Pháp Như Ý (Tập 2)

Thứ ba - 11/02/2014 10:26
Pháp Như Ý (Tập 2)

Pháp Như Ý (Tập 2)

Pháp Như Ý (tập 2): Những đề mục thực hành thiền cao quí nhất của người Phật tử theo phương pháp của Ngài Trưởng Lão Mahāsī.

 

     Biên soạn:  Ngài  Kundalābhivamsa  ( Trưởng Lão trung tâm thiền Saddhammaramsī) 

     Biên tập:  Hội đồng biên tập trung tâm thiền Saddhammaramsì

     Nguyên bản tiếng Miến Điện:   Dhamma Padetha

     Dịch sang tiếng Anh:  Daw Khin Hla Hla ( Kanbawza Myitzu )

      Xuất bảnLt. Col Tin Aung Saddhammaramsi Sapei, Số 7 đường Zeiyakhemar, quận Mayangone,  Ngưỡng Quang – Miến Điện

      Dịch sang tiếng Việt từ bản tiếng Anh:  Phạm Xuân Quang

                                         Địa chỉ24 A / 257 Chi Lăng – Huế- Việt Nam

                                         Điện thoại (NR):     0542460293

                                         Điện thoại di động : 0948753810

                                         Thư điện tửsachthienhaiau@yahoo.com.vn

 

                                  Mục lục

 

 1. Năm lợi ích khi được các Tỳ-kheo viếng thăm                                     

 2. Phải biết tôn trọng những Giới luật                                                                 

 3. Sự trông mong của các bậc cha mẹ sáng suốt        

 4. Năm phẩm chất trọn vẹn của sự bố thí cao thượng                                         

  5. Điềm lành Thingyan                                                                                       

 6. Thoát khỏi địa ngục                                                                                              

 7. Sự thật cần biết về ngày trăng tròn tháng Vesakha                              

 8. Những sự khác nhau giữa Tu-Đà-Hườn và người phàm tục                            

 9.  Bốn phẩm chất tốt đẹp cần phải đạt được                                                        

10. Bốn phẩm chất tốt đẹp cần biết                                                                             

11. Những lời nói cuối cùng của Đức Phật                                                               

12.Thực hiện những hành động xứng đáng trong ngày trăng tròn

    tháng Āsālha                                                                                                           

13. Bốn điều không thể ngăn chặn                                                                             

14. Bốn loại cá thể                                                                                                        

15.  Kiến thức cao thượng là cái quí báu đáng trân trọng                                         

16. Vi Diệu Pháp – thời gian của sự hân hoan và phấn chấn                        

17. Ranh giới                                                                                                           

18 Tìm được hạnh phúc vì được Phật Pháp bảo vệ                                                   

19. Thành công trong cõi thế gian và xuất thế gian                                                   

20. Nên tuân theo những lời giáo huấn                                                                       

21. Tôn kính tháng Kattika                                                                                          

22.Kiến thức về sự chuyển đổi kiếp sống                                                                   

23. Những giấc mơ và nguyên nhân của chúng                                                          

24. Giáo Pháp tại Myeik                                                                                               

25. Bốn nhân tố để lãnh hội Giáo Pháp                                                           

26. Những lời khuyên của bậc Trưởng Thượng

     trung tâm thiền Saddhammaransī                                                           

27. Những sự thật về Nghiệp                                                                             

28. Tìm kiếm 4 điều cao thượng                                                                                   

29. Phái nữ mong muốn đạt tới Đạo Quả Phật                                                       

30. Hạnh phúc trên thế gian                                                                                         

31. Danh sách thí chủ hùn phước để ấn tống sách ( bản tiếng Anh)                                                      

        

           5 Lợi ích khi được các Tỳ-kheo viếng thăm

 

 Những Phật tử có tập quán hay mời các Tỳ Kheo đến thăm nhà của họ để dâng cúng vật thực và lắng nghe các Tỳ Kheo tụng Kinh Hộ Trì

( Recitations of the Parittas). Họ hạnh phúc vô cùng khi được các Tỳ Kheo có đạo đức đến thăm nhà của mình. Họ tin rằng, khi những Tỳ Kheo có giữ Giới trong sạch đến thăm nhà của họ thì gia đình của họ sẽ được thịnh vượng và hạnh phúc, những nguy hiểm đang đe dọa gia đình họ sẽ bị xua đuổi đi. Theo đúng như niềm tin này, khi được các Tỳ Kheo có đạo đức đến thăm nhà, những người mộ Đạo cần phải thực hiện 5 việc cần thiết như là những bổn phận. Đức Phật cũng đã dạy rằng, sẽ có 5 lợi ích được sinh ra từ việc thực hiện 5 bổn phận nói trên. Năm bổn phận cần thiết mà những người mộ Đạo cần phải thực hiện  khi được các Tỳ Kheo ghé thăm nhà là :

 1. Tôn kính các Tỳ-kheo                                                                           

 2. Nói lời chào mừng, đảnh lễ ( Paying obeisance) và mời các Tỳ Kheo ngồi xuống những chỗ ngồi tốt nhất.

 3. Loại bỏ tính bủn xỉn keo kiệt trong chính mình

 4. Dâng cúng tứ vật dụng

 5. Cung kính thỉnh cầu được nghe Pháp

Những Phật tử sẽ gặt hái được 5 lợi ích

 1. Khi những Tỳ Kheo có giữ Giới trong sạch ( tức có đạo đức – having morality) đến thăm nhà của mình, bạn phải hình dung rằng những Tỳ Kheo này là các bậc cao quí ( Ariya – Noble Order) đến từ thời Đức Phật còn tại thế. Họ mặc y trong dáng vẻ của các bậc cao quí. Thân thể và lời nói của họ tương tự những bậc cao quí. Những thí chủ cần phải thể hiện sự tôn kính đối với họ, phải nhận thức rằng tư cách đạo đức của họ là tư cách của những người cao quí. Tất cả các thành viên trong một gia đình Phật tử mộ Đạo đều phải tôn kính những Tỳ Kheo này. Vì vậy, phước báu (Kusala kamma – Merit ) của các Phật tử sẽ được gia tăng và cho phép họ đạt tới cõi Chư Thiên khi phải tái sanh vào luân hồi. Trong những kiếp sống ở tương lai, họ sẽ không bị đọa xuống địa ngục ( Apāya – Hell) mà gặt hái được những lợi ích ở cõi trời, nơi có nhiều điều sung sướng và hạnh phúc.

 2. Khi các Tỳ Kheo có giữ Giới trong sạch đến thăm nhà của ai đó, tất cả các thành viên trong gia đình của người này phải ra chào đón với tâm thành kính sâu sắc như thể họ là trung tâm của sự chú ý. Họ phải mời các Tỳ-kheo ngồi xuống nơi trang trọng và tốt nhất trong nhà. Khi các thành viên trong một gia đình mộ Đạo chào mừng và thể hiện sự tôn kính đối với các Tỳ Kheo thì phước báu của họ sẽ được gia tăng. Toàn bộ thành viên trong gia đình họ sẽ được tái sanh vào những cảnh giới cao thượng. Trong những kiếp sống kế tiếp, họ sẽ không bao giờ bị sanh vào những gia đình có địa vị thấp kém mà được sanh vào những nơi cao sang quyền quí và thịnh vượng.

3. Khi những Tỳ Kheo có đạo đức đến thăm nhà của một gia đình mộ Đạo, những thành viên trong gia đình đó phải biết  né tránh những điều sau :

 a. Āvāsa macchariya – Tính bủn xỉn, dè xẻn về các tiện nghi cư trú.

  b. Kula macchariya -  Sự miễn cưỡng của thí chủ khi cúng dường.

 c. Lāba macchariya –  Tâm tính toán hơn thiệt về tiền bạc và của cải sẽ đem dâng cúng.

 d. Vanna macchariya – Sự hà tiện trong khi chuẩn bị các phương tiện đón tiếp các Tỳ-kheo .

 e. Dhamma macchariya – Tâm còn nghi ngờ và chưa có niềm tin vững chắc vào những lời thuyết Pháp của các Tỳ Kheo.

  -  Khi tránh né được tính bủn xỉn về các tiện nghi cư trú như chỗ ngồi, nơi nghỉ ngơi…dành cho các Tỳ Kheo khi họ đến thăm một gia đình Phật tử mộ Đạo, mọi thành viên trong gia đình này sẽ được gia tăng phước báu và chắc chắn sẽ được tái sanh vào những nơi cao thượng như cõi trời hay cõi người.

 4. Khi những Tỳ Kheo có đạo đức đến thăm một gia đình mộ đạo thì các thành viên trong gia đình đó phải tuỳ theo khả năng của mình mà dâng cúng cho các Tỳ Kheo này Tứ vật dụng ( thức ăn, y phục, chỗ ở và thuốc men chữa bệnh) và nhiều thứ cần thiết khác như giày dép, dù che, quạt, khăn tay… Bởi vì đã dâng cúng những vật dụng cần thiết cho các Tỳ Kheo, họ sẽ gặt hái được lợi ích là có được của cải dồi dào. Trong những kiếp sống ở tương họ sẽ được hạnh phúc vì giàu có.

 5. Khi những Tỳ Kheo có giữ Giới trong sạch đến thăm nhà của một gia đình Phật tử mộ Đạo thì tất cả thành viên trong gia đình này phải biết cung kính những lời thuyết Pháp của các Tỳ Kheo. Mặc dù gia đình thí chủ có thể không yêu cầu được nghe Pháp. Tuy nhiên, các Tỳ kheo vẫn thuyết Pháp, bởi vì người Phật tử nói chung cần phải  tôn kính Phật, Pháp, Tăng, giữ Giới trong sạch và thực hành thiền ( Bhāvanā - Prastise meditation) như là phương tiện để phát triển trạng thái định tâm một cách nhanh chóng .

Bằng hạnh lắng nghe thuyết Pháp, những thành viên trong gia đình mộ Đạo này sẽ khiến cho phước báu của họ được gia tăng và trở thành những người có trí tuệ trong nhiều kiếp sống. Khi người ta vừa dâng cúng cái gì đó cho các Thánh Tăng ( Ariya Sangha -  Holy Monks), liền sau đó họ có thể gặt hái cơ hội để vào được tầng thiền diệt thọ tưởng định như một phần thưởng đặc biệt cho phẩm hạnh xứng đáng của họ. Ngày xưa, trong thời Đức Phật còn tại thế. Bằng danh giá của mình, các Thánh Tăng trước khi đi vào các thành phố hay những ngôi làng để khất thực, họ thường nhập vào tầng thiền diệt thọ tưởng định ( còn gọi là Mettā Jhāna – Loving kindness absorption) để vinh danh các thí chủ cúng dường cho họ. Đại Tôn giả Xá- lợi- Phất có thói quen hay nhập vào tầng thiền diệt thọ tưởng định trước khi đi vào các thành phố hay những ngôi làng để khất thực. Đại Tôn giả Subuti cũng có thói quen này. Các vị Đại Trưởng Lão ( Great Elder- Mahātheras) cũng nên mô phỏng lối thực hành Phật Pháp cao thượng này. Ngày nay, mỗi khi vi phạm Giới Luật, các bậc Trưởng Thượng và các Tỳ-kheo thường xám hối tội lỗi ( Apatti – confess offence) của họ bằng cách rải tâm từ trong sự chú ý liên tục, trước khi đi vào các thành phố hay những ngôi làng để vinh danh người mộ Đạo cúng dường cho họ. Khi các Tỳ Kheo có đạo đức đến thăm một gia đình Phật tử mộ Đạo, tất cả thành viên trong gia đình này phải ra đón tiếp với tâm vui thích để tỏ lòng tôn kính. Người ta phải nhường cho các Tỳ-kheo những chỗ ngồi tốt nhất và đảnh lễ họ. Mọi thành viên trong gia đình đều phải tham dự nghe thuyết Pháp. Theo cung cách đối xử này, khi các Tỳ Kheo có giữ Giới trong sạch đến viếng thăm gia đình của mình, bạn hãy hành động đúng như lời Đức Phật đã chỉ dạy về cách đón tiếp họ. Vì vậy, bạn sẽ gặt hái được những điều sau :

1.Khi phải tái sanh vào luân hồi, sẽ không bị đọa vào địa ngục với nhiều khổ đau mà được sanh lên cõi trời, nơi có nhiều điều sung sướng và hạnh phúc.

 2.Trong những kiếp sống kế tiếp sẽ được tái sanh vào những gia đình cao thượng.

 3. Trong những kiếp sống kế tiếp sẽ có được quyền cao chức trọng.

 4. Trong những kiếp sống kế tiếp sẽ có được của cải dồi dào.

 5. Trong những kiếp sống kế tiếp sẽ có được trí tuệ cao siêu.

 

                               

             Phải biết tôn trọng những Giới luật

 

Những người Phật tử luôn luôn tôn kính Đức Phật. Họ biết được rằng việc thăm viếng các tu viện hay tịnh xá là một điều quí báu đáng thực hiện, đồng thời họ cũng tuân thủ Giới luật do các Tỳ Kheo truyền cho họ. Thậm chí, đêm hôm trước ngày Sabbath ( Đối với Đạo Phật ngày này là các ngày chính thức trong các lễ hội hằng năm. Ngoài ra Sabbath là ngày thứ 7- ngày nghỉ lễ của Do Thái giáo. Đối với Thiên Chúa Giáo thì ngày Sabbath là ngày chủ nhật), các Phật tử thường chuẩn bị sẵn áo quần đẹp để mặc, các loại thức ăn và nước uống thích hợp để ngày mai họ sẽ đi đến các tu viện hay tịnh xá và ở lại đó suốt ngày để thực hành thiền, cúng dường, tụng kinh, bố thí, nghe thuyết Pháp, dự tiệc chung với các người Phật tử khác tại chùa…sau đó thì họ ra về.Ngày xưa, trong một vài thành phố, những người Phật tử tuân thủ Giới luật thường ở lại qua đêm tại các tu viện hay tịnh xá. Ở đó, họ sẽ lắng nghe các Tỳ Kheo thuyết Pháp và thực hành Phật pháp. Họ cũng có thể cúng dường vật thực trong ngày kế tiếp ngày Sabbath. Con cái cháu chắt của những người Phật tử nói trên lúc này đang còn ở nhà sẽ đi đến các tu viện hay các tịnh xá để gặp ông bà cha mẹ của chúng. Sau đó, tất cả họ cùng dắt nhau trở về nhà. Trẻ em có thể ở lại các tu viện hay các tịnh xá như những học sinh nếu thấy thích và cảm thấy hạnh phúc khi được tham dự vào ngày Sabbath với người lớn. Đối với trẻ em, ngày Sabbath là dịp nghỉ lễ của chúng. Mặc dù trong ngày này trẻ em không đi học. Tuy nhiên, khi cùng  ông bà cha mẹ ở lại các tu viện hay tịnh xá thì chúng cũng có dịp để quan sát các hình thức thực hành Phật Pháp với bản tính hồn nhiên. Vì vậy, những người nhỏ tuổi cũng có thể tôn kính và giữ gìn ngày Sabbath.

Những cách thức giữ Giới của người Phật tử được chia làm 4 kiểu :

 1. Hānabhāgiya Sīla   -  Giới thấp kém  ( inferior kind of precept)

 2. Thitibhāgiya  Sīla    - Giới danh nghĩa    ( Sīla that is just observed )

 3. Visesabhāgiya Sīla  -  Giới có hiệu quả đặc biệt ( Sīla which has a special effect )

 4. Nibbedhabhabhāgiya Sīla – Giới có năng lực thấu suốt ( Sīla that has a penetrating power).

  - Giới thấp kém

 Một cá nhân khi đã thọ Giới nhưng có thể không muốn gần gũi với những người có đức hạnh mà vẫn còn gần gũi với người vô đạo đức, bởi vì anh ta vẫn chưa nhận thức được đó là sự phá giới. Nếu như vậy thì thật ra người này vẫn còn để cho tâm thức của mình chìm đắm trong những khoái lạc về thể xác và các loại buồn phiền lo lắng khác. Anh ta cũng chưa thu thúc được thị giác của mình.  Khi chú ý nhìn vào một cái gì đó, anh ta chỉ thấy cái đó theo cách cảm nhận bình thường của thị giác chứ chưa biết phân biệt hay chọn lọc các hình ảnh. Người này cũng chưa làm chủ được thính giác của chính mình. Vì vậy, anh ta sẽ lắng nghe tất cả những âm thanh nào mà thính giác của mình cảm nhận được. Anh ta sẽ bám víu vào tất cả những mùi vị mà khứu giác của mình đã cảm nhận được và đặc biệt rất hài lòng với những mùi thơm dễ chịu. Anh ta cũng chưa thu thúc được xúc giác của chính mình mà vẫn còn thích những cảm giác xúc chạm nhẹ nhàng êm ái… Nói tóm lại, người này vẫn chưa thu thúc được 6 giác quan ( mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý ). Tâm trí của anh ta vẫn còn tham muốn và thường xuyên dính mắc vào các sự vật và hiện tượng. Giữ giới theo kiểu này được gọi là Giới thấp kém.

 - Giới danh nghĩa

 Một cá nhân khi đã thọ giới nhưng không thực hành Pháp đầu đà

( Dhutanga – pháp tu khổ hạnh của Phật Giáo -ND) hay không quan tâm chú ý đến các loại đức hạnh của Tam Bảo – Tiratanā, không giữ Giới trong sạch, không thực hành thiền định ( Samātha Bhāvanā) và thiền minh sát

( Vipassanā Bhāvanā ). Người này chỉ đơn thuần tôn kính ngày Sabbath trên danh nghĩa mà không có thực chất. Giữ giới theo kiểu này được gọi là Giới danh nghĩa.

- Giới có hiệu quả đặc biệt

Một cá nhân sau khi đã thọ giới và nổ lực thiền định cho đến khi phát triển được trạng thái định tâm ( Samādhi). Người giữ giới theo kiểu này đã có được một hiệu quả đặc biệt. Vì vậy, người này được biết đến như một Visesabhāgiya Sīla. Anh ta như thể một người được sống trong một đất nước yên ổn, được các nhà lãnh đạo bảo đảm cho về mặt an ninh, chính trị và quân sự… Tương tự như vậy, tâm trí của người này được yên ổn và không bị tham lam, sân hậnvọng tưởng chi phối. Anh ta sẽ có được một tâm thức giống như khi chúng ta quán niệm những phẩm hạnh cao quí của Đức Phật ( Buddhānussati) .Tâm từ của người này sẽ hiển lộ và lan toả khắp nơi. Anh ta sẽ có được khả năng chiêm nghiệm về bản chất kinh tởm và khó chịu của tử thi ( Asubba), cũng như có khả năng suy niệm về hiện tượng chết ( Maranāssati). Những khả năng nói trên sẽ giúp cho tâm thức của anh ta càng thêm tinh khiết. Khi đã gặt hái được trạng thái định tâm, người giữ Giới có hiệu quả đặc biệt đã được thiền định bảo đảm về mặt tâm thức, nghĩa là bất cứ lúc nào cũng được yên ổn. Khi tôn kính ngày Sabbath thì tâm từ là đề mục thích hợp nhất để thực hành thiền. Bằng cách quán niệm tâm từ, bạn có thể thực hành sự mong muốn cho người khác được hạnh phúc. Do đó, bạn sẽ tránh được việc sát sanh, trộm cắp và nhiều hành vi không đúng đắn khác có thể làm cho mình trở thành người bất hạnh. Vì vậy, một người giữ Giới có hiệu quả đặc biệt sẽ được yên ổn thân tâm, không bị buồn phiền lo lắng quấy nhiễu. Đó là lý do tại sao, tâm từ ( Mettā) là một đề mục thực hành thiền thích hợp nhất trong khi chúng ta đang thực hành Giới luật vào ngày Sabbath. Có 2 cách thực hành thiền với tâm từ :

a. Thực hành thiền với tâm từ để gặt hái được phước báu.

b. Thực hành thiền với tâm từ để gom tâm hay rèn luyện năng lực tập trung tâm ý để phát triển tâm thiền ( Jhāna Citta) .

 - Khi đang làm những công việc vặt vãnh hàng ngày, bạn hãy rãi tâm từ lên tất cả những người mà mình quen biết hay không quen biết. Qua tâm từ, bạn có thể liên lạc với họ và cầu mong cho họ được an vui hạnh phúc về mặt thể xác lẫn tinh thần. Đây là một loại tâm từ thuộc về tinh thần hay ý nghiệp ( Manokamma – Karma ‘s opinion). Khi bạn thực hiện một lời khuyên tốt lành đối với người khác thì điều này cũng được gọi là rãi tâm từ. Tuy nhiên, tâm từ ở đây thuộc về lời nói hay ngôn nghiệp ( Vacikamma – Karma of language ). Khi bạn rãi tâm từ lên nhiều người khác bằng cung cách đối xử thì tâm từ ở đây thuộc về thân nghiệp ( Kāyakamma - Karma of the flesh- body). Theo cách này, khi làm bất cứ một việc gì, bạn nên nhắm tới việc rãi các loại tâm từ lên tất cả muôn loài chúng sanh. Nếu làm được như vậy, bạn sẽ gặt hái được phước báu.

 - Chọn một nơi yên tĩnh và ngồi xuống theo thế hoa sen. Với tư thế này, bạn có thể ngồi lâu và thực hành thiền cho đến khi có thể phát triển khả năng gom tâm hay năng lực định tâm ( Samādhi – Concentration). Trước khi thực hành thiền với tâm từ, bạn phải mang tâm trí trở lại trạng thái quân bình bằng cách loại bỏ những tâm nóng giận, buồn bực, lo lắng, vui mừng, yêu, ghét… Khả năng độ lượng hay tự chủ kiên trì sẽ làm cho chính bạn và nhiều người khác được hạnh phúc. Khoan dung ( Khanti – Tolerance) với những lỗi lầm của người khác và không tạo ra sân hận trong chính mình là một lợi ích to lớn. Tuy nhiên, bạn cũng cần phải biết được mình có thể rãi tâm từ lên đối tượng nào và đối tượng nào thì mình không nên làm như thế. Đầu tiên, bạn hãy bắt đầu thực hành rãi tâm từ lên chính mình, tiếp theo là thực hành việc đó với người khác. Bạn không nên thực hành việc rãi tâm từ lên các đối tượng sau đây :

 a. Những người đã chết. Bởi vì khi rãi tâm từ lên những đối tượng này, bạn không thể có được khả năng định tâm.

 b. Những bộ phận hay yếu tố thuộc về giới tính, bởi vì nếu rãi tâm từ lên đó có thể bạn sẽ phát khởi tâm tham dục, quyến luyến và bám víu vào sự vật

( Rāga). Đối tượng đầu tiên mà bạn cần rãi tâm từ lên đó là chính bản thân bạn. Bạn hãy nói : “ Cầu mong cho tôi thoát khỏi những hiểm nguy và những điều bất hạnh. Cầu mong cho tôi có thể mang nổi gánh nặng của cuộc sống này. Cầu mong cho tôi sẽ được hạnh phúc về thể xác và tinh thần”.

Tiếp đến, bạn nghĩ về những người thân của mình và những người mà bạn yêu mến rồi nói thầm trong tâm : “ Cầu mong cho họ thoát khỏi những hiểm nguy. Cầu mong cho họ thoát khỏi những khổ đau về thể chất và tinh thần. Cầu mong cho họ có thể mang nổi gánh nặng của cuộc sống và được hạnh phúc về thể xác lẫn tinh thần”. Thứ đến, bạn rãi tâm từ lên những người không quen biết. Bạn hãy nói : “ Cầu mong cho họ thoát khỏi những hiểm nguy. Cầu mong cho họ thoát khỏi những khổ đau về thể xác và tinh thần. Cầu mong cho họ có thể mang nổi gánh nặng của cuộc sống và được hạnh phúc về thể xác lẫn tinh thần”. Sau cùng là những kẻ thù của mình. Bạn hãy nói : “ Cầu mong cho họ thoát khỏi những hiểm nguy. Cầu mong cho họ thoát khỏi những khổ đau về thể xác và tinh thần. Cầu mong cho họ có thể mang nổi gánh nặng của cuộc sống và được hạnh phúc về thể xác lẫn tinh thần”. Khi bạn rãi tâm từ một cách bình đẳng lên những người thân và những người mà mình yêu mến, những người không quen biết và những kẻ thù của mình, bạn sẽ gặt hái được sự định tâm trên 4 phạm vi này. Đức Phật cũng đã từng nói rằng, chỉ cần chúng ta rãi tâm từ của mình lên một đối tượng nào đó trong một thời gian ngắn bằng khoảng thời gian mà người ta vắt sữa từ một con bò cái. Hành động đó sẽ mang lại lợi ích nhiều hơn khi chúng ta chi tiêu một số tiền lớn để nấu 100 nồi cơm, chia làm 3 bữa để nuôi sống 1000 người trong một ngày. Những người thực hành thiền với đề mục là tâm từ sẽ được an vui và không bị trạng thái lo lắng phiền muộn quấy rầy. Họ cũng gặt hái được 11 loại lợi ích sau đây :

 a. Ngủ ngon

 b. Thức dậy một cách bình yên

 c. Có những giấc mơ đẹp

 d. Được mọi người yêu mến

 e. Được Chư Thiên yêu mến

 f. Được các Chư Thiên bảo vệ

 g. Lửa không thể đốt cháy được họ, thuốc độc không thể làm hại họ, các loại vũ khí cũng không thể nhắm trúng họ.

 h. Phát triển được năng lực định tâm.

 i. Có được sắc mặt tươi sáng, phấn chấn và vui vẻ.

 j. Được chết bình yên

 k. Được tái sinh lên những cõi trời Phạm Thiên

 4. Giới có năng lực thấu suốt

 Bằng cách thực hành thiền minh sát, một cá nhân sau khi đã thọ Giới sẽ cố gắng xuyên thủng màn đêm tối tăm của những thứ gây ô nhiễm cho thân tâm như :  Tham lam, sân hận và vọng tưởng cố hữu trong anh ta. Người giữ Giới theo kiểu này được biết đến như là một Nibbedabhāgiya Sīla, nghĩa là người có năng lực thấu suốt. Những người thực hành thiền minh sát phải thực hành những đề mục chú tâm là 4 oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi - Catu  Satipatthāna) một cách mạnh mẽ để chiêm nghiệm về thân thể

( Kāyānuppassanā– contemplate about flesh-body). Đó là lý do tại sao, những hành giả thường bắt đầu bằng cách chiêm nghiệm về thân thể qua 4 tư thế đi, đứng, nằm, ngồi của chính mình. Thiền tọa ( ngồi thiền) có thể được thực hiện bằng cách ngồi theo thế hoa sen hoặc cũng có thể ngồi theo thế khổ hạnh ( thế ngồi bằng cách gập 2 chân lại, 2 cẳng chân đặt sát xuống mặt sàn, 2 bàn chân ngữa lên phía trên và ngồi lên trên 2 cẳng chân. Bàn tọa

( mông) tiếp xúc với 2 gót chân và 2 cánh tay có thể đặt dọc theo 2 đùi. Hai bàn tay để hờ lên 2 khớp xương bánh chè). Đầu và lưng phải nằm trên một đường thẳng, mắt nhắm lại ( có phương pháp cho rằng mắt nên mở vì nếu nhắm mắt thì mắt sẽ bị khô trong quá trình thực hành thiền. Tuy nhiên,  nếu theo phương pháp của Ngài Mahāsī thì phải nhắm mắt khi thực hành thiền tọa - ND) và tập trung sự chú ý vào thành bụng. Khi đang thở vào, bụng sẽ phồng lên. Ngay lúc đó, bạn phải hội tụ sự chú ý để nhận biết không khí đang chầm chậm di chuyển từ bên ngoài vào trong thân thể và làm cho bụng phồng lên như thế nào. Sự chú ý của bạn phải được duy trì một cách liên tục, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang phồng lên, đang phồng lên…”. Khi đang thở ra, bụng sẽ dần dần xẹp xuống, bạn cũng phải chú tâm liên tục để nhận biết không khí đã thoát ra khỏi cơ thể và làm cho bụng xẹp xuống như thế nào, đồng thời cũng phải niệm thầm trong tâm “ đang xẹp xuống,  đang xẹp xuống…”. Khi năng lực định tâm đã phát triển và thuần thục, bạn sẽ nhận biết được rất rõ ràng trong từng khoảnh khắc, không khí đã làm cho bụng phồng lên và xẹp xuống như thế nào, hiện tượng phồng xẹp của bụng khởi lên và tan biến đi một cách nhanh chóng…Khi chiêm nghiệm về những tư thế khác của thân thể như đi, đứng,  nằm… bạn sẽ nhận biết được rằng, những hiện tượng này đã khởi lên và tan biến đi một cách rất nhanh chóng.

 Lúc đó, nếu chú ý vào tâm trí mình, bạn sẽ nhận thấy được hiện tượng sanh diệt rất vi tế và nhanh chóng của tâm. Từ đó những thứ gây ô nhiễm như tham lam, sân hận, vọng tưởng sẽ  không còn cơ hội để khởi lên trong tâm của bạn nữa. Vì vậy, thiền chính là sự làm tiêu tan bóng tối của những thứ gây ô nhiễm cho tâm. Trong 4 cách thức giữ Giới đã nêu ở trên, Nibbedabhāgiya là cách giữ Giới có năng lực thấu suốt. Đây chính là cách giữ Giới tốt nhất và được nhiều người kính trọng nhất. Những người thực hành thiền đã gặt hái được các kinh nghiệm hiểu biết qua nội quán thì họ sẽ nhận thức được trạng thái tan hoại của vạn hữu ( Udayabbaya Ñāna  – the understanding about everything ‘s decay). Từ đó, họ có thể xua tan được những thứ gây ô nhiễm cho tâm. Nếu tiếp tục thực hành thiền, họ sẽ đạt tới Niết Bàn Cao Thượng thông qua Chánh Đạo và Quả Tuệ ( Magga phala ñāna) đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật ( Paramitā – the duty of the lifeman) của chính họ.

 

 

      Sự trông mong của những bậc cha mẹ sáng suốt

   

Với tâm từ vĩ đại nhất, các bậc cha mẹ khôn ngoan sáng suốt đã có thể nhìn xa thấy trước. Họ  nuôi nấng, bảo vệ và dạy dỗ con cái của họ từ lúc còn thơ ấu cho đến tuổi trưởng thành, có sự giáo dục đầy đủ, trở nên độc lập và không còn phụ thuộc vào cha mẹ. Các bậc cha mẹ cũng có thể tiên liệu được 5 điều sau như là những sự mong đợi của họ từ phía con cái :

 1. Bhatovānobharissati

  - Con cái sẽ trưởng thành đúng như ý muốn của họ.

 2. Kiccavānokaissati

  - Con cái có thể làm thay những công việc của cha mẹ chúng.

 3. Kulavamsociramthassati

  -  Con cái sẽ giữ vững được dòng dõi và truyền thống của gia đình.

 4. Dāyajjampatipajjissati

  -  Con cái sẽ hoàn thiện được đạo đức của chúng và xứng đáng với những gì mà chúng được thừa kế.

 5. Petānandakhinananuppadassati

  - Sau khi họ chết đi, con cái sẽ thực hiện việc bố thí và chia xẻ những phẩm hạnh xứng đáng.

     5 điều mong đợi của các bậc cha mẹ đối với con cái là :

  1. Con cái sẽ trưởng thành đúng như ý muốn của họ

Những bậc cha mẹ khôn ngoan sáng suốt biết trước rằng, trong tương lai họ sẽ trở nên già yếu. Đến lúc đó, họ sẽ không còn khả năng nấu nướng và chuẩn bị các loại thức ăn cho chính mình. Họ cũng không còn khả năng tự tắm rửa, mặc quần áo và làm vệ sinh thân thể cho chính mình. Khi đã trở nên già yếu. Họ chỉ còn trông mong vào con cái của mình, những người mà họ đã nuôi nấng từ lúc còn ẵm ngửa cho đến tuổi trưởng thành. Khi những người làm con đã có được sự giáo dục đầy đủ và trở nên độc lập, họ phải trở lại nuôi dưỡng và chăm sóc cha mẹ của mình giống như cha mẹ của họ đã từng làm với họ trước đó. Đây là điều mà các bậc cha mẹ khôn ngoan sáng suốt luôn luôn trông mong vào con cái của họ.

Tóm tắt: Khi đã già yếu, các bậc làm cha mẹ luôn trông mong vào sự chăm sóc của con cái.

  2. Con cái của họ sẽ có thể làm thay những công việc của cha mẹ chúng

Những bậc cha mẹ khôn ngoan sáng suốt biết trước rằng, với thời gian, họ sẽ trở nên già yếu. Lúc đó, nếu còn sống, họ cũng sẽ không còn khả năng làm việc, tìm kiếm của cải, giao tiếp xã hội hay quan hệ tôn giáo…Khi đã trở nên già yếu và không còn khả năng làm được việc gì, họ chỉ còn trông mong vào con cái của mình, những người mà họ đã nuôi nấng từ lúc còn ẵm ngửa cho đến tuổi trưởng thành. Khi những người làm con đã có được sự giáo dục đầy đủ và trở nên độc lập trong cuộc sống, họ phải trở lại giúp đỡ cha mẹ của mình trong mọi công việc cần thiết. Đây là điều mà các bậc cha mẹ khôn ngoan sáng suốt luôn luôn trông mong vào con cái của họ.

Tóm tắt: Con cái phải thay cha mẹ thực hiện công việc gia đình

 3. Con cái phải giữ vững được dòng dõi và truyền thống của gia đình

 Những bậc cha mẹ khôn ngoan sáng suốt biết trước rằng, chắc chắn vào một ngày nào đó họ sẽ chết. Vì vậy,họ luôn luôn mong rằng sau khi họ chết, con cái của họ có thể đứng ra gánh vác những trách nhiệm của gia đình thay cho họ. Khi đã khôn lớn, chúng có thể tiếp bước họ trong việc duy trì dòng dõi và truyền thống của gia đình, không để cho danh giá của gia đình bị mất đi. Đây là những điều mà các bậc cha mẹ khôn ngoan sáng suốt luôn luôn trông mong vào con cái của họ.

Tóm tắt:  Con cái sẽ phải giữ vững được dòng dõi và truyền thống của gia đình sao cho được dài lâu.

Dòng dõi và truyền thống của gia đình do cha mẹ để lại có 2 dạng :

 a. Công việc làm ăn và buôn bán kinh doanh của cha mẹ trên cõi thế gian

 b. Tôn giáo và những lời giáo huấn mà cha mẹ đã gìn giữ và tôn kính

 - Những người làm con cái phải biết gìn giữ những phương kế sinh nhai chân chánh do cha mẹ để lại sao cho được lâu dài, đừng để chúng bị mai một hay mất mát. Nếu cha mẹ là những thương gia, con cái của họ phải biết cách giữ gìn sự nghiệp buôn bán của cha mẹ mình và làm cho nó phát triển hơn, đừng để cho sự nghiệp buôn bán của cha mẹ bị giảm sút hay mất mát. Nếu cha mẹ là nhân viên làm việc cho nhà nước, những người làm con phải duy trì được thân thế hay địa vị xã hội của họ giống như cha mẹ mình đã từng có, đừng để thân thế hay địa vị xã hội của mình thua sút cha mẹ khi họ đang còn sống và phải duy trì tình trạng ấy được dài lâu.

- Trong những vấn đề về tôn giáo, những người làm con phải biết gìn giữ và duy trì được những công việc tốt lành mà cha mẹ của họ đã từng thực hiện trong quá khứ như : Bổn phận cúng dường vật thực, xây dựng và bảo trì các ảnh tượng Phật, chùa chiền, các tu viện hay tịnh xá…

  4. Con cái của họ sẽ hoàn thiện được tư cách đạo đức để xứng đáng với những gì mà chúng được thừa kế

Những bậc cha mẹ khôn ngoan sáng suốt biết trước rằng, chắc chắn một ngày nào đó họ sẽ chết. Vì vậy, họ luôn luôn trông mong con cái của họ - những người đã được giáo dục một cách đầy đủ và đã khôn lớn, những người mà họ đã nuôi nấng từ khi còn ẳm ngửa cho đến tuổi trưởng thành sẽ có khả năng tiếp nối bước chân của họ, có đạo đức tốt và xứng đáng với những gì mà những người này đã được thừa kế như : Của cải, uy tín của gia đình, địa vị xã hội… Bởi vì tất cả những di sản mà cha mẹ để lại cho con cái là những điều quí báu và phải khó nhọc mới tìm kiếm được. Đây là điều mà các bậc cha mẹ khôn ngoan sáng suốt luôn trông mong vào con cái của họ.

Tóm tắt: Những người làm con phải cố gắng làm sao để xứng đáng với những gì mà họ đã được thừa kế.

     Việc xứng đáng của con cái đối với những di sản được thừa kế do cha mẹ để lại có 3 dạng:

 a. Atijātaputta

    - Con cái đã trở nên tốt đẹp hơn cha mẹ mình

 b.  Anujātaputta

    -  Con cái đã trở nên bằng cha mẹ mình

  c. Avājataputta

    -  Con cái đã trở nên thấp kém hơn cha mẹ mình

 Con cái đã trở nên tốt đẹp hơn cha mẹ mình :

 Những người làm con vững vàng trong cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp hơn cha mẹ mình trong công việc kinh doanh làm ăn buôn bán, trong giáo dục hay trong phẩm chất nghề nghiệp. Đối với những công việc thiêng liêng trong tôn giáo, những người làm con ấy cũng đã gặt hái nhiều thành quả tốt đẹp hơn cha mẹ của mình như việc giữ Giới, khả năng định tâm và trí tuệ ( Paññā – Intelligence). Đây là dạng con cái được biết đến như là những Atijātaputta.    

 Con cái đã trở nên bằng cha mẹ mình

 Những người làm con đã trở nên bằng được cha mẹ mình trong các công việc trên thế gian như : Kinh doanh buôn bán, giáo dục hay phẩm chất nghề nghiệp… để làm kế sinh nhai. Đối với những công việc thiêng liêng trong tôn giáo như : Giữ Giới, khả năng định tâm và trí tuệ, họ cũng đã bằng được cha mẹ mình. Đây là dạng con cái được biết đến như những Anujātaputta.

 

 Con cái đã trở nên thấp kém hơn cha mẹ mình

Những người làm con không có được những phẩm chất ngang bằng cha mẹ mình trong các công việc ở thế gian như : Phát triển sự nghiệp làm ăn buôn bán kinh doanh, giáo dục hay phẩm chất nghề nghiệp… Đối với những công việc thiêng liêng trong tôn giáo như : Giữ giới, khả năng định tâm và trí tuệ, họ thấp kém hơn cha mẹ mình. Thậm chí, họ cũng không hề quan tâm đến những công việc đó. Đây là dạng con cái được biết đến như những Avajātaputta. Trong 3 dạng con cái đã nêu trên, dạng con cái không thể giữ Giới bằng cha mẹ của mình vẫn còn xứng đáng với những di sản mà họ đã được thừa kế. Tuy nhiên, nếu tính cách của họ quá xấu như thường xuyên sát sanh, trộm cắp, tà dâm… thì họ sẽ không còn xứng đáng với những di sản mà họ đã thừa kế nữa. Vì vậy, các bậc cha mẹ khôn ngoan sáng suốt luôn luôn mong muốn cho con cái của họ có đạo đức tốt và xứng đáng với những di sản mà chúng đã được thừa kế.

 5. Sau khi họ chết đi, con cái sẽ thực hiện việc bố thí và chia xẻ những phẩm hạnh xứng đáng

 Những bậc cha mẹ khôn ngoan sáng suốt biết trước rằng, nếu khi đang còn sống trong thế giới loài người, họ chưa hoàn thành được việc thực hành thiền của mình thì đến khi tái sanh, có thể họ sẽ bị sinh vào những cảnh giới thấp kém. Nếu tình trạng đó xảy ra thật thì con cái sẽ làm thay cho họ như một người đại diện trong các công việc giữ Giới, bố thí, thực hiện những công việc tốt lành và chia xẻ phước báu. Đây là điều mà các bậc cha mẹ khôn ngoan sáng suốt luôn luôn trông mong vào con cái của họ.

Tóm tắt: Sau khi cha mẹ đã chết đi, những người làm con phải thực hiện những hành động xứng đáng và chia xẻ phước báu thay cho họ.

 Năm điều trông mong ở cái của các bậc cha mẹ khôn ngoan sáng suốt được nêu trên đây là do Đức Phật chỉ dạy trong Kinh Giáo thọ Thi Ca La Việt

 ( Sangālovāda Sutta). Nếu những người làm con của các bậc cha mẹ thiện lành có thể hoàn thành được 5 loại nghĩa vụ đúng theo 5 sự trông mong của cha mẹ mình, họ sẽ gặt hái được phước báu trong cuộc sống ở thế gian và xuất thế gian. Trong những kiếp sống mai hậu, họ sẽ gặp được những bậc cha mẹ thiện lành, phước báu của họ sẽ được gia tăng. Họ sẽ gặt hái được nhiều lợi ích trong cõi thế gian và xuất thế gian cho đến khi đạt tới Niết Bàn.

 

        5 phẩm chất trọn vẹn của sự bố thí cao thượng    

 

 Các Phật tử thường xem trọng việc bố thí ( Dāna - to give alms). Hai tay họ luôn luôn bận rộn với việc thảy nước cúng và các phương tiện cúng tế. Họ thực hiện các điều ước khi bố thí và nghĩ rằng việc bố thí bắt nguồn từ niềm tin. Nếu làm như vậy thì họ sẽ thu được những phước báu. Thông thường, những người Phật tử thực hành bố thí khi họ tình cờ bắt gặp những đối tượng tốt có thể thỏa mãn giác quan của họ. Tuy nhiên, Đức Phật đã truyền bá rằng, ngày xưa, những người có đạo đức thường thực hành bố thí theo 5 phẩm chất sau đây :

 1. Saddhā dāna - Bố thí do có niềm tin

 2. Sakkacca dāna  - Bố thí với sự tôn trọng

 3. Kāla dāna – Bố thí đúng thời

 4. Anāggahita dānā – Bố thí với tâm không còn quyến luyến vào của cải

 5. Anupahacca dānā – Bố thí mà không làm tổn thương mình và người khác.

 - Một cá nhân đem của cải đi bố thí. Tuy nhiên anh ta không tôn trọng người nhận, bởi vì anh ta không tin rằng bố thí là một thiện nghiệp ( Kusala kamma – Meritorious action) mang lại nhiều lợi ích. Người này đã thực hành bố thí như là những nghĩa vụ xã hội ( social obligations), nghĩa là anh ta đã bố thí như một sự đáp trả ơn nghĩa đối với người khác. Trong những kiếp sống ở tương, lai dạng người này cũng sẽ có nhiều của cải và các đồ vật có giá trị. Tuy nhiên, diện mạo của họ sẽ rất xấu xí, có thể xấu đến nổi không có ai muốn nhìn. Một cá nhân khi thực hành bố thí cần phải biết tôn trọng người nhận và tin rằng bố thí là thiện nghiệp sẽ mang lại nhiều lợi ích.

Bố thí vì tin rằng hành động này là thiện nghiệp 

Khi những của cải bố thí được trao tận tay người nhận. Những thứ vật chất này cần có nguồn gốc từ tâm tự nguyện ( Cetanā – Volition). Vì vậy, chúng cần phải được tận tay các thí chủ ban phát mới có nhiều ý nghĩa. Tâm tự nguyện là một hiện tượng thuộc về tinh thần. Vì vậy, nó không thể nhìn thấy được bằng mắt thường. Nó bắt đầu trong chính người bố thí và từ đó sinh ra những lợi ích hỗ tương, nghĩa là người nhận cũng có lợi và người cho cũng có lợi, nhất là khi người mang tâm muốn bố thí tận tay thực hiện việc trao quà. Đây chính là niềm tin rằng bố thí là một thiện nghiệp.

 Niềm tin vào lợi ích của việc bố thí bởi vì nó là thiện nghiệp

Trong việc bố thí, sát na tâm ( Javana citta) đầu tiên bị thúc đẩy bởi tâm tự nguyện rằng, hành động này thế nào cũng mang lại lợi ích cho bản thân người bố thí lẫn người nhận của cải bố thí. Khi tâm tự nguyện thúc đẩy ý thức về lợi ích của việc bố thí, 7 giây đồng sau nó đã hiện hữu trong thế giới của loài người và 6 cõi trời của Chư Thiên. Tâm tự nguyện chỉ cần thúc đẩy ý thức đến giây thứ 5 thì ảnh hưởng của nó đã có thể kéo dài đến 3 đời sau, cho tới khi người bố thí đạt tới Niết Bàn. Vì vậy người ta tin rằng bố thí là một thiện nghiệp sẽ mang lại rất nhiều lợi ích. Những người thực hành bố thí với niềm tin như thế sẽ trở nên giàu có và thịnh vượng trong những kiếp sống mai sau. Họ sẽ có được diện mạo cực kỳ xinh đẹp, có sức lôi cuốn cao và làm cho những người ngắm nhìn họ cảm thấy thích thú.

Tóm tắt: Bố thí với niềm tin sẽ mang lại cho người thực hiện nó một diện mạo cực kỳ xinh đẹp trong những kiếp sống mai sau.

- Một cá nhân không chuẩn bị các của cải bố thí tốt lành, sạch sẽ, chu đáo, gọn gàng và cẩn thận thì khi bố thí, anh ta sẽ không thể làm cho những người nhận quà kính trọng được. Nếu như vậy, những của cải mà anh ta bỏ ra bố thí xem như đã bị vứt qua cửa sổ. Anh ta cũng không tự tay trao quà bố thí mà nhờ những người khác làm thay mình. Trong những kiếp sống kế tiếp, người bố thí theo kiểu này có thể có nhiều của cải và được giàu có.

Tuy nhiên, con cái, các thành viên trong gia đình và thợ thầy của anh ta sẽ không chịu nghe lời anh ta. Họ sẽ không tôn trọng anh ta và phản đối lại những gì anh ta mong muốn. Ngược lại, một cá nhân biết chuẩn bị những của bố thí tốt lành, sạch sẽ ,chu đáo gọn gàng và cẩn thận. Anh ta dâng quà bố thí bằng cả 2 tay và thể hiện sự tôn trọng người nhận của cải bố thí. Trong những kiếp sống kế tiếp, người bố thí theo kiểu này sẽ có nhiều của cải và được giàu có. Con cái, các thành viên trong gia đình và thợ thầy của anh ta sẽ biết lắng nghe và tôn trọng anh ta.

Tóm tắt: Người thực hiện bố thí với sự tôn trọng sẽ được mọi người lắng nghe và kính trọng.

 - Một cá nhân khi dâng của bố thí nhưng không biết chọn lựa thời điểm và các món quà bố thí thích hợp với người nhận. Anh ta chỉ bố thí những thứ mà mình có thể kiếm được vào bất cứ lúc nào mà anh ta có thể. Trong những kiếp sống về sau, người bố thí theo kiểu này lúc còn trẻ không thể giàu có được. Tuy nhiên, khi về già anh ta có thể trở nên thịnh vượng, có thể kiếm được nhiều thứ mà mình mong muốn. Ngược lại, một cá nhân khi thực hiện bố thí biết chọn lựa thời điểm và những món quà bố thí thích hợp với người nhận. Trong những kiếp sống kế tiếp, người bố thí theo kiểu này lúc còn trẻ sẽ trở nên giàu có. Anh ta sẽ có được nhiều vàng bạc châu báu đúng theo sở nguyện của mình và đúng vào lúc anh ta cần thiết.

Tóm tắt: Biết thực hiện bố thí đúng thời sẽ được giàu sớm trong những kiếp sống kế tiếp.

 - Một cá nhân nào đó khi mang của cải đi bố thí mà vẫn còn tiếc nuối và quyến luyến vào những của cải ấy. Dạng người bố thí này có thể trở nên giàu có trong những kiếp ở tương lai. Anh ta sẽ có nhiều của cải nhưng không biết cách xử dụng chúng hoặc không có ý muốn xử dụng. Anh ta sẽ không biết cách ăn ngon mặc đẹp mà chỉ ăn những loại thức ăn tồi tàn và mặc những loại áo quần có phẩm chất kém. Ngược lại, một cá nhân khi dâng của cải bố thí mà không hề tiếc nuối hay quyến luyến vào những của cải ấy, anh ta bố thí một cách tự nhiên và thoải mái. Dạng người bố thí theo kiểu này sẽ được giàu có trong những kiếp sống ở tương lai. Nếu thích ăn ngon mặc đẹp thì anh ta sẽ có được những điều ấy.

Tóm tắt: Nếu bố thí mà không tiếc nuối hay quyến luyến vào những của cải đem đi bố thí thì sẽ được thoả mãn ước nguyện.

 - Một cá nhân khi dâng của bố thí nhưng có thái độ khinh thường người nhận quà và chỉ tán dương của cải bố thí của mình. Người bố thí theo kiểu này trong những kiếp sống sau có thể được giàu có. Tuy nhiên, những của cải của anh ta sẽ bị phá huỷ bởi hoả hoạn, lụt lội, bị kẻ cướp chấn lột hoặc bị những người thừa kế không xứng đáng làm cho tiêu tán đi. Ngược lại, một người khi bố thí nhưng không có thái độ xem thường người khác và cũng không khoe khoang khoát lác về những của cải mà mình đem đi bố thí. Anh ta thực hiện bố thí vì lợi ích của những người nhận bố thí. Trong những kiếp sống ở tương lai, người bố thí theo kiểu này sẽ được giàu có. Những của cải của anh ta sẽ không bị phá huỷ bởi hoả hoạn, lụt lội, không bị tịch thu và không bị kẻ cướp chấn lột. Vì vậy, tài sản của anh ta sẽ ở lại với anh ta một cách lâu dài hơn.

Tóm tắt: Nếu bố thí với thái độ tôn trọng người nhận của bố thí, sẽ gìn giữ của cải được dài lâu mà không bị phá huỷ bởi bất cứ cái gì.

  Đó là lý do tại sao, những người làm con của các bậc cha mẹ đáng kính khi thực hiện bố thí phải cố gắng hoàn thành 5 điều sau :

1.     Bố thí với niềm tin tốt đẹp

 2. Trân trọng người nhận của bố thí

 3. Bố thí đúng thời và biết cách chọn quà bố thí thích hợp với người nhận

 4. Không tiếc nuối hay quyến luyến vào những của cải đem đi bố thí

 5. Không đề cao những của cải mà mình bố thí, không khinh thường người nhận bố thí, thực hiện bố thí với tâm tự nguyện, tâm ý tốt lành với một tinh thần hăng hái nhiệt tình.    

 

                                     Điềm lành của Thingyan

 

Người Miến Điện đặc biệt rất thích lễ hội Thingyan và đây là một nét văn hoá của đất nước họ. Trong lễ hội Thingyan, rất nhiều người Miến Điện thích vui đùa với trò chơi té nước. Những người khác thì thực hiện những hành động xứng đáng, đặc biệt họ rất thích thực hành Phật Pháp. Những người thích vui đùa trong lễ hội này thường bỏ ra từ 4 đến 5 ngày trước lễ để chuẩn bị mọi thứ. Người ta sẽ cho dựng những ngôi nhà tạm để chứa nước, hệ thống ống dẫn để xịt nước hay té nước và nhiều thứ khác. Họ cũng tổ chức xe hoa trang trí rất đẹp, chạy quanh thành phố để mọi người thưởng ngoạn. Người ta bắt đầu thực hiện trò chơi té nước vào ngày đầu tiên của lễ hội Thingyan. Tại các ngôi nhà đã dựng sẵn để phục vụ cho lễ hội sẽ có các cuộc trình diễn âm nhạc và nhảy múa. Trong thời gian diễn ra lễ hội Thingyan, tất cả người dân Miến Điện từ già đến trẻ đều mong muốn thực hiện những hành động xứng đáng. Họ đi đến các tu viện hay tịnh xá, chùa chiền và các trung tâm thiền để dâng cúng vật thực, nước uống…Những thứ này đã được chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước. Họ thực hiện những công việc đó với tâm ý tốt lành và trong sáng. Trong ngày đầu tiên của lễ hội, họ bắt đầu giữ Giới và dâng cúng rất nhiều lễ vật với thời điểm thích hợp.

   Ý nghĩa của lễ hội Thingyan

 Ý nghĩa của lễ hội Thingyan là “ Chuyển đổi năm cũ thành năm mới”.

 Lễ hội này thường tiếp diễn trong khoảng thời gian từ 3 đến 4 ngày. Ngày xưa ở Miến Điện, những hiền nhân đã đánh dấu 3 ngày lễ chính là Thingyan akya, Thingyan akyat,Thingyan atet vàgọi chung 3 ngày này là lễ hội Thingyan ( lễ hội năm mới của Miến Điện – Myanmar festival ‘s new year). Ba hay bốn ngày lễ hội năm mới ở Miến Điện ( bao gồm cả ngày mở đầu lễ hội) cũng được gọi là Thingyan kya. Từ Thingyan kya phát xuất từ gốc Pāli là Sankanta, nghĩa là cát chảy. Ngày xưa ở Miến Điện, mỗi khi người ta thấy cát trên các đụn cát hay đồi cát… chảy xuôi như nước thì họ biết rằng năm mới sắp đến. Đó là lý do tại sao ở Miến Điện, trong 3 hay 4 ngày lễ hội Thingyan, ai ai cũng đều ước muốn mọi việc xảy ra êm xuôi và trôi chảy như cát để tiễn đưa năm cũ và đón một năm mới. Từ đó, người ta gọi việc

 “ tiễn đưa năm cũ đón năm mới” là Thingyankyathi.

Tóm tắt: Lễ mừng năm mới được người Miến Điện gọi là Thingyan.

 Những người Phật tử có tâm trí và cung cách đối xử tốt lành trong thời gian diễn ra lễ hội Thingyan sẽ gặt hái được những lợi ích tốt đẹp, được sống một năm mới hạnh phúc và tiếp tục thực hiện những hành động xứng đáng. Khi lễ hội Thingyan đến, trong ngày đầu tiên của lễ hội, trẻ em và những người thích vui đùa sẽ chơi trò té nước trong một bầu không khí rất vui vẻ và yêu thương tử tế. Rất nhiều người bị ướt hết quần áo do bị té nước lên người. Tuy nhiên, tất cả họ đều cảm thấy rất hài lòng và không hề tỏ ra bực tức hay sân hận gì cả. Cả người trẻ lẫn người già đều mong muốn gặt hái được những phước báu. Họ đi đến các tu viện hay tịnh xá, các chùa chiền hay trung tâm thiền để dâng cúng vật thực, thực hiện việc giữ Giới, thực hành thiền và cố gắng xử dụng thời gian có được một cách lợi ích nhất.

 Mục đích của việc té nước

 Mục đích của việc té nước cũng có tác dụng như đặc tính của nước. Nước có 2 đặc tính là mát và có thể tẩy sạch các chất bẩn.

 1. Mục đích té nước của người Miến Điện trong lễ hội Thingyan là để mang lại sự bình yên, thoát khỏi những hiểm nguy và có thể sống trọn một năm mới trong trạng thái sức khoẻ tốt, được hạnh phúc về mặt thể xác và tinh thần. Với mục đích từ tâm như vậy, người ta sẽ té hay xịt nước lên thân thể của nhiều người khác, bất luận đó là ai và người nào cũng có quyền té nước lên thân thể của người khác. Mang sẵn tâm từ ( Mettā – Loving kindness) trước khi té nước lên người khác, khi bắt đầu thực hiện hành động này, người té nước trải rộng tâm từ lên nhiều người khác. Người bị nước té trúng cũng phải mang trong tâm mình ý nghĩ tốt lành rằng, người ta đã té nước lên thân thể mình là để cầu mong cho chính mình được an vui hạnh phúc. Ngược lại, người bị nước té trúng cũng phải cầu chúc cho người đã té nước vào mình sẽ thoát khỏi những hiểm nguy, sống trọn một năm mới với sức khoẻ dồi dào, được hạnh phúc về thể xác và tinh thần. Vì vậy, anh ta cũng trải tâm từ của mình ra một cách hỗ tương qua lại với nhiều người khác.

Tóm tắt: Nước được té ra với mục đích cầu mong có được sự bình yên.

2.     Mục đích thứ hai của việc té nước trong lễ hội Thingyan là để tẩy sạch những điều dơ bẩn. Đây cũng là một cách thực hành Phật Pháp để tẩy sạch những thứ ô nhiễm trong tâm như :  Tham lam, sân hận và vọng tưởng.

Bởi vì người té nước lên người khác phải luôn mang tâm từ ( Mettà – Loving kindness), nên trong mỗi lần thực hiện hành động té nước, anh ta đều rãi tâm từ lên người khác. Người bị nước té trúng cũng phải mang tâm từ rằng người kia đã thực hiện một hành động xứng đáng là cầu chúc cho mình được thoát khỏi luân hồi ( Samsāra). Nước được té ra sẽ rửa sạch những nguyên nhân có thể làm cho anh ta đau khổ như tính tham lam, sân hận và vọng tưởng. Những nguyên nhân này có thể làm cho tâm trí của anh ta trở nên ô nhiễm. Vì vậy, anh ta cũng rãi tâm từ của mình ra với người kia.

Tóm tắtNước được té ra với mục đích tẩy sạch những thứ ô nhiễm.

 Người già và những bậc đáng kính mong muốn gặt hái được phước báu để có được một cuộc sống tốt đẹp bằng cách đi đến các tu viện hay tịnh xá, chùa chiền và các trung tâm thiền để bố thí, giữ Giới và thực hành thiền minh sát trong thời gian diễn ra lễ hội Thingyan. Bằng cách bố thí trong thời gian diễn ra lễ hội Thingyan, bắt đầu từ đây cho đến những kiếp sống về sau, bạn sẽ gặt hái được nhiều lợi ích là có nhiều của cải. Từ lễ hội này, bạn có thể tin chắc rằng trong những kiếp sống ở tương lai, bản thân mình sẽ được :

 a. Sống lâu

 b. Có diện mạo xinh đẹp

 c. Được hạnh phúc và bình yên trong thân tâm

 d. Có nhiều bạn bè và nhiều người quan tâm chăm sóc

 e. Có quyền hành

 Đó là lý do tại sao, việc bố thí trong thời gian diễn ra lễ hội Thingyan là một lối sống tốt đẹp. Bằng cách giữ Giới trong thời gian lễ hội Thingyan đang diễn ra, bạn sẽ gặt hái được những lợi ích sau :

  a. Kiếm được của cải và sự giàu có một cách dễ dàng.

  b. Có được danh tiếng tốt.

  c. Được tiếp kiến với nhiều người có địa vị xã hội cao sang quyền quí.

  d. Khi sắp chết sẽ thấy các dấu hiệu tốt lành và được chết trong bình yên.

  e. Sau khi chết  được tái sanh vào cõi trời.  

 Những người đã gặt hái được 5 lợi ích trên sẽ có những kiếp sống tương lai tốt đẹp, được sống lâu, ít bị bệnh tật. Khi thực hành thiền minh sát. Họ sẽ khả năng phát triển trạng thái định tâm rất nhanh chóng. Đó là lý do tại sao, việc giữ Giới trong khoảng thời gian diễn ra lễ hội Thingyan là một cách sống tốt đẹp.Thực hành thiền minh sát trong khoảng thời gian diễn ra lễ hội này cũng là một cách sống tốt đẹp. Đó chính là sự đáp ứng mong ước của Đức Phật. Chỉ thực hiện việc bố thí không thôi thì cũng chưa đủ để thỏa mãn được mong ước Đức Phật. Chỉ giữ Giới không thôi cũng chưa thể làm được điều đó. Thực hành thiền định không thôi cũng chưa đủ để đáp ứng mong mỏi của Đức Phật. Chỉ có thực hành thiền minh sát mới thật sự có thể thỏa mãn lòng mong ước của Đức Phật trước đây. Đó là lý do tại sao, thực hành thiền minh sát là một cách sống tốt đẹp. Khi còn là một vị Bồ-Tát, Đức Phật đã thực hành thiền minh sát trong 4 A-Tăng-Kỳ ( Catu Asainkheyya) và 100 ngàn đại kiếp ( Kappa) để tinh khiết hóa thân tâm của Ngài. Đức Phật không sống để hưởng thụ xa hoa trong thế giới của loài người, Chư Thiên và Phạm Thiên. Ngài sống với mục đích thoát khỏi địa ngục khổ đau và luân hồi để đạt tới Niết Bàn. Với mục đích cao cả này, Đức Phật đã hoàn thiện được hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính Ngài. Đó là lý do tại sao, thiền minh sát có thể dẫn dắt chúng ta đến với cõi Niết Bàn giống như Đức Phật đã đạt tới và đây là một cách sống tốt đẹp nhất trong khoảng thời gian diễn ra lễ hội Thingyan. Lễ hội này là khoảng thời gian tốt đẹp để những người Phật tử phát triển tâm từ ( Mettā) của mình qua việc té nước. Người Miến Điện thực hiện bố thí , giữ Giới, thực hành thiền định và thiền minh sát trong khoảng thời gian diễn ra lễ hội Thingyan để phát triển và gia tăng phước báu của họ. Đó là lý do tại sao, lễ hội Thingyan là khoảng thời gian để những người Phật tử thực hiện bố thí, thực hành Phật Pháp đúng như Hạnh Phúc Kinh ( Mangāla Sutta) đã nêu rõ. Lễ hội Thingyan là khoảng thời gian để những người Phật tử hoàn thiện những lời dạy của Đức Phật.

 

                                   Thoát khỏi địa ngục

 

 Những người Phật tử thật sự sợ hãi địa ngục ( Niraya - Hell), mặc dù họ không thể thấy được những khổ đau ở đó. Từ những lời thuyết Pháp của Đức Phật, họ biết rằng địa ngục là có thật. Những khổ đau trong thế giới của loài người không thể so sánh được với những khổ đau cùng cực ở địa ngục. Địa ngục quả thật là khủng khiếp và ghê rợn. Vì biết như vậy, những người Phật tử luôn luôn cố gắng tránh xa những hành động bất thiện ( Akusala kamma) có thể dẫn dắt họ xuống địa ngục. Để thoát khỏi địa ngục đầy khổ đau, những người Phật tử luôn luôn cố gắng thực hiện càng nhiều hành động xứng đáng càng tốt, mỗi khi họ có thể. Đặc biệt họ thường thực hành thiền minh sát để quyết tâm thoát khỏi địa ngục và trở thành một Tu-Đà-Hườn

 ( Sotāpañña – Stream winner ) - người đã hoàn toàn thoát khỏi những khổ đau ở địa ngục.Những người đã phạm phải những tội lỗi nghiêm trọng sẽ bị đọa xuống địa ngục trong nhiều kiếp sống, tuỳ theo mức độ phạm tội nặng nhẹ của họ. Tuy nhiên, đến khi đã hết hạn đọa đầy ở địa ngục và được tái sanh vào thế giới của loài người, họ vẫn còn phải gặp thêm nhiều tình huống bất như ý. Những tình huống khó chịu này xảy đến với họ như là nghiệp báo ( Vipāka Vatta – retribution). Cho đến khi họ đạt tới Niết Bàn thì nghiệp báo này mới thật sự chấm dứt. Chúng ta có thể thấy những nghiệp báo vừa nói ở trên trong các câu chuyện tái sanh của Đức Phật ( Túc sanh truyện -  Jātakas – the birth stories of the Buddha). Để thoát khỏi nghiệp báo, bạn cần phải thực hiện những hành động xứng đáng. Mặc dù những hành động xứng đáng mà một người nào đó đã thực hiện là nhằm để thoát khỏi nghiệp báo. Tuy nhiên, nếu người này đã phạm tội nghiêm trọng trong những kiếp sống ở quá khứ, anh ta cũng không thể thoát khỏi nghiệp báo. Vì biết hối cải lỗi lầm nghiêm trọng mà mình đã thực hiện, sau đó anh ta đã thực hành thiền minh sát và trở thành một Tu-Đà-Hườn ( Sotāpanna – Stream winner), một Tư-Đà-Hàm ( Sakadāgāmi – Once returner), một A-Na-Hàm ( Anāgāmi – non returner) hay một A-La-Hán ( Arahat – A Liberated) đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính mình, anh ta có thể thoát khỏi địa ngục. Mặc dù vậy, anh ta cũng không thể thoát được nghiệp báo có nguồn gốc từ những hành động sai lầm nghiêm trọng mà anh ta đã thực hiện trong nhiều kiếp sống ở quá khứ .

  Một Tu-Đà-Hườn vẫn phải chịu nghiệp báo

 Thứ hậu Sāmāvati và 500  người hầu gái của bà đã ra trước toà án của vua Brahmadatta ở Bārānasī ( kinh đô của xứ Ba-la-nại / Benares) khi hạnh nguyện Ba-La-Mật của họ hãy còn non nớt. Một ngày nọ, họ đi đến một bờ sông để tắm và chơi đùa. Khi vừa bước lên bờ, họ cảm thấy lạnh cóng. Ở gần đó có một bụi cây lớn và họ đã châm lửa đốt bụi cây để sưởi ấm. Khi ngọn lửa đã tắt, họ nhìn thấy giữa đống tro tàn xuất hiện một vị Phật Độc Giác ( Pacceka Buddha – Silent Buddha). Vị Phật này vẫn thường lui tới khất thực tại các toà nhà tráng lệ gần đó. Tuy vậy, họ vẫn tiếp tục đốt lửa thêm một lần nữa mà không đếm xỉa gì đến vị Phật Độc giác đang đi trong một bụi cây lớn. Sau đó, họ cảm thấy rất sợ hãi vì có thể bị trừng phạt nếu nhà vua biết được chuyện họ đã đốt cháy bụi cây trong đó có vị Phật Độc giác để sưởi ấm và làm vị Phật này biến mất đi. Bởi vì đã đốt bụi cây trong đó có vị Phật Độc Giác, thứ hậu Sāmāvati và 500 người hầu gái đã phải chịu khổ đau ở địa ngục hơn 100 ngàn năm. Khi đã mãn hạn đọa đày dưới địa ngục và được tái sanh vào cõi người, họ vẫn còn tiếp tục phải chịu nhiều tai ương. Trong vòng 100 kiếp sống, nhà ở của họ bị lửa thiêu rụi, tất cả mọi người trong nhà đều chết cháy. Họ đã phải chịu nghiệp báo, bởi vì những hành động tội lỗi trong quá khứ mà họ đã từng thực hiện. Trong thời Đức Phật Cồ-Đàm còn tại thế. Họ đã trở thành những Tu-Đà-Hườn sau khi lắng nghe người hầu gái Khujjuttara thuật lại những lời thuyết Pháp của Đức Phật. Kể từ đó, họ đã hoàn toàn thoát khỏi địa ngục. Tuy nhiên, nghiệp báo do họ đã châm lửa đốt vị Phật Độc Giác năm xưa vẫn luôn theo đuổi và chưa chịu buông tha cho họ. Một ngày nọ, vua Brahmadatta đã sai đối thủ của thứ hậu Sāmāvati (cậu ruột của bà) là một Bà-La-Môn quét thạch du ( tức dầu thô mới khai thác chưa qua tinh lọc) lên toàn bộ căn nhà của bà. Sau khi đã đóng chặt các cửa ra vào của căn nhà, nơi thứ hậu Sāmāvati và 500 người hầu gái đang ở, Vị Bà-La-Môn nọ đã châm lửa và thiêu cháy căn nhà. Thứ hậu và tất cả 500 người hầu gái đều bị lửa thiêu chết. Qua câu chuyện này, chúng ta có thể thấy được nghiệp báo của những hành động phạm tội nghiệm trọng là vô cùng thảm khốc và dai dẳng.

Tóm tắtMặc dù có thể thoát khỏi được địa ngục. Tuy nhiên, chúng ta không thể thoát được nghiệp báo có nguồn gốc từ những hành động tội lỗi nghiêm trọng mà mình đã gây ra.

 Một A-La-Hán cũng không thể thoát được nghiệp báo

Tôn giả Đại Mục-Kiền-Liên( Asin Mahāmoggalāna) là một ví dụ điển hình cho luật nghiệp báo. Trong một kiếp sống ở quá khứ, khi hạnh nguyện Ba-La-Mật của Ngài hãy còn non nớt, vì nghe lời xúi giục của vợ mình, Ngài đã đặt cha mẹ mù loà của Ngài lên xe bò và giả vờ nói với họ rằng Ngài sẽ đưa họ đến thăm những người bà con. Khi tất cả họ vừa đến một khu đất hoang cỏ dại mọc um tùm , Ngài Mục-Kiền-Liên giả vờ la lên như thể bị cướp để che dấu tội ác của mình. Tiếp đến, Ngài đã đánh chết cha mẹ của Ngài và bỏ xác họ lại trong khu đất hoang. Vì đã phạm một tội lỗi cực kỳ tàn ác, Ngài Mục-Kiền-Liên đã phải chịu cảnh khổ đau ở địa ngục trong suốt 100 ngàn năm. Khi đã hết thời gian bị đọa đày ở địa ngục và tái sanh vào cõi người, Ngài Mục-Kiền-Liên vẫn phải tiếp tục chịu đựng nghiệp báo. Trong hơn 100 kiếp sống liên tiếp, Ngài đã bị người ta đánh chết. Thậm chí trong kiếp sống cuối cùng của Ngài, khi đã trở thành một vị A-La-Hán cao thượng và có nhiều năng lực thần thông, Ngài vẫn còn bị nghiệp báo theo đuổi và hành hạ cho đến chết vì tội lỗi tàn ác là giết chết cha mẹ mình năm xưa.

Một thời, Tôn giả Mục-Kiền-Liên đang trú tại một tu viện được xây bằng đá thanh ở gần thành Vương – Xá, bên cạnh đồi Isigili ( tức Vườn Nai ở  Sarnath). Những người theo tà giáo (Titthiyas – The peoples who follow the heterodoxy ) đã ghen tị với Ngài Mục- Kiền-Liên, bởi vì Ngài được công chúng ngưỡng mộ và tôn kính. Một ngày nọ, những tên cướp tà giáo đã giết chết Ngài và lấy đi 1000 đồng bạc. Lần đầu tiên , những tên cướp tà giáo đã bao vây tu viện nói ở trên để tìm cách giết Ngài Mục-Kiền- Liên. Tuy nhiên, Ngài đã dùng thần thông thoát được qua lỗ khoá cửa. Lần thứ hai, khi bị các tên cướp tà giáo bao vây, Ngài Mục- Kiền-Liên cũng đã dùng thần thông bay lên mái nhà và đi bộ trong không trung để thoát thân. Khi bị những tên cướp bao vây lần thứ ba, Ngài tự biết rằng mình không thể nào thoát được nghiệp báo do đã giết chết cha mẹ trong quá khứ - khi hạnh Ba- La-Mật của Ngài hãy còn non nớt. Vì vậy, Ngài đã đầu hàng những tên cướp. Những tên cướp theo tà giáo đã đánh vị Trưởng Lão cho đến khi xương của Ngài vỡ vụn ra như những hạt gạo. Như vậy, sau khi phải chịu đựng những hành động đánh đập dã man của những tên cướp tà giáo, Ngài Mục-Kiền-Liên đã được giải thoát khỏi kiếp sống cuối cùng và không bao giờ còn trở lại luân hồi nữa. Chúng ta đã thấy rằng, Tôn giả Mục-Liền-Liên sau khi đã thoát khỏi cảnh đọa đày của địa ngục trong 100 ngàn năm. Tuy nhiên Ngài vẫn chưa thể thoát được nghiệp báo vì đã giết chết cha mẹ mình trong một kiếp sống ở quá khứ. Thậm chí khi đó Ngài đã là một vị A-La-Hán cao thượng. Đó là lý do tại sao có câu nói : “ Có thể thoát khỏi địa ngục nhưng không thể thoát khỏi nghiệp báo”.

 

      Sự thật cần biết về ngày trăng tròn tháng Vesakhà

 

 Ngày trăng tròn của tháng Vesakkhā ( khoảng tháng 4 hay tháng 5 dương lịch, thông thường trùng với ngày trăng tròn tháng 4 âm lịch của Việt Nam – Kason month) là một ngày tốt lành đối với những người Phật tử. Ngày này cũng là một ngày đặc biệt đối với Đức Phật Thích Ca. Nó là ngày mà Đức Phật đã có những lời giáo huấn đặc biệt. Trong ngày này, nước ở trên trời đã đổ xuống cây song thọ ( tức cây vô ưu - Sāla – Sal tree – tên khoa học là cây hoa đầu lân, dân gian thường gọi là cây chai- ND). Đức Phật đã Đản Sanh dưới cội cây này như được nói đến trong lịch sử Phật giáo. Cũng vào ngày này, dưới cội cây Bồ-Đề ( tức cây Giác Ngộ - Bodhi tree) bên dòng sông Ni-Liên-Thiền ( Neranjanā) tại Bồ-Đề-Đạo-Tràng hay Giác Thành ngày nay( tức Bodh Gaya – địa điểm cách Gaya, nơi hành hương của Ấn Độ giáo 6 dặm Anh về phía Nam) Đức Phật đã đạt tới giác ngộ tối thượng

( Supreme Enlightenment). Đó là lý do tại sao, ngày trăng tròn của tháng Vesakhā được biết đến là ngày của Đức Phật. Ngày trăng tròn tháng Vesakhā là một ngày tốt lành bởi vì vào ngày này, Bồ- Tát Cồ Đàm đã nhận được một lời tiên tri chắc chắn rằng Ngài sẽ thành Phật và sự thật Ngài đã trở thành Phật. Vào ngày này Ngài đã thật sự chấm dứt sự trở lại luân hồi trong kiếp sống cuối cùng. Đó là lý do tại sao, ngày trăng tròn của tháng Vesakhā là ngày đáng tôn kính nhất. Chúng ta có thể có được một sự hiểu biết đặc biệt về Đức Phật rằng trước đó 4 A-tăng-kỳ ( Catu Asainkheyya – Incalculables) và 100 ngàn đại kiếp ( Kappa – A world cycle - Một đại kiếp là một chu kỳ sinh diệt của thế giới) trong thời Đức Phật Nhiên Đăng

( Dīpankara Buddha) còn tại thế, Đức Phật Thích Ca lúc đó là một tu sĩ khổ hạnh có tên là Sumedhā.Vào thời kỳ đó, Đức Phật đang thực hành thiền minh sát. Với khả năng thực hành thiền của mình, Ngài có thể trở thành Phật Độc Giác. Tuy nhiên, Ngài đã không muốn đạt tới Niết Bàn một mình. Mong ước cao nhất của Ngài là cứu vớt được muôn loài chúng sanh đang khổ đau trong luân hồi ( Samsāra – Metempsychosis). Với lòng trắc ẩn vô biên và mục đích cao thượng, Ngài đã vượt qua tất cả những khổ đau trong 4 A-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp để hoàn thiện thân tâm và hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính mình. Chúng ta có thể nhận thấy rằng, Đức Phật là một ví dụ rõ ràng và cao đẹp trong sự hy sinh bản thân mình vì lợi ích của tha nhân. Đức Phật đã Đản sanh vào năm 68 của triều đại Mahā ( tức năm 623 trước CN) vào ngày trăng tròn của tháng Vesakhā ( nhằm ngày thứ sáu trong tuần) tại vườn Lâm-Tỳ-Ni ( Lumbini) thuộc thành Ca-Tỳ-La-Vệ ( Kapilavatthu). Ngày nay địa điểm này đã được xác định là vùng Terai thuộc Nepal – vùng đất giáp ranh biên giới giữa Ấn Độ và Nepal. Tuy nhiên, ngày xưa thì vùng này thuộc về Ấn Độ và là vùng đất nằm dưới sự cai quản của song thân Đức Phật ( Đức Vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Đại- Huyễn –Hoá / The King Suddhodana and Queen Mahāmāyā). Vào thời đó, hoàng hậu Đại Huyễn Hoá đã sắp đến ngày mãn nhụy khai hoa. Theo phong tục Ấn độ lúc bấy giờ, bà đã xin phép Đức vua Tịnh Phạn trở về quê của mình ở kinh đô Hồ-Thiên ( Devadaha) để Đản Sanh Đức Phật. Ở nơi đó, cha mẹ của bà cũng là vua và hoàng hậu đang cai quản một quốc độ lân bang với Ca-Tỳ-La-Vệ. Khi đang trên đường trở về quê hương, lúc vừa đến vườn Lâm-Tỳ-Ni, bà thấy phong cảnh hữu tình với chim ca, hoa nở, gió mát…Vì vậy, bà đã ra lệnh cho đoàn tuỳ tùng dừng lại để cất bước dạo chơi. Vào thời điểm này, trong vườn Lâm-Tỳ-Ni hoa Vô ưu đang trổ trái mùa thơm ngát, hoàng hậu thò tay phải nắm lấy một vòi hoa để thưởng ngoạn. Bổng nhiên, vòi hoa Vô- Ưu oằn xuống nhẹ nhàng vào tay bà. Hoàng hậu trở dạ và các tỳ nữ hối hả giăng màn phủ trướng. Trong giờ phút thiêng liêng ấy, hoàng hậu đang đứng và bà đã Đản sanh Đức Phật từ hông bên phải. Từ đó, Đức Phật duỗi thẳng chân, nhẹ nhàng hạ thổ và bước đi. Từ dưới lòng đất, bổng nhiên trồi lên 7 đoá hoa sen thơm ngát nâng đỡ từng bước chân của Ngài. Năm 103 thuộc triều đại Mahā ( tức năm 589 trước CN), vào ngày trăng tròn của tháng Vesakhā

( nhằm ngày thứ tư trong tuần), Đức Phật Thích Ca đã đạt tới giác ngộ tối thượng dưới cội cây Bồ-Đề. Vào đầu hôm ( canh một), Ngài đã gặt hái được năng lực tinh thần cao nhất và nhớ lại những kiếp sống của mình ở quá khứ

( Tuệ hồi nhớ tiền kiếp, còn gọi là Túc mạng minh – Pubbenivāsa Ñāna / Remember past existences ‘s brainpower). Vào lúc nữa đêm ( canh giữa), Ngài đã đạt tới năng lực thấu thị siêu phàm và có thể thấy được bất cứ điều gì đang xảy đến cho muôn loài chúng sinh ở khắp mọi nơi trong vũ trụ

( Thiên nhãn minh – Dibbacakkha Ñāna / Buddha ‘s eyes brainpower).

Vào cuối đêm ( canh ba), Ngài đạt tới năng lực loại bỏ hoàn toàn những thứ ô nhiễm trong tâm ( Lậu tận minh – Āsavekkhaya Ñāna /  Entirely reject all defilements ‘s brainpower). Lúc bình minh sắp sửa ló dạng ( canh cuối), Ngài đã đạt tới năng lực thông suốt mọi sự ( Toàn Giác - Sabbannutta Ñāna – Knowing all Dharma ‘s brainpower). Năm 148 thuộc triều đại Mahā

( tức năm 544 TCN), vào ngày trăng tròn tháng Vesakhà ( nhằm ngày thứ ba trong tuần), Đức Phật đã đạt tới sự giải thoát cuối cùng ( Đại-Niết-Bàn - Parinibbāna) vào lúc bình minh vừa lên tại một rừng cây Vô-Ưu ở Câu-Thi-Na ( Kusinara), một khu rừng nhỏ thuộc địa phận cai quản của những nhà vô địch về môn vật võ ( đứng đầu là Đức vua xứ Malla). Theo lời chỉ dạy của Đức Phật, Tôn giả A-Nan-Đà ( Asin Ānandā) đã chuyển bị một chiếc giường đặt giữa 2 cây Vô- Ưu, đầu giường quay về phía bắc. Đức Phật đã nằm xuống trên chiếc giường đó và nhập vào Đại Niết Bàn.

Ba nhân tố trong sự kiện nhập Đại-Niết-Bàn của Đức Phật trong vườn cây Vô -Ưu

 Tại sao Đức Phật lại nhập Đại Niết Bàn trong rừng cây Vô-Ưu mà không phải là tu viện Kỳ-Viên ( Jetavana Vihara - Jetavana monastery), tịnh xá Trúc-Lâm ( Veluvana) hay tịnh xá Mùa-Đông ?

 1. Ngài đã mong muốn như trong kinh Đại thiện kiến vương ( Mahā Sudassana Sutta) từng truyền dạy rằng, Đức Phật mong muốn lợi lộc cho toàn thể chúng sinh đang hiện hữu. Kinh này đã chỉ rõ rằng, trước đó, Bồ-Tát Cồ-Đàm rất thích thú khi thấy con người trần gian hưởng được cảnh sống sung sướng như Chư Thiên ở trên trời.

 2. Ngài đã mong muốn như người ta sự truyền bá Giáo Pháp của Ngài, khi Ngài nói về ẩn sĩ Subhaddha - người đã trở thành một A-La-Hán chỉ bằng cách lắng nghe lời khuyên nhủ của Đức Phật.

 3. Đức Phật biết trước rằng, nếu Ngài chọn một nơi khác để nhập Đại Niết Bàn thì chiến tranh có thể xảy ra và máu có thể đổ xuống qua việc phân chia Xá- Lợi của Ngài. Câu-Thi-Na là nơi thích hợp nhất để Bà-La-Môn Dona có thể thực hiện việc phân chia Xá- Lợi Phật và chiến tranh sẽ không xảy ra.

Vì vậy, Đức Phật đã chọn Câu-Thi-Na là nơi để Ngài nhập Đại Niết Bàn.

 Vì 3 lý do đã nêu trên, Đức Phật đã chọn nơi nhập Đại- Niết- Bàn là rừng cây Vô-Ưu thuộc quyền cai quản của các nhà vô địch về môn vật võ xứ Malla. Những điều đã được Đức Phật nói đến trong ngày trăng tròn của tháng Vesakhā là :

 1. Những gì Ngài đã nói trong ngày Đản Sanh.

 2. Những gì Ngài đã nói trong ngày Thành Đạo.

 3. Những gì Ngài đã nói trong suốt 45 năm truyền bá Chánh Pháp của Ngài

 4. Những gì Ngài đã nói trước khi nhập vào Đại- Niết- Bàn.

  Những lời nói dưới đây của Đức Phật là những lời nói có giá trị ưu việt mà chúng ta nên nghe theo :

 1. Những lời nói của Đức Phật trong ngày Ngài Đản Sanh

    Khi vừa mới Đản Sanh, Bồ Tát Cồ Đàm đã thực hiện 7 bước đi về hướng bắc và nói những lời vô cùng kỳ lạ mà trước đó chưa có ai đủ can đảm để thực hiện :

 a. Aggohamasami – Ta là người đứng đầu trong vũ trụ

 b. Jetthohamasami – Ta là người vĩ đại nhất trong vũ trụ

 c. Setthohamasami -  Ta là người xứng đáng được ca ngợi nhất

 d. Ayamantimājati -  Đây là kiếp sống cuối cùng của ta

 e. Nathidanipunathbhavoti – Trong tương lai ta sẽ không còn tái sanh

   Đức Phật đã nói những lời kỳ lạ và tuyệt vời này sau khi Ngài vừa mới Đản Sanh.

  Đức Phật đã nói về 3 lần Đản sanh của Ngài

 a. Khi Bồ tát Đản Sanh như một nhà đại học thức. Trước đó, Trời Đế thích ( Vua của cõi trời hay Thiên chủ - Sakka) đã đến và dâng cho Ngài một súc gỗ đàn hương khi Ngài còn nằm trong dạ mẹ. Sau đó, Bồ tát đã Đản sanh và tay vẫn còn nắm chặt súc gỗ này.Tiếp đến,mẹ Ngài thấy vậy nên bà liền hỏi : “ Hỡi con trai của mẹ, con đang cầm cái gì vậy ?” Bồ Tát đã trả lời : “ Ồ mẹ! Con đang cầm thuốc chữa bệnh”. Sau khi vừa lọt lòng mẹ, Bồ Tát đã nói như vậy.

  b. Khi Bồ Tát Đản sanh như một người thuộc giai cấp Sát-Đế-Lợi

( Khattiya - Giai cấp thứ 2 trong xã hội Ấn Độ cổ đại theo quan niệm của Đạo Bà-La-Môn, còn gọi là giai cấp chiến sĩ-ND ). Khi vừa mới lọt lòng mẹ, Ngài liền mở lòng bàn tay phải của mình ra và nói : “ Mẹ ! Mẹ có cung điện để ở không ? Con sẽ cúng dường cho mẹ !”. Khi vừa lọt lòng mẹ, Bồ Tát đã nói như vậy.

 c. Trong lần Đản Sanh cuối cùng để làm Thái tử Sĩ-Đạt-Ta ( Siddatha – Có nghĩa là người đã được mãn nguyện), khi vừa lọt lòng mẹ, Ngài đã nói về 5 điều chưa từng có ai đủ can đảm để thực hiện đã nêu ở trên. Những lời nói này đã làm cho tất cả mọi người hết sức kinh ngạc.

 2. Những lời Đức Phật đã nói trong ngày Ngài đạt tới Giác Ngộ Tối Thượng

  a. Aneka jāti samsram Sandhāvissam – Bởi vì ta chưa có kiến thức để hiểu được ta đã tạo nên thân thể của mình như thế nào. Do đó, ta đã phải tái sanh vào luân hồi nhiều lần.

 b. Gahakārakamgavesanto dukkhājāti punappunam – Bởi vì ta đã tìm cách tạo nên thân thể của mình ( Tanhā – quyến luyến thân xác hay tham ái) trong tất cả những lần tái sanh. Do đó, ta đã phải đầu thai trong vô lượng kiếp và chịu nhiều khổ đau.

 c. Gahakārakaditthosi punageham nakāhasi – Bây giờ ta đã là Phật. Vì vậy, ta có thể thấy được sự cấu thành của thân thể mình như thế nào. Các con có thể đoạn tận luân hồi giống như ta.

 d. Sabbātephāsukā bhaggāgahakūtam visankhitam – Các con cần phải loại bỏ được tất cả những thứ ô nhiễm chồng chất và vô minh ( Avijjā – clearsightedness) cùng cực trong ngôi nhà thân thể của các con.

 e. Visankhāragatam cittam tanhānam khayamajjhagā – Tâm trí của ta đã đạt tới Niết Bàn Vô Dư ( tức Niết Bàn Trọn Vẹn – Parinibbāna). Đây là nơi ước muốn cùng tột của chúng sanh. Đức Phật đã thiết tha bày tỏ những lời trên, bởi vì Ngài mong muốn mang đến niềm hoan hỷ ( Piti – rapture) và hạnh phúc cho mọi loài chúng sanh. Ngày nay, những lời nói này đã hiển nhiên được thực hiện trong các nghi lễ chiêm bái và thờ cúng trước ảnh tượng của Đức Phật.

 3. Sau khi đã đạt tới sự Giác Ngộ Tối Thượng và trước khi nhập vào Đại Niết Bàn. Đức Phật đã truyền bá Giáo Pháp mà Ngài đã lãnh hội được trong suốt 45 năm, Giáo Pháp của Đức Phật gồm có:

  a. Vinaya Dhamma ( Luật Pháp- Buddhism ‘s law )

  b. Sutta Dhamma ( Kinh Pháp hay Kinh điển- Buddhism ‘s Canon )

  c. Abhidhamma Dhamma ( Luận Pháp hay Vi Diệu Pháp- Buddhism ‘s analytical and miraculous Canon  ).

  - Luật Pháp Phật Giáo

    Giới Luật của Phật Giáo là những lời khuyên nhủ và chỉ dạy của Đức Phật dành cho Tăng Già và những người Phật tử nói chung. Tuy nhiên, những Giới Luật này không mang tính trừng phạt và răn đe những người phạm tội. Chúng chỉ mang tính đánh thức để mọi người tự giác và sống cho tốt. Đó là Giới Luật của Đức Phật.

 - Kinh Điển Phật Giáo

 Kinh Điển Phật Giáo đã được Đức Phật thuyết giảng nhằm mang lại lợi ích cho tất cả muôn loài chúng sanh trong cõi thế gian và xuất thế gian. Bằng cách học tập, nghiên cứu hay lắng nghe Kinh Điển Phật Giáo, tất cả chúng sanh sẽ hoàn thiện được hạnh nguyện Ba-La-Mật (còn gọi bổn phận làm người) của họ một cách thuần thục và chín chắn. Vì vậy, tất cả chúng ta nên thuận theo và thực hành những lời chỉ dạy của Đức Phật chứa đựng trong Kinh Điển Phật Giáo.

 

 Luận Pháp hay Vi Diệu Pháp

Vi Diệu Pháp là những lời lẽ phân tích tỉ mỉ, công phu và rất phức tạp về Kinh Điển Phật Giáo. Đó là những lời nói tuyệt vời của Đức Phật mà bất cứ ai cũng yêu thích. Vi Diệu Pháp là những bài diễn thuyết hay thuyết Pháp mang tính khách quan về chân lý. Những lời lẽ trong Vi Diệu pháp đã được Đức Phật truyền bá trong sự nghiệp 45 năm giáo hoá và cứu vớt muôn loài chúng sanh của Ngài. Vi Diệu Pháp có khả năng tóm tắt về sự khổ đau và nguyên nhân của khổ đau, hạnh phúc và nguyên nhân của hạnh phúc, cũng như đã phân tích rất tỉ mỉ và công phu về Bốn Sự Thật Cao Thượng ( Tứ Diệu Đế - Ariyasacani - The four noble truths).  

 4. Những lời cuối cùng của Đức Phật trước khi nhập vào Đại Niết Bàn

  - Vayadhamma sankhāra appamādena sampādetha

 “Tất cả những pháp cấu thành ( Vayadhamma sankhāra – Everything which is composed) đều có cùng bản chất là sẽ đi đến chỗ hoại diệt. Vì vậy, đạt tới Niết Bàn là đã đạt tới chỗ tuyệt đối. Đừng quên thực hành Phật Phápcho đến khi hoàn thiện”. Những lời nói này của Đức Phật phát xuất từ lòng trắc ẩn vô biên của Ngài đối với muôn loài chúng sanh đang hiện hữu. Những lời nói cuối cùng của Đức Phật đã tóm tắt tất cả những lời giáo huấn của Ngài trong suốt 45 năm giáo hóa và giác ngộ cho muôn loài chúng sanh. Mục đích tu luyện cao nhất của Đức Phật trong 4 A-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp là hoàn thiện hay tinh khiết hoá thân tâm bất toàn của chính Ngài. Sau đó, Ngài còn muốn làm cho mọi loài chúng sanh đang hiện hữu ở cõi trần gian hiểu được rằng, họ thực hiện việc bố thí, giữ Giới và nhiều hành động xứng đáng khác không phải chỉ để được tái sanh lên cõi trời rồi hưởng thụ những thú vui xa hoa ở đó. Đức Phật đã hiến dâng cả cuộc đời của Ngài vì muốn cứu vớt muôn loài chúng sanh thoát khỏi địa ngục khổ đau, thoát khỏi luân hồi và đạt tới Niết Bàn. Đó là lý do tại sao, Đức Phật đã nói rằng :

Đừng quên thực hành Phật Pháp cho đến khi hoàn thiện”. Câu nói này cũng có nghĩa là : “ Đừng quên thực hành thiền minh sát, bởi vì thiền minh sát là con đường dẫn đến Niết Bàn”.

 

           Sự khác nhau giữa người phàm tục và Tu-Đà-Hườn  

 

 Những người Phật tử đều có nỗi sợ hãi tột cùng nếu phải tái sanh vào bốn tình trạng thống khổ sầu muộn ( Catu Apāya). Bốn tình trạng thống khổ sầu muộn bao gồm cảnh giới là địa ngục ( Niraya – Hell), súc sanh

( Tiracchāna- animals ), ngạ quỷ ( Quỷ đói - Petas – The peckish devil) và A-Tu-La ( Yêu quái- Asura - Demon ). Vì vậy, những người Phật tử luôn luôn cố gắng thực hiện những hành động xứng đáng để có thể thoát khỏi 4 tình trạng thống khổ sầu muộn nói trên. Bố thí, giữ Giới và thực hiện nhiều hành động thiện lành khác chỉ là những việc làm thuộc về thế giới  phàm tục ( Puthujjanā Loka – Worldling). Vì vậy, những việc làm đó chỉ có tính trợ lực chứ không phải là nhân tố quyết định có thể cứu vớt người Phật tử thoát khỏi những tình trạng thống khổ sầu muộn nói trên. Tuy nhiên, một Tu-Đà-Hườn đã có thể thoát khỏi những tình trạng khổ đau đó. Những người Phật tử chỉ thực hiện bố thí, giữ Giới và nhiều hành động thiện lành khác thì chưa đủ tiêu chuẩn để trở thành một Tu-Đà-Hườn. Họ có thể trở thành một Tu-Đà-Hườn chỉ khi có thực hành thiền minh sát. Do đó, những người Phật tử có mong muốn thoát khỏi địa ngục phải thực hành thiền minh sát. Nếu một người thực hành thiền minh sát đúng phương pháp, người này sẽ trở thành một Tu-Đà-Hườn. Khi một người đã trở thành Tu-Đà-Hườn, tất cả những hành động xấu xa và tội lỗi mà người này đã làm trong quá khứ sẽ bị tiêu huỷ bằng con đường hiểu biết của Tu-Đà- Hườn ( Sotāpatti magga Ñāna – The stream- winner path knowledge). Theo cách đó, người này sẽ hoàn toàn thoát khỏi 4 tình trạng sầu muộn thống khổ trong luân hồi ( Catu Apāya samsāra). Một người đã hoàn toàn thoát khỏi địa ngục là nhờ có được khả năng nhổ bậc gốc của 6 pháp bất thiện sau đây :

 1. Tin rằng 5 uẩn ( Pañca Khandhas - 5 Aggregates) tạo thành tinh thần và vật chất chính là tự ngã ( self- fetter). Đây là một quan điểm lầm lạc ( kiến - Titthi samyorana hoặc Macchaditthi – Wrong view).

 2. Nghi ngờ Đức Phật, Pháp, Tăng do bị nghiệp và kết quả của nghiệp trói buộc và câu thúc ( Vicikiccha).

 3. Tin rằng một người không cần phải thực hành Phật Pháp. Nếu ăn ở như loài cầm thú cũng có thể đạt tới Niết Bàn là do khao khát, gắn bó với quyền lực và các lễ nghi ( Silabbhataparamāsa samyojana).

 4. Tham lam vô độ tới mức bị đọa xuống địa ngục.

 5. Sân hận tới mức bị đọa xuống địa ngục.

 6. Vọng tưởng tới mức bị đọa xuống địa ngục.

 Bởi vì một Tu-Đà-Hườn đã tiêu huỷ được 6 pháp bất thiện nói trên. Nhờ đó, vị này đã hoàn toàn thoát khỏi 4 tình trạng thống khổ phiền muộn trong luân hồi ( Am 2 / 328). Mặc dù những người phàm tục ( Puthujjanas – rude people) nói rằng tinh thần ( Nāma – Spirits) và vật chất ( Rūpa – Matter) là tách biệt nhau và không có linh hồn hay bản ngã. Tuy nhiên, thông thường họ vẫn cứ tin là có bản ngã, bởi vì họ theo truyền thống. Khi có một người truyền giáo có uy tín thuyết rằng, con người có linh hồn hay có bản ngã thì họ liền tin ngay. Thỉnh thoảng, họ còn hoài nghi Phật, Pháp, Tăng. Họ cũng hoài nghi kết quả của các hành động thiện lành và bất thiện. Khi những người truyền giáo có uy tín nói với họ rằng, một người ăn ở như loài cầm thú vẫn có thể đạt tới Niết Bàn mà không cần phải chú tâm thực hành Giáo Pháp thì có thể họ sẽ tin ngay. Những Tu-Đà-Hườn có thể vẫn sống trong thế giới của loài người như những người phàm tục với vợ chồng và con cái của họ. Tuy nhiên, họ đã có niềm tin vững chắc rằng, không hề có linh hồn hay bản ngã ( Atta – Self). Họ cũng tràn đầy niềm tin vào Phật, Pháp, Tăng, nghiệp và kết quả của nghiệp. Họ không nghi ngờ gì cả và sẵn sàng hiến dâng cuộc đời mình cho niềm tin. Họ cũng tin một cách chắc chắn rằng, nếu không chú tâm thực hành Giáo Pháp và ăn ở như loài cầm thú thì không thể đạt tới Niết Bàn. Họ gìn giữ niềm tin của mình một cách chắc chắn rằng, chỉ có thực hành thiền minh sát và thực hành các hành động thiện lành là có thể giúp cho họ đạt tới Niết Bàn. Theo cách đó, những Tu-Đà-Hườn khác với những người phàm tục. Bởi vì người phàm tục không nghiêm túc loại bỏ tính tham lam, sân hận và vọng tưởng. Vì vậy, họ vẫn sát sanh, trộm cắp, xử dụng các chất say, nói dối và tà dâm khi có cơ hội đưa đẩy. Họ thường không nhận biết được những hành động của chính mình. Nếu không kìm chế được chính mình, họ sẽ phạm phải những tội lỗi này.     

  Kìm chế như người phàm tục

  Một người phàm tục nào đó có thể tự nghĩ rằng, anh ta là người tử tế đứng đắn và xuất thân từ một gia đình thượng lưu, đã đủ già dặn và chín chắn, có học vấn và có kiến thức. Tuy nhiên, nếu anh ta vẫn sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và xử dụng các chất gây say thì cũng chẳng được lợi ích gì cả. Vì vậy, anh ta cần phải biết tự kìm chế mình. Nếu không biết tự kìm chế bản thân mình, anh ta có thể phạm phải tất cả những lỗi lầm này và có thể đọa vào 4 tình trạng thống khổ phiền muộn trong luân hồi ( Catu Apāya ). Nếu không phạm lỗi trong kiếp sống hiện tại thì trong những kiếp sống ở tương lai, anh ta cũng có thể bị vi phạm. Vì vậy, anh ta không thể thoát khỏi được những hiểm nguy của địa ngục luân hồi ( Niraya Samsāra). Anh ta có thể bị tái sanh vào địa ngục với 4 tình trạng thống khổ sầu muộn.

 Tu-Đà-Hườn không cần phải kìm chế

Những người đã trở thành Tu-Đà-Hườn nghĩa là những người đã tiêu huỷ được tính tham lam, sân hận và vọng tưởng. Con đường hiểu biết của một Tu-Đà-Hườn ( Sotāpatti magga Ñāna – The knowledge of the path of a stream-winner) có thể tiêu huỷ hoàn toàn tính tham lam, sân hận và vọng tưởng. Mặc dù trong nhiều trường hợp, những nghiệp bất thiện như sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và xử dụng các chất say có thể khởi lên trong tâm thức của các Tu-Đà-Hườn. Tuy nhiên, họ không cần phải  kìm chế mà những nghiệp bất thiện này sẽ tự động tiêu huỷ. Điều này xảy ra trong kiếp sống hiện tại cũng như sẽ xảy ra trong những kiếp sống ở tương lai của họ. Những Tu-Đà-Hườn sẽ không bao giờ bị sa ngã vào bất cứ một hành động bất thiện nào. Đó là lý do tại sao họ đã hoàn toàn thoát khỏi được địa ngục. Cánh cửa của địa ngục sẽ vĩnh viễn đóng lại đối với những Tu-Đà-Hườn và họ sẽ vĩnh viễn không còn bị đọa vào cảnh giới đó nữa. Trong thời Đức Phật còn tại thế, đã có rất nhiều Tu-Đà-Hườn được biết đến. Họ không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không xử dụng các chất say. Trong thời Đức Phật đang trú tại xứ Kiều-Thường-Di ( Kosambi). Lúc đó, Khujjuttara đã là một người hầu gái, ngày nào cô ta cũng ra chợ mua hoa cho thứ hậu Sāmāvati. Hàng ngày, Đức Vua Udena cho thứ hậu Sāmāvati 8 đồng bạc để mua hoa. Thứ hậu lại đưa 8 đồng bạc đó cho Khujjuttara và sai cô ta đi mua. Là một người phàm tục, hằng ngày khi đi mua hoa, Khujjuttara đã xén bớt 4 đồng bạc và thật sự cô ta chỉ mua có 4 đồng tiền hoa mà thôi. Sau khi mua hoa xong, cô ta đem số hoa đó về dâng lên thứ hậu Sāmāvati và tâu rằng số hoa đã mua đáng giá là 8 đồng bạc. Một ngày nọ, người bán hoa tên Sumana tổ chức cúng dường vật thực cho Đức Phật và Tăng Đoàn tại nhà riêng của mình. Khujjuttara đã được Sumana mời đến dự để nghe Đức Phật thuyết Pháp. Sau khi lắng nghe Đức Phật thuyết pháp xong, Khujjutara đã trở thành một Tu-Đà-Hườn ( Sotāpanna - The stream- winner). Ngay trong ngày trở thành Tu-Đà-Hườn, Khujjutara đã dùng tất cả 8 đồng bạc để mua hoa và đem số hoa đó về dâng lên cho thứ hậu Sàmàvati. Sau đó, thứ hậu đã rất ngạc nhiên vì số hoa được Khujjutara dâng lên cho bà lần này nhiều gấp đôi các ngày trước đó. Vì vậy, bà đã hỏi Khujjutara có phải là đức vua Udena đã đưa cho cô ta thêm 8 đồng bạc nữa để mua hoa phải không ? Khujjutara đã trả lời rằng : “ Tâu thứ hậu ! Không phải như thế, số hoa lần này mới đích thực có giá trị 8 đồng. Trong nhiều lần trước đây, tôi đã giữ lại 4 đồng và chỉ mua có 4 đồng tiền hoa mà thôi”. Khujjutara đã nói đúng với sự thật. Khi còn là một người phàm tục, Khujjutara đã ăn trộm 4 đồng tiền hoa mỗi ngày và nói dối rằng số hoa mà cô ta đã mua là 8 đồng. Vì đã được nghe Đức Phật thuyết Pháp và trở thành một Tu-Đà-Hườn, con đường hiểu biết của một Tu-Đà-Hườn đã tiêu huỷ hoàn toàn tính tham lam, sân hận và vọng tưởng trong chính bản thân của Khujjutara. Cô ta đã không còn trộm cắp và nói dối mà nói đúng với sự thật với thứ hậu Sāmāvati. Đây là điều khác biệt giữa một người phàm tục và một Tu-Đà-Hườn.

 

                    Bốn phẩm chất tốt đẹp cần phải đạt được

 

Những người Phật tử cũng như nhiều người khác trong thế giới của loài người luôn mong muốn gặp được những điều tốt lành và vui vẻ. Nếu muốn được như vậy, họ phải thực hiện những công việc tốt lành. Theo tuần tự về những điều tốt lành, Đức Phật đã thuyết một bài Pháp nói về bốn phẩm chất tốt đẹp mà một Chư Thiên đã có như sau :

 1. Giữ Giới bằng cách kìm chế thân thể và lời nói

 2. Có niềm tin

 3. Có sự hiểu biết phong phú

 4. Có được những phẩm hạnh xứng đáng

 - Giữ Giới là một phẩm chất tốt đẹp của đời người. Những người phá Giới hay phá vỡ các chuẩn mực đạo đức thông qua các hành động như :  Sát sanh, lấy của không cho ( trộm cắp), tà dâm, nói dối và xử dụng các chất gây say… thì người đó sẽ bị đọa xuống địa ngục và phải chịu đau khổ trong kiếp sống này hoặc trong những kiếp sống ở tương lai. Họ sẽ phải chịu đựng những điều bất như ý sau đây :

 a. Tìm kiếm của cải một cách khó khăn

 b. Bị mang tiếng xấu

 c. Phải gặp nhiều cảnh khổ sở và khó khăn khi giao thiệp với người khác

 d. Sẽ thấy những dấu hiệu xấu khi sắp chết và sẽ chết trong cảm giác hoang mang sợ hãi

 e. Sau khi chết sẽ bị tái sanh vào địa ngục

 Vì vậy, nếu không giữ Giới, bạn sẽ gặp phải những hậu quả bất lợi trong kiếp sống hiện tại và những kiếp sống ở tương lai. Khi mặc quần áo, bạn cần phải mặc những loại quần áo thích hợp với tuổi tác của mình. Tuy nhiên, khi giữ giới thì tuổi tác không có ý nghĩa gì trong chuyện này. Tất cả mọi người từ già đến trẻ đều giữ Giới như nhau. Những người không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không xử dụng các chất gây say sẽ gặt hái nhiều ích lợi trong kiếp sống này và những kiếp sống mai sau. Họ sẽ có được những điều sau :

 a. Kiếm được của cải một cách dễ dàng.

 b. Có được tiếng tốt.

 c. Gặp được những hoàn cảnh thuận lợi và tốt đẹp khi giao thiệp với những người khác.

 d. Khi sắp chết sẽ thấy những dấu hiệu tốt đẹp và được chết trong bình yên

 e. Khi tái sanh sẽ được sanh vào cõi trời.

  Đó là lý do tại sao giữ Giới là phẩm chất tốt đẹp của đời người.

Tóm tắt: Giữ Giới là phẩm chất tốt đẹp đối với tất cả mọi người, từ người già đến những người trẻ tuổi.

 - Chúng ta phải luôn luôn có niềm tin vào Phật, Pháp, Tăng, nghiệp và tác động của nghiệp. Đức Phật nói đó là một phẩm chất tốt đẹp. Những người không tin vào Phật, Pháp, Tăng, nghiệp và tác động của nghiệp sẽ không giữ Giới và cũng không thực hành thiền ( Bhāvanā – Practise meditation). Vì vậy, họ sẽ không gặt hái được phước báu. Những người thực hiện những hành động bất thiện sẽ không được hạnh phúc trong kiếp sống này và những kiếp sống mai ở tương lai. Họ sẽ gặp phải nhiều loại khổ đau. Những người tin tưởng vào Phật, Pháp, Tăng, nghiệp và tác động của nghiệp sẽ giữ Giới, thực hành thiền  định và thiền minh sát. Nhờ đó, họ sẽ gặt hái được nhiều phước báu và hạnh phúc cho đến khi đạt tới Niết Bàn. Đó là lý do tại sao, Đức Phật đã nói phẩm chất tốt đẹp nhất của tâm trí là niềm tin ( Saddhā – Faith).

Tóm tắt: Luôn luôn tin tưởng vào Đức Phật một cách vững chắc thì được gọi là có Saddhā ( tin tưởng và sáng suốt ).

 Những người giàu sẽ có thức ăn ngon, áo quần đẹp và các phương tiện đi lại tối tân hiện đại. Theo cách đó, những người có niềm tin, có thực hành bố thí, giữ Giới và thực hành thiền sẽ được bình yên và hạnh phúc cho đến khi đạt tới Niết Bàn. Đó là lý do tại sao, Đức Phật đã nói rằng niềm tin ( Saddhā) giống như của cải và sự giàu có. Nó là một phẩm chất tốt đẹp của tâm trí. Đức Phật đã từng nói, sự thông thái có giá trị hơn cả kim cương, vàng và bạc. Kim cương, vàng và bạc mang lại niềm vui thích cho những người sở hữu chúng. Vì vậy, chúng được biết đến như những loại ngọc quí ( Ratanā – Jewel). Những con voi chúa, ngựa chúa và các nữ hoàng làm hài lòng trái tim của một vị hoàng đế. Những thứ ấy cũng được xem như là những viên ngọc quí đối với một vị hoàng đế. Tuy nhiên, không phải bất cứ khi nào những thứ ấy cũng mang lại hạnh phúc cho Ngài. Thỉnh thoảng, chúng cũng mang lại cảm giác bực bội và lo lắng cho nhà vua. Đó là lý do tại sao, Đức Phật không nói rằng những loại ngọc quí đó là có giá trị nhất. Không giống như các loại ngọc quí, vàng và bạc nói trên, sự thông thái luôn luôn mang lại niềm vui và cảm giác hài lòng cho những người sở hữu nó. Khi một người khôn ngoan sáng suốt làm một việc gì, người này điều nhằm tới mục đích làm hài lòng chính mình và  nhiều người khác, vì lợi ích cho kiếp sống này và nhiều kiếp sống khác ở tương lai. Vì vậy, sự thông thái là có giá trị nhất và là một loại ngọc quí mang lại nhiều cảm giác hài lòng nhất. Trong thời Đức Phật còn là một vị Bồ-Tát, lúc đó Ngài là một người cực kỳ khôn ngoan sáng suốt đang dẫn đầu một đoàn xe lái buôn 500 chiếc tại Bārānasī ( đô thị của xứ Ba-La-Nại). Tất cả họ đều buôn bán nhiều loại hàng hoá và phải băng qua một sa mạc dài 480 dặm Anh ( một dặm Anh bằng 1609 mét -ND) – nơi hoàn toàn không có nước. Nguồn nước dự trữ đã cạn kiệt và họ đang có nguy cơ bị chết khát. Khi đang phải đối diện với cái chết, vị Bồ Tát khôn ngoan sáng suốt với sự thông thái của mình đã hướng cả đoàn xe đi tới một nơi có thể tìm thấy nước. Trong khi đang ra sức đào bới sâu xuống lòng đất để tìm mạch nước, họ bắt gặp một tảng đá thanh và không thể đào xuống được nữa. Lúc đó, vị Bồ Tát đã xử dụng sự thông thái của mình để giải quyết vấn đề khó khăn mà họ đang gặp phải. Tất cả những lái buôn đều thoát chết vì đã tìm thấy nước để giải khát. Trong chuyến đi đó, họ được lãi gấp 3 hay 4 lần so với tiền vốn. Từ đó, họ rất yêu mến và tôn kính vị Bồ Tát khôn ngoan sáng suốt này. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã thuyết rằng, sự thông thái là loại ngọc quí nhất.

Tóm tắt:  Đối với con người cao quí, sự thông thái là có giá trị nhất.

  4. Phước báu mà bạn đã tích luỹ được không thể bị cướp bóc hoặc phá huỷ bởi 5 loại kẻ thù. Vì vậy, Đức Phật đã nói phước báu là tài sản quí giá nhất. Vàng , bạc, ngọc ngà, ngựa xe… có thể bị phá huỷ bởi nước, lửa, những người cầm quyền xấu xa, trộm cướp và người thừa kế không xứng đáng.

 Khi chết và tái sanh vào một kiếp sống khác, bạn không thể mang theo những thứ đó được. Đó là lý do tại sao vàng, bạc, ngọc ngà, ngựa xe và sự giàu có không phải là tài sản quí nhất. Chúng là những thứ có thể bị phá huỷ một cách dễ dàng. Phước báu mà bạn đã hoàn thành là những phẩm chất tốt đẹp của trí tuệ không thể nhìn thấy được bằng mắt thường. Đó là lý do tại sao, phước báu không thể bị phá huỷ bởi nước, lửa, trộm cướp… Những phước báu có thể đi theo bạn sang những chuỗi sống kế tiếp và dẫn dắt bạn đến với những cảnh giới cao thượng hơn. Bạn sẽ gặt hái được những lợi ích có thể khiến cho bản than mình được hạnh phúc cho đến khi đạt tới Niết Bàn. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã thuyết rằng, những hành động thiện lành là tốt đẹp và quí báu nhất.

Tóm tắt: Phước báu là tài sản quí nhất, không thể bị trộm cướp hay phá hủy.

 Vì vậy, Đức Phật đã chỉ dạy rằng, những người con xứng đáng của các bậc cha mẹ đáng kính cần phải hoàn thành được 4 phẩm chất sau một cách mạnh mẽ và thuần thục – như là những mục đích cho kiếp sống ở hiện tại và những kiếp sống trong tương lai :

 a. Khi còn trẻ tuổi phải thực hành việc giữ Giới.

 b. Làm cho niềm tin luôn luôn được vững chắc.

 c. Sự thông thái là phẩm chất đáng được ao ước nhất.

 d. Góp nhặt những phước báu mà những người khác không thể phá hủy được.

 

                    Bốn phẩm chất tốt đẹp nhất cần biết

 

 Những người Phật tử và tất cả mọi người đều mong muốn gặt hái được những điều tốt đẹp nhất. Thỉnh thoảng, họ cũng không gặt hái được những điều đáng mơ ước, mặc dù họ đã chọn lựa và nghĩ rằng những điều mà họ đã  chọn là tốt đẹp nhất. Tuy nhiên, kỳ thực chúng chính là những khổ đau. Đó là lý do tại sao, Đức Phật đã từng nói với Đức vua Pasenadi ( Ba-Tư-Nặc) của xứ Kiều-Tất-La về 4 phẩm chất để gặt hái những điều tốt đẹp nhất.

 1. Có sức khoẻ tốt là món quà quí báu nhất

 2. Được mãn nguyện là một tài sản quí báu nhất

 3. Một người được sống trong tình bằng hữu thân thiện là có được những mối quan hệ tốt đẹp nhất

 4. Niết Bàn là hạnh phúc cao thượng nhất

  - Sức khoẻ tốt là một món quà quí báu nhất nghĩa là khi một người bệnh nặng hay đang ở trong một trạng thái khủng hoảng chưa biết chết hay sống, người ấy sẽ cực kỳ đau khổ. Lúc đó, tất cả những thứ quà cáp như áo quần, thức ăn, nước uống, kim cương, vàng, bạc, nhà cửa… sẽ không thể làm cho anh ta hạnh phúc được. Bởi vì đã lâm bệnh, anh ta không thể thưởng thức được những món quà đó. Người này sẽ cảm thấy vô cùng bất hạnh bởi vì tình trạng ốm đau của chính mình. Đó là lý do tại sao, những món quà dù có giá trị mấy đi nữa nhưng lại được mang tặng cho một người đang ở trong tình trạng ốm đau thì chúng cũng không được đánh giá đúng như giá trị thật của chúng. Một người khoẻ mạnh có thể tìm kiếm của cải và sự giàu có trong thế gian bằng sức mạnh thể chất và tinh thần của chính mình. Nếu được khoẻ mạnh, anh ta cũng có thể tìm kiếm được Giáo Pháp của Đức Phật trong cõi xuất thế gian, sẽ gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn Cao Thượng đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính anh ta. Đó là lý do tại sao, Đức Phật đã nói rằng :  “ Sức khoẻ tốt là một món quà quí báu nhất”. Những người mong muốn gặt hái được một trạng thái sức khoẻ tốt phải biết cách điều chỉnh các hành động và tâm trí của chính mình, biết cách làm chủ các loại vật thực và biết cách hài hoà với những điều kiện hay thay đổi của thời tiết. Những người mong muốn có được sức khoẻ tốt phải hiểu về nghiệp

( Kamma – actions) mà mình đã tạo nên trong những tiền kiếp và trong kiếp sống ở hiện tại. Tuy nhiên, không có ai có thể biến đổi nghiệp trong quá khứ mà chỉ có thể điều chỉnh nghiệp trong kiếp sống ở hiện tại. Những người mong muốn có được sức khoẻ tốt phải ăn ngủ đúng giờ giấc, giảm bớt lượng thức ăn hàng ngày xuống mức vừa đủ nuôi sống và luyện tập thể dục thể thao như đi bộ, bơi lội…Vì vậy, việc ăn ngủ điều độ, ăn ít lại và luyện tập thể dục thể thao là các nhân tố mang lại cho chúng ta một sức khoẻ tốt. Những người mong muốn có được sức khoẻ tốt cũng phải biết cách điều chỉnh tâm trí của chính mình. Tâm trí có thể được điều chỉnh bằng cách sống hài hoà và hạnh phúc với những thành viên trong gia đình của mình như vợ, chồng, con cái… Họ cũng sẽ được hạnh phúc khi tụng đọc Hạnh phúc Kinh ( Mettā Sutta), các Kinh Hộ trì ( Paritās Sutta), Kinh Chuyển Pháp luân ( Dhammacakka sutta), thực hành thiền định và thiền Minh sát để có thể gặt hái được một trạng thái tâm bình yên. Sống bình yên với những thành viên trong gia đình mình và với Chánh Pháp là những nhân tố mang đến một sức khoẻ tốt. Những người mong muốn có được sức khoẻ tốt phải biết cách điều chỉnh chính họ sao cho hài hoà với sự thay đổi của thời tiết và các loại vật thực được xử dụng. Thân thể của chúng ta chỉ thích hợp được với những loại khí hậu ôn hòa, tức không nóng quá cũng không lạnh quá. Bạn cũng cần phải biết cách điều chỉnh sự hiểu biết của chính mình để có thể thích với thực tế . Những vật thực mà chúng ta đưa vào trong cơ thể cần phải được cân bằng về độ ngọt, chua, béo, mặn, đắng, cay… Vì vậy, việc tự điều chỉnh chính bản thân mình sao cho thích hợp được với những loại thời tiết và thức ăn xử dụng hàng ngày là những nhân tố khiến chúng ta có thể gặt hái được một trạng thái sức khoẻ tốt. Vun bồi niềm tin, giữ gìn sức khoẻ, tinh khiết hoá tâm trí, sống với một tinh thần tích cực và hăng say nhiệt tình, siêng năng thực hành thiền để nhận biết được trạng thái khởi lên và biến mất đi của các hiện tượng trong chính chúng ta và xung quanh chúng ta là 5 nhân tố thiện lành và hữu ích mà Chánh Pháp của Đức Phật có thể mang lại cho con người. Trong 5 nhân tố nói trên, sức khoẻ là nhân tố quan trọng nhất, bởi vì chỉ khi có sức khoẻ, chúng ta mới có thể gặt hái được hạnh phúc cao thượng của Đạo Quả và Niết Bàn. Do đó, Đức Phật đã chỉ dạy rằng, sức khỏe là món quà quí báu nhất.

Tóm tắtSức khoẻ là món quà quí báu nhất trong tất cả các món quà.  

-         Đức Phật đã truyền bá rằng, tâm mãn nguyện là tài sản quí báu nhất.

Điều này có nghĩa là, có một số người đã kiếm được của cải một cách hợp pháp. Tuy nhiên, có thể họ vẫn chưa được mãn nguyện với những của cải đó, bởi vì họ vẫn còn tham lam. Những người này không thực hành bố thí, không giữ Giới, không thực hành thiền định và thiền minh sát. Nếu như vậy, những của cải và sự giàu có đó cũng không thể khiến cho họ được lợi ích bao nhiêu trong kiếp sống ở hiện tại và những kiếp sống ở tương lai.

 Do đó, của cải đã kiếm được một cách hợp pháp cũng chưa hẳn đã mang lại hạnh phúc cho con người. Nếu chưa có khả năng sống một cách hoàn hảo, những của cải mà bạn kiếm được một cách hợp pháp sẽ trở nên giảm sút giá trị. Thậm chí, chúng có thể trở nên thấp kém và có hại cho cuộc sống của bạn. Những người đã thật sự được mãn nguyện với những của cải mà mình kiếm được một cách hợp pháp không bao giờ gắn bó hay quyến luyến những của cải đó một cách thái quá. Họ luôn cố gắng thực hành bố thí, giữ Giới, thực hành thiền định và thiền minh sát. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã thuyết rằng, những người đã được mãn nguyện với những của cải mà mình đã kiếm được một cách hợp pháp sẽ gặt hái được nhiều lợi ích trong kiếp sống hiện tại và trong những kiếp sống ở tương lai cho đến khi đạt tới Niết Bàn. Vì vậy, tâm mãn nguyện là của cải quí báu nhất.

Tóm tắtTâm mãn nguyện là của cải quí báu nhất đối với con người.

 - Một người bạn thân thiện là mối quan hệ tốt đẹp nhất nghĩa là, nếu bạn chỉ tỏ ra thân thiết với những anh, chị, em cùng cha cùng mẹ với mình, ngoài ra bạn không thân thiện với một ai khác thì đây là một điều bất lợi khi muốn giải quyết các công việc ở cõi thế gian hay xuất thế gian. Vì vậy, bạn chỉ mới có được những mối quan hệ thông thường. Khả năng giao tiếp của bạn chưa thể gọi là tốt đẹp nhất. Nếu có mong muốn quan hệ thân thiện với nhiều người khác hay không thì bạn cũng phải cần đến những lời tư vấn lợi hại của một ai đó, mỗi khi bạn làm việc và giao tiếp trong xã hội. Con người rất dễ phạm phải sai lầm trong quá trình sống. Vì vậy, bạn cần phải tìm đến những người có đạo đức và sự hiểu biết đúng đắn để tham vấn. Người có đạo đức và hiểu biết thường là người có tâm hồn cao thượng, biết khoan dung tha thứ và chỉ dẫn cho người khác thấy được những chỗ sai lầm. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã thuyết rằng, chúng ta nên tìm đến những người thông thái và tử tế ( tức những hiền nhân hay thiện tri thức) để tham vấn ý kiến của họ, đồng thời cũng nên sống gần gũi và thân thiện với họ.

Tóm tắt: Một người bạn thân là một thiện tri thức dứt khoát là một mối quan hệ tốt đẹp nhất.

 - Niết Bàn là hạnh phúc cao thượng nhất nghĩa là có 2 loại hạnh phúc : Hạnh phúc của cõi thế gian và xuất thế gian. Trong 2 loại hạnh phúc này, hạnh phúc của loài người, Chư Thiên và Phạm Thiên được xem là hạnh phúc của cõi thế gian. Hạnh phúc ở cõi thế gian không được dài lâu. Những người đã đạt tới trí tuệ ( Prajna) giác ngộ và những cảnh giới cao như cõi Chư thiên, Phạm thiên…Tuy nhiên, họ vẫn có thể bị đọa xuống địa ngục ( Niraya- Hell) khổ đau khi những phước báu của họ bị cạn kiệt. Họ có thể trở thành súc sanh ( Tiracchāna- Animals), ngạ quỉ ( Petas – Peckish devil ) và A-tu-la ( một loài yêu quái - Asura – Devil ). Vì vậy, hạnh phúc ở cõi thế gian không giúp cho chúng ta thoát khỏi địa ngục khổ đau và không thể gọi đó là hạnh phúc cao thượng được. Thậm chí, nó còn bị xem là một loại hạnh phúc thấp kém. Những người thực hành thiền minh sát và gặt hái được Đạo quả Tu-Đà-Hườn ( tức bậc Thánh, Lokuttara – Saint) đã hoàn toàn thoát khỏi được 4 tình trạng thống khổ sầu muộn trong luân hồi ( Apāya –bao gồm : Súc sanh, ngạ quỉ, A-tu-la và địa ngục). Họ không bao giờ còn bị tái sanh vào những cảnh giới khổ đau này nữa. Vì vậy, họ đã gặt hái được hạnh phúc cao thượng. Tuy nhiên, Tu-Đà-Hườn vẫn còn phải chịu khổ đau trong một vài kiếp tái sanh nữa ở cõi người hoặc cõi trời, tối đa là 7 kiếp cho đến khi đạt tới Niết Bàn. Những người thực hành thiền minh sát và gặt hái được Đạo quả Tư-Đà-Hàm vẫn còn phải chịu khổ đau trong kiếp sống hiện tại và một kiếp sống nữa ở vị lai mà thôi. Họ vẫn còn phải chịu đựng các tình trạng phiền toái của tuổi già, bệnh tật, buồn đau sầu khổ và than khóc trong những cảnh giới của Chư Thiên. Sau khi đã mãn 2 kiếp sống này, họ sẽ hoàn toàn thoát khỏi luân hồi và đạt tới Niết-Bàn bình yên. Những người thực hành thiền minh sát và đã gặt hái được Đạo quả A-Na-Hàm đã hoàn toàn thoát khỏi những tình trạng phiền toái như tuổi già, bệnh tật, buồn đau sầu khổ, than khóc và cái chết – những trạng thái khổ đau trong thế giới của loài người và 6 cõi trời của Chư Thiên. Những A-Na-Hàm đã gặt hái được hạnh phúc cao thượng. Tuy nhiên, họ vẫn chưa đạt tới Niết Bàn.Những người thực hành thiền Minh sát và gặt hái được Đạo quả A-La-Hán đã hoàn toàn thoát khỏi 31 cảnh giới khổ đau trong luân hồi như tuổi già, bệnh tật, buồn đau sầu khổ, than khóc và cái chết… Trong những kiếp sống ở tương lai, những vị A-La-Hán sẽ không bao giờ còn gặp lại những hoàn cảnh khổ đau nữa, họ đã đạt tới Niết Bàn Cao Thượng. Do đó, Đức Phật đã thuyết rằng, Niết Bàn là trạng thái hạnh phúc cao thượng nhất.

Tóm tắt: Chỉ có Niết Bàn là trạng thái hạnh phúc cao thượng nhất.

   

                   

                    Những lời nói cuối cùng của Đức Phật

 

Những người Phật tử mộ Đạo có niềm tin mạnh mẽ thường vận dụng hết khả năng của họ để thực hành những lời giáo huấn mà Đức Phật đã truyền bá trong suốt 45 năm giáo hoá và giác ngộ cho chúng sanh đang đau khổ của Ngài. Bằng cách đó, họ có thể thoát khỏi những hình thức khổ đau trong kiếp sống hiện tại và trong những kiếp sống ở tương lai, khi phải tái sanh vào luân hồi. Bằng cách đó, họ có thể dập tắt được phiền não và khổ đau, gặt hái được hạnh phúc và đạt tới Niết Bàn. Với niềm tin như thế, những người Phật tử luôn luôn cố gắng thực hành những lời Phật dạy càng nhiều càng tốt mỗi khi họ có thể. Những lời dạy mà họ đang thực hành chính là những lời mà Đức Phật đã nói trước khi Ngài nhập vào Đại Niết Bàn tại rừng cây Vô-Ưu thuộc xứ Malla. Lúc đó, Ngài đang nằm trên chiếc giường do Tôn giả A-Nan-Đà chuẩn bị sẵn, đầu của Ngài quay về hướng bắc. Tiếp đến, Đức Phật đã tóm tắt cốt tuỷ của những lời giáo huấn mà Ngài đã truyền bá trong suốt 45 năm. Những người Phật tử cần phải ghi nhớ và tin theo những lời nói cuối cùng này của Đức Phật. Những lời nói đó là : “ Vayadhamma sankhāra appamādena sampādetha”, có nghĩa là “ Tất cả những pháp hữu vi đều phải tan hoại.Vì vậy,phải siêng năng thực hành Chánh Đạo cho đến khi hoàn thiện”.

Những lời giáo huấn của Đức Phật trong suốt 45 năm truyền bá Chánh Pháp của Ngài đã được nêu lên một cách tổng quát trong Appamādena sampādetha. Những người Phật tử cần phải chú ý để tìm hiểu và cố gắng thực hành theo những lời dạy này. Có 3 loại người không hề quan tâm đến những lời dạy của Đức Phật, đó là :

 1. Những người thực hiện các hành động bất thiện

 2. Những người có khuynh hướng sống buông xuôi theo các đối tượng thế tục để thoả mãn những cảm nhận của giác quan.

 3. Những người không thực hành thiền hoặc có thực hành thiền nhưng thất bại, bởi vì không gặt hái được năng lực chú ý cao.

  - Những người thực hiện những hành động bất thiện và không quan tâm đến những lời dạy của Đức Phật nghĩa là : Một cá nhân nào đó thực hiện những hành động bất thiện như sát sanh, trộm cắp, tà dâm…Anh ta luôn luôn kiếm sống bằng những phương tiện bất chính nên không có cơ hội gặt hái được phước báu. Khả năng tập trung tâm ý của anh ta rất kém. Do đó, anh ta không hề quan tâm đến những lời dạy của Đức Phật. Dạng người này chắc chắn sẽ phải chạm trán với những khổ đau khi tái sanh vào luân hồi.

Tóm tắt:  Những người thực hiện các hành động bất thiện không hề quan tâm đến những lời dạy của Đức Phật.

 - Những người có  khuynh hướng sống buông xuôi theo những đối tượng thế tục để thỏa mãn những cảm nhận của giác quan nghĩa là :  Một cá nhân nào đó hoàn toàn ngã theo những đối tượng dễ chịu như : Cảnh tượng đẹp mắt, âm thanh êm tai, mùi thơm dễ chịu, các loại vị thích hợp với vị giác, trạng thái xúc chạm êm ái và dễ chịu… là những cảm nhận mà người chưa từng có kinh nghiệm thực hành thiền rất thích thụ hưởng. Vì vậy, những người này thường có khả năng chú ý hay tự chủ rất kém. Thông thường, họ phải chịu cảnh tái sanh vào luân hồi trong một khoảng thời gian lâu hơn những người biết thu thúc lục căn, tức biết cách làm chủ trạng thái cảm nhận của các giác quan.

Tóm tắt : Người có lối sống khao khát những đối tượng có thể thỏa mãn được sự cảm nhận của các giác quan thường có khả năng chú ý rất kém.

Những người thất bại trong việc thực hành thiền là do họ chưa gặt hái được khả năng chú ý cao. Một cá nhân nào đó đang thực hành thiền minh sát với mục đích là nhận thức được Niết Bàn đã quên không thực hành sự chú ý cao trong lúc thực hành thiền bởi vì họ bị phân tâm do ảnh hưởng của nhiều đối tượng trong thế giới trần tục. Dạng người này  không có được khả năng chú ý cao, họ phải cần một khoảng thời gian rất lâu mới nhận thức được Giáo Pháp một cách đúng đắn để có thể đạt tới Niết Bàn.

Tóm tắt: Người bị thất bại trong việc thực hành thiền bởi vì họ đã không luyện tập một khả năng chú ý cao.

Nếu không giống như 3 loại người vừa nêu trên và biết quan tâm đến những lời dạy của Đức Phật, nỗ lực thực hành Chánh Pháp thì chắc chắn bạn sẽ đạt tới trạng thái bất sanh bất diệt hay Niết Bàn Vô Dư vậy. Trong lời nói đáng ghi nhớ vừa nêu trên, sự chú ý đến những lời dạy của Đức Phật không có nghĩa là thực hành bố thí, giữ Giới, thiền định, thực hiện những hành động thiện lành bình thường để đạt tới những cảnh sống xa hoa trong cõi người, cõi trời Chư Thiên và Phạm Thiên. Ghi nhớ những lời dạy của Đức Phật ở đây là thực hành thiền minh sát cho đến khi thuần thục và hoàn thiện được bản thân, để có thể thoát khỏi được cảnh bị nô lệ và câu thúc ở địa ngục khổ đau, tiêu huỷ được nhiều loại khổ đau khác và đạt tới Niết Bàn.

 Ý nghĩa này đã được giải thích rõ ràng bởi vì từ khi còn là một vị Bồ Tát, Đức Phật đã nhận được sự thọ ký của Đức Phật Nhiên-Đăng ( Dīpankara Buddha) rằng, Ngài sẽ thành Phật để cứu độ chúng sanh. Kể từ đó, Bồ Tát đã quyết định hy sinh cả cuộc đời mình để thực hành thiền minh sát trong 4 A-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Ngài đã hy sinh cả cuộc đời mình không phải chỉ để đạt tới những cảnh sống xa hoa trong cõi người, cõi trời Chư Thiên hay Phạm Thiên mà vì mục đích muốn thoát khỏi địa ngục, luân hồi và nhiều hình thức khổ đau khác để đạt tới Niết Bàn. Do đó, ý nghĩa về những lời nói cuối cùng của Đức Phật là : “Đừng quên thực hành thiền minh sát để có thể đạt tới Niết Bàn”. 

      

           Thực hiện những hành động xứng đáng trong

                 ngày trăng tròn của tháng Àsàlha 

 

 Những người Phật tử mộ Đạo thực hành giữ Giới trong ngày trăng tròn của tháng Āsālha ( một tháng trong lịch Ấn Độ cổ đại, khoảng tháng 6 hay tháng 7 dương lịch) với ý nghĩa đặc biệt và thực hiện những hành động xứng đáng. Trước ngày trăng tròn của tháng Āsālha ( theo lịch của Việt Nam thì ngày này thường là ngày rằm tháng 6 âm lịch - ND) khoảng 4 đến 5 ngày, họ chuẩn bị các loại thức ăn ngon và bổ dưỡng để cúng dường.  Nông dân trong nhiều vùng ở Hạ Miến Điện đã cố gắng hoàn thành việc đồng áng của họ trước ngày này để có thời gian thực hiện những hành động xứng đáng. Khi ngày trăng tròn của tháng Āsālha đến, trẻ nhỏ và những thành viên trong gia đình đi đến các tu viện khác nhau hay các ngôi chùa linh thiêng để chiêm bái và tỏ lòng sùng kính đối với Phật, Pháp, Tăng. Họ cũng có thể đến các trung tâm thiền để cúng dường, ước nguyện với tâm thức vô cùng hoan hỷ và hạnh phúc. Họ thực hành giữ Giới, thiền định, thiền minh sát và lắng nghe các bậc Trưởng Thượng thuyết Pháp. Vào ngày trăng tròn của tháng Āsālha năm 1989 ( nhằm ngày 17 tháng 7 dương lịch) đã có một Lễ Đặt Bát đặc biệt được tổ chức tại trung tâm thiền Saddhammaransī

( Saddhammaransī Yeitha), số 8 đường Zeyakhema, quận Mayangon bởi một nhóm Phật tử mộ Đạo. Lễ Đặt Bát được bắt đầu từ 7 giờ sáng cho đến 9 giờ sáng, các bữa ăn sáng và các thức tráng miệng đã được chuẩn bị một cách đặc biệt để dâng cúng. Sau buổi lễ đã chấm dứt, Ngài Saddhammaransī đã thuyết Pháp về ý nghĩa của ngày trăng tròn trong tháng Āsālha. Những người lắng nghe thuyết Pháp sau đó đã gặt hái được nhiều bài học hữu ích. Họ có thể xử dụng các bài học này như là những mẫu mực để thực hành Phật Pháp trong ngày trăng tròn của tháng Āsālha. Theo truyền thống, Ngày trăng tròn của tháng Āsālha là một ngày tốt lành đối với những Phật tử mộ Đạo.

Họ thực hiện những hành động xứng đáng một cách đặc biệt bởi vì những lý do sau đây :

 1. Vào ngày này trong quá khứ, hoàng hậu Đại-Huyễn-Hoá ( Mahā Māyā) đã mang thai Bồ-Tát Cồ Đàm.

 2. Vào ngày này năm xưa, Bồ-Tát Cồ Đàm ( Bodhisatta Gautama) đã từ bỏ thế giới trần tục để đi tìm con đường giác ngộ.

 3. Cũng vào ngày này trong quá khứ, Đức Phật đã thuyết bài Pháp đầu tiên tại vườn Nai ở Sanarth( Kinh Chuyển Pháp luân- Dhammaccakkappavattana Sutta). Bởi vì có 3 sự kiện trọng đại vừa nêu trên, cho nên ngày trăng tròn của tháng Àsàlha là một ngày có ý nghĩa đặc biệt đối với tất cả những người Phật tử mộ Đạo.

 - Từ cung trời Đẩu Suất ( Tusita heaven – một cõi trời có nhiều lạc thú xa hoa của Chư Thiên và Phạm Thiên), theo lời thỉnh cầu của trời Phạm-thiên và Tứ Đại Thiên Vương ( The four great kings ‘s continents), Bồ-Tát Cồ-Đàm đã giáng trần để làm Phật trong cõi thế gian. Ngài đã được thụ thai trong dạ mẹ ( hoàng hậu Đại-Huyễn-Hoá) vào ngày trăng tròn của tháng Āsālha ( nhằm ngày thứ năm trong tuần, năm 67 của triều đại Mahā).

Ngài đã sanh vào thế giới của loài người để tự cứu vớt chính mình và muôn loài chúng sanh thoát khỏi luân hồi khổ đau. Vì vậy, ngày trăng tròn của tháng Āsālha là một ngày đặc biệt nhất đối với những người Phật tử mộ Đạo. Trong ngày này, những người Phật tử mộ Đạo thường thực hành bố thí, giữ Giới, thực hành thiền định, thiền minh sát và nhiều hành động thiện lành khác để thể hiện sự sùng kính đối với Đức Thế Tôn.

Tóm tắt: Vào ngày trăng tròn của tháng Āsālha, Bồ-Tát Cồ Đàm thụ thai trong dạ mẹ - hoàng hậu Đại-Huyễn-Hoá ( Mahā Māyā).

Bồ tát Cồ Đàm đã từng hưởng thụ xa hoa khi Ngài còn là một thái tử trong vòng 16 năm. Khi thái tử được 17 tuổi ( tức năm thứ 97 triều đại Mahā).

Vào ngày trăng tròn tháng Āsālha ( nhằm ngày thứ hai trong tuần), trong một lần ra ngoài cổng thành dạo chơi, thái tử đã nhìn thấy 4 cảnh tượng có ảnh hưởng rất lớn đối với cuộc đời của Ngài sau này. Bốn cảnh tượng đó là : Một người già, một người bệnh, một xác chết và một vị ẩn sĩ. Từ đó, Ngài đã quyết tâm tìm cho được Chánh Đạo để có thể thoát khỏi tuổi già, bệnh tật và cái chết. Vì vậy, thái tử đã từ bỏ vương quốc của cha Ngài, một mình cỡi ngựa vào rừng sâu để sống một cuộc đời không cửa không nhà. Kể từ ngày ấy, để cứu vớt chính mình và toàn thể chúng sanh ra khỏi những khổ đau trong luân hồi, Bồ Tát đã thực hành phép tu khổ hạnh trong vòng 6 năm, Ngài quyết tâm từ bỏ những lạc thú trần tục để tìm Chánh Đạo. Theo điển tích của Phật Giáo, ngày trăng tròn của tháng Āsālha ( thường rơi vào ngày 15 tháng 6 âm lịch của Việt Nam - ND) là một ngày thiêng liêng đối với những người Phật tử mộ Đạo. Trong ngày này, người ta thường thực hành bố thí, giữ Giới, thực hành thiền Định và thiền Minh sát.

Tóm tắt: Trong ngày trăng tròn của tháng Āsālha ( ngày rằm tháng 6 âm lịch của Việt Nam - ND), Bồ Tát Cồ Đàm đã từ bỏ thế giới trần tục và chấp nhận một cuộc sống không cửa không nhà để tìm Chánh Đạo.

- Những Phật tử mộ Đạo cần phải tự tạo cho mình một cảm hứng đối với gương tốt của Bồ-Tát Cồ Đàm là biết hối cải tâm tính, thương xót và nhạy cảm với sự khổ đau của muôn loài chúng sanh. Họ cần có một tâm thức giống như tâm thức của Bồ-Tát Cồ-Đàm khi Ngài trông thấy một người già, một người bệnh và một xác chết trước cổng công viên hoàng gia. Vào ngày đó, Chư Thiên ở trên trời đã tạo ra một người già tóc bạc phơ, răng rụng, tai điếc, lưng còng, run lẩy bẩy và bước đi với một chiếc gậy chống. Khi trông thấy người già đó, Bồ Tát đã hỏi người đánh xe của mình : “ Người này là ai?’ Sau đó, Ngài đã nhận được câu trả lời là : “ Đây là một người già”.  Trước đây, Bồ Tát chưa bao giờ trông thấy hay nghe nói về một người như thế nên Ngài tiếp tục hỏi : “ Một người già có những tính cách gì ?” Người đánh xe đã trả lời : “ Người già là một người không còn sống được bao lâu nữa trong thế giới của loài người”. Bồ Tát lại hỏi tiếp : “ Vậy ta có những tính cách tương tự như thế không ?”, người đánh xe lại trả lời : “ Tâu thái tử ! Không có người nào trên đời này có thể thoát khỏi được tuổi già”. Khi nghe người đánh xe trả lời như vậy, Bồ Tát cảm thấy cực kỳ thương xót và ngài đã nói với người đánh xe rằng, Ngài không muốn đến thăm công viên hoàng gia nữa, hãy quay về cung điện của Ngài. Khi Bồ-Tát Cồ-Đàm về tới cung điện của Ngài, Đức vua Tịnh Phạn ( Suddhodana) trông thấy con trai của mình trong dáng vẻ buồn bã và bần thần rất khó hiểu. Đức vua tưởng rằng con trai mình buồn bã vì không được thoả mãn với các thú vui xa hoa mà Ngài đã ban cho. Do đó, nhà vua đã ra lệnh tăng gấp đôi số người hầu để cung phụng cho thái tử vui chơi và giải trí. Tuy nhiên, trong bốn tháng liên tiếp, Bồ Tát vẫn ở mãi trong cung điện, Ngài không chịu đến công viên hoàng gia để vui chơi bởi vì những cảnh tượng mà Ngài đã trông thấy ở đó đã làm cho Bồ-Tát cảm thấy rất hối hận và thương xót. Theo kinh Mūlapaññasa Pāsarasi , Bồ-Tát Cồ-Đàm đã trầm tư về bản chất cố hữu của tuổi già trong con người. Bản chất này có thể khiến cho người ta mất hết sinh khí và không còn khả năng cảm nhận hay thích thú một điều gì nữa. Bồ -Tát đã nghĩ rằng bản thân Ngài rồi cũng phải đối diện với tuổi già. Ngày hôm nay, Ngài có thể bầu bạn với công chúa Da-du-đà-la ( vợ của Ngài) và nhiều người hầu khác. Tuy nhiên, khi tuổi già ập đến, những đối tượng có thể làm thõa mãn các cảm nhận của giác quan này sẽ không còn giá trị gì đối với Ngài nữa. Vì vậy, Bồ Tát đã trầm tư và cảm thấy cực kỳ thương xót cho kiếp sống nghiệt ngã mà con người phải chịu đựng, trong đó cũng có bản thân Ngài.

Tóm tắt: Tuổi già là bản tính cố hữu của con người, chúng ta cần phải thấu hiểu được sự thật phủ phàng này và cố gắng chấp nhận nó một cách thản nhiên.

 Sống trên đời, không có ai có thể trẻ mãi không già. Đây là một sự thật hiển nhiên. Vì vậy, Bồ-Tát Cồ Đàm đã không còn ham muốn một sức sống mãnh liệt hay khao khát những đối tượng có thể làm thõa mãn cảm nhận của các giác quan. Mang sẵn một tính cách vô thường, trước sau gì cũng phải trải qua tuổi già, Bồ-Tát Cồ Đàm đã không còn ham muốn cảnh vui thú với vợ Ngài và những người hầu. Ngài đã hoàn toàn tách rời khỏi họ. Bồ-Tát đã mong muốn rằng, với thời gian, Ngài sẽ tìm ra phương cách để tiêu huỷ được tuổi già. Phương cách đó chính là đạt tới Niết Bàn.

Tóm tắt:  Kể từ khi tuổi già được biết đến như là một bản tính cố hữu của con người , không có ai có thể thoát khỏi được nó. Chúng ta cũng không có cách gì để loại bỏ được bệnh tật ngoại trừ khi đạt tới Niết Bàn.

 Bốn tháng trôi qua kể từ khi Bồ Tát Cồ-Đàm nhìn thấy một người già, suốt trong quãng thời gian đó, Ngài đã trở nên trầm tư và hiện khởi lòng thương xót cho nổi khổ đau của muôn loài chúng sanh.. Suốt trong 4 tháng đó, kinh đô của phụ vương Ngài đã có rất nhiều cuộc vui chơi giải trí được tổ chức rất hoành tráng với nhiều người tham dự. Lần này, Bồ Tát cải trang thành một người nghèo khổ ăn mặc rách rưới. Cùng với người đánh xe, lần thứ hai, Ngài đã đến công viên hoàng gia. Trên đường đi, Bồ-Tát đã nhìn thấy một người bệnh cực kỳ ốm yếu. Người bệnh này cũng do Chư thiên tạo ra.

Trước đây, Bồ-Tát chưa bao giờ nhìn thấy hay nghe nói về một người bệnh. Do đó, Ngài đã hỏi người đánh xe rằng : “ Đây là loại người gì ?” Mặc dù người đánh xe đã trả lời đó là một người bệnh nhưng Ngài vẫn chưa hiểu. Vì vậy, người đánh xe đã giải thích thêm : “ Một người bệnh là một người đang bị sự ốm đau hành hạ. Anh ta không biết được mình sẽ được tiếp tục sống hay phải chết đi”. Bồ Tát lại hỏi : “ Vậy ta cũng sẽ phải đau đớn vì bệnh tật sao ?” Người đánh xe trả lời : “ Tâu thái tử ! Không có ai có thể thoát khỏi được bệnh tật, mọi người chắc chắn trước sau gì cũng phải đối diện với bệnh tật”. Vì vậy, sau khi nghe người đánh xe giải thích, Bồ Tát đã cảm thấy rất xót xa. Ngài đã nói với anh ta hãy đưa mình trở về hoàng cung bởi vì Ngài không muốn đến thăm công viên hoàng gia nữa. Khi Bồ-Tát về đến cung điện, Ngài cảm thấy cực kỳ thương xót. Bệnh tật đã làm cho người ta mất hết cả sức sống và không còn khả năng cảm nhận được một cái gì nữa, người bệnh đã nằm sóng xoài trên mặt đất một cách thật phi lý. Bồ Tát đã nghĩ như vậy. Sau đó, Ngài liên tưởng đến vợ Ngài và những người hầu. Rồi đây họ cũng sẽ phải lâm vào hoàn cảnh bệnh tật đau đớn giống như vậy thôi. Đến lúc đó, Ngài cũng sẽ không còn vui thú được với họ nữa. Do đó, Bồ Tát đã trở nên sợ hãi và lo lắng tột cùng.

Tóm tắt: Bệnh tật là một bản tính cố hữu của con người và đây là một sự thật phủ phàng . Chúng ta cần phải thấu hiểu được sự thật này và cố gắng chấp nhận nó một cách thản nhiên.

 Bồ Tát đã nghĩ rằng trong tương lai, bản thân Ngài cũng phải đối diện với bệnh tật. Vì vậy, Ngài đã không còn khao khát cho cuộc sống của riêng mình khi nghĩ đến tình trạng suy kiệt của thân thể con người do bệnh tật mang lại. Những ham muốn được hạnh phúc với vợ Ngài và những người hầu trong tâm thức Bồ Tát đã hoàn toàn bị dập tắt. Ngài đã hy vọng rằng với thời gian, mình sẽ tìm ra một phương cách thích hợp để thoát khỏi bệnh tật.

Phương cách đó không gì khác là đạt tới Niết Bàn.

Tóm tắtKể từ khi bệnh tật được biết đến như là một bản tính cố hữu của con người, không có ai có thể thoát khỏi được bệnh tật. Chúng ta cũng không có cách gì để loại bỏ được bệnh tật, ngoại trừ khi đã đạt tới Niết Bàn. Những phương pháp chữa bệnh chỉ là một cách thức vãn hồi để kéo dài cuộc sống của con người. Chúng không thể nào loại bỏ được bệnh tật một cách hoàn toàn.

Bốn tháng trôi qua kể từ khi Bồ Tát nhìn thấy một người bệnh, suốt thời gian đó, Ngài đã trở nên vô cùng sợ hãi và lo lắng. Trong vòng 4 tháng đó, Đức vua Tịnh Phạn đã tổ chức rất nhiều cuộc vui chơi giải trí với mục đích giảm bớt nổi buồn khổ của con trai mình. Các vị quan cận thần của nhà vua và dân chúng cũng theo đó mà có dịp để tiêu khiển một cách thoả thích. Lần thứ ba, Bồ-Tát lại đến công viên hoàng gia. Trên đường đi, Ngài đã nhìn thấy một xác chết do Chư Thiên tạo ra. Trước đây, Bồ -Tát chưa bao giờ nhìn thấy hoặc nghe nói về một người chết. Vì vậy, Ngài đã hỏi người đánh xe : “ Đây là loại người gì ?” Người đánh xe đã trả lời : “ Đây là một người chết”. Tuy nhiên, Bồ Tát vẫn chưa hiểu. Vì vậy, người đánh xe lại giải thích thêm :

“ Người chết là người mà những người thân quen của người đó sẽ không bao giờ còn nhìn thấy anh ta nữa. Bồ Tát lại hỏi : “ Thế thì cái chết có xảy đến với ta hay không ?” Người đánh xe trả lời : “ Tâu thái tử ! Không có ai có thể thoát khỏi hiện tượng này”. Lúc đó, Bồ Tát lại trở nên vô cùng lo lắng và sợi hãi khi nghĩ đến lúc Ngài phải chết. Ngài đã nói với người đánh xe rằng mình không muốn đến thăm công viên hoàng gia nữa, hãy đưa Ngài trở về hoàng cung. Khi Bồ Tát về đến hoàng cung, Ngài cảm thấy vô cùng xót xa. Ngài đã hiểu rằng cái chết là bản tính cố hữu không thể tách biệt với con người. Nó là một phần của cuộc sống. Cái chết có một sức mạnh ghê gớm. Nó có thể đàn áp và đè bẹp tất cả. Nó có thể dễ dàng cướp đi trạng thái vui sống của người ta trong chốc lát. Bồ Tát lại nghĩ đến vợ Ngài và những người hầu : “  Họ cũng có một tính cách giống như ta là trước sau gì cũng phải chết”. Lúc đó, Ngài đã nghĩ rằng, cái chết đối với con người thật bất công và phi lý. Sống trên đời chẳng có ai muốn chết. Tuy nhiên, đó là một sự thật mà con người khó có thể chịu đựng nổi.

Tóm tắt: Cái chết là một bản tính cố hữu của con người. Nó là một sự thật phủ phàng khó chịu đựng nhất trong cuộc sống của chúng ta. Sớm muộn gì chúng ta cũng phải chết và không có bất cứ một người nào có thể thoát khỏi hiện tượng ói ăm này. Chúng ta cần phải thấu hiểu được sự thật phủ phàng này và cố gắng thản nhiên chấp nhận nó như là một phần không thể thiếu của cuộc sống.

 Lúc đó Bồ Tát đã nghĩ rằng, Ngài đã mang một bản tính cố hữu trong mình là cái chết. Ngài đã thật sự biết rằng, trước sau gì mình cũng phải đối diện với nó. Bồ-Tát nghĩ rằng một ngày nào đó, mình sẽ bị cái chết cướp đi sức sống mãnh liệt. Đến lúc đó, Ngài sẽ kiệt sức và không còn khả năng để vui thú với vợ mình và những người hầu nữa. Chỉ có Niết Bàn là có thể chiến thắng được cái chết. Vì suy nghĩ như vậy, Bồ Tát đã ước muốn rằng một ngày nào đó, Ngài sẽ đạt tới Niết Bàn để có thể đoạn tuyệt với cái chết.     

Tóm tắt: Kể từ khi cái chết được biết đến như là một bản tính cố hữu của con người, không có ai có thể thoát khỏi được nó, ngoại trừ khi chúng ta đã đạt tới Niết Bàn.

 Bốn tháng nữa lại trôi qua kể từ khi Bồ Tát nhìn thấy một người chết, suốt thời gian đó, Ngài đã trở nên vô cùng xót xa cho muôn loài chúng sanh và cho chính bản thân mình. Lúc đó, tất cả những cuộc vui chơi giải trí do triều đình tổ chức vẫn còn đang tiếp diễn. Tuy nhiên, cảm giác sợ hãi và lo lắng trong Bồ Tát đã dần dần lắng xuống. Lần thứ tư, Ngài quyết định đi đến công viên hoàng gia. Trên đường đi, Ngài đã nhìn thấy một nhà tu hành mặc một chiếc y được nhuộm bằng vỏ cây Canh-ki-na ( một loại cây gần giống như cây phượng ta có vỏ cây màu vàng đậm, trái của nó khi chín có màu đen và dài khoảng từ 30 cm đến 40 cm, đường kính khoảng 1,5 cm. Ruột trái màu đen, có hạt, vị đắng và có nhựa. Người ta thường dùng trái của nó để ngâm rượu và gọi là rượu Canh-ki-na – ND). Nhà tu hành này cũng do Chư Thiên tạo ra, cốt ý để cho Bồ Tát nhìn thấy. Trước đây, Bồ Tát cũng chưa bao giờ nhìn thấy hay nghe nói về một nhà tu hành. Vì vậy, Ngài đã hỏi người đánh xe rằng : “ Đây là loại người gì ?”. Mặc dù người đánh xe đã trả lời đó là một nhà tu hành nhưng Bồ Tát vẫn chưa hiểu. Vì vậy, anh ta phải giải thích thêm : “ Tâu thái tử ! Một nhà tu hành là một người không còn sống chung với thế giới của người trần tục mà sống một mình. Ông ta không bao giờ ngược đãi hay hành hạ những người khác mà luôn luôn mang đến những điều ích lợi cho họ”. Bồ tát cảm thấy rất hài lòng với nhà tu hành này. Ngài đã phát khởi ý nghĩ rằng một ngày nào đó, Ngài sẽ từ bỏ thế tục để trở thành một người giống như thế. Sau đó, Bồ Tát đã đến công viên hoàng gia để thưởng thức các cảnh tượng đẹp mắt và những âm thanh vui tai. Ngài đã tắm trong hồ bơi của công viên hoàng gia. Trên đường trở về hoàng cung bằng xe ngựa, Ngài nhận được tin báo là vợ Ngài – Công chúa Da-du-đà-la đã hạ sanh một bé trai. Lúc đó, Ngài đã la lên : “ Rahu ! Rahu ! (  Một trở ngại ! Một trở ngại !), một hài nhi đã ra đời và trói buộc ta !”. Trên suốt chặng đường trở về hoàng cung, Bồ-Tát lại cảm thấy bất an và hối hận tột cùng. Đêm đó cũng giống như những đêm trước, hoàng cung vẫn ngập tràn trong tiếng đàn ca, nhảy múa của các nhạc công và vũ nữ. Mặc dù có rất nhiều người tham gia vào các cuộc vui nhưng Bồ Tát lại không còn hứng thú gì để hoà nhập với họ. Ngài cảm thấy buồn ngủ và đã đi ngủ rất sớm. Vào lúc nữa đêm, Ngài thức dậy và nhìn thấy những người hầu uể oải nằm ườn ra. Họ đang ngủ trong những tư thế không được lịch sự cho lắm. Lúc đó, Ngài đã nghĩ rằng, cảnh tượng này trông không khác gì một nghĩa địa. Sau đó, Bồ-Tát quyết định cần phải ra đi ngay lập tức. Ngài cho gọi vị quan giám mã của triều đình tên là Xa-Nặc ( Channa) đến để cùng đi với mình. Bồ Tát đã cỡi ngựa Kiền-Trắc ( Kanthaka) và rời khỏi hoàng cung. Khi đến bờ bên kia của dòng sông A-nô-ma ( Anomā), Ngài đã tự cắt tóc mình và trở thành một tu sĩ. Những Phật tử cần phải noi theo tấm gương của Bồ Tát Cồ-Đàm để trở nên cảm thấy hối hận, thương xót, sợ hãi và lo lắng khi nhìn thấy một người già, một người bệnh, một người chết và một nhà tu hành giống như Ngài đã thấy. Bồ Tát đã từ bỏ cả vương quốc của mình để vào sống trong rừng sâu. Quả thực đây là một niềm cảm hứng cho tất cả chúng ta. Vì sợ hãi, thương xót, lo lắng và hối hận, chúng ta cần phải thực hành Phật Pháp cho đến khi đạt tới Niết Bàn và trở thành người có thể thoát khỏi được tuổi già, bệnh tật và cái chết.    

Thế nào là sự liên tưởng đến tuổi già

 Khi đã quá già và không còn khả năng tự chăm sóc chính mình, đến lúc đó, chắc chắn chúng ta cần phải trông cậy vào người khác. Ngay bây giờ, bạn phải biết liên tưởng một cách sâu sắc về trạng thái già cả của bản thân mình trong tương lai. Nếu có thể liên tưởng như vậy, chắc chắn bạn sẽ không còn tỏ ra kiêu hãnh hay tự hào về tuổi trẻ của mình nữa. Chỉ khi tâm trí đã nhận thức được điều này một cách rõ ràng, bạn mới có khả năng thực hành Phật Pháp một cách thật sự và tinh tấn, trước khi tuổi già của bạn ập đến một cách bất ngờ và nhanh chóng không thể ngờ được.

Tóm tắt: Chúng ta cần phải liên tưởng một cách sâu sắc và nhận thức được trạng thái già cả của bản thân mình trong tương lai, trước khi tình trạng đó xảy đến một cách bất ngờ.

 Trạng thái lão hóa có 2 loại : Thể xác và tinh thần. Khi thể xác đã bị lão hoá, bạn sẽ trở nên chậm chạp và vụng về trong khi đi, đứng, nằm, ngồi… Bạn cũng sẽ có tính hay quên khi làm việc. Nói cách khác, bạn sẽ bị đãng trí vì não bộ đã bị lão hoá. Đó là lý do tại sao, khi thể xác và tâm trí của chúng ta vẫn còn năng động và có thể điều chỉnh được, chúng ta nên thực hành Phật Pháp để lãnh hội được những lời Phật dạy. Sự lãnh hội được Phật Pháp sẽ mang đến cho bạn nhiều điều lợi ích. Đừng nên để đến khi chúng ta thật sự mong muốn nhưng không còn khả năng hay thời gian để làm điều đó.  

Tóm tắtChúng ta nên thực hành thiền trước khi tuổi già của chính mình ập đến. Đây là một hành động thích hợp rất đáng thực hiện.

 Khi tuổi tác đã ngoài 70 hay 80, nếu bạn đến ở tại một trung tâm thiền để thực hành thiền ở đó, bạn sẽ không còn khả năng ngồi thiền lâu được nữa, bởi vì lúc đó thể xác của bạn đã trở nên yếu đuối. Thậm chí, bạn cũng không còn khả năng tập trung tư tưởng để có thể chú ý đến trạng thái đang cảm nhận của các giác quan. Vì vậy, bạn cũng không gặt hái được trạng thái định tâm. Nơi nào không có trạng thái định tâm thì nơi đó cũng không có thiền minh sát. Đến mới đó, nếu thực hành thiền thì bạn chỉ làm cho thể xác và tinh thần của mình thêm kiệt quệ mà thôi. Do đó, việc thực hành Phật Pháp khi tuổi đã già sẽ không mang lại kết quả gì. Thậm chí còn có hại nữa.

Tóm tắt: Thực hành thiền khi tuổi đã già là một hành động không thích hợp. Bạn không nên làm như vậy, bởi vì sẽ không gặt hái được một sự lợi ích nào cả, thậm chí có hại.

Nếu một người đã già cả nhưng chưa lãnh hội được Phật Pháp, khi người này trở nên bị đãng trí và không còn nhớ được điều gì cả trong khi ăn uống hay nói năng… Tâm trí của người này sẽ bị nhầm lẫn như tâm trí của trẻ nhỏ, thể xác và tâm thần của người này sẽ bắt đầu bị suy kiệt dần dần đến khi yếu hẳn. Đó là lý do tại sao, người ta cần phải thực hành thiền minh sát khi đang còn trẻ tuổi.

Tóm tắt: Một người già sẽ không còn khả năng lãnh hội được Phật Pháp, bởi vì tâm trí của người này đã trở nên lú lẫn.

 Thế nào là sự liên tưởng đến bệnh tật

 Chúng ta cần liên tưởng đến hiện tượng bệnh tật một cách mật thiết. Thân thể vật lý của chúng ta rất dễ bị mắc phải nhiều thứ bệnh tật, bởi vì theo luật tự nhiên, hễ có thân thể thì phải có bệnh tật. Do đó, không có một thân thể nào có thể thoát khỏi được bệnh tật. Nếu bạn chủ quan để cho một loại bệnh nào đó tấn công vào thân thể của mình thì lúc đó, vấn đề càng trở nên khó khăn hơn. Lúc đó, tính tự cao ngã mạn về một trạng thái sức khoẻ dồi dào trong của bạn chắc chắn sẽ dần dần bị giảm xuống. Chỉ khi biết cách liên tưởng đến hiện tượng bệnh tật một cách mật thiết, bạn mới chịu thực hành Phật Pháp trước khi phải đối diện với hiện tượng này.

Tóm tắtChúng ta cần phải biết liên tưởng đến sự nguy hiểm mà hiện tượng bệnh tật chắc chắn sẽ mang lại cho bản thân mình, trước khi hiện tượng này xảy đến.

Bạn nên thực hành thiền minh sát khi đang còn ở trong một trạng thái sức khoẻ tốt, thể xác đang còn mạnh mẽ để gặt hái được một năng lực tập trung tâm ý cao. Khi đã phát triển được trạng thái định tâm vững chãi, bạn sẽ gặt hái được tuệ minh sát. Khi tuệ minh sát đã chín muồi, bạn sẽ gặt hái được Đạo Quả Trí Tuệ và nhận thức được Niết Bàn Hạnh Phúc. Đó là lý do tại sao, khi đang còn ở trong hoàn cảnh thuận lợi, bạn cần phải thực hành thiền trước khi phải đối diện với một loại bệnh tật nào đó.

Tóm tắtTrước khi phải đối diện với bệnh tật, chúng ta cần phải thực hành thiền, bởi vì đây là một hành động thích hợp và cần thiết.

Chỉ thực hành thiền minh sát khi đã thật sự lâm bệnh thì tâm trí sẽ bị bệnh tật lũng đoạn. Vì vậy, nó không còn được yên tĩnh. Nếu tâm trí của  bạn không được yên tĩnh thì khả năng tập trung chú ý sẽ không phát triển được. Nếu khả năng tập trung chú ý không phát triển được thì tuệ minh sát ( Vipassanā Ñāna) cũng sẽ không phát khởi. Nếu không có tuệ minh sát thì sẽ không có Đạo Quả Trí Tuệ. Do đó, bạn sẽ không thể gặt hái được Niết Bàn Hạnh Phúc. Chỉ thực hành Phật Pháp khi đã bị bệnh tật là một hành không thích hợp và bất lợi.

Tóm tắtChỉ thực hành thiền khi bị bệnh tật là hành động không thích hợp và bất lợi.

Những người thực hành thiền trước khi bị một loại bệnh tật nào đó xâm nhập thì họ sẽ vượt qua được khổ thọ. Nhờ đó, họ sẽ không còn cảm thấy khó chịu khi phải chạm trán với khổ thọ. Tinh thần của những người này sẽ không còn bị khổ thọ quấy nhiễu. Một thời, có một người đàn ông giàu có tên là Nakulapita đã khẩn nài Đức Giáo Chủ chỉ dạy cho ông cách thực hành Phật Pháp để gặt hái một trạng thái tâm yên tĩnh. Lúc đó, Nakulapita đã quá già và phải chịu nhiều đau khổ do sự hành hạ của nhiều loại bệnh tật. Đức Giáo Chủ đã khuyên bảo ông rằng, hãy thực hành thiền với đề mục “ chỉ có thân xác của ông là đau khổ, tinh thần của ông thì không bao giờ”. Người đàn ông giàu có đã rất hài lòng và đảnh lễ Đức Phật. Sau đó, ông từ giã Đức Phật và đến gặp Tôn giả Xá- Lợi- Phất rồi đảnh lễ Ngài. Tôn giả Xá- Lợi- Phất đã cho nhận xét rằng : “ Hỡi người đàn ông giàu có ! Sắc mặt của ông trông tươi tỉnh và sáng láng hẳn ra, Đức Giáo Chủ đã thuyết pháp cho ông nghe có phải không ?”. Người đàn ông giàu có đã trả lời : “ Đức Giáo Chủ đã thuyết cho tôi một bài Pháp rằng : Chỉ có thân xác là đau khổ còn tâm trí thì không bao giờ ”. Sau đó, Tôn giả Xá-Lợi-Phất đã hỏi :

“ Vậy ông đã thỉnh cầu Đức Giáo Chủ thuyết cho ông nghe ý nghĩa của sự đau khổ về thân xác và tinh thần hay chưa ?”. Người đàn ông giàu có trả lời : “ Bạch Ngài Đại Đức ! Tôi chưa bao giờ làm như thế”, rồi ông nói tiếp : “ Bạch Ngài Đại Đức ! Ngài có thể vui lòng thuyết Pháp cho tôi nghe ý nghĩa của sự khổ đau về thân xác và tinh thần không ? Làm cách nào để tâm trí của tôi không bị dính mắc vào khổ đau khi thân xác của tôi đang bị khổ đau ?”. Tôn giả Xá-Lợi- Phất đã giải thích : “ Trạng thái đau khổ về thể xác và tinh thần có nghĩa là : Những người chưa có trí tuệ sáng suốt để phân biệt được thế nào là danh ( tinh thần) và sắc ( vật chất). Họ nghĩ rằng, thể xác và tinh thần chính là bản ngã của họ. Đối với những người này, khi về già, nếu thể xác của họ bị khổ đau thì lập tức tinh thần của họ cũng sẽ bị đau khổ theo. Họ thường có hơn 20 quan kiến sai lầm về tự ngã.

Tóm tắt:  Nếu chúng ta nghĩ rằng vật chất và tinh thần là gắn chặt với nhau như là một tự ngã. Từ đó, chúng ta cứ bám riết lấy quan kiến này. Đến khi thể xác của chúng ta bị đau khổ thì tinh thần của chúng ta chắc chắn sẽ bị đau khổ theo.

 Khi thể xác của bạn bị bệnh, điều ấy không có nghĩa là tâm trí của bạn cũng bị bệnh. Bạn cần phải có một trí tuệ sáng suốt để phân biệt được rằng :  Sự phối hợp và khởi lên của Danh và Sắc chỉ là những hiện tượng nhất thời và không bền vững. Khi một người nào đó đã có thể phân biệt được mối quan hệ giữa Danh và Sắc, mặc dù khi thể xác của anh ta bị đau nhưng tâm trí của anh ta vẫn không hề đau tí nào. Vì vậy, Bạn nên lưu ý rằng : “ Chỉ có thể xác là có bệnh tật, còn tâm trí thì không bao giờ ”. Do đó, để có khả năng làm cho tâm trí của chính mình không bị đau khổ khi thể xác bị bệnh tật, bạn cần phải thực hành thiền minh Sát đang khi còn khoẻ mạnh.

 Tóm tắtĐang khi những hiện tượng thuộc về thể xác và  tinh thần hiện khởi, chúng ta cần phải phân biệt được rằng, chỉ có thể xác là có thể khổ đau còn tâm trí thì hoàn toàn không.

 Làm thế nào để hồi tưởng được nét đặc trưng của cái chết

 Sự sống của tất cả chúng ta là vô thường. Trong khi đó, cái chết thì ngược lại, nó luôn thường hằng. Bạn không thể biết trước mình còn sống được bao lâu, khi nào thì bệnh tật sẽ tấn công bản thân mình. Bạn cũng không thể biết được khi nào thì mình chết và chết ở đâu. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn rằng, trước sau gì bạn cũng phải chết. Ngày hôm nay, một người có thể đang còn sống. Tuy nhiên, anh ta không thể biết chắc là ngày mai mình có còn sống hay không. Vì vậy, anh ta cần phải biết hồi tưởng về cái chết để có thể nắm được nó trong lòng bàn tay của mình. Chỉ khi đã có được một lý trí như thế thì bạn mới thôi kiêu hãnh ngã mạn khi đang còn sống trên cuộc đời này. Chỉ khi đó, bạn sẽ luôn luôn nhớ thực hành thiền minh Sát và phát triển nó càng sớm càng tốt. Khi đang còn sống với thân phận là một con người, bạn đã và đang nghe tiếng nói của Chánh Pháp. Bạn đã và đang gặp được những lời giáo huấn của Đức Phật. Vì vậy, đây là quãng thời gian quí báu nhất.

Chúng ta hãy nên phơi cỏ cho khô khi trời đang còn nắng”. Bạn nên thực hành thiền minh Sát trong khoảng thời gian quí báu và cao thượng này, để có thể đạt tới Niết Bàn bất sanh bất diệt.

Tóm tắtTrước khi chết, chúng ta nên thực hành thiền minh sát, bởi vì đây là một hành động thích hợp.

Những người không có thói quen hồi tưởng về cái chết thường thích hưởng thụ những lạc thú của trần gian và bỏ bê những phẩm hạnh xứng đáng như : Bố thí hay thực hành thiền minh Sát. Họ có rất ít thiện chí và không thực hành thiền minh Sát. Vì vậy đến khi sắp chết, họ sẽ nhìn thấy những dấu hiệu xấu, phải chết trong trạng thái tâm hoang mang bối rối và sợ hãi.

Tóm tắtPhải chết trong một tâm trạng hoang mang bối rối và sợ hãi là một điều không thích hợp.

Một người đã chết sau khi nhìn thấy những dấu hiệu xấu sẽ bị tái sanh vào thế giới của địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh và A-tu-la. Người này sẽ phải chịu đựng khổ đau cùng cực trong cõi luân hồi với những khổ cảnh, bởi vì trước đó anh ta đã có những hành động lầm lạc.

Tóm tắtĐến khi chết, nếu chúng ta chưa nhận thức được Phật Pháp thì nhất định đây là một điều sai lầm nghiêm trọng.

 Vì vậy, bạn cần phải biết hồi tưởng về cái chết trong chính bản thân mình và thực hành thiền minh sát để có thể đạt tới Niết Bàn bất sanh bất diệt. Nếu có thói quen tốt như thường thích nghe thuyết Pháp về trạng thái già cả, trạng thái tan hoại của vạn hữu và cái chết trong những ngày trăng tròn của tháng Āsālha, bạn sẽ dễ dàng và mau chóng đạt tới Niết Bàn. Khi đã đạt tới Niết Bàn thì điều này cũng có nghĩa là bạn đã chiến thắng và loại bỏ được tuổi già, trạng thái tan hoại và cái chết. Lành thay !

 

                   Bốn điều không thể ngăn chặn

 

 Vào ngày thứ 8 của tháng Sāvano ( khoảng tháng 7 hay tháng 8 dương lịch) năm 1351 theo lịch Miến Điện, tức ngày 24 tháng 8 năm 1989, một cuộc thuyết Pháp đã được mở ra với nhiều người Phật tử tham dự. Những người khôn ngoan sáng suốt thường cố gắng ngăn chặn những mối nguy hiểm xảy đến với họ. Tuy nhiên, họ cũng không thể ra tay trước để thực hiện điều đó. Họ chỉ có thể xử dụng sức mạnh vật chất, tinh thần hay sự giàu có của mình để ngăn chặn những mối nguy hiểm. Song, nếu những người này chưa có khả năng để giúp đỡ chính mình thì họ có thể nhờ những người khác giúp đỡ. Trong sự cố gắng xử dụng các khả năng để ngăn chặn những mối nguy hiểm xảy ra với chính mình, một vài mối nguy hiểm có thể bị đẩy lùi.  Tuy nhiên, một vài điều nguy hiểm khác thì vẫn bất khả kháng. Vì vậy, có thể những người khôn ngoan sáng suốt nói trên sẽ mỏi mòn, buồn khổ và than khóc. Trong cuộc sống, mặc dù đã biết trước những mối nguy hiểm nào đó, tuy nhiên người ta vẫn không có cách nào để ngăn chặn được chúng. Chỉ có Giáo Pháp của Đức Phật là có thể làm giảm bớt những nổi đau của muôn loài chúng sanh. Không còn nghi ngờ gì nữa, trên đời này, không có bất ai có thể ngăn chặn được 4 sự thật hiển nhiên sau đây :

 1. JāradhammaBản chất nguy hiểm của tuổi già

 2. VyādhidhammaBản chất nguy hiểm của bệnh tật

 3. MaranadammaBản chất nguy hiểm của cái chết

4. Pāpa kamma VipākaKết quả của những hành động xấu xa

                                                                               ( Am 1/ 491)

Tất cả muôn loài đang sinh sống trong thế giới này đều không muốn phải chạm trán với những mối nguy hiểm như : Tuổi già, bệnh tật, cái chếtkết quả của những nghiệp xấu. Tuy nhiên, họ không có cách nào để thoát khỏi những mối nguy hiểm này. Mặc dù vậy, bằng mọi giá họ nhất định phải vượt qua chúng. Các nhà khoa học cũng không thể ngăn chặn được bốn điều nguy hiểm này. Con người có thể thực hiện nhiều cuộc hành trình lên mặt trăng bằng những phương pháp khoa học tối tân và hiện đại. Tuy nhiên, họ cũng chưa vượt qua được bốn điều nguy hiểm nói trên. Những người đã sở hữu các sức mạnh ma thuật huyền bí hay năng lực siêu nhiên cũng không thể ngăn chặn được 4 điều nguy hiểm đó.Vậy mà, Đức Phật đã ngăn chặn được chúng như chúng ta đã thấy.

Tóm tắt: Tuổi già, bệnh tật, cái chết, tác động của nghiệp xấu là 4 điều không thể ngăn chặn.

 Tất cả muôn loài đang sinh sống trong thế giới này trước sau gì cũng phải chạm trán với những mối nguy hiểm là : Tuổi già, bệnh tật và cái chết. Họ đang ngày càng tiến lại gần những mối nguy hiểm lớn lao đó như thể đang đi về phía một con rắn có nọc độc cực mạnh. Những người đang thực hiện cuộc hành trình đó đi xuyên qua những nơi chốn mà nọc độc của rắn tựa như gậy gộc và giáo mác đang rình rập và đe dọa sự an toàn của họ. Không sớm thì muộn, trước sau gì người ta cũng bị buộc phải đối diện với những mối nguy hiểm lớn lao nói trên. Do đó, trong đời sống hàng ngày, có rất nhiều người đang nổ lực tìm cách vượt qua chúng bằng cách nghiên cứu, học tập và thực hành Giáo Pháp của Đức Phật. Họ đã và đang nổ lực làm điều đó như thể đang đối diện với gậy gộc và giáo mác để tìm kiếm sự tự do đích thực.

 Trạng thái tâm chiêm nghiệm về mối nguy hiểm của tuổi già, việc nghiên cứu, học tập và thực hành Giáo pháp của Đức Phật

Nếu cứ sống trong thế giới này đến khi trở nên già nua thì chắc chắn đến lúc đó, bạn phải trông cậy vào những người khác, bởi vì khi đã quá già bạn sẽ  không còn khả năng để tự chăm sóc cho chính mình. Bạn cần phải có một khả năng nhìn xa trông rộng và mạnh mẽ giống như thế. Nếu đã có được một khả năng nhìn đúng đắn giống như thế thì niềm kiêu hãnh về tuổi trẻ trong tâm thức của bạn sẽ chấm dứt. Vì vậy, bạn phải luôn luôn nhớ thực hành Phật Pháp trước khi tuổi già xảy đến với chính mình.

Tóm tắtTuổi già là một mối nguy hiểm lớn lao. Vì vậy, trước khi nó xảy đến, chúng ta cần phải chiêm nghiệm về nó để hiểu rõ bản chất của nó. Chúng ta cũng cần phải nhận thức được mối nguy hiểm mà tuổi già sẽ mang lại cho chính mình.

Có 2 loại tuổi già : Tuổi già về thể xác và tuổi già về tinh thần. Khi một người đã trở nên già cỗi, thân thể vật lý của người này sẽ trở nên nặng nề và lóng ngóng, chỉ việc đi lại thôi cũng cảm thấy mệt mỏi, ngồi cũng mệt mỏi và đứng cũng mệt mỏi… Tất cả những điều này là các dấu hiệu của tuổi già về mặt thể xác. Tính hay quên là dấu hiệu của tuổi già về mặt tinh thần.

Nếu người này có thực hành thiền minh sát đang khi còn tuổi trẻ, khi đang còn khoẻ mạnh, sáng láng và nhanh nhẹn thì tâm trí của ông ta chắc chắn phải còn tốt. Nhờ đó, ông ta sẽ có khả năng lãnh hội Giáo Pháp của Đức Phật một cách nhanh chóng và gặt hái được nhiều lợi ích.

Tóm tắt  : Trước khi tuổi già xảy đến, nếu chúng ta có thực hành thiền thì đó là một hành động rất thích hợp.

 Nếu thực hành thiền minh sát lúc đang còn trẻ, bạn dễ dàng lãnh hội được Giáo Pháp. Nếu đợi đến lúc về già mới thực hành loại thiền này thì khả năng lãnh hội Giáo Pháp của bạn sẽ rất kém cõi, thậm chí có hại. Độ tuổi để thực hành thiền minh sát thích hợp nhất là từ 20 đến 40 tuổi. Ở độ tuổi đó, người ta chỉ cần thực hành thiền tích cực trong vòng 1 tháng thôi cũng đã lãnh hội được Giáo Pháp. Những người ở độ tuổi từ 50 đến 60 nếu thực hành thiền minh sát phải cần khoảng 2 tháng hoặc hơn nữa để có thể lãnh hội được Phật Pháp. Những người khi còn trẻ chưa xây dựng được một nền tảng thiền định, đến lúc 70 hay 80 tuổi mới tìm đến các trung tâm thiền để học tập và thực hành thiền minh sát sẽ rất khó gặt hái được trạng thái định tâm.Thân thể của họ lúc ấy đã trở nên ốm yếu hom hem. Vì vậy, họ sẽ không có khả năng ngồi thiền lâu. Trí nhớ của họ lúc đó đã có nhiều khiếm khuyết. Do đó, họ không thể tập trung chú ý cao vào các hiện tượng đang khởi lên. Nơi nào không có trạng thái định tâm thì nơi đó sẽ không có thiền minh sát hay trí tuệ. Nếu những người già này thực hành thiền minh sát thì họ chỉ phí công vô ích. Thậm chí, họ chỉ làm cho thân xác và tinh thần của mình thêm kiệt quệ.

Khi đã tìm được một thiền sư để học thiền thì họ sẽ có khả năng trình Pháp cho vị thầy dạy mình. Sự nhận thức của họ cũng có thể có nhiều lầm lạc. Các vị thiền sư có thể sẽ khiển trách hay tỏ ra gay gắt, bởi vì họ đã không thể chú tâm một cách nghiêm túc. Năng lực chú tâm của họ thường bị gián đoạn. Sau đó, họ sẽ trở về nhà và không lãnh hội được Giáo Pháp. Đó là lý do tại sao, thực hành Phật Pháp khi tuổi đã quá già sẽ không gặt hái được một sự lợi ích nào cả.

Tóm tắt  :  Thực hành thiền khi tuổi đời đã quá già là một hành động không thích hợp.

Khi đã ở trong độ tuổi quá già, người ta sẽ không còn khả năng nhận thức được Giáo Pháp của Đức Phật, bởi vì trí nhớ của họ đã trở nên kém cõi và hay quên. Có nhiều người già sau khi thọ thực xong, họ không còn nhớ là mình đã vừa ăn cái gì. Sau khi nói một điều gì đó, họ cũng không nhớ được là họ đã nói cái gì… Những người già này đã trở nên lú lẫn và suy nhược về thể xác và tinh thần. Đôi lúc, bổng nhiên họ trở thành như trẻ nhỏ mới 2 tuổi. Đó là lý do tại sao, chúng ta cần phải thực hành thiền minh sát trước khi tuổi già của chính mình ập đến.

Tóm tắtKhi đã già, chúng ta sẽ không còn khả năng nhận thức Giáo Pháp của Đức Phật và sẽ có nhiều sự nhầm lẫn trong nhận thức.

  Hành động để vượt qua những căn bệnh hiểm nghèo và tìm kiếm Giáo Pháp Cao Thượng

 Chúng ta cần phải suy nghĩ thật sâu sắc về những mối nguy hiểm của bệnh tật và lãnh hội chúng một cách mạnh mẽ . Bạn cần có được một lý trí tỉnh táo để nhận biết rằng, vào một ngày nào đó, thân thể cảu chính mình chắc chắn phải bị nhiều loại bệnh tật quật ngã. Đến lúc đó, bạn sẽ trở nên vô dụng, niềm kiêu hãnh về sức khoẻ mà bấy lâu nay bạn đã sở hữu chắc chắn sẽ theo đó mà chấm dứt. Vì vậy, bạn phải nhớ thực hành Giáo Pháp trước khi những mối nguy hiểm của bệnh tật ập đến với chính mình.

Tóm tắtChúng ta cần phải suy nghĩ sâu sắc về những mối nguy hiểm của bệnh tật trước khi chúng ập đến với chính mình.

Nếu thực hành thiền minh sát đang khi còn mạnh khoẻ, lúc mà thân thể vẫn còn cường tráng thì chắc chắn bạn sẽ gặt hái được trạng thái định tâm. Khi trạng thái định tâm đã phát triển và trở nên  mạnh mẽ, bạn sẽ gặt hái được tuệ minh sát. Khi tuệ minh sát đã đầy đủ và chín muồi, bạn sẽ đạt tới Niết Bàn thông qua Quả Tuệ. Vì vậy, thật là lợi ích nếu bạn thực hành Phật Pháp trước khi bị mắc phải một căn bệnh nào đó.

Tóm tắt: Bạn nên thực hành Phật Pháp trước khi bị mắc phải một căn bệnh nào đó, bởi vì đây là một hành động thích hợp và cần thiết.

Những người cố gắng thực hành Giáo Pháp khi đã thật sự bệnh sẽ gặp phải nhiều khó khăn trở ngại, bởi vì trước hết họ phải vượt qua được trạng thái đau khổ do bệnh tật mang lại. Khi đang bị bệnh tật hành hạ, chắc chắn tâm trí của họ sẽ không được yên ổn. Do tâm trí không được yên ổn, họ sẽ không gặt hái được trạng thái định tâm. Nếu không thể định tâm thì họ sẽ không gặt hái được tuệ Minh sát. Khi không có tuệ Minh sát thì những người nói trên chắc chắn sẽ không thể đạt tới Niết Bàn.Vì vậy, nếu thực hành Phật Pháp khi đang lâm bệnh thì chúng ta sẽ không gặt hái được một kết quả nào cả. Thậm chí còn có hại.

Tóm tắtThực hành thiền khi đang lâm bệnh là một hành động không thích hợp, thậm chí có hại.

 Chúng ta cần phải thực hành thiền trước khi bị một căn bệnh nào đó quật ngã, bởi vì chúng ta phải tìm cách vượt qua được khổ thọ trong quá trình thực hành thiền để đạt tới một trạng thái tâm mà trong đó, chỉ có thân xác của chúng ta là có thể đau đớn, còn tâm trí của chúng ta thì không.

 Một thời, có một người đàn ông giàu có tên là Nakula Pitā. Lúc bấy giờ, ông ta đã trở nên quá già và hay đau ốm. Nakula Pitā đã đến gặp Đức Phật và thỉnh cầu Ngài dạy cho ông cách thực hành Giáo Pháp. Đức Phật đã dạy cho Nakula Pitā cách thực hành Giáo Pháp để mỗi khi ông ta bị đau ốm thì chỉ có thân thể của ông ta là bị đau mà thôi, còn tâm trí của ông ta thì không. Người đàn ông giàu có đã rất hài lòng với điều vừa học được, ông đảnh lễ Đức Phật rồi ra đi. Sau đó, ông ta đã đến đảnh lễ Tôn giả Xá-Lợi-Phất. Tôn giả đã chào hỏi người đàn ông giàu có và nói : “ Ông trông có vẻ sáng láng và phấn khởi, Đức Giáo Chủ đã thuyết Pháp cho ông nghe có phải không ?” Nakula Pitā đã trả lời : “ Vâng, đúng thế. Ngài đã dạy tôi cách thực hành Giáo Pháp để khi thân thể của tôi bị đau nhưng tâm trí của tôi thì không”. Sau đó, tôn giả Xá-Lợi-Phất đã hỏi Nakula Pitā rằng : “ Ông đã thỉnh cầu Đức Giáo Chủ thuyết cho ông nghe ý nghĩa của việc đau khổ về thể xác và tinh thần phải không ? Người đàn ông giàu có đã trả lời rằng, ông chưa bao giờ thỉnh cầu Đức Phật giảng cho ông nghe về điều đó. Tôn giả Xá-Lợi-Phất lại tiếp tục hỏi Nakula Pitā : “ Có bao giờ ông thỉnh cầu Đức Giáo Chủ dạy cho ông cách làm cho tâm không bị đau khổ khi thân thể đang đau khổ hay chưa ?” Một lần nữa, người đàn ông giàu có lại trả lời là ông chưa bao giờ thỉnh cầu như vậy cả. Khi trả lời xong, Nakula Pitā đã thỉnh cầu Tôn giả Xá-Lợi-Phất hãy nói cho ông nghe ý nghĩa về sự đau khổ của thể xác thể và tinh thần, làm cách nào để khi thân thể của chúng ta đau khổ mà tâm trí của chúng ta lại không bị như thế. Tôn giả Xá-Lợi-Phất đã giải thích về ý nghĩa của sự đau khổ về thể xác và tinh thần như sau : Khi thân xác của chúng ta bị đau khổ thì nó có thể làm cho tâm trí của chúng ta bị đau khổ theo, bởi vì chúng ta chưa có khả năng nhận thức được rằng, danhsắc ( tinh thần và vật chất)chỉ là những hiện tượng nhất thời không bền vững. Mặt khác, Chúng ta thường nghĩ rằng thân và tâm này chính là bản ngã của chính mình. Đây cũng là một nhân tố quan trọng khiến cho tâm của chúng ta bị đau khổ theo, khi thân xác bị đau khổ. Thật ra, cái bị gọi nhầm là “ bản ngã” của chúng ta chỉ là sự cấu thành của danhsắc. Nó không hề có tự tính.

                                                                                  ( Atta titthi 20)

Tóm tắtNếu chúng ta nghĩ rằng thân và tâm chính là bản ngã của chính mình, thì từ đó, chúng ta cứ quyến luyến và bám víu vào cái bản ngã tưởng tượng này. Đến  khi thân của chúng ta bị đau khổ, nó sẽ khiến cho tâm của chúng ta bị đau khổ theo.

 Tôn giả Xá-Lợi-Phất đã giải thích rằng, chúng ta cần phải nhận thức được danhsắc chỉ là những hiện tượng nhất thời không bền vững. Chúng khởi lên rồi sẽ biến mất đi như là 2 hiện tượng tách biệt nhau. Chúng là hai, chứ không phải là một. Nếu nhận thức được như vậy, chúng ta sẽ nhận thức được rằng: Khi thể xác của chúng ta bị đau khổ. Nó không hề có tác động gì đến tâm trí của chúng ta cả. Chính tâm trí của chúng ta đã bị dính mắc vào thể xác. Vì vậy, chúng ta đã nhận thức lầm lạc rằng mình đang bị đau khổ. Vì vậy, bạn cần phải thực hành thiền minh sát đang khi sức khoẻ đang còn tốt, để có thể nhận thức được một cách chính xác là : Chỉ có thân xác của bạn mới có thể bị đau khổ mà thôi, còn tâm trí của bạn thì không bao giờ bị đau khổ cả.

Tóm tắtChúng ta cần phải nhận thức được rằng, thân thể của chính mình là có thể bị đau khổ, còn tâm trí thì không bao giờ.

 Suy nghĩ sâu sắc về sự nguy hiểm của cái chết và tìm kiếm Giáo Pháp

Cuộc sốngcủa chúng ta là vô thường. Trong khi đó, cái chết thì lại thường hằng. Một người nào đó không thể biết trước rằng mình sẽ sống được bao nhiêu năm trên cõi trần gian này. Anh ta không thể biết trước được khi nào thì bệnh tật sẽ đến quấy rầy và làm khổ chính mình. Anh ta cũng không thể biết trước khi nào thì mình sẽ chết và chết ở đâu. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là trước sau gì anh ta cũng phải chết. Có 96 loại bệnh nội tại

( bệnh từ trong cơ thể phát sinh ra) và rất nhiều mối nguy hiểm từ bên ngoài có thể xâm nhập và phá hủy cơ thể của chúng ta. Những mối nguy hiểm đến từ bên ngoài có thể kể như : Các loại vũ khí gây hại, gươm, giáo, thuốc độc… Bạn không thể đút lót hay đến viếng thăm thần chết để dàn xếp bất cứ một điều gì. Chúng ta cũng không thể làm bạn với thần chết hay tập họp lính tráng để chiến đấu chống lại ông ta. Hôm nay chúng ta đang sống đây. Tuy nhiên ngày mai chắc chắn phải khác ngày hôm nay, không có bất cứ một ai hay bất cứ một cái gì có thể bảo đảm cho chúng ta được tiếp tục sống. Vì vậy, chúng ta không còn cách nào khác là phải đối diện với cái chết để tìm cách vượt qua nó. Bạn nên luôn luôn chiêm nghiệm về cái chết để có thể hiểu được bản chất của nó. Mặt khác, nếu khéo tác ý thì bạn sẽ có khả năng biến hiện tượng chết trở thành một người cố vấn cực kỳ khôn ngoan cho chính mình. 

Tóm tắtChúng ta không thể đút lót hay đến viếng thăm thần chết để dàn xếp bất cứ một điều gì. Chúng ta cũng không thể làm bạn với thần chết hay tập họp binh lính để chiến đấu chống lại ông ta. Vì vậy, bạn không thể trì hoãn việc thực hành Phật Pháp, dù chỉ là một ngày.  

Do đó, nếu một người có lý trí để nhận thức về mối nguy hiểm của cái chết theo như trong Kinh Baddekaratta, thì niềm kiêu hãnh về cuộc sống của anh ta có thể sẽ chấm dứt. Chỉ đến khi ấy, anh ta mới nhớ thực hành Phật Pháp trước khi mối nguy hiểm của cái chết ập đến một cách bất ngờ.

Tóm tắt: Trước khi trạng thái nguy hiểm của cái chết ập đến một cách bất ngờ, bạn cần phải biết suy nghĩ sâu sắc về nó.

Trước khi cái chết xảy đến, một người đang sống trong giây phút này (đang khi Giáo Pháp của Đức Phật vẫn còn hưng thịnh) có thể lắng nghe Giáo Pháp một cách nghiêm túc. Đây chính là khoảng thời gian tốt đẹp nhất để người đó thực hành thiền minh sát và tới Niết Bàn bất sanh bất diệt.

Tóm tắtNếu trước khi chết, chúng ta có thực hành thiền minh sát thì đây là một hành động thích hợp.

 Một số người nào đó không chiêm nghiệm về cái chết sẽ cảm thấy rất thích thú với những cảm giác làm cho họ được hài lòng, Vì vậy, họ sẽ quên thực hiện những hành động thiện lành. Họ cũng sẽ xao lãng và bỏ bê việc thực hành thiền minh sát. Do đó, họ sẽ có được rất ít phẩm hạnh xứng đáng. Vì khi đang còn sống họ không thực hành thiền minh sát, nên đến khi sắp chết, họ sẽ nhìn thấy những dấu hiệu xấu và sẽ bị chết trong một tâm trạng hoang mang bối rối.

Tóm tắtChết trong tâm trạng hoang mang bối rối là một hành động không thích hợp.

Khi sắp chết, nếu nhìn thấy những dấu hiệu xấu và chết trong tâm trạng hoang mang bối rối, bạn sẽ bị tái sanh vào những khổ cảnh như : Súc sanh, A-tu-la và ngạ quỉ. Chắc chắn bạn sẽ gặp tất cả những loại khổ đau trong  luân hồi sanh tử có nguồn gốc từ những hành động lầm lạc mà mình đã phạm phải khi đang còn sống.

Tóm tắtNếu khi chết mà vẫn chưa nhận thức được Phật Pháp thì đó là một điều sai lầm nghiêm trọng.

 Vì vậy, nếu đã có lý trí để nhận thức được mối nguy hiểm của tuổi già, bệnh tật và cái chết một cách mạnh mẽ bằng cách thực hành thiền minh sát, bạn sẽ thoát khỏi những mối nguy hiểm này và đạt tới Niết Bàn. Tuổi già dẫn dắt chúng ta đến với bệnh tật và bệnh tật đưa chúng ta đến với cái chết. Giống như người chăn bò lùa đàn bò đi về phía đồng cỏ, tuổi già và bệnh tật dồn chúng ta đi về phía cái chết. Bạn sẽ gặt hái được trạng thái tự do đích thực và thoát khỏi những mối nguy hiểm của tuổi già, bệnh tật và cái chết, nếu như bạn biết cách thực hành Phật Pháp.

Tóm tắtLuôn luôn chiêm nghiệm và làm quen với những trạng thái tan hoại của vạn hữu là một hành động thích hợp. Điều này sẽ giúp cho chúng ta quen dần với bệnh tật, bởi vì trạng thái suy tàn của thân thể sẽ đưa chúng ta đến với bệnh tật. Khi đã quen với bệnh tật, chúng ta sẽ không còn sợ nó nữa. Với sự nhận thức đúng đắn về cuộc sống và tinh thàn dũng cảm, chúng ta sẽ tiếp tục tiến lại gần cái chết để chiêm nghiệm và làm quen với nó, bởi vì trước sau gì bệnh tật cũng sẽ dồn chúng ta đến với cái chết. Không có sự sống nào có thể chiến thắng được mối nguy hiểm của trạng thái tan hoại, bệnh tật và cái chết. Khi đã biết chiêm nghiệm về những tình trạng tan hoại, bệnh tật và cái chết một cách sâu sắc và vững vàng, chúng ta sẽ thoát được những mối nguy hiểm lớn lao này.

 Một người nào đó đang bị những kẻ thù bao vây. Mặc dù vậy, anh ta vẫn còn lối thoát để tìm kiếm một chỗ ẩn nấp an toàn. Nếu người này không biết nắm lấy cơ hội để chạy trốn thì anh ta đúng là một kẻ điên rồ. Nếu phải ở trong tình huống giống như anh chàng điên rồ kia, những người khôn ngoan sáng suốt sẽ biết nắm bắt lấy cơ hội tốt và chạy trốn ngay lập tức. Tương tự như vậy, những người đang chạm trán với mối nguy hiểm của tuổi già, bệnh tật và cái chết vẫn còn cơ hội chạy thoát khỏi chúng để tìm đến với Chánh Đạo. Nếu những người này không chịu thực hành Chánh Đạo để có thể đạt tới Niết Bàn thì rõ ràng họ là những người điên rồ.Vì vậy, ngay lập tức, bạn cần phải thực hành Phật Pháp để đạt tới Chánh Đạo. Thực hành thiền định và thiền minh sát là thực hành Chánh Đạo. Nhờ đó, bạn sẽ đạt tới Niết Bàn.

Tóm tắtĐối mặt với mối nguy hiểm của tuổi già, bệnh tật và cái chết là nhiệm vụ mà bạn phải tự mình thực hiện lấy. Không có ai có thể giúp bạn làm những điều đó được. Thậm chí là cha mẹ hay con cái của bạn. Tự phát triển Chánh Pháp trong chính mình là cách thức chắc chắn nhất để đối trị với mối những nguy hiểm nói trên.

Việc thuyết Pháp về mối nguy hiểm của tuổi già , bệnh tật và cái chết như vậy là đã tương đối đầy đủ. Bây giờ chúng ta sẽ tiếp tục với những nghiệp xấu hay những hành động xấu xa đã thực hiện trong quá khứ. Không có ai trong thế giới này mong muốn chạm trán với mối nguy hiểm của tuổi già, bệnh tật và cái chết. Tuy vậy, trong thực tế không có ai có thể thoát được những mối nguy hiểm này. Chắc chắn tất cả mọi người đều sẽ phải chạm trán với chúng trong một lúc nào đó, không sớm thì muộn. Tương tự như vậy, cũng không có ai trong thế giới này mong muốn đối mặt với những kết quả của nghiệp xấu ( Akusala Vipāka - Result of the bad karma). Song, tất cả mọi người đều không thể thoát khỏi những nghiệp này. Chắc chắn họ sẽ phải chạm trán với sự tác động của nghiệp xấu ( The effect of the bad karma). Một Tu- Đà-Hườn cũng không thể thoát được nghiệp xấu. Thậm chí, một A-La-Hán cũng phải chịu kết quả của nghiệp xấu mà vị này đã từng tạo ra. Thứ hậu Sāmāvati và 500 người hầu gái của bà cũng phải chịu kết quả của nghiệp xấu khi hạnh Ba-La-Mật của họ vẫn còn non nớt. Một ngày nọ, tất cả họ đi đến một bờ sông để tắm rửa và vui đùa. Khi vừa bước lên bờ, họ cảm thấy lạnh nên đã châm lửa đốt một bụi cây để sưởi ấm. Khi ngọn lửa đã tắt, họ trông thấy giữa đống tro tàn có một vị Phật Độc Giác ( Pacceka Buddha) đang đi khất thực. Lúc đó, họ vô cùng sợ hãi, bởi vì nếu nhà vua biết được chuyện này thì họ sẽ bị phạt rất nặng. Do đó, họ đã chất củi thêm và tiếp tục châm lửa đốt với ý định giết chết vị Phật Độc Giác để phi tang sự vụ. Điều này đã khiến vị Phật Độc Giác biến mất. Vì đã châm lửa đốt cháy vị Phật Độc Giác, tất cả họ đều phải chịu cảnh đau khổ trong khoảng thời gian hơn 100 ngàn năm dưới địa ngục như là một sự trả nợ. Khi đã mãn hạn đầy đọa ở địa ngục, trong suốt 100 kiếp sống sau đó, họ đã bị chết cháy và nhà cửa của họ cũng bị thiêu rụi. Đó là kết quả của nghiệp xấu mà họ phải gánh chịu. Trong thời Đức Phật Thích Ca còn tại thế, thứ hậu Sàmàvati và 500 người hầu gái của bà đều trở thành Tu-Đà-Hườn sau khi được nghe Khujjutara thuật lại bài thuyết Pháp của Đức Phật. Tuy nhiên, khi đã trở thành Tu-Đà- Hườn, họ cũng vẫn chưa thoát khỏi được nghiệp xấu. Một ngày nọ, một vị Bà-La-Môn tên là Māgundi (cậu ruột của thứ hậu Sāmāvati và cũng là đối thủ của bà) đã quét thạch du ( dầu thô chưa qua tinh lọc) lên chỗ ở của thứ hậu. Khi được hỏi vì sao lại làm như thế, vị Bà-La-Môn trả lời rằng nhà vua đã ra lệnh cho ông ta làm việc đó. Khi đã quét dầu lửa lên khắp ngôi nhà mà thứ hậu Sāmāvati và 500 người hầu gái của bà đang ở, vị Bà-La-Môn nọ đã sai người khoá chặt tất cả các cửa ra vào của căn nhà và châm lửa đốt. Thế là thứ hậu Sāmāvati và 500 người hầu gái của bà đã bị thiêu sống. Đây chính là kết quả có nguồn gốc từ hành động xấu xa của họ trong quá khứ - thiêu cháy vị Phật Độc Giác năm xưa.

A-La-Hán cũng phải gánh chịu tác động của nghiệp xấu

Trong một kiếp sống ở quá khứ, khi hạnh Ba-La-Mật của Tôn giả Đại-Mục-Kiền-Liên vẫn còn non nớt. Lúc đó, Ngài đang là con trai của hai người mù sống tại đô thị của xứ Ba-La-Nại. Do nghe lời xúi giục của người vợ xấu xa, Tôn giả đã nói với cha mẹ bị mù loà của Ngài là những người bà con của họ đang muốn gặp họ. Nói xong, Ngài đặt cha mẹ của mình lên một chiếc xe bò và đưa họ đến giữa một khu rừng. Khi đến nơi, Ngài đã la toáng lên là mình bị cướp chặn đường để che dấu hành động xấu xa của mình. Sau đó, Tôn giả đã nổi lửa đốt chiếc xe và giết chết cha mẹ Ngài. Bởi vì đã phạm phải tội lỗi cực kỳ tàn ác là giết cha mẹ, Tôn giả  đã phải chịu đựng đau khổ hơn 100 ngàn năm dưới địa ngục. Sau khi thoát khỏi địa ngục, tác động của nghiệp xấu vẫn chưa buông tha Ngài Mục- Kiền- Liên. Trong suốt 100 kiếp sống tiếp liền sau đó, Ngài đã liên tục bị người ta đánh chết. Hễ cứ sanh ra là bị đánh chết, tiếp tục tái sanh lại bị đánh chết và cứ tiếp tục như thế…  Mặc dù đã là một A-La-Hán và đã gặt hái được danh hiệu Etadagga với nhiều năng lực siêu phàm. Tuy nhiên, Tôn giả Mục-Kiền-Liên cũng không thể thoát khỏi được tác động xấu của nghiệp là giết cha mẹ trong một kiếp sống ở quá khứ xa xôi. Một thời, khi Ngài Mục-Kiền-Liên đang trú trong một tu viện được xây bằng đá thanh trên một ngọn đồi nằm bên cạnh vườn Nai. Những người theo tà giáo ở gần đó đã tỏ ra ghen tị với Tôn giả, bởi vì Ngài được quần chúng yêu mến và cúng dường rất nhiều của cải. Sau đó, 500 tên cướp theo tà giáo đã bao vây Tôn Giả Mục-Kiền-Liên và giết chết Ngài để cướp đi 1000 đồng bạc. Trong lần đầu tiên, 500 tên cướp theo tà giáo đã bao vây Tôn giả Mục-Kiền-Liên tại tu viện mà Ngài đang trú ngụ để giết Ngài. Tôn giả đã dùng thần thông thoát qua lỗ khoá cửa. Lần thứ hai khi bị bao vây, Ngài đã bay lên mái nhà và đi bộ trong không trung để đào thoát. Lần thứ ba, khi bị những tên cướp tà giáo bao vây, Ngài Mục-Kiền-Liên đã chiêm nghiệm và biết rằng mình không thể nào thoát được tác động của nghiệp xấu là giết cha mẹ trong một kiếp sống ở quá khứ, khi hạnh Ba-La-Mật của Ngài hãy còn non nớt. Vì đã nhận thức được như vậy, Ngài đã quyết dịnh đầu hàng và đứng yên chịu chết. Năm trăm tên cướp theo tà giáo đã đánh Tôn giả Mục-Kiền-Liên cho đến khi xương của Ngài vỡ ra thành từng mảnh nhỏ như hạt gạo. Trong kiếp sống cuối cùng ở luân hồi, Ngài Mục-Kiền-Liên cũng vẫn chưa thoát được tác động của nghiệp xấu, mặc dù lúc đó Ngài đã là một A-La-Hán. Sau khi chấm dứt kiếp sống cuối cùng trong luân hồi, Tôn giả đã đạt tới sự giải thoát cuối cùng và nhập vào Niết Bàn Vô Dư ( tức Niết Bàn trọn vẹn – Parinibbāna). Đó là lý do tại sao, những thiện nam tín nữ Phật tử là con của  những bậc cha mẹ thiện lành phải biết tự kìm chế để không bị phạm vào những tội lỗi xấu xa nghiêm trọng. Bằng hạnh lắng nghe thuyết Pháp về 4 điều không thể ngăn chặn, hiểu rõ và thực hành chúng, họ có thể đạt tới trạng thái tự do đích thực, thoát khỏi mối nguy hiểm của tuổi già, bệnh tật, cái chết và kết quả của nghiệp xấu. Từ đó, họ sẽ có khả năng đạt tới Niết Bàn một cách dễ dàng và nhanh chóng.

 

                              Bốn dạng cá thể

 

Tất cả mọi người đang sống trong thế giới này đều mong muốn biết được quá khứ và tương lai của chính họ, những nguyên nhân và kết quả tốt hay xấu đã chi phối cuộc đời họ như thế nào. Họ cũng mong muốn biết được những thông tin này đã tác động như thế nào lên những thành viên trong gia đình, bạn bè và người quen của họ. Do đó, họ thường có xu hướng thích gần gũi với những người xem tướng số, xem chỉ tay, những người có khả năng tiên đoán tương lai, những người có kiến thức về thần giao cách cảm… Thậm chí, người ta còn muốn biết về cuộc sống của những người đã chết có quan hệ với họ như cha mẹ, người thân, bạn bè…Người ta cũng muốn biết những người đã quá cố vừa nói hiện nay đã tái sanh vào cảnh giới nào. Đối với những người mong muốn biết được quá khứ, tương lai, nhân và quả tốt hay xấu…Đức Phật đã có một bài thuyết Pháp dành cho họ. Ngài đã chia họ ra làm 4 dạng người như sau :

  1. Người đến từ bóng tối và sẽ đi vào bóng tối

  2. Người đến từ bóng tối và sẽ đi vào ánh sáng

  3. Người đến từ ánh sáng và sẽ đi vào bóng tối

  4. Người đến từ ánh sáng và sẽ đi vào ánh sáng

   A.  Người đến từ bóng tối và sẽ đi vào bóng tối nghĩa là người đã chết ở địa ngục, thế giới của súc sanh, ngạ quỉ và A-tu-la ( những cảnh sống sầu muộn thống khổ và tối tăm). Sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi người, đến khi chết trong cõi người họ lại trở về với 4 cảnh sống sầu muộn thống khổ trong luân hồi sanh tử. Bằng cách nào chúng ta có thể biết được một người nào đó đã đến từ 4 cảnh sống sầu muộn thống khổ ? Bằng cách nhìn thấy một cá nhân nào đó khi sinh ra trong một gia đình làm nghề săn bắn, chài lưới, hành khất… những cá nhân khi sinh ra bị thiệt thòi so với những người khác như bị : Mù lòa, gù lưng, cụt chân, chân bị vòng kiền, tay bị cong vẹo hay chỉ có nữa bàn tay, thân thể bị biến dạng, sức khoẻ cực kỳ yếu đuối, có quá ít của cải hay cha mẹ quá nghèo khó…Đây chính là dạng người đến từ 4 cảnh sống sầu muộn thống khổ và tối tăm. Bằng cách nào chúng ta có thể biết được một người sau khi chết sẽ bị đọa xuống 4 cảnh sống sầu muộn thống khổ ? Bằng cách nhìn thấy một cá nhân nào đó đã đến từ những cảnh sống sầu muộn thống khổ. Khi sinh ra trong một gia đình có địa vị xã hội thấp kém, dung mạo xấu xí và biến dạng, sức khoẻ quá yếu đuối và nghèo khổ. Khi đã khổ như vậy rồi mà trong kiếp sống hiện tại, người này vẫn còn tiếp tục sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, làm cho người khác bị chia rẽ và bất hoà, vi phạm nhiều tội lỗi xấu xa khác... Dạng người này sau khi chết, chắc chắn sẽ bị tái sanh trở lại 4 cảnh sống sầu muộn thống khổ trong luân hồi.Trong 4 cảnh sống sầu muộn thống khổ trong luân hồi

( gồm có : Súc sanh, ngạ quỷ, A-tu-la và địa ngục) không có ánh sáng của trí tuệ để có thể nhận thức một cách đúng đắn thế nào là những hành động thiện lành xứng đáng hay thế nào là những hành động tội lỗi xấu xa. Ở những cảnh giới đó không có ánh sáng, chỉ có bóng tối. Ở những nơi đó không có cơ hội để thực hiện những hành động xứng đáng, vì vậy cũng không có trạng thái hạnh phúc. Những người sống ở những cảnh giới đó phải chịu đựng nhiều khổ đau. Tâm thức của họ luôn cảm thấy bất hạnh, sân hận và sầu khổ. Vì vậy, có thể nói, 4 cảnh sống sầu muộn thống khổ trong luân hồi sanh tử chính là bóng tối.

B. Một người đến từ bóng tối nhưng sẽ đi vào ánh sáng nghĩa là người đã chết ở địa ngục, chết như một súc sanh , ngạ quỉ, A-tu-la… được tái sanh vào cõi người cao quí. Khi chết đi ở cõi người, anh ta lại được tiếp tục tái sanh vào thế giới của loài người, Chư Thiên hay Phạm Thiên. Đó là những thế giới của ánh sáng. Bằng cách nào chúng ta có thể biết được một người đã đến từ bóng tối nhưng sẽ đi vào ánh sáng ? Bằng cách nhìn thấy một cá nhân nào đó sinh ra trong một gia đình có địa vị xã hội thấp kém, dung mạo xấu xí, nhiều bệnh tật và nghèo khổ nhưng biết ăn năn hối cải và biết thực hiện những hành động xứng đáng, có thực hành bố thí và giữ Giới, có thực hành thiền định và thiền minh sát để phát triển tinh thần. Dạng người này mặc dù đến từ bóng tối nhưng chắc chắn sẽ được đi về phía ánh sáng. Trong thế giới của loài người, Chư Thiên hay Phạm Thiên, thiện và bất thiện, tốt lành hay xấu xa được phân biệt rất rõ ràng bằng trí tuệ. Vì vậy, những thế giới này là những nơi có ánh sáng. Bởi vì khi sống trong những thế giới này, người ta sẽ có cơ hội để thực hiện những hành động xứng đáng. Vì vậy, những ai được sống trong thế giới của loài người, Chư Thiên, Phạm Thiên và có thực hiện những hành động xứng đáng thì chắc chắn họ sẽ được hạnh phúc, thoát khỏi được trạng thái khổ đau và sân hận.

C. Một người đến từ ánh sáng nhưng sẽ đi về phía bóng tối nghĩa là một cá nhân nào đó được sinh ra trong một gia đình vương giả, cha mẹ giàu có hay thuộc vào một gia đình thượng lưu, có dung mạo xinh đẹp, được mạnh khoẻ và ít bệnh tật, có nhiều của cải. Tuy nhiên, dạng người này thường tự cao ngã mạn vì cho rằng xuất thân của mình là cao quí. Bằng cách nào chúng ta có thể biết được một người đến từ ánh sáng nhưng chắc chắn sẽ đi về phía bóng tối ? Bằng cách nhìn thấy một cá nhân nào đó được sinh ra ở thế giới loài người trong một gia đình vương giả , thượng lưu, có dung mạo xinh đẹp, ít bị bệnh tật và khoẻ mạnh, giàu sang và có nhiều của cải. Tuy nhiên, anh ta không thực hiện những hành động xứng đáng, thường làm những chuyện xấu xa đồi bại như : Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, xử dụng các chất gây say, thích thú với những cảm giác dễ chịu... Dạng người này chắc chắn sẽ đi về phía bóng tối.

D. Một người đến từ ánh sáng và cũng sẽ đi về phía ánh sáng nghĩa là một cá nhân nào đó đã chết ở thế giới loài người, Chư Thiên hay Phạm Thiên rồi tái sinh vào thế giới của loài người. Sau khi chết ở thế giới loài người, anh ta sẽ đi về những nơi chốn tươi sáng như thế giới của loài người, Chư Thiên hay Phạm Thiên và cuối cùng sẽ đạt tới Niết Bàn. Bằng cách nào chúng ta có thể biết được một người đến từ ánh sáng và sẽ đi về phía ánh sáng ? Bằng cách nhìn thấy một cá nhân nào đó được sinh ra trong một gia đình vương giả, thượng lưu, có dung mạo dễ nhìn, ít bị bệnh tật, khoẻ mạnh và giàu có. Anh ta biết đem những của cải mà mình có được để bố thí cho người khác, có giữ Giới trong sạch, có thực hành thiền định và thiền minh sát. Trong cuộc sống hàng ngày, anh ta thường có những hành động thiện lành xứng đáng. Dạng người này đến từ ánh sáng và chắc chắn sẽ đi về phía ánh sáng.

Tất cả mọi người đang sống trong thế giới này, trước khi đạt tới Niết Bàn, họ đều mong muốn được làm người, Chư Thiên hay Phạm Thiên trong nhiều kiếp sống. Họ cũng mong muốn được sống trong một gia đình thượng lưu, có dung mạo xinh đẹp, ít bị bệnh tật và được giàu có.

  Được sống trong một gia đình thượng lưu

 Những ai mong muốn được sống trong một gia đình thượng lưu ở mọi kiếp sống phải biết đem những của cải kiếm được một cách hợp pháp bố thí cho người khác, phải có danh tiếng tốt và có uy tín với nhiều người, phải biết cung kính Tăng Già, tôn trọng mọi người ( bất luận là già hay trẻ), vui vẻ và luôn chia xẻ cho người khác những phương tiện tốt đẹp.

  Có dung mạo xinh đẹp

 Những ai mong muốn có được dung mạo xinh đẹp trong nhiều kiếp sống phải thực hiện  theo những điều dưới đây :

 a. Chuẩn bị thức ăn ngon để cung cấp, bố thí hay cúng dường cho những người có nhu cầu.

 b. Bố thí, cúng dường quần áo hay y phục nói chung, trang trí chùa chiền hay các tu viện.

 c. Quét dọn, lau chùi, sửa soạn giường ngủ cho Tăng Già.

 d. Kìm chế tâm tánh để không trở nên nóng giận hay bạo lực

   Ít bị bệnh tật

   Những ai mong muốn ít bị bệnh tật phải thực hiện theo những điều sau :

 a. Phải biết giữ gìn Giới Luật một cách vững chãi.

 b. Sinh hoạt ăn ở đúng vệ sinh.

 c. Bố thí, cúng dường thuốc men chữa bệnh hay các trang thiết bị y tế.

 d. Tu sửa các ngôi chùa hay tu viện đã cũ nát.

 Được giàu có

Những ai mong muốn được giàu có phải biết cúng dường cho Tăng Già y phục, thuốc men chữa bệnh, vật thực và chỗ ở như các tu viện hay chùa chiền ( tức cúng dường tứ vật dụng).  Những ai mong muốn mình sẽ không bị đọa xuống địa ngục hay những cảnh sống tối tăm sầu khổ và đạt tới Niết Bàn thì phải thực hành thiền minh sát.

           

    Kiến thức cao thượng là cái quí báu đáng tôn trọng

 

Những người khôn ngoan sáng suốt xem kiến thức hay sự hiểu biết giống như vàng, bạc, kim cương và các loại ngọc quí. Mặc dù, vàng bạc, kim cương và những loại ngọc quí mang lại sự hài lòng cho chúng ta. Tuy nhiên, thỉnh thoảng chúng cũng chính là nguyên nhân gây nên những nổi bất hạnh. Trong khi đó, kiến thức có thể phân biệt được thế nào là hạnh phúc và bất hạnh. Kiến thức hướng dẫn chúng ta tránh được những nổi bất hạnh và dẫn dắt chúng ta đến với hạnh phúc. Một người có sự hiểu biết cao thượng và đầy đủ không thể bất hạnh được. Vì vậy, kiến thức là cái đáng tôn trọng và là một loại ngọc quí tốt nhất. Những người khôn ngoan sáng suốt luôn luôn tôn trọng kiến thức như một tài sản quí báu. Kiến thức là một vị thầy tốt nhất, nó luôn khuyên bảo chúng ta đi theo những con đường có nhiều lợi ích nhất. Cha mẹ là những người giống như các vị thầy đối với con cái, mỗi khi họ còn sống với con cái của họ. Ngày nào những bậc cha mẹ vẫn còn sống thì họ vẫn luôn khuyên răn dạy dỗ con cái của họ. Cho đến qua đời, lúc đó họ mới không còn khả năng làm như vậy nữa. Trong khi đó, kiến thức luôn luôn sống mãi và hướng dẫn cho chúng ta biết cách thực hiện những điều hay lẽ phải. Đó là lý do tại sao, kiến thức là đáng tôn trọng nhất. Có 2 loại kiến thức :

1. Kiến thức thuộc về cõi thế gian ( Vocational mundane knowledge)

2. Kiến thức thuộc về cõi xuất thế gian ( Vocational Supramundane knowledge)

Kiến thức thuộc về cõi xuất thế gian có liên quan đến sự nhận thức Giáo Pháp của Đức Phật. Kiến thức thuộc cõi thế gian có 2 loại :

a. Kiến thức thuộc về nghệ thuật ( Vocational Arts knowledge)

b. Kiến thức thuộc về khoa học ( Vocational science knowledge)

Ngày xưa, việc dạy và học thuần túy qua lời nói được biết đến như là sự giáo dục về nghệ thuật. Việc dạy và học có kết hợp với việc xử dụng đôi bàn tay thì gọi là giáo dục về khoa học. Trong thời đại ngày nay, người ta thâu lượm kiến thức bằng cách nghiên cứu các môn học như :

Văn học, lịch sử, địa lý, pháp luật, giao tiếp xã hội, văn hoá… những ngành học này được gọi chung là kiến thức thuộc về nghệ thuật ( Arts Knowledge) hay kiến thức thuộc về xã  hội ( Social knowledge).

Kiến thức có được từ việc khám phá và làm hiển lộ những sự thật trong tự nhiên bằng cách phối hợp lý thuyết với thực hành như các ngành : Hoá học, vật lý học, thực vật học, sinh vật học, toán học, kỹ thuật cơ khí… được gọi chung là kiến thức về khoa học ( Science knowledge) hay kiến thức về tự nhiên ( Natural knowledge). Chỉ những nơi nào có giáo dục về nghệ thuật ( Arts Education) thì những phương thức xử dụng ngôn ngữ một cách đúng đắn, Giáo Pháp của Đức Phật ( Sāsanā - Buddha ‘s dispensation), công tác xã hội, công tác văn hoá… mới được thiết lập và tồn tại. Nếu không có sự  giáo dục về nghệ thuật thì những phương thức xử dụng ngôn ngữ một cách đúng đắn, Giáo Pháp của Đức Phật, công tác xã hội, công tác văn hoá… sẽ không thể thiết lập được và chúng sẽ biến mất. Vì vậy, giáo dục về nghệ thuật nói chung là một ngành rất cần thiết và không thể thiếu được trong xã hội loài người. Lại nữa, nếu có giáo dục về khoa học thì con người mới có thể khai thác được các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách có hệ thống, công việc trong xã hội được tiếp diễn một cách trôi chảy và phát triển. Nếu không có giáo dục về khoa học thì xã hội sẽ bị trề trệ và không phát triển được. Từ đó, xã hội loài người sẽ dẫn đến tình trạng bất bình đẳng và nghèo đói. Đó là lý do tại sao, giáo dục về khoa học cũng là một ngành thiết yếu đối với xã hội loài người. Vì vậy, kiến thức là cái thích hợp nhất có thể so sánh với nhiều loại của quí như : vàng, bạc, kim cương và các loại ngọc quí. Con người có giáo dục có thể làm việc vì lợi ích của nhiều người khác. Vì vậy, họ sẽ được những người khác tôn trọng. Bạn có thể xử dụng kiến thức như một loại phương tiện để kiếm sống. Đó là lý do tại sao, người có giáo dục là người biết tôn trọng kiến thức và luôn mong muốn mình có trí tuệ. Những ai mong muốn có trí tuệ trong một hay nhiều kiếp sống thì phải :

1. Thuyết Pháp cho người khác nghe

2. Truyền đạt, phổ biến những kiến thức thế gian đúng đắn cho người khác

3. Cúng dường Pháp hay thuyết trình về những lời dạy của Đức Phật và biết thỉnh cầu được nghe thuyết Pháp.

4. Khi thực hiện bố thí thì ước nguyện rằng trong những kiếp sống ở tương lai, bản thân mình sẽ được trở thành người có trí tuệ.

 Kiến thức xuất thế gian có thể được chia làm 3 loại :

 1. Sutamaya Paññā

 2. Cintàmaya Paññā

 3. Bhàvànamaya Paññā

  -  Sutamaya Paññā nghĩa là kiến thức gặt hái được nhờ biết cách lắng nghe nhiều người khác.

 Ngày nay, chúng ta gặt hái kiến thức về những lời giáo huấn của Đức Phật bằng cách lắng nghe thuyết Pháp từ các bậc Trưởng Thượng, Tăng Già và học tập Phật Pháp từ sách vở nói chung. Đó chính là Sutamaya Paññā. Những người nào không có một mảy may kiến thức đại cương gì về văn học Phật Giáo hay những lời giáo huấn của Đức Phật thì đường lối suy nghĩ về Đạo Phật của họ rất dễ bị lầm lạc. Nếu đường lối suy nghĩ về Phật Giáo của họ đã lầm lạc thì đường lối thực hành Phật Pháp của họ chắc chắn sẽ không thể đúng đắn được. Nếu thực hành Phật Pháp không đúng đúng thì họ sẽ không thể đạt tới những cảnh giới tốt đẹp trong những kiếp sống ở tương lai. Họ cũng sẽ không gặt hái được Niết Bàn và trạng thái tâm bình yên thật sự. Đó là lý do tại sao, khi muốn hoàn thiện Sutamaya Paññā, người ta phải biết lắng nghe thuyết Pháp và tìm đọc các loại sách vở nói về Phật Pháp.

2. Cintāmaya Paññā nghĩa là kiến thức gặt hái được thông qua trí năng.

 Một lập luận được đem ra phân tích sẽ mang lại một nhận thức rằng, lập luận đó có làm cho người ta được hạnh phúc hay không. Nó có ích lợi gì hay không. Trạng thái suy nghĩ hay cân nhắc bằng trí tuệ riêng của mỗi người chúng ta để tìm đến với chân lý chính là sự hiểu biết giống như Cintāmaya Paññā. Nếu chưa có Chánh tư duy ( Samāsankappa - Right thinking) hay chưa có năng lực lập luận đúng đắn, người ta có thể làm một điều gì đó.

Tuy nhiên, việc làm đó sẽ không đưa họ đến với trạng thái hạnh phúc. Nói cách khác, là có tác vụ nhưng không gặt hái được lợi ích gì cả, làm thì có làm đó nhưng việc làm này không thích hợp với hoàn cảnh thực tế. Ở nơi nào không có Cintāmaya Paññā thì ở nơi đó, nếu bạn có làm cái gì đi nữa thì cái ấy cũng chẳng có giá trị gì cả, chỉ nhọc công vô ích. Đó là lý do tại sao, người ta cần phải có tư duy và lý luận đúng đắn khi làm bất cứ một việc gì.     

3. Bhāvanāmaya Paññā nghĩa là kiến thức gặt hái được thông qua việc thực hành thiền minh sát.

Bằng cách thực hành thiền minh sát với một phương pháp đúng đắn và có hệ thống, trước tiên người ta cần phải nhận thức được một cách rõ ràng và tường tận về DanhSắc trong cái bị gọi nhầm là “ bản ngã”. Bằng cách thực hành thiền liên tục, người ta sẽ gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng ( Bhanga Ñāna -   Knowledge of  dissolution) và lãnh hội được tiến trình tan biến một cách nhanh chóng của thân thể vật lý và tinh thần. Vì vậy, người ta sẽ nhận thức được tính vô thường ( Anica – Impermanence). Khi tiến trình tan biến của thân tâm liên tục xảy ra tựa như một sự đè nặng hay áp bức lên tâm lý của người thực hành thiền, lúc này người ta sẽ nhận thức được sự khổ ( Dukkha – suffering). Người ta không có cách gì để ngăn chặn được tiến trình tan hoại của thân tâm và vì thế họ đã lãnh hội được tính vô ngã ( Anatta – Non- self or Uncontrolable). Kiến thức để nhận biết rõ vô thường, khổvô ngã chính là Bhāvanāmayañāna Paññā. Ngoại lệ, người thực hành thiền có thể gặt hái được Bhāvanāmaya ñāna Paññā bằng một con đường khác chứ không phải bằng cách thực hành thiền minh sát. Tuy nhiên, cho dù đã gặt hái được Bhāvanāmaya ñāna Paññā bằng con đường nào đi nữa thì trạng thái trí tuệ này cũng sẽ đưa hành giả đến chỗ nhận thức được Niết Bàn. Thông thường, người ta sẽ gặt hái được Bhāvanāmaya ñāna Paññā bằng cách thực hành thiền minh sát.

       Có 4 cách lãnh hội kiến thức xuất thế gian :

1. Kammasakata Paññā ( Knowledge that kamma is one ‘s own property )

  - Kiến thức là nghiệp riêng của mỗi người

2. Vipassanā Paññā ( Insight knowledge )

  - Kiến thức có được nhờ nội quán

3.  Magga Paññā ( Path Knowledge )

  - Kiến thức có được do thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi

4. Phala Paññā ( Fruition knowledge)

  - Kiến thức có được do đắc thành Quả Tụê

 A. Kammasakata Paññā nghĩa là kiến thức có được do nghiệp riêng của mỗi người đã tạo nên. Trong thực tế, đa số sự giàu có của một người là do sự tích lũy của cải trong suốt cuộc đời của người đó. Của cải có thể bị phá hủy bởi 5 loại kẻ thù, đó là : Nước cuốn trôi, hỏa hoạn, nhà cầm quyền xấu xa, trộm cướp và người thừa kế không xứng đáng. Bạn không thể mang của cải của mình theo đến những kiếp sống ở tương lai. Vì vậy, sự giàu có và của cải không phải của riêng ai. Những phước báu đã gặt hái được qua sự thực hành bố thí, giữ Giới, thực hành thiền để phát triển tinh thần sẽ mang lại nhiều lợi ích cho tới khi người ta đạt được Niết Bàn. Kiến thức là tài sản riêng của mỗi người, do chính người đó tạo nên. Chỉ khi có Kammasakata Paññā thì người ta mới thực hiện được những điều xứng đáng nói trên. Khi đã có được nhiều phước báu, bạn sẽ được tái sanh vào cõi người, Chư Thiên và Phạm Thiên. Lúc này, bạn mới có thể thực hành Chánh Pháp để đạt tới Niết Bàn. Đó là lý do tại sao những người Phật tử cần phải có được Kammasakata Paññā.

B. Vipassanā Paññā nghĩa là kiến thức có được nhờ nội quán. Từ đó, người ta sẽ nhận thức được vô thường, khổvô ngã ( 3 tính cách đặc trưng của cuộc sống). Bạn thực hành thiền minh sát nhằm mục đích nắm bắt được những tiến trình đang tan hoại của thân tâm và phát triển năng lực chú ý đến sự thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và suy nghĩ của chính mình. Khi lục trần ( tức 6 đối tượng của giác quan là :  Hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, trạng thái xúc chạmđối tượng của tâm ý ) tiếp xúc với lục căn ( tức 6 giác quan là :  Mắt, tai, mũi, lưỡi, thântâm ý), hành giả cần phải tích cực chú ý đến 6 đối tượng của giác quan ( nhưng không để bị dính mắc vào chúng) thì tự nhiên những đối tượng này sẽ mất đi. Từ đó, hành giả sẽ nhận biết được tiến trình đang khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng mà anh ta đã chú ý đến. Khi các hiện tượng đang tan biến đi, nếu năng lực chú ý của hành giả đối với những hiện tượng này đã đủ mạnh, anh ta sẽ nhận biết được tính vô thường ( Anicca – impermanent) của chúng. Bởi vì các hiện tượng này đã khởi lên và tan biến đi với một tốc độ quá nhanh, chúng đã tạo ra một áp lực đè nặng lên tâm lý của hành giả. Vì vậy, anh ta sẽ nhận thấy áp lực này là khổ ( Dukkha – Suffering). Người thực hành thiền minh sát không có cách gì để ngăn chặn trạng thái tan biến đi của các hiện tượng nói trên. Chúng luôn tan hoại theo cách riêng của chúng. Vì vậy, hành giả sẽ nhận thức được những hiện tượng này là vô ngã ( Anatta – non self). Sự nhận biết được 3 tính cách đặc trưng của cuộc sống là vô thường, khổvô ngã) chính là kiến thức có được nhờ nội quán ( Vipassanā Ñāna). Kiến thức có được nhờ nội quán siêu việt hơn kiến thức phát xuất từ nghiệp riêng của mỗi người ( Kammasakata Paññā) rất xa. Lối lãnh hội kiến thức phát xuất từ nghiệp riêng của mỗi người đã xuất hiện từ lâu trong quá khứ xa xưa, trước thời Đức Phật thành Đạo. Nó cũng xuất hiện trong thời Đức Phật còn tại thế. Ngược lại, lối lãnh hội kiến thức bằng cách nội quán không xuất hiện trong thời Đức Phật chưa thành Đạo. Nó chỉ xuất hiện sau khi Đức Phật đã thành Đạo. Từ khi lối lãnh hội kiến thức bằng cách nội quán ( Vipassanā Ñāna) xuất hiện. Nó đã được biết đến như là một con đường trí tuệ ( Magga Paññā) mà Đức Phật đã giác ngộ. Magga Paññā ( Con đường trí tuệ) đã có thể đóng lại cánh cửa của địa ngục tối tăm. Đó là lý do tại sao, kiến thức có được nhờ nội quán siêu việt hơn kiến thức phát xuất từ nghiệp riêng của mỗi người. Nếu lãnh hội được kiến thức bằng cách thực hành nội quán thì lối lãnh hội này sẽ không đưa bạn trở lại chỗ tái sanh. Thậm chí, nếu bị buộc tái sanh thì bạn chỉ phải trở lại luân hồi tối đa là 7 kiếp sống mà thôi. Vipassanā Paññā ( Trí tuệ minh sát) là con đường trí tuệ mang lại nhiều lợi ích trên nhiều phương diện khác nhau. Tuy nhiên, cuối cùng nó vẫn dẫn đến Đạo Quả và Niết Bàn. Loại trí tuệ này có khả năng nhổ bật gốc của luân hồi khổ đau. Đó là lý do tại sao, những ai mong muốn được giải thoát khỏi luân hồi khổ đau cần phải thực hành thiền minh sát.

C. Magga Paññā ( Con đường trí tuệ - Intellectual path) có thể phá hủy được vòng tròn tái sinh ( Vatta – Round of rebirth). Sau khi bạn thực hành thiền minh sát và gặt hái được con đường trí tuệ ( Magga Paññā – intellectual path), vòng tròn tái sanh sẽ bị tiêu hủy. Bốn con đường trí tuệ sau đây sẽ tiêu hủy vòng tròn tái sinh tương ứng với chúng :

- Sotāpaññā ( Tu- Đà-Hườn – Stream Winner, còn gọi là Nhập lưu) là một quả vị tu chứng và cũng là con đường trí tuệ thứ nhất có thể tiêu hủy được 3 loại gông cùm ( còn gọi là thằng thúc hay dây trói buộc - Samyojana – fetter) : Quan kiến hay quan điểm lầm lạc ( Ditthi – Wrong view), hoài nghi ( Vicikiccha – Sceptical doubt) và sự bám víu vào lễ nghi ( còn gọi là giới cấm thủ kiến- Sīlabba taparamāsa – Clinging to rites and rituals). Con đường trí tuệ này cũng tiêu hủy được cả tâm tham lam, sân hậnvọng tưởng ( 3 cái gốc của vòng tròn tái sinh có thể đưa chúng sanh xuống địa ngục khổ đau).

 - Sagadāgàmi ( Tư- Đà- Hàm / Once- returner, còn gọi là Nhất lai) là một quả vị tu chứng và  là con đường trí tuệ thứ hai có thể loại bỏ được một phần lớn tâm tham lam, sân hậnvọng tưởng. Quả vị tu chứng này dẫn dắt chúng ta đến với cõi người và 6 cõi trời Dục giới, khi phải tái sanh vào luân hồi. Vì vậy, bằng cách tiêu hủy được tham, sân, si thì tuổi già, bệnh tật và cái chết ( những nổi đau khổ triền miên khi phải tái sanh vào luân hồi) sẽ bị tiêu hủy. Người đắc được quả vị tu chứng này sẽ còn trở lại luân hồi một kiếp nữa mà thôi.

- Anāgāmi ( A-Na-Hàm / Non returner, còn gọi là Bất lai) là một quả vị tu chứng và là con đường trí tuệ thứ ba có thể loại bỏ hoàn toàn tâm tham lam, sân hậnvọng tưởng. Như vậy, Cái gốc khổ đau của những kiếp sống trong luân hồi đã bị nhổ bật lên. Người đắc được quả vị tu chứng này sẽ hoàn toàn thoát khỏi tuổi già, bệnh tật và cái chết trong cõi người và 6 cõi trời Dục giới.

- Arahatta Magga Paññācon đường trí tuệ của các bậc A-La-Hán

( Arhat ‘s intellectual path) có thể nhổ bậc gốc tất cả những thứ làm cho tâm chúng sanh bị ô nhiễm. Vì vậy, người đắc được quả vị tu chứng này sẽ hoàn toàn thoát khỏi tuổi già, bệnh tật và cái chết trong tất cả các cõi sống trong luân hồi ( Luân hồi có tất cả 31 cõi sống- ND).

D. Phala Paññā ( Quả Tuệ - Fruition Knowledge) là trạng thái trí tuệ cao nhất theo quan niệm của Phật Giáo. Trạng thái trí tuệ này là con đường trí tuệ thứ tư có thể cắt đứt được chu kỳ sinh diệt của muôn loài chúng sanh ( tức luân hồi). Những bậc cao thượng ( Ariyas – The noble persons) khi đã đạt được Quả Tuệ thì đồng thời cũng dập tắt toàn bộ những thứ làm ô nhiễm cho thân tâm – nguyên nhân của luân hồi. Bởi vì tất cả những thứ ô nhiễm đã bị thiêu huỷ hoàn toàn trong thân tâm của những bậc cao thượng, cho nên tác động của trạng thái thiêu hủy này đã khiến cho chu kỳ sinh diệt cũng bị dập tắt luôn. Sự tái sinh đã không còn nữa, bởi vì quả Tuệ đã loại bỏ được nó. Những người giàu và có nhiều của cải thỉnh thoảng cũng trở nên bất hạnh bởi vì 5 loại kẻ thù ( nước, lửa, nhà cầm quyền xấu xa, trộm cướp và người thừa kế không xứng đáng). Những loại kẻ thù này đã phá huỷ sự giàu có và của cải của họ. Như cách ngôn đã nói : “Kiến thức là vàng”. Tuy nhiên loại vàng này không thể trộm cướp được. Những người có kiến thức thế gian ( Vocational mundane Knowledge) có thể làm việc trong một đất nước, một nơi chốn nào đó để tích lũy của cải và sống một cách hạnh phúc. Đó là lý do tại sao, người ta thường chuộng kiến thức hơn cả ngọc ngà, vàng, bạc và các loại đá quí. Những người có kiến thức xuất thế gian

 ( Lokuttara Paññā – Supramundane knowledge), có trí tuệ để thấu suốt Giáo Pháp của Đức Phật luôn luôn có thể cân bằng được thể xác, tinh thần, những hành động và lời nói của chính mình. Họ có thể biết được việc gì nên làm hay không nên làm, việc gì nên nói hay không nên nói, việc gì nên suy nghĩ hay không nên suy nghĩ. Kiến thức xuất thế gian luôn luôn hướng dẫn cho họ. Do đó, trí tuệ hay kiến thức phải được kính trọng như một vị thầy tốt.

 

  Vi Diệu Pháp – Thời gian của sự hân hoan và phấn chấn

 

Ngày trăng tròn của tháng Assayuja ( tên của một tháng trong lịch Ấn Độ cổ đại - khoảng  tháng 10 hay tháng 11 dương lịch) là ngày đánh dấu một sự kiện trọng đại dành cho Vi Diệu Pháp ( Abhidhamma – Giáo Lý Cao Siêu) đối với những người Phật tử trên các quốc gia theo Phật Giáo Nguyên Thuỷ. Bởi vì sau khi thành Đạo dưới cội cây Bồ Đề, Đức Phật đã đến cõi trời Đạo Lợi ( Trayastrimsa, cõi sống của 33 vị Trời, còn gọi là cõi Tam Thập Tam Thiên ) để thuyết Vi Diệu Pháp cho Phật Mẫu nghe trong suốt 3 tháng mùa mưa. Trong ngày này, sau khi thời Pháp của Đức Phật tại cõi trời Đạo Lợi chấm dứt, Ngài đã giáng trần tại cổng thành Sangkassa ( ngày nay là Sankisa- Basantapur, quận Etah, Uttar Pradesh). Kể từ đó, ngày này là ngày đánh dấu một sự kiện trọng đại về Vi Diệu Pháp. Khi Đức Phật từ cõi trời Đạo Lợi trở về địa cầu, nhiều Chư Thiên và Phạm Thiên đã hộ tống Ngài bằng những chiếc dù che và quạt màu trắng. Đây là một cảnh tượng cực kỳ hoan hỷ và vui sướng. Con người trên trái đất đã có dịp nhìn thấy cõi trời rực rỡ, nguy nga và tráng lệ trong ánh vinh quang và năng lực siêu phàm của Đức Phật. Chư Thiên và Phạm Thiên đã có thể nhìn thấy hơn 100 triệu con người đang hân hoan chào đón Đức Phật trở về địa cầu. Đây là một sự kiện có một không hai. Ngày nay hàng năm, mỗi khi đến ngày trăng tròn của tháng Assayuja , Tăng Già thường đọc tụng Vi Diệu Pháp để kỷ niệm sự kiện trọng đại đã nói trên. Để tưởng nhớ về Đức Phật, những người Phật tử sẽ tự nguyện dâng cúng ánh sáng, nước uống, hương hoa, trái cây và nhiều thứ khác. Giáo Pháp của Đức Phật có nói rất rõ về lịch sử của ngày dành cho Vi Diệu Pháp và vì sao lại có ngày này. Do đó, ý nghĩa của Vi Diệu Pháp luôn luôn được những người Phật tử ghi nhớ. Từ Abhidhammà là sự phối hợp của 2 từ AbhiDhamma. Ở đây từAbhi có nghĩa là Siêu Việt, Cao Hơn, Thù Thắng hay Cao Siêu… và Dhamma có nghĩa là Giáo Pháp, Giáo Lý hay Sự Thuyết Pháp. Vì vậy, Abhidhamma có nghĩa là Sự Thuyết Pháp Cao Thượng hơn sự thuyết các loại kinh khác của Đức Phật. ( Chúng ta cũng có thể dịch từ Abhidhamma sang tiếng Việt Nam với nghĩa là Vi Diệu Pháp, Giáo Pháp Siêu Việt hay Giáo Lý Cao Siêu

Tuy nhiên thật ra, từ Abhidhamma rất khó dịch sang tiếng Việt Nam một cách hoàn chỉnh. Vì vậy, chúng ta đành tạm gọi nó là Vi Diệu Pháp vậy – ND) Khi Đức Phật thuyết các loại kinh khác, Ngài chỉ nói một cách khái quát về các thành phần của chúng. Ví dụ như khi Ngài thuyết 5 bộ Kinh A-Hàm ( Nikāya Sutta), Thập nhị nhân duyên ( Paticcasamuppāda – The Law of dependent origination, còn gọi là định luật tùy thuộc phát sanh), 18 giới ( Dhātu- tức những nguyên tố tạo nên vật chất và tinh thần), Tứ Diệu Đế ( Bốn sự thật hay Bốn chân lý cao thượng – Catu Ariyasaccani / The four noble truths), Tứ Niệm Xứ ( Catu Satipatthāna)…Nói tóm lại, Ngài chỉ giải thích và phân tích những kinh này đến một chừng mực nào đó mà thôi. Tuy nhiên, khi thuyết Vi Diệu Pháp, Đức Phật đã nói rất chi tiết và kỹ lưỡng về 5 bộ Kinh A-Hàm, Thập nhị nhân duyên, mười tám giới, Tứ Diệu ĐếTứ Niệm Xứ… Khi thuyết Vi Diệu Pháp, Đức Phật đã dành cho nó nhiều sự phân tích công phu hơn những bộ kinh khác. Vì vậy, Vi Diệu Pháplà bộ kinh được được tôn kính một cách đặc biệt.Về việc Vi Diệu Pháp đã ra đời như thế nào thì Lịch sử Tạng Luận ( Abhidhammvamsa Pitaka ) đã có thể làm cho chúng ta hài lòng. Sau khi thành Đạo, suốt 3 tháng trong mùa mưa thứ 7 , Đức Phật đã đến cõi trời Đạo Lợi và ngồi trên một phiến đá được tôn kính ( Pandukambala - Reverential stone) dành riêng cho Ngài dưới một cây san hô ( Paricchattaka – Coral tree) để thuyết Vi Diệu Pháp. Khi Đức Phật thuyết Vi Diệu Pháp cho Phật Mẫu nghe ( hoàng hậu Mahāmāyā sau khi Đản sanh Đức Phật được 7 ngày thì bà qua đời và tái sinh lên cõi trời Đạo lợi - ND), rất nhiều Chư Thiên và Phạm Thiên từ 10 ngàn thế giới đã đến nghe Pháp.  Bởi vì Vi Diệu Pháp là một bộ kinh rất dài, cho nên khi thuyết Kinh này, Đức Phật đã nói suốt ngày suốt đêm tựa như thác đổ từ núi cao mà không hề ngừng lại. Khi Đức Phật thuyết Vi Diệu Pháp, lúc đến giờ đi khất thực, Ngài đã phân thân ra làm hai. Một thân Phật ở lại cõi trời Đạo Lợi để tiếp tục thuyết Pháp và thân kia đi đến hồ nước Anotatta  trên trái đất để khất thực. Bản sao phân thân của Đức Phật

( Nimmita – Replica of Buddha) cũng có hào quang 6 màu giống như Đấng Toàn giác. Những Chư Thiên và Phạm Thiên có ít thần thông không thể biết được trạng thái phân thân làm hai phần của Đức Phật. Tuy nhiên, những Chư Thiên và Phạm Thiên nào có đủ năng lực thần thông thì họ vẫn biết là bản sao phân thân của Đấng Toàn giác đang thuyết Pháp, còn Ngài thì đã đi khất thực tại cõi người. Sau khi tắm tại hồ nước Anotatta, Đức Giáo Chủ đã đến đảo Bắc ( Northern- island ) để khất thực. Sau đó, Ngài quay về hồ nước Anotatta để thọ thực và nghỉ ngơi dưới lùm cây đàn hương. Vào lúc đó, Tôn giả Xá- Lợi- Phất đã đến với Đức Phật và làm một số công việc vặt cần thiết. Đức Giáo Chủ đã nói với Tôn giả Xá-Lợi-Phất rằng, Ngài đã thuyết Vi Diệu Pháp trên cõi trời Đạo Lợi như những lời giáo huấn của Ngài. Tôn giả Xá- Lợi- Phất là đại đệ tử của Đức Phật, Ngài nổi tiếng là trí tuệ bậc nhất. Tôn giả đã đạt được danh hiệu Etadagga. Sau đó, Đức Phật đã ở lại dưới lùm cây đàn hương và thuyết một cách tóm tắt về Vi Diệu Pháp mà Ngài đã thuyết tại cõi trời Đạo Lợi cho Tôn giả Xá-Lợi- Phất nghe. Mặc dù vậy, Tôn giả vẫn có thể hiểu một cách rất chi tiết về Vi Diệu Pháp mà Ngài vừa được nghe. Sau khi học xong Vi Diệu Pháp do Đức Phật truyền dạy một cách tóm tắt, Tôn giả Xá- Lợi- Phất đã dạy lại cho 500 đệ tử của mình bộ Kinh này. Trong quá khứ, năm trăm vị đệ tử của Tôn giả Xá –Lợi- Phất là những người điên sống trên những bức tường của một hang động trong thời Đức Phật Ca-Diếp ( Kassapa Buddha). Hai đệ tử của Đức Phật Ca-Diếp đã đi vào hang động- nơi 500 người điên đang lưu trú và tụng đọc Vi Diệu Pháp. Khi đang nghe tiếng tụng Vi Diệu Pháp, 500 người điên trong hang động đã lành bệnh. Vào thời đó, những người điên vừa nói trên vẫn chưa hiểu được thế nào là thiện Pháp và bất thiện Pháp. Tất cả họ chỉ biết được âm thanh của Vi Diệu Pháp đã làm cho cho mình hài lòng. Vì vậy, họ đã lắng tai nghe nó.

Do năng lực của Vi Diệu Pháp, 500 người điên này đã được tái sanh làm Chư Thiên. Vào giữa thời Phật Ca-Diếp và Đức Phật Thích Ca, họ lại được tái sanh vào cõi trời một lần nữa. Từ đó, họ không còn phải sống trong những cảnh giới thống khổ phiền muộn. Đến khi Bồ-Tát Cồ Đàm thành Phật, 500 người điên trong quá khứ lại tái sanh vào cõi người. Họ tôn kính danh tiếng và năng lực siêu phàm của Đức Phật Thích Ca. Vì vậy, họ đã thọ giới Tỳ Kheo với Tôn giả Xá-Lợi- Phất và sinh sống trong Giáo Đoàn của Đức Phật. Mỗi ngày, Tôn giả Xá-Lợi- Phất đã dạy Vi Diệu Pháp mà Ngài đã học được ở Đức Phật cho 500 đệ tử của mình. Năm trăm vị đệ tử này học Vi Diệu Pháp rất nhanh, bởi vì trong quá khứ vào thời Đức Phật Ca-Diếp, họ đã có được kiến thức nền tảng cần thiết về bộ kinh này. Khi Đức Phật đã chấm dứt việc thuyết Vi Diệu Pháp tại cõi trời Đạo Lợi, 500 vị Tỳ Kheo đã tự học thuộc hết Vi Diệu Pháp ( ngày nay toàn bộ Tạng Vi Diệu Pháp đã được chép thành 7 cuốn sách - ND). Khi thời Pháp cuối cùng của Đức Phật tại cõi trời Đạo Lợi chấm dứt thì vừa đúng ngày trăng tròn của tháng Assayuja, 8 tỷ Chư Thiên và Phạm Thiên ưu tú nhất đã được giải thoát. Thân mẫu của Đức Phật trong quá khứ cũng được mãn nguyện. Bà đã trở thành một Tu- Đà-Hườn. Khi Đức Phật chấm dứt việc thuyết Vi Diệu Pháp tại cõi trời Đạo Lợi, Ngài đã nói với vị vua của cõi trời ( Trời Đế Thích - Sakka) rằng, Ngài sẽ quay về địa cầu. Vì vậy, Trời Đế Thích đã tạo ra 3 cái thang. Ba cái thang này có chiều dài bắt đầu từ đỉnh của ngọn núi Meru ( tức núi Tu Di -ND) vĩ đại cho đến cổng thành Sankassa trên địa cầu Trong đó có một cái thang bằng vàng được đặt bên phải, một cái thang bằng bạc đặt bên trái và một cái thang bằng hồng ngọc đặt ở giữa. Lúc đó, Đức Phật đã phát ra từ thân thể Ngài 6 luồng hào quang màu sắc rực rỡ. Từ trên đỉnh của ngọn núi Meru khổng lồ, Ngài đã giáng trần bằng chiếc thang hồng ngọc xuống ngay cổng thành Sankassa. Chư Thiên chứng kiến và hộ tống Đức Phật bằng cái thang bằng vàng đặt phía bên phải. Họ đã đảnh lễ Đức Phật bằng các loại nhạc cụ của cõi trời và những chiếc quạt lộng lẫy. Từ chiếc thang bằng bạc phía bên trái, Phạm-Thiên hộ tống Đức Phật bằng những chiếc dù màu trắng. Bởi vì tôn kính danh tiếng và năng lực siêu phàm của Đức Phật, từ cõi trời cao nhất của thế giới Phạm thiên ( Akanittha) cho đến cõi thấp nhất của địa ngục ( A- tỳ địa ngục – Aviji Niraya), từ bốn phương 10 hướng và 1000 thế giới hữu hình, mọi người đều hân hoan chào đón Đức Phật trở về địa cầu từ cõi trời Đạo Lợi. Đức Phật đã xử dụng thần thông để làm cho con người ở trần gian có thể thấy được những vị Chư Thiên, Phạm Thiên xinh đẹp và lộng lẫy nhất. Các Chư Thiên và Phạm Thiên cũng có thể thấy hơn 100 triệu người địa cầu đến để cung nghênh Đức Phật. Vì vậy, bất cứ ai được chứng kiến cảnh tượng trở về địa cầu của Đức Phật từ cõi trời Đạo Lợi trong bán kính 36 do tuần (yojana) và có ước nguyện sẽ trở thành Phật trong tương lai

 ( Một do-tuần bằng 8 dặm Anh, một dặm Anh bằng 1609 mét -ND).

Toàn bộ dân chúng vào lúc đó đã ước nguyện rằng họ sẽ trở thành những vị Phật trong tương lai. Đó là những lời ước nguyện cao thượng nhất. Ngày nay, để tưởng nhớ sự kiện Đức Phật giáng trần từ đỉnh núi Meru xuống cổng thành Sankassa bởi sự hộ tống của Chư Thiên và Phạm Thiên, người ta thực hiện nhiều hình thức cúng dường như : Dâng cúng ánh sáng, nước uống, hương hoa, trái cây và nhiều thứ khác… tại những ngôi chùa và tu viện uy tín. Đồng thời, ngày kỷ niệm trọng đại này cũng là dịp để người ta tỏ bày sự tôn kính đối với các vị thầy, cha mẹ, người già và người lớn tuổi hơn mình. Tất cả mọi người đều tỏ ra rất hài lòng và quí mến những hành động thiện lành này.

 

                 Ranh giới  ( Sīmā – Ordination halls)

 

 Những người Phật tử mộ đạo dành nhiều sự cung kính cho nơi ở của Chư Tăng. Trong một vài nơi ở của Chư Tăng, phụ nữ bị cấm không cho vào trong. Họ chỉ được thể hiện sự cung kính từ xa. Chỉ khi có việc gì thật chính đáng có liên quan đến nơi ở của Chư Tăng, những người Phật tử mới được phép viếng thăm những nơi này. Các Tỳ Kheo càng phải tỏ ra cung kính nơi ở của họ hơn cả nơi ở của người thế tục rất nhiều. Họ đã được học rất nhiều vấn đề có liên quan đến chỗ ở của Chư Tăng. Nếu một ai đó có hiểu biết một cách ngắn gọn và rành mạch về điều này thì nó sẽ mang lại lợi ích cho người đó và Tăng Đoàn. Trong ngôn ngữ Pāli, từ Sīmā (  Boundary) có nghĩa là ranh giới, biên giới hay giới hạn. Như vậy, Sīmā có nghĩa là một vùng đất đã được đánh dấu hay dùng một tảng đá để làm mốc cho lãnh thổ của một đất nước, một thành phố, một thị trấn, một ngôi làng…Tương tự như vậy, một nơi chốn đã được phân biệt dành riêng cho các Tỳ Kheo đã thọ Đại-Giớinhững bổn phận phải thực hiện của các Tỳ Kheo ( Sanga Kamma – Performing the duties of monks) đối với nơi này được gọi là Sīmā

Nói một cách khái quát thì có 2 lại Sīmā

 1. Nissāya SīmāRanh giới phụ thuộc

 2. Nissita Sīmā -   Ranh giới qui định nơi ở của Chư Tăng

  -  Ranh giới phụ thuộc( Nissāya Sīmā ) có 5 loại :

  a. Gāmā Sīmā – Ranh giới đã được phân chia bởi một thành phố, một thị trấn hay một ngôi làng.

 b. Aranna Sīmā – Ranh giới đã được phân chia bởi một khu rừng.

 c. Nadi Sīmā -  Ranh giới đã được phân chia trên một con sông.

 d. Samudda Sīmā -  Ranh giới đã được phân chia trên biển.

 e. Jātassara Sīmā -  Ranh giới đã được phân chia trên ao, hồ.

 -   Gāmā Sīmā là ranh giới của một thành phố, một thị trấn hay một ngôi làng đã được chính phủ chỉ định với mục đích thu thuế. Loại ranh giới này không phải do Đức Phật thiết lập mà phát xuất từ lệnh của chính phủ.

 - Aranna Sīmā là ranh giới của một toà nhà nằm ngoài biên giới của một thành phố, một thị trấn hay một ngôi làng. Ngôi nhà này không nằm trên sông hay ao hồ mà nằm trên đất. Loại ranh giới này không phải do Đức Phật thiết lập và cũng không phải phát xuất từ lệnh của chính phủ. Nó tồn tại một cách tự phát, nằm ngoài qui định của chính phủ.

Nadī Sīmā là ranh giới của một toà nhà nằm trên những con sông và những con lạch hay thung lũng hẹp. Loại ranh giới này không phải do Đức Phật thiết lập và cũng không phải phát xuất từ lệnh của chính phủ. Nó tồn tại một cách tự phát, nằm ngoài qui định của chính phủ.

-   Samudda Sīmā là ranh giới của một toà nhà nằm trên đại dương mênh mông, bốn phía là nước. Loại ranh giới này không phải do Đức Phật thiết lập và cũng không phải phát xuất từ lệnh của chính phủ. Nó tồn tại một cách tự phát, nằm ngoài qui định của chính phủ.

Jātassara Sīmā là ranh giới của một cái ao nhỏ do nước chảy trong 4 tháng mùa mưa mà tạo thành ( Khí hậu ở Ấn Độ một năm chỉ có 3 mùa là : Mùa lạnh, mùa mưa và mùa khô – ND). Cái ao này không do ai đào cả. Nó sinh ra trong tự nhiên. Loại ranh giới này không phải do Đức Phật thiết lập và cũng không phải phát xuất từ lệnh của chính phủ. Nó tồn tại một cách tự phát, nằm ngoài qui định của chính phủ.

Ranh giới qui định nơi ở của Chư Tăng( Nissita Sīmā ) có 2 loại :

 a. Baddha Sīmā– Ranh giới được chỉ định bởi một nghị quyết thuộc về giáo hội ( An ecclesiastical resolution).

 b.  Abaddha Sīmā – Ranh giới không thuộc vào một chỉ định của giáo hội.

 -   Baddha Sīmā

Một mảnh đất nhỏ khoảng từ 50 feet vuông đến 100 feet vuông ( 1 feet là đơn vị đo chiều dài của Anh quốc được tính bằng 0,3048 mét - ND) mà ranh giới của nó được đánh dấu bằng các cột mốc bằng đá hoặc bằng gỗ, có khi bằng các tảng đá lớn. Theo qui định của giáo hội là cứ cách 2,5 Cubits thì có một cột mốc như thế ( 2,5 cubits là khoảng cách vừa đủ để 4 vị Tỳ Kheo ngồi nối tiếp với nhau – tương đương trên dưới 1,2 mét. Một cubit có chiều dài là 45,72 cm, tương đương với 18 inches, một inche dài bằng 2,54 cm - ND). Loại ranh giới theo kiểu này gọi là Baddha Sīmā.

 Baddha Sīmā cũng có 2 loại :

 -  Loại ranh giới phát xuất từ việc thỉnh cầu chính phủ cấp cho một mảnh đất nhỏ để xây dựng. Vì vậy, loại ranh giới này dĩ nhiên là được chính phủ thừa nhận.

 - Loại ranh giới không phải phát xuất từ việc thỉnh cầu chính phủ cấp đất, nhưng có sự đồng ý của các Tỳ Kheo đang cư trú trên mảnh đất được thỉnh cầu. Ranh giới của mảnh đất này được sự bảo vệ và thừa nhận của toà án hay nhà chức trách.

 Loại ranh giới phát xuất từ việc thỉnh cầu chính phủ cấp đất và được chính phủ thừa nhận gọi là Visungāma Baddha Sīmā. Loại ranh giới không phát xuất từ việc thỉnh cầu chính phủ cấp đất mà phát xuất từ sự đồng ý của các Tỳ Kheo sở hữu đất, được toà án hay nhà chức trách công nhận và bảo vệ thì gọi là Region-wise agreed Baddha Sīmā. Khi một Region-wise agreed Baddha Sīmā được thừa nhận thì :

 1. Tất cả các Tỳ Kheo đang cư trú trong khu đất được bảo vệ bởi nhà chức trách, tòa án hay các bậc Trưởng Thượng phải được mời đến để xác định ranh giới đất được cấp.

 2. Nếu người được cấp đất không mời được các Tỳ Kheo đến để xác định ranh giới thì họ phải xin phép và đã có được sự đồng ý của các Tỳ Kheo nói trên, trước khi tiến hành phân chia ranh giới đất.

 3. Nếu các Tỳ Kheo chưa chấp thuận về ranh giới của mảnh đất được cấp, những người được cấp đất không được tự ý vào ở trong mảnh đất này cho đến khi ranh giới của nó được xác định. Sau khi đã hội đủ 3 điều kiện vừa nêu, mảnh đất nhỏ được cấp có diện tích từ 50 đến 100 feet vuông nói trên phải được chia thành những khối nhỏ cách nhau 2,5 cubits bằng cách dùng một loại nhựa có độ kết dính cao hoà với nước để làm ranh giới. Loại ranh giới của mảnh đất nhỏ này sau đó sẽ phải được đánh dấu bằng những cột mốc bằng đá hoặc gỗ. Đó là chỉ định của giáo hội về Region-wise agreed Sīmā. Trong khoảng thời gian một Region-wise agreed Sīmā đang chờ được xác định, nếu có bất kỳ một Tỳ Kheo nào không bỏ phiếu tán thành ranh giới mới này thì xem như việc xác định ranh giới của mảnh đất được cấp đã thất bại. Đó là lý do tại sao, trong một thành phố lớn như Ngưỡng Quang ( Yangoon), rất khó để xác định một Region- wise agreed Sīmā.

Để tránh được khó khăn này, chính phủ đã qui định rằng, một mảnh đất nhỏ ( có diện tích từ 50 đến 100 feet vuông) nào đó đã được chính phủ cấp cho ai rồi thì không cần phải có sự đồng ý của những Tỳ Kheo đang cư trú trên mảnh đất đó nữa, mặc dù các Tỳ-Kheo này đã có giấy thừa nhận quyền sở hữu mảnh đất do toà án thừa nhận và bảo vệ. Người được cấp đất chỉ phải đánh dấu ranh giới của mảnh đất được cấp theo chỉ định của giáo hội ( cứ cách 2,5 cubits thì có một cột mốc). Sau đó, giáo hội sẽ theo đó để xác định ranh giới đất được cấp. Đây là loại ranh giới được gọi là Visungāma Baddha Sīmā. Vì vậy, khi một ai đó muốn thỉnh cầu nhà nước cấp cho họ một mảnh đất nhỏ riêng biệt, có ranh giới phân chia được thừa nhận thì họ không cần nhờ đến sự bảo vệ của các Tỳ Kheo và cũng không cần đến sự đồng ý của những Tỳ Kheo có liên quan đến mảnh đất được cấp. Phần lớn ranh giới đất được xác định theo kiểu này đều thành công và dễ thực hiện hơn. Vì vậy, đó là lý do tại sao, các bậc Trưởng Thượng và Tăng Già thường thích loại ranh giới được gọi là Visungāma Baddha Sīmā hơn.

 Ở một vài nơi, người ta cũng đặt ra những ranh giới để ngăn cấm phụ nữ không được vượt quá những ranh giới này. Người ta đã đặt ra những ranh giới đó, bởi vì họ chưa thông suốt Giới Luật. Thật ra, chỉ khi những Tỳ Kheo đang thực hiện bổn phận của họ thì những người thế tục ( kể cả nam lẫn nữ ) không được tiến lại gần các Tỳ Kheo này với một khoảng cách vượt quá 2,5 cubits ( tương đương trên dưới 1,2 mét). Giới Luật này không hề phân biệt nam nữ. Vì vậy, trong những lúc khác ( khi các Tỳ Kheo không thực hiện các bổn phận của họ) thì phụ nữ đương nhiên được phép vượt qua ranh giới này.

  Abbha Sīmā cũng có 2 loại :

  1. Sattabbhantara Sīmā – là loại ranh giới được phân chia bằng đơn vị đo lường là cubit ( một cubit bằng 45,72 cm - ND).

  2. Udakukkhepa Sīmā là loại ranh giới được phân chia bằng luồng nước.

  -  Sattabbhantara Sīmā :

 Đức Phật đã cho phép các Tỳ Kheo đang cư trú tại các miền thôn dã, trong khi làm bổn phận hoằng pháp độ sinh. Nhằm mục đích tạo ra sự yên tĩnh cho các Tỳ Kheo, Đức Phật đã chỉ định nơi cư trú của các Tỳ Kheo tại các miền thôn dã phải cách xa nơi ở của những người thế tục một khoảng cách là 7 Abbhantara. Một Abbhantara tương đương với 42 feet ( Một feet được tính bằng 0,3048 mét). Từ nơi đang cư trú của mình, các Tỳ Kheo phải đo đạt để có một khoảng cách với nơi ở của những người thế tục là 294feet ( tương đương trên dưới 89,6 mét). Cách đo đạt để lấy khoảng cách này phải được áp dụng cho 4 phía Đông, Tây, Nam, Bắc, mốc chuẩn để đặt thước là nơi cư trú của các Tỳ Kheo. Loại ranh giới này là sự chỉ định của Đức Phật, không phải phát xuất từ lệnh của chính phủ.

 -  Udakukkhepa Sīmā :

 Đối với các Tỳ Kheo đang cư trú và đi lại trên những dòng sông, các con lạch, ao hồ và biển. Cũng vì mục đích tạo ra sự yên tĩnh cho các Tỳ Kheo khi làm  bổn phận hoằng pháp độ sanh, Đức Phật đã công nhận loại ranh giới này như sau : Từ nơi cư trú của các Tỳ Kheo này, người ta có thể dùng tay để lấy nước và nước phải luôn luôn chảy suốt. Nơi giáp ranh giữa mặt bằng cư trú và nước chính là ranh giới. Từ nơi cư trú của các Tỳ Kheo này, một người có sức lực trung bình có thể lấy được nước từ bốn phía đông , tây, nam, bắc. Nơi đánh dấu nguồn nước bắt đầu đổ xuống là ranh giới. Loại ranh giới này còn được gọi là Water Sīmā ( ranh giới được phân chia bằng nước). Khi Tăng Già thực hiện nghĩa vụ của mình, họ có thể lội qua dòng nước hoặc có thể cho xây một tu viện nhỏ. Trong bốn tháng mùa mưa, Tăng Già có thể thực hiện bổn phận của mình trên biển ( nơi không có nước ngọt).

Như vậy, có tất cả 8 loại ranh giới, trong đó có 5 loại ranh giới gọi là Nissāya Sīmā ( ranh giới phụ thuộc) và 3 loại ranh giới gọi là Nissita Sīmā ( ranh giới qui định nơi ở của Chư Tăng). Những kiến thức này rất hữu ích cho các Tăng Già và những người Phật tử mộ Đạo.

 

    

 

         Tìm được hạnh phúc vì được Phật Pháp bảo vệ

 

Tất cả những loài sống có tri giác trên thế giới này sẽ được hạnh phúc chỉ khi họ được bảo vệ như thể trẻ nhỏ được sự bảo vệ bởi cha mẹ của chúng. Các bậc cha mẹ lại được con cái của họ bảo vệ lại, khi họ đã trở nên già yếu và hom hem. Như vậy, cả cha mẹ lẫn con cái đều được hạnh phúc. Những người làm cha mẹ hoặc làm con cái không nhận được sự che chở và bảo vệ sẽ trở nên bất hạnh. Trên một phương diện khác, những ai được Giáo Pháp của Đức Phật bảo vệ sẽ được hạnh phúc trong kiếp sống này và trong những kiếp sống ở tương lai, khi phải tái sanh vào luân hồi. Những ai mong muốn được Phật Pháp bảo vệ thì phải thực hành Phật Pháp. Những ai đã qui y Phật Pháp nhưng không thực hành Phật Pháp một cách thích đáng được xem như là chống lại Phật Pháp. Lúc đó, Phật Pháp sẽ quay lại phá huỷ họ. Vì vậy, họ sẽ bất hạnh trong kiếp sống hiện tại và trong những kiếp sống ở tương lai.  Đó là lý do tại sao Đức Phật đã nói rằng có 2 dạng người liên quan đến Phật Pháp. Hai dạng người đó là :

1. Dhammohave Rakkhati DammacariDạng người có thực hành Phật Pháp và được Phật pháp bảo vệ.

2. DhammohavehatohantiDạng người đã qui y Phật Pháp nhưng không thực hành Phật Pháp một cách thích đáng. Dạng người này được xem như đã chống lại Phật pháp và sẽ bị Phật pháp quay lại phá huỷ.

Một người được Phật Pháp bảo vệ còn một dạng người thì không, thậm chí sẽ bị Phật Pháp phá hủy nếu đã qui y. Sở dĩ có sự khác biệt này là do một người có giữ gìn Giới luật và một người thì không.

a. Đối với việc giữ gìn 5 giới, ví dụ những người có kiêng cữ không sát sanh, có thực hành Phật Pháp thì họ sẽ được Phật Pháp bảo vệ trong luân hồi. Họ sẽ được tái sanh vào cõi người và Chư Thiên, khi chưa đạt tới Niết-Bàn. Trong kiếp sống này và trong những kiếp sống ở tương lai, họ sẽ được sống lâu, ít bị bệnh tật, có địa vị xã hội cao, có dung mạo xinh đẹp, được chết trong bình yên với một tâm trạng không hoang mang bối rối. Những người sát sanh là phá huỷ Phật Pháp.Vì vậy, trong kiếp sống này và trong những kiếp sống ở tương họ sẽ gặp những kết quả xấu. Họ sẽ bị tái sanh vào địa ngục. Khi đã thoát khỏi cảnh đọa đày ở địa ngục, họ sẽ phải tái sanh vào những cảnh giới tồi tệ. Trong những cảnh giới đó, họ sẽ có tuổi thọ rất ngắn, có ngoại hình xấu xí và bị tật nguyền, bị nhiều loại bệnh tật, bị chết dưới tay những người khác và chết trong sợ hãi. Họ sẽ chết trong một tâm trạng cực kỳ hoang mang bối rối. Theo cách đó, họ sẽ bị trừng phạt do đã có hành động chống đối lại Phật Pháp.

Nhận xétSát sanh sẽ đoản thọ và kiêng cữ sát sanh sẽ được trường thọ

 b. Những người biết kiêng cữ không trộm cắp là thực hành Phật Pháp. Do tác động của nghiệp lành họ sẽ gặp được những kết quả tốt như được tái sanh vào cõi người hay cõi trời ( những nơi cao quí). Trong kiếp sống này và trong mọi kiếp sống khác họ sẽ được giàu có, hạnh phúc, bình yên và có trí tuệ. Họ sẽ dễ dàng đạt được những điều mà họ mong muốn. Sự giàu sang của họ đã được thiết lập một cách vững chắc và không thể bị phá huỷ . Đây là những lợi ích mà những người không trộm cắp sẽ gặt hái được. Những người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác nghĩa là họ đã không giữ gìn 5 giới và chống lại Phật Pháp. Vì vậy, họ sẽ phải chạm trán với những tác động xấu của nghiệp và sẽ bị tái sanh vào địa ngục. Khi đã thoát khỏi cảnh đọa đày ở địa ngục và sanh vào một kiếp sống khác, họ sẽ trở nên nghèo túng cơ cực, đói khát và đau khổ, phải sống trong trạng thái bất hạnh từ vật chất cho đến tinh thần. Họ sẽ không có được những gì mà họ mong muốn, của cải của họ sẽ luôn luôn bị mất mát và tiêu tán. Theo cách đó, họ sẽ bị trừng phạt do có hành động chống lại Phật Pháp.

Tóm tắtTrộm cắp sẽ dẫn đến nghèo túng, không trộm cắp sẽ có của cải dồi dào.

 c. Những người kiêng cữ các hành động tính dục không đúng đắn ( tức không tà dâm) là thực hành Phật Pháp. Vì vậy, kết quả là trong những kiếp sống ở tương lai, họ sẽ đạt tới những cõi sống cao thượng như cõi người hay cõi trời. Trong kiếp sống này và trong những kiếp sống ở tương lai, họ sẽ được người khác yêu mến và tôn trọng. Họ sẽ thoát khỏi những tai họa, có được của cải dồi dào, được tái sanh vào những gia đình cao quí, có ngoại hình đĩnh đạt và tự tin, có phẩm giá cao quí. Đây là những lợi ích mà những người không tà dâm sẽ gặt hái được. Những người tà dâm tức là đã vi phạm Giới luật, trong kiếp sống này và trong những kiếp sống ở tương lai, họ sẽ phải chạm trán với những tác động xấu của nghiệp mà họ đã tạo ra. Họ sẽ phải đau khổ ở địa ngục. Khi đã thoát khỏi cảnh đọa đày ở địa ngục và tái sanh vào một kiếp sống khác, họ sẽ bị người khác ghét bỏ, phải chạm trán với những điều buồn lo, sẽ bị nghèo túng, sẽ bị tái sanh vào những gia đình thấp kém, cùng cực và tủi hổ. Đó là cách mà những người có hành vi tà dâm sẽ bị trừng phạt, bởi vì họ đã hành động chống lại Phật Pháp.

Tóm tắtHậu quả xấu của sự tà dâm là sẽ bị mọi người ghét bỏ, nếu biết kiêng cữ giới luật này sẽ được mọi người yêu mến và tôn trọng.

 d. Kiêng cữ những lời nói sai lầm là thực hành Phật Pháp. Điều này có thể mang lại cho những người thực hành được như thế một kết quả tốt đẹp là được tái sanh vào những cảnh giới cao thượng như cõi người hay cõi trời. Trong kiếp sống này và nhiều kiếp sống ở tương lai, họ sẽ được nhiều người khác lắng nghe, có hơi thở tốt, có quyền lực, có khả năng ăn nói như những người thượng lưu, tâm hồn được thanh thản và có sắc mặt trầm tĩnh. Những người nói dối và nói lời chia rẽ đâm thọc… tức là đã không gìn giữ 5 Giới. Họ được xem là đã chống lại Phật Pháp. Vì vậy, trong kiếp sống này họ sẽ phải chạm trán với những tác động xấu của nghiệp và sẽ bị tái sanh vào cảnh giới địa ngục. Khi thoát khỏi cảnh đọa đày ở địa ngục, trong những kiếp sống tái sanh khác, họ sẽ không được người khác lắng nghe. Họ sẽ có hơi thở rất yếu kém, không có quyền lực gì, lời nói của họ trở nên cay nghiệt và nông nổi, nét mặt của họ sẽ không được trầm tĩnh và thanh thản.

Tóm tắtLời nói cần phải đúng với sự thật, nếu không có thật thì đừng nên nói.

 e. Những người biết kiêng cữ đối với các chất gây say là thực hành Phật Pháp. Vì vậy, họ sẽ được Phật Pháp bảo vệ và hướng dẫn để đạt tới những cõi sống cao quí như cõi người và Chư Thiên. Trong kiếp sống này và những kiếp sống ở tương lai, họ sẽ có trí nhớ tốt, siêng năng, có năng lực và kiến thức, có nghề nghiệp giỏi, sẽ trở thành người biết xem trọng ơn nghĩa do đã được Phật Pháp bảo vệ và giáo hóa, khi làm điều gì sai thì biết xấu hổ và kinh sợ. Đây là những lợi ích mà những người có kiêng cữ các chất gây say đạt được. Chắc chắn họ sẽ được hạnh phúc. Những người xử dụng các chất gây say là chống lại Phật Pháp.Vì vậy, trong kiếp sống này họ phải chạm trán với những tác động xấu của nghiệp và sẽ bị tái sanh vào địa ngục. Khi đã thoát khỏi cảnh đọa đày ở địa ngục, trong nhiều kiếp sống kế tiếp ở tương lai họ sẽ có trí nhớ rất kém, sẽ bị câm ngọng và mất trí, không biết phân biệt đúng sai, trở thành kẻ vô ơn, không biết xấu hổ và kinh sợ khi làm những việc sai lầm và xấu xa.

Tóm tắtXử dụng các chất gây say sẽ dẫn đến hậu quả là có trí nhớ kém, thể chất yếu đuối và không có sự hiểu biết.

 Do đó, một người có gìn giữ 5 Giới sẽ được Phật Pháp bảo vệ, được hạnh phúc trong kiếp sống này và trong những kiếp sống ở tương lai. Một người không biết giữ gìn 5 Giới chắc chắn sẽ phải chạm trán với những tác động xấu của nghiệp. Vì vậy, trong cuộc sống hiện tại và trong những kiếp sống ở tương lai, khi phải tái sanh vào luân hồi, người không giữ gìn 5 Giới sẽ bất hạnh. Đó là lý do tại sao con cái của các bậc cha mẹ thiện lành phải biết giữ gìn 5 Giới. 

 

        Thành công trong cõi thế gian và xuất thế gian

 

Trong ngôn ngữ Pāli, cõi thế gian gọi là Lokiya ( Mundane) và cõi xuất thế gian thì gọi là Lokuttara ( Supramundane). Có 2 việc quan trọng mà những Phật tử mộ Đạo cần phải làm đó là :  Gặt hái được hạnh phúc trong cõi thế gian và cõi xuất thế gian. Đối với cõi thế gian, họ cần phải gặt hái được hạnh phúc bằng cách làm việc để trở nên giàu có, thịnh vượng và thực hiện những nghĩa vụ của mình đối với cuộc sống hiện tại. Đối với cõi xuất thế gian, họ cũng phải làm việc để gặt hái được hạnh phúc và thường xuyên được bình an bằng cách nhận thức được Chánh Đạo ( Samā Magga – Real Path), Đạo Quả ( Phala Magga – Fruition through the Real Path) và Niết Bàn ( Nibbāna). Tuy nhiên, cách thức thực hiện công việc ở cõi thế gian và cõi xuất thế gian không giống nhau. Hai loại công việc này tương phản nhau. Chỉ sau khi lãnh hội được trạng thái tương phản của 2 loại công việc nói trên, thực hiện chúng một cách đúng đắn thì người ta mới có thể gặt hái được sự thành công.

  Những vấn đề trong cõi thế gian

  Khi làm ăn, buôn bán, kinh doanh… để đạt được sự giàu có và thịnh vượng, người ta phải học tập để nắm bắt được những trạng thái thay đổi khác nhau về mặt lịch sử của thời đại ( trong quá khứ cũng như trong hiện tại) để thay đổi cung cách làm ăn của mình sao cho phù hợp với những thay đổi ấy. Người ta cũng phải đắn đo suy nghĩ và dự đoán trước những tình huống tốt và xấu có thể xảy ra, xu thế phát triển xã hội nào có thể chiếm ưu thế trong tương lai. Đồng thời, người ta cũng phải thông thạo tình hình đang xảy ra trong hiện tại. Vì vậy, chỉ khi có học tập, nghiên cứu và cân nhắc về cung cách làm việc của mình sao cho phù hợp với tình hình trong quá khứ, hiện tại và tương lai thì người ta mới có thể gặt hái được hiệu quả làm ăn và dẫn đến thành công.

  Những vấn đề trong cõi xuất thế gian

 Trong việc thực hành thiền minh sát để đạt tới trạng thái hạnh phúc vĩnh cửu trong cõi xuất thế gian như : Gặt hái được Chánh Pháp, Quả Tuệ và Niết Bàn… người ta không trở về với quá khứ cũng như không cần nhớ lại những đối tượng của các giác quan đã đi vào dĩ vãng. Người ta cũng không hướng về phía tương lai để tưởng tượng và trông chờ vào những đối tượng của các giác quan. Những đối tượng của các giác quan ở quá khứ và trong tương lai không hề xuất hiện ở giây phút hiện tại. Quá khứ đã qua và tương thì chưa đến. Vì vậy, người ta phải cố gắng quên đi những đối tượng của giác quan không có thật đó. Người ta phải chú ý trực tiếp vào hiện tại, chỉ có như thế thì mới có thể thành công được. Tiến trình nhận thức liên tục về thân thể vật lý và tinh thần của bạn chỉ được thiết lập trong hiện tại. Khi trạng thái của thể xác và tinh thần đang trôi qua và tan biến vào quá khứ, bạn không thể tìm thấy những cái tan biến đó đang ở đâu trong chính mình. Trước khi trạng thái tan biến đi của thể xác và tinh thần khởi lên, chúng cũng không ở đâu cả trong thân thể vật lý và tinh thần của bạn. Vì vậy, bạn cần phải chú tâm tích cực trong từng khoảnh khắc ở hiện tại. Sau đó, bạn sẽ nhận thức được nguyên nhân và kết quả, trạng thái khởi lên và tan biến đi của những hiện tượng thuộc về vật chất và tinh thần. Cuối cùng, thế nào bạn cũng sẽ lãnh hội được Giáo Pháp Cao Thượng. Khi tâm trí của bạn kết nối một cách trực tiếp và hoàn toàn ở trong các cảm giác bằng cách chú ý tích cực tới trạng thái đang thấy, đang nghe , đang ngửi, đang xúc chạm của chính mình, bạn chỉ nên theo dõi và nhận biết các cảm giác đó một cách đơn thuần, nghĩa là không suy nghĩ gì cả, chỉ âm thầm theo dõi và nhận biết các cảm giác đang khởi lên trong thân tâm của chính mình mà thôi. Bạn cũng đừng khởi tâm tham muốn những cảm giác có thể khiến cho mình cảm thấy dễ chịu, cũng không khởi tâm sân hận đối với những cảm giác khó chịu. Trong khi làm việc để gặt hái được sự giàu có và thịnh vượng, bạn cần phải năng động và lanh lợi để thấy và đánh giá đúng mọi sự việc, tình huống trước những người khác. Chỉ khi có thể năng động và lanh lợi để thấy và đánh giá đúng các sự việc một cách nhanh chóng, bạn mới có thể thành công trong cõi thế gian. Tuy nhiên, khi làm việc để tìm kiếm trạng thái tâm thường xuyên bình yên thì công việc sẽ vất vả và khó khăn hơn nhiều, cụ thể là việc thực hành thiền minh sát để nhận thức được Chánh Pháp, Đạo quả và Niết Bàn. Thậm chí khi đang  có một thị lực rất tốt. Tuy nhiên, bạn vẫn phải làm như thể mình không thấy gì cả, bạn chỉ cần chú ý đến những đối tượng mà mình đang thấy ngay trong từng khoảnh khắc ở hiện tại. Chú ý đến trạng thái thấy khi thị giác đang thấy một hiện tượng nào đó không có nghĩa là lãnh hội hiện tượng đó như là đàn ông, phụ nữ, sự nói chuyện, ngắn, dài,  đẹp, xấu, sáng, tối…Chỉ khi đã gặt hái được trạng thái định tâm ( Samādhi – Concentration ) thì chúng ta mới có thể chú ý và hiểu được trạng thái đang thấy của chính mình một cách đúng đắn. Chỉ khi đã có sự định tâm thì chúng ta mới có được kinh nghiệm về bản chất của vạn pháp ( chữ pháp ở đây có nghĩa là sự vật hayhiện tượng - ND). Chú ý để hiểu được trạng thái đang thấy của chính mình một cách đúng đắn là một công việc rất khó đối với những người chưa có nền tảng về thiền minh sát. Đối với những người đã  thật sự thiết lập được một nền tảng căn bản trong sự nhận thức của họ về thiền minh sát thì công việc vừa nêu trên không có gì là khó lắm. Những người đã có căn bản về thiền Minh sát có thể chú ý để thấy một cách đúng đắn và chỉ có thấy mà thôi. Những hiện tượng mà họ đang trông thấy bằng mắt hay bằng tâm không thể làm cho tâm trí của họ khởi lên bất cứ một điều gì khác ngoài trạng thái đang thấy.Ví dụ, một hành giả đã có nền tảng về thiền minh sát khi đang tập luyện kinh hành ( tức thiền hành) có thể chú ý và nhận biết được tiến trình đang dở chân lên của anh ta một cách chính xác và rõ ràng. Anh ta cũng nhận biết được bàn chân của mình bắt đầu lướt nhẹ trong không gian khi nó đang di chuyển về phía trước. Khi bàn chân đang dần dần đặt xuống mặt đất, anh ta sẽ nhận biết được rằng nó càng lúc càng trở nên nặng nề hơn lúc đang dở lên… Anh ta có khả năng theo dõi tiến trình bước đi của cả 2 bàn chân mình một cách tuần tự và nối tiếp nhau. Trạng thái nhận biết của anh ta không hề bị ngắt quãng. Vì vậy, trong từng khoảnh khắc, khi hành giả đang chú ý vào các hiện tượng mà anh ta đang thấy, anh ta chỉ thấy một cách đơn thuần mà không phân biệt đối tượng thấy là gì cả, không phân biệt là đàn ông hay phụ nữ, tròn hay vuông, màu xanh hay màu đỏ…Vì vậy, anh ta sẽ nhận thức được bản chất của hiện tượng mà mình đang thấy. Nếu một người thực hành thiền minh sát có thể nhận biết một cách chính xác trạng thái đang thấy của chính mình thì anh ta cũng có thể chú ý để nhận biết một cách chính xác những tư thế đi, đứng, nằm, ngồi của chính anh ta. Nếu hành giả đã có một sự chú ý đúng đắn và liên tục vào một hiện tượng bất kỳ nào đó như : Trạng thái đang thấy, đang nghe, đang xúc chạm… thì trạng thái định tâm trong anh ta sẽ phát triển. Từ đó, anh ta sẽ lãnh hội được bản chất của pháp ( chữ pháp ở đây có nghĩa là các sự vật hay hiện tượng - ND). Tiếp đến, anh ta sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính mình. Ngày xưa, trong hang động Kurandaka có một vị Tỳ Kheo cao hạ tên là Cittagutta đang tu hành ở đó. Ngài đã thực hành Phật Pháp liên tiếp trong 60 mùa mưa. Vị Trưởng Lão trong hang động có thể nhận thức được trạng thái đang thấy của chính Ngài một cách đúng đắn và chính xác. Ngài có thể làm chủ được thị giác của mình. Thậm chí, trong suốt 60 mùa mưa thực hành Phật Pháp, không một lần nào thị giác của Ngài bị cuốn hút về 7 hình vẽ của các vị Phật có tuệ minh sát rất đẹp nằm trên vách tường của hang động. Không có bất cứ cái gì được trang trí trong hang động có thể khiến cho tâm trí của vị Trưởng Lão bị phân tán. Ngài cũng chưa bao giờ nhìn thấy một cái cây cao chót vót có gỗ rất cứng nằm ngay trước cửa của hang động. Khi đức vua Kākavannatissa nghe tiếng thơm về vị Trưởng Lão, nhà vua đã 3 lần mong ước được đảnh lễ Ngài, cung thỉnh Ngài về cung điện để cúng dường và nghe thuyết Pháp. Tuy nhiên, trong cả 3 lần, vị Trưởng Lão đều không từ chối. Sau đó, nhà vua đã triệu tập tất cả những người phụ nữ làm nghề vú nuôi sống trong một ngôi làng lớn tọa lạc gần hang động mà vị Trưởng Lão đang cư trú và ra lệnh cho tất cả những người này không được hành nghề của họ nữa, cho đến khi vị Trưởng Lão chịu nhận lời thỉnh cầu của Ngài. Những người phụ nữ làm nghề vú nuôi đã không có cách gì để nuôi những em bé đang khát sữa . Đến khi vị Trưởng Lão đến thì họ mới được tiếp tục hành nghề. Vị Trưởng Lão đã đến thăm và tỏ lòng từ yêu thương đối với những em bé không thể bú được sữa của mẹ chúng. Nhà vua trong dịp đó đã cúng dường vật thực cho vị Trưởng Lão và nghe Ngài thuyết Pháp. Nhà vua cũng đã quì lạy để tỏ rõ sự cung kính đối với vị Trưởng Lão. Hoàng hậu cũng đã làm theo nhà vua. Khi nhà vua đang thể hiện sự cung kính ,vị Trưởng Lão đã chúc phúc cho Ngài : “ Hỡi hoàng thượng ! Ta cầu chúc cho ông được mọi sự tốt đẹp và hạnh phúc”. Khi đến lượt hoàng hậu thể hiện sự cung kính đối với vị hoà thượng Trưởng Lão thì Ngài đã lập lại lời chúc phúc giống như Ngài đã cầu chúc cho nhà vua trước đó : “ Hỡi hoàng thượng ! Ta cầu chúc cho ông được mọi sự tốt đẹp và hạnh phúc”. Bởi vì vị Trưởng lão đang thực hành nhận thức trạng thái đang thấy của chính mình, nên tam trí của Ngài luôn luôn có khả năng không phân biệt là đàn ông hay phụ nữ. Sau đó, nhà vua đã tiễn đưa vị Trưởng Lão trở về hang động. Khi vị Trưởng lão về tới hang động, ngay trong đêm đó, Ngài đã tiếp tục thực hành Phật Pháp cho đến khi nhận thức được bản chất của vạn hữu. Ngài thường có thói quen thực hành Phật Pháp từ đầu hôm cho đến khi bình minh ló dạng. Sau đó, vị Trưởng Lão đã trở thành một A-La-Hán. Mặc dù trước đó, Trưởng lão Cittagutta đã thực hành Phật Pháp liên tiếp trong 60 mùa mưa, tuy nhiên Ngài vẫn chưa thể trở thành một vị A-la-Hán được. Chỉ sau khi trở về từ cung điện của nhà vua thì Ngài mới chứng được Đạo Quả này. Khi đang cư trú tại cung điện của nhà vua, vị Trưởng Lão đã nghiêm túc kiềm chế trước những đối tượng rất lôi cuốn của thị giác như : Đàn ông và phụ nữ làm cận thần cho nhà vua. Ngài thực hành sự thấy một cách thuần tuý, chỉ thấy và ngoài ra không còn điều gì khác khởi lên trong tâm trí của Ngài. Vì vậy, năng lực tập trung của Ngài càng thêm gia tăng. Vị Trưởng Lão đã gặt hái thêm được một năng lực tập trung tâm ý cao độ, bởi vì Ngài đã có thể chú ý một cách trọn vẹn đến tất cả những hiện tượng khi chúng đang khởi lên trong tâm trí của mình mà không hề mất dấu chúng. Vì vậy, trạng thái định tâm của Ngài đã chín muồi. Khi năng lực định tâm đã đủ mạnh, vị Trưởng Lão đã gặt hái được tuệ minh sát. Khi đang thực hành nội quán, đột nhiên Ngài đã nhận thức được trạng thái hoàn toàn tách biệt của danh và sắc, nguyên nhân và kết quả, trạng thái đang khởi lên và tan biến đi của các sự vật hay hiện tượng. Vì vậy, năng lực nội quán của vị Trưởng Lão càng ngày càng rõ ràng và mạnh mẽ hơn. Ngài tiếp tục thực hành sự chú ý chính xác và liên tục. Có thể nói, không có một giây phút hay đúng hơn là không có một khoảnh khắc nào mà sự chú ý của Ngài bị ngắt quãng. Cuối cùng, vị Trưởng Lão đã giác ngộ chân lý và trở thành một A-La-Hán. Những người thực hành thiền minh sát cần phải lưu ý đến phương pháp thực hành thiền này. Nếu họ có thể nhìn thấy một cách thuần tuý, nghĩa là thấy mà không bị dính mắc vào các hiện tượng mà mình đang nhìn thấy. Nhờ đó, khi chạm trán với các đối tượng có thật của tâm trí, năng lực tập trung của họ sẽ phát triển. Khi năng lực tập trung đã phát triển thì họ sẽ gặt hái được trạng thái định tâm. Khi họ đã gặt hái được trạng thái định tâm thì tuệ minh sát sẽ phát triển. Khi tuệ minh sát đã hoàn hảo thì họ sẽ lãnh hội được Chánh Pháp, Đạo Quả và Niết Bàn. Đó là lý do tại sao, trong từng khoảnh khắc khi đang nhìn thấy bất cứ một hiện tượng nào, bạn cũng cần phải chú ý một cách tích cực, chính xác và liên tục đến hiện tượng đó và nhìn thấy nó một cách thuần tuý. Nếu có thể làm được như thế, bạn sẽ thành công và gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng.

     

                       Nên tuân theo những lời giáo huấn

 

 Ngày nay, có nhiều hội đoàn làm công tác phụng vụ ( Veyyavacca – Services associations) và những người được ủy thác tổ chức các hoạt động tôn giáo ( Gopaka – Trutees) tại các tu viện, chùa chiền… Những nhóm người này làm việc để duy trì và phát triển Giáo Pháp. Thật vậy, đây là một dấu hiệu tốt cho tương lai của Phật Pháp. Những nhóm gopakaVeyyavacca này là những tu sĩ Phật Giáo trẻ tuổi, lớn tuổi hoặc các thiện nam tín nữ đã được chọn lọc như là các vị cố vấn ( Ovadacariyas – Advisor sayadaws). Những người này có khả năng trao truyền kiến thức đúng theo những lời giáo huấn của Đức Phật. Những vị cố vấn này thường trao truyền các loại kiến thức thích đáng cho những người cần chúng trong các cuộc gặp mặt được tổ chức hằng năm.Trung tâm thiền Saddhammaransī ở Ngưỡng Quang ( Yangoon) tọa lạc tại số 8 đường Zeyakhemar- quận Mayagon đã được thiết lập bởi Ngài Đại Trưởng Lão Tăng Thống Mahasì ( Mahàthera Nàyaka Mahāsī Sayadaw). Nơi đây có những người được ủy thác tổ chức các hoạt động tôn giáo với nhiệm vụ duy trì và phát triển Giáo Pháp. Ngài Mahāsī đã từng là cố vấn cho nhóm người này. Họ cũng đã thu thập được nhiều kiến thức bổ ích từ sự giáo huấn của Ngài. Theo thứ tự phân công làm việc như là các hoạt động thực hành những lời giáo huấn của Đức Phật, Ngài Mahāsī đã chỉ định mỗi cố vấn có nhiệm kỳ làm việc là 6 tháng hoặc 1 năm. Năm nay, tổ chức công tác phụng vụ ( Organization of veyyavacca) đã được báo trước 6 ngày để chuẩn bị cho lễ gặp mặt hằng năm. Buổi lễ đã được cử hành vào lúc 1 giờ chiều ngày thứ bảy, 11/02/ 1989 ( nhằm tháng Tabodwe năm 1350 theo lịch của Miến Điện). Đúng theo chương trình, Ngài Saddhammaransì đã thuyết Pháp về 5 Giới và phân công những người cố vấn mới của trung tâm. Ngài đã nói : “ Mọi năm tôi thường có sự phân công những người cố vấn mới cho trung tâm. Năm nay, tôi cũng sẽ công bố danh sách những thành viên trong tổ chức công tác phụng vụ để họ có thể nhận nhiệm vụ và bắt tay vào công việc. Sự phân công những cố vấn cho trung tâm lần này của tôi được thực hiện dưới 4 đề tài sau đây :

1. Ý nghĩa của công tác phụng vụ

2. Ba nhiệm vụ của các thành viên trong tổ chức công tác phụng vụ

3. Bốn Pháp mà các thành viên làm công tác phụng vụ nên tuân theo

4. Bốn điều mong ước của bậc Trưởng Thượng

  

  -  Ý nghĩa của công tác phụng vụ

 Những người làm công tác phụng vụ ( Veyyavacca) là những người làm thầy giáo, cha mẹ đang thực hiện những công việc cấp bách với một tinh thần siêng năng mẫn cán. Những thành viên trong tổ chức công tác phụng vụ tại trung tâm thiền Saddhammaransī phải hiểu rằng, các thí chủ tìm đến với trung tâm thiền là các bậc Trưởng Thượng, Tăng già và các thiện nam tín nữ Phật tử. Họ tìm đến với trung tâm để thực hành thiền minh sát, để bố thí cúng dường và thực hiện nhiều hành động phước thiện khác. Họ cần phải có một sự nổ lực để hiểu được thế nào là một thí chủ thuần thành.

- Ba nhiệm vụ của các thành viên trong tổ chức công tác phụng vụ

 Khi Đức Phật thuyết một bài Pháp nào đó thì bài Pháp này phải có đầy đủ 3 phần : Mở đầu, phần giữakết thúc. Cả 3 phần này đều được Ngài thực hiện một cách mỹ mãn. Tương tự như vậy, những thành viên trong tổ chức công tác phụng vụ cần phải thực hiện những bổn phận của mình một cách hoàn hảo, nghĩa là có phần mở đầu, phần giữakết thúc.

  a. Hoàn tất phần mở đầu nghĩa là : Khi các thí chủ đến trung tâm để thực hành thiền, bố thí hay cúng dường, việc đầu tiên của thành viên trong tổ chức công tác phụng vụ là phải có được niềm hạnh phúc về thể xác và tinh thần. Ví dụ, khi đến trung tâm để bố thí hay cúng dường vật thực họ phải biết hoặc được thông báo số lượng các hành giả và các Tỳ Kheo đang có mặt tại đây, giá cả của các bữa ăn sáng hay ăn trưa là bao nhiêu… Khi họ đã đồng ý về mặt giá cả của các bữa ăn mà họ sẽ cúng dường thì hành động phước thiện của họ mới được chấp nhận. Đây là ý nghĩa của sự hoàn hảo trong phần mở đầu.

  b. Hoàn tất phần giữa nghĩa là : Sự sắp xếp những vật thực bố thí hay cúng dường phải đúng theo nguyện vọng của thí chủ. Những vật thực này phải được chuẩn bị thật tốt, sạch sẽ và hợp vệ sinh, số lượng vừa đủ dùng và không để bị lãng phí. Việc sắp xếp và chuẩn bị các loại vật thực bố thí hay cúng dường theo cách này nghĩa là hoàn tất phần giữa.

  c.  Hoàn tất phần cuối nghĩa là : Sau khi cúng dường, hóa đơn thanh toán phải được kê ra một cách chi tiết về giá cả của các loại vật thực đã bố thí hay cúng dường như các loại bánh ngọt, trái cây… Công việc này phải được thực hiện một cách chính xác để các thí chủ được thỏa mãn. Đây là ý nghĩa của việc hoàn tất phần cuối.

Tóm tắtCả 3 phần mở đầu, phần giữa và phần cuối của việc bố thí hay cúng dường phải được hoàn tất.

 - 4 Pháp mà các thành viên làm công tác phụng vụ nên tuân theo

  a. Về việc bố thí hay cúng dường ( Danā -  to give alms or charity) , thí chủ phải có từ tâm và độ lượng đối với những người mà mình mong muốn cúng dường hay bố thí.

  b. Về lời ăn tiếng nói phải dịu dàng dễ nghe ( Peyyavaca – Graceful speaking). Khi nói chuyện với nhiều người khác hoặc phát biểu trong các buổi lễ gặp mặt, các thành viên công tác phụng vụ phải có thái độ đúng đắn và lịch thiệp.

  c. Về các hành động phước thiện ( Atthacariya – Meritual actions) , các thành viên công tác phụng vụ phải làm việc vì lợi ích của người khác. Đó cũng là lợi ích của họ trong kiếp sống sống hiện tại và trong những kiếp sống ở tương lai.

d. Về sự chánh trực, vô vị lợi ( Samānattatà – Selfishness), các thành viên công tác phụng vụ phải cùng nhau chia xẻ trách nhiệm và những tình huống sẽ gặp phải trong quá trình thực hiện các công việc phước thiện, buồn cùng chia và vui cùng hưởng.

Tóm tắt: Từ tâm, đứng đắn và lịch thiệp, làm việc vì người khác, chia xẻ niềm vui và nổi buồn là thái độ đúng đắn của những người làm công tác phụng vụ.

 - 4 điều mong ước của bậc Trưởng Thượng

  a. Các thí chủ khi đến bố thí hay cúng dường tại trung tâm thiền Sadhammaransī phải có thiện chí và làm việc theo đúng nghĩa của một tổ chức công tác phụng vụ. Họ cũng phải là những người thực hành thiền chuyên cần và liên tục. Sự ham muốn những cảm giác dễ chịu mà các giác quan đòi hỏi, quyến luyến và bám víu vào của cải là một trở ngại lớn trong quá trình tu tập của họ. Những thành viên này cần phải thực hiện những công việc phước thiện với một tinh thần tự nguyện ( Cetanā – Volition).

Tóm tắt  : Loại bỏ tâm tham lam, thực hành bố thí hay cúng dường là công việc phải làm tại trung tâm thiền này.

  b. Tất cả những người làm công tác phụng vụ và những người có tư cách đạo đức cao trọng khác khi đến với trung tâm thiền này, cần phải loại bỏ được tâm tham lam bởi vì tâm này chính là nguyên nhân gây ra khổ đau cho chính họ và nhiều người khác. Tôi mong muốn tất cả quí vị hãy thực hiện mọi công việc với từ tâm.

Tóm tắt  :  Loại bỏ tâm tham lam, rãi tâm Từ ( mettā) khi thực hiện các công việc tại trung  tâm thiền này.

  c. Những thành viên thiện lành thực hiện công tác phụng vụ khi đến trung tâm thiền này, phải có lòng vị tha, khoan dung và độ lượng, phải loại bỏ những ý nghĩ tiêu cực và các mối ác cảm hận thù, thực hành hạnh kiên nhẫn và chịu đựng ( Khanti – Patient) như các vị Bồ Tát và những người có tư cách đạo đức cao trọng ngày xưa.

Tóm tắt  : Loại bỏ các mối ác cảm hận thù, thực hành hạnh kiên nhẫn và chịu đựng là những điều cần làm khi đến với trung tâm thiền này.

   d. Tất cả những người đến với trung tâm thiền này bao gồm cả trẻ nhỏ ngây thơ chưa có sự hiểu biết hay trí tuệ. Chúng ta cần phải được dạy dỗ, trao truyền kiến thức để các em nhỏ này có được sự hiểu biết và trí tuệ.

Tóm tắt  : Loại bỏ tính tham lam và có được sự hiểu biết là những công việc cần thực hiện khi đến với trung tâm thiền này.

       Kết luận :

    Ngày hôm nay ở đây, những điều mà tôi đã thuyết Pháp là :

1. Ý nghĩa của công tác phụng vụ

2. Ba nhiệm vụ của các thành viên trong tổ chức công tác phụng vụ

3. Bốn Pháp mà các thành viên trong tổ chức công tác phụng vụ nên tuân thủ

4. Bốn điều mong ước của bậc Trưởng Thượng

Bằng hạnh lắng nghe bài thuyết Pháp về 4 điều mong ước của bậc Trưởng thượng, tất cả quí vị đã có thể thực hiện công việc truyền bá, duy trì và phát triển Giáo Pháp của Đức Phật. Cầu chúc cho tất cả quí vị có thể gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng đúng như mong ước của chính mình. Lành thay !

 

                               Tôn kính tháng Kattikà

 

Những người Phật tử mộ Đạo thường rất tôn kính tháng kattikā hay kattikāmasā  ( Tên của tháng 10 trong lịch Ấn Độ cổ đại - khoảng tháng 11 hay 12 dương lịch – tháng có chùm sao Đại hùng 7 ngôi tỏa sáng trên bầu trời mà ngôn ngữ Pāli gọi là kattikā ) như nó đã mang lại sự bình yên và hạnh phúc cho mọi người. Khi tháng Kattikā ( người Miến Điện gọi là tháng Tazaungmon ) đến thì mùa mưa cũng sắp chấm dứt. Vì vậy, bầu trời đã trở nên trong sáng và không có mây. Bất cứ ai cũng thấy được bầu trời trong sáng và xinh đẹp như một cô thiếu nữ với dáng vẻ bình yên và hạnh phúc. Do đó, tháng Kattikā là một tháng được mọi người quí trọng. Khi tháng Kattikā đến, những người Phật tử mộ Đạo đi đến các tu viện – nơi họ sẽ tỏ lòng tôn kính và cúng dường trong lễ Dâng Y Kathina. Khi có thể dâng cúng trong lễ Kathina, họ sẽ cảm thấy được hạnh phúc và càng thêm quí trọng tháng Kattikā. Theo những lời giáo huấn của Đức Phật, Lễ Dâng Y Kathina chỉ được tổ chức một năm một lần và việc cúng dường chỉ được thực hiện trong vòng 1 tháng. Mỗi tu viện chỉ được tổ chức cho các thí chủ cúng dường trong một ngày duy nhất. Những Phật tử mộ đạo phải chuẩn bị tứ vật dụng để dâng cúng. Tất cả mọi người đều có quyền cúng dường trong Lễ Dâng Y Kathina. Đó là lý do tại sao, những người mộ Đạo nói chung rất thích và tôn kính Lễ Dâng Y Kathina. Khi càng tôn kính Lễ Dâng Y Kathina bao nhiêu thì họ càng quí trọng tháng Kattikā bấy nhiêu. Những người Phật tử mộ Đạo thường đi đến những ngôi chùa cổ, Bảo tháp và các tu viện – nơi họ thường tỏ lòng tôn kính và dâng cúng ánh sáng trong ngày trăng tròn tháng Kattikā. Họ cũng trang hoàng nhà cửa bằng cách treo các loại đèn có kết hoa và bố trí nhiều loại ánh sáng xinh đẹp khác. Họ cử hành lễ hội ánh sáng và thực hiện những hành động xứng đáng. Hành động dâng cúng ánh sáng của những người Phật tử mộ Đạo là một cách để họ tỏ lòng tôn kính tháng Kattikā. Sau đây là những sự thật mà những Phật tử mộ đạo có thể biết về tháng Kattikà mà người Miến Điện gọi là tháng Tazaungmon :

1. Tại sao gọi là tháng Tazaungmon ?

2. Tại sao trong tháng Tazaungmon, người ta lại treo đèn kết hoa và dâng cúng ánh sáng ?

 - Tại sao gọi là tháng Tazaungmon ?

 Người Miến Điện gọi tháng có Lễ Dâng Y Kathina là tháng Tazaungmon ( tức tháng Kattikā trong ngôn ngữ Pāli ) vì trong tiếng Miến Điện từ Tazaungmon đã từng được xử dụng từ triều đại Bagan và truyền lại cho đến ngày nay. Từ Tazaungmon là một từ kép được cấu thành bởi 3 từ : Tan, hsaungmhon.

a. Từ Tan nghĩa làánh sáng xuất hiện

b. Từ hsaung nghĩa là mang vác hay chứa đựng

c. Từ  mhon nghĩa là tiêu hủy, loại bỏ bóng tối mang ánh sáng đến

 Vì vậy, từ Tazaungmon có nghĩa là Tháng loại bỏ bóng tối và mang ánh sáng đến.

- Tại sao trong tháng Tazaungmon người ta lại treo đèn kết hoa ?

 Ngày xưa, các nhà thiên văn học lão luyện trong môn học này cũng học về các vị thần giám hộ tinh thần cho các vì sao và nhiều hành tinh khác. Họ có nhiều sự hiểu biết về những điều đó. Trong tháng Tazaungmon, mặt trăng to lớn và tròn trịa cũng được thần ánh sáng bảo vệ về mặt tinh thần. Người ta nói rằng, các vị thần giám hộ sẽ giáng trần trong tháng Tazaungmon. Khi vị thần ánh sáng từ trời cao xuống đến mặt đất, các nhà cầm quyền và dân chúng đã thắp lên những ngọn đèn dầu và cúng dường . Từ đó, phong tục này đã trở thành truyền thống. Đó là lý do tại sao, trong đêm trăng tròn của tháng Tazaungmon, người ta thường cúng dường ánh sáng cho vị thần cai quản loại năng lượng này. Ngày nay, người có học tập về Giáo Pháp của Đức Phật nghĩ ra rằng, việc cúng dường ánh sáng cho Đức Phật trong các ngôi chùa và các Bảo tháp thì có lợi ích hơn việc cúng dường cho vị thần cai quản về ánh sáng. Vì vậy, trong đêm trăng tròn của tháng Tazaungmon, người ta thường tổ chức lễ hội cúng dường ánh sáng tại các ngôi chùa. Những người Phật tử mộ Đạo rất tôn kính lễ hội này, bởi vì nó giúp họ tích lũy được nhiều lợi ích to lớn. Việc cúng dường ánh sáng đã làm nên vinh dự cho 2 ngôi chùa ở cõi trời Đẩu Xuất và Phạm Thiên. Hai ngôi chùa này có liên quan đến cuộc đời của Đức Phật.

a. Chùa Cūlāmani tại cõi trời Đẩu Xuất

b. Chùa Dussa tại cõi trời Akkanittha của Phạm Thiên

Chùa Cūlāmani tại cõi trời Đẩu Xuất

Thái tử Sĩ- Đạt- Ta( lúc này đã là Bồ-Tát) đã từng tận hưởng những niềm vui thú xa hoa của một thái tử trong vòng 16 năm. Từ năm 13 tuổi, Ngài đã sống cuộc đời sung sướng như một ông vua. Năm Bồ-Tát Sĩ- Đạt-Ta được 29 tuổi, một ngày nọ lúc đang trên đường đến công viên hoàng gia, Ngài đã trông thấy một người già. Cứ mỗi 4 tháng sau đó, Ngài lần lượt trông thấy một người bệnh, một người chết và một tu sĩ. Đó là 4 dấu ấn vĩ đại làm thay đổi cuộc đời của Ngài. Vì vậy, Ngài đã từ bỏ thế gian. Bồ-Tát đã rời khỏi cung điện của mình vào lúc nữa đêm để sống một cuộc đời lang thang không cửa không nhà. Khi đã vượt qua bờ bên kia của dòng sông Anomā, Ngài tự cắt mái tóc bối của mình và trở thành một ẩn sĩ. Ngài đã tung mái tóc bối và chiếc mũ miện của thái tử lên trời và nguyện rằng, nếu Ngài trở thành Phật thì mái tóc bối và chiếc mũ miện của Ngài sẽ được treo lại trên trời. Nếu như Ngài không thể trở thành Phật thì chúng sẽ rơi trở lại xuống đất. Mái tóc bối và chiếc mũ miện đã bay lên phía trời cao được 1 do-tuần và lưu lại ở đó.

Bằng thần nhãn ( Dibbacakkhu – Devine eyes), vua của cõi trời đã trông thấy mái tóc bối và chiếc mũ miện của Bồ-Tát Sĩ-Đạt-Ta, Ngài nắm lấy chúng và cất giữ trong một chiếc rương bằng vàng. Sau đó, vua của cõi trời đã mang mái tóc bối và chiếc mũ miện vào cất giữ trong chánh điện của một ngôi chùa được trang hoàng bởi 7 loại ngọc quí tại cõi trời Đẩu Xuất

( Tusita - Cõi trời của Chư Thiên). Chiều cao của ngôi chùa này là 3 do-tuần (Yojana - Một do-tuần được tính bằng 8 dặm Anh, một dặm Anh được tính bằng 1609 mét. Như vậy, ngôi chùa này cao tới 38616 mét- ND). Bởi vì ngôi chùa này là nơi cất giữ mái tóc bối và chiếc mũ miện của Bồ-Tát Sĩ-Đạt-Ta cho nên nó được gọi là chùa Cūlāmani.

Tóm tắt: Bảo Tháp Cūlāmani tại cõi trời Đẩu Xuất có chiều cao là 3 do tuần ( tương đương 38616 mét).

 Khi nghĩ đến ngôi chùa Cūlāmani này, Chư Thiên và Phạm Thiên trên các cõi trời thường dâng cúng ánh sáng vào những đêm trăng tròn của tháng Tazaungmon.

 - Chùa Dussa đã được xây dựng tại cõi trời Akkanittha của Phạm thiên như thế nào

Trong thời Đức Phật Ca-diếp còn tại thế, thái tử Sĩ-Đạt-Ta là bạn rất thân với trời Phạm thiên Ghatikāra. Khi thái tử hay Bồ-Tát  Sĩ-Đạt-Ta tự cắt mái tóc bối của Ngài để trở thành một ẩn sĩ, Trời Phạm Thiên Ghatikara đã giáng trần và cúng dường cho Bồ-Tát 3 chiếc Y Tecīvari ( tiếng Anh gọi là Ticivarit - Loại Y dùng để choàng lên người thay vì mặc. Đây là y phục xử dụng cho các tu sĩ Phật Giáo tu theo hạnh Đầu Đà), bát khất thực, dao cạo, kim khâu và chỉ, thắt lưng và cái lọc nước ( 8 vật dụng cần thiết của một Tỳ Kheo). Bồ-tát đã đem 8 loại vật dụng cần thiết do trời Phạm Thiên Ghatikāra cúng dường bỏ vào một chiếc túi đựng vật dụng rẻ tiền và luôn mang chúng theo với sự tôn kính. Sau đó Ngài đã trao lại túi đựng vật dụng đắt tiền của Ngài cho trời Phạm Thiên Ghatikāra .

Tóm tắt3 chiếc Y Tecīvari , bát khất thực, dao cạo, kim khâu và chỉ, thắt lưng, và cái lọc nước là 8 vật dụng cần thiết của một Tỳ Kheo.

 Sau đó, Trời Phạm thiên Ghatikāra đã đem chiếc túi đựng vật dụng đắt tiền ( chỉ người trong hoàng gia mới có) của vị Phật tương lai đến cõi trời Rūpavācara ( Cõi trời sắc giới, cõi trời cao nhất trong cõi Phạm Thiên ) và xây dựng ở đó một ngôi chùa gọi là chùa Dussa. Ngôi chùa này được trang hoàng bằng nhiều loại ngọc quí nhất. Chánh điện nằm trong chùa Dussa chính là nơi cất giữ chiếc túi đắt tiền của Bồ-Tát Sĩ-Đạt-Ta. Chiều cao của chùa Dussa12 do-tuần ( tức cao 96 dặm Anh, tương đương với 154464 mét ). Bởi vì ngôi chùa này có cất giữ chiếc túi của Bồ-tát Sĩ-Đạt-Ta nên có tên là chùa Dussa.

Tóm tắt: Bảo Tháp Dussa tại cõi trời Akkanittha có chiều cao là 12 do tuần ( tương đương 154464 mét).

 Nghĩ đến chùa Dussa, Chư Thiên và Phạm Thiên trên các cõi trời thường dâng cúng ánh sáng bằng nhiều loại đèn khác nhau trong những đêm trăng tròn của tháng Tazaungmon. Trong ngày trăng tròn của tháng Tazaungmon,  người ta cũng tổ chức dâng cúng ánh sáng tại 3 loại chùa sau :

1. Loại chùa có cất giữ ( đúng hơn là thờ phụng- ND) Xá-Lợi răng, tóc, xương… của Đức Phật, được gọi chung là Xá-Lợi nhục thể ( Saririka – Flesh body ‘s Relics). Những loại chùa theo kiểu này được gọi chung là chùa Saririka ( tạm dịch là chùa có thờ Xá-Lợi nhục thể của Đức Phật – Saririka pagodas) hay chùa Dhàtu ( Dàtu pagodas).

2. Loại chùa có cất giữ ( đúng hơn là thờ phụng- ND) những vật dụng thiết yếu của Đức Phật như : Tu viện, ghế ngồi, thắt lưng, gậy chống…Những loại chùa theo kiểu này được gọi chung là chùa Paribhoga( Paribhoga pagodas).

3. Loại chùa có thờ ảnh tượng của Đức Phật ( được làm bằng đá, đồng, vữa…). Những loại chùa theo kiểu này gọi chung là chùa Udissaka

( Udissaka pagodas). Nếu mở rộng danh sách này hơn nữa, sẽ có tất cả 5 loại chùa sau đây được liệt vào danh sách là những chùa có dâng cúng ánh sáng trong ngày trăng tròn của tháng Tazaungmon :

1. Loại chùa có thờ phụng những vật dụng thiết yếu của Đức Phật, được gọi là chùa Paribhoga.

2. Loại chùa có thờ phụng ảnh tượng của Đức Phật được làm bằng đá, đồng, vữa… Được gọi là chùa Udissaka.

3. Loại chùa có thờ phụng răng, tóc của Đức Phật được gọi là Saririka hay Dhātu.

4. Loại chùa mà trong quá khứ Đức Phật đã từng thuyết Pháp ở đó, ví dụ như các Kinh : Thập nhị nhân duyên ( Paticcasamuppāda Sutta), Chuyển Pháp luân ( Dammacakkappavattana Sutta), Tứ niệm xứ hay Đại niệm xứ ( Mahāsatipatthāna Suttanta)… Các Kinh này đã được chạm khắc trên những tấm đồng hay vàng. Loại chùa này được gọi là chùa Dhamma ( tạm dịch là chùa Phật Pháp -  Dhamma pagodas).

5. Loại chùa có thờ dấu chân của Đức Phật được in trên đá thường hoặc đá thanh, được gọi là chùa Pāda ( Pāda pagodas).

 Trong ngày trăng tròn của tháng Tazaungmon tại các ngôi chùa trên địa cầu vừa nêu , người ta thường tổ chức dâng cúng các loại ánh sáng. Vì vậy, việc dâng cúng ánh sáng tại các ngôi chùa trên cõi Chư Thiên và Phạm Thiên chỉ có trong tâm trí mỗi khi chúng ta thực hiện điều đó. Chúng ta dâng cúng ánh sáng trong ngày trăng tròn của tháng Tazaungmon bởi vì tôn kính khi nghĩ về cuộc đời của Đức Phật. Ngài là một bậc Giác Ngộ Tối Thượng xứng đáng được tôn kính nhất. Khi đã có được sự tôn kính tối thượng đó bạn sẽ cảm thấy rất phấn khởi và hạnh phúc. Khi đang ở trong trạng thái hạnh phúc, bạn nên tập trung sự chú ý đến cảm giác hạnh phúc đang khởi lên trong tâm trí.

Đó là thực hành thiền minh sát.  Khi thực hành sự chú ý, nếu một hành giả nào đó đã đạt tới trạng thái trí tuệ có thể phân biệt được Danh và Sắc

( Nāmarūpapariccheda Ñāna – The state ‘s wisdom for differentiate between mind and matter ), hành giả này sẽ nhận thức được rằng, cảm giác hạnh phúc là thuộc về tâm trí hay tinh thần. Nó khác biệt với thân thể vật lý ( thuộc về vật chất). Khi thân thể vật lý đang ngồi tại một chỗ nào đó thì nó không hề nhận biết được gì cả, chỉ có Danh ( tức tinh thần – Ñāma - Spirits) là có sự nhận thức mà thôi. Nói cách khác, hành giả đã trở nên có khả năng phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Khi một hành giả đã gặt hái được  kiến thức về nhân quả ( Paccayapariggaha Ñāna – Knowledge of cause and effect) thì hành giả này sẽ nhận thức được rằng, khi anh ta đang chú ý đến cảm giác hạnh phúc của chính mình thì cảm giác này đang dần dần khởi lên, tiếp theo là sự chú ý sẽ khởi lên liền sau đó. Cảm giác hạnh phúc khởi lên trước chính là nguyên nhânsự chú ý khởi lên liền sau cảm giác này chính là kết quả. Nếu hành giả đã gặt hái đượckiến thức lãnh hội ( Sammasana Ñāna – Knowledge of comprehension) thì anh ta sẽ nhận thức được rằng, khi đang chú ý đến cảm giác hạnh phúc thì cảm giác này có gia tăng cường độ rồi sau đó cường độ của nó sẽ dần dần hạ xuống. Trạng thái gia tăng và gia giảm cường độ của cảm giác nói chung chính là tính vô thường ( Anicca – Impermanence) của vạn hữu. Nếu hành giả đã đạt tới sự hiểu biết về trạng thái khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng thuộc về tinh thần và vật chất ( Udayabbhaya Ñāna – The knowledge of arising and passing away of mental and physical phenomena), anh ta sẽ lãnh hội được rằng, khi đang tập trung chú ý đến cảm giác hạnh phúc thì cảm giác này khởi lên và tan biến đi một cách rất nhanh chóng. Cảm giác hạnh phúc là vô thường. Khi khởi lên và tan biến đi một cách nhanh chóng như vậy, nó đã tạo ra một áp lực lên tâm trí của anh ta. Vì vậy, cảm giác này chính là khổ ( Dukkha – Suffering). Nếu là hành giả này thì bạn cũng không có cách nào để ngăn chặn được trạng thái tan hoại của cảm giác hạnh phúc vừa nói trên. Cảm giác hạnh phúc này luôn luôn hoạt động theo cách của riêng nó. Vì vậy, nó là vô ngã ( Anatta – No- self). Sau khi đã lãnh hội được như thế, nghĩa là đã lãnh hội được những điều ước muốn đúng theo hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính mình, hành giả sẽ trở thành một Tu-Đà-Hườn, một Tư-Đà-Hàm, một A-Na-Hàm hay một A-La-Hán và đạt tới Niết Bàn. Như vậy, bằng cách tỏ rõ sự tôn kính qua hành động dâng cúng ánh sáng tại các ngôi chùa trong cõi người, cõi Chư Thiên và Phạm Thiên vào ngày trăng tròn của tháng Tazaungmon, thực hành sự chú ý một cách tích cực, chính xác và liên tục vào cảm giác hạnh phúc, người ta có thể trở thành một Tu-Đà-Hườn, một Tư- Đà-Hàm, một A-Na-Hàm hay một A-La-Hán đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính họ và đạt tới Niết Bàn. Do đó, tháng Tazaungmon là một tháng đáng được tôn kính. 

      

              Kiến thức về sự chuyển đổi kiếp sống

 

Những người Phật tử có đầy đủ kiến thức, nổ lực làm việc để gặt hái sự giàu có và thịnh vượng, mang lại nhiều lợi ích cho cuộc sống hiện tại và trong những kiếp sống ở tương lai của chính họ. Vì vậy, họ đã làm việc nhằm mục đích gặt hái được kiến thức chân chính về sự chuyển đổi kiếp sống trong tương lai của chính họ. Trong nhiều năm, những người Phật tử đã gặt hái được rất nhiều sự hiểu biết về lãnh vực này.Tuy nhiên, họ vẫn còn phải tiếp tục muốn gặt hái được loại kiến thức này nhiều hơn nữa để trong những kiếp sống mai sau, họ sẽ được hưởng thêm nhiều lợi ích và đoạn tuyệt với luân hồi. Họ luôn nổ lực thực hiện thêm nhiều hành động xứng đáng với mục đích làm cho  những kiếp sống mai sau của chính mình có nhiều lợi ích hơn kiếp sống ở hiện tại. Họ thực hiện bố thí, giữ Giới, thực hành thiền định và thiền minh sát. Đặc biệt, những người Phật tử mộ đạo thường hay chuẩn bị cho sự chuyển đổi sang kiếp sống kế tiếp của họ ngay trong kiếp sống ở hiện tại này. Chỉ khi sự chuyển đổi kiếp sống xảy ra một cách tốt đẹp thì đến khi phải tái sanh vào luân hồi, họ mới được hạnh phúc. Nếu đã có một sự chuyển đổi kiếp sống tồi tệ thì khi tái sanh, họ sẽ phải chạm trán với nhiều loại khổ đau và bất hạnh. Vì vậy, những người Phật tử mộ Đạo đặc biệt chú trọng đến việc thực hiện những hành động thiện lành. Chỉ khi sự chuyển đổi kiếp sống của họ xảy ra một cách tốt đẹp thì họ mới có thể đạt tới những cõi sống cao quí và Niết Bàn Cao Thượng. Muôn loài chúng sanh đều phải tái sanh trong nhiều kiếp sống, ngoại trừ các vị A-La-Hán. Trong chu kỳ chuyển đổi kiếp sống, có thể có sự xuất hiện của 3 dấu hiệu sau :

1. Những dấu hiệu thuộc về nghiệp ( Pubbadhamma - The signs about action)

2. Những dấu hiệu thuộc về nghiệp thức ( Pubbadhamma vipāka -The signs about action ‘s mode )

3. Những dấu hiệu về cảnh giới mà chúng sanh sẽ tái sanh vào

( Pubbagati - The signs about the course of  existence for all kind )

 Những người có tích lũy phước báu bố thí và giữ Giới đầy đủ, khi gần chết họ sẽ được trải nghiệm những dấu hiệu tốt  thuộc về nghiệp thức mà họ đã từng thực hiện trước đó vàcảnh giới cao thượng mà họ sẽ tái sanh vào. Những người đã từng thực hiện những hành động bất thiện như sát sanh, trộm cắp…sẽ phải trải nghiệm những dấu hiệu xấu thuộc về nghiệp thức mà họ đã từng thực hiện trước đó và những cảnh giới thấp kém mà họ sẽ phải tái sanh vào.

Những dấu hiệu về nghiệp nghĩa là những dấu hiệu biểu hiện những hành động thiện lành hay bất thiện mà chúng ta đã từng thực hiện trước đó.

-  Những dấu hiệu về nghiệp thức nghĩa là những dấu hiệu biểu hiện cách thức mà chúng ta đã từng thực hiện những hành động thiện lành hay bất thiện trước đó.

Những dấu hiệu về cảnh giới mà chúng sanh sẽ tái sanh vào nghĩa là những dấu hiệu biểu hiện các cảnh giới như ý và bất như ý mà chúng sanh sẽ tái sanh vào.

  Khi gần chết chúng ta sẽ thấy những dấu hiệu thiện lành về nghiệp như thế nào ?

Ngoại trừ các vị A-La-Hán , tất cả muôn loài có ý thức trước khi chết, đều mong muốn thấy lại các cảnh tượng như là kết quả tốt đẹp của những hành động thiện lành ( như bố thí, giữ Giới, thiền định, thiền minh sát…) mà họ đã từng thực hiện trước đó. Những kết quả tốt đẹp này sẽ xuất hiện ở nhiều mức độ khác nhau, bởi vì chúng phụ thuộc vào các hành động thiện lành của riêng từng người. Nếu khi gần chết, chúng ta thấy được những dấu hiệu như là kết quả tốt đẹp nói trên thì hiện tượng này được gọi là Những dấu hiệu thiện lành về Nghiệp.

 Khi gần chết, chúng ta sẽ thấy những dấu hiệu thiện lành về thức như thế nào ?

Ngoại trừ các vị A-La-Hán, tất cả muôn loài có ý thức trước khi chết, đều mong muốn thấy lại những hành động thiện lành mà họ đã từng thực hiện trước đó như : Cúng dường vật thực cho Tăng Già , bố thí tại các tu viện và thảy nước cúng, cùng giữ Giới với nhiều người khác và thực hành thiền định… Nếu khi gần chết, chúng ta thấy lại những cách thức mà trước đó chúng ta đã từng thực hiện những hành động thiện lành nói trên thì hiện tượng này được gọi là Những dấu hiệu thiện lành về nghiệp thức.

 Khi gần chết, chúng ta sẽ thấy những dấu hiệu về cảnh giới thiện lành mà mình sẽ tái sanh vào như thế nào ?

Ngoại trừ các vị A-La-Hán, tất cả muôn loài có ý thức đã thực hiện đầy đủ các hành động thiện lành thì trước khi chết, họ sẽ được thấy những cảnh tượng tốt đẹp và ưng ý mà họ sẽ tái sanh vào như : Các tòa nhà lớn, công viên, hồ nước, cung điện…Nếu khi gần chết, chúng ta thấy những cảnh tượng tốt đẹp và ưng ý nói trên thì hiện tượng này được gọi là các dấu hiệu báo trước những cảnh giới tái sanh thiện lành.

Khi gần chết, chúng ta sẽ thấy những dấu hiệu bất thiện về Nghiệp như thế nào ?

 Những người đã từng thực hiện những hành động bất thiện như sát sanh, trộm cắp… trước khi chết, sẽ thấy lại những hành động bất thiện đó. Vì vậy, khi những người gần chết thấy lại các hành động bất thiện mà họ đã từng thực hiện trước đó thì hiện tượng này được gọi là Những dấu hiệu bất thiện về Nghiệp.

Khi gần chết, chúng ta sẽ thấy những dấu hiệu bất thiện về thức như thế nào ?Những người đã từng thực hiện những hành động bất thiện như sát sanh, trộm cắp… trước khi chết, sẽ thấy lại những cách thức mà họ đã từng thực hiện các hành động bất thiện như : Họ đã sát sanh như thế nào, đã trộm cắp như thế nào... Vì vậy, khi những người gần chết thấy lại cách thức mà họ đã thực hiện những hành động bất thiện trước đó thì hiện tượng này được gọi là Những dấu hiệu bất thiện về nghiệp thức.

Khi gần chết, chúng ta sẽ thấy những dấu hiệu về cảnh giới bất thiện mà mình sẽ tái sanh vào như thế nào ?

 Những người đã từng thực hiện các hành động bất thiện như sát sanh, trộm cắp…khi gần chết, sẽ nhìn thấy những cảnh giới bất như ý và khủng khiếp mà họ sẽ tái sanh vào. Những người bị tái sanh xuống địa ngục, khi gần chết sẽ nhìn thấy những cái chảo luyện kim khổng lồ và nóng bỏng, những người cai quản ở địa ngục, lửa địa ngục, những con chó khổng lồ màu đen xấu xí, những tội đồ ở địa ngục… Những người bị tái sanh vào cảnh giới của ma quỉ, khi gần chết sẽ nhìn thấy những nơi chốn mà ma quỉ đang sinh sống. Những người bị tái sanh vào cảnh giới của súc sinh, khi gần chết sẽ nhìn thấy nơi ở của các loài súc sinh. Khi tái sanh, họ sẽ làm con cái của các loài đó. Vì vậy, khi những người gần chết nhìn thấy các nơi chốn khủng khiếp thì hiện tượng này được gọi là Những dấu hiệu về cảnh giới bất thiện sẽ tái sanh vào. Một thời, Pháp sư Trưởng Lão Sona đang cư trú tại tu viện Asela nằm dưới chân ngọn đồi Sona. Thân phụ của Ngài sinh sống bằng nghề thợ săn với những con chó săn của ông. Khi về già, Ngài Sona đã truyền giới cho thân phụ của Ngài và ông đã trở thành một vị Tỳ Kheo. Một ngày kia, vị Tỳ-kheo nọ bị bệnh nặng và đang nằm trên giường bệnh để chờ chết, ông bèn nói với con trai mình là Pháp sư Sona rằng : “ Có nhiều con chó màu đen to lớn đến cắn ta, làm ơn đuổi chúng đi”. Ông vừa nói vừa la hét với một tâm lý vô cùng sợ hãi. Lúc đó, Tôn giả Sona biết rằng thân phụ của Ngài đang nhìn thấy những dấu hiệu của địa ngục – cảnh giới mà thân phụ của Ngài sẽ bị tái sanh vào. Vì vậy, Tôn giả đã nhờ các tu sĩ trẻ tuổi đi hái hoa và đem chúng dâng cúng lên điện thờ Phật trong chùa. Sau đó, Ngài đã thuyết pháp cho họ nghe. Tiếp đến, Tôn giả nói với các tu sĩ trẻ tuổi hãy khiêng thân phụ của Ngài vào đặt tại bục thờ của chánh điện thờ Phật mà họ đang dâng cúng hoa. Tôn giả Sona đã nói với thân phụ của Ngài rằng : “ Hỡi vị Trưởng Lão ! Hãy mở mắt ra để nhìn vào những bông hoa được cúng dường này và đảnh lễ Đức Phật để thể hiện sự tôn kính ”. Khi vị Trưởng Lão đang đảnh lễ Đức Phật thì  tự nhiên ông đi vào trạng thái vô thức và nhìn thấy những dấu hiệu tốt lành. Sau khi đã nhìn thấy những dấu hiệu tốt lành, vị Trưởng Lão liền nói : “ Những tu sĩ trẻ tuổi và Sona hãy làm cách nào đó để mời mẹ của Sona  đến đây”. Vừa nói xong thì ông tắt thở và chết. Trước khi chết, vị Trưởng Lão đã nhìn thấy những dấu hiệu tốt về cõi trời của Chư Thiên. Vì vậy, ông đã được tái sanh vào cõi trời.

 Thế nào gọi là Sassatadiţţhi ?

Người ta thường có niềm tin khác nhau về cái chết phát xuất từ những truyền thống của chính tổ tiên họ. Do đó. Họ sẽ có những quan niệm khác nhau vềkhoảnh khắc xảy ra cái chết của một người ( tức Cận tử nghiệp- Āsanna Kamma). Một số người có quan niệm sai lầm về sự chuyển đổi kiếp sống đã nghĩ rằng, khi một người nào đó chết đi thì người này sẽ bỏ thân xác của anh ta lại phía sau. Đồng thời hình thức tinh thần của anh ta sẽ đầu thai vào một kiếp sống mới. Họ quan niệm rằng, người đã chết và người mới được tái sanh chỉ là một, chỉ khác nhau ở chỗ anh ta đã mặc lấy một thân xác mới và vứt bỏ thân xác trong kiếp sống ở quá khứ đã cũ nát. Đây chính là một quan niệm sai lầm về cái chết mà Đức Phật gọi là Sassatadiţţhi ( thuyết Thường kiến). Người tin theo thuyết Thường kiến được gọi là Sassatadiţţhivādī. Nếu chấp nhận quan niệm về cái chết của những người này, bạn đã là một Sassatadiţţhivādī.  

Thế nào gọi là Ucchedadiţţhi ?

Nếu một cá nhân nào đó nghĩ rằng, khi một người chết đi thì thể xác và hình thức tinh thần của anh ta sẽ đi đến chỗ chấm dứt. Người vừa chết sẽ đến sống tại một cõi sống khác như một con người hoàn toàn mới, không còn dính dáng đến người đã chết. Cũng có một số người  có quan niệm rằng chết là hết và không còn gì nữa cả. Tất cả những quan niệm sai lầm về cái chết theo kiểu này được Đức Phật gọi chung là Ucchedadiţţhi ( thuyết Đoạn kiến).  

 Chúng ta làm cách nào để vượt thoát khỏi Sassatadiţţhi và Ucchedadiţţhi ?

Tất cả muôn loài có ý thức sau khi chết đều phải tái sanh vào một kiếp sống kế tiếp đúng theo Giáo Lý Duyên Khởi hay niềm tin vào nguyên nhân và kết quả. Bởi vì Nghiệp đã được hình thành trong kiếp sống hiện tại sẽ tái hiện trong những kiếp sống ở tương lai. Ví dụ, khi đang ở trong một hang động hay đang ở trong rừng, nếu bạn hô lớn lên “ Hello !”, thì tiếng “ Hello” đó sẽ dội ngược trở lại. Tuy nhiên, tiếng dội này không phải là tiến hô lúc ban đầu, đồng thời tiếng dội này cũng không phải là hoàn toàn khác với tiếng hô lúc ban đầu.Tiếng hô lúc ban đầu có tiếng dội của nó. Tương tự như vậy, ảnh hưởng của Nghiệp đã được tạo ra trong kiếp sống này là nguyên nhân phát sinh một kiếp sống khác. Ảnh hưởng của Nghiệp sẽ tái hiện và làm nên một kiếp sống mới. Tiếng hô lúc ban đầunghiệp được tạo ra trong kiếp sống hiện tại và tiếng dội của nó chính là sự tái hiện của Nghiệp trong kiếp sống ở tương lai. Một ví dụ khác, khi một người đang đứng trước một tấm gương lớn và bóng của anh ta in trên tấm gương. Cái bóng trong gương không phải là anh ta. Tuy nhiên, cái bóng này cũng không thể giống bất cứ một ai khác. Người đang đứng trước gương có bóng của anh ta được phản chiếu trên gương. Tương tự như vậy, Nghiệp được tạo ra trong cuộc sống này sẽ tái hiện trong kiếp sống ở tương lai. Người đang đứng trước gương chính là Nghiệp được tạo ra trong kiếp sống hiện tại. Cái bóng trong gương chính là Nghiệp tái hiện trong kiếp sống kế tiếp của anh ta. Một ví dụ khác nữa, nếu một cây nến được thắp lên và người ta lấy lửa từ cây nến đầu tiên này để thắp sáng những cây nến khác. Như vậy, ánh sáng của ngọn nến thứ hai không phải là ánh sáng của ngọn nến đầu tiên. Tuy nhiên, ánh sáng của ngọn nến thứ hai cũng không thể là một loại ánh sáng hoàn toàn khác được, bởi vì nó vừa được lấy từ ánh sáng của ngọn nến đầu tiên. Như vậy, ngọn nến đầu tiên cũng cho ra nhiều loại ánh sáng khác phát xuất từ nó. Tương tự như vậy, Nghiệp được tạo ra trong kiếp sống hiện tại sẽ tái hiện trong những kiếp sống ở tương lai, chứ không phải hoàn toàn mất đi. Ngọn nến đầu tiên được ví như là Nghiệp được tạo ra trong kiếp sống hiện tại và ngọn nến thứ hai được ví như sự tái hiện của Nghiệp trong kiếp sống kế tiếp.

Tóm tắtTiếng dội, sự phản chiếu trên gương và ánh sáng của ngọn nến đều là những khái niệm về sự tái hiện của Nghiệp.

 Do đó, Nghiệp được tạo ra từ một kiếp sống trướcnguyên nhân phát sinh một kiếp sống kế tiếp. Đây là một quan niệm đúng đắn về sự chuyển đổi kiếp sống ( Samādiţţhi –Chánh kiến). Vì vậy, SassatadiţţhiUcchedadiţţhi đã bị loại bỏ.

 

          Những giấc mơ và nguyên nhân của chúng

 

Ngoại trừ những vị A-La-Hán, mọi người đều có những giấc mơ. Thỉnh thoảng các giấc mơ của chúng ta là những điều tốt lành. Tuy nhiên, thỉnh thoảng chúng cũng là những điều xấu. Khi có những giấc mơ đẹp, bạn sẽ cảm thấy hài lòng và hạnh phúc vì nghĩ rằng sẽ có những lợi ích thiện lành xảy đến với chính mình. Tuy nhiên, khi có những giấc mơ xấu, bạn lại cảm thấy không hài lòng và bất hạnh vì nghĩ rằng những điều không may mắn sẽ xảy đến với mình. Người ta thường có thói quen nhờ những người lớn tuổi giàu kiến thức giải thích cho họ hiểu về những giấc mơ này. Ngày xưa, thân mẫu của Bồ-Tát, Bồ-Tát, Đức vua Kiều-Tất-La… đều có những giấc mơ.

Những vị Bà-La-Môn ( Brahmin) thông thái là những người chuyên giải thích về những tác động xấu hoặc tốt khác nhau của những giấc mơ. Ngày nay, không có mấy người đủ thông thái để nói cho chúng ta biết một cách chính xác về tác động của những giấc mơ. Chỉ bằng cách đọc sách, bạn mới có thể biết được tác động xấu hoặc tốt của chúng. Những vị thầy chú giải Kinh điển Pāli ( Pàli Athakatha teachers ) đã giải thích trong Kinh Đại chiêm bao ( Mahā Supina Sutta) thuộc Tăng Chi Bộ Kinh ( Anguttara Suttas) rằng, những giấc mơ được hình thành bởi 4 nguyên nhân sau đây :

1. Dhātukkhobhato – Nguyên nhân thuộc về các nhân tố trong kiếp sống ở hiện tại.

2. Anubūtapubbato -  Nguyên nhân thuộc về kiếp sống ở quá khứ.

3. Devatopasamhārato – Nguyên nhân do Chư Thiên tạo ra.

4. Pubbanimittato – Nguyên nhân báo trước các sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai.

 Giấc mơ có nguyên nhân thuộc về các nhân tố trong kiếp sống hiện tại

Là loại giấc mơ được hình thành do có sự khủng hoảng hay rối loạn sinh học trong cơ thể của chúng ta. Người ta có thể có những giấc mơ thật xấu và kinh hoàng như :  Bị rơi từ trên cao xuống, bay trong không trung, bị các loài thú như voi dữ, ngựa, sư tử, hổ và nhiều loại động vật hoang dã khác… rượt đuổi. Giấc mơ thuộc loại này chính là sự rối loạn sinh học trong cơ thể của chúng ta. Những sự kiện xảy ra trong loại giấc mơ này sẽ không xảy ra ở tương lai. Vì vậy, chúng không thể trở thành sự thật.

 Giấc mơ có nguyên nhân thuộc về kiếp sống ở quá khứ

Là loại giấc mơ mà trong đó người mơ thấy những điều tốt lành hoặc những điều kinh hoàng khiến cho anh ta cảm thấy khó chịu. Người mơ có thể nghe thấy những âm thanh du dương êm tai hay những âm thanh rùng rợn. Người mơ cũng có thể mơ thấy mình được nếm các loại vật thực và thức uống nhạt nhẽo… Những giấc mơ theo kiểu này chỉ là trạng thái hồi tưởng quá khứ. Chúng sẽ không tái hiện trong tương lai. Vì vậy, chúng không thể trở thành sự thật được.

 Giấc mơ có nguyên nhân do Chư Thiên tạo ra

Khi được Chư Thiên yêu mến, họ sẽ tạo ra những giấc mơ đẹp như là phần thưởng dành cho chúng ta. Nếu giận hờn chúng ta, họ sẽ cố gắng làm cho chúng ta mơ thấy những cảnh tượng bất như ý. Vì vậy, giấc mơ thuộc loại này là kết quả tốt hoặc xấu do Chư Thiên mang lại cho chúng ta. Những giấc mơ thuộc loại này tùy thuộc vào sự yêu hay ghét của Chư Thiên đối với chúng ta. Vì vậy, có đôi khi chúng trở thành sự thật có khi lại không. Nếu bạn mơ thấy một giấc mơ đẹp do Chư Thiên mang lại bởi vì họ yêu mến bạn thì giấc mơ này sẽ trở thành sự thật. Nếu mơ thấy một giấc mơ xấu do Chư Thiên gây ra bởi vì họ ghét bạn thì giấc mơ này sẽ không trở thành sự thật.

Có nhiều người không muốn mơ thấy những giấc mơ xấu và hãi hùng nên trước khi đi ngủ, họ thường rải tâm từ ( Mettā) đến với những vị thần bảo vệ của họ, hoặc các vị thần trông coi nhà cửa, vườn tược, phố xá, rừng rú đang sống trên 10 phương thế giới.

 Những vị thần đã nổi giận và mang lại tác động xấu cho chúng ta như thế nào ?

 Ngày xưa tại Tích Lan ( Lanka - Ceylon or Sri Lanka), một vị Trưởng Lão đang trú tại tu viện Nāga ở Rohana – nơi có một cái cây mà gỗ của nó cứng như sắc do một người Ấn Độ làm nghề buôn bán lông thú đã trồng trước đó. Vị Trưởng Lão này cư trú trong tu viện Nāga nhưng chưa xin phép Tăng Già quản lý tu viện. Vị thần đang sống trên cái cây nói trên đã nổi giận và mang lại cho vị Trưởng Lão một giấc mơ đầu tiên để ông thấy được sự tự tung tự tác của mình ( tự ý vào ở trong tu viện mà không xin phép ai cả). Lần thứ hai, vị thần cây lại tạo ra cho vị Trưởng Lão một giấc mơ rất phiền muộn.

Trong giấc mơ này vị thần cây đã nói với vị Trưởng Lão rằng : “ Trong 7 ngày nữa kể từ bây giờ, vị thí chủ là nhà vua đang tài trợ cho ông sẽ chết”. Lúc đó, vị Trưởng Lão đã nghĩ rằng cần phải thông báo chuyện này cho các quan đại thần của nhà vua biết. Sau khi nghe chuyện, mọi người đều khóc than và vô cùng lo lắng cho nhà vua. Khi nhà vua hỏi các quan đại thần và mọi người tại sao họ lại khóc than và lo lắng như thế. Tất cả mọi người đều trả lời rằng, theo lời của vị Trưởng Lão nọ thì nội trong 7 ngày nữa nhà vua sẽ băng hà và đó là lý do đã khiến cho họ khóc. Sau đó, nhà vua đã ngồi đếm từng ngày, khi thời hạn 7 ngày đã qua nhưng Ngài vẫn chưa chết. Vì vậy, Ngài đã nói : “ Vị Trưởng Lão đã dự đoán sai và làm cho mọi người khiếp đảm”. Tiếp đến, nhà vua đã ra lệnh rằng, vị Trưởng Lão nọ phải chịu hình phạt bị chặt chân tay. Vì vậy, giấc mơ mà vị thần cây đã gây ra cho vị Trưởng Lão là sai, bởi vì nó đã không trở thành sự thật. Điều này đã làm cho vị Trưởng Lão phải buồn khổ.

Giấc mơ có nguyên nhân báo trước các sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai

Là loại giấc mơ được hình thành từ năng lực của những hành động thiện lành và xứng đáng. Trong loại giấc mơ này, người mơ thấy trước những sự kiện tốt lành sẽ xảy đến với mình. Đồng thời, loại giấc mơ này cũng được hình thành từ tác động của những hành động bất thiện, như là dấu hiệu báo trước những điều bất lợi sẽ xảy đến cho người mơ. Vì vậy, loại giấc mơ này có nguyên nhân là những sự kiện tốt hoặc xấu sẽ xảy ra trong tương lai. Nó chắc chắn sẽ mang lại những kết quả tốt cho các hành động thiện lành và những tác động xấu cho các hành động bất thiện. Những dấu hiệu báo trước ( Pubba -  forerunner signs) trong loại giấc mơ này sẽ trở thành sự thật trong tương lai. Trong ngày trăng tròn tháng Vesākha ( tên của một tháng trong lịch Ấn Độ cổ đại, khoảng tháng 4 hay tháng 5 dương lịch), năm 103 triều đại Mahà. Vào khoảng giữa của nữa đêm và bình minh ( Canh giữa), Bồ-Tát Cồ Đàm mơ thấy Ngài gối đầu nằm ngủ trên ngọn núi Tu-Di vĩ đại. Lúc đó, Ngài đặt tay trái mình lên Thái Bình dương và tay phải lên Đại Tây dương, còn hai chân Ngài thì đặt lên Ấn Độ dương. Bởi vì đã có giấc mơ đó, nên Ngài đã đạt tới Trí Tuệ Toàn Giác ( Trí tuệ hiểu biết tất cả -  Sabbannuta Ñāna – Understanding to everything ‘s intelligence). Trí tuệ Toàn giác này đã khiến cho Bồ-Tát giác ngộ thành Phật. Giấc mơ vừa nói trên là một dấu hiệu báo trước và cuối cùng đã trở thành sự thật. Trong 4 loại giấc mơ vừa nói trên, chúng ta có biết được loại giấc mơ nào sẽ trở thành sự thật hay không ? Đa số những giấc mơ giữa ban ngày, vào đầu hôm, nữa đêm, khoảng 3 giờ sáng và vào buổi sáng đều không đúng với sự thật. Phần lớn các giấc mơ vào lúc bình minh là đúng với sự thật. Chỉ những người trần tục, các Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm và A-Na-Hàm là có 4 loại giấc mơ nói trên mà thôi. Các vị A-La-Hán không còn mơ thấy những giấc mơ này nữa. Những người hiếm khi thực hành thiền hoặc chưa bao giờ thực hành thiền thường có 3 loại giấc mơ đầu tiên vừa được nêu ở trên. Đó là lý do tại sao, nếu các người con trai và con gái của những bậc cha mẹ thiện lành không muốn có những giấc mơ xấu thì họ phải tập luyện sự chú ý đến hơi thở vào ra. Đây chính là phương pháp thực hành Quán niệm hơi thở ( Ānāpānasati – Mindfulness with breathing). Khi lên giường để đi ngủ, bạn cũng cần phải tập luyện chú ý đến trạng thái phồngxẹp lên xuống của bụng.

 

                                

 

 

                                   Giáo Pháp tại Myeik

 

 Kể từ năm 1983, hàng năm, Ngài Trưởng Lão Saddhammaramsī lại đến Myeik ( một quận tại thủ đô Rangoon của Miến Điện, nơi có chùa Vàng Shwedagon) một hoặc hai lần theo lời mời của tổ chức truyền giáo Lekyun Hsimee Zedihội đoàn Phật tử Gopada để thuyết Pháp và giảng dạy thiền. Năm nay cũng vậy ( 1351 theo lịch của Miến Điện), vào ngày trăng tròn của tháng Tazaungmon ( chủ nhật, 26/11/1989), vào lúc 2 giờ chiều, Ngài đã đến thăm, thuyết Pháp và giảng dạy thiền tại một tu viện được U Shwe Ei ( một thành viên của hiệp hội Phật Giáo Nguyên Thủy Miến Điện ( ATM – Association Theravāda Myanmar) xây dựng. U Shwe Ei chính là ông nội của nữ thí chủ Daw Thee May.Tu viện này nằm cạnh khuôn viên của chùa Lekyun Hsimee. Vào sáng thứ hai ngày 27 tháng 11 năm 1989, nữ thí chủ Daw Thee May đã đến tu viện – nơi Ngài Saddhammaransì đang trú ngụ để mời Ngài dạo quanh rừng thiền Bohtaung ( Bohtaung Tawya), nơi có một tu viện do tổ tiên của bà xây dựng. Vào lúc 7 giờ sáng ngày 28 tháng 11 năm 1989, Hiệp hội những người phụng vụ ( veyyavacca – Server) mộ Đạo tại Botaung Tawya đã nhiệt liệt chúc mừng Ngài Trưởng Lão ghé thăm tu viện trong rừng. Khi Ngài Saddhammaramsī vừa đến cửa tu viện thì Ngài Nàyaka U Sudasanàbhivamsa- Tăng trưởng của tu viện, Pháp sư U Kārunna và Pháp sư U Kusala đã ra chào đón Ngài Trưởng Lão Saddhammaramsì và đoàn tùy tùng. Sau đó, họ đi dạo quanh tu viện, thăm các hồ chứa nước mưa… để thưởng ngoạn khí trời mát mẻ của mùa xuân.  Rừng thiền Bohtaung

( Bohtaung Tawya) cách quận Myeik 5 dặm Anh về phía đông ( một dặm Anh bằng 1609 mét - ND). Nó được xây dựng trên sườn của một ngọn đồi nhỏ có tên là Bohtaung. Con đường dẫn đến tu viện trong rừng đã được sửa chữa lại, rất dễ đi và thú vị cho những chuyến hành hương. Tu viện này đã được U Shwe Ei xây dựng cách đây khoảng 100 năm. Nó là một nơi chốn tuyệt vời dành cho các Tỳ Kheo cao quí thực hiện Pháp Hành ( Patipatti Sāsanā) và giảng dạy Pháp Học ( Pariyatti Sāsanā). Nó cũng rất thích hợp cho những ai thích sống tại một nơi yên tĩnh cô quạnh hoặc thích thuyết Pháp …Trong thời gian Ngài Trưởng Lão Saddhammaramsī và những người mộ Đạo đến thăm rừng thiền này, ở đây hiện có 36 vị Tỳ Kheo đang cư trú và nghiên cứu Kinh Điển. Ngày xưa, ở đây không có nhiều Tỳ Kheo như bây giờ. Daw Thee May và nhiều người mộ Đạo khác dường như rất hạnh phúc và giác ngộ. Tu viện nằm trong rừng thiền Bohtaung này có 5 phẩm chất của một tu viện trong rừng :

1. Không quá xa cũng không quá gần thành phố.

2. Ít người ở nên rất bình yên và tĩnh lặng.

3. Hầu như không có ruồi muỗi, rắn độc và nhiều sinh vật nguy hiểm khác.

4. Nhu cầu về tứ vật dụng ( Y phục, vật thực, chỗ ở và thuốc men chữa bệnh) đầy đủ.

5. Có những vị thầy giỏi có thể thuyết Pháp hay và giảng dạy thiền.

 Vì vậy, tu viện này đã đạt được 5 tiêu chuẩn của một tu viện trong rừng. Ngày nay, tu viện trong rừng thiền Bohtaung đang thịnh vượng với số lượng Tỳ kheo là 36 vị. Đây là một dấu hiệu đáng khích lệ cho sự phát triển Giáo Pháp tại quận Myeik. Với tài năng của Ngài U Sudassanābhivamsa - Tăng trưởng tu viện Bohtaung, địa vị của Tăng già Myeik đã có nhiều thăng tiến. Ngài Tăng trưởng Nàyaka U Sudassanābhivamsa năm nay ( 1989) 39 tuổi và đã có 19 tuổi Hạ, năng lực thuyết Pháp về Tam Tạng Kinh Điển của Ngài là thuộc lòng một cách chi tiết 5 bộ Kinh A-Hàm. Mục đích của Ngài U Sudassanābhivamsa là luôn luôn động viên khuyến khích Tăng Già tại Myeik phát triển khả năng thuyết Pháp. Mục đích của cá nhân Ngài là cố gắng tu học trong một thời gian ngắn nhất để có được khả năng như Ngài Trưởng Lão Tam Tạng Saddhammaramsī. Sau đó, Ngài sẽ ra sức giảng dạy về Tam Tạng Kinh Điển cho các Tỳ Kheo và những tu sĩ tân học tại Myeik, để những Tỳ Kheo và những tu sĩ tân học này trở thành những Pháp sư

( Dhamma lectures or Dhamma discoursers) . Từ đó, Tăng Già chuyên về thuyết Pháp tại Myeik sẽ tỏa đi khắp nơi để phát triển một cách nhanh chóng và tỏa sáng. Vì vậy, Ngài U Sudassanābhivamsa đã thỉnh vấn những lời khuyên từ Ngài Saddhammaramsī để động viên Tăng Già và những tu sĩ tân học đang cư trú tại tu viện của Daw Thee May.Vì vậy lý do đó,Ngài Saddhammaramsī đã có những huấn từ thích hợp ( Ovāda) :

Những Tỳ Kheo và những tu sĩ tân học đang nghiên cứu về thuyết Pháp nếu muốn có được khả năng học tập Tam Tạng Kinh Điển một cách nhanh chóng ( trong một thời gian ngắn, có thể là một vài năm), họ cần phải cân nhắc một cách kỹ lưỡng về 4 điều kiện thích hợp sau đây :

1. Avasa sappāyaCó một tu viện thích hợp ( Having a suitable monastery)

2. Bojjhana sappāyaCó được những loại vật thực thích hợp ( Getting suitable alms-food).

3. Puggala sappāyaCó thể hòa hợp với những người cùng cư trú với mình ( Having congenial peoples residing together).

4. Dhammasavana sappāyaCó cơ hội để lắng nghe những lời khuyên thích hợp ( Having an opportunity to listen to appropriate admonition).

 Nếu 4 điều kiện thích hợp nêu trên được đáp ứng một cách đầy đủ, quí vị có thể học tập, nghiên cứu Kinh Điển và nắm bắt được tất cả những lời dạy của Đức Phật trong một thời gian ngắn như đã mong muốn. Hiện nay, tu viện nằm trong rừng thiền Bohtaung được biết đến như là một nơi đã hội đủ 4 điều kiện này :

1. Tăng Già đang giảng dạy và nghiên cứu Kinh Điển tại tu viện trong rừng thiền Bohtaung có thể sống một cách bình yên dưới những bóng cây mát mẻ, có được nguồn nước tự nhiên trong sạch để xử dụng. Tu viện đã được xây dựng từ rất lâu bởi U Shwe Ei ( Một thành viên của hiệp hội Phật giáo Nguyên Thủy Miến Điện), con gái Daw Me của ông, U Po Nyunt và thân quyến. Vì vậy, đây là một tu viện thích hợp ( Avasa sappāya).

2. Đối với Tăng Già đang giảng dạy và nghiên cứu Kinh Điển tại tu viện nằm trong rừng thiền Bohtaung, những người mộ Đạo ở Myeik thường xuyên cúng dường tiền để cung cấp đầy đủ các bữa ăn hàng ngày cho họ. Hàng tháng, những người mộ Đạo cúng dường cho tu viện 16 bao gạo và khoảng 8000 Kyats ( Đơn vị tiền tệ của Miến Điện).Vì vậy, họ đã được cung cấp đầy đủ các loại vật thực thích hợp ( Bojjhana sappāya).

3. Một điều quan trọng là, Tăng Già đang cư trú tại tu viện trong rừng thiền Bohtaung để giảng dạy và nghiên cứu Kinh Điển phải có khả năng hòa hợp với những người khác. Chỉ khi đã có sự hợp tác chặt chẻ của Tăng Già cùng cư trú trong tu viện thì Giáo Pháp mới được bảo vệ và hưng thịnh, như lời giáo huấn của Đức Phật sau đây :

a. Danā – Tăng Già và những tu sĩ tân học đang cùng nhau cư trú phải có lòng khoan dung độ lượng, bố thí và cúng dường mọi thứ cho những người khác đang chung sống với mình.

b. Peyyavaca – Lời ăn tiếng nói đối với những người khác phải thân ái và lịch thiệp.

c. Atthcariya – Phải làm việc vì lợi ích của những người khác.

d. Sammanattata – Họ phải nâng đỡ và bảo bọc lẫn nhau, hạnh phúc cùng hưởng, nổi buồn cùng chia. Nếu họ có thể sống đúng như 4 điều hộ Pháp mà Đức Phật đã chỉ dạy vừa nêu trên thì họ sẽ hòa hợp với nhau ( Puggala sappāya), thân thiện và đoàn kết.

4. Dhammasavana Sappāya – Tỳ Kheo và những tu sĩ tân học ( Sāmanera – The probational monks) đang cư trú tại tu viện trong rừng thiền Bohtaung đã có cơ hội để lắng nghe những bài Pháp thích hợp và lắng nghe những lời khuyên của Ngài U Sudassanābhivamsa hằng ngày. Vào những ngày Sabbath như mồng 8 âm lịch , ngày trăng khuyết đầu tiên , ngày trăng tròn hay trăng non hàng tháng… sẽ có những buổi thuyết Pháp đặc biệt. Vì vậy, họ đã có được Dhammasavana Sappāya . Do đó, khi Tăng Già và những tu sĩ tân học đã có được 4 điều hộ Pháp ( Four-fold Sappāya) mà Đức Phật đã chỉ dạy thì chắc chắn họ sẽ học được Tam Tạng Kinh Điển trong vòng một thời gian ngắn. Điều đó tùy thuộc vào sự nổ lực cố gắng của chính họ. Cầu chúc cho tất cả quí vị có thêm nhiều nghị lực trong học tập và làm việc để phục vụ cho Giáo Pháp và Tăng Đoàn. Lành thay !

Sau khi những huấn từ thích hợp của Ngài Saddhammaramsī đã chấm dứt, những người mộ Đạo tại rừng thiền Bohtaung và Myeik đã dâng cúng bữa ăn trưa cho các bậc Trưởng Thượng và Tăng Già. Bữa ăn trưa gồm có cá hồi nấu với trái bầu và nhiều loại thức ăn ngon khác của Miến Điện. Khi bữa ăn trưa chấm dứt, Ngài U Sudassanābhivamsa, Pháp sư U Karunna và Pháp sư U Kusala đã có lời chúc tạm biệt Ngài Saddhammaramsī. Sau đó, Ngài Trưởng Lão đã quay trở về Lekyun Hsimee Zedi. Trên đường trở về Lekyun Hsimee Zedi, Ngài Saddhamaramsī đã suy nghĩ về công sức đóng góp to lớn của Ngài U Sudassanābhivamsa để tu viện trong rừng thiền Bohtaung có được những thành tựu vượt bậc trong quá trình phát triển Giáo Pháp tại quận Myeik. Ngài Trưởng Lão đã nhiều lần hồi tưởng về những thành tựu vẻ vang của tu viện trong rừng thiền Bohtaung. Mỗi khi hồi tưởng như thế, Ngài lại thấy trong lòng mình trào dâng một niềm vui sướng khôn tả, bởi vì Giáo Pháp của Đức Phật đã có cơ hội để phát triển. Ngài Trưởng Lão Saddhammaramsī đã hy vọng và tin tưởng rằng, tu viện trong rừng thiền Bohtaung, thuộc quận Myeik sẽ là một nơi chốn để cho Giáo Pháp của Đức Phật có thể phát triển một cách mạnh mẽ và thịnh vượng. Chính vì đã có những mong ước như vậy, cho nên Ngài đã đến thăm tu viện của nữ thí chủ Daw Thee May, nằm cạnh khuôn viên của chùa Laykyunhsimee- nơi có Thánh điện Zedi, một kỳ quan của thế giới.

 

               Bốn nhân tố để lãnh hội Giáo Pháp

 

Một vài người nghĩ rằng Giáo Pháp của Đức Phật đã trải qua hơn 2500 năm. Ngày nay, người ta không còn thấy những bậc cao thượng như Tu-Đà- Hườn, Tư-Đà-Hàm…và Giáo Pháp Cao Thượng là không thể lãnh hội được. Mặc dù vậy, vẫn có rất nhiều người nghĩ rằng, mặc dù Giáo Pháp của Đức Phật đã trải qua hơn 2500 năm. Tuy nhiên ngày nay, vẫn có thể có những bậc cao thượng như Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm…và Giáo pháp cao thượng là có thể lãnh hội được. Ngoài 2 lối suy nghĩ  trên, chúng ta biết rằng vẫn còn có một lối suy nghĩ đúng đắn phát xuất từ những lời thuyết Pháp của Đức Phật. Để có thể  biết được rằng Giáo Pháp Cao Thượng của Ngài là có thể lãnh hội được hay không, Đức Giáo chủ đã thuyết một bài Pháp nói về 4 nhân tố khó đạt được sau đây :

1. Kiecho manussa patilabhoRất khó để được trở thành người

2. Kiccham maccāna jīvitamRất khó để sống còn

3. Kiccham saddhamma savanamRất khó để có cơ hội lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng

4. Kiccho buddhānam uppadoRất khó để gặp được Đấng Giác Ngộ và được sống trong khoảng thời gian mà Giáo Pháp của Ngài vẫn còn tồn tại trên thế gian.

Nếu 4 nhân tố khó đạt được này được khai thác một cách đúng đắn thì những bậc cao thượng như Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm… sẽ xuất hiện. Bạn cũng sẽ có khả năng lãnh hội được Giáo Pháp của Đức Phật.

1. Rất khó để được trở thành người

 Một thời Đức Giáo Chủ đang trú tại tịnh xá Kỳ-Viên. Một ngày nọ, Ngài bốc một ít đất, đặt lên móng tay cái của Ngài và hỏi các đệ tử của mình rằng :  “ Nếu các ông so sánh bụi trên móng tay của ta và bụi trên toàn trái đất này thì bụi ở chỗ nào nhiều hơn ?” Các Tỳ Kheo đã trả lời : “ Bụi trên móng tay của Đức Giáo Chủ ít hơn bụi trên toàn trái đất này nhiều lắm, ít hơn rất nhiều !”. Đức Giáo Chủ đã nói : “ Hỡi các Tỳ Kheo ! Những người đã chết và được tái sanh vào cõi người cao quí là cực kỳ ít như bụi trên móng tay của ta đây. Những người đã bị tái sanh vào địa ngục, bốn đường khổ ( ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục và A-tu –la) có thể so sánh với bụi trên toàn trái đất này. Kiếp người hiếm hoi mà các ông đã đạt được có thể so sánh với bụi trên móng tay của ta đây”. Như vậy, Đức Giáo Chủ đã nói rằng, được làm người là một điều cực kỳ khó khăn. Kiếp sống làm người mà bạn đã đạt được hiện bây giờ có thể so sánh với bụi trên móng tay của Đức Giáo Chủ. Bạn đang có một kiếp người cao quí và khó đạt được. Đây là nhân tố thứ nhất để lãnh hội được Giáo Pháp Cao Thượng.

2. Rất khó để sống còn

 Đức Giáo Chủ xử dụng trí tụê siêu việt của Ngài để lãnh hội được rằng, một con người đang sống trên cuộc đời này đã từng trải qua vô vàn khó khăn để sống còn. Rất nhiều người đã chết khi còn trong dạ mẹ. Một vài người khác chỉ sống được vài ngày hoặc vài tháng sau khi chào đời. Các bậc làm cha mẹ đều biết rằng, để nuôi nấng và gìn giữ cho một đứa trẻ sống còn là một điều cực kỳ khó khăn. Khi một người đã qua khỏi tuổi 70 và gần 80 tuổi thì ông ta sẽ nhận thức được rằng, để được sống còn là một điều khó khăn biết bao. Bản thân bạn cũng phải rất cẩn thận thì mới sống còn được. Bạn cần phải biết ăn những loại vật thực thích hợp, mặc những loại áo quần thích hợp để có thể chịu được cái nóng và lạnh của thời tiết. Bạn cũng phải xây dựng một ngôi nhà thích hợp để trú ngụ và xử dụng những loại thuốc chữa bệnh thích hợp… Đúng là thật khó để được sống còn. Đây chính là nhân tố thứ hai để lãnh hội được Giáo Pháp Cao Thượng.

3. Rất khó để có cơ hội lắng nghe Giáo Pháp

 Chúng ta rất khó có cơ hội để lắng nghe thuyết Pháp về bố thí, giữ Giới và thực hành thiền minh sát. Trước thời Bồ-Tát Cồ Đàm trở thành Phật, đã có nhiều cuộc thuyết Pháp và có thể chúng ta đã được nghe những bài Pháp này trong những kiếp sống ở quá khứ của mình. Tuy nhiên, bạn có thể nghe được phương pháp thực hành thiền minh sát chỉ khi bắt đầu có Giáo Pháp của Đức Phật Thích Ca. Đó là lý do tại sao, rất khó có cơ hội để lắng nghe thuyết Pháp về thiền minh sát. Thậm chí, nếu sau khi Đức Phật đạt tới giác ngộ tối thượng mà thiền minh sát vẫn chưa được hưng thịnh thì bạn chỉ được nghe thuyết Pháp về bố thí hay giữ Giới…  Chúng ta rất khó có cơ hội được lắng nghe thuyết Pháp về thiền minh sát để phương pháp thiền cao quí này có thể dẫn dắt chính mình đến với Chánh Đạo, Đạo Quả và Niết Bàn.  Khi đang sống tại Miến Điện và gặp được cơ duyên thuận lợi, bạn có thể được nghe Pháp cao quí này ( tức thiền minh sát). Cơ duyên thuận lợi đó có thể ví như thời tiết thuận lợi, địa phương thích hợp, các loại thức ăn thức hợp. Cơ duyên thuận lợi này sẽ làm cho sức khỏe của bạn trở nên tốt hơn. Chỉ khi đã có được một trạng thái sức khỏe tốt, bạn mới có thể gặt hái được sự định tâm khi thực hành thiền minh sát. Nhờ vào trạng thái định tâm, bạn mới đạt tới trí tuệ nội quán thông qua việc nhận thức được bản chất tự nhiên của thân tâm. Sự hiểu biết sâu sắc này sẽ làm cho bạn có khả năng lắng nghe Chánh Pháp. Vì vậy, có khả năng lắng nghe thuyết Pháp về thiền minh sát hay Chánh Pháp là nhân tố thứ ba để lãnh hội được Giáo Pháp Cao Thượng.

4. Rất khó để gặp được Đấng Giác Ngộ và được sống trong thời mà Giáo Pháp của Ngài đang còn tồn tại

 Những lời giáo huấn của Đức Phật hay Phật Pháp chỉ có thể hiện diện trong thời Đức Phật đã thành Đạo. Để đắc thành Đạo Quả Phật, Ngài phải trải qua 4 A-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp ( một đại kiếp là một chu kỳ sinh diệt của thế giới - ND) để truy tìm và tích lũy sự hoàn hảo. Ngài đã từng nhiều lần hy sinh cuộc đời mình, các bộ phận như tay chân và cả mạng sống của chính Ngài để truy tìm sự hoàn hảo. Chỉ đến khi hạnh nguyện Ba-La-Mật của Ngài đã tròn đủ thì lúc đó, Ngài mới giác ngộ và trở thành Phật. Chỉ đến khi đó, Phật Pháp mới xuất hiện. Không có một loại từ ngữ nào có thể cao siêu hơn loại từ ngữ mà Đức Phật đã xử dụng để diễn tả Giáo Pháp của Ngài. Đó là lý do tại sao, được gặp Đấng Giác Ngộ và được sống trong Giáo Pháp của Ngài là điều cực kỳ khó khăn. Vì vậy, được sống trong khoảng thời mà Giáo Pháp của Đức Phật vẫn còn tồn tại trên cuộc đời này là nhân tố thứ tư để lãnh hội được Giáo Pháp Cao Thượng. Khoảng thời gian giác ngộ của Đức Phật và Giáo Pháp của Ngài được các bậc thầy chú giải Kinh Điển gọi là Buddhuppāda Navamakhana.  Buddha nghĩa là Phật, Đức Thế Tôn… và Uppāda nghĩa là đã giác ngộ. Navama nghĩa là thứ 9Khana nghĩa là sát-na, một chập tư tuởng, một dịp,một cơ hội...

Vì vậy, Budduppādanavamakhana có  nghĩa làngười đã giác ngộ thành Phật trong lần thứ 9. Giáo Pháp Cao Thượng mà Đức Phật đã đạt được trong lần  thứ 9, khi Ngài xuất hiện trên trần gian chính là Phật Pháp. Đang khi Phật Pháp vẫn còn tồn tại, bạn có thể gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính mình. Trước khi Đức Phật có cơ hội thứ 9 để đạt tới giác ngộ tối thượng, Ngài đã phải trải qua 8 cơ hội khó khăn để gặt hái Giáo Pháp và giác ngộ thành Phật ( Akkhana) đúng như lời Ngài đã dạy.

1. Niraya UppapannaSanh vào địa ngục ( Being born in hell).

2. TiracchanayoniSanh làm thú vật ( Being born as an animal).

3. Pettivisaya UpapannaSanh làm ma quỉ ( Being born as a peta).

4. AsannadevanikayaSanh vào cõi sống có Sắc nhưng không có Danh

5. Paecantimajāta – Sanh vào nơi Giáo Pháp không được thịnh vượng

( Being born at a place where Sāsana does not flourish).

6. Michaditthika – Sanh ra với niềm tin lầm lạc ( Being born with wrong belief).

7. Elamùga – Sanh ra với dung mạo dị dạng và câm điếc ( Being born deformed and dumb).

8. BuddhanuppanaSanh ra trong thời không có Giáo Pháp ( Being born at a time when there is no Sàsana).

 Những người sanh ra trong khoảng thời gian mà Đức Phật đang trải qua 8 cơ hội không thuận tiện nói trên sẽ không thể gặt hái được Phật Pháp Cao Thượng. Trong khoảng thời gian tối tăm này, những cánh cửa địa ngục đối với chính họ chưa bị đóng lại. Vì vậy, tất cả những người sanh ra trong thời này đều phải trải qua 8 cơ hội không thuận tiện giống như Đức Phật, đến cơ hội thứ 9 thì mới có Đức Phật Giác Ngộ. Bây giờ, bạn đã được sanh ra làm người, đây là một điều khó khăn. Bạn vẫn còn sống được là một điều cực kỳ khó khăn. Bạn đang được lắng nghe Chánh Pháp là thiền minh sát, một cơ hội rất khó có được. Bạn đang sống trong thời của Giáo Pháp vĩ đại và đây cũng là một cơ hội khó đạt được. Do đó, bạn đã có đủ tất cả 4 nhân tố khó đạt được để có sống trong kiếp người này. Vì vậy, kể từ khi có được 4 nhân tố này, nếu thực hành thiền minh sát với một phương pháp đúng đắn, chắc chắn bạn sẽ có khả năng trở thành người cao quí như một Tu-Đà-Hườn đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính mình và lãnh hội được Giáo Pháp Cao Thượng. Từ đó, đối với bạn, những cánh cửa địa ngục khổ đau sẽ vĩnh viễn bị đóng lại.

               

                Những lời khuyên của bậc Trưởng Thượng

                   trung tâm thiền Saddhammaramsì

 

ỦyBan Chấp Hành Hiệp Hội Những Người Phụng Vụ ( The Executive Committee Association of Servers) cần phải có được 6 phẩm chất của một người lãnh đạo sáng suốt trong quá trình thực hiện bổn phận của họ. Nếu thực hiện bổn phận của mình đúng theo 6 phẩm chất của một người lãnh đạo sáng suốt, họ sẽ gặt hái được phước báu. Những thành viên cùng làm việc với họ cũng được gia tăng phước báu. Những hành giả đến trung tâm thiền để thực hành thiền minh sát cũng sẽ hạnh phúc và gặt hái được Giáo Pháp một cách mau chóng. Những người đến trung tâm thiền để bố thí sẽ được giác ngộ, niềm tin thêm vững chắc và gặt hái được nhiều lợi ích. Đó là lý do tại sao, Ủy Ban Chấp Hành Hiệp Hội Những Người Phụng Vụ cần phải thực hiện bổn phận của họ đúng theo 6 phẩm chất của một người lãnh đạo sáng suốt. Sáu phẩm chất đó là :

1. KhamaTính kiên nhẫn, chịu đựng ( Tolerance and Forbearance)

2. Jāgariyā –  Sự tỉnh táo, nhanh nhẹn ( Alertness)

3. UtthānaSiêng năng cần mẫn ( Diligence)

4. SamvibhāgaKhả năng phân tích ( Analytical)

5. DayāLòng trắc ẩn ( Compassionate)

6. IkkhanaCân nhắc mọi sự bằng trí tuệ ( To weigh everything by Wisdom)

 KhamaTính kiên nhẫn chịu đựng

Tính kiên nhẫn ở đây có nghĩa là : Các hội viên của Ban Chấp Hành Hiệp Hội Những Người Phụng Vụ  phải có khả năng chịu đựng để luôn luôn tỏ ra tôn trọng trung tâm ,dù ở trong bất cứ tình huống nào. Như Đức Phật đã nói : “ Kiên nhẫn là sự thực hành cao thượng nhất ”. Kiên nhẫn nghĩa là tâm trí của mình cứ thản nhiên khi trông thấy cung cách cư xử xấu về thân và khẩu của những người trẻ tuổi. Những khi gặp phải những tình huống như vậy, quí vị phải có khả năng chịu đựng và đối xử đúng đắn với những người đó. Mặc dù ngay lúc đó, quí vị có thể nói hay làm một điều gì đối với họ. Tuy nhiên, nếu thấy chưa thích hợp thì hãy chờ đến lúc khác, khi có cơ hội thuận tiện thì hãy nói hay làm điều mà mình muốn. Như vậy là nói và làm đúng thời. Ví dụ, nếu được phân công quản lý về công tác phụng vụ trong một khu vực nào đó, quí vị nhìn thấy thức ăn cúng dường ở đó không được tốt và điều này làm cho quí vị không được hài lòng. Tuy nhiên, quí vị hãy cứ cố gắng thản nhiên. Kiên nhẫn là sức mạnh vĩ đại nhất của những người đang làm việc để phát triển Phật Pháp. Để có được tính kiên nhẫn, quí vị phải có khả năng chịu đựng trong mọi khía cạnh. Người có tính kiên nhẫn sẽ gặt hái được 5 lợi ích sau :

1. Được nhiều người khác yêu mến.

2. Không có kẻ thù.

3. Ít khi gặp các vấn đề khó khăn trở ngại.

4. Khi sắp chết sẽ thấy những dấu hiệu tốt lành và được chết trong bình yên.

5. Được tái sanh vào cõi trời.

Tóm tắtKiên nhẫn sẽ được mọi người yêu mến, không có kẻ thù, ít khi gặp các vấn đề khó khăn trở ngại, được chết trong bình yên và được tái sanh vào cõi trời.

 Jàgariyà – Sự tỉnh táo, nhanh nhẹn

Tỉnh táo và nhanh nhẹn nghĩa là quí vị phải luôn luôn cảnh giác, khuyến khích động viên những người khác khi đang cùng với họ làm một việc gì đó cần thiết tại trung tâm. Đừng chểnh mãng và chủ quan trong khi làm việc, phải hăng hái nhiệt tình và làm việc vì sự phát triển của trung tâm. Để gặt hái được phước báu, quí vị phải luôn luôn làm việc trong sự tỉnh thức.

Utthāna – Siêng năng, chuyên cần

Siêng năng chuyên cần nghĩa là phải nhiệt tình và bền chí khi làm những công việc của trung tâm. Những việc gì mà quí vị có thể làm chúng thì hãy làm một cách nhiệt tình và bền chí. Những công việc nào mà quí vị không có khả năng thực hiện thì hãy khuyến khích động viên những người có năng lực và nhờ họ làm giúp cho.

Samvibhāga – Khả năng phân tích

Khả năng phân tích nghĩa là phải biết cách phân tích để hiểu rõ từng trường hợp mà quí vị sẽ gặp phải khi làm việc tại trung tâm, để có cách xử lý đúng đắn và chính xác. Những người thành thạo trong việc chuẩn bị vật thực cúng dường thì phải bố trí họ vào công việc chuẩn bị vật thực. Những người có kỹ năng xây dựng thì sắp xếp cho họ chịu trách nhiệm về công việc xây dựng. Những người có kỹ năng tính toán thì phải làm những công việc đánh giá, ước lượng và tính toán. Những người có kỹ năng mua sắm thì chuyên đi mua sắm… Vì vậy, bố trí và sắp đặt sao cho đúng người đúng việc là ý nghĩa của Samvibhāga.

  Dayā – Lòng trắc ẩn

Lòng trắc ẩn nghĩa là trong quá trình làm việc tại trung tâm, quí vị phải biết yêu thương và tử tế đối với những người khác, đặc biệt là đối với trẻ em, người già và người nghèo khổ. Khi những hành giả đến trung tâm để thực hành thiền, chúng ta phải yêu thương và giúp đỡ họ trong khả năng có thể.

 Ikkhana - Cân nhắc mọi sự bằng trí tuệ

 Cân nhắc mọi sự bằng trí tuệ nghĩa là phải luôn luôn chú tâm hay nhận thấy được tất cả mọi công việc mà mình đang làm là đều nhắm đến mục đích phát triển trung tâm. Nếu quí vị có khả năng dự đoán trước những sự việc nào đó có thể làm hỏng kế hoạch hay làm giảm giá trị của trung tâm thì phải lập tức có biện pháp ngăn chặn và sửa đổi kịp thời. Tận dụng hết khả năng, nổ lực để góp sức duy trì và phát triển sự nghiệp của trung tâm. Cầu chúc cho Ban Chấp Hành Hiệp Hội Những Người Phụng Vụ sẽ có khả năng làm việc đúng theo 6 phẩm chất của một nhà lãnh đạo sáng suốt, có thể nhận thức được Niết Bàn một cách dễ dàng và nhanh chóng.

 

                       Những sự thật về Nghiệp

 

Những người Phật tử có niềm tin nhiệt thành nhất đều nghĩ rằng hành động thiện lành ( Kusala kamma - wholesome deed ) có 2 loại : Những hành động thiện lành trong kiếp sống hiện tại và những hành động thiện lành trong những kiếp sống ở quá khứ. Thật ra, những hành động thiện lành trong kiếp sống hiện tại mang lại nhiều lợi ích hơn những hành động thiện lành trong những kiếp sống ở quá khứ. Những hành động thiện lành trong các kiếp sống ở quá khứ không thể nhìn thấy. Bạn cũng không thể biết được đến khi nào thì mình sẽ gặt hái được lợi ích từ năng lực tác động của những hành động này. Bạn không thể làm cho những hành động thiện lành này trở thành lợi ích khi mong muốn chúng trở thành như thế. Đó là lý do tại sao, bạn cần phải loại bỏ sự cậy trông vào lợi ích mà những hành động thiện lành trong các kiếp sống ở quá khứ sẽ mang lại cho mình. Niềm tin theo lối này sẽ khiến cho sự nổ lực của bạn trong kiếp sống hiện tại bị chùn lại. Niềm tin đó có thể khiến cho bạn đánh mất những cơ hội tốt đẹp.Vì vậy, trông đợi lợi ích từ những hành động thiện lành trong các kiếp sống ở quá khứ không mang lại kết quả gì, chỉ có thể làm cho bạn trở nên suy đồi. Bản thân mỗi người trong chúng ta đều biết rõ rằng, những hành động thiện lành hay thiện nghiệp về thân, khẩu, ý là như thế nào. Bạn có thể cải thiện những hành động để chúng mang lại cho mình những kết quả tốt hơn. Chắc chắn với thời gian, bạn sẽ gặt hái được lợi ích nếu làm như vậy. Đó là lý do tại sao, bạn nên đặt niềm tin nhiều hơn vào những hành động thiện lành trong kiếp sống hiện tại. Mỗi khi những hành động thiện lành như bố thí, giữ Giới, thực hành thiền… được thực hiện trong kiếp sống hiện tại, chúng thường thúc đẩy tâm thiện lành của chúng ta đến 7 lần, cùng với ý thức thiện lành chúng sẽ tạo ra thiện nghiệp. Thiện Nghiệp sẽ dẫn đến 4 kết quả lợi ích trong nhiều kiếp sống khác nhau :

1. Tâm thiện lành trong chúng ta bị thúc đẩy lần thứ nhất sẽ mang lại kết quả tốt đẹp trong kiếp sống hiện tại.

2. Tâm thiện lành bị thúc đẩy lần thứ 7 sẽ mang lại nhiều lợi ích cho kiếp sống kế tiếp của chúng ta.

3. Tâm thiện lành bị thúc đẩy lần thứ 5 sẽ mang lại nhiều lợi ích trong kiếp sống thứ 3 ( kể từ kiếp sống hiện tại này) cho đến khi bạn đạt tới Niết Bàn.

4. Không mang lại kết quả rõ ràng hay không tạo nghiệp mới ( Ahosi –  Not clearly result or not composed for new karma)

  - Trong 7 lần tâm thiện lành trong bạn bị thúc đẩy, lần thứ nhất sự thúc đẩy đó sẽ mang lại kết quả ngay trong kiếp sống này. Tuy nhiên, nghiệp lực của  kết quả này vẫn còn yếu, bởi vì nó mới phát khởi lần đầu. Do đó, người thực hiện hành động thiện lành trong kiếp sống hiện tại sẽ thấy kết quả của hành động ấy một cách không rõ ràng. Tuy nhiên, chắc chắn trước sau gì người ấy cũng gặt hái được nhiều lợi ích.Tâm thiện lành trong một người bị thúc đẩy lần đầu tiên sẽ làm cho người đó thoát khỏi lo âu phiền muộn và những mối nguy hiểm. Cũng như khi anh ta muốn làm một việc gì thì việc đó rất dễ hoàn thành, những lợi ích nào mà anh ta mong muốn thì với thời gian cũng sẽ gặt hái được.Tuy vậy, loại nghiệp quả này thường hiện khởi không được rõ ràng cho lắm. Nếu tâm thiện lành bị thúc đẩy lần đầu tiên khi bố thí được bổ túc thêm 4 phẩm chất dưới đây, nó sẽ mang lại lợi ích một cách rõ rệt ngay trong kiếp sống hiện tại :

a. Người nhận bố thí là một người cao thượng

b. Bố thí đúng thời

c. Những của cải đem đi bố thí đã kiếm được một cách hợp pháp

d. Tâm thức nhiệt tình và hoan hỷ

 Nếu tâm thiện lành bị thúc đẩy trong lần đầu tiên khi bố thí được bổ túc thêm 4 phẩm chất vừa nêu trên thì một người nghèo có thể trở thành giàu có ngay trong kiếp sống hiện tại.

 - Tâm thiện lành trong bạn bị thúc đẩy trong lần thứ 7 là lần thúc đẩy cuối cùng. Vì vậy, lực thúc đẩy rất yếu ớt. Lực thúc đẩy cũng không thể mang lại lợi ích cho bạn trong kiếp sống thứ ba và thứ tư ( kiếp sống đầu tiên được tính là kiếp sống trong hiện tại). Nó chỉ có thể mang lại lợi ích cho kiếp sống kế tiếp của bạn là tối đa.

 -  Tâm thiện lành bị thúc đẩy trong lần thứ 5 sẽ tạo ra nghiệp lực rất mạnh. Vì vạy, lực đẩy này sẽ mang lại nhiều lợi ích từ kiếp sống thứ 3 cho đến khi bạn đạt tới Niết Bàn.

 -  Không mang lại kết quả gì hay không tạo nghiệp mới có nghĩa là : Trong lần đầu tiên tâm thiện lành trong bạn bị thúc đẩy. Tuy nhiên, lực thúc đẩy này đã không mang lại lợi ích gì cho bạn vì còn yếu. Nếu đã như vậy thì nó cũng không mang lại lợi ích gì cho những kiếp sống kế tiếp. Nói tóm lại, lực đẩy này không gây ra một tác động nào cả. Nếu tâm thiện lành bị thúc đẩy trong lần thứ 7 và lực thúc đẩy này không đem lại lợi ích gì trong kiếp sống kế tiếp của bạn thì nó cũng sẽ không mang lại điều gì cho các kiếp sống thứ ba, thứ tư và các kiếp sống khác trong tương lai. Nói cách khác, lực đẩy đó không có một tác động nào cả. Những hành động bất thiện ( Akusala kamma – Unwholesome deeds) mà bạn đã làm trong vô số kiếp ở quá khứ có thể đưa bạn xuống địa ngục. Tuy nhiên, nếu bạn đã trở thành là một Tu-Đà-Hườn thì ảnh hưởng của những hành động đó sẽ bị vô hiệu hóa. Chúng sẽ bị tiêu hủy tất cả. Tâm  thiện lành ( Kusala Citta – Good heart mind) hay tâm bất thiện ( Akusala Citta- Bad heart mind) của chúng ta trong lần bị thúc đẩy thứ 5 do đã thực hiện một hành động nào đó trong kiếp sống ở quá khứ không mang lại một kết quả gì cả, nếu hành giả đã trở thành một A-La-Hán và đã nhận thức được Niết Bàn. Lúc này, những phước báu cũng như những nghiệp bất thiện đã đi đến chỗ tận diệt. Qua câu chuyện cúng dường vật thực của Tôn giả Anuruddha, chúng ta sẽ hiểu được tâm thiện lành bị thúc đẩy lần thứ nhất đã mang lại lợi ích cho kiếp sống ở hiện tại như thế nào.Tâm thiện lành bị thúc đẩy trong lần thứ 7 đã mang lại lợi ích cho kiếp sống kế tiếp của chúng ta như thế nào. Tâm thiện lành bị thúc đẩy lần thứ 5 đã mang lại lợi ích trong kiếp sống thứ 3 của chúng ta cho đến khi đạt tới Niết Bàn như thế nào. Những hành động thiện lành và bất thiện đã không mang lại một kết quả gì chúng đã bị vô hiệu hóa như thế nào. Trong quá khứ, Tôn giả Anuruddha sống vào cuối thời Đức Phật Ca-Diếp và đầu thời Đức Phật Cồ-Đàm. Lúc đó, Tôn giả đang là một người cắt cỏ nghèo khổ. Ngài sống trong nhà của phú ông Sumana và được gọi là Annàbhara. Một ngày nọ, lúc đang trên đường từ rừng trở về nhà Annàbhara trông thấy một vị Phật Độc Giác ( Pacceka Buddha – Independently Enlightened Buddha) có tên là Uparittha đang đi khất thực. Vị Phật Độc Giác từ cõi diệt thọ tưởng tịnh ( Nirodha Samàpatti – Absorption in cessation)vừa mới xuất hiện, Annābhara đã dâng cúng cho Ngài một bữa ăn và cầu nguyện rằng trong mọi kiếp sống về sau anh ta sẽ không còn bị nghèo khổ, không còn phải nghe những điều bất như ý. Khi nghe Annābhara cầu nguyện vị Chư Thiên đang trong nhà của phú ông Sumana đã thốt lên : “  Lành thay !”. Sau đó, phú ông Sumana biết được lợi ích to lớn mà Annàbhara có được. Vì vậy, ông đã hỏi Annābhara bán cho mình phước báu đó với giá 1000 đồng bạc. Tuy nhiên, Annābhara đã từ chối. Tiếp đến, phú ông lại hỏi xin Annābhara chia xẻ phước báu đó cho ông và anh ta đã đồng ý. Ngày hôm đó, phú ông Sumana đã bảo Annàbhara hãy dừng công việc đang làm lại và tạm nghỉ ngơi. Ông đã cung cấp cho anh ta mọi thứ tiêu dùng cần thiết. Phú ông Sumana đã đưa Annābhara đến gặp Đức vua bởi vì Ngài có nghe nói về chuyện cúng dường vật thực của Annābhara. Sau đó, Đức vua đã cho Annābhara 1000 đồng bạc, một mãnh đất nhỏ để dựng nhà và cho người dọn sạch vùng đất đó dùm cho anh ta. Trong khi đang dọn dẹp và làm vệ sinh khu đất mới của Annābhara, người ta đã phát hiện nhiều hủ vàng được chôn dưới đất. Đức vua không lấy số vàng đó và Ngài đã cho Annābhara. Cuối cùng, Annābhara đã trở nên nổi tiếng là một người giàu có. Annābhara đã tiếp tục thực hiện những hành động xứng đáng cho đến khi mãn kiếp và được tái sanh vào cõi trời Chư Thiên có nhiều thứ xa hoa hơn cõi người nhiều lần. Sau đó, anh ta lại nhiều lần tái sanh vào cõi người và cõi Chư Thiên , được giàu sang và có nhiều của cải quí giá. Trong thời Đức Phật Cồ-Đàm, Annābhara đã trở thành con trai út của vua Dhotodhana với tên gọi là Anuruddha. Trong kiếp sống, này anh ta cũng được mãn nguyện đúng như lời ước nguyện năm xưa, không bị nghèo khổ và không bị nghe những lời nói bất như ý. Khi lớn lên, hoàng tử Anuruddha đã trở thành một Tỳ Kheo trong Tăng Đoàn và thực hành Phật Pháp. Ngài đã đạt được danh hiệu Etadagga vì có Thiên nhãn thông ( Dibbacakkhu abhinna – Devine eyes) và chứng ngộ Niết Bàn khi đã trở thành một vị A-La-Hán. Từ địa vị một người cắt cỏ nghèo khổ, Annābhara đã trở thành Tôn giả Anuruddha, bởi vì anh ta đã có đủ 4 phẩm chất sau :

  a. Được cúng dường vật thực cho một bậc cao thượng là Phật Độc Giác Uparittha.

  b. Phật Độc Giác từ cõi diệt thọ tưởng định – một cõi sống hoàn mỹ hiện đến. Người ta rất ít khi gặp được cơ hội này để cúng dường như vậy. Do đó, Annābhara đã có được thời điểm thích hợp để thực hiện những hành động thiện lành.

  c. Của cải mà Annābhara cúng dường cho Phật Độc Giác là của cải hợp pháp kiếm được từ công việc cắt cỏ của anh ta.

  d. Tâm tự nguyện của Annàbara rất mạnh mẽ và hoan hỷ khi cúng dường vật thực.

 -  Tâm thiện lành trong Annābhara bị thúc đẩy lần đầu tiên đã khiến cho anh ta trở thành một người giàu có ngay trong kiếp sống hiện tại.

 -  Tâm thiện lành trong Annābhara bị thúc đẩy lần thứ 7 đã khiến cho anh ta được sinh vào cõi trời Chư Thiên trong kiếp sống thứ hai.

 -  Tâm thiện lành trong Annàbhara bị thúc đẩy lần thứ 5 đã khiến cho anh ta đạt được danh hiệu Etadagga trong kiếp sống thứ 3 vì có Thiên nhãn thông và chứng ngộ được Niết Bàn khi trở thành một A-La-Hán.

- Tâm tự nguyện trong Annābhara bị thúc đẩy đã khiến cho Annābhara trở nên được vô nhiễm ( không còn chịu tác động của nghiệp) khi trở thành một A-La-Hán. Đó là lý do tại sao, khi thực hành hạnh bố thí ( Dāna), nếu không thể tìm được một vị A-Na-Hàm hay một A-La-Hán để cúng dường thì hãy :

a. Tìm một người có giữ Giới trong sạch, có thực hành thiền định và thiền minh sát để cúng dường.

b. Chọn một thời điểm mà tâm của mình không bị tham, sân, si thống trị để cúng dường.

c. Chọn những của cải hợp pháp đem đi cúng dường.

d. Cúng dường với tâm nhiệt tình và hoan hỷ.

 Vì vậy, nghiệp thiện lành được tạo ra trong kiếp sống này sẽ mang lại lợi ích cho chúng ta trong trong nhiều kiếp sống khác nhau. Nếu đã tạo được thiện nghiệp thì chắc chắn bạn sẽ gặt hái được lợi ích. Những hành động xứng đáng như bố thí, giữ Giới… đã làm được trong kiếp sống này là những điều đáng tin cậy, chúng ta nên tin tưởng vào những hành động đó, bởi vì chúng sẽ tạo ra thiện nghiệp. 

     

                    Tìm kiếm bốn điều cao thượng nhất

  

Ngoại trừ các vị A-La-Hán, mọi sinh vật đang sinh sống trong thế giới này đều mong muốn gặt hái được những điều họ mong muốn. Nói chung, những điều mà người ta sẽ gặt hái có thể tạm chia làm có 3 hạng : Kém cỏi, trung bìnhtốt nhất. Khi có cơ hội gặt hái những điều thiện lành, theo lẽ tự nhiên, người ta sẽ mong muốn gặt hái được những điều tốt nhất. Tuy nhiên, sau khi đã gặt hái được những điều mà họ cho là tốt nhất thì những điều tốt này phải có khả năng hoán cải những điều kém cỏi và trung bình. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã  thuyết một bài Pháp nói về 4 điều cao thượng nhất, khi vị vua của cõi trời ( tức Trời Đế Thích – Indra – The king of celestials) thỉnh cầu Ngài.

1. Trong các hình thức bố thí,bố thí Pháp là cao thượng nhất.

2. Trong các loại hương vị, hương vị của Phật Pháp là cao thượng nhất.

3. Trong các loại hạnh phúc thì hạnh phúc trong Giáo Pháp của Đức Phật là cao thượng nhất.

4. Trong các trạng thái bình yên khi đã dập tắt được những nổi khao khát, đạo quả A-La-Hán ( Arahatta Phala- Fruition of an Arahant) là cao thượng nhất.

- Trong các hình thức bố thí, bố thí Pháp là cao thượng nhất nghĩa là : Nếu một cá nhân nào đó không biết đến lợi ích của việc bố thí thì người này sẽ không thực hiện bố thí. Nếu người ta đã không biết đến lợi ích của việc giữ Giới trong sạch, họ sẽ không thực hành hạnh bố thí. Nếu người ta không biết đến lợi ích của thiền định và thiền minh sát, họ sẽ không thực hành các loại thiền này. Những người không thực hành hạnh bố thí, không giữ Giới, không thực hành thiền định và thiền minh sát thì họ không thể có được hạnh phúc trong thế giới trần tục, cũng như không thể đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Vì vậy, người bố thí Pháp phải có khả năng mang lại cho những người chưa biết được lợi ích của việc bố thí, giữ Giới trong sạch và thực hành thiền sự hiểu biết thích đáng. Từ đó, những người chưa có sự hiểu biết đúng đắn sẽ biết được làm cách nào để gặt hái được hạnh phúc trên thế gian và đạt tới Niết Bàn. Những người chưa  có sự hiểu  biết về những điều vừa nêu trên sau khi lắng nghe thuyết Pháp, họ sẽ biết cách thực hành hạnh bố thí, biết giữ Giới một cách vững chãi, biết thực hành thiền định và thiền minh sát.

Từ đó, họ sẽ có được hạnh phúc trong thế giới trần tục cho đến khi đạt tới Niết Bàn.Vì vậy, họ sẽ biết được bố thí Pháp là hình thức bố thí cao thượng nhất. Đây chính là lời thuyết Pháp của Đức Phật.

Tóm tắt: Trong các hình thức bố thí, bố thí Pháp là cao thượng nhất.  

 Thuyết Pháp hay bố thí Pháp không chỉ là bố thí lời nói hoặc diễn thuyết trước 100 hay 1000 cử tọa. Người giảng dạy Giáo Pháp nhưng không đọc tụng được tiếng Pàli, các bài Kinh Hộ Trì ( Paritas suttas – Assistant ‘s Sutras), Kinh Hồi Hướng ( Patthāna sutta – Conditional relations ‘s Sutras), Kinh Chuyển Pháp Luân ( Dhammacakka sutta – The setting in motion wheel of the Law ‘ s Sutra), những Kinh Điển cao cấp khác của Phật Giáo… Không biết cách thực hành thiền minh sát, cách bài trí khi thuyết Pháp, cách hấp dẫn và lôi cuốn thính giả nghe Pháp, cách giáo huấn cho trẻ nhỏ biết được lợi ích của việc giữ Giới và tác hại của việc không nghiêm trì Giới Luật, cách bố thí Pháp, cách bố thí tứ vật dụng và nhiều thứ khác…Như vậy, chưa thể gọi là bố thí Pháp đúng nghĩa được.

 - Trong tất cả các loại hương vị, hương vị của Phật Pháp là cao thượng nhất nghĩa là : Trong thế giới của loài người, có rất nhiều loại hương vị được cho là hấp dẫn và lôi cuốn như vị ngọt, mùi thơm, các hương vị thanh tao của Chư Thiên mà người trần gian không thể thưởng thức được… Bởi vì muốn tận hưởng những loại hương vị của thế gian, nên người ta phải chạm trán với nhiều loại đau khổ trong luân hồi.Vì vậy, tất cả những loại hương vị này không phải là cao thượng nhất, chúng là những loại hương vị mang lại khổ đau. Hương vị cực kỳ tinh tế của Phật Pháp có thể dập tắt và giải phóng chúng ta ra khỏi những ngọn lửa ô nhiễm như tham, sân, si. Bạn có thể tìm được hương vị cao thượng đó bằng cách thực hành KinhTứ niệm xứ hay Đại niệm xứ ( Mahāsatipatthāna Suttanta – The four foundations of mindfulness ‘s sutra) như : Quán thân ( Kāyanupassana – To be mindful of flesh- body), quán cảm thọ ( Vadānānupassana – Sensitive mindfulness), quán tâm ( Cittānupassana – To be mindful of mind), quán Pháp

( Dhammānupassana – To be mindful of Dharma), tinh tấn thực hành Bát Chánh Đạo ( Magganga Dhamma) và 7 yếu tố giác ngộ, còn gọi là Thất giác chi hay Thất Bồ đề phần ( Bojjhanga Dhamma – 7 factors of Enlightenment), gồm có :

- Niệm giác chi ( Sati Sambojjhanga – Mindfulness), tức sự chú ý đúng đắn.

- Trạch pháp giác chi, tức là tìm kiếm và nghiên cứu bản chất của vạn hữu ( Dhamma Vicaya Sambojjhanga – Investigatetion of the Law).

 - Tinh tấn giác chi ( Viriya Sambojjhanga – Energy ), tức nỗ lực để phát triển những điều thiện lành.

- Hoan hỷ giác chi ( Pīti Sambojjhanga – Rapture).

 - Khinh an giác chi, tức trạng thái thân tâm nhẹ nhàng và tĩnh lặng ( Passaddhi Sambojjhanga – Tranquillity).

- Định giác chi hay trạng thái định tâm ( Samādhi Sambojjhanga – Concentration).

- Xả giác chi, tức trạng thái tâm trí thanh thản, không bị vướng bận vì bất cứ một điều gì ( Upekkhā – Equanimity).

Hương vị của Phật Pháp vượt trội hơn tất cả các loại hương vị khác và có thể dẫn dắt chúng ta đến với Niết Bàn hạnh phúc. Hương vị của Phật Pháp giải phóng con người và muôn loài thoát khỏi khổ đau trong sanh tử luân hồi (  Vatta Samsara - The sufferings in the round of rebirth). Vì vậy, hương vị của Phật Pháp  là hương vị cao thượng nhất.

Tóm tắt: Trong tất cả các loại hương vị thì hương vị của Phật Pháp là cao thượng nhất.

 - Trong tất cả các loại hạnh phúc, hạnh phúc trong Phật Pháp là cao thượng nhất nghĩa là : Trong thế giới này, đa số người ta đều tìm hạnh phúc từ con cái, sự giàu có về vật chất, chồng hay vợ, khiêu vũ, ca hát và chơi các loại nhạc cụ…Loại hưởng thụ này chỉ dẫn dắt họ đến với nhiều loại khổ đau trong luân hồi. Đó là lý do tại sao, tất cả các hình thức hưởng thụ này là không cao thượng. Có nhiều người đã giác ngộ khi đang bố thí Pháp, khi đang lắng nghe Pháp, khi đang nghiên cứu Kinh Điển Phật Giáo, khi đang thực hành thiền minh sát…và gặt hái được hạnh phúc hoan hỷ ( Pīti sukha – Raptural hapiness). Người bình thường và Chư Thiên không thể có được loại hạnh phúc hoan hỷ này. Niềm hạnh phúc trong Phật Pháp sẽ dẫn đưa chúng ta đến với trạng thái tiêu hủy được tất cả những nổi khổ đau và đạt tới Đạo Quả A-La-Hán.Vì vậy, Đức Phật đã từng nói rằng, hạnh phúc trong Giáo Pháp là niềm hạnh phúc cao thượng nhất.

Tóm tắt: Trong tất cả những niềm hạnh phúc, hạnh phúc trong Phật Pháp  là cao thượng nhất.

- Trong tất cả mọi trạng thái bình yên, trạng thái dập tắt tất cả những khao khát thèm muốn và đạt tới Đạo Quả A-La-Hán ( Arahatta Phala) là cao thượng nhất nghĩa là : Trạng thái tâm khao khát thèm muốn ( Tanhā – Craving) là nguyên nhân của khổ đau ( Samudaya sacca – the cause of suffering). Nơi nào tâm khao khát thèm muốn gia tăng bao nhiêu thì nơi đó khổ đau sẽ gia tăng bấy nhiêu. Nơi nào tâm khao khát thèm muốn bị giảm thiểu thì nơi đó khổ đau cũng giảm bớt đi. Nơi nào tâm khao khát thèm muốn có mặt thì dứt khoát nơi đó khổ đau sẽ hiện khởi. Khi tâm khao khát thèm muốn trong một người bị tiêu diệt hoàn toàn, người đó sẽ gặt hái được Đạo Quả A-La-Hán cao thượng nhất, tất cả những nổi khổ đau sẽ bị dập tắt.

Vì vậy, Đức Phật đã thuyết rằng trạng thái tiêu hủy của những khát khao thèm muốn sẽ dẫn đến Đạo Quả A-La-Hán Cao Thượng.

Tóm tắtDập tắt được khao khát thèm muốn và đạt tới Đạo quả A-La-Hán là cao thượng nhất.

 Nếu muốn dập tắt được tâm khao khát thèm muốn, bạn phải thực hành thiền minh sát. Nếu bạn thực hành thiền minh sát với một phương pháp đúng đắn, chắc chắn tâm khao khát thèm muốn trong bạn sẽ bị dập tắt. Chỉ cần dập tắt được tâm khao khát thèm muốn, dù chỉ một lần nhưng khá trọn vẹn, bạn sẽ gặt hái được Đạo Quả Tu-Đà-Hườn. Nhờ đó, bạn sẽ thoát khỏi địa ngục khổ đau và được bình yên. Nếu tiếp tực thực hành thiền minh sát, bạn sẽ gặt hái được Đạo Quả Tư-Đà-Hàm. Mỗi khi tâm khao khát thèm muốn trong bạn đã bị làm cho suy yếu đi, điều đó sẽ khiến cho bạn được tái sanh vào cõi người hay 6 cõi trời của Chư Thiên. Lúc đó, bạn chỉ còn phải đau khổ trong cõi người hay cõi Chư Thiên một kiếp sống nữa thôi. Sau đó, bạn sẽ được bình yên. Nếu tiếp tục thực hành thiền minh sát, bạn sẽ gặt hái được đạo quả A-Na-Hàm. Lúc đó, khao khát thèm muốn trong bạn mới hoàn toàn bị tiêu diệt. Điều này sẽ khiến cho bạn được hoàn toàn thoát khỏi những khổ đau trong kiếp sống ở cõi người và 6 cõi trời của Chư Thiên. Nếu vẫn tiếp tục thực hành thiền minh sát, bạn sẽ đạt tới Đạo Quả A-La-Hán. Khi đã gặt hái được Đạo Quả A-La-Hán, những khao khát thèm muốn trong luân hồi ( Samsāra - gồm có 31 cõi sống) của bạn sẽ bị dập tắt hoàn toàn. Vì vậy, bạn sẽ được giải thoát khỏi luân hồi và đạt tới Niết Bàn Cao Thượng. Những người là con cái của các bậc cha mẹ thiện lành mong muốn gặt hái được 4 điều cao thượng khó đạt được đã nêu trên, khi đang còn sống trong thế giới của loài người, họ cần phải thực hành bố thí Pháp, lắng nghe Pháp, nghiên cứu và đọc tụng các Kinh Điển Phật Giáo như : Kinh Đại Niệm Xứ, Kinh Hộ Trì… nghiêm trì Giới luật và thực hành thiền minh sát.

 

                                         

              Phái nữ mong muốn đạt tới Đạo Quả Phật

 

 Một vài phụ nữ nghĩ rằng cuộc sống nữ giới của họ bị khép kín trên nhiều phương diện, địa vị của họ là thấp kém hơn nam giới. Họ không thể trở thành một người đáng tôn kính như Đức Phật. Họ không thể ước nguyện khi bố thí, trì Giới… để trở thành Phật. Lối suy nghĩ đó không đúng. Thật ra, nữ Giới vẫn có nhiều cơ hội bình đẳng giống như nam giới. Họ vẫn có thể ước nguyện khi bố thí, trì Giới… để trở thành Phật. Trong thời Đức Phật còn tại thế, có một người nữ ước nguyện cho mình được thành Phật. Trong mùa mưa thứ 7 năm đó, Đức Phật đã đến cõi trời Đạo Lợi để thuyết Vi Diệu Pháp. Sau mùa Lễ An Cư của Phật Giáo, Đức Phật đã trở về địa cầu khi thời Pháp của Ngài tại cõi trời Đạo Lợi đã mãn. Khi Đức Phật trở về địa cầu , Ngài đã được nhiều người tỏ lòng tôn kính hết mực. Chư Thiên đã hộ tống Đức Phật trên chiếc thang bằng vàng bên phải. Họ chơi các loại nhạc cụ của cõi trời. Từ trên chiếc thang bằng bạc bên trái, Phạm Thiên theo sát Đức Phật với những chiếc dù màu trắng. Do ảnh hưởng bởi năng lực siêu phàm của Đức Phật, từ những người cư trú trên cõi trời cao nhất của Phạm Thiên ( Akkanittha Brahma) cho đến những người bị đọa đày ở tầng địa ngục thấp nhất ( Avīji Niraya - A tỳ địa ngục) đều có thể thấy nhau. Con người ở địa cầu có thể nhìn thấy Chư Thiên, Phạm Thiên và ngược lại. Mọi người đều có thể thấy sáu vầng hào quang rực rỡ toả ra từ thân thể của Đức Phật và họ đã tỏ ra tôn kính hết mực. Bất cứ người nào trong vòng bán kính 36 do-tuần ( Yojana – Một do-tuần bằng 8 dặm Anh, một dặm Anh bằng 1609 mét) đều thấy được vẻ huy hoàng và năng lực siêu phàm của Đức Phật. Nếu có ước nguyện thì trong tương lai, những người này sẽ trở thành Phật, không phân biệt nam nữ. Những bậc thầy chú giải Kinh Điển đã giải thích như vậy. Qua ví dụ này, chúng ta có thể thấy rằng, nữ giới cũng có thể đạt được Đạo Quả Phật. ( Kinh Pháp Cú chú giải – Dhammapadathakatha )

Một người nữ có ước nguyện cho mình được trở thành Phật, đầu tiên phải trở thành đàn ông. Sau khi đã trở thành đàn ông một cách hoàn hảo, người này mới có thể trở thành Phật. Đó là lý do tại sao, những người phụ nữ mong muốn được trở thành Phật phải thực hành 4 Pháp dưới đây để có thể trở thành đàn ông :

1. Tôn kính 3 loại ngọc quí ( Phật, Pháp, Tăng)

2. Giữ gìn 5 Giới

3. Không ao ước làm nữ giới

4. Ao ước được làm nam giới

 - Tôn kính 3 loại ngọc quí nghĩa là người phàm tục (  Putthujjana – worldly person) phải biết tôn kính bậc chí tôn. Họ có thể biểu lộ sự tôn kính của mình bằng 2 cách : Thứ nhất, lời ăn tiếng nói phải thiện lành, diện mạo dễ nhìn và cung cách đối xử phải đúng đắn. Thứ hai, họ phải tôn kính phẩm chất tốt đẹp của Phật, Pháp, Tăng. Ngoài 2 cách thể hiện sự tôn kính này, họ còn phải tôn kính 9 loại đức hạnh của Phật, 6 điểm ưu việt của Pháp9 loại đức hạnh của Tăng già. Vì vậy, người nữ có niềm tin và tôn kính Phật, Pháp, Tăng là người có thiện chí muốn trở thành nam giới.

-  Giữ gìn 5 Giới nghĩa là biết rõ lợi ích hay tác hại của việc gìn giữ hay không giữ gìn những Giới ấy.

   Lợi ích và tác hại

a. Nếu sát sanh thì không chỉ bị tái sanh vào địa ngục mà còn có khả năng sẽ bị người khác giết chết trong những kiếp sống khác. Sát sanh sẽ bị đoản thọ và sẽ phải chịu nhiều hình phạt bởi những người khác. Những người kiêng cữ sát sanh sẽ có nhiều lợi ích như được sống lâu, có dung mạo xinh đẹp, ít bệnh tật… cho đến khi đạt tới Niết Bàn.

Tóm tắtSát sanh sẽ bị đoản thọ, kiêng cữ sát sanh sẽ được trường thọ.

b. Những người trộm cắp hay lấy của không cho sẽ bị tái sanh vào những cảnh giới thấp kém và nghèo khổ trong nhiều kiếp sống. Những người kiêng cữ trộm cắp sẽ có nhiều của cải trong những kiếp sống, khi họ phải tái sanh vào luân hồi cho đến khi đạt tới Niết Bàn.

Tóm tắt: Những người trộm cắp sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm của cải, nếu biết kiêng cữ trộm cắp sẽ có được của cải dồi dào và phong phú.

c. Những người phạm tội ngoại tình không chỉ bị đọa xuống địa ngục mà còn phải chịu nhiều thứ khổ đau khác, không được người khác yêu mến, bị người khác ghét bỏ, trong những kiếp sống ở tương lai sẽ phải chạm trán với nhiều tác động xấu của nghiệp. Những người không phạm tội ngoại tình sẽ được người khác yêu mến và tôn trọng, sẽ gặt hái được những lợi ích tốt đẹp cho đến khi đạt tới Niết Bàn.

Tóm tắtPhạm tội ngoại tình sẽ bị mọi người ghét bỏ , nếu biết kiêng cữ tội này sẽ được mọi người yêu mến.

d. Những người nói dối và nói lời bất hoà sẽ bị đọa xuống địa ngục. Trong những kiếp sống ở tương lai, họ sẽ phải chịu nhiều tác động xấu của nghiệp. Người ta sẽ không giờ muốn nghe họ nói. Thậm chí, khi họ xử dụng những từ ngữ rất tốt đẹp mà vẫn bị mọi người chống đối. Những người không nói dối sẽ gặt hái được những tác động tốt của nghiệp, mọi người điều muốn lắng nghe họ nói và tuân theo lời họ. Đây là kết quả mà những người có chánh ngữ sẽ gặt hái được cho đến khi đạt tới Niết Bàn.

Tóm tắtNgười nói dối sẽ bị khinh thường rẻ rúm, người không nói dối sẽ được mọi người kính trọng.

 e. Những người xử dụng các chất gây say có thể khiến cho họ phạm vào những hành động xấu thuộc về thân xác và lời nói. Trong nhiều kiếp sống ở tương lai, có thể họ sẽ bị đọa xuống địa ngục. Khi tái sanh, họ sẽ có dung mạo xấu xí và dị dạng, bị câm điếc, đần độn, điên cuồng mất trí, có trí nhớ kém…Những người biết kiêng cữ các chất gây say sẽ được thông minh, có trí nhớ tốt…Vì vậy, người biết kiêng cữ các chất gây say sẽ được hưởng những lợi ích tốt đẹp cho đến khi đạt tới Niết Bàn.

Tóm tắtHậu quả của việc xử dụng các chất say là có trí nhớ kém, nếu biết kiêng cữ các chất say thì sẽ có trí nhớ tốt và thông minh.

  Vì vậy, nếu biết được tác động tốt hay xấu của 5 Giới và biết giữ gìn chúng thì phái nữ sẽ có được những nhân tố thuận lợi để trở thành đàn ông.

3.Không thích làm nữ giới nghĩa là : Một người nữ không thể gặt hái được cuộc sống xa hoa vưong giả trên các cõi trời như : Cõi trời Đế Thích, cõi trời của Chư Thiên hay Phạm Thiên và cũng không thể trở thành Phật Độc Giác hay Phật Toàn Giác… Vì vạy, họ không thích làm nữ giới. Thậm chí phụ nữ phải :

 a. Đi theo chồng khi kết hôn, phải xa rời cha mẹ và thân bằng quyến thuộc.

 b. Có kinh nguyệt hàng tháng

 c. Sinh nở đau đớn

 d. Phục vụ chồng

 Những khổ đau này có liên quan đến nữ giới. Đó là lý do tại sao, họ không thích những kiếp sống của chính mình. ( San, 2 / 437).Vì vậy, không có mong muốn được làm thân nữ là một nhân tố thuận lợi để nữ giới có thể trở thành nam giới.

4. Ao ước được làm nam giới nghĩa là một người nam có thể có một cuộc sống xa hoa vương giả trên các cõi trời như : Cõi trời Đế Thích, cõi trời của Chư Thiên và Phạm Thiên, có thể trở thành Phật  Độc Giác hay Phật toàn giác…Vì vậy, mong muốn được làm Phật, được làm nam giới là những ao ước của nữ giới. Tâm mong muốn được làm nam giới là một nhân tố thuận lợi để phái nữ có thể được tái sanh làm nam giới. Sau đây là một ví dụ về một người nữ đã được tái sanh làm nam giới bằng cách thực hành 4 Pháp vừa nêu trên : Trong thời Đức Phật còn tại thế, tại thành Ca Tỳ La Vệ có một nàng công chúa trong thị tộc Thích Ca tên là Gopika. Nàng rất tôn kính Phật, Pháp, Tăng và giữ gìn 5 Giới rất vững chãi. Công chúa không thích cuộc sống của một người nữ và rất ngưỡng mộ cuộc sống của nam giới. Nàng rất hay cúng dường và quan tâm đến Phật, Pháp, Tăng. Khi công chúa Gopika chết, nàng đã được tái sanh làm con trai của một vị vua ở cõi trời Đạo Lợi với tên gọi là vị trời Gopika. Qua ví dụ này, chúng ta biết được rằng, nữ giới cũng có thể thực hành 4 Pháp quí báu đã nêu trên một cách hoàn hảo. Sau đó, chắc chắn họ sẽ trở thành đàn ông tốt trong những kiếp sống ở tương lai. Khi đã trở thành đàn ông như mong ước, họ phải tiếp tục sống một kiếp sống với thân nam giới sao cho thật hoàn hảo. Nhờ đó, họ có thể trở thành Phật giống như ước nguyện của chính họ khi còn là nữ giới. Đó là lý do tại sao, phụ nữ cũng có thể ước nguyện cho mình trở thành Phật.

 

                      Hạnh phúc trên thế gian

 

 Những người Phật tử luôn luôn mong muốn đạt tới Niết Bàn xuất thế gian, bởi vì cảnh giới này cao thượng hơn hạnh phúc trong thế giới của loài người, cõi trời Chư -Thiên và cõi trời Phạm-Thiên. Mỗi khi thực hiện bố thí, họ thường nguyện rằng : “ Cầu chúc cho chúng tôi gặt hái được Niết Bàn hạnh phúc !”. Tuy nhiên, trước khi nhận thức được Niết Bàn hạnh phúc, họ cần phải có tâm mong muốn gặt hái được hạnh phúc trên thế gian. Những người mong muốn được hạnh phúc trên thế gian phải thực hành tâm từ ( Mettā- Loving- kindness) một cách sung mãn. Tâm từ là nguyên nhân tốt nhất dẫn đến hạnh phúc thế gian. Những người mong muốn nhận thức được tâm từ và thực hành nó sẽ gặt hái được phước báu mỗi khi họ gặp những người cao thượng, người bình thường và người kém cõi. Khi người thực hành tâm từ gặp những người nghèo khó, người bất hạnh hay người bị đau khổ vì bệnh tật thì họ liền tìm cách mang đến cho những người này sự hoan hỷ, cảm thông và khởi tâm mong muốn được giúp đỡ họ. Vì vậy, những người thực hành tâm từ sẽ gặt hái được phước báu, bởi vì họ có lòng trắc ẩn. Nếu thực hành tâm từ thì khi gặp những người bình thường, bạn không nên tỏ ra kiêu ngạo và ganh đua mà phải thể hiện từ tâm đối với họ, cầu chúc cho họ sẽ gặp mọi sự tốt đẹp và hạnh phúc. Khi gặp những người thượng đẳng, bạn không nên có tâm ý xấu và ghen tị với sự giàu sang quyền quí của họ. Thay vào đó, bạn hãy hoan hỷ vì sự giàu sang quyền quí của họ. Nếu làm thế, bạn sẽ gặt  hái được phước báu, bởi vì bạn có thiện chí. Vì vậy, chúng ta cần phải vun trồng và  bồi đắp tâm Từ ( Mettā). Khi đã thành công trong việc vun trồng và bồi đắp tâm từ, chính bạn sẽ được hạnh phúc và những người tiếp xúc với bạn cũng sẽ trở nên giác ngộ. Điều tốt nhất khi vun trồng và bồi đắp tâm từ là cho đi những của cải mà mình đang có để giúp đỡ người khác. Vì vậy, khi rải tâm từ lên người khác, bạn lại có thêm nhiều của cải khác. Để có một tâm từ sung mãn, bạn cần phải tránh né tâm sân hận càng nhiều càng tốt, bởi vì tâm sân hận đối chọi lại với tâm từ. Để thoát khỏi tâm sân hận, bạn phải luôn luôn có tính tự chủ và khoan dung độ lượng. Khi nghe những lời nói trái tai và thấy những cung cách đối xử không thích đáng, bạn rất dễ có khuynh hướng trở nên giận dữ ngay lập tức. Vì vậy, bạn có thể đánh mất sự thăng bằng về tinh thần. Lúc đó, bạn cần phải có lý trí để tránh được những sai lầm do sân hận gây nên, phải bình thản với lòng khoan dung độ lượng ( Khanti– Tolerance). Nếu thực hành thiền minh sát, bạn sẽ học được đức tính quí báu này.  Khi đã có lòng khoan dung độ lượng, bạn sẽ được nhiều người khác yêu thương và không có kẻ thù. Từ đó, bạn sẽ tự biết cách để làm cho cuộc sống của chính mình được bình yên. Khi tập luyện và vun bồi tâm khoan dung độ lượng, hạnh phúc của bạn sẽ gia tăng. Khi mong muốn chính mình được bình yên, bạn phải có mong muốn cho những người khác được bình yên. Khi đã có sự nhận thức đúng đắn về tâm từ, bạn mới có thể vun trồng và bồi đắp nó. Lúc đó, bạn sẽ có khả năng rãi tâm từ đến với nhiều người khác. Có 2 cách để vun trồng tâm từ :

1. Vun trồng tâm từ để gặt hái được hạnh Ba-La-Mật thiện lành

2. Vun trồng tâm từ để gặt hái được trí tuệ

-Vun trồng tâm Từ để gặt hái được hạnh Ba-La-Mật thiện lành

a. Kāyakamma mettā – thực hành tâm từ trên hoạt động thuộc về thân thể

b. Vacikamma mettā – Thực hành tâm từ trên hoạt động thuộc về lời nói

c. Manokamma mettā – Thực hành tâm từ trên hoạt động thuộc về tâm ý

Đây chính là thực hành tâm từ trên những hành động thuộc về thân, khẩu, ý.

-  Thực hành tâm từ trên những hoạt động thuộc về thân thể nghĩa là : Xử dụng những cung cách đối xử thuộc về thân thể để làm cho người khác được hạnh phúc, để giúp đỡ họ về mặt thể xác. Khi làm việc gì cho người khác, bạn không nên đắn đo về đẳng cấp của họ như việc suy nghĩ rằng họ là người cao, thấp, sang , hèn… Bạn cứ đến, tiếp xúc với họ một cách tự nhiên và vô tư. Vì nếu bạn cư xử như vậy, người ta mới được hạnh phúc và công việc của bạn mới có ý nghĩa. Khi muốn làm việc gì cho người khác tại nhà riêng hoặc ở nhiều nơi khác, bạn phải có sự chuẩn bị. Ví dụ, khi Tăng Già đến viếng thăm nhà riêng của bạn, các cơ sở công cọng và tu viện tại địa phương mà bạn đang ở… thì bạn phải đón tiếp họ một cách hoan hỷ, mời họ ngồi xuống tại những nơi tiện nghi nhất và phải thể hiện sự tôn kính đối với họ. Bạn cần chuẩn bị các loại thức ăn thích hợp để dâng cúng cho Tăng Già, cho các Tu nữ và các người nghèo khổ một cách tôn trọng… Đó chính là thực hiện tâm từ trên những hoạt động thuộc về thân thể. Người Miến Điện có tập quán thực hành tâm từ do tổ tiên của họ truyền lại. Tập quán tốt đẹp này được duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đây cũng là một nét tiêu biểu cao quí của nền văn hoá và tôn giáo của Miến Điện mà các thế hệ mai sau nên kế thừa. Khi còn sống trên thế gian, chúng ta phải đặc biệt chú ý gìn giữ truyền thống cao quí này, không bao giờ để cho nó bị thoái hoá, suy tàn.

- Thực hành tâm từ trên những hoạt động thuộc về lời nói nghĩa là : Làm cho người khác được hạnh phúc bằng cung cách nói năng thiện lành. Khi nói năng với những người khác, bạn không nên phân biệt đẳng cấp cao, thấp, sang, hèn… khác nhau của họ. Khi có điều gì muốn nói, bạn phải nói những điều mang lại lợi ích, hạnh phúc cho mình và cho nhiều người khác. Khi đang ở trong tàu thuỷ, máy bay, phi trường, các cửa hàng hay trong một cuộc du hành… Chúng ta cần phải cẩn thận trong lời nói và chỉ nên nói những lời làm cho người khác hài lòng, ngắn gọn, rõ ràng và thiết thực.

Chú ý để có thể nói năng đúng đắn với người khác là biết thực hành tâm từ trên những hoạt động thuộc về lời nói. Khi nói năng với người khác, bạn không nên vung tay múa chân, bởi vì có thể làm cho người khác hiểu lầm và trở nên phẫn nộ. Không nói lời thô bỉ lỗ mãng, cần nói những lời hoà nhã và lịch thiệp, nhất là khi nói với người lớn tuổi hơn mình…Từ cám ơn phải được thường xuyên xử dụng trong những tình huống thích hợp. Như thế gọi là thực hành tâm từ trên những hoạt động thuộc về lời nói. Người Miến Điện thường có thói quen ăn nói với tâm Từ. Đây là một tập quán do tổ tiên của họ truyền lại. Tập quán quí báu này cũng được duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó là lý do tại sao khi đang còn sống trên thế gian, chúng ta cần phải đặc biệt chú ý gìn giữ tập quán quí báu này, đừng để cho nó mất đi.

Đức Phật đã dạy rằng, có 5 tính cách trong việc thực hành lời nói với tâm Từ, đó là :

1. Nói đúng thời

2. Nói đúng với sự thật

3. Nói lời hoà nhã

4. Nói lời lợi ích thiết thực

5. Nói trong ý thức tỉnh táo và thiện lành

 Nếu trong lời nói của bạn có đủ 5 tính cách này thì người nghe sẽ được hạnh phúc. Đó là thực hành tâm từ trên những hoạt động thuộc về lời nói.

-  Thực hành tâm từ trên những hoạt động thuộc về tâm ý nghĩa là : Khi nói năng, bạn hãy rãi từ tâm lên nhiều người khác, không phân biệt thân sơ, cao, thấp, sang, hèn… Rãi từ tâm khi nói năng nghĩa là khi nói năng với người khác, bạn phải mang tâm nguyện “cầu chúc cho mọi người thoát khỏi những hiểm nguy, thoát khỏi những khổ đau về thể xác và tinh thần. Cầu chúc cho mọi người được bình yên trong nhiều kiếp sống”.Vì vậy, rãi từ tâm lên tất cả mọi người, mọi loài là thực hành tâm từ trên những hoạt động thuộc về tâm ý. Những thiện nam tín nữ mong muốn cho người khác được thịnh vượng, mong muốn cho người khác được cúng dường mọi thứ, mong muốn cho người khác có nhiều thức ăn ngon, mong muốn được giúp đỡ người khác trong công việc, mong muốn cho người khác được giàu sang… là những người có thực hành tâm từ trên những hoạt động thuộc về tâm ý.

 - Tâm từ đã trợ giúp 3 phạm hạnh thân, khẩu, ý như thế nào ?

 Những người có quan tâm đầy đủ đến 3 loại tâm Từ ( tâm từ trong thân, khẩu, ý) là những người giàu lòng trắc ẩn ( Karunà – compasion), hoan hỷ ( Muditā – sympathetic joy) và  thanh thản ( Upekkhā- Equanimity). Một người luôn có tâm từ trong tâm trí mình, mong muốn cho người khác được thịnh vượng, biết cảm thông và thương xót khi trông thấy những người nghèo khó và những người đang khổ đau bởi nhiều nguyên nhân, có ý muốn giúp đỡ những người bất hạnh đó thì anh ta là một người giàu lòng trắc ẩn. Khi nhìn thấy những người giàu có và hạnh phúc thì tâm của anh ta lại trử nên hoan hỷ. Khi trông thấy những người đang bị khổ đau thì anh ta cảm thấy không được vui và có ý muốn tìm cách giúp đỡ. Trạng thái cảm nhận này là một thứ cảm giác dẫn đến trạng thái thanh thản của tâm. Lòng trắc ẩn, tâm hoan hỷ và  thanh thản là 3 loại cảm giác phát khởi từ tâm từ.         

- Vun trồng tâm từ để gặt hái được trí tuệ có nghĩa là : Những người mong muốn có trí tuệ thông qua việc thực hành tâm từ phải chọn một nơi yên tĩnh, ngồi xuống với thế hoa sen ( còn gọi là thế ngồi kiết già), giữ đầu và lưng trên một đường thẳng. Thế ngồi này cho phép hành giả ngồi được lâu để thực hành việc rãi tâm từ. Đầu tiên là rãi tâm từ lên chính mình, sau đó rãi tâm từ lên nhiều người khác. Thứ tự của việc rãi tâm từ thường được thực hành như sau :

1. Chính bản thân mình

2. Thầy cô giáo, cha mẹ, người thân và bạn bè

3. Người mà mình không yêu không ghét ( tức người xa lạ)

4. Những kẻ thù

 -  Đầu tiên và trên hết là tập trung để phát triển tâm từ trong chính mình :

 “ Cầu chúc cho tôi thoát khỏi những hiểm nguy, những đau khổ về thể xác và tinh thần. Cầu chúc cho tôi có được một cuộc sống bình yên”. Đây là một cách thực hành rãi tâm từ. Tuy nhiên, bạn không thể gặt hái được trí tuệ bằng cách vun trồng tâm từ cho chính mình. Đây chỉ là giai đoạn khởi động của toàn bộ quá trình thực hành rãi tâm từ.

-  Sau đó, bạn hãy thực hành : “ Cầu chúc cho những người mà tôi yêu thương như thầy cô giáo, cha mẹ và người thân của tôi thoát khỏi những hiểm nguy, những đau khổ về vật chất và tinh thần. Cầu chúc cho họ có được một cuộc sống bình yên”.

- Kế tiếp là những người mà mình không yêu không ghét, có yêu thương nhưng không nhiều lắm hoặc người mình ghét bỏ : “ Cầu chúc cho họ thoát khỏi những hiểm nguy, những khổ đau về thể xác và tinh thần. Cầu chúc cho họ có được một cuộc sống bình yên”.

- Cuối cùng là : “ Cầu chúc cho những kẻ thù của tôi thoát khỏi những hiểm nguy, những khổ đau về thể chất và tinh thần. Cầu chúc cho họ có được một cuộc sống bình yên”.

 Tâm từ cần phải được rãi lên 4 nhóm người nói trên theo thứ tự tôn kính. Bạn cần phải vun trồng tâm từ cho đến khi đạt được trí tuệ, rồi tiếp tục vun trồng mãi mãi…Những người trí tuệ do có vun trồng tâm từ sẽ được hạnh phúc trên cõi thế gian. Lành thay !

Cuốn Pháp Như Ý tập 2 là cốt tuỷ được rút ra từ Tam Tạng Kinh Điển Pàlì và các Kinh Chú Giải ( Attakhatha Dhamma ). Bằng cách nghiên cứu, học tập và thực hành theo sách này, quí vị có thể đạt tới Niết Bàn một cách dễ dàng và nhanh chóng như đã mong muốn.Lành thay !

                           

                    Tập 2 của cuốn Pháp Như Ý kết thúc tại đây.

                     

                

                  Danh sách các thí chủ hùn phước để ấn tống

                cuốn Pháp Như Ý ( tập 2- bản tiếng Anh )   

 

      Úc Đại Lợi ( Australia )

1.  Grahame White

2.  Lynn Bousfield

3.  Wendy Francis

      Vương quốc Bỉ ( Belgium)

4.  Henry Vandergucht

5.  Marie Cecila Forget 

     

     Gia Nã Đại ( Canada)

6.  Daw Khema Nandi

7.    Pháp quốc ( France)

8.  Johannes Emmering

        Hương Cảng ( Hong Kong)

9.    George Lee

10.  Pauline Lee

        Ý Đại Lợi ( Italy)

11.  Paola Malacame

       Nhật Bản ( Japan )

12.  Kyoto Kogure

       Hàn quốc ( Korea )

13. Do Myung Sunim

14. Soung Sang Lyun Sunim

15. Cheong Hyun Sunim

16. Jang Ill

17. Jeong Woo

18. Bo Im

19. Gyung Gak

20. Hyu Sim

21. Um San

22. Park Sang Boo

23. Park Chang Jye

24. Park Hye Jeong

25. Park Dong Duk

26. Heo Cha Jo

27. Choi Chun Gil

28. Jung Chung Mo

29. Im Byung Gwan

30. An Byung Tae

31. Lee Jong Won

32. Kim Gyung Man

33. Kim Gae Um

34. Yum Hye Jung

35. Yun Yun Hyuk

36. Seul Hyung Jun

37. Kim Heon Gun

38. Choi Gan Tae

39. Lee Chul Hyung

40. Gang Won Duk

41. Dae Oyl

42. Lee Dae Won

43. Kim Youn Hwan

44. Bae Kae Young

45. Yu Young Jun

46. Lee Yun Ho

47. Jung Ju Yong

48. Kim Min Ho

49. Gwon O Soo

50. Yun Jun Nyuk

51. Young Chang Sik

      Mã Lai Á ( Malaisia)

52. Ashin Vilasa ( Low Chek Seng)

53. Tee Siew Hua

       Miến Điện ( Myanmar)

54. Tiến sĩ Than Than Nyein

55. Mg Mo Myat Aung

56. Daw Thein New

57. Tiến sĩ Thet Naing

58. Daw Thazin Nu

59. Daw Hla Than

60. Mg Hla Moe

61. U Aung Kyi

62. Daw Khin Khin Than

63. Daw Mya Mya Aye

64. Daw Aye Kyi

65. Daw Shu Po

66. Daw Tin Htwe

67. Daw Nyunt

68. Daw Than

69. Daw Myint Myint

70. Daw Nyunt Nyunt Wai

71. Daw Su Su

72. U Ngwe Tun

73. Daw Sein Myaing

74. U Myint Thein

 Cầu chúc cho tất cả thí chủ đã hùn phước xuất bản cuốn Pháp Như Ý tập 2 ( bản tiếng Anh) được hoan hỷ trong hành động hào phóng và xứng đáng của họ. Cầu chúc cho họ sẽ đạt tới Niết Bàn cao thượng và chấm dứt mọi khổ đau. Lành thay !                                                

 

 

Tác giả bài viết: Admin

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

top

Những tin cũ hơn

top