phát triển rất tốt. Nếu những người thực hành thiền minh sát đã gặt hái được kinh nghiệm về Phật Pháp một cách nhanh chóng và tốt đẹp quá mức thì tâm trí của họ có thể bị hoá cuồng và lang thang vô định. Sự chú ý của họ sẽ trở nên yếu ớt. Vì vậy, khi bị rơi vào trạng thái tâm thức này, họ cần phải phát triển định giác chi để phục hồi năng lực chú ý. Những hành giả thực hành thiền minh sát có khả năng phát triển Phật Pháp trong họ một cách nhanh chóng và tốt đẹp quá mức có thể có một vài mối băn khoăn lo lắng, bởi vì điều này sẽ đưa đến 2 khuynh hướng trái ngược : Một là sự chú ý của họ sẽ trở nên cực tốt, hai là nó sẽ trở nên rất yếu ớt. Do ảnh hưởng của mối băn khoăn lo lắng nói trên, năng lực chú ý của hành giả đã trở nên yếu ớt. Tâm trí của họ sẽ bị lang thang vô định. Lúc đó, hành giả chỉ còn cách lờ đi, không để ý đến trạng thái băn khoăn lo lắng đang xảy đến trong tâm thức của chính mình. Họ cũng cần phải bình tĩnh để có thể chú ý một cách tự nhiên vào những hiện tượng đang hiện khởi trong tâm thức, mặc dù các hiện tượng này là xấu hay tốt đều cần phải quan tâm phân tích, bởi vì nói cho cùng, những hiện tượng nói trên cũng đều là các hiện tượng tự nhiên và có cùng một bản chất như nhau, chẳng có chuyện gì để phải băn khoăn lo lắng cả. Bạn không nên mong chờ các hiện tượng tốt đẹp xảy đến trong tâm thức của mình và cũng không tìm cách xua đuổi những hiện tượng xấu xa. Vào lúc này, nếu bạn có khả năng gìn giữ cho tâm trí được bình tĩnh và nhẹ nhàng thì khinh an giác chi ( Passaddhi Sambojjhanga) sẽ hiện khởi, năng lực chú ý của bạn sẽ trở nên mạnh mạnh mẽ trở lại, các giác quan sẽ trở nên sắc bén hơn, Phật Pháp trong bạn cũng đã phát triển một cách tốt đẹp.

Thỉnh thoảng trong quá trình hành thiền minh sát, do ảnh hưởng của một vài hoàn cảnh bất tiện, năng lực kinh nghiệm về Phật Pháp trong bạn sẽ trở nên yếu ớt. Thật ra, năng lực kinh nghiệm về Phật Pháp và năng lực kinh nghiệm về các pháp thế gian cũng không có gì khác nhau . Bởi vậy, người ta thường nói rằng Phật Pháp bất ly thế gian pháp, nghĩa là Phật Phápthế gian pháp chỉ là một. Mặc dù một hành giả thực hành thiền minh sát đã có thể gặt hái được năng lực nội quán. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là anh ta đã có một năng lực chú ý hoàn hảo để quan sát được tất cả mọi sự vật và hiện tượng. Vì vậy, thỉnh thoảng sự chú ý của hành giả cũng sẽ trở nên yếu ớt khi bắt gặp một đối tượng bất kỳ nào đó.

 Khi thấy năng lực chú ý của mình tự nhiên trở nên yếu ớt, bạn có thể sanh lòng chán nản và lười biếng. Thật ra đây là một điều rất tự nhiên, trong trường hợp này, bạn cần phải tỉnh táo và cứ tiếp tục tập luyện như không có chuyện gì xảy ra. Trong trường hợp này, tuyệt đối bạn không nên có những ý nghĩ đại loại như  : “ Tôi đã thực hành thiền trong một thời gian để tìm sự yên tĩnh, dù đã thực hành thiền trong nhiều ngày nhưng tôi  vẫn chưa kinh nghiệm được điều gì về Phật Pháp, tiến trình thực hành thiền của tôi không được phát triển, chẳng có điều gì xảy đến trong tâm thức của tôi cả, có lẽ tôi không thể gặt hái được Phật Pháp ngay trong cuộc sống này, tôi không xứng đáng với Phật Pháp”…Nếu có suy nghĩ đại loại như thế thì có thể bạn sẽ trở nên chán nản và lười biếng. Thay vào đó, bạn cần phải phát triển tinh tấn giác chi ( Viriya Sambojjhanga), hoan hỷ giác chi ( Piti Sambojjhanga) và trạch pháp giác chi ( Dhamma Vicaya Sambojjhanga).

Tóm tắtTrong lúc thực hành thiền, nếu tinh thần có chiều hướng đi xuống thì bạn cần phải vun trồng tinh tấn giác chi, hoan hỷ giác chi và trạch pháp giác chi.

 Phương pháp hồi tưởng và phát triển tinh tấn giác chi

“Hỡi những hành giả thiện lành ! Quí vị có thể gặt hái được Phật Pháp ngay trong kiếp sống này nếu biết cách đem Phật Pháp ra thực hành trong đời sống thực tế. Nếu lười biếng và không thực hành Phật Pháp, quí vị có thể bị tái sanh vào địa ngục. Chỉ khi đã bị tái sanh vào địa ngục, đến lúc đó, quí vị mới trở nên ăn năn và hối tiếc rằng, khi còn làm người mình đã không chịu thực hành Phật Pháp”. Vì vậy, khi hồi tưởng về những cảnh sống khổ đau ở địa ngục mà quí vị có thể bị đọa vào đó thì tinh tấn giác chi sẽ phát triển, các giác quan trở nên sắc bén, Phật Pháp trong chính quí vị cũng đã phát triển một cách tốt đẹp.

 Phương pháp hồi tưởng và phát triển hoan hỷ giác chi

“Hỡi những hành giả thiện lành ! Nếu quí vị thực hành Phật Pháp cho đến khi đạt tới Đạo Quả thì cánh cửa của địa ngục sẽ bị khép đối với quí vị. Quí vị đang sống trong thời Giáo Pháp của Đức Phật vẫn đang còn tồn tại, cụ thể là quí vị đang sống tại Miến Điện, nơi mà Phật Pháp đang rất hưng thịnh. Quí vị cần phải có một niềm tin đúng đắn trong tâm thức của chính mình. Quí vị cũng cần phải có 6 giác quan sắc bén để nhận thức, 6 giác quan đó là: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm ý. Quí vị hãy hồi tưởng rằng : “  Nếu mình đã có được 4 cơ hội tốt đẹp trong kiếp sống làm người ở hiện tại thì chắc chắn mình sẽ gặt hái được Giáo Pháp Tối Thượng ( tức quả vị Phật và Niết Bàn), cánh cửa địa ngục sẽ khép lại đối với chính mình”.

Nếu hồi tưởng như vậy, quí vị sẽ được sung sướng và thoả mãn. Từ đó, hoan hỷ giác chi sẽ phát triển, các giác quan sẽ trở nên sắc bén, Phật Pháp trong quí vị cũng đã phát triển một cách tốt đẹp.

Phương pháp hồi tưởng và phát triển trạch Pháp giác chi

“Hỡi những hành giả thiện lành ! Nếu quí vị thực hành Phật Pháp bằng tâm thức của chính mình. Quí vị có thể chiến thắng được sự nguy hiểm của tuổi già, bệnh tật và cái chết.Ngoài ra, quí vị không thể thoát khỏi những điều đó bằng bất cứ một phương tiện nào. Những người có năng lực thần thông cũng không thể che chở và bảo vệ cho quí vị. Những nhà khoa học cũng không thể đẩy lùi được sự nguy hiểm của tuổi già, bệnh tật và cái chết. Thậm chí, Đức Phật cũng không thể bảo vệ cho quí vị. Một điều chắc chắn rằng, trước sau gì quí vị cũng phải đối diện với trạng thái nguy hiểm của tuổi già, bệnh tật và cái chết.Trước khi tuổi già, bệnh tật và cái chết xảy đến, nếu quí vị thực hành thiền minh sát và thành công, thì cánh cửa của địa ngục sẽ đóng lại đối với quí vị. Tiếp đến, quí vị sẽ đạt tới Niết Bàn, nơi không có tuổi già, bệnh tật và cái chết”. Nếu hồi tưởng như thế thì trạch Pháp giác chi trong quí vị sẽ phát triển, các giác quan sẽ trở nên sắc bén, Phật Pháp trong quí vị cũng đã phát triển một cách tốt đẹp. 

 

      Phật Pháp chỉ phát triển khi biết buông bỏ tham đắm

                                      vào thân xác và cuộc sống

                ( Phương pháp thứ 7 để làm chủ các giác quan)

   

Thời đại ngày nay, thiền minh sát đang rất hưng thịnh. Bởi vì thiền minh sát đang hưng thịnh nên rất nhiều người đã có cơ hội để thực hành loại thiền này. Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều người chưa có được cơ hội để học tập những nguyên lý thực hành căn bản của thiền minh sát. Những người thực hành thiền minh sát chưa có được những kinh nghiệm về Phật Pháp mong muốn đạt được những điều đó một cách nhanh chóng. Những người đã có kinh nghiệm về Phật Pháp lại mong muốn tiến trình thực hành thiền của họ được phát triển tốt và gặt hái được Phật Pháp một cách nhanh chóng. Để đáp ứng mong ước của những người nói trên, các bậc thầy chú giải Kinh Điển ( Atthakathā teacher) đã chỉ ra 9 phương pháp để làm chủ các giác quan và làm cho các giác quan này trở nên sắc bén. Trong 9 phương pháp trên, phương pháp thứ 7 có tên là : “ Kayesa – Jivite’ca Anapekkhatami Upathape’ ti”. Bởi vì bạn đã vướng bận, bám víu vào xác thân và cuộc sống của chính mình trong nhiều kiếp sống ở luân hồi. Trong những chu kỳ sinh diệt của cuộc sống, bạn đã phải chịu nhiều khổ đau vì tuổi già, bệnh tật và cái chết. Nếu muốn sở hữu được kiến thức và trí tuệ ngay trong kiếp sống này, bạn phải quyết định thực hành sự buông bỏ thân xác và cuộc sống của chính mình. Nếu hồi tưởng và thực hành theo cách này, tiến trình thực hành thiền của bạn sẽ phát triển tốt, các giác quan sẽ trở nên sắc bén và Phật Pháp trong bạn cũng được phát triển. 

Tóm tắt: Không vướng bận hay bám víu vào thân xác và cuộc sống của chính mình, hãy chịu đựng tất cả những nổi đau khổ mà chúng mang lại.

 Trong nhiều kiếp sống ở quá khứ, bạn đã từng có thân xác và cuộc sống tương tự như kiếp sống này. Điều đó đã từng xảy ra nhiều lần và không thể đếm xuể. Bởi vì đã không thực hành và gặt hái được Phật Pháp nên bạn phải trải qua nhiều trạng thái khổ đau như : Tuổi già, bệnh tật, cái chết, buồn lo, than khóc…Bây giờ đây, bạn đang còn sống trong Giáo Pháp của Đức Phật, đang có khả năng gặt hái được kiến thức và trí tuệ. Sức khoẻ của bạn hiện vẫn đang còn tốt và thiền minh sát vẫn đang còn rất hưng thịnh. Chỉ có thiền minh sát là có thể đóng lại cánh cửa của địa ngục và giúp cho bạn đạt tới Niết Bàn. Vì vậy, bạn hãy hồi tưởng rằng thiền minh sát phải được bạn đem ra thực hành trong đời sống thực tế nhằm mục đích buông bỏ tâm bám víu vào thân xác và cuộc sống. Đây là phương pháp thứ 7 để làm chủ các giác quan. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho Phật Pháp trong chính bạn được phát triển. Một vài người đã có được cuộc sống đầy đủ tiện nghi. Những người này thường có thói quen chăm sóc rất cẩn thận, thậm chí là tỉ mỉ, công phu cho thân xác và cuộc sống của họ. Dạng người này khi thực hành thiền trong vòng 1 giờ đồng hồ với thân thể bất động sẽ khởi lên tâm lo lắng rằng, họ có thể bị đau nhức, bị táo bón và có thể bị đoản thọ. Vì vậy, họ luôn luôn thay đổi tư thế trong mỗi lần thực hành thiền. Các giác quan của dạng người này không thể trở nên sắc bén và Phật Pháp trong họ cũng không thể phát triển được. Một vài người khác cũng thường có nhiều mối liên hệ mật thiết với thân xác và cuộc sống của họ một cách thái quá. Họ cũng bám víu vào cuộc sống với đầy đủ tiện nghi và cho rằng mình phải cần ngủ đêm với một thời lượng nhất định nào đó để bảo vệ cho sức khoẻ. Dạng người này khi thực hành thiền sẽ khởi tâm lo lắng rằng, họ có thể bị đoản thọ nếu chỉ ngủ từ 4 đến 5 tiếng đồng hồ trong một đêm. Họ cũng thường lo lắng về sức khoẻ của bản thân mình. Đối với dạng người có nhiều vướng bận với thân xác và cuộc sống của chính mình thì những giác quan của họ không thể trở nên sắc bén được, Phật Pháp trong chính họ cũng không thể phát triển. Một vài bậc Trưởng Thượng thực hành phép tu khổ hạnh ( Dhutinga – Austerity practice) có khả năng vừa ngủ vừa thực hành thiền rất nghiêm túc đã nói rằng : “ Nếu hành giả nào có năng lực chú ý tốt trong lúc thực hành thiền thì sức khoẻ của những người này vẫn bình thường và không hề bị giảm sút, mặc dù họ không hề một giờ nào trong nhiều đêm thực hành thiền”. Những bậc Trưởng Thượng này cũng nói rằng : “ 1 giờ đồng hồ dành cho sự chú ý tốt bằng 3 giờ nằm ngủ”. Vì vậy, nếu vướng bận, bám víu vào thân xác và cuộc sống của chính mình thì điều này sẽ khiến cho các giác quan của bạn không thể trở nên sắc bén được. Thậm chí, nếu vướng bận, bám víu vào thân xác và cuộc sống của người khác thì các giác quan của quí vị cũng vậy, chúng không thể trở nên sắc bén. Phật Pháp trong bạn cũng không thể phát triển được.

Ngày xưa, các vị Tỳ Kheo thường cư trú trong những thị trấn và các ngôi làng. Khi mùa mưa đến, họ thường tận dụng khoảng thời gian này để đi đến các tu viện trong rừng ở miền quê và ở lại những nơi đó để thực hành Phật Pháp. Một thời, có một vị Trưởng Lão ( Thera – Elder) đã đắc được quả thiền diệt thọ tưởng định ( Phala Samāpatti hay Nirodhāsamāpatti – Absorption in Fruition, người đã đắc được quả thiền này thì những đối tượng vật chất hay tinh thần không còn thu hút được các giác quan của họ nữa – ND). Vị Trưởng Lão nọ có một đệ tử là Tỳ Kheo tân học ( tức Giới tử - Sāmanera – Novice) cũng đã đắc được quả thiền diệt thọ tưởng định. Mùa mưa năm nọ, hai thầy trò họ cùng nhau đi đến một tu viện trong rừng ( Viharavāna - Forest Monastery) và ở lại đó suốt mùa an cư.

Ngày xưa, những tu viện trong rừng thường dành cho các vị Tỳ Kheo đã cao tuổi đến cư trú và thực hành Phật Pháp ở đó trong suốt mùa mưa. Khi mùa mưa gần đến, vị Trưởng Lão đã kiếm được chỗ cư trú tại một tu viện trong rừng. Ngược lại, vị Tỳ Kheo tân học nọ vì trẻ tuổi quá nên không thể kiếm được một chỗ trú tại tu viện trong rừng. Do đó, anh ta đã phải tạm trú tại bất cứ chỗ nào có thể trú được. Vị Trưởng Lão đã sanh tâm lo lắng bởi vì người học trò của Ngài đã không thể tìm được một chỗ cư trú tại tu viện trong rừng. Vì vậy, trong suốt 3 tháng mùa mưa, Ngài đã không thể nào vào được tầng thiền diệt thọ tưởng định. Ngược lại, vị Tỳ Kheo trẻ tuổi nọ lại không lo lắng gì cả, đối với chính vị ấy và cả thầy của vị ấy.Vì vậy, vị Tỳ Kheo tân học đã thực hành Phật Pháp một cách trôi chảy và thành công trong suốt mùa mưa. Cuối cùng, vị này đã vào được tầng thiền diệt thọ tưởng định. Vào ngày đầu tiên của tháng Assayuja ( tên của một tháng trong lịch Ấn độ cổ đại, khoảng tháng 10 hay tháng 11 dương lịch. Tiếng Miến Điện gọi tháng này là Thadingyut), khi mùa mưa đã chấm dứt, vị Trưởng Lão và học trò của Ngài đã gặp lại nhau. Sau đó, vị Tỳ Kheo tân học đã hỏi thầy mình rằng : “ Bạch Ngài Đại Đức ! Trong thời gian Ngài lưu lại tu viện trong rừng thì mọi việc có diễn tiến tốt đẹp không ?”. Vị Trưởng Lão đã trả lời rằng Ngài đã lo lắng về chuyện vị Tỳ Kheo tân học nọ đã không thể tìm được chỗ trú trong suốt mùa mưa, Do đó, Ngài đã không vào được tầng thiền diệt thọ tưởng định. Vì vậy, bây giờ Ngài cảm thấy không được hạnh phúc và bình yên. Một hành giả thực hành thiền minh sát có năng lực định tâm yếu ớt, một ít băn khoăn lo lắng thì đó có thể là trở ngại cho việc phát triển Phật Pháp trong chính anh ta. Đó là lý do tại sao, bạn cần phải thực hành thiền minh sát với một tâm trí không lo lắng, không vướng bận với thân xác và cuộc sống của chính mình. Trong khi thực hành thiền, bạn cũng không nên vướng bận đến thân xác và cuộc sống của người khác. Bạn không thể thực hành thiền bằng thân thể hay lời nói mà phải thực hành thiền bằng tâm trí của chính mình.Vì vậy, trong lúc thực hành thiền, nếu tâm trí của bạn lo lắng bồn chồn thì các giác quan của bạn sẽ không thể trở nên sắc bén, Phật Pháp trong bạn cũng không thể phát triển được. Đó là lý do tại sao khi năng lực định tâm chưa được chín muồi và trước khi đạt tới trí tuệ hiểu biết về trạng thái tan hoại của các hiện tượng ( Bhanga Ñāna), bạn phải hết sức cẩn thận trong lúc đang thực hành thiền, nhất là đừng để cho tâm trí của mình bị lo lắng bồn chồn. Những hành giả có năng lực định tâm đã chín muồi và đã gặt hái được trí tuệ hiểu biết về trạng thái tan hoại của các hiện tượng chỉ còn nhìn thấy toàn là sự tan hoại của các hiện tượng vật chất và tinh thần. Vì vậy, họ sẽ nhận thức được rằng, trên đời này, không có bất cứ cái gì có thể tồn tại vĩnh viễn. Bất cứ cái gì cũng đang không ngớt tan rã trong từng khoảnh khắc.Vạn hữu đều là đối tượng của trạng thái tan hoại, không có cái gì là chắc thật và đáng tin cậy. Trong mọi sự chú ý, những hành giả này nhận thức được rằng, tất cả các hiện tượng đều phải tan biến đi, thân xác và cuộc sống của chính họ cũng không đáng giá là bao Chúng không xứng đáng để được chăm sóc một cách cẩn thận và tỉ mỉ thái quá.Từ đó, họ sẽ không còn bị vướng bận vào thân xác và cuộc sống của chính mình nữa. Có một số hành giả thực hành thiền minh sát khi mới chuẩn bị ngồi xuống để thực hành thiền đã cảm thấy đau nhức đầu gối, đau cổ…Những hành giả này sẽ không thể chịu đựng nổi cái đau, trước khi họ gặt hái được năng lực định tâm mạnh mẽ. Vì vậy, họ đã liên tục chuyển đổi tư thế khi đang thực hành thiền. Những hành giả đã có năng lực định tâm mạnh mẽ và gặt hái được trí tuệ hiểu biết về trạng thái tan hoại của các hiện tượng, lúc đang thực hành thiền, nếu sự chú ý được duy trì tốt thì họ có thể cảm thấy đầu gối của mình đang vỡ ra và cổ của họ cũng đang ở trong trạng thái như vậy khi chúng bị đau. Thậm chí, khi bị mắc phải những chứng bệnh nan y, tuy nhiên họ vẫn luôn lạc quan rằng mình sẽ chết một cách êm ái và thanh thản. Khi cảm giác đau nhức xảy đến với những hành giả này trong lúc họ đang thực hành thiền, họ sẽ nhất quyết không thay đổi tư thế. Thậm chí, nếu đầu gối của họ vỡ ra hoặc tan biến đi thì họ vẫn kiên quyết giữ vững lập trường của mình. Không cần để tâm đến thân xác và cuộc sống của chính mình một cách thái quá, những hành giả này tiếp tục thực hành sự chú ý. Cuối cùng, những chứng bệnh đau ốm vặt mà họ đã mắc phải khi chưa thực hành thiền minh sát đã được chữa khỏi.

 

         Vượt qua khổ đau và gặt hái được Phật Pháp

              ( Phương pháp thứ 8 để làm chủ các giác quan )

 

Trong thời đại ngày nay, khi thiền minh sát đang rất hưng thịnh, rất nhiều người đã có cơ hội để thực hành thiền minh sát. Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều người chưa có được cơ hội để học tập những nguyên lý thực hành căn bản của loại thiền này. Những hành giả thực hành thiền minh sát chưa có được những kinh nghiệm về Phật Pháp mong muốn có được những điều ấy. Những người đã có kinh nghiệm về Phật Pháp lại mong muốn tiến trình thực hành thiền của họ phát triển tốt và gặt hái được Phật Pháp một cách nhanh chóng. Vì vậy, để đáp ứng mong ước của những người nói trên, các bậc thầy chú giải Kinh Điển đã chỉ ra 9 phương pháp làm chủ các giác quan và làm cho các giác quan này trở nên sắc bén. Trong 9 phương pháp làm chủ các giác quan, phương pháp thứ 8 có tên là :

Tatthāca Abhibhūyya nekkhadhammana”. Khi thực hành thiền minh sát, có 2 loại khổ thọ ( Dukkha Vedanā – painful sensations), đó là : Các loại khổ thọ đã có trước khi thực hành thiền và các loại khổ thọ xảy đến trong lúc đang thực hành thiền. Trong 2 loại khổ thọ này, khổ thọ xảy đến trong lúc đang thực hành thiền là loại khổ thọ mà bạn cần phải vượt qua, bởi vì nó chính là nguyên nhân dẫn đến tâm trạng chán nản và lười biếng.

Tóm tắt: Loại khổ thọ xảy đến trong lúc đang thực hành thiền là loại khổ thọ mà bạn cần phải vượt qua.

Kiến thức có thể phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất( Nāmarūpapariccheda Ñāna) chính là năng lực nhận thức đã được phát triển. Loại kiến thức này có thể nhận biết được bản chất của tinh thần và vật chất một cách liên tục trong tâm trí của những người thực hành thiền minh sát. Trong trạng thái nội quán này, khổ thọ không xuất hiện một cách rõ rệt. Khi đang chú ý một cách liên tục, người thực hành thiền minh sát sẽ nhận thức được luật nhân quả ( Paccayapariggaha Ñāna – Law of cause and effect). Đến lúc này, khổ thọ cũng vẫn chưa xuất hiện một cách rệt trong tâm thức của họ. Tuy nhiên, sự chú ý của hành giả đã phát triển đến một mức độ đáng kể. Sau đó, khi đang tiếp tục thực hành sự chú ý, hành giả sẽ phát triển được kiến thức lãnh hội ( Sammasana Ñāna – Comprehendible intelligence). Lúc đó, anh ta sẽ có cơ hội chiêm nghiệm về sự thật của vô thường ( Anicca), khổ ( Dukkha) và vô ngã ( Anatta). Trong trạng thái kiến thức lãnh hội này, cảm giác đau, ngứa ngáy, uể oải, nhức nhối, hoa mắt chóng mặt…đã được kinh nghiệm. Những cảm giác khổ đau này cũng đã xuất hiện một cách rất rõ rệt. Năng lực cần đạt được để có thể vượt qua những cảm giác khổ đau này chính là năng lực chú ý trong lúc đang thực hành thiền. Đây chính là phương pháp thứ 8 để làm chủ các giác quan. Thông thường, trong quá trình thực hành thiền minh sát, người ta thấy rằng có 3 cách chú ý để vượt qua khổ thọ :

1.Chú ý với mục đích làm cho khổ thọ biến mất đi

2.Hành thiền với một tâm trạng tấn công để tiêu diệt khổ thọ

3.Chú ý để nhận thức được bản chất đích thực của khổ thọ

 Chú ý với mục đích làm cho khổ thọ biến mất đi

Sự chú ý của bạn trong lúc đang thực hành thiền với mục đích làm cho khổ thọ biến mất đi phát xuất từ tâm khao khát muốn loại trừ được khổ thọ của chính mình. Trong khi đó, tâm khao khát của bạn đã chính là tham lam ( Lobha – Greed) rồi. Vì vậy, nếu thực hành thiền theo cách này thì bạn không thể nào vượt qua được khổ thọ. Đó là lý do tại sao, bạn không nên chấp nhận và không nên thực hành thiền theo cách này.

 Hành thiền với một tâm trạng tấn công để tiêu diệt khổ thọ

Khi bạn thực hành hành thiền với một tâm trạng tấn công để tiêu diệt khổ thọ thì tâm trạng tấn công đó thực chất đã là sân hận ( Dosa – Anger) và tâm trạng này đã khởi lên một cách song hành với sự chú ý. Nếu như vậy thì trong suốt tiến trình thực hành thiền, mọi sự chú ý của bạn đều chứa đầy sân hận. Vì vậy, bạn sẽ không thể nào vượt qua được khổ thọ. Đó là lý do tại sao, bạn không nên chấp nhận và không nên thực hành thiền theo cách này.

 Chú ý để nhận thức được bản chất đích thực của khổ thọ

Phương pháp chú ý để nhận thức được bản chất đích thực của khổ thọ là phương pháp thực hành thiền duy nhất trong 3 phương pháp đã nêu trên mà bạn nên chấp nhận và thực hành theo. Điều đầu tiên và quan trọng nhất mà những người thực hành thiền phải có là một tâm thức kiên nhẫn đối với tất cả những loại khổ thọ như : Cảm giác đau nhức, ngứa ngáy, chóng mặt…“ Kiên nhẫn sẽ dẫn đến Niết Bàn”. Đây là câu nói tốt nhất và thực dụng nhất cho những hành giả thực hành thiền minh sát. Câu nói này cũng là nguyên nhân dẫn đến sự gặt hái được năng lực nội quán. Trong quá khứ, đã có rất nhiều ví dụ để chứng minh cho câu nói “ kiên nhẫn sẽ dẫn đến Niết Bàn”. Một thời, có một vị Tỳ Kheo rất mong muốn đạt được Niết Bàn. Vì vậy, ông đã thực hành thiền suốt ngày suốt đêm không ngừng nghỉ. Một đêm nọ, vị Tỳ-kheo này không ngủ và thực hành thiền suốt đêm cho đến sáng. Do đã thực hành thiền suốt đêm, ông đã bị cảm lạnh. Sáng ngày hôm sau, vị Tỳ Kheo nọ đã bị đau bao tử và cảm thấy rất đau đớn vì chứng bệnh này. Bởi vì quá đau cho nên vị Tỳ Kheo không thể ngồi xuống hoặc đứng lên. Do đó, vị ấy đã nằm dài ra và lăn lộn trong cơn đau. Đến khi Trưởng Lão Pindapatika biết được chuyện này, Ngài đã đến thăm vị Tỳ kheo nọ. Trưởng Lão Pindapatika đã nhắc nhở vị Tỳ kheo bị đau bao tử như sau : “ Bản chất của những Tỳ Kheo là tính kiên nhẫn”. Sau đó, vị Tỳ Kheo đang bị đau đã đáp lại : “ Lành thay ! Tôi sẽ chịu đựng cơn đau này ! ” Nhờ đó, ông đã bình tĩnh trở lại. Do những lời nhắc nhở của Trưởng Lão Pindapatika, vị Tỳ Kheo bị đau bao tử đã tập trung sự chú ý vào khổ thọ đang hiện khởi từ bao tử lên đến ngực của ông một cách liên tục và chính xác. Nhờ đó, vị Tỳ kheo nọ đã nhận thức được Niết Bàn và trở thành một A-Na-Hàm ( Anāgāmi – Non returner). Vị ấy đã gặt hái được hạnh phúc của Niết Bàn. Giống như các vị Trưởng Lão và Tỳ Kheo cao thượng ngày xưa, bạn phải luôn luôn mang trong tâm mình tính kiên nhẫn khi phải đối mặt với những khổ thọ, cho dù những khổ thọ này có thể làm cho bạn chết đi thì bạn hãy cứ thản nhiên như không có việc gì. Chỉ khi bạn đã có khả năng thực hành thiền theo cách thức như vậy thì năng lực tinh thần của bạn sẽ trở nên rất mạnh mẽ. Đến lúc đó, bạn mới có thể gặt hái được năng lực nội quán cao thượng. Mỗi khi khổ thọ đang khởi lên, các hành giả thực hành thiền minh sát thường có khuynh hướng làm cho thân thể của họ bị căng thẳng. Từ đó, tâm trí của họ cũng căng thẳng theo. Bạn nên cẩn thận, đừng để cho tâm trí của mình trở nên căng thẳng. Nếu bạn làm như vậy, tinh tấn giác chi sẽ phát triển thái quá, dẫn đến tâm trí của bạn sẽ không thể hội tụ trực tiếp được trên khổ thọ. Cuối cùng là trạng thái trạng đau đớn của bạn sẽ càng trở nên tồi tệ hơn. Khi khổ thọ đang khởi lên, bạn cần phải thư giãn thân thể và tâm trí một chút, một chút thôi chứ không phải là thư giãn hay buông xả hoàn toàn. Nhờ đó, bạn cứ kiên nhẫn quan sát khổ thọ xem thử nó đang ở đâu. Nó đang ở trên da hay trong huyết quản. Nó đang ở trong xương hay trong tuỷ…Cứ như  thế, bạn hãy chú ý một cách liên tục và chính xác lên khổ thọ, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang đau, đang đau…”, hay “ đang ngứa, đang ngứa …”khi liên tục chú ý khoảng từ 4 đến 5 lần, bạn sẽ kinh nghiệm được khổ thọ đang gia tăng cường độ. Khi khổ thọ đã gia tăng cường độ đến đỉnh điểm thì tự nhiên cường độ của nó sẽ giảm dần. Mặc dù khi khổ thọ đã giảm cường độ, sự câu thúc của nó đối với tâm cũng đã giảm dần. Tuy nhiên, bạn vẫn cứ duy trì sự chú ý lên nó cho đến khi nó đã biến mất hẳn. Bạn cần phải thực hành như vậy để nhận thức được bản chất đích thực của khổ thọ, kể từ khi nó bắt đầu khởi lên cho đến khi đã biến mất hẳn. Khi liên tục chú ý và năng lực tập trung tâm ý của bạn đã phát triển tới một mức độ cao, thì trong mỗi sự chú ý, bạn sẽ kinh nghiệm được khổ thọ ( như cảm giác đau nhức, ngứa ngáy và uể oải…). Nếu tiếp tục thực hành sự chú ý một cách tích cực và mạnh mẽ, bạn sẽ lãnh hội được rằng, do ảnh hưởng của năng lực chú ý, cường độ của khổ thọ đã từng bước giảm dần. Khi kinh nghiệm được khổ thọ đã gia tăng và giảm dần cường độ như thế nào trong mỗi khoảnh khắc của sự chú ý, bạn sẽ lãnh hội được bản chất đích thực của khổ thọ ở một mức độ cao. Khi tiếp tục thực hành sự chú ý thì năng lực tập trung tâm ý của bạn sẽ gia tăng hơn nữa. Ở một trình độ tập trung tâm ý cao như vậy, khi khổ thọ vừa khởi lên, bạn chỉ cần hướng sự chú ý vào nó thì tự nhiên nó sẽ biến mất ngay. Lúc đó, bạn sẽ kinh nghiệm và lãnh hội được trạng thái đang khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng. Kể từ khi kinh nghiệm được trạng thái đang khởi lên và tan biến đi của cảm thọ nói chung bằng năng lực chú ý, bạn đã bắt đầu vượt qua được khổ thọ. Mỗi khi đã lãnh hội được trạng thái khởi lên và tan biến đi của cảm thọ nói chung, bạn sẽ đạt tới trí tuệ hiểu biết về trạng thái sanh diệt của các hiện tượng ( Udayabbaya Ñāna – The knowledge about the birth and extermination of the phenonmena). Từ đó, các chứng bệnh ốm vặt mà bạn đã mắc phải trước đây như : Nhức đầu, đau nữa đầu và bao tử…đã được chữa khỏi. Vì vậy, khi tiếp tục thực hành sự chú ý và năng lực định tâm của bạn đã phát triển ở một mức độ cao. Lúc ấy, nếu khổ thọ khởi lên và bạn hướng sự chú ý vào nó thì bạn sẽ thấy được khổ thọ đang tan biến đi như thế nào. Tuy nhiên, bạn phải nhớ rằng khi khổ thọ mới bắt đầu khởi lên, nó chỉ xuất hiện một cách lờ mờ, phải đến khi bắt đầu tan hoại đi thì lúc đó nó mới xuất hiện một cách rõ rệt. Khi đã có khả năng nhận thức được tiến trình tan hoại của khổ thọ một cách rõ ràng, bạn sẽ nhận thức được rằng, sự chú ý của chính mình cũng đã tan biến đi một cách rõ ràng. Theo cách này, khi đã lãnh hội được bản chất của cảm thọ hay cảm giác nói chung thì khổ thọ sẽ không còn là vấn đề quan trọng đối với bạn nữa. Sự lãnh hội được trạng thái đang tan hoại của các hiện tượng sau khi chúng đã khởi lên là một nhân tố rất quan trọng. Như vậy, sự chú ý của bạn đã vượt qua được khổ thọ. Tiếp đến, khi năng lực chú ý và năng lực định tâm đã trở nên chín muồi, tinh thần của bạn đã được thăng bằng. Lúc đó, bạn đã thật sự có được một tâm thức sáng suốt và vô tư ( tức không có thành kiến hay không thiên vị) để suy xét mọi chuyện. Lúc bấy giờ, việc đạt được hạnh phúc hay phải chịu cảnh bất hạnh đối với bạn không còn là vấn đề quan trọng nữa. Bạn đã có thể thực hành nội quán trong một tâm thức cực kỳ thanh thản. Khi đã gặt hái được một tâm thức sáng suốt và vô tư như vậy rồi, bạn sẽ tiếp tục vượt qua rất nhiều loại khổ thọ khác một cách dễ dàng, phải nói là không mấy khó khăn. Lúc này, bạn sẽ nhận thấy được khổ thọ đã tan hoại đi một cách rõ ràng hơn nữa. Cụ thể là bạn sẽ nhận thấy khổ thọ đã bị chia nhỏ ra làm nhiều phần, khi nó đang ở trong tiến trình tan hoại. Nói cách khác, trong khổ thọ đã lộ ra những khoảng trống ngắt quãng mà bạn có thể nhận thức được. Khi đã có một sự nhận thức ở tầm mức cao như thế, thậm chí những căn bệnh nan y mà bạn đã mắc phải cũng được chữa khỏi. Cuối cùng, bạn sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính mình.

 

  Sự buông bỏ không thể xảy ra trước sự đạt được

                 ( Phương pháp thứ 9 để làm chủ các giác quan )

 

Thời đại ngày nay thiền minh sát đang rất hưng thịnh. Khi thiền minh sát đang hưng thịnh, rất nhiều người đã có cơ hội để thực hành loại thiền này. Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều người chưa có được cơ hội để học tập những nguyên lý thực hành căn bản của thiền minh sát. Những hành giả thực hành thiền minh sát chưa có những kinh nghiệm về Phật Pháp mong muốn có được những điều đó. Những hành giả đã có kinh nghiệm về Phật Pháp lại mong muốn tiến trình thực hành thiền của họ được phát triển tốt và gặt hái được Phật Pháp một cách nhanh chóng. Để đáp ứng mong ước của những hành giả nói trên, các bậc thầy chú giải Kinh Điển đã chỉ ra 9 phương pháp để làm chủ các giác và làm cho các giác quan trở nên sắc bén. Trong 9 phương pháp nói trên, phương pháp thứ 9 có tên là : Antarāca Abyosāne’na. Antarāca Abyosāne’na. Câu nàycó thể tạm dịch là : Mục đích cao nhất là gặt hái được Đạo Quả Niết Bàn

( Magga phala Nibbanà). Đây cũng là mục đích cao nhất của những người thực hành thiền minh sát. Chừng nào còn chưa đạt tới Niết Bàn thì chừng đó bạn chưa thể buông bỏ việc thực hành thiền minh sát. Không có bất cứ một lý do chính đáng nào để bạn làm như thế. Bạn cần có một tâm trí kiên định và dành thật nhiều thời gian để thực hành phương pháp làm chủ các giác quan thứ 9 này.

Tóm tắt: Trước khi chưa đạt tới Niết Bàn, bạn đừng bao giờ buông bỏ việc thực hành thiền minh sát, hãy kiên quyết đi hết con đường mà mình đã chọn.

Mục đích tận cùng của người Phật tử là Đạo quả và Niết Bàn. Nếu muốn đạt tới mục đích này, bạn cần phải thực hành thiền định và thiền minh sát.

Đức Phật đã từng nói rằng việc thực hành thiền minh sát là con đường duy nhất để đạt tới Niết Bàn. Nếu mong muốn đạt tới Đạo Quả và Niết Bàn, những người Phật tử cần phải vào các trung tâm thiền để thực hành thiền minh sát. Đã có một số hành giả do bị ảnh hưởng và ràng buộc bởi những mối quan hệ thế tục đã rời khỏi trung tâm thiền trước khi đạt tới Đạo Quả và Niết Bàn như họ đã mong muốn. Họ đã quay trở về nơi làm việc hay nhà riêng của họ. Mặc dù đã không còn ở lại trong trung tâm thiền. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bạn phải vất bỏ hoàn toàn việc thực hành thiền minh sát. Bạn có thể thực hành thiền ở nhà riêng của mình hay một nơi nào đó, thực hành càng nhiều càng tốt mỗi khi có thể. Bạn cũng nên chú ý một cách cẩn thận đến những hoạt động hàng ngày của mình và thực hiện chúng trong sự chậm rãi, nhẹ nhàng. Vì vậy, thực hành sự chú ý trong lúc đang thực hành thiền và khi đang thực hiện các hoạt động thuộc về thân xác là một phương pháp để làm chủ các giác quan và phát triển năng lực nội quán. Khi năng lực chú ý đã đạt tới mục đích tận cùng thì lúc đó, bạn sẽ gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn. Trong quá trình thực hành thiền minh sát, để gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn, các vị thiền sư phải có khả năng giáo huấn những phương pháp thực hành thiền đúng đắn và hiệu quả, những người thực hành thiền cần phải thực hành công việc của mình đến nơi đến chốn để có thể đạt tới mục tiêu đã đề ra. Chỉ khi 2 điều kiện vừa nêu trên được đáp ứng một cách đầy đủ và trọn vẹn thì chúng ta mới có thể nhận thức được Phật Pháp.

Tóm tắt: Nếu việc giáo huấn và thực hành thiền minh sát được đáp ứng một cách đầy đủ và trọn vẹn thì những người thực hành thiền mới có thể gặt hái được năng lực nội quán cao thượng ngay trong kiếp sống này.

Mặc dù trong những kiếp sống trước, bạn đã có những hạnh Ba-La-Mật đặc biệt. Tuy nhiên, nếu việc giáo huấn về thiền minh sát không được hoàn chỉnh hay việc thực hành thiền của bạn không đến nơi đến chốn, bạn cũng không thể gặt hái được năng lực nội quán cao thượng.

Tóm tắt: Nếu việc giáo huấn về thiền hay việc hành thiền không được đáp ứng đầy đủ và trọn vẹn thì bạn không thể gặt hái được năng lực nội quán cao thượng.

 Đó là lý do tại sao, những người nào đã có mong muốn đạt tới Đạo Quả và Niết Bàn thì họ cần phải biết thân cận với một vị thầy tốt, người có thể hướng dẫn cho họ một phương pháp thực hành thiền đúng đắn. Trước khi đạt tới Đạo Quả và Niết Bàn, bạn không nên buông bỏ việc thực hành thiền minh sát, dù là với bất cứ một lý do nào. Bạn nên dành ra thời gian để thực hành thiền, càng nhiều càng tốt với khả năng có thể, chú ý đến những hoạt động hành ngày của mình, cũng như thực hiện những hoạt động này một cách chậm rãi, nhẹ nhàng. Trong thời Đức Phật còn tại thế, đã có nhiều trường hợp hành giả thực hành thiền không gặt hái được năng lực nội quán do khả năng giáo huấn và thực hành thiền yếu kém. Người thực hành thiền minh sát không thể gặt hái được năng lực nội quán nếu không được giáo huấn đầy đủ những kiến thức và kinh nghiệm về loại thiền này. Một thời Đức Phật đang trú tại tu viện Trúc Lâm ( Veluvana Monastery) ở thành Vương- Xá ( Rājagaha). Vào lúc đó, Bà-La-Môn Dananjani  bị đau đớn vì lâm trọng bệnh, ông ta đang nằm dài trên giường và chờ chết. Khi đang nằm trên giường bệnh, Bà-La-Môn Dananjani chợt nhớ đến Đức Phật và Tôn giả Xá-Lợi-Phất. Ông ta bèn cho người đi cung thỉnh Tôn giả Xá-Lợi-Phất đến. Sau đó, Tôn giả Xá- Lợi- Phất đã đến viếng thăm nhà của Bà-La-Môn Dananjani. Ngài đã thuyết một bài Pháp về tâm từ ( Mettā – Loving kindness), tâm bi ( Lòng trắc ẩn – Karunā - Compassion), tâm hỷ ( Muditā – Sympathetic Joy), tâm xả ( Upekkhā – Relaxed mind) và triết hạnh ( Brahmacariya – Philosophical virtue) nhằm mục đích giúp cho Dananjani đạt tới thế giới của Phạm-Thiên ( Brahmà World). Mặc dù Bà-La-Môn Dananjani khao khát muốn gặt hái được Đạo quả và Niết Bàn. Tiếp đến, vị Ba-La-Môn này đã qua đời và đạt tới thế giới của Phạm-Thiên trước khi Tôn giả Xá-Lợi-Phất về đến tu viện của Ngài. Sau đó, Đức Phật đã nói rằng, bởi vì Tôn giả Xá-Lợi-Phất đã không giáo huấn đầy đủ cho Bà-La-Môn Dananjani, nên ông ta đã không thể đạt tới được Đạo Quả và Niết Bàn, mặc dù ông ta rất khao khát được như vậy.

 Thực hành thiền không đầy đủ sẽ gặt hái được năng lực nội quán

Vào thời Đức Phật đang trú tại Campā ( Chiêm -Bà). Lúc đó, có một thí chủ theo phái khổ hạnh Kandrakaand tên là Pe’ssa đã đến nghe Đức Phật thuyết Pháp. Trước khi bài thuyết Pháp nói về 4 loại niềm tin của người Phật tử chấm dứt, thí chủ Pe’ssa đã bỏ đi khỏi. Khi bài Pháp này chấm dứt, Đức Phật đã nói rằng, nếu Pe’ssa lắng nghe hết bài Pháp của Ngài vừa thuyết thì ông ta đã trở thành một Tu-Đà-Hườn. Bởi vì đã không chịu nghe hết bài Pháp nói trên và không thực hành theo Phật Pháp nên Pe’ssa không thể gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng.

 Ngày nay mọi người đều có thể gặt hái được Phật Pháp

Mặc dù Giáo Pháp của Đức Phật đã trải qua hơn 2500 năm. Tuy nhiên, nếu chịu khó học tập và thực hành đầy đủ Giáo Pháp của Ngài thì chúng ta vẫn có thể đạt tới Đạo Quả và Niết Bàn ngay trong kiếp sống này. Những nguyên nhân sau đây có thể giúp bạn gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn :

1. Được làm người với khả năng hiểu biết và trí tuệ.

2. Vẫn đang còn sống và có sức khoẻ.

3. Có khả năng lắng nghe thuyết Pháp về thiền minh sát         

 4. Có cơ duyên gặp được Giáo Pháp của Đức Phật

  Nhờ có được 4 nhân tố này, bạn mới gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng. Tại Miến Điện, ngoài 2 nhân tố quan trọng là khả năng giáo huấn và thực hành Phật Pháp, những người thực hành thiền minh sát còn được trang bị đầy đủ nhiều khả năng khác. Những bậc Trưởng Lão tại Miến Điện là những người đã tự mình thực hành Phật Pháp và đã gặt hái được Đạo Quả. Ngoài ra các vị này cũng thường thuyết Pháp và hướng dẫn nhiều người khác thực hành Phật Pháp để có thể gặt hái được Đạo Quả. Một điều quan trọng không thể thiếu đối với những người thực hành thiền minh sát là phải thực hành loại thiền này cho đến nơi đến chốn. Thực hành như vậy mới có thể đạt được mục đích mong muốn. Con người sống trong thế giới này thường bận rộn bởi việc này việc nọ. Vì vậy, không phải bất cứ lúc nào họ cũng có thể đi đến một trung tâm thiền. Họ chỉ có thể thực hành thiền vào những lúc nhất định nào đó mà họ có thể. Có một vài hành giả đã rời khỏi trung tâm thiền trước khi gặt hái được một trình độ nội quán nhất định mà họ mong muốn. Theo cách này, họ đã rời khỏi trung tâm thiền trước khi gặt hái được Đạo Quả. Tuy nhiên, họ vẫn có khả năng tiếp tục thực hành thiền minh sát tại nhà riêng với khả năng cho phép. Họ vẫn có thể tiếp tục thực hành sự chú ý đến những hoạt động hàng ngày và thực hiện những hoạt động này một cách chậm rãi, nhẹ nhàng. Họ vẫn có thể quyết tâm thực hành loại thiền này đến nơi đến chốn. Nếu vẫn tiếp tục thực hành theo đường lối như vậy, họ vẫn có thể gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng. Những hành giả mới tập sự thực hành thiền có thể phải chạm trán với những khó khăn trở ngại và cảm giác đau nhức nhất thời. Nếu kiên nhẫn ,tinh tấn và tiếp tục thực hành thiền cho đến khi tuệ minh sát đã trở nên mạnh mẽ thì họ sẽ gặt hái được cảm giác dễ chịu. Từ đó, đau nhức cũng tự nhiên biến mất đi. Nhờ vậy, họ đã có khả năng thực hành thiền minh sát một cách rất thoải mái. Những người thực hành thiền đã gặt hái được trí tuệ hiểu biết về sự cấu thành của vật chất

( Sankhārūpekkha Ñāna) có thể tự tìm ra cho họ một cách thực hành thiền thích hợp và thoải mái. Đó là lý do tại sao, các bậc Trưởng Thượng thường nói rằng, thiền minh sát chỉ có mức độ khó ngang bằng với sự bố thí mà thôi.

 Sự khó khăn của việc bố thí

Nếu muốn gặt hái được lợi ích lớn lao của nghiệp bố thí thiện lành, bạn cần phải có đầy đủ 3 nhân tố sau đây :

1.Của cải đem đi cúng dường phải là những của cải kiếm được bằng những phương tiện chân chính.

2. Trước, đang khi và sau khi cúng dường phải luôn luôn có tâm ý tự nguyện, hoan hỷ và lành mạnh.

3. Người cúng dường phải trao quà tận tay người nhận. Người nhận của cúng dường phải có khả năng giữ Giới trong sạch, có năng lực định tâm và trí tuệ mạnh mẽ.

Khi 3 nhân tố này được đáp ứng đầy đủ, bạn mới có thể gặt hái được lợi ích lớn lao của nghiệp bố thí thiện lành. Đó là lý do tại sao người ta thường nói rằng, gặt hái được lợi ích lớn lao của nghiệp bố thí thiện lành là một điều khó khăn. Trong quá trình thực hành thiền minh sát, việc gặt hái tuệ minh sát phải được bắt đầu bằng trí tuệ hiểu biết về tạng thái sanh diệt của các hiện tượng. Khi những hành giả liên tục thực hành thiền minh sát và đạt tới trí tuệ hiểu biết về sự cấu thành vật chất, họ sẽ cảm thấy hài lòng, cũng như đã có thể thực hành thiền một cách dễ dàng và thoải mái. Ở  trình độ thực hành thiền này, nếu chú ý đến tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng, hơi thở vào ra… ( chỉ cần chú ý từ 1 hay 2 lần thôi) thì sự chú ý của họ sẽ tự động điều chỉnh để hướng đến các đối tượng của giác quan đang khởi lên một cách rất chính xác. Vì vậy lúc này, người thực hành thiền đã không cần nổ lực chú ý mà vẫn có thể nội quán một cách dễ dàng và thoải mái trong suốt nhiều giờ đồng hồ. Khi bạn đang chú ý đến tiến trình đang ngồi, đang đứng, đang uốn cong thân mình, đang co duỗi chân tay, tất cả các hành động đang xảy ra hàng ngày của mình… thì ý định muốn thực hiện những hành động này luôn luôn xuất hiện trước khi các hành động được thực hiện. Nói rõ hơn, khi bạn ngồi xuống, đứng lên, co duỗi chân tay, uốn cong thân mình…thì “ ý định muốn ngồi xuống”, “ ý định muốn đứng lên”, “ ý định muốn co duỗi chân tay”, “ ý định muốn uốn cong thân mình”…sẽ xảy ra trước các hành động nói trên. Tiếp đến, những hành động nói trên sẽ xảy ra liền sau những ý định này. Những ý định xảy ra trước các hành động thường rất dễ quan sát. Vì vậy, bạn cần phải tập luyện sự chú ý đến các loại ý định theo kiểu này. Sau đó, bạn mới chú ý đến trạng thái đang chuyển động của các hành động như : Đang đứng lên, đang ngồi xuống , đang co duỗi chân tay… Đó là lý do tại sao, khi đã gặt hái được tuệ minh sát, bạn cũng có thể gặt hái được phước báu minh sát một cách rất dễ dàng. Khi đã có được khả năng chú ý một cách dễ dàng và thoải mái, tuệ minh sát trong bạn sẽ trở nên sắc bén và mạnh mẽ. Bằng cách chú ý khi thực hành thiền minh sát và chú ý đến các hoạt động hàng ngày, năng lực chú ý của bạn sẽ dần dần đạt tới mục tiêu. Cuối cùng, bạn sẽ gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn. Ngày nay, người ta có thể lắng nghe những lời giáo huấn về thiền minh sát của các bậc Trưởng Thượng và thực hành thiền tại các trung tâm trong một khoảng thời gian ngắn. Sau đó, họ có thể trở về nhà riêng của mình và tiếp tục thực hành thiền một cách nghiêm túc. Theo lối này, đến một lúc nào đó, họ sẽ có vinh dự nghe được tiếng nói của Phật Pháp khi năng lực nội quán của chính họ đã phát triển.

 

               Những huấn từ của bậc Trưởng thượng

               trung tâm thiền Saddhammaramsī

( Chủ nhật, 12 trăng tròn tháng Màgha năm 1353 – lịch Miến Điện)

Ghi chú:  Tháng Māgha là tên của một tháng trong lịch Ấn Độ cổ, khoảng tháng giêng hay tháng 2 dương lịch. Tiếng Miến Điện gọi là Tabodwe.

Hàng năm, bậc Trưởng Thượng của trung tâm thiền Saddhammaramsī thường có những lời khuyên trong cuộc gặp mặt với hội đồng những người phụng vụ ( Veyyāyacca Association) của trung tâm. Năm nay cũng vậy, bậc Trưởng Thượng của trung tâm thiền Saddhammaramsī sẽ có những lời huấn từ gửi đến những người Phật tử. Những thí chủ của Trung Tâm Thiền Saddhammaramsì ( Saddhammaramsī Yeiktha) và những thành viên trong hội đồng phụng vụ đang có mặt ở đây là những người đã từng ra sức làm việc và giúp đỡ cho sự phát triển của trung tâm với hết năng lực của chính mình. Đó là lý do tại sao, trung tâm thiền Saddhammaramsī đã phát triển một cách vượt bậc và được thịnh vượng như ngày hôm nay. Trong những năm tới, những thành tựu đã đạt được của trung tâm vẫn còn xứng đáng được ca ngợi. Các thí chủ và các thành viên của hội đồng phụng vụ trung tâm thiền Saddhammaramsī phải cố gắng duy trì và phát triển danh tiếng tốt đẹp mà họ đã đạt được. Việc duy trì và phát triển danh tiếng tốt đẹp là một việc khó làm hơn nhiều, so với việc đạt được danh tiếng này. Vì vậy, các bậc thầy chú giải Kinh Điển đã từng nói rằng : “ Vannuppatti khopana nabariyā Uppannassa Vannassa Rakkanameva bhahriyā” Câu này có nghĩa là : “ Có khả năng làm việc để xứng đáng được khen ngợi chưa phải là khó lắm. Duy trì và phát triển sự xứng đáng được khen ngợi đó một cách lâu dài mới là khó hơn”.  

 Đúng theo những lời khuyên của các bậc thầy chú giải Kinh Điển, chỉ khi quí vị đã có khả năng duy trì được danh tiếng tốt đẹp của trung tâm thiền Saddhammaramsī một cách lâu dài thì nó mới có thể trở thành một di sản quí báu đối với những thế hệ Phật tử trẻ tuổi ngày hôm nay và trong tương lai. Để làm được điều đó, tất cả những thành viên của hội đồng phụng vụ và các thí chủ phải biết đoàn kết để có thể cùng nhau làm việc. Cùng làm việc với nhau để duy trì trung tâm thiền Saddhammaramsī trong một tinh thần đoàn kết và gắn bó là một nhân tố quan trọng cho sự sống còn của trung tâm.

1. Bố thí – Những thành viên trong hội đồng phụng vụ và các thí chủ phải có thói quen bố thí và cúng dường trong chính họ.

2. Cung cách ăn nói - Khi nói đến công tác phụng vụ thì điều đầu tiên mà chúng ta cần phải có là cung cách nói năng nhẹ nhàng và vui vẻ với tâm từ ( Mettā), tâm bi ( Karunā) và tâm hỷ ( Muditā). Cụ thể, khi nói năng với người lớn tuổi và các bậc Trưởng Thượng, chúng ta cần có tâm hỷ. Khi nói năng với các người trẻ tuổi hơn mình và những người nghèo khổ, chúng ta cần có tâm bi để có thể nói năng một cách vui vẻ và dễ thương. Khi nói năng với những người ngang hàng với mình, chúng ta cần có tâm từ ( Mettā).

3. Niềm tin đức hạnh – Những thành viên trong hội đồng phụng vụ và các thí chủ cần phải biết cách làm việc vì người khác. Họ phải có lòng mong muốn cho sự thịnh vượng của người khác trong cõi thế gian và xuất thế gian.

4. Tinh thần tương trợ - Những thành viên trong hội đồng phụng vụ và các thí chủ phải cùng làm việc với nhau trong một tinh thần “ hạnh phúc cùng hưởng, khổ cực cùng chia”.

 Nếu tất cả thành viên trong hội đồng phụng  vụ và các thí chủ của trung tâm đều chú ý quan tâm và thực hành đúng theo 4 lời khuyên nói trên, họ sẽ luôn luôn được sống và làm việc trong một bầu không khí đoàn kết, hoà hợp. Nhờ đó, trung tâm thiền Saddhammaramsì sẽ vẫn tồn tại và được thịnh vượng kể từ ngày hôm nay cho đến các thế hệ Phật tử mai sau.

       Bậc Trưởng Thượng  trung tâm thiền Saddhammaramsī                                      

                 

                                                    

          Điều cần biết về những sự thật đã hình thành

 

 Hội đồng phục hưng Giới luật và nghi lễ của chính phủ ( The state Law and Order Restoration Council) đã kiến tạo một đề tài mới như là một tiêu chí của hội truyền giáo. Kammtthānacariya ( tạm dịch là Tiêu Chí Đức Hạnh – ND) đã được đem ra nghị hội và bàn thảo với sự tham dự của các bậc Trưởng Thượng vào hôm thứ năm, ngày trăng tròn đầu tháng Tabaung ( tức tháng Phagguna – một tháng trong lịch Ấn độ cổ đại, khoảng tháng 2 hay tháng 3 dương lịch) năm 1353 theo lịch của Miến Điện ( 19 tháng 3 năm 1992). Do ảnh hưởng từ Tiêu Chí Đức Hạnh của Hội đồng phục hưng Giới luật và nghi lễ của chính phủ, những người Phật tử đã thực hiện các công tác Phật sự vì lợi ích của người khác trong một tinh thần hạnh phúc đặc biệt. Đáp lại công đức vô lượng của Hội đồng phục hưng Giới luật và nghi lễ của chính phủ,  những người Phật tử đã tổ chức một buổi lễ để vinh danh và tỏ lòng tôn kính đối với các bậc Trưởng Thượng. Những hành giả thực hành thiền và những người mộ đạo của trung tâm thiền Saddhammaramsì cũng đã tổ chức một buổi lễ vào lúc 2 giờ chiều ngày chủ nhật, mồng 3 tháng Hnaung Tagu ( Citter) năm 1353 theo lịch Miến Điện ( nhằm ngày mồng 5 tháng 4 năm 1992) để vinh danh và tỏ lòng tôn kính đối với bậc Trưởng Thượng của trung tâm – Ngài Baddanta Kundalābhivamsa ( tác giả của cuốn Pháp Như Ý). Trong buổi lễ này, Ngài Baddanta Kundalābhivamsa đã nhận danh hiệu Bậc Đại Đức Hạnh ( Mahā Kammatthānacariya ). Cũng trong buổi lễ này, những người mộ Đạo đã có dịp để thỉnh cầu bậc Trưởng Thượng của trung tâm thiền Saddhammaransī gửi đến họ những huấn từ ( Ovada speech) thích hợp.

 Những huấn từ của bậc Trưởng thượng trung tâm thiền Saddhammaramsī

Cuộc hội nghị về Tiêu Chí Đức Hạnh của chính phủ với sự tham dự của những bậc Trưởng Thượng đang cư trú tại Miến Điện và hải ngoại  không chỉ nhằm tới mục đích tạo ra tình bằng hữu thân thiết giữa các Ngài và nhiều người khác, mà còn nhắm đến mục đích duy trì và thăng tiến Phật Pháp. Các bậc Trưởng Thượng tham dự hội nghị đã tin chắc rằng,Tiêu Chí Đức Hạnh cực kỳ mạnh mẽ đã từng được thực hiện trong quá khứ cũng sẽ được thực hiện trong tương lai bởi chính họ - những người đang làm việc và phục vụ cho sự thăng tiến của Phật Pháp đúng theo tiêu chí đã đề ra. Những người Phật tử có niềm tin lớn lao vào Phật Pháp tin chắc rằng, nếu thực hành theo những nguyên lý của Phật Pháp, họ sẽ có khả năng mang lại cho chính họ và toàn thể nhân loại thật nhiều lợi ích. Đó là lý do tại sao, họ đã có những niềm hy vọng lớn lao để duy trì và thăng tiến Giáo Pháp của Đức Phật. Chỉ khi những người Phật tử đã có khả năng làm việc vì lợi ích của nhiều người khác trong niềm hy vọng lớn lao, thì đến lúc ấy Tiêu Chí Đức Hạnh đã được thực hiện trong quá khứ do Hội đồng phục hưng Giới luật và nghi lễ của chính phủ đề ra mới có thể được thực hiện trong tương lai. Bởi vì dấu hiệu hứa hẹn tốt đẹp của Tiêu Chí Đức Hạnh trong hội nghị lần này, những người Phật tử sẽ nổ lực làm việc vì lợi ích của người khác với lòng hoan hỷ tột độ.Với sự kiện hội nghị về Tiêu Chí Đức Hạnh, sự động viên khuyến khích của Hội đồng phục hưng Giới luật và nghi lễ của chính phủ và cácBậc Trưởng Thượng trong sự nghiệp duy trì và thăng tiến Phật Pháp, những người Phật tử đã cúng dường y phục, vật thực, thuốc men chữa bệnh và các tu viện cho các bậc Trưởng Thượng. Hoạt động cúng dường trong hội nghị lần này cũng được tổ chức và thực hành đúng theo sự hướng dẫn rút ra từ huấn từ của Ngài Baddanta Kundalābhivamsa.

Tóm tắt: Vật thực và của cải cúng dường đã được những người Phật tử cúng dường đúng qui cách.

 Y phục, vật thực, thuốc men chữa bệnh và các tu viện đã được cúng dường là những tài sản thật sự mang lại lợi ích, bởi vì nếu tứ vật dụng không được đầy đủ thì Giáo Pháp của Đức Phật có thể bị suy đồi và thoái hoá. Chỉ khi tứ vật dụng đã được cung  cấp đầy đủ thì Giáo Pháp của Ngài sẽ tồn tại lâu dài, phát triển và hưng thịnh. Đó là lý do tại sao, cúng dường tứ vật dụng là một công việc mang lại nhiều lợi ích cho Phật Pháp.

Tóm tắt: Cúng dường tứ vật dụng là đem lại lợi ích cho Phật Pháp.

Nghe và thực hành đúng theo những lời giáo huấn của các vị Trưởng Thượng như giữ Giới, định tâm, trí tuệ…cũng bao gồm cả việc bố thí cúng dường và tổ chức các hoạt động này để mang lại nhiều lợi ích cho Phật Pháp cùng nhiều người khác. Khi có quan tâm và chú trọng đầy đủ việc giữ Giới, định tâm, thực hành thiền minh sát đúng phương pháp và bố thí cúng dường, bạn sẽ có khả năng gặt hái được lợi ích của Niết Bàn Hạnh Phúc ngay trong kiếp sống này.

Tóm tắt: Cúng dường hay bố thí sẽ mang lại lợi ích cho chính người thực hiện hành động đó.

 Duy trì phẩm chất đáng khen

Có khả năng đạt được sự khen ngợi, vinh dự và danh hiệu chưa phải là việc khó lắm. Duy trì được danh dự mà mình đã đạt được mới khó hơn. Đó là lý do tại sao, những bậc thầy chú giải Kinh Điển đã từng chỉ dạy như vậy. Những bậc Trưởng Thượng đã nhận được niềm vinh dự và danh hiệu từ hội nghị của Hội đồng phục hưng Giới luật và nghi lễ của chính phủ phải đặc biệt quan tâm đến việc duy trì được danh dự đó. Họ phải hiểu rằng, danh dự đó không thể để bị phá huỷ mà phải cố gắng bảo vệ nó một cách lâu dài. Những hành giả và những người Phật tử mộ Đạo của trung tâm thiền Saddhammaramsī phải có niềm tin lớn lao vào Phật Pháp, nghe và thực hành theo những lời dạy của Đức Phật bằng cách bố thí tứ vật dụng cho các bậc Trưởng Thượng. Tiếp thu được Tiêu Chí Đức Hạnh của Hội đồng phục hưng Giới luật và nghi lễ của chính phủ là thực hiện việc bố thí cúng dường tứ vật dụng. Xa hơn nữa là bố thí Pháp thông qua việc cổ vũ, động viên, ủng hộ công sức tiền của cho việc xuất bản các ấn phẩm Phật Giáo như : Sách báo, băng đĩa hình, file Mp3, tranh, ảnh, tượng Phật…Vì vậy, tất cả những cái ác sẽ bị tiêu diệt và chúng ta sẽ gặt hái được nhiều lợi ích. Do đó, bằng hạnh lắng nghe, chịu ảnh hưởng từ những huấn từ của các bậc có Danh dự và thực hành theo, bạn có thể gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng đã hằng mong đợi, thực hành thiền minh sát một cách dễ dàng và thoải mái, lãnh hội được Niết Bàn một cách nhanh chóng và loại bỏ được tất cả những thứ khổ đau. Lành thay !

           Bậc Trưởng thượng trung tâm thiền Saddhammaramsī

           Mồng 4 tháng Hnaung Tagu năm 1353 theo lịch Miến Điện

               ( Nhằm ngày mồng 2 tháng 4 năm 1991 dương lịch)

 Bằng cách đọc, nghiên cứu và thực hành theo những điều cốt tuỷ được rút ra từ Kinh Chú Giải Pāli trong cuốn Pháp Như Ý tập 3, quí độc giả có thể gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng như đã từng mong đợi, thực hành thiền minh sát một cách dễ dàng và thoải mái, lãnh hội được Niết Bàn một cách nhanh chóng và loại bỏ được tất cả những nổi khổ đau.

                                   

                   Tập 3 của cuốn Pháp Như Ý kết thúc tại đây.

  

  Danh sách các thí chủ hùn phước để ấn tống cuốn

                           Pháp Như Ý tập 3

      

  Úc Đại Lợi ( Australia)

1. Graham White

2. Lynn Bousfield

 Cọng hoà Pháp ( France)

3. Nang Tieng Kham

  Đức quốc ( Germany)

4. Johannes Emmering

 Hàn quốc ( Korea)

5. Gang Gyung Gu

6. Kim Suong Yong

7. Young Sun Hwa

8. Min Soon Je

9. Lee Gab Sool

10. Yoo Joung Sook

11. Che Jung Nam

12. Park He Sang

13. Park Gun Jae

14. Park Sang Do

15. Jung Hak Min                  

16. Han Yoon Dong

17. Jung Yea Soon

18. Park Yong Hee

19. Jang Myung Joo

20. Jang Sye Hoon

21. Yum Wom Tae

 Mã Lai Á  ( Malaysia)

22. Ashin Vilasa ( Low Chek Seng)

  Miến Điện ( Myanmar )

23. Tiến sĩ Than Than Nyein

24. Mg Mo Myat Aung

25. Daw Thein Nwe

26. Daw Thazin Nu

27. Daw Khin Lay Nyo

28. Moe Sanda Kyaw

29. Daw Than

30. U Kaung Yin

31. Daw Aye Myint

32. Ma Carita Nanni

33. Daw Khin Soe

34. Daw Hla Mra

35. U Tin Aung

36. Daw Khin Khin Hla

37. Tiến sĩ Kay Mya Yee

38. Daw Khin Hla Hla

39. Daw Khin Sein

40. U Hla Aye

41. Daw Hone Kyi

42. Daw Than Nu

43. Daw Hla Than

 Tân Gia BaSingapore)

44. Ashin Kovida ( Hirok Ghosh)

Tây Ban Nha( Spain)

45. Gia đình Iglesias Cao

 Vương quốc Anh ( United Kingdom)

46. Dolly Hlaing

47. Tiến sĩ Wint Maw

  Mỹ quốc ( U.S.A)

48. Ashin Vira Panno ( Thụy Nguyễn)

49. Kim Chi Cintà

50. Sue Dirksen

Cầu chúc cho các thí chủ đã có công đóng góp trong việc ấn tống cuốnPháp Như Ý tập 3 được hoan hỷ với phước báu hào phóng của họ. Cầu chúc cho họ sẽ gặt hái được Niết Bàn Cao Thượng và tận diệt hết tất cả những nỗi khổ đau. Lành thay ! Lành thay! Lành thay !

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

        

    

   

  

 

 

                                    

         

 

  

 

 

                                     

    

  

 

 

Tác giả bài viết: Admin

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

top

Những tin cũ hơn

top