Pháp Như Ý (Tập 1)

Thứ hai - 10/02/2014 09:10
Pháp Như Ý (Tập 1)

Pháp Như Ý (Tập 1)

Pháp Như Ý (tập 1). Những đề mục thực hành thiền cao quí nhất của người Phật Tử theo phương pháp của Ngài Trưởng Lão Tăng Thống Mahāsī.

 

     Biên soạnNgài  Kundalābhivamsa  ( Trưởng Lão trung tâm thiền Saddhammaramsī) 

     Biên tậpHội đồng biên tập trung tâm thiền Saddhammaramsì

     Nguyên bản tiếng Miến Điện:   Dhamma Padetha

     Dịch sang tiếng AnhDaw Khin Hla Hla ( Kanbawza Myitzu )

      Xuất bản: Lt. Col Tin Aung Saddhammaramsi Sapei, Số 7 đường Zeiyakhemar, quận Mayangone,  Ngưỡng Quang – Miến Điện

      Dịch sang tiếng Việt từ bản tiếng AnhPhạm Xuân Quang

                                         Địa chỉ: 24 A / 257 Chi Lăng – Huế- Việt Nam

                                         Điện thoại (NR):     0542460293

                                         Điện thoại di động : 0948753810

                                         Thư điện tử: sachthienhaiau@yahoo.com.vn

     

                                                              

                                                            *  *  *  *  *

 

                                                 Lời Giới thiệu

   

Cuốn sách này là món quà Pháp bao gồm tuyển tập những bài viết của Ngài Saddhammaramsī đăng trên tạp chí nguyệt san Myatmingala. Quí độc giả không nên đọc nó như những bài báo mà nên đọc đi đọc lại nhiều lần để nghiên cứu và tu học. Cuốn Pháp Như Ý bao gồm 39 bài viết đã được tuyển chọn và xuất bản như một bộ sưu tầm, được chia làm 6 tập. Trong sách, chúng ta sẽ thấy xuất hiện những lời giáo huấn của Đức Phật trong Tam Tạng Kinh Điển ( Tipitaka)như5 bộ Kinh A Hàm, hàng chục ngàn pháp môn tu học …Bất luận một độc giả nào cũng có thể nghiên cứu, học tập để bổ túc kiến thức Phật học của mình một cách dễ dàng.

Một sự thật mà ai cũng biết, để hiểu rõ toàn bộ và nắm bắt chính xác ý nghĩa các bộ Kinh lớn của Phật Giáo là điều cực kỳ khó khăn.Tuy nhiên, Ngài Saddhammaramsīđã thông suốt hết Tam Tạng Kinh Điển.  Ngài đã trích dẫn rất nhiều chi tiết đáng ghi nhớ trong kho tàng những lời giáo huấn của Đức Phật để biên soạn cuốn sách này. Ngài Saddhammaramsī đã đặt tựa cho cuốn sách là Dhamma Padetha. Từ Padetha có nguồn gốc từ danh từ Kapparukkha trong tiếng Pāli, tiếng Việt Nam có nghĩa là Cây Như Ý ( Wishing tree). Ngày xưa, cây Như Ý mọc trên đất và thường mang lại nhiều điều vui thích như ý muốn cho những ai sanh ra có phẩm hạnh xứng đáng. Người ta có thể đến bên cây để ao ước, cây thường ban cho họ áo quần và thức ăn. Tương tự như vậy, những người đọc sách này có thể gặt hái được những điều cốt tuỷ của Phật Giáo đúng như ý muốn của họ. Thật đúng như vậy, khi đã có được những gì mình mong ước từ cuốn Pháp Như Ý, quí độc giả có thể tự rút ra được những điều cốt tuỷ của Tam Tạng Kinh Điển từ bài thuyết Pháp đa dạng này - món quà vô giá đã được tuyển chọn từ những lời giáo huấn của Đức Phật. Những điều cốt tuỷ mà bạn có thể rút ra được từ cuốn sách này là :

 1. Từ những chú giải Pāli văn nói về cách thực hành Phật Pháp, bạn sẽ rút ra được những hướng dẫn sắc bén để áp dụng vào các hoạt động trong đời sống thế gian như : Ăn, mặc, chỗ ở, giao tiếp xã hội …

 2. Ở phạm trù xuất thế gian , cũng từ những chú giải Pāli văn nói về cách thực hành Phật Pháp đã được trích dẫn trong sách như : Vấn đề giữ gìn Giới luật, hiểu biết, trí tuệ, hành động thiện lành và xứng đáng… Bạn sẽ hiểu được đó là những điều quí báu nhất mà ai cũng nên chú ý quan tâm, đồng thời cần phải thực hành chúng một cách chắc chắn và thông suốt trong đời sống hàng ngày. Không có ai có thể chống lại hay phá huỷ được những điều cao quí này. Với mục đích đáp ứng cho những ai mong muốn rút ra được cốt tủy trong Tam Tạng Kinh Điển . Chúng tôi trân trọng chuyển đến quí độc giả những trang chú giải Pālì văn nói về cách thực hành Phật Pháp rất dễ hiểu. Những chú giải cao quí này đã được Ngài Saddhammaransī đăng trên tập chí nguyệt san Myatmingala như đã nói ở trên.

Sau đó, chúng tôi đã biên soạn những chú giải này thành cuốn Pháp Như Ý mà bạn đang cầm trên tay. Cầu chúc cho tất cả quí vị thiện nam tín nữ là độc giả, nhà nghiên cứu, nhà truyền giáo…Khi đọc hết và thực hành đúng theo sách này sẽ gặt hái được nhiều lợi ích như ý trong cõi thế gian và cõi xuất thế gian.

                                   

                                       Pháp sư U Ukkansa – Thiền viện Gandharum

                                      Kyaik, Thamaing – Ngưỡng Quang – Miến Điện                         

                                                                                                                                                

 Ghi chú của dịch giả bản tiếng Anh( Kanbawza Myitzu )

Cuốn Pháp Như Ý được dịch sang tiếng Anh là hoàn toàn nhờ vào ân đức vô lượng của Ngài Saddhammmaramsī. Nếu bản tiếng Anh của sách này không nhờ vào những lời bình luận và hiệu chỉnh của hội đồng biên tập trung tâm thiền Saddhammaramsì thì có lẽ nó đã kém hơn rất nhiều. Một điều chắn chắc là bản tiếng Anh của cuốn Pháp Như Ý còn lâu mới được hoàn mỹ trong cách lựa chọn, xử dụng từ vựng và hệ thống cú pháp. Cách đánh vần một số từ ngữ Pāli cũng có thể chưa được chính xác. Vì vậy, thành thật kính mong quí độc giả vì lòng khoan dung mà lượng tình tha thứ cho những lỗi lầm thiếu sót.Cuối cùng, người dịch một lần nữa kính mong quí độc giả hãy kiên nhẫn trong quá trình đọc sách này, cố gắng lãnh hội Giáo Pháp của Đức Phật và gặt hái được nhiều lợi ích.

Ghi chú của người dịch bản tiếng Việt  (  Phạm Xuân Quang )

 Pháp Như Ý- Dhamma Padethalà một cuốn cẩm nang hướng dẫn về Pháp Học ( Pariyatti) lẫn Pháp Hành ( Patipatti) trong Phật Giáo Nguyên Thủy

( Theravāda) . Kể từ người sơ cơ cho đến những người đã thâm niên trong Phật Pháp, bất cứ ai cũng có thể học tập và thực hành theo sách này. Thậm chí, có thể xử dụng nó làm sách gối đầu. Nội dung của sách được trình bày theo một văn phong tuy giản dị nhưng giàu hình tượng, chắc chắn, rõ ràng, dễ hiểu và đại chúng. Cách đặt vấn đề của tác giả rất mạch lạc, súc tích, nhất quán, mang tính luận lý và khoa học cao. Những câu chuyện minh họa trong sách vừa có tính văn học và triết lý cao siêu nhưng không xa rời thực tế, đồng thời chứa đựng nhiều sự kiện lịch sử có thật trong quá trình phát triển lâu dài của Phật Giáo. Sách cũng cung cấp cho người đọc nhiều thuật ngữ chuyên ngành Phật học, nhiều địa danh có liên quan mật thiết với Phật Giáo từ thời xa xưa cho đến ngày nay, cách thức tổ chức những ngày lễ lớn của Phật Giáo, các phong tục tập quán tại nhiều quốc gia theo Phật Giáo Nguyên Thủy, lịch pháp và cách tính thời gian, các đơn vị đo đạc… Những đề tài được trình bày trong sách thì cực kỳ phong phú, đa dạng, mang tính Kinh Điển và cốt tủy. Đặc biệt, phương pháp thực hành thiền minh sát độc đáo của Ngài Mahāsī đã được tác giả trình bày lại một cách khách quan, tinh tế và sống động, thích hợp với nhiều căn cơ khác nhau của từng người. Một điều kỳ diệu khác mà cuốn sách này có thể mang lại cho chúng ta là : Sau khi đã đọc nó, bạn sẽ nhận thấy niềm tin và nghị lực của bản thân gia tăng rõ rệt. Điều này có thể khiến cho bạn thay đổi quan niệm sống, nâng cao nhận thức, cải thiện được nhiều ý tưởng tiêu cực thường hay khởi lên trong tâm thức. Chắc chắn bạn đọc sẽ phát tâm hoan hỷ, bi mẫn và cảm thông với đồng loại đang ngụp lặn trong biển khổ luân hồi. Tinh thần chủ đạo của sách đã chỉ ra rằng, về phương diện nội tâm, chúng ta không nên chủ trương chống lại cái ác theo nghĩa tiêu cực, sân hận và căm thù… bởi vì nếu làm như vậy cũng chính là ác rồi. Chúng ta chỉ cần nhận thức được bản chất của nó, đi xuyên qua nó một cách bình tĩnh, thăng bằng, khéo léo và nhẫn nại. Chúng ta cũng không tìm cầu cái thiện một cách mù quáng và sáo rỗng, không bám víu chấp chặt vào cái thiện và cho rằng nó chính là cứu cánh của đời sống, bởi vì thiện cũng chỉ là một khái niệm chứ chưa phải là chân lý cùng tột. Chúng ta chỉ nên học tập và thực hành Phật Pháp để hóa giải cái ác một cách tự nhiên. Sau đó, Chân, Thiện, Mỹ tất yếu phải hiện ra. Theo chủ trương của thiền, cái thiện cũng chỉ là một phương tiện dẫn đến giải thoát, chứ không phải là mục đích cuối cùng của những tín đồ Phật Giáo. Nói theo nghĩa tuyệt đối, khái niệm thiện hay ác chỉ là phản đề của nhau và cuối cùng sẽ dẫn đến chỗ tan hoại, bởi vì chúng tùy thuộc vào nghiệp, quan niệm và khả năng nhận thức của từng người khác nhau…. Tuy nhiên theo nghĩa tương đối,  tác động cũng như hình thức biểu hiện của thiện và ác thì có sự khác biệt. Những khái niệm này đều phát xuất từ sự nhận thức lầm lạc của chúng ta về các sự vật và hiện tượng. Mục đích cao nhất đối với người Phật tử chính là Niết Bàn, chứ không phải là cõi trời hay một nơi nào khác. Như vậy, thật ra Niết Bàn là cái gì ? Theo Ngài Mahāsī, Niết-Bàn không phải là một nơi chốn mang tính không gian và thời gian. Nó có thể tạm gọi là một cảnh giới hay một trạng thái mà ngôn ngữ không thể diễn tả nổi. Nói cách khác, Niết-Bàn là một trạng thái hạnh phúc vĩnh cửu mà trong đó, những thứ ô nhiễm như tham, sân, si đã bị tận diệt. Thật ra, không có bất cứ một phương tiện nào có thể diễn tả nổi Niết-Bàn là gì. Với tinh thần đó, cầu chúc cho quí độc giả sẽ phát tâm hoan hỷ, học tập và thực hành theo Phật Pháp trong đời sống hàng ngày để nhanh chóng đạt tới Niết Bàn, một khi đã khởi tâm chấp nhận cuốn Pháp Như Ý. Dịch phẩm này chắc chắn sẽ không tránh khỏi những chỗ lầm lạc và ngộ nhận. Những thiếu sót đó có thể phát xuất từ kiến thức và kinh nghiệm thực hành còn yếu kém của người dịch, chứ không phải là sự cố ý làm sai lạc những lời giáo huấn vàng ngọc của Đức Phật. Kính mong quí độc giả lượng tình tha thứ và bỏ qua cho. Nếu có thể được, người dịch luôn luôn phát tâm hoan hỷ đón nhận các lời góp ý, chỉ giáo của các Bậc Trưởng Thượng, những bậc thầy uyên thâm về Phật Pháp, các nhà thiện tri thức và bất cứ ai có tâm cao thượng mong muốn cho cuốn Pháp Như Ý ( bản tiếng Việt) ngày càng được hoàn thiện hơn. Lành thay !

                                                     Mùa dâng Y Kathina – 2011 ( PL. 2555

                                                                       Phạm Xuân Quang                   

            

                                      Mục lục                                                                                                                                                                                                     

 

 1. Niềm tin cao thượng tựa như bàn tay                                  Trang                                                   

 2. Loại bỏ lớp vỏ che phủ bên ngoài để nắm lấy cốt tuỷ         Trang                       

 3. Điều có thể tin tưởng ở người phụ nữ                                   Trang                     

 4. Gương tốt và xấu                                                                                                                                                                               

 5. Hãy để cho thân xác đau khổ, đừng để tâm đến nó                                         

 6. Tuổi thọ của con người                                                                                                                                                            

 7. Nếu bạn muốn bình yên thì hãy vào trú ngụ trong một Yeiktha                

 8. Hãy làm những người con xứng đáng                                                                  

 9. Lời nói bóng gió của Đức Phật                                                                              

10. Ba cách thức quan sát cảm thọ                                                                           

11. Bốn kiểu người mộ đạo                                                                                        

12. Không xa cách trong hiện tại và hẹn gặp lại ở tương lai                               

13. Không thể đền đáp trong 100 năm                                                                      

14. Năm lợi ích của bố thí                                                                                                                                                            

16. Tích luỹ và chia xẻ phước báu                                                                             

17. Ăn đúng cách sẽ mang lại phước báu                                                                  

18. Sẽ được nhiều hạnh phúc nếu không sai lầm                                                     

19. Gìn giữ của cải một cách đúng đắn sẽ hạnh phúc và thịnh vượng                  

20. Thể hiện sự cung kính có lợi cho cả hai phía                                                      

21. Phải thực hành thiền minh sát                                                                              

22.Vượt qua cảm thọ để gặt hái kinh nghiệm nội quán                           

23. Lựa chọn một trung tâm thiền để lãnh hội được Giáo Pháp                             

24. Giới luật nghiêm ngặt là nhằm để gặt hái được lợi ích                                       

25. Sự tôn kính nhìn từ 2 phía                                                                                     

26. Những lời nói đúng với sự thật : Tốt và xấu                                                                                         

27. Bốn cách sống đúng đắn để đạt tới những cảnh giới tốt đẹp                                                          

28. Bốn cơ hội tốt để thực hành Giáo Pháp                                                               

29. Những cách thức nhanh chóng và chậm rãi cần phải thực hiện                       

30. Nhổ bật gốc của bất thiện vì nó là cây độc                                            

31. Lễ Dâng Y cao thượng – Một năm một lần                                                           

32. Hãy làm cho niềm tin luôn luôn vững chắc                                                           

33. Phương pháp thực hành đúng đắn để đạt tới Niết Bàn                                        

34.  Hãy thực hiện thêm những giới luật phụ                                                               

35. Chú tâm để gặt hái phước báu                                                                                 

36.  Hạnh phúc vì có 4 khả năng nhìn xa thấy trước                                                   

37. Loại bỏ những thứ ô nhiễm, hạnh phúc sẽ theo sau                

38. Bảy phẩm cách của một người đạo đức                                                                  

39. Sáu loại bố thí                                                                                                           

    - Kết thúc                                                                                                                   

    - Danh mục thí chủ hùn phước để ấn tống sách ( bản tiếng Anh)

             

                    Niềm tin cao thượng tựa như bàn tay                 

 

 Những người Phật tử có niềm tin ( Saddhā) khác nhau khi họ thực hiện những phẩm hạnh xứng đáng. Một người nào đó sẽ được xứng đáng khi người này có đầy đủ niềm tin. Saddhā ( Niềm tin - faith ) là một từ Pāli có nghĩa rất rộng và sâu. Saddhā là một khái niệm căn bản tốt đẹp nhất dành cho những người Phật tử có lòng mong muốn đạt tới cõi bất sanh bất diệt ( tức Niết Bàn- Nibbāna / Tiếng Anh là Nirvana ). Một hành động đáng khen chỉ có thể được trọn vẹn khi hành động ấy được thực hiện với một “ Saddhā”. Từ “Saddhā” được dịch là niềm tin hay đức tin , hoặc dịch là sự tin tưởng khi nó đứng riêng một mình trong câu văn. Trong ngôn ngữ Miến Điện, từ này là sự phối hợp của 2 từ mang ý nghĩa tin tưởngsáng suốt.  Có 5 loại niềm tin :

 1. Niềm tin vào Đức Phật ( Buddha- tiếng Anh cũng gọi là Buddha).

 2. Niềm tin vào Phật Pháp ( Dhamma -  Buddha ‘s teachings ).

 3. Niềm tin vào Tăng Già ( Sangha- tiếng Anh cũng gọi là Sangha hoặc là Buddhist monastic community).

 4. Niềm tin vào nghiệp ( Kamma- tiếng Anh gọi là Karma)

 5. Niềm tin vào nghiệp quả haytác động của nghiệp ( Vipāka -  Tiếng Anh là Effective Action)

Niềm tin hay sự tin tưởng

Đức Phật là người mà chúng ta hoàn toàn tôn kính với một lối nhận thức thiêng liêng (Arahatta Magga - Realizing the path of holiness) và rõ ràng ở nội tâm. Điều này sẽ khiến chúng ta có thể buông bỏ được tất cả những thứ xấu xa tội lỗi. Đức Phật là người đã hoàn toàn tự do đến tận gốc rễ của thân tâm. Ngài đã buông bỏ hết những thứ ô nhiễm như tính tham lam ( lobha - Greed), sân hận ( Dosa - Anger) và vọng tưởng ( tức vô minh, nghĩ tưởng đến những điều hão huyền không có thật - Moha - Delusion).  Đức Phật là Bậc Toàn Giác (  Sammā –Sambuddhassa, tức bậc thông suốt mọi sự -  The noble person who thorougly understanding in everything ). Ngài là người tự mình biết rõ mọi sự mà không cần có người khác giúp đỡ hay chỉ dạy. Chúng ta tin vào những phẩm chất kỳ diệu đó của Đức Phật. Chúng ta tin rằng Giáo Pháp mà mình đang thực hành phát xuất từ năng lực quan sát nội tâm với nền tảng là 5 Giới đã được truyền bá bởi chính Đức Phật. Chúng ta tin rằng nếu thực hành thiền minh sát thì chúng ta sẽ buông bỏ được tất cả những nổi khổ đau và đạt tới Niết Bàn. Chúng ta tin rằng Tăng Già mà chúng ta tôn kính là những người thực hành Phật Pháp đúng theo lời chỉ dạy của Đức Phật nhằm mục đích đạt tới Niết Bàn. Họ đang thực hành Phật Pháp vì lợi ích của những người thế tục. Họ là những người có thể thực hiện những phẩm hạnh xứng đáng và những hành động của họ là cao thượng. Chúng ta tin rằng bố thí ( Dāna – Charity ), những hành động thiện lành ( Kusala kamma -  Wholesome actions) mà chúng ta đang làm và sự giữ gìn 5 Giới luật ( Sīla - Bao gồm không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu và xử dụng các chất say) là những việc làm có ích cho tâm . Tuy nhiên, khi làm những việc đó chúng ta không thể nhìn thấy các hiện tượng xảy ra bằng mắt hay sờ mó được chúng, nhưng thật ra chúng vẫn đang mang lại lợi ích cho chúng ta. Do thực hiện những hành động tốt lành, chúng ta sẽ gặt hái được những lợi ích như : Cải thiện được cuộc sống của chính mình thông qua phong cách sống, tránh được những tai họa làm thiệt hại đến bản thân. Chúng ta tin rằng khi thực hiện những hành động tốt lành thì trình độ nhận thức của chúng ta sẽ được nâng cao và tích luỹ thêm được nhiều lợi ích cho đời sống mai hậu của chính mình. Chúng ta cũng tin rằng sát sanh, trộm cắp sẽ mang lại nghiệp quả xấu ( Akusala Kamma - Bad result ). Những nghiệp quả xấu không thể nhìn thấy bằng mắt thường, chúng hiện hữu như những chiếc bóng và sẽ mang lại tác động xấu ( Akusala vipāka - Bad effect) khi có cơ hội. Nghiệp quả xấu có thể xảy ra ngay trong kiếp sống này hoặc có thể là trong những kiếp sống mai hậu.

Trạng thái minh bạch hay sáng suốt

 Khi “ Saddhā” khởi lên trong tâm của bạn  thì những thứ làm cho tâm của bạn bị ô nhiễm như tính tham lam, sân hận, vọng tưởng, ngã mạn, kiêu căng tự phụ, ghen tị, bất đắc chí… sẽ bị loại bỏ. Nhờ đó, tâm của bạn sẽ trở nên sáng suốt. Vì “Saddhā ” có thể làm cho tâm của bạn trở nên sáng suốt nên chúng ta gọi nó là trạng thái minh bạch . Có thể ví  “ Saddhā” giống như viên hồng ngọc của những quốc vương ( Cakkavatī– Monarch ) ngày xưa trị vì cả bốn cõi trời. Khi những vị quốc vương ở bốn cõi trời ( Tứ Đại Thiên Vương – Cātummahārajikas - The four great monarch ‘s continents ) đi dạo quanh vũ trụ, thỉnh thoảng có những bông hoa không hưởng được nước sạch. Mỗi khi việc đó xảy ra, viên hồng ngọc được các vị này đặt vào một cái chén đầy nước bẩn và ngay lập tức chất bẩn trong nước sẽ lắng xuống đáy, nước trở nên trong sạch và có thể uống được. Cũng giống như vậy, khi một người đã có “ Saddhā” thì tính tham lam, sân hận, vọng tưởng, ngã mạn hay tự cao tự đại ( Mana - Pride), ghen tị ( Issa - Jealousy ), bủn xỉn hay xan tham ( Macchariya -  Stinginess) là những thứ tựa như bụi bẩn và bùn sẽ biến mất khỏi người đó. Tâm của người đó sẽ trở nên tinh khiết, những điều tốt lành sẽ đến liền sau trạng thái tinh khiết hoá tâm thức này. Khi tâm của bạn được sạch sẽ và minh bạch thì cách cư xử của bạn cũng trở nên có trí tuệ và năng động. Nét mặt của bạn cũng trở nên sáng sủa, tỉnh táo và dễ nhìn. Một người có tâm minh bạch khi làm thí chủ đang dâng cúng lên Chư Tăng hay Đức Phật cái gì đó thì nét mặt, cử chỉ của người này cũng trở nên mạnh mẽ, lịch sự, tự nhiên và thanh thoát. 

Chúng ta có được tâm sáng suốt hay minh bạch là vì có niềm tin

  Mặc dù từ “ Saddhā” đã có nguồn gốc từ 2 từ “ tin tưởng” và “ sáng suốt”.

Tuy nhiên, nó còn có nghĩa là “ kết hợp”, “ cọng tác” “liên hợp”, hay “liên đới” … Bạn có được tâm sáng suốt hay minh bạch là vì bạn có niềm tin. Những người thờ phụng, tôn kính Đức Phật phải có niềm tin trong chính họ và trong phẩm chất tuyệt hảo của họ. Vì vậy, tâm của họ trở nên tinh khiết. Những người thờ phụng, tôn kính Phật Pháp hay những lời chỉ dạy của Đức Phật phải tin rằng điều đó sẽ giúp họ tiêu trừ được khổ đau. Vì vậy, tâm của họ trở nên sáng suốt hay minh bạch. Những người thờ phụng và tôn kính Tăng Già cũng phải tin vào phẩm chất cao quí của  Tăng Già. Nhờ đó, tâm của những người này sẽ trở nên tinh khiết. Vì vậy, trạng thái tin tưởngsáng suốt của tâm cũng gọi là sự “ kết hợp”, “ cọng tác”, “ liên hợp” hay “ liên đới”. Những người nào quan tâm đến những phẩm chất cao quí của Đức Phật và Giáo Pháp của Ngài, thực hành thiền minh sát, quan tâm đến những phẩm chất tốt đẹp của Tăng Già thì tâm của họ sẽ trở nên tinh khiết và minh bạch.

 Hoài nghi làm nên trạng thái ô nhiễm

 Thỉnh thoảng, những điều xấu xa thuộc về con người giống như những tên cướp khởi lên trong tâm của bạn và lấy đi sự bình yên. Lúc đó, tâm của bạn cực kỳ bối rối. Những tên cướp đó sẽ phá huỷ được cái gì, cướp được cái gì và sẽ mang đi được cái gì ? Bằng cách nào tôi có thể thoát khỏi những con người xấu xa đó ? Có thể bạn đã lo lắng và không thanh thản được bởi vì lúc đó, bạn không có một niềm tin ( Saddhā). Bạn đã bị dính mắc vào những điều xấu xa đó.Vì vậy, khi tâm của chúng ta thiếu vắng một niềm tin thì nó sẽ không được minh bạch.

Niềm tin cao thượng tựa như bàn tay

 Bàn tay giúp bạn làm những công việc mà mình mong muốn . Tương tự như vậy, niềm tin có thể thực hiện những công việc tốt lành, giúp bạn gặt hái được những phẩm hạnh xứng đáng ( Kusaladhamma, tức phước báu - tiếng Anh là Merit). Bàn tay là bộ phận quan trọng và hữu dụng nhất cho những hoạt động về thân thể của chúng ta. Nó làm vệ sinh cho thân thể và làm cho thân thể được chỉnh tề, bảnh bao. Nó giúp cho bạn cầm nắm các đồ vật không có giá trị gì, đồ vật có giá trị vừa hoặc những đồ vật có giá trị cao như : Kim cương, vàng và nhiều loại ngọc quí khác. Khi mong muốn có được một cái gì đó, bạn phải cầm nó bằng bàn tay. Tương tự như vậy, một người có niềm tin khi dâng của bố thí sẽ không bao giờ bị nghèo và cơ cực trong mọi kiếp sống. Người ấy sẽ có được một đời sống vật chất đầy đủ, có khả năng thực hiện những công việc đáng khen ngợi trong trạng thái tâm thanh thản và nhẹ nhàng. Nhờ đó, người này sẽ gặt hái được phước báu. Những người có niềm tin sẽ giữ gìn Giới luật ( Sīla – Precepts) một cách vững chãi. Vì vậy họ sẽ sống lâu, sức khoẻ tốt, ít bị bệnh tật, diện mạo dễ nhìn, tinh thần và thể xác được an lạc, năng lực tập trung tâm ý được nâng cao, quyết định điều gì cũng nhanh chóng, dứt khoát và chính xác. Vì vậy, họ có thể thực hiện những hành động phước thiện trong trạng thái tâm thanh thản và nhẹ nhàng. Vì có niềm tin và vững chãi trong việc giữ gìn Giới luật, bạn có thể gặt hái được phước báu một cách nhanh chóng. Có nhiều người thực hành thiền định hay thiền chỉ ( Samātha Bhāvanā- Tranquil Meditation) và thiền tuệ hay thiền quán ( tức thiền minh sát, Vipassanà Bhāvanā–  Insight Meditation ) một cách tích cực, đầy đủ và tin rằng những sự thực hành đó có thể giúp họ đạt tới Niết Bàn. Vì vậy, họ đã cố gắng nổ lực thực hành thiền nhiều hơn nữa và đã gặt hái được những phước báu một cách nhanh chóng. Do đó, có thể ví niềm tin cao thượng tựa như bàn tay.

Tóm tắt: Niềm tin cao thượng tựa như bàn  tay.

  

       Loại bỏ lớp vỏ bao phủ bên ngoài để nắm lấy cốt tủy

 

 Những người thực hành thiền mà không làm tròn bổn phận ( Pāramī- hạnh Ba-la-mật hay sự làm tròn bổn phận /  Fulfill duty) hay không chín chắn thường cảm thấy sung sướng và thỏa mãn với những khách thể ( Object - đối tượng không phải là mình, còn gọi là đối tượng nhận thức) mà họ cho là quí báu. Trong khi đó, họ chưa thấy được bản chất của những khách thể ấy. Những khách thể sau đây mà từ trong bản chất chúng chẳng có giá trị gì cả :

  1. Sở hữu tài sản vật chất vượt mức cần thiết

  2. Thân thể vật chất

  3.  Sự sống ( vô vị và không có mục đích đúng đắn)

                                                      ( Túc sanh truyện - Jātakattha 4/7 )

 Khi rút ra được cốt tủy của một cái gì tức là đã thấy được ( đúng hơn là nhận thức được qua trực giác) bản chất của cái đó. Khi thấy được bản chất của một cái gì thì sự thấy đó chính là điều quí báu mà chúng ta cần tìm.

Thế nào gọi là “ Nghĩ nó là cốt tủy” hay “ Nghĩ nó là quí báu”

 1. Những người thực hành thiền không chín chắn hay không làm tròn bổn phận của mình thường nghĩ rằng vàng và kim cương của họ, nhà cửa và tài sản riêng của họ là những thứ đáng tin cậy. Họ nghĩ rằng chỉ có những thứ đó là có thể cho phép họ làm tròn bổn phận của đời mình.

  2. Những người thực hành thiền không chín chắn thường nghĩ rằng khi những sự rủi ro, tai nạn xảy đến với thân thể vật chất thì họ có thể đem sự giàu có của mình ra tiêu xài để giải quyết sự việc, bởi vì thân thể vật chất của họ phải được bảo toàn. Họ nghĩ rằng thân thể vật chất quí báu hơn sự giàu có nhiều lần.

  3. Những người thực hành thiền không làm tròn bổn phận của mình cũng thường nghĩ rằng khi mạng sống của họ bị đe dọa, họ sẵn sàng cắt bỏ những bộ phận đã bị hư hoại trong cơ thể vật chất của mình và vất đi, bởi vì mạng sống của họ phải được bảo toàn. Họ nghĩ rằng mạng sống của chính họ quí báu hơn sự giàu có và thân thể vật chất nhiều lần.

 

 

 

Thế nào gọi là “ Không nghĩ nó là cốt tủy” hay “ không nghĩ nó là quí báu”

 Những người tích luỹ các hạnh Ba-La-Mật ( Pāramī– Perfection) hay làm tròn bổn phận như Đức Phật chẳng hạn sẽ nhìn các sự vật và hiện tượng trong cuộc sống theo cách như sau :

 1. Sự giàu có về vật chất có thể bị phá huỷ bởi lụt lội và bão tố, bởi hoả hoạn, bởi những người cầm quyền xấu xa, bởi trộm cướp và những người thừa kế không xứng đáng. Sự sở hữu vật chất quá mức cần thiết chẳng có giá trị gì cả, bởi vì vật chất là thứ không bền vững mà chỉ là một lớp vỏ che phủ bên ngoài, không phải là cốt tủy.

 2. Thân thể vật chất của tôi đầy những bệnh tật và nó có thể bị phá huỷ bởi những loại vũ khí như gươm, giáo… bất cứ lúc nào. Mặc dù tôi có thể mạnh khỏe trong ngày hôm nay, trong tháng này, năm này nhưng tôi cũng có thể bị ốm liệt giường trong ngày mai, trong tháng tới, năm tới. Đó là lý do tại sao thân thể vật chất của tôi không phải là cốt tủy. Nó chỉ là một lớp vỏ che phủ bên ngoài.

 3.Tiến trình tự nhiên của các hiện tượng trong thân thể vật chất và tâm trí của tôi khởi lên và tan biến đi trong từng khoảnh khắc.Tiến trình luôn luôn thay đổi này đang đè nặng lên tôi. Do đó, toàn bộ cuộc sống của tôi có thể bị phá huỷ bất cứ lúc nào. Đó là lý do tại sao sự sống vô vị và không có mục đích đúng đắn không có gì gọi là quí báu. Nó chỉ là một lớp vỏ che phủ bên ngoài, không phải là cốt tủy.

Nắm lấy cốt tủy từ lớp vỏ che phủ bên ngoài

 Những người tích luỹ các hạnh Ba-La-Mật hay làm tròn bổn phận như Đức Phật sẽ nắm được 3 loại cốt tủy từ những khách thể không có gì gọi là quí báu :

 1. Sự giàu có về vật chất không có gì gọi là quí báu. Những người tích lũy các hạnh Ba-La-Mật sẽ đem sự giàu có của mình ra bố thí và gặt hái phước báu. Đó là nắm lấy cốt tủy. Sau khi cho đi hoặc bố thí tài sản riêng, phước báu mà những người bố thí đã gặt hái được không thể thấy bằng mắt thường. Nó vô hình và vì vậy nó không thể bị phá hủy bởi 5 loại kẻ thù như đã nói ở trên. Phước báu đã gặt hái được có khả năng mang lại tác động tốt cho một chuỗi sống kế tiếp dẫn đến Niết Bàn của những người thực hành bố thí. Thân tâm của họ sẽ được yên ổn.

 2. Người thực hành thiền cũng cần phải rút ra được cốt tủy của thân thể vật chất thông qua việc giữ gìn Giới luật một cách vững chãi. Thân thể vật chất có thể bị 96 loại bệnh nội tại ( bệnh phát xuất từ bên trong thân thể mà ra ). Thân thể vật chất cũng có thể bị phá huỷ bởi những thứ từ bên ngoài vào như thuốc độc và các loại vũ khí gây hại. Để giảm bớt những điều có hại vừa nêu trên, bạn có thể thực hành theo những cách sau :

 - Tôn kính những người có giữ gìn Giới luật vững chãi, tôn kính người già, tôn kính 3 loại ngọc quí còn gọi là Tam Bảo- Tiratanā ( tức Phật, Pháp, Tăng), tôn kính những vị thầy dạy mình, tôn kính cha mẹ và chăm sóc cha mẹ khi họ đã già yếu, giữ gìn 5 Giới luật (Pañca Sīla - bao gồm không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu và xử dụng các chất say), giữ gìn 8 Giới luật ( bao gồm 5 Giới luật vừa nói cọng với Giới thứ 6 là không múa hát đàn ca, không trang điểm đẹp đẽ và dùng các loại dầu thơm. Giới thứ 7 là không nằm ngồi chỗ cao sang đẹp đẽ. Giới thứ 8 là không ăn sái giờ, tức không ăn sau giờ ngọ -  Giờ ngọ bắt đầu từ 11giờ trưa đến 1 giờ chiều ), giữ 9 Giới luật ( bao gồm 8 Giới và Giới thứ 9 là không được nói xúc phạm, chế nhạo hay ác tâm đối với các Bậc Cao Thượng đã đạt tới trạng thái giác ngộ). Phước báu đã gặt hái được do việc giữ Giới vững chãi sẽ mang lại những phúc lành cho người thực hành những Giới ấy. Giữ Giới vững chãi cũng làm cho người ta được yên ổn thân tâm trong những chuỗi sống kế tiếp, cho đến khi đạt tới Niết Bàn.Vì vậy, người giữ Giới vững chãi đã rút ra được cốt tủy từ thân thể vật chất của mình.

Tóm tắtCốt tuỷ rút ra được từ thân thể vật chất là khả năng giữ Giới một cách vững chãi.

 3. Khi bạn đang sống trong cuộc đời huyễn hóa ( Māyā - Deluding ) và tạm bợ này, phước báu gặt hái được từ việc thực hành thiền minh sát chính là cốt tủy. Khi đang còn sống trong Giáo Pháp của Đức Phật, phước báu mà bạn gặt hái được từ việc thực hành thiền minh sát chính là sự bình yên nhất. Phước báu này khi gặp được hoàn cảnh thuận lợi thì nó sẽ làm cho cánh cửa của địa ngục với những trạng thái thống khổ phiền muộn ( Apāya - Woeful states) khép lại và giúp bạn đạt tới Niết Bàn. Đó là cốt tủy quan trọng nhất. Vì vậy, bạn nên thực hành thiền minh sát. Từ trong cuộc đời huyễn hoá và tạm bợ này, chúng ta nhất định phải rút ra được cốt tuỷ của thiền minh sát.

Tóm tắt: Từ trong cuộc đời huyễn hoá tạm bợ này chúng ta nhất định phải rút ra được cốt tủy của thiền minh sát.

 

                            Điều có thể tin được ở người phụ nữ

   

 Bởi vì phái nữ thường mang đặc tính dịu dàng và mỏng manh trên mọi phương diện. Vì vậy, họ thường nghĩ rằng bản thân mình là phái yếu, không có sức mạnh và năng lực. Điều đó không đúng. Thật ra, phái nữ vẫn có các kỹ năng, sức mạnh và năng lực. Những sức mạnh của họ là :

 1. Hình thể ( Rūpabalam - Conformation) – Hình thể xinh đẹp là sức mạnh của phái nữ. Vì vậy họ thường cố gắng chăm sóc và làm đẹp cho bản thân.

 2. Năng lực tìm kiếm của cải ( Bhogabalam - searching for wealth ability) – Bản tính mềm mại trôi chảy là một sức mạnh của nữ giới. Vì vậy, họ thường dễ kiếm được tiền của và biết cách cất giữ hơn nam giới.

 3. Cha mẹ và người thân ( Natibalam – Parents and relation) – Cha mẹ và người thân là sức mạnh của nữ giới. Đó là lý do tại sao họ thường có cuộc sống thân thiện với cha mẹ và người thân hơn nam giới.

 4. Con cái ( Puttabalam – Childrens) – Con cái là sức mạnh của nữ giới. Vì vậy, họ thường có ưu thế nuôi nấng con cái hơn nam giới.

 5. Năng lực giữ Giới ( Sīlabalam – keep the commandment ‘s ability  )- Khả năng giữ gìn Giới luật bẩm sinh của phái nữ tốt hơn nam giới. Đây cũng là một sức mạnh của họ. Nữ giới ít có nhu cầu hưởng thụ các lạc thú trần tục nên họ thường tránh được các chất độc hại, ít sát sanh, ít trộm cắp, ít có các hành vi sinh lý không đứng đắn và ít nói dối. Vì vậy, họ dễ dàng giữ Giới trong sạch hơn nam giới.

Năm phẩm chất trên là sức mạnh sở trường của một người phụ nữ đức hạnh.

Khi phái nữ đóng vai trò là vợ trong một gia đình và hoàn thiện được 5 phẩm chất mạnh mẽ này, họ sẽ có khả năng điều hành, trông nom gia đình một cách vững vàng, chu đáo và tạo ra được một môi trường hạnh phúc cho mái ấm của họ. Họ sẽ gặt hái được sự kính trọng của toàn thể thành viên trong gia đình của mình.Tuy nhiên, 5 phẩm chất sở trường của nữ giới nói trên không phải là sức mạnh chiếm ưu thế trong những kiếp sống mai hậu của chính họ. Chúng chỉ có giá trị trong kiếp sống hiện tại. Những người phụ nữ giữ Giới vững chãi chỉ gặt hái được 5 lợi ích trong kiếp sống hiện tại. Năm lợi ích đó là :

 1. Có thể kiếm được của cải một cách dễ dàng và có một đời sống vật chất đầy đủ.

 2. Có được tiếng tốt và được nhiều người biết đến

 3. Có một cuộc sống dễ chịu, gặp được nhiều điều may mắn và thú vị.

 4. Khi sắp qua đời sẽ thấy được những dấu hiệu tốt và được chết một cách thanh thản.

 5. Khi tái sanh được sinh lên cõi trời.

 Đó là 5 lợi ích mà người phụ nữ có được nhờ vào việc giữ Giới trong sạch.

Tóm tắt: Kiếm được của cải dễ dàng, có được tiếng tốt và được nhiều người biết đến, có địa vị xã hội cao, được chết một cách bình yên, đạt tới cõi trời. Đó là 5 lợi ích của việc giữ Giới vững chãi.

 Do đó, bất cứ một người phụ nữ muốn được trở nên tốt đẹp như đã nói ở trên, người này cần phải giữ gìn Giới luật một cách vững chãi.

 

                                                Gương xấu và tốt

 

Một người có tính cách tốt hay xấu tuỳ thuộc vào điều kiện người đó có biết loại trừ những điều xấu và nắm lấy những điều tốt hay không. Việc này cũng giống như người ta nhổ bỏ những loài cỏ dại mọc hoang trong một hồ nước, bởi vì những loại cỏ dại này làm mất đi vẻ mỹ quan của nó. Trong thời Đức Phật còn tại thế, có một người con gái nổi tiếng vì những điều tốt lẫn điều xấu của cô ta. Tên của cô ta là Khujjuttarā. Từ này là một sự phối hợp của hai từ : KhujjaUttarā. Khujja nghĩa là gù lưngUttarā là tên cha sinh mẹ đẻ của cô ta. Khujjuttarā bị gù bẩm sinh nên có tên như thế.  Khujjuttarā là người hầu gái của thứ hậu Sāmāvati. Thứ hậu là một người rất thích hoa. Mỗi ngày, Đức vua Udena cho thứ hậu Sāmāvati 8 đồng tiền để mua hoa. Thông thường mỗi ngày thứ hậu lại đưa 8 đồng tiền cho Khujjuttarā và sai cô ta đi mua hoa. Sau đó, mỗi ngày Khujjuttarā đã giữ lại cho cô ta 4 đồng, chỉ mua số hoa có giá trị thật là 4 đồng và đem những bông hoa đó về dâng lên cho thứ hậu Sāmāvati. Một ngày nọ, người bán hoa tên là Sumana cúng dường vật thực cho Đức Phật và Tăng chúng tại nhà riêng của mình. Sumana đã mời Khujjuttarā đến để nghe thuyết Pháp ( Anumodana Dhamma – Appreciative exppression). Khujjattarā đã chăm chú lắng nghe Đức Phật thuyết Pháp và rất khâm phục Ngài. Vì vậy, cô ta đã không bỏ sót một từ nào. Khi đang lắng nghe Đức Phật thuyết Pháp, Khujjattarā nhập thiền sâu sắc nên cuối cùng khi bài Pháp vừa chấm dứt, cô ta đã đắc được quả vị Tu-Đà-Hườn ( Sotāpanna – Stream winner). Khi bài Pháp chấm dứt, Khujuttarā đã mang tất cả 8 đồng tiền đi mua hoa và dâng lên thứ hậu Sāmāvati. Bởi vì số hoa mà khujjuttarā đem dâng cho thứ hậu lần này đã tăng gấp đôi so với mọi ngày bình thường. Do đó, thứ hậu đã hỏi Khujuttarā rằng, có phải là vua Udena đã đưa thêm cho cô ta 8 đồng nữa để mua hoa hay không. Khujjuttarā đã trả lời là không phải như thế. Tiếp đến, cô ta tâu với hoàng hậu rằng, số hoa vừa mua lần này mới đích thực có giá trị 8 đồng. Trong những ngày đầu, cô ta đã giữ lại cho mình 4 đồng và chỉ mua 4 đồng tiền hoa mà thôi. Khujuttarā đã trả lời hoàn toàn đúng với sự thật. Thứ hậu Sāmāvati đã hết sức ngạc nhiên và hỏi tại sao trong lần mua hoa này Khujjuttarā không tiếp tục ăn cắp và nói dối. Cô ta đã trả lời rằng bởi vì mình đã được nghe Đức Phật thuyết Pháp.  Sau đó, thứ hậu Sāmāvati đã nghĩ rằng, những lời dạy của Đức Phật có nhiều mãnh lực và tạo ra sự tôn kính đối với những người sau khi được nghe Ngài thuyết Pháp. Vì vậy, bà đã hỏi Khujjuttarā rằng, cô ta có thể nhắc lại bài Pháp của Đức Phật mà cô ta đã nghe không. Khujjuttarā trả lời là cô ta có thể. Vì thuật lại được bài Pháp do Đức Phật thuyết mà mình đã được nghe, Khujjutarā đã được thứ hậu Sāmāvati ban cho nhiều loại áo quần xinh đẹp, được bà trọng vọng hơn, địa vị của cô ta từ đó cũng được nâng cao. Thứ hậu Sāmāvati và 500 người hầu gái của bà cũng đắc quả Tu-Đà-Hườn, ngay sau khi nghe Khujjuttarā tường thuật lại bài Pháp của Đức Phật. Khi đã đắc được quả Tu-Đà-Hườn, họ càng ao ước được nghe những lời dạy khác của Đức Phật. Vì vậy, sau đó họ đã phái Khujjuttarā đi đến những nơi có Đức Phật thuyết Pháp để dự thính rồi trở về tường thuật lại cho họ nghe. Do thường xuyên đi nghe Đức Phật thuyết Pháp rồi sau đó về tường thuật lại cho thứ hậu Sāmāvati và 500 người hầu gái của bà nghe, Khujjutarā đã học hết Tam Tạng Kinh Điển chỉ bằng cách lắng nghe thuyết Pháp, không cần người chỉ dạy. Khi Đức Phật thuyết những bài Pháp cao nhất cho những người phụ nữ nghe, Khujjuttarā đã có vinh dự được ngồi vào chỗ đầu tiên để nghe thuyết Pháp ( Etadagga – Pre- eminent position). Với khả năng lãnh hội cao và đã học hết những lời dạy của Đức Phật. Sau khi nhận được vinh dự cao thượng như vừa nói, Khujjuttarā đã trở thành một người nổi tiếng tinh thông về Giáo Pháp của Đức Phật. Một ngày nọ, các Tỳ Kheo đã hỏi Đức Phật rằng : “ Bạch Giáo Chủ !

  1. Tại sao Khujuttarā bị gù lưng ?

  2. Tại sao cô ta chỉ cần nghe thuyết Pháp thôi mà vẫn học được và tinh thông hết tất cả những lời dạy của Giáo Chủ  ?

  3. Tại sao cô ta đã trở thành một Tu-Đà-Hườn một cách nhanh chóng đến như thế và đắc được quả vị này khi đang nghe Ngài thuyết Pháp (Dhamma discourse) ?

  4. Tại sao khi đã sinh ra làm một người hầu gái mà cô ta vẫn đắc được Giáo Pháp Cao Thượng của Giáo Chủ ?”. Đức Phật đã trả lời như sau :

 “ Khujjuttarā đã từng là người hầu gái trong cung điện của vua Brahmadatta ở Bārānasi ( Đô thị của xứ Ba-La-Nại - Bénarés ) trong thời đại của Phật Ca- Diếp

( Kassapa Buddha - trước thời Đức Phật Thích Ca tại thế)”. Tiếp đến, Đức Phật đã tường thuật lại các kiếp sống trong quá khứ của Khujjuttarā.

 1. Xưa kia có 8 vị Phật Độc Giác ( Pacceka Buddha) bị gù lưng mang bát đến quốc độ của vua Brahmadatta để khất thực. Những người hầu gái đã cùng Khujjuttarā đặt gạo vào những bình bát bằng vàng, quàng hồng y lên vai rồi đến cúng dường các vị Phật này. Khi đã cúng dường xong, Khujjuttarā  cầm lấy bát vàng như thể đang đi khất thực, quàng hồng y như cách mặc Y của các Tỳ-Kheo rồi tiến tới bắt chước điệu bộ gù lưng của các vị Phật Độc Giác để diễn trò hề. Sự việc này đã làm cho mọi người xung quanh cười vang. Bởi vì đã chế giễu các vị Phật Độc Giác gù lưng, nên trong kiếp sau khi sanh ra Khujjuttarā đã bị gù lưng. 

 2. Lý do tại sao cô ta trở nên thông minh được Đức Phật trả lời như sau :

 Một ngày nọ,  8 vị Phật Độc Giác gù lưng nói trên lại đến khất thực tại quốc độ của vua Brahmadatta. Khi những chiếc bát đã đầy và đang bị nóng. Các vị Phật đang giữ bát bằng cả hai tay. Khi nhìn thấy cảnh tượng đó, Khujjutttarā liền cởi 8 chiếc vòng đeo tay bằng ngà của mình ra và dâng cúng cho các vị Phật để làm chân đế cho những chiếc bát. Vì vậy khi giữ bát, các vị Phật Độc Giác sẽ đỡ bị nóng tay. Chính vì đã nhanh trí và cúng dường những vòng đeo tay bằng ngà và giúp cho các vị Phật Độc Giác gù lưng đỡ bị nóng tay mà trong kiếp sống này Khujjutttarā đã trở nên thông minh. Cô ta chỉ cần nghe thuyết Pháp thôi mà cũng lãnh hội được hết tất cả những lời dạy của Đức Phật .

 3. Khujjutttarā đã trở thành một Tu-Đà- Hườn nhanh chóng như vậy là vì khi thấy các vị  Phật Độc Giác gù lưng đến khất thực, cô ta đã thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ cần thiết để tỏ lòng tôn kính. Nhờ đó, Khujjuttarā đã gặt hái được nhiều phước báu. Khi phước báu gặt hái được đã trở nên sung mãn, Khujjuttarā đã trở thành Tu-Đà-Hườn khi đang nghe Đức Phật thuyết Pháp vào dịp lễ cúng dường tại nhà của người bán hoa tên là Sumana.

 4. Về câu hỏi thứ tư của các Tỳ Kheo, Đức Phật trả lời như sau :

 Trong thời Đức Phật Ca- Diếp còn tại thế, Khujjuttarā lúc đó là con gái của một người đàn ông giàu có tại Bārānasi ( Đô thị của xứ Ba-La-Nại – Benares). Một buổi chiều tối nọ, khi cô ta đang trang điểm trước một chiếc gương lớn, một vị Tỳ Kheo Ni đã đạt tới quả vị A-La-Hán ( Arahanta Bhikkhuni- Liberated female medicant) có quan hệ thân thiết với Khujjuttarā đã đến thăm cô ta. Khujjuttarā đã hỏi nhờ vị nữ A-La-Hán nọ thoa mỹ phẩm lên người giúp cô ta. Vị nữ A-La-Hán đã tự nghĩ: “Nếu mình không làm theo đúng như lời của Khujjuttarā hỏi nhờ thì cô ta sẽ giận và kết quả là cô ta sẽ bị đầu thai ở địa ngục ( Niraya – Hell) vào kiếp sống kế tiếp. Nếu mình thực hiện việc đó, cô ta sẽ trở thành một trong 500 người hầu gái của thứ hậu Sāmāvati trong kiếp sống kế tiếp . Trong 2 kết quả xấu vừa nêu trên mà Khujjuttarā sẽ phải gánh chịu, việc trở thành một người hầu gái tốt hơn là phải xuống địa ngục”. Vì suy nghĩ như vậy, vị nữ A-La-Hán đã chiều theo lời hỏi nhờ của Khujjuttarā. Đức Phật đã thuyết rằng bởi vì Khujuttarā đã hỏi nhờ một vị nữ A-La-Hán đáng tôn kính thoa giúp mỹ phẩm lên người của mình cho nên cô ta đã trở thành một trong 500 người hầu gái của hoàng hậu Sāmāvati. Nói tóm lại Khujuttarā :

 1. Đã trở thành một người gù lưng bẩm sinh vì đã chế giễu các vị Phật Độc Giác gù lưng.

 2. Đã trở thành một trong 500 người hầu gái của thứ hậu Sāmāvati vì đã hỏi nhờ một vị nữ A-La-Hán thoa giúp mỹ phẩm lên người của mình. Đó là một cách cư xử xấu cần phải kiêng cữ .

 3. Đã có khả năng học hết tất cả những lời dạy của Đức Phật chỉ bằng cách lắng nghe thuyết Pháp là do tác động của nghiệp cúng dường nhanh trí các vòng đeo tay bằng ngà dùng làm chân đế cho những chiếc bát khất thực của các vị Phật Độc Giác, giúp cho các vị Phật này đỡ bị nóng tay.

 4. Đã trở thành một Tu- Đà-Hườn khi đang lắng nghe Đức Phật thuyết Pháp chính là kết quả lợi ích của việc cúng dường chu đáo và tận tình cho các vị Phật Độc Giác gù lưng đáng kính. Đó là cách cư xử tốt cần phải được noi theo.

Tóm tắt: Kiêng cữ những hành động xấu, thực hiện những hành động tốt.

                          

       Hãy để cho thân thể đau khổ, đừng để tâm đến nó

 

 Thuở xưa, Đức Phật trú tại một nơi có nhiều loài thú sinh sống ở thành phố Susumāragira thuộc xứ Bhagga. Trong khoảng thời gian đó, có một ông lão ở tại Susumāragira đã đến với Đức Giáo Chủ. Ông lão là một người giàu sang có tên là Nakulapitā. Ông lão giàu sang này đã dành được danh hiệu Etadagga ( người được ngồi chỗ đầu tiên trong Tứ Chúng khi nghe Đức Phật thuyết Pháp. Tứ Chúng bao gồm Tỳ-Kheo, Tỳ-Kheo Ni, Thiện Nam Phật tử và Tín Nữ Phật tử - ND ) và rất gần gũi với Đức Phật. Vì vậy, ông vẫn thường xuyên đến viếng thăm Ngài. Vào lúc đó, Nakulapità đã quá già, trở nên yếu ớt và đau ốm luôn. Tình trạng sức khoẻ đó cho thấy ông không còn sống được bao lâu nữa. Ông tự nghĩ trong tương lai chắc chắn mình không thể nào đến thăm Đức Phật được nữa. Lần thăm viếng này có lẽ là lần cuối cùng mà ông có thể thực hiện được. Trong lần thăm viếng này, Nakulapitā có ý định thỉnh cầu Đức Phật cho ông một lời khuyên có ích về lâu về dài cho bản thân. Đó chính là động cơ thúc đẩy ông đến viếng thăm Đức Giáo Chủ. Sau khi đảnh lễ ( Paying obeisance) Đức Phật xong, Nakulapitā đã cung thỉnh Ngài thuyết Pháp cho ông nghe : “ Bạch Giáo Chủ! Tôi đã diễn đến hồi cuối cùng trong vở kịch của đời tôi. Nay tôi đã trở nên quá già rồi. Thậm chí, tôi không còn một chút sức lực nào để làm được bất cứ cái gì nữa cả, dù chỉ là trong chốc lát. Tôi luôn đau đớn vì bị bệnh tật hành hạ. Nó đã gây khó khăn và không cho tôi tiếp tục sống thêm nữa. Vì vậy, xin Ngài hãy hoan hỷ cho một lời khuyên có ích cho tương lai của tôi”. Đức Phật đã trả lời rằng : “ Sự thật là ông không còn được sức khoẻ bao nhiêu nữa, bởi vì tuổi tác của ông đã già. Tuy nhiên, không có một người nào luôn luôn được khỏe mạnh và không ốm đau. Có nhiều người nói rằng họ không muốn mắc phải một loại bệnh tật nào cả. Khi họ nói như vậy có nghĩa là họ không hiểu biết gì hết”. Sau đó, Đức Phật đã thuyết cho Nakulapitā nghe một bài Pháp thích hợp với ông: “ Này ông lão giàu sang ! Hãy để cho thân thể của ông đau đớn, đừng để tâm đến nó ! Cứ thực hành như vậy thì ông sẽ không bị khổ tâm”. Nakulapitā  đã lắng nghe bài thuyết Pháp thích hợp nhất đối với ông của Đức Phật với 2 bàn tay nắm chặt trong thái độ kính phục sát đất. Sau đó, ông đã đi vòng quanh Đức Phật nhiều lần theo chiều từ phải sang trái để tỏ lòng tôn kính Ngài. Mỗi lần đến thăm Đức Phật, ông lão giàu sang cũng đều làm như thế với Ngài Trưởng Lão Xá- Lợi- Phất ( Thera Sariputta). Ngài Trưởng Lão Xá- Lợi- Phất đã hỏi chuyện Nakulapitā : “ Ông trông rất là sáng láng và mãn nguyện, Giáo chủ đã thuyết Pháp cho ông nghe phải không ?” Ông lão giàu sang đáp : “ Tại sao Giáo chủ lại không thuyết Pháp cho một người như tôi nghe ? Ngài đã cho tôi những lời khuyên”. Khi Ngài Xá- Lợi- Phất hỏi Nakulapitā rằng, Đức Phật đã thuyết bài Pháp gì cho ông nghe thì ông lão đã trả lời là : “ Hãy để cho thân thể của ông đau đớn, đừng để ý đến nó. Cứ thực hành như vậy thì ông sẽ không bị khổ tâm”. Ngài Xá- Lợi- Phất là đệ tử đứng đầu của Đức Phật, Ngài đã đạt được danh hiệu Etadagga nhờ vào trí tuệ của chính mình. Ngay khi nghe ông lão giàu sang nói như vậy, Ngài đã nhận thức được bản chất khổ đau của thân tâm. Chỉ có thân thể là đau đớn còn tâm thì không, cần phải tách bạch cho được vấn đề khó khăn này. Đức Phật đã làm được điều đó . Nghĩ đến đây, Ngài bèn hỏi ông lão giàu sang : “ Có bao giờ ông đã thỉnh cầu Đức Giáo Chủ nói cho ông biết cách thực hành để nhận thức về bản chất khổ đau của thân tâm hay chưa? Làm cách nào để ông có thể điều khiển tâm mình không bị dính mắc vào khổ đau, trong khi thân xác của ông đang khổ đau ? Ông lão giàu sang đáp : “ Bạch Ngài Đại Đức ! Tôi chưa bao giờ thỉnh cầu Đức Giáo Chủ nói cho tôi biết cách thực hành điều đó, bây giờ tôi mong muốn Ngài chỉ dẫn cho tôi cách thực hành để nhận thức được bản chất khổ đau của thân tâm, làm cách nào để khi thân thể của tôi đang đau đớn mà tâm của tôi lại không bị dính mắc vào trạng thái đau đớn đó ? Đó là vấn đề đang gây khó khăn cho tôi, khiến tôi không thể tiếp tục sống được nữa. Xin Ngài hãy hoan hỷ chỉ dẫn cho tôi với, Ngài Đại Đức ? Sau đó, Ngài Trưởng Lão Xá- Lợi- Phất đã cẩn thận chỉ ra cho ông lão giàu sang thấy được 20 quan kiến hay quan điểm sai lầm về tự ngã ( Attaditthi – Wrong view of oneself). Nếu chúng ta để cho những quan kiến sai lầm này bó buộc thân và tâm lại với nhau khi thân đang khổ đau thì điều ấy sẽ làm cho cả hai khổ đau cùng lúc. Ví dụ, khi một người đang đi bộ trên đường mà gan bàn chân của anh ta bị một cây gai đâm thủng. Lúc đó, anh ta không có một chiếc kẹp nào để lấy gai ra. Trong lúc bối rối, người đó tìm được một cái gai khác rồi dùng nó để lấy cái gai thứ nhất ra. Tuy nhiên, cái gai thứ nhất vẫn không lấy ra được, mặc dù anh ta đã cố gắng hết sức. Đáng ra, anh ta phải rút cái gai thứ hai ra mới đúng. Vì vậy, người kia đã phải đau đớn bội phần vì bị 2 cái gai đâm vào gan bàn chân của mình cùng một lúc. Trước đây anh ta đã bị đau, bây giờ lại càng bị đau hơn.  Người không thực hành thiền, không nhận thức được một cách minh bạch về thân và tâm của chính mình, không thấy được bản chất khổ đau của chúng cũng tương tự như vậy. Nếu một người có thực hành thiền và nhận biết được rằng, thân và tâm của anh ta là 2 thành phần tách biệt, anh ta sẽ hiểu được rằng, chỉ có thân của anh ta là khổ đau còn tâm của anh ta thì không . Đó là bài thuyết Pháp của Ngài Xá- Lợi- Phất.

Tóm tắt: Nếu thân và tâm bị bó buộc với nhau thì cả hai sẽ cùng khổ đau khi thân khổ đau. Điều đáng lưu ý là : Khi một hiện tượng bất kỳ nào đó đang xảy ra trong thân hay tâm thì nó đều có tính nhất thời. Tiến trình khởi lên và biến mất đi của hiện tượng này xảy ra một cách cực kỳ nhanh chóng. Trong tiến trình này, chỉ có thân là có thể khổ đau mà thôi, còn tâm thì không bao giờ.  

 Một người thực hành thiền đã gặt hái được kiến thức trạng thái tan hoại của các sự vật và hiện tượng ( Bhanga Ñāna – Dissolvable Knowledge ), khi thấy các dấu hiệu đau đớn khởi lên trong thân, anh ta sẽ chú ý đến chúng một cách liên tục và chính xác. Lúc đó, anh ta sẽ nhận thức được rằng, hiện tượng đau sẽ biến đi rồi lại khởi lên, tiếp tục biến mất đi rồi lại khởi lên, rồi lại biến đi… Nói cách  khác, quá trình đau không xảy ra liên tục trong tâm của anh ta mà khởi lên từng chập một, chập này nối tiếp chập kia. Giữa quá trình cảm nhận trạng thái đau của anh ta có những khoảng thời gian trống chen vào ( khoảng thời gian mà anh ta không cảm thấy đau ). Điều này chứng tỏ chỉ có thân của anh ta là đau thật sự, còn tâm của anh ta thì không. Tâm của anh ta có lúc đã bị dính mắc vào cái đau của thân nên ngay lúc đó anh ta ý thức lầm lạc rằng mình đang đau. Vì vậy, Đức Phật đã dạy : “ Một người thực hành thiền cần phải biết rằng, chỉ có thân của chúng ta là có thể đau đớn, còn tâm thì không bao giờ”. ( Sam 2/1)

 

                                             Tuổi thọ của con người

 

  Tất cả những sinh vật đang tồn tại trên thế giới này đều được xếp thành 2 phạm trù dưới đây :

 1. Nhàn cảnh – Tức cảnh sống an vui, cao thượng ( Sugati – Noble life)

 2.  Khổ cảnh – Tức cảnh sống với phẩm chất thấp kém ( Duggati- Inferior) hay cảnh sống địa ngục đầy khổ đau.

Trong 2 phạm trù này, nhàn cảnh là cuộc sống an vui, cao thượng của con người

( Manussa), Chư-Thiên ( Deva) và Phạm-Thiên ( Brahma). Ba cảnh sống này là nơi tốt nhất để thực hiện những phẩm hạnh xứng đáng. Qua chuỗi sống bất tận của muôn loài chúng sanh trong luân hồi, cuộc sống tốt đẹp nhất là cuộc sống đang diễn tiến trong thời mà Giáo Pháp của Đức Phật vẫn đang còn tồn tại. Được sống cách xa cõi địa ngục, được lắng nghe và thực hành đúng theo Giáo Pháp của Đức Phật là một cơ hội lớn đối với con người. Chúng ta cần phải có được một niềm tin đúng đắn và tốt đẹp nhất giống như thế. Trong cuộc sống hiện tại này, bạn đang có được cơ hội thực hiện những phẩm hạnh xứng đáng, để trong những kiếp sống tương lai bạn sẽ không bị sanh vào địa ngục mà được sanh vào những cảnh giới cao thượng hơn, rồi tiếp tục sống ở cảnh giới đó cho đến khi đạt tới Niết Bàn, buông bỏ được tất cả những nổi khổ đau và bất hạnh. Chừng nào vẫn còn sống trên cõi trần gian này, chúng ta vẫn sẽ cố gắng thực hiện những phẩm hạnh xứng đáng. Vì vậy, những người khôn ngoan sáng suốt đều mong ước mình được sống lâu trên đời này để thực hiện những phẩm hạnh xứng đáng, chứ không phải là một cái gì khác. Đức Phật đã từng thuyết một bài Pháp nói lên 5 nhân tố có liên quan đến tuổi thọ của con người :

 1. Sappāyakāri hoti ( Deeds are according to the sanitayion as :) Những hành động hợp với vệ sinh như :

  -  Phải có được những loại vật thực thích hợp để xử dụng

  -  Sinh sống ở những nơi có khí hậu thích hợp

  - Tránh tất cả những loại vật thực và nơi ở có khí hậu không thích hợp

 2. Sappāyamattam Jānāti ( Capability of temperance- khả năng tiết độ)

  -  Phải biết cách xử dụng vật thực một cách thích hợp

  -  Biết cách điều hòa thân tâm khi sống trong môi trường thời tiết thay đổi

  -  Biết được số lượng vật thực mà cơ thể mình thật sự cần đến trong mỗi lần ăn

 3. Parinatabhojica hoti ( Capability of knowledge about the foods) – Khả năng hiểu biết về các loại vật thực như :  

 - Khi đang sở hữu một loại vật thực, chúng ta cần phải hiểu được nó có phải là loại vật thực dễ tiêu hoá hay không, tránh xử dụng các loại vật thực khó tiêu hoá. 

4. Sīlavācā ( Commandments for eat and drink – Giới luật ăn uống )

 - Kiêng cữ những loại vật thực mà mình đã biết được có người khác cố ý sát sanh rồi cho mình ăn.

 - Không ăn thịt của các loài vật khi chính mắt mình trông thấy chúng bị giết hoặc nghe thấy tiếng chúng kêu la vì đau đớn khi bị giết.

- Không ăn những loại thức ăn có chứa độc chất hoặc chất gây say.

Khi bắt gặp những loại vật thực đã nêu trong những trường hợp trên, chúng ta nhất định không xử dụng các loại vật thực đó để tuân thủ Giới luật.

 5. Kalyānamittocca ( Live harmoniously with other – sống hoà hợp với những người khác)

- Chúng ta cần phải sống hoà hợp với những người bạn tốt, con trai, con gái, chồng hoặc vợ của mình… Bởi vì họ là những người có thể làm cho chúng ta được hạnh phúc. Đức Phật đã từng thuyết rằng, người nào sống đúng theo năm nhân tố vừa nêu trên thì người đó sẽ có được một cuộc sống trường thọ.

Tóm tắtXử dụng các loại vật thực thích hợp, dễ tiêu hoá, trong mỗi lần thọ thực chỉ nên xử dụng một lượng thức ăn vừa đủ nuôi sống bản thân, giữ Giới luật khi ăn uống và sống hoà hợp với người khác. Đây là 5 nhân tố dẫn đến khả năng trường thọ của chúng ta.

  Có thể so sánh cơ thể của chúng ta với một cái bàn có 4 chân. Khi một trong 4 chân của cái bàn này đã bị gãy thì nó không thể đứng vững được. Tương tự như vậy, thân thể của chúng ta tồn tại được là nhờ vào các yếu tố :  Hành vi, tâm trí, khí hậusự dinh dưỡng. Khi 4 yếu tố này bị rối loạn trong thân thể thì bạn không thể nào sống thọ được. Đó là lý do tại sao những ai không có được sự kết giao hoà hợp với những người bạn tốt, chồng, con trai, con gái hay vợ của mình… thường có một cuộc sống bất hạnh và đoản thọ. Sự kết giao hoà hợp với những người bạn tốt, con trai, con gái, chồng hay vợ của mình… là nguyên nhân dẫn đến một cuộc sống yên bình và hạnh phúc. Đây chính là lời thuyết Pháp của Đức Phật.

 

                      

           Nếu bạn mong muốn được bình yên  thì hãy vào

                             an trú trong một  Yeiktha     

 

 Muôn loài đang sinh sống trên toàn vũ trụ này đều mong muốn và tìm kiếm hạnh phúc. Tất cả đều ao ước một nơi chốn mà khi sống ở đó họ có thể được bình yên. Một nơi chốn để muôn loài có thể sống một cách bình yên được gọi là Yeiktha. Trong ngôn ngữ Miến Điện, từ Yeiktha là sự phối hợp của 2 từ : “ Yeik” nghĩa là bóng mát và “ Tha” nghĩa là hạnh phúc hay bình yên. Vì vậy, từ “ Yeiktha” có nghĩa là “ Bóng mát bình yên” hay “ Bóng mát hạnh phúc” hoặc có thể dịch thoát hơn là “ Nơi chốn mát mẻ và bình yên”. Ngoài ra từ yeiktha còn dùng để chỉ một trung tâm thiền. Có 5 loại bóng mát :

 1. Bóng mát của cây cối

 2. Bóng mát của cha mẹ và những mối quan hệ

 3. Bóng mát của thầy cô giáo

 4. Bóng mát của nhà cầm quyền

 5. Bóng mát của Phật Pháp

Trong 5 loại bóng mát này, bóng mát của cha mẹ và những mối quan hệ bình yên hơn bóng mát của cây cối. Bóng mát của thầy cô giáo bình yên hơn bóng mát của cha mẹ và những mối quan hệ. Bóng mát của nhà cầm quyền bình yên hơn bóng mát của thầy cô giáo. Bóng mát của Phật Pháp bình yên hơn bóng mát của nhà cầm quyền.

 1. Bóng mát của cây cối có thể khiến cho một lữ khách mệt nhoài hồi sức trở lại để tiếp tục du hành trong cái nóng của mặt trời mùa hè. Thân tâm của lữ khách đó sẽ được sảng khoái và hạnh phúc khi anh ta nghỉ lại dưới một bóng cây mát mẻ.

 2. Tuy nhiên, nấp dưới một bóng cây để hóng mát là một hành động có tính tạm thời và  không lâu dài được, bởi vì người ta chỉ được hạnh phúc khi đang đứng dưới bóng cây. Có được bóng mát của cha mẹ và những mối quan hệ thì tốt hơn, bởi vì người nấp dưới những bóng mát đó có thể có được một cuộc sống vật chất đầy đủ, cũng như có thể được thừa kế tài sản. Người ấy có thể được hạnh phúc trong suốt cuộc đời mình. Đó là lý do tại sao bóng mát của cha mẹ và những mối quan hệ bình yên hơn bóng mát của cây cối.

Tóm tắtBóng mát của cha mẹ và những mối quan hệ tốt hơn bóng mát của cây cối, nó là hạnh phúc đích thực.

 3. Có được bóng mát của cha mẹ và những mối quan hệ thì được bình yên, bởi vì điều đó có thể được đầy đủ về mặt vật chất và được thừa kế tài sản. Tuy nhiên, vật chất có thể bị phá huỷ bởi trộm cướp. Khi có được bóng mát của thầy cô giáo, người ta có thể gặt hái được sự giáo dục liên quan đến những khả năng cần thiết cho nghề nghiệp. Vì vậy, cuộc sống của họ sẽ được hạnh phúc. Kiến thức hay sự hiểu biết không thể bị phá huỷ bởi trộm cướp. Đó là lý do tại sao bóng mát của thầy cô giáo bình yên hơn bóng mát của cha mẹ và những mối quan hệ.

Tóm tắtBóng mát của thầy cô giáo tốt hơn bóng mát của cha mẹ và những mối quan hệ, nó là hạnh phúc đích thực.

 4. Mặc dù bóng mát của thầy cô giáo mang lại kiến thức hay sự hiểu biết và hạnh phúc. Tuy nhiên, khi có được bóng mát của nhà cầm quyền trong một đất nước thì người ta có thể tránh được những điều nguy hiểm đến từ bên trong lẫn bên ngoài của đất nước đó. Người ta có thể tìm kiếm được kiến thức, của cải vật chất và những lời dạy của Đức Phật. Người ta sẽ được hạnh phúc bằng nhiều cách khác nhau. Đó là lý do tại sao bóng mát của nhà cầm quyền bình yên hơn bóng mát của thầy cô giáo.

Tóm tắt: Bóng mát của nhà cầm quyền tốt hơn bóng mát của thầy cô giáo, nó là hạnh phúc đích thực.

 5. Khi có được bóng mát của nhà cầm quyền người ta sẽ tránh được những tổn hại và được hạnh phúc trong cuộc đời này. Tuy nhiên, một người nấp dưới bóng mát của Phật Pháp thì anh ta cũng có được hạnh phúc mỗi khi đã gặt hái được trạng thái tâm bình yên trong Phật Pháp. Trong những kiếp sống mai hậu, người này sẽ thoát khỏi những nổi bất hạnh, địa ngục và nhiều loại khổ đau khác.Vì vậy, anh ta vừa được hạnh phúc vừa có thể đạt tới trạng thái cao thượng nhất là Niết Bàn. Đó là lý do tại sao,  bóng mát của Phật Pháp bình yên hơn bóng mát của nhà cầm quyền.

Tóm tắtBóng mát của Phật Pháp bình yên hơn bóng mát của nhà cầm quyền, nó là hạnh phúc đích thực.

 Nói tóm lại, nếu bạn mong muốn được giải thoát khỏi những hình thức khổ đau và đạt tới Niết Bàn thì hãy vào an trú trong một Yeiktha.

  

                     

                 Hãy làm những người con xứng đáng

 

 Các bậc cha mẹ thường phải nuôi dạy con cái của họ cho đến khi chúng trưởng thành. Con cái lúc còn nhỏ cần phải được trang bị nhiều thứ để làm những người con xứng đáng. Những người con trai hay con gái trong hầu hết các gia đình đều mong muốn được làm những người con xứng đáng và không bị khổ đau. Nếu muốn được như vậy thì họ phải có 5 phẩm chất mà những người lớn tuổi gương mẫu và sáng suốt thường hay khuyên nhủ con cháu của họ. Năm phẩm chất tốt đẹp đó là 5 tính cách mà những người con xứng đáng cần phải đạt được :

 1. Tập luyện thói quen thích bố thí 

 2. Tập luyện thói quen thích thực hành thiền

 3. Tập luyện tính can đảm

 4. Tìm kiếm kiến thức hay sự hiểu biết với lòng hăng say và nhiệt tình.

 5.  Thường xuyên làm việc để tích luỹ của cải, tìm kiếm sự thịnh vượng một cách hợp pháp và lương thiện cho đến khi 5 phẩm chất nêu trên trở nên lớn mạnh trong họ. Đến lúc đó, người ta mới được công nhận là những người con xứng đáng.

Tóm tắt: Những người làm con thường xuyên rèn luyện tính dũng cảm, hạnh bố thí và trau dồi đạo đức, tìm kiếm kiến thức với lòng hăng say và nhiệt tình, tìm kiếm của cải và sự thịnh vượng một cách hợp pháp và lương thiện là những người con thật sự xứng đáng.

 1. Những đứa trẻ có sở thích bố thí là một điều rất tốt. Điều này sẽ giúp chúng tránh được cảnh nghèo khổ về sau. Khi cha mẹ hay người lớn tuổi trong một gia đình cho con cái hay cháu chắt của họ ăn uống cái gì, thì con cháu của họ nên chia xẻ và biếu tặng những đồ ăn thức uống mà chúng đang có cho bạn bè của chúng. Từ tiền dành dụm riêng của mình, những đứa trẻ đó cũng có thể bố thí cho các tu viện hay bệnh viện từ thiện. Bởi vì sự bố thí là một phẩm chất tốt đẹp của những người con xứng đáng.

 2. Những đứa trẻ nên tập luyện để có được niềm vui khi thực hành Phật Pháp, hài lòng với thức ăn và quần áo mà chúng đang có. Chúng phải cố gắng noi gương ông bà, cha mẹ và người lớn tuổi hơn mình… để thực hành Phật Pháp với sự nổ lực tối đa. Đó là một phẩm chất tốt đẹp của những người con xứng đáng.

 3. Những đứa trẻ dũng cảm sẽ luôn luôn đứng vững và đi theo con đường tốt khi chúng lớn lên, lúc mà chúng thật sự phải đối mặt với những khó khăn và thăng trầm của cuộc sống. Khi đứng trước cha mẹ, bạn bè và người thân, với quê hương đất nước và với tôn giáo của chúng, thì chúng sẽ mạnh dạn nói lên hay thực hiện được sự thật đúng đắn chứ không dối trá, rụt rè, do dự. Có được một tâm trí dũng cảm là một phẩm chất tốt đẹp của những người con xứng đáng.

 4. Những đứa trẻ có thói quen hay tìm kiếm kiến thức, ham hiểu biết thường rất thích đến trường và học tập rất có kỷ luật. Chúng thực hiện những việc đó một cách tự nhiên, không cần đến sự thuyết phục hay động viên của cha mẹ và người lớn tuổi hơn chúng. Chúng luôn học những bài học của mình đúng theo thời khoá biểu qui định của nhà trường và thời khoá biểu do chúng tự đặt ra. Chúng luôn học tập rất kiên trì cho đến khi hiểu hết các vấn đề cần hiểu. Đó là phẩm chất tốt đẹp của những người con xứng đáng.

 5. Những đứa trẻ có thói quen thích làm việc, thường xuyên tìm kiếm của cải một cách hợp pháp và lương thiện sẽ hoàn thiện được sự hiểu biết của chúng. Chúng sẽ làm cho chính bản thân chúng, cha mẹ, bạn bè và người thân, quê hương đất nước và tôn giáo của chúng trở nên phát đạt và thịnh vượng. Sự làm việc chính đáng, tìm kiếm của cải một cách hợp pháp và lương thiện là một phẩm chất tốt đẹp của những người con xứng đáng. Vì vậy, những người con trai và con gái nào muốn làm việc vì lợi ích cho chính họ, cho cha mẹ, bạn bè và người thân của họ, cho quê hương đất nước và tôn giáo của họ, thì họ phải nổ lực tích cực để có được 5 phẩm chất tốt đẹp của những người con xứng đáng.

 

                                  

                               Lời nói bóng gió của Đức Phật

 

 Một thời khi Đức Phật đang trú tại tịnh xá Kỳ-Viên ( Jetavana Vihāra) trong thành Xá-Vệ ( Sāvatthī), các Tỳ-Kheo đã tập họp lại để  nghe thuyết Pháp. Khi Đức Phật vừa tới nơi, Ngài bốc một nhúm bụi dưới đất rồi đặt lên móng của ngón tay cái Ngài. Tiếp đến, Đức Phật đã hỏi các nhà sư rằng : “ Hỡi các Tỳ Kheo ! Những hạt bụi trên móng tay của ta nếu đem so với bụi trên toàn trái đất này thì bụi ở chỗ nào nhiều hơn ? (Các tỳ Kheo đệ tử của Đức Phật thường có 2 hạng : Hạng thứ nhất mặc Y và chỉ thọ thực sau khi đi khất thực về, hạng còn lại trong Giáo Đoàn là những người thường sợ hãi trước những điều cực khổ). Các Tỳ Kheo đã trả lời : Bạch Giáo Chủ ! Bụi trên móng tay của  Ngài có thể đếm được và ít hơn khi đem so với số bụi trên toàn trái đất . Còn bụi trên toàn trái đất thì nhiều vô kể, không thể đếm được. Khi nghe các Tỳ-Kheo trả lời như thế, Đấng Toàn Giác nói tiếp : “ Hỡi các Tỳ-Kheo ! Theo sự so sánh mà chúng ta vừa xét qua, bây giờ chúng ta có thể ví rằng số người đã sống trên đời này và chết đi là nhiều vô kể như bụi trên toàn trái đất. Số người được tái sinh vào cõi người sau khi đã mãn kiếp thì rất ỏi, có thể ví bằng những hạt bụi đang nằm trên móng tay của ta đây”. Sau khi mãn kiếp sống làm người cao quí này, rất nhiều người sẽ bị tái sinh vào địa ngục hoặc những nơi thấp kém như :  Trở thành thú vật, ngạ quỷ, A-tu-la. Số người này có thể ví như bụi ở trên toàn trái đất. Như vậy, Đức Phật đã thuyết rằng, để được trở thành người là một điều vô cùng khó khăn. ( Sam 1 / 454)

Tóm tắt: Số chúng sanh khi sinh ra được làm người cao quí, có thể so sánh như bụi trên móng tay của Đức Phật.

  Sau khi thuyết Pháp xong, Đức Phật tiếp tục nói bóng gió với các Tỳ Kheo : “Kể từ khi biết rằng để được làm người là một việc vô cùng khó khăn, những hạt bụi ít ỏi trên móng tay của ta không bao giờ quên thực hành Phật Pháp lúc đang còn sống trong Tăng Đoàn”. Những khi không có thời gian để thuyết Pháp, Đức Phật thường nhắc nhở các Tỳ-Kheo rằng :  “ Đừng quên thực hành Giáo Pháp mà ta đã dạy cho các ông !”. Đó là lời nhắc nhở mà Ngài thường hay xử dụng. Đôi lúc Ngài cũng nói “ Appamādena Sampādetha !” Câu này có nghĩa là “ Hãy thực hành Phật Pháp một cách cẩn thận và hoàn thiện chính mình !”. Câu nói “  Hãy thực hành Phật Pháp cẩn thận và hoàn thiện chính mình !” không hoàn toàn có nghĩa là “ hãy thực hiện những phẩm hạnh xứng đáng”. Nó có nghĩa là “ hãy gặt hái cho được hạnh phúc ở cõi người, cõi Chư Thiên và Phạm Thiên, đừng để bị tái sanh vào cõi địa ngục !”. Thật ra, những gì quan trọng nhất mà Đức Phật muốn nói là :  Nếu có ý định đạt tới Niết Bàn thì phải thực hành thiền minh sát (Vipassanā Bhāvanā -  Insight Meditation). Tại sao Đức Phật lại nhắc nhở chúng ta thực hành thiền minh sát ? Bởi vì để trở thành một Đấng Toàn Giác, Ngài đã thực hành Phật Pháp trong khoảng thời gian là 4 A-Tăng-Kỳ ( Asankheyya – Incalculable) và 100 ngàn Đại-kiếp ( Kappa) để hoàn thiện thân tâm của chính mình. Chúng ta nên biết rằng “ A-Tăng-Kỳ” là một khoảng thời gian rất dài, không thể tính toán đo lường được. Đức Phật dạy : “ Một tảng đá vuông vức một do tuần ( Yojana- Một do tuần bằng 8 dặm Anh, một dặm Anh bằng 1609 mét - ND). Cứ 100 năm thì có một vị Chư Thiên bay xuống lấy tấm lụa mỏng quét qua tảng đá này một lượt. Bao giờ tảng đá mòn bằng mặt đất, đó được gọi là một A- tăng-kỳ. Cũng có thể nói về một A-tăng-kỳ như sau : Một thùng đựng đầy hạt cải vuông vức một do tuần. Cứ 100 năm thì có một vị Chư Thiên bay xuống lấy đi một hạt. Bao giờ trong thùng này không còn một hạt cải nào, đó cũng được gọi là một A-tăng-kỳ. Lại nữa, có thể viết một con số một ( tượng trưng cho 1 đời người) và sau đó viết tiếp thêm 140 con số không

( số 0) vào sau nó, như vậy cũng tạm gọi là một A-tăng-kỳ. Một “ đại kiếp -kappa” là một khoảng thời gian trải qua bốn giai đoạn thành, trụ, hoạikhông.

 “ Thành” là giai đoạn từ khi địa cầu mới được tạo nên. Đầu tiên như bọt nước, rồi dần dần đặc lại như bột và sau đó cứng như đất. Giai đoạn này trải qua rất lâu, không thể biết được là bao nhiêu năm, tháng, ngày… lúc này chưa có bất cứ một sinh vật nào sinh sống trên địa cầu. “ Trụ” là giai đoạn bắt đầu có cỏ cây và sinh vật. Có một người đầu tiên sinh vào địa cầu cho đến khi con người ta được sinh ra hằng hà sa số như hiện nay. “ Hoại” là giai đoạn bắt đầu không còn ai trên địa cầu nữa cho đến khi nước biển khô hết vì sức nóng của ánh mặt trời, tiếp theo là địa cầu bốc cháy luôn. “ Không” là giai đoạn từ khi địa cầu tiêu hoại chỉ còn lại khí u u minh minh, vô cùng vô tận cho đến khi cấu tạo nên một địa cầu mới. Bốn giai đoạn trên gộp lại được gọi là một đại kiếp. Tuy nhiên, Đức Phật cũng nói rằng mục đích cao nhất của muôn loài không phải là đạt được hạnh phúc ở cõi người,  cõi Chư Thiên và Phạm Thiên. Đó không phải là mục đích cao nhất để Ngài tự hoàn thiện chính mình hay tự hoàn thiện thân tâm bất toàn của Ngài. Đức Phật muốn giúp chính Ngài và muôn loài thoát khỏi cảnh giới địa ngục với nhiều loại khổ đau và đạt tới Niết Bàn. Đức Phật nói là Ngài đã từng thực hiện rất nhiều phẩm hạnh xứng đáng, số lượng không thể kể xiết. Tuy nhiên, Niết bàn là mục đích tối cao cần phải đạt tới trong suốt quá trình tu học và tìm Đạo của Ngài . Nếu không thực hành thiền minh sát, dù có gặt hái được bao nhiêu phước báu đi chăng nữa, chúng ta cũng chỉ có thể đạt tới cõi người hay cõi Chư Thiên và tối đa là cõi Phạm Thiên mà thôi. Mặt khác, nếu đang ở cõi trời và đang hưởng được nhiều hạnh phúc, nhưng đến khi hết phước thì chúng ta cũng sẽ rơi trở lại cõi người, súc sanh,  địa ngục… bất cứ lúc nào không ai biết được. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã nói rằng : “ Đừng quên thực hành thiền minh sát để có thể đạt tớiNiết-Bàn”.

 

                     Ba cách thức quan sát cảm thọ  

 

 Ngày nay phong trào thực hành thiền minh sát đang rất hưng thịnh và thu hút sự chú ý của nhiều người. Những người khôn ngoan sáng suốt muốn thực hành thiền minh sát nhưng chưa có cơ hội để thực hiện, cũng như đang cố gắng tìm được một phương pháp thực hành thiền đúng đắn. Trong thực tế, những người mới thực hành thiền minh sát trong giai đoạn đầu thường phải trải qua những cảm giác làm cho họ cảm thấy khó chịu như :  Đau nhức, mệt mỏi, chóng mặt… Những cảm giác này được gọi là khổ thọ ( Dukkha vedanā – Unpleasant sensation ). Đối với những người mới tập sự thực hành thiền ( Probationer in meditation or beginer in meditation), khổ thọ xảy đến với họ mỗi người mỗi khác. Có người thọ khổ nhiều, có người ít và có nhiều người không nhận thấy gì cả. Sau khi vượt qua được giai đoạn tập sự, những người nói trên sẽ trải qua một giai đoạn cảm thấy tâm của họ tự nhiên được  bình yên và  rất dễ chịu. Những người chưa bao giờ thực hành thiền sẽ không có được cảm giác bình yên và dễ chịu này .Vì vậy, những người tập sự hành thiền minh sát cần phải chú ý đến những điều vừa nói. Khi thấy những khổ thọ đang khởi lên như :  Cảm giác đau nhức, hoa mắt, choáng váng, chóng mặt, ngứa ngáy, buồn nôn, tình trạng đong đưa mất thăng bằng, cảm thấy đau đớn trong thân thể hoặc trong tâm trí … Thì đừng hoang mang lo sợ gì cả, cứ bình tĩnh tiếp tục tập luyện, bởi vì những khổ thọ khởi lên ấy sẽ chóng qua đi, đồng thời trạng thái đang khởi lên của những khổ thọ đó là sự chứng tỏ rằng hành giả đã thực hành đúng phương pháp. Đây là một sự hiểu biết hay kiến thức ( Ñāna – knowledge ) cần thiết mà người mới tập sự hành thiền minh sát cần phải nắm được. Tiếp theo, họ cần phải biết lắng nghe và suy ngẫm về những lời chỉ dẫn của các thiền sư mà họ đang theo học. Những thiền sư là những vị thầy đã có kinh nghiệm trong việc thực hành Phật Pháp. Sở dĩ những thiền sinh phải làm như vậy là vì họ mong muốn từng bước được trở nên hạnh phúc và hài hoà trong thân tâm. Mặt khác, trong thực tế thực hành thiền, những người mới tập sự thường chán nản, thối chí và nghĩ rằng mình không thể thực hành thiền được, nhất là khi phải đối diện với những khổ thọ. Đó là lý do tại sao những người này cần phải biết được cách để vượt qua các khổ thọ.Trong quá trình thực hành thiền minh sát, chúng ta thường thấy có 3 cách quan sát khổ thọ mỗi khi chúng khởi lên :

 1. Thực hành thiền với mục đích làm cho các khổ thọ biến mất đi.

 2. Thiết lập một trạng thái tấn công trong tâm với ý định muốn triệt tiêu các khổ thọ.

 3. Nhận thức được một cách rõ ràng bản chất tự nhiên của các khổ thọ.

 Khi đang thực hành thiền với mục đích làm cho những khổ thọ biến mất đi nghĩa là chúng ta đã khao khát muốn trở lại trạng thái tiện nghi thoải mái, ham muốn được thoát khỏi những cảm giác mà mình không hài lòng. Nếu làm như vậy thì tính ham muốn này đã khiến cho tâm của chúng ta trở nên ô nhiễm. Khi tâm của bạn đã bị ô nhiễm thì dĩ nhiên quá trình thực hành thiền nội quán của bạn sẽ bị chậm lại.  Đó là lý do tại sao chúng ta không nên đặt ra một mục đích nào để làm cho các khổ thọ biến mất đi. Đây là một phương pháp thực hành thiền không đúng đắn, chúng ta cần phải tránh xa !  Khi bạn thực hành thiền bằng cách thiết lập một trạng thái tấn công trong tâm và quyết chí triệt tiêu những cảm giác khó chịu đã khiến cho mình không được hài lòng thì sân hận sẽ tức thì được thiết lập trong tâm của bạn. Ngay khi đang thiết lập một trạng thái tấn công như thế, trạng thái quan sát của bạn đã chứa đầy sân hận. Nói cách khác, bạn đang quan sát các khổ thọ với một tâm sân hận. Trong khi đó, sân hận tự nó đã là ô nhiễm. Đây cũng không phải là cách thực hành thiền đúng đắn, chúng ta cũng nên tránh xa. Chúng ta nên thừa nhận và thực hành thiền theo phương pháp sau đây : “ Kiên quyết duy trì và tập trung sự chú ý để nhận thức được một cách rõ ràng bản chất tự nhiên của những khổ thọ đã làm cho mình cảm thấy khó chịu”. Khi quan sát để nhận thức bản chất tự nhiên của những khổ thọ như : Đau nhức, ngứa ngáy, tù túng… bạn phải cẩn thận, đừng để cho thân thể và tâm trí của mình bị căng thẳng khi chúng đang khởi lên. Nếu bạn trở nên căng thẳng thì ngay lúc đó, bạn phải cố gắng tự nhiên, giữ cho thân tâm của mình được thăng bằng. Tuy nhiên, cũng đừng buông lỏng thái quá. Sự chú ý của bạn phải hội tụ trực tiếp trên khổ thọ, không nhìn ngắm hay suy nghĩ về các hình thức khác của thân thể như :  Chân, tay, đầu gối, bàn tọa

( tức 2 mông), lưng, đầu … mà chỉ chú ý sâu sắc vào khổ thọ. Chỉ như thế thôi, rồi thì dần dần bạn sẽ nhận thức được một cách rõ ràng bản chất tự nhiên của nó. Trong lúc thực hành thiền, nếu những cảm giác khó chịu khởi lên, bạn cần phải tích cực chú ý để nhận biết chúng ( sự đau nhức, ngứa ngứa…) đang hiện diện ở đâu, chúng nằm trên thịt hay trên da, trong huyết quản hay thông qua xương… Rồi bạn sẽ nhận thức được phạm vi của trạng thái đau nhức hay ngứa ngáy... Bạn vừa phải tích cực chú ý đến khổ thọ, đồng thời niệm thầm trong tâm mình “ đang đau, đang ngứa”... Trạng thái quan sát của bạn phải được duy trì một cách tích cực theo một cường độ và cách thức không thay đổi,  kể từ khi khổ thọ bắt đầu khởi lên cho đến khi nhận biết được vị trí,  phạm vi và bản chất tự nhiên của nó. Khi năng lực tập trung của bạn đã phát triển tại một phạm vi chắc chắn nào đó, thì chỉ sau 4 hay 5 lần quan sát tích cực bạn sẽ nhận thấy khổ thọ gia tăng cường độ một cách rõ rệt. Khi cường độ của khổ thọ đã đạt tới mức đỉnh điểm thì nó bắt đầu dần dần giảm xuống. Sau 4 hoặc 5 lần tập trung quan sát vào vị trí, phạm vi và bản chất của khổ thọ như đã nói ở trên, bạn sẽ nhận thấy nó từng bước nới lỏng sự câu thúc, dồn ép đối với tâm. Bạn cứ tiếp tục thực hành như thế… Bởi vì năng lực tập trung tâm ý đã phát triển, khả năng chú ý của bạn đã trở nên sâu sắc. Lúc đó, bạn có thể nhận thức được sự gia tăng cường độ của khổ thọ. Khi cường độ của khổ thọ đang giảm dần, bạn vẫn phải duy trì sự chú ý liên tục lên nó để nhận biết được bản chất tự nhiên của cảm giác khó chịu thật sự là cái gì. Về sau này, mỗi khi khổ thọ khởi lên, bạn cứ tiếp tục quan sát nó như cách đã nói ở trên. Dần dần năng lực tập trung chú ý của bạn sẽ mạnh hơn. Khi năng lực chú ý của bạn đã mạnh đến một mức độ cần thiết, nếu bạn chú ý đến khổ thọ thì tự nhiên nó sẽ biến mất đi . Những người thực hành thiền minh sát cần phải biết được những điều trên. Những người thực hành thiền thông minh sẽ biết được cách chú ý vào khổ thọ khi nó đang khởi lên để làm cho nó biến mất đi. Thậm chí,  khi họ vừa nhận thức được khổ thọ thì nó đã biến mất, bởi vì năng lực chú tâm quan sát của họ lúc đó đã khá mạnh. Khi khổ thọ vừa mới khởi lên, họ chỉ cần hướng sự chú ý của mình vào nó thì lập tức khổ thọ đã biến mất. Những người thực hành thiền đã có được kinh nghiệm trực tiếp về tiến trình sanh diệt của các hiện tượng sẽ có khả năng hiểu biết rằng, khổ thọ là vô thường , sự chú ý cũng vô thường. Vì vậy, đặc tính của vô thường ( Anicca Lakkhanā – Characteristic of impermanence ) là sự nhận biết qua thực chứng. Trạng thái biến mất của khổ thọ cũng nhanh chóng như khi nó đến áp bức và dồn nén bạn. Đó là dấu hiệu của khổ. Vì vậy, tính cách của khổ ( Dukkha Lakkhanā – Characteristic suffering ) cũng là sự nhận biết qua thực chứng. Dù là bằng cách nào đi nữa, bạn không thể ngăn chặn được tiến trình đang tan hoại có tính nặng nề và áp bức của cảm thọ nói chung. Tiến trình tan hoại của những cảm thọ vẫn thường diễn biến đúng theo cách thức riêng của chúng. Ở đây, trong tiến trình tan hoại của khổ thọ không có sự hiện diện của cái tôi hay kinh nghiệm của cá nhân. Vì vậy, nó chính là đặc tính của vô ngã ( Anatta Lakkhanā – Characteristic no- selt). Trong trạng thái quan sát để nhận biết bản chất tự nhiên của khổ thọ, năng lực định tâm ( Samādhi – Concentration ) của người thực hành thiền minh sát sẽ dần dần trở nên mạnh mẽ và sắc bén hơn. Vì vậy, họ có thể chú ý để hiểu được vô thường, khổvô ngã. Đến lúc này, họ đang ở rất gần Pháp Cao Thượng mà họ hằng mong muốn. Khi 5 giác quan của họ ( Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ) đã trở nên thăng bằng, họ sẽ gặt hái được Pháp Cao Thượng ấy, đắc thành Đạo quả và Niết Bàn. Đó là lý do tại sao bạn phải thừa nhận “ Phương pháp quan sát để lãnh hội được bản chất tự nhiên của khổ thọ”.

                              

                           Bốn kiểu người mộ Đạo

 

 Những người đang thực hiện việc truyền bá và duy trì Giáo Pháp của Đức Phật có 2 dạng:  Tăng Già và những người mộ Đạo. Chỉ Tăng Già không thôi thì không thể thực hiện được việc truyền bá và duy trì Giáo Pháp của Đức Phật. Ngược lại, đối với những người mộ Đạo cũng như vậy.  Nếu họ không hợp tác với Tăng Già thì Phật sự cũng khó viên thành. Việc truyền bá Giáo Pháp phụ thuộc vào nhiều người, phụ thuộc vào nhiều điều kiện. Vì vậy, cả hai tổ chức ( Tăng Già và những người mộ Đạo) phải cùng làm việc với nhau thì Giáo Pháp của Đức Phật mới được hưng thịnh và bền vững. Đây là lời thuyết Pháp của Đức Phật. Làm việc với mục đích tìm kiếm Y phục và vật thực do cúng dường, kiếm tiền của để xây dựng tu viện, dự trữ các loại thuốc chữa bệnh và nhiều loại vật dụng cần thiết khác đã bị Đức Phật ngăn cấm.Vì vậy, Tăng Già phải phụ thuộc vào những người mộ Đạo. Kể từ khi con người thế tục đã trở nên quá bận rộn với những công việc hàng ngày như : Kinh tế,  xã hội, giáo dục, y tế, đất nước… Họ đã không còn nhiều thời gian để học tập, lắng nghe Giáo Pháp một cách đầy đủ. Hầu như họ cũng đã mất gần hết khả năng để thực hành Giáo Pháp một cách trọn vẹn.Vì vậy, họ phải phụ thuộc vào Tăng Già. Có 4 kiểu người mộ Đạo mà Tăng Già cần phải quan tâm đến, đó là :

 1. Được phép hỏi nhưng không thể cho

 2. Có thể cho nhưng không được phép hỏi

 3. Được phép hỏi và cũng có thể cho

 4. Không được phép hỏi và cũng không thể cho

 Trong sự phụ thuộc lẫn nhau , nếu Bốn kiểu người mộ Đạo này có sự hiểu biết lẫn nhau thì họ sẽ tránh được những sai lầm. Những sai lầm này có thể khiến cho việc truyền bá và duy trì Giáo Pháp bị trì trệ. Nếu cộng đồng này không hòa hợp thì cả Tăng Già lẫn những người mộ Đạo sẽ mắc phải nhiều sai lầm trong việc phụ thuộc lẫn nhau, họ không thể làm việc với nhau một cách trôi chảy để truyền bá và duy trì Giáo Pháp . Những hành động của họ có thể gây thiệt hại cho Giáo Pháp của Đức Phật. Có một vài người mộ Đạo ( không phải là người của Tăng Đoàn hay Giáo Hội) có thể được phép hỏi xin Tăng Già đáp ứng cho họ y phục, thức ăn , thuốc men và chỗ ở trong tu viện, nếu thật sự họ đang cần những thứ đó. Sau khi thỉnh cầu như vậy, nếu họ không dọn dẹp nơi ở của Tăng Già cho sạch sẽ thoát khí, không giặt giũ y phục cho Tăng Già, không đem giường chiếu của Tăng Già ra phơi khi trời nắng, không nấu nướng hay chuẩn bị vật thực để dâng cúng, không quét tước hay làm vệ sinh những nơi cần thiết khác trong tu viện… Nó tóm lại, họ không làm gì cả. Điều này có nghĩa là họ đã đến tu viện để tìm kiếm các nhu cầu mà mình đang cần, chứ không có liên quan gì đến Phật Sự. Đối với những người này ,Tăng Già có thể yêu cầu họ thực hiện nghĩa vụ của mình khi lưu lại trong tu viện , cũng không cần phải cho họ thêm cái gì cả. Như vậy gọi là được phép hỏi nhưng không thể cho. Có một vài người đến tu viện tìm kiếm y phục, vật thực, thuốc men chữa bệnh xong rồi đi. Họ không ở lại trong chùa hay tu viện. Đối với trường hợp này, tùy nghi hoàn cảnh, nếu nhận thấy những nhu cầu của họ là chính đáng và có khả năng đáp ứng, Tăng Già có thể cho họ những thứ mà họ đang cần .   

Tóm tắtĐừng bao giờ đưa người khác vào tình trạng bất đắc dĩ . Mặc dù có thể hỏi xin cái gì, tuy nhiên không thể cho, nếu không làm gì cả. 

 2.Có một vài người mộ Đạo ( không phải là người của Tăng Đoàn hay Giáo Hội ) có thể xây dựng hay sửa chữa  tu viện cho Tăng Già, quét tước, giặt giũ và làm vệ sinh cho tu viện, nấu nướng hay chuẩn bị vật thực để dâng cúng cho Tăng Già, cung cấp các vật dụng cần thiết cho Tăng Già nếu có tâm muốn cúng dường. Tuy nhiên, họ không được yêu cầu hay hỏi xin bất cứ thứ gì mà họ mong muốn. Đối với những người này, Tăng Già có thể cho họ cái gì đó nhưng họ không có quyền yêu cầu hay hỏi xin. Như vậy gọi là có thể cho nhưng không được phép hỏi.

Tóm tắt: Hoàn thành bổn phận thì có thể được cho cái gì đó, nhưng không được yêu cầu hay hỏi xin.

 3. Có một số người nam hay nữ thí chủ có thể yêu cầu và hỏi xin Tăng Già y phục, vật thực, thuốc men và chỗ ở trong tu viện mỗi khi họ cần. Những người này có thể xây dựng hay sửa chữa tu viện, quét tước, giặt giũ và làm vệ sinh cho tu viện, nấu nướng hay chuẩn bị vật thực để dâng cúng cho Tăng Già và thực hiện nhiều bổn phận khác. Đối với những người này, họ có thể yêu cầu hay hỏi xin Tăng Già bất cứ thứ gì, cũng như Tăng Già có thể cho họ bất cứ thứ gì. Như vậy gọi là được phép hỏi và cũng có thể cho.

Tóm tắt:  Hoàn thành bổn phận, được phép hỏi và có thể cho.

 4. Có một vài người không được phép yêu cầu hay hỏi xin Tăng Già y phục, vạt thực,thuốc men hay chỗ ở trong tu viện như họ mong muốn. Họ sẽ không được làm bất cứ cái gì cho Tăng Già. Đối với những người này, họ không được yêu cầu hay hỏi xin Tăng Già bất cứ cái gì, đồng thời Tăng Già cũng không thể cho họ bất cứ cái gì. Như vậy được gọi là không được phép hỏi và cũng không thể cho.

Tóm tắtKhông được yêu cầu, không có bổn phận gì, không được hỏi xin và cũng không thể cho bất cứ cái gì.

 Tăng Già và các người mộ Đạo cần phải thông suốt những qui tắc ứng xử đối với Bốn kiểu người mộ Đạo nói trên.Vì vậy, họ có thể tiếp tục thực hiện được việc truyền bá và duy trì Giáo Pháp của Đức Phật. Họ cũng sẽ gặt hái được nhiều lợi ích cho đến khi đạt tới Niết Bàn mong muốn.

 

     

 

      

       Không xa cách trong hiện tại và gặp lại ở tương lai

 

 Có được một trái tim khoẻ mạnh và cao thượng, được sống bên nhau mãi mãi là điều mà đôi vợ chồng nào trên đời này cũng mơ ước. Họ đang sống với nhau và cũng mong sẽ được gặp lại nhau trong những kiếp sống mai sau, cho đến khi đạt tới Niết Bàn. Nếu đôi vợ chồng nào mong ước đạt được điều đó thì họ phải thực hành 4 Pháp ( Dhamma - có nghĩa là khuôn mẫu, sự thật hiển nhiên đúng đắn, Giáo Pháp của Đức Phật, vạn hữu…) sau đây để ước mơ của họ có thể trở thành hiện thực. Đó là lời thuyết Pháp của Đức Phật trong Samajīvi Sutta ( Kinh Đồng Sanh - Am 1/ 373). Cả 2 vợ chồng đều phải thực hành 4 Pháp nói trên như nhau. Bốn Pháp đó là :

 1. Samasaddhā ( Same faith – niềm tin giống nhau)

 -  Chồng và vợ cần phải có niềm tin giống nhau về những gì mà cả 2 người đều tỏ ra tôn kính.

 2. Samasīla( Coequal commandments – giữ giới đồng đẳng )

 -  Chồng và vợ phải giữ giới đồng đẳng với nhau, ví dụ vợ giữ 8 giới và không vi phạm giới nào, thì chồng cũng phải giữ như vậy và ngược lại…

 3. Samacāgā ( Open- handed / Hào phóng như nhau )

  -  Chồng và vợ phải có tâm bố thí giống nhau. Ví dụ khi chồng muốn bố thí cái gì thì vợ cũng ủng hộ và thuận theo. Ngược lại, chồng cũng phải cư xử với vợ đúng như vậy.

 4. Samapaññā ( Coequal intelligence – trí tuệ đồng đẳng )

 Chồng và vợ phải có trí tuệ đồng đẳng với nhau. Ví dụ, khi đứng trước một vấn đề gì thì cả hai người đều có khả năng bình luận tương đương, cùng đồng ý với nhau về lý lẽ để tán thành hay phản đối vấn đề đó.

Tóm tắtNiềm tin giống nhau, giữ giới đồng đẳng, tính hào phóng và rộng lượng như nhau, trí tuệ đồng đẳng là 4 Pháp mà các đôi vợ chồng cần phải thực hành theo, nếu họ mong muốn được sống hạnh phúc bên nhau trong cõi đời này, cũng như khi đã đạt tới những cõi sống cao thượng khác.

Một người đàn ông giàu có tên là Nakulapità và vợ của ông tên là Nakulamata sống với nhau tại thành phố Susumàragira ở xứ Bhagga đã thỉnh cầu Đức Phật thuyết Pháp cho họ nghe. Đức Phật đã thuyết Samajīvi Sutta ( Kinh Đồng Sanh) cho họ nghe. Kinh này đã bao gồm 4 Pháp nêu trên. Sau đó, 2 vợ chồng ở Susumāragira đã cùng nhau thực hành 4 Pháp mà Đức Phật đã chỉ dạy nói trên một cách bình đẳng. Năm trăm kiếp về trước ở quá khứ, Nakulapitā và vợ của ông là cha mẹ của Đức Phật, trước khi Đức Phật đến thuyết Pháp cho họ nghe vào thời đó. Trong thời Đức Phật còn tại thế, họ là một đôi vợ chồng được sống gần gũi với Đức Phật nhất. Vì vậy, họ đã đạt được danh hiệu Etadagga ( người đạt danh hiệu này sẽ vinh dự được ngồi vào chỗ đầu tiên khi nghe Đức Phật thuyết Pháp / Pre- eminent position ), vượt qua tất cả các đôi vợ chồng khác có quen biết với Đức Phật vào thời đó ở xứ Bhagga. Đức Phật đã đến Susumāragira để vinh danh đôi vợ chồng Nakalapitā và Nakulamata. Khi đến nơi, Đức Phật đã nói cho họ biết rằng Ngài đã từng là con trai của họ trong quá khứ. Khi nghe Đức Phật nói như vậy họ rất buồn và có ý trách cứ Đức Phật rằng, Ngài đã đánh mất lòng tôn kính của một người con trai đối với cha mẹ của mình, rồi họ hỏi Đức Phật tại sao Ngài lại bỏ rơi họ mà ra đi như thế.  Đức Phật đã không nổi giận và Ngài đã tha thứ cho họ. Ngài nói rằng chuyện đó đã thuộc về quá khứ và trong kiếp sống hiện tại Ngài không còn là con trai của họ nữa. Tiếp đến, Đức Phật đã thuyết một bài Pháp thích hợp với tâm trạng buồn phiền và trách cứ của vợ chồng Nakulapitā. Họ đã nghe và nhận thức được rằng những suy nghĩ của họ là không thực tế. Khi bài thuyết Pháp của Đức Phật chấm dứt, cả hai vợ chồng Nakulapitā và Nakulamata đã đắc được quả Tu-Đà-Hườn ( Sotāpanna – Stream Winner). Sau đó, Đức Phật đã ra về. Khi đôi vợ chồng Nakulapitā và Nakulamata đã già, Đức Phật lại đến thành phố Susumāragira ở xứ Bhagga thêm một lần nữa. Trong lần này, hai vợ chồng Nakulapità đã đón tiếp Đức Phật và Tăng Đoàn, mời họ về nhà để dâng cúng vật thực và đồ ngọt. Khi Đức Phật đã thọ thực xong, hai vợ chồng tiến lại gần Đức Phật và Nakulapitā đã lên tiếng trước : “ Bạch Giáo chủ ! Vợ chồng con cưới nhau khi còn trẻ, đến bây giờ đã trải qua một quãng thời gian dài. Tuy nhiên, con vẫn đang còn sống với vợ con. Con đã tìm được hạnh phúc cả về thể xác lẫn tinh thần khi sống bà ấy , con chưa bao giờ sai lầm với bà ấy một chuyện gì. Con đã thoát khỏi được tất cả những lỗi lầm trong đời sống vợ chồng. Vì vậy, con mong muốn được sống với vợ con mãi mãi trong cuộc sống sống này, bà ấy sẽ luôn ở bên con. Con cũng ước mong rằng sẽ được gặp lại vợ con trong kiếp sống kế tiếp. Bây giờ con phải thực hành Pháp nào để được mãn nguyện ?  Khi Nakulapitā vừa dứt lời thì vợ của ông cũng tiến lại và bạch với Đức Phật như vậy. Đức Phật đã trả lời rằng, nếu họ mong muốn được tiếp tục sống hạnh phúc bên nhau trong kiếp sống này, được gặp lại nhau trong những kiếp sống mai sau thì hãy lắng nghe bài Pháp sau đây :

 1. Samasaddhā ( niềm tin giống nhau)

  - Hãy thực hành để có được niềm tin giống nhau

 2. Samasīla ( giữ giới đồng đẳng )

  -  Hãy thực hành để có thể giữ Giới đồng đẳng

 3. Samacāgā ( hào phóng và rộng lượng như nhau)

  -  Hãy thực hành để có tâm rộng lượng và tính hào phóng như nhau

 4. Samapaññā ( trí tuệ đồng đẳng )

- Hãy thực hành để có được lý lẽ và trí tuệ đồng đẳng

 Đức Phật cũng đã từng thuyết rằng, 4 Pháp này phải được cả hai vợ chồng Nakulapità và Nakulamata cùng thực hành một cách bình đẳng.

 

                        Không thể đền đáp trong 100 năm

 

 Biết ghi nhớ công ơn cha mẹ, những người con trai và những người con gái tốt lành luôn mong muốn đền đáp được công ơn đó. Họ ao ước được gánh mẹ trên vai phải và cha trên vai trái, nuôi nấng cha mẹ và thực hiện tất cả những bổn phận trong cuộc đời họ. Tuy nhiên, món nợ công ơn cha mẹ không thể đền đáp đầy đủ trong vòng 100 năm. Đức Phật đã từng thuyết Pháp về công ơn trời biển không thể đo lường của cha mẹ. ( Am 1/ 63)

Chỉ có người đã giác ngộ mới có thể đền đáp đầy đủ công ơn của cha mẹ trong vòng 100 năm. Chúng ta sẽ được biết về vấn đề này qua bài thuyết Pháp của Đức Phật sau đây : Những người làm con phải biết rằng có 3 điều khiến cho họ không thể đền đáp công ơn cha mẹ một cách hoàn hảo trong một đời người, Đức Phật đã nói rằng cha mẹ là:

 1. Con cái của Trời Phạm-Thiên

 2. Những bậc thầy đầu tiên và tốt nhất

 3. Những người đáng tôn kính ( Am 1/ 30)

 - Những vị Trời Phạm Thiên ở trên cao thỉnh thoảng trải rộng tâm từ ( Mettā – indulgent mind) và nói rằng : “Cầu chúc cho mọi loài chúng sanh được hạnh phúc trong thân tâm”. Thỉnh thoảng với tâm bi ( Karunā – compassion- lòng trắc ẩn) họ sẽ nói : “ Tất cả mọi loài chúng sanh đang lo lắng phiền muộn, cầu chúc cho họ được thoát khỏi tất cả những nổi khổ đau”. Thỉnh thoảng với tâm hỷ ( Muditā – Altruistic joy) họ có thể nói :  “ Cầu chúc cho mọi loài chúng sanh có được nhiều của cải và hưởng được sự giàu có”. Thỉnh thoảng với tâm xả ( Upekkhā– Equanimity) họ lại nói về người giàu lẫn người nghèo : “  Nghiệp của chúng sanh sẽ làm cho họ giàu có hoặc nghèo khổ”. Tương tự như vậy, bất cứ lúc nào, đa số các bậc cha mẹ cùng đều chăm sóc và nuôi nấng con cái của họ. Bất cứ lúc nào, các bậc cha mẹ cũng đều nhớ đến con cái của họ. Cha mẹ luôn trải rộng tâm từ không gì sánh nổi vì sự sống tốt đẹp của con cái họ. Khi các bậc cha mẹ thấy con cái của họ đau buồn, họ thương yêu và xót xa cho chúng, mong ước cho con cái của mình mau chóng thoát khỏi những điều bất như ý. Nổi niềm lo lắng của cha mẹ khi thấy con cái đau buồn không biết bao nhiêu mà kể. Khi các bậc cha mẹ thấy con cái của họ có được tiền của dồi dào, được học hành, có sức khoẻ tốt và hạnh phúc thì họ vui mừng không tả xiết. Tiếp đến, họ sẽ cầu mong sự giàu có luôn ở lại với con cái của họ và không bao giờ giảm sút. Các bậc làm cha mẹ thường rất vui mừng khi nhìn thấy con cái của họ được đầy đủ mọi thứ. Đó chính là niềm hạnh phúc vô bờ, không thể nào tả nổi.

  - Kể từ khi con cái bắt đầu chậm chững bước vào đời, các bậc cha mẹ đã dạy chúng với đại từ tâm. Họ dạy chúng cách đi, đứng, nằm, ngồi và ăn uống. Họ cũng dạy con cái của mình không được sát sanh, không được trộm cắp, không được phá đi sự trinh trắng của con cái người ta, không được nói dối, không được lừa gạt người khác, không được nói lời tục tỉu và lỗ mãng khó nghe, không được xử dụng các chất say, cách thức chọn bạn mà chơi…Cha mẹ thật là có tâm từ đối với cuộc sống tốt đẹp của con cái. Khi sự dạy dỗ của cha mẹ đối với con cái được tốt đẹp và hoàn hảo, con cái của họ sẽ trở nên đứng đắn và thành công trong cuộc sống. Cuộc đời của chúng sẽ được hạnh phúc. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã nói rằng, cha mẹ là những bậc thầy đầu tiên và tốt nhất.

  - Cha mẹ có tâm từ, bi, hỷ, , chỗ trú ngụ của họ là cõi trời Phạm Thiên. Họ luôn luôn thương yêu con cái của mình. Đó là lý do tại sao cha mẹ xứng đáng với những gì cao quí nhất, người làm con cái phải biết kính trọng và lễ phép với cha mẹ, phải chăm sóc và nuôi dưỡng họ bằng loại thức ăn tốt nhất, giặt giũ và may vá áo quần cho họ, cung cấp dầu thơm và các loại hương liệu cho họ, tắm rửa, tổng quất và rửa chân cho họ. Vì vậy, cha mẹ phải được tôn kính. Cha mẹ giống như những Người Cao Thượng ( Ariya puggala). Họ xứng đáng với những điều cao quí. Những lời chỉ dạy này là của Đức Phật. Cha mẹ là con cái của Trời Phạm Thiên, là những bậc thầy đầu tiên và tốt nhất, xứng đáng được vinh danh. Bởi vì họ có 3 phẩm chất tốt đẹp đó, cho nên công ơn của cha mẹ đối với con cái là không thể đền đáp một cách đầy đủ trong vòng 100 năm.

Tóm tắtCha mẹ là các vị Trời Phạm Thiên, là những bậc thầy đầu tiên tốt đẹp nhất, là những người cao thượng đáng tôn kính và vinh danh.

 

                               5 lợi ích của bố thí

 

 Đa số những người khôn ngoan đều mong muốn được sống lâu, có dung mạo xinh đẹp, được hạnh phúc, có nhiều bạn bè và quyền hạn. Mặc dù họ có quyền mong muốn 5 điều này.Tuy nhiên, nếu trong những kiếp sống ở quá khứ, họ không có phước báu thì họ sẽ không được mãn nguyện.

 1. Nếu con người cao thượng và Chư Thiên có một cuộc sống đoản thọ thì đó không phải là một hoàn cảnh thuận lợi. Trường thọ là một hoàn cảnh sống tốt đẹp và cao quí. Đó là lý do tại sao, đa số con người đều mong muốn được sống lâu và cố gắng tìm mọi cách điều chỉnh bản thân mình để đạt được điều đó.

 2. Trong cuộc sống của con người cao thượng và Chư Thiên, có dung mạo xấu xí là một hoàn cảnh bất tiện không có ai mong muốn. Có dung mạo ưa nhìn hay xinh đẹp là một hoàn cảnh thuận lợi. Đó là lý do tại sao, mọi người đều mong muốn có được một dung mạo xinh đẹp và cố gắng để đạt được điều đó.

 3. Trong cuộc sống của con người cao thượng và Chư Thiên, thật bất hạnh khi có một hoàn cảnh về vật chất và tinh thần thấp kém. Hạnh phúc về thể chất và tinh thần là một điều kiện tốt đẹp. Đó là lý do tại sao, mọi người đều mong muốn được hạnh phúc về thể chất và tinh thần. Vì vậy, họ vẫn luôn cố gắng điều chỉnh bản thân mình để đạt được điều đó.

 4. Trong cuộc sống của con người cao thượng và Chư Thiên không có bầu bạn là một điều tồi tệ. Có nhiều người xung quanh quan tâm và chăm sóc mình là một hoàn cảnh thuận lợi. Đó là lý do tại sao, mọi người đều thích có nhiều bầu bạn và những người chung quanh quan tâm chăm sóc mình. Vì vậy, họ cố gắng để có được điều đó.

 5. Trong cuộc sống của con người cao thượng và Chư thiên, nếu không làm được điều gì theo ý mình và bị nhiều người khác nhòm ngó, ngăn chặn là một hoàn cảnh không tốt chút nào. Được làm theo ý riêng của mình là một điều sung sướng. Đó là lý do tại sao, mọi người đều thích được làm theo ý riêng của mình. Vì vậy, họ cố gắng để có được quyền hạn. Tuy nhiên, những người mà trong các kiếp sống ở quá khứ đã không thực hành hạnh bố thí xứng đáng thì họ sẽ không thể có được 5 điều kiện mơ ước nêu trên. Chỉ khi đã gặt hái được hạnh bố thí xứng đáng trong những kiếp sống ở quá khứ thì bạn mới gặt hái được 5 lợi ích của phước báu bố thí. Trong thời Đức Phật Ca Diếp còn tại thế, có 2 Tỳ Kheo sống chung với nhau. Một hôm họ tranh luận với nhau về việc bố thí, một người trong họ nói : “ Bạn đã phải đi đến các ngôi nhà của người ta để khất thực rồi, mà bạn còn phải chia xẻ vật thực bố thí kiếm được cho nhiều người khác nữa ( Saranīya Dhamma). Nếu như thế thì bạn còn lại được cái gì ?  Người kia cãi lại rằng một Tỳ Kheo phải kiếm được mọi thứ vật thực và vật dụng nhiều hơn nhu cầu của mình rồi phân phối phần dư thừa đi bằng một cách nào đó. Bạn chỉ nên giữ cho mình một vài thứ đủ dùng thôi, đó là bổn phận của bạn ( Bhattaggavatta ).Vì vậy, để làm tròn bổn phận của mình, bạn phải biết chia xẻ hay bố thí vật thực và vật dụng cho nhiều người khác. Tiếp đến, hai vị Tỳ kheo này không có ai chịu chấp nhận ý kiến của người đối diện .Vì vậy, mỗi người trong họ đã tự thực hành theo phương pháp riêng của mình. Đến khi qua đời, họ được sanh lên cõi trời. Trong thời Đức Phật Cồ Đàm còn tại thế, hai Tỳ Kheo nói trên được sanh ra làm người tại thành Xá-Vệ ( Sāvatthī). Người thực hành theo phương pháp Saranīya Dhamma ( đi khất thực về và chia lại hoặc bố thí của cải kiếm được cho người khác ) trở thành con trai của quốc vương và hoàng hậu xứ Kiều-Tất-La ( Kosala). Vị Tỳ Kheo trong quá khứ đã không thực hành hạnh bố thí đã trở thành con của một người hầu của hoàng hậu. Hai vị Tỳ kheo đã sanh ra trong cùng một ngày. Ngày ấy họ được đặt tên để phân biệt với người khác. Sau đó, người thực hành Saranīya Dhamma rồi trở thành một hoàng tử đã nói với người kia : “ Bạn có thấy tôi đi dưới một chiếc dù trắng sang trọng và thật lộng lẫy không ? Bạn đã nhận thấy rằng hoàn cảnh nghèo khổ của bạn là thấp kém và áo quần mà bạn đang mặc là tồi tàn hay chưa ? Những điều đó đã xảy đến với bạn, bởi vì bạn đã không thực hành Saranīya Dhamma. Bây giờ bạn phải ngủ trong một cái giường xấu xí và than thân trách phận về giá trị thấp kém của mình trong xã hội.

Vị Tỳ Kheo không thực hành hạnh bố thí và trở thành con trai của một người hầu đã trả đũa lại : “ Vì có được hoàn cảnh sống sung túc và hảo hạng nên bạn đã trở nên quá kiêu ngạo, tự cao tự đại. Địa vị thấp kém, áo quần tồi tàn và giường ngủ đẹp đẽ đều chỉ là những vật được cấu thành bởi nhiều nguyên tố (Dhātu-Element ). Bản chất của chúng cũng giống nhau đó thôi. Khi hoàng tử Sudana tình cờ nghe được cuộc nói chuyện theo lối bảo thủ của 2 người trẻ tuổi, chàng đã đến gặp Đức Phật và hỏi Ngài : “ Bạch Giáo Chủ ! Có 2 người trong kiếp sống trước họ đều là Tỳ Kheo, hai người này có cùng một niềm tin. Họ đã giữ Giới đồng đẳng với nhau và mức độ thông thái cũng ngang nhau. Mặc dù  bề ngoài họ có vẻ giống nhau. Tuy nhiên, khi tìm hiểu sâu về họ thì có một người thực hành hạnh bố thí và người kia thì không. Đến khi chết cả hai người đều được sanh lên cõi trời Chư Thiên. Họ có gặt hái được lợi ích giống nhau không ? hay là khác nhau ?  Đức Phật đã trả lời : “ Này hoàng tử Sudana ! Họ không thể có lợi ích giống nhau. Người có thói quen thực hành bố thí khi sanh lên cõi trời sẽ được :

 1. Sống lâu

 2. Có dung mạo xinh đẹp

 3. Giàu có và hạnh phúc   

 4. Có nhiều bầu bạn và người quan tâm chăm sóc

 5. Có quyền hạn. Vì vậy, người này đã có được 5 lợi ích trên. Trong khi đó, người không thực hành hạnh bố thí sẽ không có được.     

 Hoàng tử Sudana lại tiếp tục hỏi Đức Phật  : Bạch Giáo Chủ ! Cả hai vị Chư Thiên đó khi được tái sanh làm người trần gian. Họ có gặt hái được lợi ích giống nhau không ? hay là khác nhau ? Đức Phật đã trả lời : “ Này hoàng tử Sudana ! Họ cũng không gặt hái được lợi ích giống nhau. Người đã thực hành hạnh bố thí khi tái sanh làm người sẽ được :

 1. Sống lâu

 2. Có dung mạo đẹp đẽ

 3. Giàu có và hạnh phúc

 4. Có nhiều bầu bạn và người quan tâm chăm sóc

 5. Có quyền hạn. Vì vậy, người này đã có được 5 lợi ích trên. Người này cũng có địa vị xã hội cao hơn người không thực hành hạnh bố thí.

Tóm tắtSống lâu, có dung mạo đẹp đẽ, hạnh phúc, có nhiều bầu bạn và có quyền hạn là 5 lợi ích của việc thực hành bố thí.

 Hoàng tử Sudana lại tiếp tục hỏi Đức Phật : “ Khi đã từ giã cõi thế tục và trở thành Tỳ Kheo trong Tăng Đoàn, họ có gặt hái được lợi ích giống nhau không ? hay là khác nhau ? Đức Phật đã trả lời rằng : “ Họ không thể gặt hái được lợi ích giống nhau. Vị Tỳ Kheo đã thực hành hạnh bố thí sẽ có được :

1. Nhiều y phục

2. Vật dụng và vật thực thừa thải

3.Nhiều tu viện

4.Nhiều thuốc men để chữa bệnh

5.     Nhiều Tỳ-kheo khácquan tâm chăm sóc và kính trọng

Với 5 lợi ích này ông ta sẽ có địa vị trong Tăng Đoàn cao hơn vị Tỳ Kheo kia - người đã không thực hành hạnh bố thí.  Hoàng tử Sudana lại hỏi tiếp : “ Bạch Giáo Chủ ! Khi hai vị Tỳ Kheo này thực hành thiền minh sát và trở thành A- La-Hán, họ có gặt hái được lợi ích giống nhau không ? hay là khác nhau ? Đức Phật đã trả lời : “ Này hoàng tử Sudana ! Khi đã trở thành A-La-Hán, họ đã hoàn toàn thoát khỏi được mọi thứ ô nhiễm và đều gặt hái được Đạo quả giống nhau. Lúc bấy giờ họ trở nên bình đẳng với nhau”. Hoàng tử Sudana rất hài lòng và nói : “ Bạch Giáo Chủ ! Con hết sức kinh ngạc khi được nghe bài Pháp mà Giáo chủ vừa thuyết. Trước đây, con chưa từng được nghe như thế bao giờ ! Hạnh bố thí mang lại lợi ích cho Chư thiên và cõi trời, mà cũng mang lại lợi ích cho người trần gian. Bây giờ con đã hiểu được lý do tại sao, người ta phải thực hành hạnh ấy. Đức Phật đã đáp lại với ý khuyến khích hoàng tử Sudana : “ Đó là một sự thật ! Mọi người nên thực hành hạnh bố thí !” ( Am 2 / 27)

 

Giáo Pháp của Đức Phật là con đường giải thoát duy nhất

  

 Mọi nổ lực để bảo vệ chính mình của một người để tránh khỏi sự thiệt hại, trước khi nó có thể xô ngã anh ta là khôn ngoan sáng suốt. Nếu sự thiệt hại là không thể tránh được thì người đó phải cố gắng bảo vệ chính mình bằng sức mạnh thể chất, trí tuệ hay bằng sự giàu có mà anh ta có thể huy động đến mức tối đa. Nếu không thể bảo vệ được chính mình, anh ta sẽ hỏi nhờ sự giúp đỡ của nhiều người khác – những người có khả năng giúp đỡ anh ta. Nhờ vào sự phòng ngừa với tất cả khả năng, một vài mối nguy hiểm có thể bị loại trừ. Tuy nhiên, cũng có những mối nguy hiểm không thể loại trừ. Do đó, những mối nguy hiểm không thể loại trừ chính là nguyên nhân dẫn đến đau khổ và than khóc. Chỉ khi đã biết được những mối nguy hiểm nào là không thể loại trừ để sẵn sàng đón nhận chúng, thì người ta mới có thể giảm nhẹ mức thiệt hại bằng một cách thức nào đó. Chỉ có Giáo Pháp của Đức Phật là có thể giải thoát cho con người ra khỏi những mối nguy hiểm không thể tránh được. Khi đứng trước mối nguy hiểm đến từ các hiện tượng tự nhiên sau đây, không có ai có đủ bản lãnh để loại trừ được chúng :

 1. Jarādhamma –  Mối nguy hiểm của tuổi già ( Danger of old age )

 2. Vyādhidhamma  -  Mối nguy hiểm của bệnh tật ( Danger of sickness)

 3. Maranadhamma  -  Mối nguy hiểm của sự chết ( Danger of death )

 4. Pārakammavipāka  -  Mối nguy hiểm của các nghiệp xấu ( Danger of bad kamma ). Đây chính là hậu quả hay tác động của những hành động xấu xa đã làm trong quá khứ ( Results of unwholesome past actions )

                                                                                                     ( Am 1 / 491)

 1. Tuổi già

Không có ai có thể đọ sức nổi với tuổi già. Chúng ta thường mong muốn đẩy lùi nó với hết khả năng có thể. Trong khi đó, những phát kiến khoa học tuyệt vời nhất cũng không thể làm được điều đó. Không có một ông đồng bà cốt hay một thế lực siêu nhiên nào có thể loại trừ được tuổi già. Vì vậy, không có ai có đủ khả năng để đẩy lùi được mối nguy hiểm của tuổi già.

 2. Bệnh tật

 Không có ai có thể đọ sức nổi với bệnh tật. Chúng ta thường cố gắng đẩy lùi nó với hết khả năng có thể. Tuy nhiên, những phát kiến khoa học gây kinh ngạc nhất cũng không thể làm được điều đó. Người ta chỉ có thể cố gắng chữa trị bệnh tật khi thấy nó xảy ra. Chúng ta cũng không thể nhờ một ông đồng bà cốt hay một thế lực siêu nhiên nào đẩy lùi được bệnh tật. Đó là lý do tại sao, chúng ta biết được không có một ai có đủ khả năng đẩy lùi được bệnh tật, bởi vì nó là một hiện tượng tự nhiên.

3. Sự chết

 Không có ai mong muốn mình chết. Vì vậy, chết là nổi đau khổ lớn nhất của đời người. Người ta vẫn luôn cố gắng tìm đủ mọi cách để đẩy lùi cái chết với hết khả năng có thể. Tuy nhiên, những phát kiến khoa học gây kinh ngạc nhất cũng không thể đẩy lùi cái chết. Chúng ta cũng không thể nhờ một ông đồng bà cốt hay một thế lực siêu nhiên nào đẩy lùi được cái chết. Đó là lý do tại sao, chúng ta biết được không có ai có đủ khả năng để đẩy lùi được cái chết.

 4. Nghiệp xấu

Không có ai mong muốn mình phải chịu đựng hình phạt của các nghiệp xấu. Tuy nhiên, những nhà bác học lỗi lạc nhất cũng không thể đẩy lùi được những hình phạt như thế bằng các phương pháp khoa học. Những người có ma thuật và các thế lực siêu nhiên cũng không thể làm được điều đó. Đó là lý do tại sao, chúng ta biết được không có ai có đủ khả năng đẩy lùi được hậu quả hay tác động của các nghiệp xấu.

 Thế nào là sự không đẩy lùi được những hình phạt do tác động của nghiệp xấu

 Trong một kiếp sống ở quá khứ, Ngài Đại Trưởng Lão Mục-Kiền- Liên là con trai độc nhất của hai người mù sống tại Bārānasī, đô thị của xứ Ba-La- Nại ( Bénarès). Khi đó, hạnh Ba-La-Mật ( Pāramī – Perfection) của Ngài vẫn đang còn non nớt. Như một người độc thân, Ngài làm việc để kiếm sống và nuôi cha mẹ. Sau đó, Ngài bị cha mẹ thúc giục phải thành hôn với một cô gái.Vợ của Ngài, sau 2 hay 3 ngày về nhà chồng đã phải chăm sóc nhạc phụ và nhạc mẫu mù loà của mình cực kỳ vất vả. Cô ta đã kêu ca phàn nàn khi chồng vừa về đến nhà sau một ngày làm việc vất vả. Người già thường bẩn, đầy cáu ghét và khó tính nên cách cư xử của họ thường không được tốt. Vì vậy, cô ta không muốn ở chung với cha mẹ chồng nữa và đã xử dụng nhiều mưu mẹo để thúc giục chồng thực hiện ý đồ xấu xa của mình. Điều này đã khiến cho Ngài Đại Trưởng Lão  Mục-Kiền-Liên rất lo lắng và buồn phiền. Ngài Mục-Kiền- Liên vốn là một người rất tốt bụng, Ngài luôn tin vợ và khi nghe người vợ lươn lẹo nói điều gì thì liền tin ngay. Sau đó, Ngài đã nói dối với cha mẹ mình rằng những người bà con của họ đang mong gặp họ và Ngài sẽ đưa họ đến thăm những người bà con đó. Sau khi nói như vậy, Ngài Mục-Kiền- Liên đã đặt cha mẹ Ngài lên một chiếc xe bò và lên đường. Khi họ đến giữa một vùng đất hoang cỏ dại mọc um ùm và có nhiều bụi rậm, Ngài Mục-Kiền-Liên đã nổi lửa đốt cháy chiếc xe bò để giết chết cha mẹ của mình. Sau đó, Ngài còn la toáng lên là mình bị cướp và thổ phỉ chặn đường để phi tang sự vụ. Ngài Mục-Kiền-Liên đã đánh cha mẹ của Ngài đến chết và bỏ xác họ lại trong khu đất hoang. Sau đó, vì tác động của nghiệp xấu là giết cha mẹ , Ngài Mục-Kiền-Liên đã phải chịu đựng cảnh khổ đau ở địa ngục hơn 100 ngàn năm. Hơn 100 năm sau khi đã thoát khỏi địa ngục, tác động của nghiệp xấu vẫn chưa buông tha Ngài Mục-Kiền-Liên. Ngài đã bị người ta đánh chết, xương của ngài bị đập cho tan tành thành từng mảnh nhỏ. Đến khi Đức Phật Thích Ca thành Đạo, Ngài đã trở thành Đại Trưởng lão Mục-Kiền-Liên. Ngài đã giữ danh hiệu Etadagga trong Tăng Đoàn và đạt được nhiều năng lực siêu phàm bậc nhất. Ngài Đại Trưởng lão Mục-Kiền-Liên đã lên tới cõi trời của Chư Thiên và hỏi họ về những phẩm hạnh xứng đáng mà họ đã làm và thuyết Pháp cao quí của Đức Phật cho các Chư Thiên nghe. Ngài cũng đã đi xuống địa ngục để hỏi chuyện những con người xấu xa, lầm lỗi vì những hành động mà họ đã làm và thuyết Pháp cao quí của Đức Phật cho họ nghe. Ngài có thể chu du trong lòng đất và trên không trung bằng năng lực siêu phàm của mình. Bởi vì Đại Trưởng Lão Mục-Kiền-Liên có thể chu du trong lòng đất và trên không trung để truyền bá Giáo Pháp, cho nên Ngài đã nhận được rất nhiều quà tặng và vật dụng.  Một thời, Ngài Mục-Kiền-Liên đang trú tại một tu viện được xây bằng đá thanh có tên là Thời gian ( Kāla – The Time) nằm bên cạnh đồi Isigili ( tức vườn Nai ở Sanarth), gần thành Vương-Xá ( Rājagaha). Vào thời đó, những người theo Tà giáo ( Titthis) đã ghen tị với Ngài Mục-Kiền-Liên, bởi vì Ngài được nhiều người yêu mến và kính phục. Hơn nữa, Ngài đã nhận được quá nhiều quà tặng. Điều này đã khiến cho họ thêm phần tức tối. Sau đó, những tên cướp tà giáo đã lấy đi 1000 đồng bạc và giết chết Đại Trưởng Lão Mục-Kiền-Liên. Lần thứ nhất, những tên cướp đã bao vây quanh Đại Trưởng Lão Mục-Kiền-Liên để giết Ngài. Tuy nhiên, vị Đại Trưởng Lão đã thoát được qua lỗ khoá bằng thần thông của Ngài. Lần thứ hai khi bị bao vây, Ngài đã bay lên mái nhà và đi bộ trong không trung. Lần thứ ba, Ngài lại bị những tên cướp bao vây. Trong lần này, vị Trưởng Lão đã tự ngộ ra rằng Ngài không thể thoát được, bởi vì phải chịu hình phạt do tác động của nghiệp xấu mà mình đã tạo ra. Vì vậy, Ngài đã đứng yên chịu chết mà không cố gắng chạy thoát khỏi vòng vây. Những tên cướp đã đánh vị Trưởng Lão

 ( Thera – Elder) cao thượng  cho đến khi xương của Ngài vỡ ra như những hạt gạo. Sau đó, chúng nghiền xương của Ngài Mục-Kiền-Liên thành bột nhưng Ngài không chết. Chỉ sau khi đi tìm Đức Phật và bạch với Giáo chủ những lời trăn trối cuối cùng xong, Ngài mới nhập vào Niết- Bàn-Vô-Dư ( Parinibbhāna –  tức Niết Bàn Trọn Vẹn). Mặc dù Ngài Đại Trưởng lão Mục-Kiền-Liên có thể chu du trong lòng đất và đi bộ qua bầu trời, nhận được danh hiệu Etadagga, đạt được thần thông siêu phàm, nhưng Ngài cũng không thể đẩy lùi được hình phạt do tác động của nghiệp xấu mang lại. Đó là lý do tại sao, có một sự thật hiển nhiên là không có ai có thể đẩy lùi được hình phạt do tác động của nghiệp xấu.

Tóm tắt: Tuổi già, bệnh tật, cái chết và nghiệp xấu là 4 điều không thể tránh được.

Bởi vì Ngài Đại Trưởng Lão Mục-Kiền-Liên đã là một A-La-Hán có nhiều năng lực siêu phàm. Ngài không bị khổ tâm mà chỉ bị khổ về phần xác, Ngài không hề đau buồn hay than khóc dù là một mảy may nào. Cuối cùng, Ngài đã được giải phóng ( ngày nay người ta thường dùng từ giải phóng- liberate thay cho từ giải thoát – Release – ND ). Nếu Ngài Đại Trưởng Lão Mục-Kiền-Liên không phải là một A-La-Hán thì Ngài đã phải chịu đựng thêm nhiều hình phạt khổ đau khác trong những kiếp sống ở tương lai do tác động của nghiệp xấu là giết cha mẹ. Tuy nhiên vào lúc đó, Ngài đã thực hành Phật Pháp và trở thành một A-La- Hán. Ngài đã thoát khỏi luân hồi và không còn tái sanh trong những kiếp sống mai hậu. Vì vậy, Ngài đã hoàn toàn thoát khỏi hình phạt do tác động của nghiệp xấu mang lại. Ngài đã hoàn toàn thoát khỏi tuổi già, bệnh tật và cái chết.

Tóm tắtChỉ có việc thực hành thiền minh sát mới có thể giúp cho bạn thoát khỏi 4 mối nguy hiểm là tuổi già, bệnh tật, cái chết và tác động của nghiệp xấu.

                      Tích luỹ và chia xẻ phước báu

 

Những Phật tử tin tưởng và gắn bó với việc thực hiện các phẩm hạnh xứng đáng. Họ mong muốn được thực hành hạnh bố thí, gìn giữ tập tục thảy nước cúng và lời chúc phúc. Trong khi thực hiện hạnh bố thí, họ cũng thường ao ước được vẩy nước cúng và nói lời chúc phúc. Một vài người lại có quan điểm khác trong việc chia xẻ các phẩm hạnh bố thí. Những người này nghĩ rằng việc thảy nước cúng và nói lời chúc phúc sau khi thực hiện bố thí là không cần thiết. Trong khi đó, một số người khác lại cho rằng việc thảy nước cúng và nói lời chúc phúc là có lợi ích và mang ý nghĩa chia xẻ phước báu mà họ vừa thực hiện. Thật ra tập tục thảy nước cúng và nói lời chúc phúc đã được gìn giữ từ lâu đời, nó có thể làm gia tăng phước báu vì :

 1. Bạn được thực hiện việc bố thí qua lời nói.

 2. Bạn được dùng lời ước của mình để chúc phúc cho người khác.

 3. Sau khi thực hiện việc bố thí, bạn có thể chia xẻ phước báu cho nhiều người khác. Bạn nên thực hiện 3 điều này :

1. Ngoài việc dâng cúng vàng, bạc, tiền ( các Tỳ Kheo không được thọ nhận các thứ này trực tiếp bằng tay) và thức ăn ( các Tỳ Kheo cũng không được cất giữ đến ngày hôm sau), bạn nên dùng lời nói để thể hiện lòng tôn kính khi dâng cúng. Mặc dù bạn không thể xây cất các tu viện hay tịnh xá bằng lời cầu chúc và thẩy nước cúng nhưng ý nghĩa và lợi ích của việc dâng cúng sẽ tăng lên gấp bội nếu bạn làm như thế. Đó là lý do tại sao hạnh bố thí của bạn sẽ được gia tăng. Tập tục thảy nước cúng và chúc phúc bằng lời nói là cần thiết, chúng ta nên thực hiện. Mặc dù khi thực hiện hạnh bố thí, hành động thảy nước cúng và chúc phúc bằng lời nói không phải là điều chính yếu. Tuy nhiên, những việc làm đó đã nói lên được ý nguyện ( Cetanā -  volition) thật sự hoan hỷ phát xuất từ đáy lòng của bạn.

 2. Cầu nguyện hay chúc phúc bằng lời ước cho cái gì hay một người nào đó là điều đã được Đức Phật và những người có đạo đức cao quí thực hiện trong quá khứ. Trưởng Lão Anuruddhā đã từng thực hiện điều đó khi Ngài còn là một người chuyên cắt cỏ rồi mang về bán cho người khác. Sau mỗi lần dâng cúng vật thực, Ngài đã ước nguyện rằng trong những kiếp sống về sau Ngài sẽ không bị sanh vào một gia đình nghèo khổ và không còn phải nghe những lời nói bất như ý. Lời ước nguyện này đã được đáp ứng khi Ngài trở thành hoàng tử Anuruddhā. Đó là lý do tại sao ước nguyện, chúc phúc cho cái gì hay cho một người nào đó là điều mà chúng ta nên làm, bởi vì nó mang lại lợi ích cho chính mình và cho người khác.

 3. Khi chia xẻ những phước báu cho người khác sau khi thực hiện bố thí, bạn sẽ gặt hái được thêm nhiều phước báu khác. Mặc dù bạn không mang đến cho người khác những thứ có tính vật chất cụ thể có thể sờ mó, nhìn ngắm…Tuy nhiên, sự chia xẻ đó cũng là một cách thực hành hạnh bố thí. Nhiều người hay nói “ Lành thay !” ( Sādhu – Welldone. Thật ra từ Sādhu trong ngôn ngữ Pāli có nghĩa là dạ, vâng, được - ND ) cũng làm gia tăng những phước báu mà họ đã gặt hái được. Đó là lý do tại sao, việc chia xẻ phước báu là điều nên làm bởi vì các phước báu sẽ gia tăng trong chính người thực hiện hành động đó và trong nhiều người khác. Trước khi Đức Phật Cồ Đàm xuất hiện trên thế gian, vào thời Đức Phật Tối-Thắng-Bạch-Liên ( Padumuttara) đang tại thế, Tôn giả Anuraddhā đã hy vọng và ước nguyện cho mình đạt được danh hiệu Etadagga. Vào lúc đó, Ngài chỉ là một người đàn ông chở cỏ nghèo khổ làm công ở mướn trong nhà của phú ông Sumana. Người ta gọi Ngài là Annabhāra nghèo khổ. Một hôm, khi đang gánh những bó cỏ về nhà, Annabhāra băng qua một bãi đất hoang thì anh ta gặp vị Phật Độc Giác Uparitha đã đắc được tầng thiền “ diệt thọ tưởng định” ( Nirodha Samapatti-  Attainment of extinction. Người đã đạt tới tầng thiền này sẽ có thần thông như vào lửa không nóng, xuống nước không ướt, có thể bay trên không trung…-ND).

 Từ trên không trung tay ôm bình bát khất thực, vị Phật Độc Giác ngự xuống đất và dừng lại ngay trước mặt Annabhāra. Khi thấy Phật Độc Giác đang đi khất thực, Annabhāra tiến lại gần Ngài và hỏi xin được cúng dường rồi vội vã trở về nhà.

Khi về đến nhà, anh ta thúc giục người vợ nghèo khổ đặt bữa ăn của anh ta vào bát khất thực để dâng cúng. Anh ta đã nói với vợ rằng : “ Chúng ta nghèo khổ và cực nhọc để kiếm được thức ăn, áo quần và chỗ ở bởi vì chúng ta thiếu phước. Trong các kiếp sống ở quá khứ chúng ta đã ít khi thực hiện được những hành động phước thiện. Thỉnh thoảng, chúng ta có được cái gì để đem dâng cúng thì chẳng có ai nhận cả. Khi có người nhận thì chúng ta không có gì để dâng cúng. Nay gặp được Phật Độc Giác chấp nhận cúng dường thì chúng ta hãy cúng cho Ngài bữa ăn này”. Vì vậy, hai vợ chồng Annabhàra đã rất hoan hỷ và thích thú khi có cơ hội cúng dường cho Phật Độc Giác. Người vợ nghèo khổ của Annabhāra là người có niềm tin bẩm sinh, nên khi đã đồng ý với lời đề nghị của chồng, cô ta liền đặt phần ăn của mình vào bát để Annabhāra mang đi dâng cúng luôn. Sau đó, Annabhāra đã cúng cả hai phần ăn của vợ chồng mình cho vị Phật Độc Giác. Khi vị Phật Độc Giác vừa thọ thực xong, Annabhāra đã ước nguyện rằng sở dĩ anh ta cúng dường bữa ăn này là vì ước muốn rằng mình sẽ không bao giờ còn bị tái sanh vào một gia đình nghèo khổ trong những kiếp sống ở tương lai.  Anh ta cũng ước nguyện rằng trong những kiếp sống ở tương lai đó, bản thân sẽ không còn phải nghe những lời nói bất như ý. Việc dâng cúng vật thực của Annabhāra có những phẩm chất tốt lành sau đây :

 1. Người nhận vật thực cúng dường là một vị Phật Độc Giác.

 2. Ý nghĩ dâng cúng vật thực cho vị Phật Độc Giác đã hình thành từ trước trong tâm của Annabhāra.

 3. Những vật thực đem dâng cúng đã đạt được tiêu chuẩn qui định trong giới luật

( kiếm được của cải một cách lương thiện để dâng cúng) bởi vì Annabhāra kiếm được chúng từ việc cắt cỏ của anh ta.

 4. Ý nguyện dâng cúng của Annabhāra là cực kỳ thành tâm.

 Đó là lý do tại sao vật thực dâng cúng có thể mang lại lợi ích to lớn. Nó đã làm cho Annabhāra từ một người nghèo khổ trở thành một người giàu có và quí phái. Bây giờ, chúng ta đã biết được những lời ước nguyện hay chúc phúc được thốt ra khi thực hiện các phẩm hạnh xứng đáng là rất hiệu nghiệm. Vì vậy, khi thấy ai làm được điều gì xứng đáng hoặc khi muốn chia xẻ phước báu của mình với người khác, chúng ta nên nói lớn câu “ Lành thay !” như một lời chúc phúc tốt đẹp có lợi cho tinh thần của người khác và cho chính chúng ta. Khi phú ông Sumana hỏi Chư Thiên lý do tại sao họ lại nói “  Lành thay !” thì Chư Thiên đã đáp rằng họ nói cho việc dâng cúng vật thực của Annabhāra, bởi vì đó là một phẩm hạnh xứng đáng. Phú ông Sumana lại hỏi Chư Thiên tại sao họ không nói “  Lành thay!” cho những lần dâng cúng vật thực thịnh soạn hàng ngày của ông ta mà lại nói như thế với việc dâng cúng vật thực của Annabhāra. Anh ta chỉ cúng được có một bữa ăn ít ỏi không đáng là bao. Chư Thiên đã trả lời rằng, nếu dâng cúng như Annabhāra thì mới gặt hái được nhiều lợi ích và mới xứng đáng được người khác thốt lên câu

Lành thay!”. Khi nghe Chư Thiên nói như vậy, phú ông Sumana đã yêu cầu Annabhāra bán cho mình phước báu của anh ta với giá 1 đồng bạc. Annabhāra đã từ chối và nói anh ta không thể làm như vậy được. Phú ông Sumana lại nâng giá lên 1000 đồng bạc nhưng Annabhāra vẫn từ chối. Cuối cùng, phú ông Sumana phải hỏi xin Annabhāra chia xẻ phước báu cho mình bằng cách nói câu “  Lành thay !”. Annabhāra đã đi hỏi vị Phật Độc Giác rằng, anh ta có nên chia xẻ phước báu của mình cho phú ông Sumana hay không. Vị Phật Độc Giác đã trả lời rằng : “ Này Annabhāra ! Trong một ngôi làng kia có 100 ngôi nhà. Tuy nhiên, chỉ có một ngôi nhà là có giữ lửa. Người trong 99 ngôi nhà còn lại phải đến ngôi nhà có giữ lửa để xin lửa. Nếu làm như vậy thì lửa trong ngôi nhà kia không phải vì thế mà ít đi và tất cả ngôi nhà trong ngôi làng ấy sẽ trở thành có lửa. Tương tự như vậy, khi con chia xẻ phước báu của mình cho người khác thì không phải vì thế mà phước báu của con sẽ bị ít đi, ngược lại nó còn được nhân lên gấp bội”. Khi nghe Phật Độc Giác nói như vậy, Annabhāra liền trở về nhà và chia xẻ phước báu của mình với phú ông Sumana. Sau đó, phú ông sumana đã cho Annabhāra 1000 đồng bạc như lời hứa và nhiều vật dụng cần thiết khác. Ông ta đã đưa Annanbhāra đến gặp vua. Nhà vua cũng cho Annabhāra 1000 đồng bạc và cấp cho anh ta một mảnh đất nhỏ để dựng nhà. Đang khi dọn sạch khu đất vừa được vua cấp cho để dựng nhà, Annabhāra đã đào được một hủ vàng và từ đó anh ta trở thành người giàu có.

( Am ttha 1 / 146 )

Tóm tắt:   Tích luỹ và chia xẻ phước báu sẽ gặt hái được lợi ích giống như câu chuyện về lửa của vị Phật Độc Giác Uparitha.

 

            

                 Ăn đúng cách sẽ mang lại phước báu

 

Người khôn ngoan sáng suốt sẽ biết tôn trọng Phật Pháp, mong muốn loại trừ tội lỗi và gặt hái được phước báu càng nhiều càng tốt. Bất cứ lúc nào họ cũng tôn trọng Phật pháp, thậm chí khi ăn họ cũng mong muốn gặt hái được phước báu. Con người ta thường có 3 nhu cầu quan trọng nhất đó là thức ăn, y phục và nơi cư trú. Thức ăn là quan trọng nhất, bởi vì nó là nhu cầu cần thiết hàng ngày. Khi đang ăn, nếu không có một lý do chính đáng nào chúng ta sẽ gắn bó với thức ăn ngon, như vậy là tham lam. Nếu chúng ta lệ thuộc vào thức ăn mà mình xử dụng hàng ngày thì điều ấy sẽ làm gia tăng tính tham lam, sân hận và tội lỗi trong chính chúng ta. Đó là lý do tại sao những người tôn trọng Phật Pháp và mong muốn gặt hái được phước báu cần phải có một cách ăn nào đó để thực hiện được ước nguyện của mình. Có 3 cách ăn có thể giúp bạn gặt hái được phước báu :

 1. Ăn trong Giới luật ( Eating with Sīla)

 2. Ăn trong thiền định ( Eating with Samātha)

 3. Ăn trong thiền quán ( Eating with Vipassanā)

  Ăn trong Giới luật

 Bạn cần chiêm nghiệm rằng, mình không nên vừa ăn vừa chơi như trẻ nhỏ, không nên ăn với mục đích trang điểm hay làm đẹp, cũng không nên ăn để có được một sức mạnh thể chất rồi kiêu hãnh vì sức mạnh đó. Chúng ta ăn bởi vì cần sức khoẻ để làm việc cho Phật Pháp, để làm việc vì lợi ích của chính chúng ta, cho nhiều người khác và để thực hành Phật Pháp Cao Thượng.Vì vậy, ăn một cách thông thái là biết cách ăn trong Giới luật.

Tóm tắt: Điều làm cho chúng ta có thể thực hành Phật Pháp là ăn một cách thông thái, tức là cách ăn trong Giới luật.

  Ăn trong thiền định

Khi đang ăn, bạn cố gắng rải tâm từ ( Mettā) của mình đến với những người đã chuẩn bị hay nấu nướng thức ăn, đến với cha mẹ và thầy cô giáo – những người đã bảo bọc chúng ta, đến với những người bố thí hay dâng cúng thức ăn. Bắt đầu từ những người này, chúng ta hướng tâm Từ đến muôn loài chúng sanh trong 8 hướng 10 phương và cầu chúc cho tất cả họ được mạnh khoẻ, an vui và hạnh phúc. Đây là cách ăn trong thiền Định nhằm mục đích gặt hái phước báu.

Tóm tắt: Rải tâm Từ đến muôn loài chúng sanh khi đang ăn là cách ăn trong thiền định.

 Ăn trong thiền quán

 Kể từ khi nhìn thấy thức ăn, bạn hãy chú ý vào mọi hành động của chính mình khi đang ăn. Khi đang nhìn thấy thức ăn, bạn nên chú ý để nhìn chúng.  Khi lấy ( gắp, múc…) thức ăn ra khỏi bàn ăn để dùng riêng, bạn cần chú ý và niệm thầm trong tâm “ đang gắp,đang  múc”…  Khi bắt đầu tiếp xúc với thức ăn bạn cần niệm “ đang tiếp xúc, đang tiếp xúc”... Khi chuẩn bị đưa thức ăn vào miệng, bạn cần niệm “ đang chuẩn bị đưa vào miệng, đang chuẩn bị đưa vào miệng”… Khi đang cúi đầu xuống, chúng ta cần niệm “ đang cúi xuống, đang cúi xuống”… Khi đang đưa thức ăn vào miệng, bạn cần niệm “ đang đưa thức ăn vào miệng, đang đưa thức ăn vào miệng”… Khi đang ngẫng đầu lên và nhai thức ăn, bạn cần niệm “ đang ngẫng đầu lên và nhai thức ăn”… Khi đanh nhận biết mùi vị của thức ăn là cay, chua, mặn, đắng… bạn cần niệm “ cay, chua, mặn, đắng”… Khi đang nuốt thức ăn, bạn cần niệm “ đang nuốt, đang nuốt”... Cứ như thế, bạn hãy chú ý tới mọi hành động của mình khi đang ăn trong thiền quán hay thiền minh sát. Nhờ đó, bạn sẽ gặt hái được phước báu trong thiền quán.

Tóm tắt: Chú ý đến những hành động của mình khi đang ăn là ăn trong thiền minh sát.

Khi mới tập luyện ăn trong thiền minh sát chúng ta thường bỏ qua ( đúng ra là chưa có khả năng chú ý được) rất nhiều hành động của mình trong khi ăn. Ty nhiên, dần dần chúng ta sẽ có thói quen chú ý đến những hành động ăn. Khi mới tập luyện ăn trong thiền minh sát, bạn nên duy trì sự chú ý rõ ràng trên một hành động nào đó như là một đề mục quan sát chính yếu. Ví dụ như chú ý đến hành động gắp thức ăn ra khỏi bàn ăn chẳng hạn, hoặc có thể là hành động đang cúi đầu xuống để gắp thức ăn hay đang ngẫng đầu lên để nhai… Nếu bạn có thể chú ý đến một hành động nào đó của chính mình trong khi đang ăn thì sau đó, bạn sẽ có khả năng chú ý đến mọi hành động khác. Khi thực hiện sự chú ý trong khi ăn, bạn nên tập trung phát triển sự chú ý trên một phạm vi nhất định nào đó sao cho thật vững vàng và chính xác. Nếu thực hành như thế, bạn sẽ nhận thức được rằng, hành động của thân thể và sự chú ý của tâm trí là 2 phương diện tách biệt chứ không phải là một. Khi năng lực định tâm đã phát triển đến một mức độ nào đó, bạn sẽ phát hiện ra rằng, cảm giác thèm ăn và hành động ăn đã biến mất hay sẽ dần dần biến mất đi. Nói cách khác, khi mới tập ăn trong thiền minh sát, bạn có thể nhằm tưởng rằng cảm giác thèm ăn và các hành động ăn là có thật. Tuy nhiên thật ra, không có ai thèm ăn và cũng không có người ăn. Sở dĩ chúng ta nhận thấy mình đang thèm ăn và đang thực hiện các hành động ăn là vì sự định tâm của chúng ta chưa cao. Vì vậy, tâm của chúng ta đã bị dính mắc vào các hiện tượng giả tạm đó. Sự dính mắc này đã khiến cho chúng ta nhận thức lầm lạc rằng mình đang có cảm giác thèm ăn và đã thực hiện các hành động ăn. Khi đang ăn, nếu có khả năng nhận thức đến mức này thì bạn đã gặt hái được phước báu khi ăn trong thiền minh sát. Những người có các hạnh Ba-La-Mật đã chín muồi là những người đã gặt hái được những điều cao thượng trong thân tâm mình. Cách đây rất lâu, Ngài Trưởng Lão Tỳ Kheo Upajihāya Rakkhita và người cháu gọi bằng cậu của Ngài là một Giới tử (Sāmanera, tức chú Điệu mới học việc tại chùa hay Tỳ-kheo tân học - ND) cùng ở chung trong một tu viện. Mỗi buổi sáng, vào khoảng 8 giờ 30 phút hay 9 giờ, vị Giới tử đi đến các ngôi nhà xung quanh tu viện để khất thực và thường trở về tu viện vào khoảng hơn 10 giờ 30 phút hay 11 giờ để dùng bữa trưa tại đây. Khi vị Giới tử đang ăn thì Trưởng Lão Rakkhita ( Mahāsangha Rakkhita) đã đến và la rầy rằng : “ Này Giới tử ! Đừng có ăn cơm nóng với cà-ri, coi chừng phỏng lưỡi đó !”. Mặc dù vị Trưởng Lão Tỳ Kheo vẫn biết thức ăn mà các gia đình chọn lựa để cúng dường đã nguội từ lúc 10 giờ 30 phút hay chậm nhất cũng là 11 giờ. Tuy nhiên, Ngài vẫn la rầy vị Giới tử như vậy. Thật ra, vị Trưởng Lão không phải có ý muốn nói đến cơm nóng và cà-ri, Ngài muốn nói rằng tính tham ăn hay tham lam nói chung và sân hận là thức ăn nóng có thể làm phỏng lưỡi. Vì vậy, vị Giới tử đã chú ý đến các hành động của mình trong khi ăn. Khi đang ăn các loại thức ăn ngon và không chú ý đến các hành động ăn của chính mình, bạn sẽ trở nên bị lệ thuộc vào chúng, như vậy là tham ăn ( Rasatanhā). Vì đã quen ăn ngon, đến khi  phải ăn các loại thức ăn dở, bạn sẽ không hài lòng và trở nên sân hận. Do đó, tham lam và sân hận chính là thức ăn nóng có thể đốt cháy lưỡi của chúng ta. Vì sợ bị phỏng lưỡi nên vị Giới tử kia đã ăn trong sự chú ý ( tức ăn trong Chánh niệm – pay attention for eating). Khi đang ăn trong chánh niệm, vị Giới tử đã trở thành một A-La-Hán.

Tóm tắtKhi đang ăn trong chánh niệm, bạn có thể trở thành một A-La-Hán.

 

              Sẽ được nhiều hạnh phúc nếu không sai lầm

 

 Một ngày nọ, trưởng giả Cấp-Cô-Độc ( Ānathapindika) đi đến tu viện Kỳ-Viên

( Jetavana vihāra), nơi Đức Phật đang trú ngụ. Sau khi đảnh lễ ( paying obeisance) Đức Phật, ông ngồi xuống một chỗ thích hợp. Lúc đó, Đức Phật đã nói với trưởng giả Cấp-Cô-Độc rằng : “ Trên thế gian có 4 loại hạnh phúc mà mọi người đang sống ở đó có thể gặt hái được, đó là :

 1. Hạnh phúc của sự giàu có ( Atthi Sukha – Happiness of  having wealth)

 2. Hạnh phúc của việc xử dụng của cải một cách đúng đắn ( Bhoga Sukha – Happiness of  using the wealth)

 3. Hạnh phúc vì không bị nợ nần ( Ānya Sukha-Happiness due to being free from debts )

 4. Hạnh phúc vì không sai lầm ( Anavajja – to be free from faults )

   A. Con người ta sống trong kiếp người cao quí này sẽ phải lo lắng khi họ không có tài sản gì, thiếu thốn thức ăn, áo quần, chỗ để trú ngụ và không biết tương lai sẽ ra sao. Nếu kiếm được nhiều của cải một cách phi pháp thì họ phải suy nghĩ và lo lắng về những hình phạt có thể xảy đến với mình.

Người kiếm được nhiều của cải một cách hợp pháp thì đó là hạnh phúc của chính họ và điều đó cũng làm cho cha mẹ, con cái, thợ thầy và bạn bè của họ được hạnh phúc theo. Bởi vì họ có thể cúng dường cho Tăng Già và bố thí cho những người hỏi xin bố thí, vì vậy họ đã có được lợi ích là hạnh phúc. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã thuyết rằng, người kiếm được nhiều của cải bằng sức lực và trí tuệ của chính mình một cách lương thiện sẽ được hạnh phúc trong thế giới loài người.

Tóm tắtCó được nhiều của cải một cách hợp pháp là một nguyên nhân dẫn đến hạnh phúc.

 B. Người không kiếm được nhiều của cải một cách hợp pháp sẽ bất hạnh vì họ thiếu thức ăn, áo quần và nơi trú ngụ. Họ cũng sẽ làm cho cha mẹ, con cái, người quen biết và thợ thầy của họ cảm thấy bất hạnh theo. Họ sẽ bất hạnh bởi vì họ không thể bố thí cho những người cần nhận quà bố thí.

Những người kiếm được nhiều của cải hợp pháp có thể biếu tặng thức ăn, quần áo cho cha mẹ, người quen biết và thợ thầy của họ. Họ cũng có thể chia xẻ hay cúng dường cho các Tỳ Kheo, bố thí cho người nghèo.Đó là lý do tại sao, Đức Phật đã truyền bá rằng, nếu có thể chia xẻ của cải mà mình kiếm được một cách hợp pháp, biết cách xử dụng chúng và bố thí là những nguyên nhân dẫn đến hạnh phúc.

Tóm tắtBiết cách xử dụng của cải và bố thí là những nguyên nhân dẫn đến hạnh phúc.

 Đúng theo lời Đức Phật đã chỉ dạy, của cải kiếm được một cách hợp pháp nên được chia làm 4 phần. Một phần dành cho cha mẹ, vợ con, bạn bè và những người cần nhận của bố thí. Hai phần dành để đầu tư vào công việc làm ăn. Một phần dành để chữa bệnh.

 C. Những người không kiếm được của cải một cách hợp pháp sẽ bị nghèo khổ :

 - Vì nghèo nên họ phải đi vay mượn tiền bạc để sinh sống và mang công mắc nợ. Đó chính là một nguyên nhân dẫn đến bất hạnh.

 - Phải đi vay mượn tiền bạc của người khác là một nỗi bất hạnh

 - Phải cam kết trả nợ đúng kỳ hạn là một nỗi bất hạnh

  - Bị sự thúc bách và đòi hỏi của chủ nợ là một nỗi bất hạnh

  - Bị người chủ nợ săn đuổi, tìm kiếm là một nổi bất hạnh

  - Nếu không trả được nợ thì phải bị tù tội và đó cũng là một nổi bất hạnh.

 Vì vậy, người bị mắc nợ phải lo lắng và đau khổ đủ thứ. Có những người không bao giờ bị nợ nần, bởi vì họ đã kiếm được nhiều của cải một cách công bằng và hợp pháp. Điều này có nghĩa là họ đã thoát được việc đi vay mượn của người khác, lời cam kết phải trả nợ, tình trạng thúc bách đòi hỏi của chủ nợ và tù tội nếu không trả được nợ.Vì vậy, cuộc sống của họ được hạnh phúc và yên bình. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã thuyết rằng, không bị nợ nần là một loại hạnh phúc của con người đang sống trong thế giới này.

Tóm tắt:   Không bị nợ nần là một nguyên nhân dẫn đến hạnh phúc

 D. Có quyền được hạnh phúc vì không có sai lầm :

 - về phương diện thể xác ( thân)

 - trong lời nói ( khẩu)

 - về phương diện tâm thần ( ý)

Không bị sai lầm về mặt thể xác nghĩa là: không sát sanh,không trộm cắp, không tà dâm.

Tóm tắtSát sanh là nguyên nhân dẫn đến đoản thọ, trộm cắp là nguyên nhân dẫn đến nghèo khổ, tà dâm là nguyên nhân dẫn đến hận thù.

 Khi có một đời sống thanh cao trong sạch, chúng ta sẽ sống rất thọ , ít bị bệnh tật, được nhiều người yêu mến. Đó là những điều lợi ích sẽ làm nên một cuộc sống hạnh phúc cho chính chúng ta. Trong những kiếp sống ở tương lai chúng ta sẽ được hạnh phúc ở cõi trời Chư Thiên Cao Thượng, nơi có những thứ xa hoa và lộng lẫy.

 Không bị sai lầm trong lời nói nghĩa là :

 Không nói dối, không nói lời vu khống đâm thọc gây chia rẽ và bất hoà, không nói lời sỉ nhục phỉ báng thô lỗ, không nói lời phù phiếm vô nghĩa. Trong cuộc sống thực tế hàng ngày, chúng ta bị buộc phải xử dụng lời nói để giao tiếp, diễn giải, thuyết trình… Vì vậy, thật khó mà tránh được sai lầm trong lời nói. Có những tình huống trong cuộc sống đưa đẩy chúng ta đến việc phải nói dối, vu khống và chia rẽ. Có những trường hợp khiến cho chúng ta không thể nhẫn nhục và kìm chế rồi dẫn đến nói lời sỉ nhục thô lỗ. Cũng có những hoàn cảnh xui khiến chúng ta nói những lời phù phiếm vô nghĩa. Đó là lý do tại sao, chúng ta rất khó mà tránh được những sai lầm trong lời nói. Trong cuộc sống gia đình, ở trường học ( thầy cô giáo và học sinh), ngoài xã hội… Bạn phải hết sức cẩn thận trong việc xử dụng ngôn ngữ. Thỉnh thoảng, cha mẹ và thầy cô giáo vì muốn con cái hay học trò của mình trở nên tốt lành nên họ đã nói những lời thô lỗ. Tuy nhiên, đó không phải là loại ngôn ngữ họ thường xuyên xử dụng, chỉ khi có tâm ý muốn xử dụng nó thì loại ngôn ngữ đó mới phát lộ ra . Nếu ngôn ngữ được xử dụng là loại ngôn ngữ dịu dàng lịch sự nhưng ý nghĩ trong tâm người xử dụng thô lỗ thì loại ngôn ngữ này cũng sẽ trở thành thô lỗ. Có một thời, nắm quyền trị vì một đất nước là một vị hoàng đế với quần thần là các hoàng tử và các vị quan thượng thư của triều đình . Một hôm, vị hoàng đế nhận được tin báo là có kẻ phản loạn. Nhà vua không muốn dùng lời nói thô lỗ trước quần thần thanh liêm chính trực được vua tôn trọng, Ngài bèn nói : “ Hãy đưa kẻ phản loạn đến một vùng đất hoang và làm cho anh ta ngủ đi”. Mặc dù lời nói của nhà vua rất ngọt ngào lịch sự nhưng tâm ý của Ngài là muốn cho kẻ phản loạn phải chết. Vì vậy, ngôn ngữ của nhà vua đã trở nên thô lỗ.  Mặt khác, dù lời nói thô lỗ nhưng tâm ý không thô lỗ thì người nói thứ ngôn ngữ đó cũng không bị cho là sai lầm trong lời nói. Cách đây rất lâu, có một người mẹ và người con trai của bà đang sống chung trong một ngôi nhà. Kể từ khi họ không có suy nghĩ giống nhau, họ bắt đầu cãi nhau và sau đó tình trạng bất đồng ý kiến này cứ liên tục xảy ra. Người con trai nói : “ Tôi không thể sống chung với một người mẹ vụng về và thô lỗ như bà. Tôi sẽ rời khỏi căn nhà này và đến ở tại một nơi khác”. Sau khi nói như vậy, anh ta bỏ nhà ra đi. Người mẹ không muốn con trai mình đi khỏi nhà, bà đã nguyền rủa anh ta : “ Nếu mày đi, tao cầu cho mày bị một con trâu cái trong rừng húc chết trên một vùng đất hoang, mày cứ đi đi !”. Người con trai không chịu nghe lời mẹ mình nói và cứ ra đi. Khi anh ta đến một vùng đất hoang thì quả đúng như lời bà mẹ đã nói, một con trâu rừng cái đang chạy về phía anh ta với tốc độ cực nhanh và càng lúc càng tiến lại gần. Không biết phải làm cách nào để thoát thân, anh ta đã buộc miệng thề rằng : “ Nếu những gì mẹ tôi đã nói với tôi là không có chủ ý thì con trâu này sẽ không húc tôi, còn nếu bà có chủ ý thì con trâu cứ việc húc tôi chết”. Mặc dù không hiểu gì về những lời ước nguyện và thề thốt của người con trai nọ, tuy nhiên con trâu rừng đã đổi hướng và chạy đi nơi khác. Những lời nói của bà mẹ vừa kể trên mặc dù rất vụng về và thô lỗ. Tuy nhiên, tâm ý của bà ta không phải như vậy. Do đó, trong trường hợp này, chúng ta không thể cho rằng là bà ta đã sai lầm trong lời nói. Những người mong muốn mình không bị sai lầm trong lời nói cần phải hoàn thiện 5 nhân tố sau đây :

 1. Nói những lời thích đáng

 2. Nói đúng sự thật và đừng nói dối

 3. Nói những lời dịu dàng hòa nhã

 4. Nói những lời mang lại lợi ích

 5. Nói với tâm từ và tâm bi

 Nếu lời nói của bạn chứa đựng đầy đủ 5 nhân tố này thì bạn không thể nào sai lầm trong lời nói được. Nhờ đó, chắc chắn bạn sẽ gặt hái được hạnh phúc. ( Am 2 / 213 ) Những người không sai lầm trong lời nói và có hạnh kiểm tốt ( giữ Giới trong sạch) sẽ :

 1. Kiếm được nhiều của cải và giàu có một cách dễ dàng

 2. Có được tiếng tốt

 3. Có nhiều bầu bạn và được nhiều người khác quan tâm giúp đỡ

 4. Nhìn thấy được những dấu hiệu tốt khi chuẩn bị qua đời và được chết trong bình yên

 5. Họ sẽ được tái sanh vào những cõi trời

  - Không bị sai lầm về mặt tinh thần nghĩa là :

  1. Không âm mưu chiếm đoạt tài sản của người khác một cách bất công, bởi vì làm như vậy là tham lam.

  2. Không mang tâm sân hận với người khác rồi tìm cách làm hại để giảm giá trị của người mình đố kỵ hoặc làm cho họ phải chết.

 3. Không tìm cách ngăn cản, kiềm chế người khác bằng những ý nghĩ sai lầm, bởi vì làm như vậy là bất thiện hay tạo ra nghiệp xấu.

Tóm tắt: Thân thể, lời nói và tinh thần không sai lầm là con đường dẫn đến hạnh phúc.

Không sai lầm về phương diện tinh thần khó hơn không sai lầm về phương diện thể xác và lời nói. Tâm đã có tính ngang bướng, ương ngạnh và bất kham qua nhiều kiếp sống rất khó điều phục. Nó thường thay đổi một cách nhanh chóng, cũng như hay bám víu vào những đối tượng tri giác xấu xa và lầm lạc. Nếu tâm được tinh khiết và trở nên đúng đắn thì nó sẽ nhận thức được Niết Bàn và cánh cửa địa ngục sẽ khép lại đối với nó. Đó là lý do tại sao tâm tinh khiết và đúng đắn là điều rất cần thiết cho sự sống con người. Nếu bạn muốn tâm của mình được tinh khiết và trở nên đúng đắn thì phải thực hành thiền tuệ ( tức thiền minh sát). Đối với những người thực hành thiền minh sát, có 2 điều mà họ cần phải hoàn thành. Một là phải loại bỏ tâm tham lam, sân hận, vọng tưởng ( tức nghĩ tưởng những điều hão huyền không có thật) và tà kiến ( tức những sự hiểu biết cuồng loạn ). Bởi vì những tâm này có thể khiến cho tâm bị ô nhiễm. Hai là đạt được năng lực tập trung tâm ý mạnh mẽ và thuần thục trên bất cứ một hiện tượng nào để có thể đạt tới Niết Bàn. Khi khả năng nội quán đã hoàn chỉnh thì tâm có thể bước đi trên Chánh Đạo, gặt hái được Đạo quả ( Magga Phala –  Perspicacity)-  tức tâm đã hoàn toàn loại trừ được những thứ ô nhiễm. Do đó, những người thực hành thiền minh sát nói trên có thể đạt tới Niết Bàn Cao thượng. Nói tóm lại, hạnh phúc vì giàu có, hạnh phúc vì biết cách xử dụng của cải một cách đúng đắn và hạnh phúc vì không bị nợ nần là 3 bộ phận nằm trong 16 điều không sai lầm của  thân, khẩu, ý. Đức Phật đã thuyết rằng nếu thân xác, lời nói và tinh thần ( thân, khẩu, ý) không bị sai lầm thì sẽ có được hạnh phúc lớn lao.

 

      Gìn giữ của cải một cách đúng đắn sẽ được hạnh phúc

                                        và thịnh vượng

  

 Được sống trong kiếp người là một điều kiện thoả đáng để chúng  ta có thể tìm kiếm được nhiều của cải hay sự giàu có. Đây là một điều hiển nhiên. Tuy nhiên, để có thể giữ gìn được sự giàu có một cách lâu dài, bạn còn phải cần thêm nhiều điều kiện thoả đáng khác. Chúng ta sẽ gặp phải nhiều rắc rối ngoài ý muốn nếu những của cải mà chúng ta kiếm được là không chính đáng. Mặt khác, sự giàu có của chúng ta sẽ trở nên bị giảm giá trị. Nếu bạn có khả năng kiếm được nhiều của cải một cách chính đáng thì điều đó dĩ nhiên sẽ mang lại hạnh phúc cho chính bạn trong kiếp sống này và những kiếp sống mai sau.Vì vậy, Đức Phật đã thuyết về những nguy nhân dẫn đến khả năng có thể duy trì được sự giàu có một cách lâu dài và những nguyên nhân dẫn đến việc không thể gìn giữ được của cải một cách lâu dài như sau :

1.Không biết giữ gìn của cải và để cho chúng mất đi là nguyên nhân dẫn đến sự khánh tận của chúng ta .

 2. Không biết cách khắc phục những nguyên nhân dẫn đến khánh tận thì sẽ không gìn giữ được của cải lâu dài. Hãy tìm cách khắc phục những nguyên nhân gây hại.

 3. Không biết cách quản lý và xử dụng của cải cũng là một nguyên nhân dẫn đến khánh tận, hãy học cách quản lý và xử dụng của cải cho đúng đắn.

 4. Nếu chúng ta làm chủ hoặc làm người lãnh đạo và xử dụng những người không có đạo đức hay cọng tác với những người đó, thì đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến khánh tận. Chúng ta phải biết tìm người có đạo đức ( giữ giới trong sạch) để xử dụng hay cọng tác thì chúng ta mới có thể giữ gìn của cải của mình lâu dài được. (  Am 1 / 572 )

- Nếu một người bị thất lạc hành lý khi đang du lịch. Nếu người này không đi tìm hành lý của mình ngay lập tức thì một vài người du lịch khác có thể lấy chúng đi. Mặt khác, nếu người bị mất hành lý chịu khó đi tìm của cải của mình thì một thời gian sau anh ta có thể tìm lại được hành lý đã bị mất. Một người có một món đồ giá trị trong nhà của mình. Tuy nhiên đã lâu anh ta không để ý đến nó. Vì vậy, anh ta có thể quên và không biết nó hiện đang ở đâu. Nếu anh ta không đi tìm món đồ có giá trị đó ngay lập tức thì với thời gian, món đồ này được xem như đã mất hẳn. Nếu người này hỏi người trong nhà của anh ta có ai thấy món đồ giá trị đó không và nhờ họ cùng đi tìm giúp thì món đồ có thể tìm lại được. Có một số người có tâm trực giác rất bén nhạy. Họ có thể tìm lại được những của cải của mình, mặc dù những thứ ấy đó đã được xác định là mất rồi.

- Nếu chúng ta không sửa chữa nhà cửa, biệt thự hay vật dụng của mình… với thời gian, những thứ đó sẽ trở nên cũ kỹ, giá trị của chúng sẽ giảm sút, thậm chí  không còn xử dụng được nữa. Nếu những thứ ấy thường được chúng ta lưu tâm, chăm nom và sửa chữa thì chúng sẽ tồn tại dài lâu hơn.

Ví dụ, khi một cái chân của một cái bàn ăn bị gãy mà chúng ta không sửa chữa lại thì cái bàn chỉ còn lại 3 chân và không thể xử dụng được nữa. Mặt khác, nếu chúng ta chịu khó sửa cái bàn lại thì nó sẽ tồn tại lâu hơn và vẫn có thể xử dụng được. Trong nhiều thành phố và các ngôi làng người ta đã đua nhau xây dựng các toà nhà vì mục đích tôn giáo với tâm đạo rất nhiệt thành. Tuy nhiên, khi các toà nhà đã trở nên cũ kỹ và đổ nát thì người ta lại không sửa chữa và nâng cấp chúng. Do đó, chúng đã bị hư hoại một cách đáng tiếc. Đó là lý do tại sao người ta phải đặc biệt lưu tâm đến việc nâng cấp các toà nhà và duy trì chúng. Đức Phật thường khen ngợi việc sửa chữa và nâng cấp các tu viện Phật Giáo hay trung tâm thiền. Một cách rõ ràng, Đức Phật đã mong muốn chúng ta luôn luôn quan tâm đến việc sửa chữa và nâng cấp các ngôi đền hay chùa thờ Phật hơn là việc xây mới. Đó là lý do tại sao việc sửa chữa và nâng cấp các ngôi đền hay chùa mang lại lợi ích nhiều hơn là việc xây mới.

 - Nếu chúng ta không biết cách xử dụng tiền bạc của cải mà chỉ biết tiêu xài chúng vào mục đích ăn ngon, mặc đẹp, có nhà cửa sang trọng thì của cải của chúng ta sẽ bị giảm sút hoặc mất hẳn vì cán cân thu chi không được thăng bằng.Vì vậy, sự giàu có của chúng ta sẽ không được dài lâu. Nếu biết cách quản lý và xử dụng tiền bạc của cải một cách đúng đắn thì cán cân thu chi sẽ được thăng bằng. Vì vậy, của cải của chúng ta sẽ được duy trì dài lâu hơn. Cách quản lý và xử dụng của cải đúng đắn nhất là chia chúng ra thành 4 phần :

 a. Một phần dành cho ông bà, cha mẹ, vợ chồng con cái, bạn bè và người quen, cúng dường và bố thí.

 b. Hai phần dành cho việc đầu tư làm ăn, buôn bán, kinh doanh.

 c. Phần còn lại dùng để chữa bệnh khi cần thiết.

 Cách quản lý và xử dụng của cải như trên là đúng đắn và y theo lời Đức Phật đã chỉ dạy.Vì vậy, nếu làm theo như vậy thì chúng ta sẽ giữ được của cải của mình lâu dài hơn.

 - Nếu một người làm chủ hay lãnh đạo người khác mà không có đạo đức thì con cái và thuộc cấp của ông ta cũng sẽ không có đạo đức. Trong gia đình, ngoài đường phố và nhiều nơi khác, có một số người không có đạo đức đang chung sống với nhau. Những ý nghĩ và hành vi vô đạo đức của những người đó… sẽ làm giảm giá trị của đời sống thế gian lẫn đời sống xuất thế gian. Tương tự như vậy, một người chăn bò đang đi thẳng đến bờ sông và băng qua sông thì những con bò cũng sẽ đi thẳng tới bờ sông và băng qua sông theo người đó. Nếu người làm chủ hay lãnh đạo biết giữ gìn Giới luật ( tức có đạo đức trong sạch) thì con cái và thuộc cấp của ông ta sẽ có đạo đức. Trong gia đình, ngoài đường phố hay trong một đất nước đáng kính, nơi có nhiều người đạo đức đang chung sống với nhau thì nơi ấy sẽ được thịnh vượng và hạnh phúc dài lâu trong đời sống thế gian lẫn đời sống xuất thế gian. Vì vậy, có 4 điều mà chúng ta cần phải tránh xa và ngăn ngừa, đó là :

 1. Để cho của cải tiêu tán đi một cách phung phí

 2.  Bỏ bê nhà cửa, biệt thự, vật dụng… của mình và để cho chúng ngày càng trở nên suy tàn đổ nát.

 3. Quản lý, xử dụng của cải tuỳ tiện và thiếu phương pháp đúng đắn.

 4. Người làm chủ hay lãnh đạo thiếu đạo đức làm giảm giá trị của đời sống.

Theo lời dạy của Đức Phật, chúng ta nên thực hành 4 điều đúng đắn và lợi ích sau :

 1.Gìn giữ của cải cẩn thận, đừng để chúng mất đi một cách phung phí.

 2.Thường xuyên lưu tâm, chăm nom nhà cửa, biệt thự, vật dụng…của mình và đừng để cho chúng bị suy tàn đổ nát.

 3. Biết cách quản lý và xử dụng của cải một cách đúng đắn.

 4. Nếu làm chủ hay người lãnh đạo thì phải trau dồi và thực hành đạo đức.

 Chúng ta cần phải thực hành và hoàn thành tốt những lời chỉ dạy của Đức Phật vừa được trích dẫn ở trên, để có thể giữ gìn được của cải của mình một cách dài lâu. Nếu làm được như vậy, chúng ta sẽ thoát khỏi những hoàn cảnh bất hạnh thuộc về vật chất hay tinh thần . Nếu bạn có thể hoàn thiện được những điều trên, cọng với việc bố thí, giữ giới và thực hành thiền thì có nghĩa bạn đã làm được những điều quan trọng cần phải làm cho kiếp sống hiện tại và kiếp sống mai hậu của chúng mình. Chắc chắn bạn sẽ được hạnh phúc cho đến khi đạt tới Niết Bàn Cao Thượng.

 

                  Thể hiện sự cung kính có lợi cho cả 2 phía

 

Tất cả những người Phật tử thường có thói quen đến thăm và lễ lạc thầy giáo, cha mẹ và người già để thể hiện sự cung kính đối với người lớn tuổi vào những ngày lễ đặc biệt như : Các ngày trăng tròn tháng Āsālha ( Một tháng trong lịch Ấn Độ cổ đại, khoảng tháng 6 hay tháng 7 dương lịch - The full-moon Day of Waso), tháng Assajuja ( the full- moon Day of Thadingyut – khoảng tháng 10 hay 11 dương lịch), ngày mừng năm mới… đó là truyền thống văn hóa lâu đời của chúng ta. Thể hiện sự cung kính đối với người lớn tuổi là quyền đương nhiên của mọi người và điều này mang lại lợi ích cho cả 2 phía - người thể hiện và người đón nhận.Vì vậy, hạnh phúc sẽ được nhân lên gấp bội.

Những lợi ích mà những người thể hiện sự tôn kính gặt hái được

 Đối với người trẻ tuổi, khi thể hiện sự cung kính với người lớn tuổi họ sẽ trở nên xứng đáng và được nhiều người tôn trọng hơn. Nhờ đó, họ sẽ được hạnh phúc và học được đức khiêm tốn. Khi thể hiện sự cung kính với người lớn tuổi, họ đã làm cho chính bản thân mình bé nhỏ lại. Do đó, họ sẽ tránh được thói kiêu hãnh và tự cao ngã mạn. Thói kiêu hãnh và tự cao ngã mạn là một nguyên nhân dẫn đến bất hạnh khi tái sanh trong luân hồi. Bởi vì biết thể hiện sự cung kính với người lớn tuổi cho nên khi tái sanh, họ sẽ có được nhiều lợi ích và thuận lợi. Đó là lý do tại sao, những người biết thể hiện sự cung kính đối với người lớn tuổi sẽ loại trừ được những tác động xấu của nghiệp, học được đức khiêm tốn ( Nivata - Modest) và được hạnh phúc. Ngoài ra, họ cũng học được tính lễ độ ( Garava- Courteous) và được người lớn tuổi chỉ bày cho cách thức giữ gìn thân thể và lời nói. Từ đó, tính tự cao ngã mạn không thể xuất hiện nơi người biết cung kính và lễ độ đối với người lớn tuổi , nó đã bị loại trừ. Bằng cách thể hiện sự cung kính lễ độ, những người trẻ tuổi đã loại trừ được tính tự cao ngã mạn và vì thế họ sẽ gặt hái được nhiều lợi ích trong kiếp sống mai hậu. Đó là lý do tại sao, những người biết cung kính và lễ độ loại trừ được nghiệp xấu và được người khác tôn trọng. Sự cung kính có 2 cách thực hành :

 1. Āmisa pūjā – Cung kính bằng cách dâng lễ vật ( Respectful by offertories)

 2. Dhamma pūjā  -  Cung kính bằng cách thực hành Giáo Pháp ( Respectful by practising dhamma ). Người Phật tử sẽ thực hành sự cung kính bằng cả 2 cách này.

1.Āmisa pūjā

 Cung kính bằng cách dâng lễ vậtnghĩa là dâng quà cho người lớn tuổi và người già như :  Thức ăn ngon, trái cây, quần áo…Những người dâng lễ vật để thể hiện sự cung kính sẽ gặt hái được phước báu từ hành động cung kính và phước báu bố thí.Bởi vì việc giữ Giới có liên quan đến phẩm hạnh cung kính. Những người có phẩm hạnh cung kính sung mãn và thuần thục sẽ gặt hái được những lợi ích sau :

  -  Kiếm được của cải dồi dào và dễ dàng

  -  Được nhiều người biết đến và có tiếng tốt

  -  Được nhiều người quan tâm giúp đỡ, luôn cảm thấy vui sướng và không có những cảm giác khó chịu

  -  Khi gần qua đời thấy được những dấu hiệu tốt đẹp và được chết trong bình yên

  -  khi tái sanh được sinh lên cõi trời

   Những người có phẩm hạnh bố thí sẽ gặt hái được 5 điều tốt lành sau :

  -   Sống lâu

  -   Có dung mạo đẹp đẽ

  -   Thân xác và tinh thần được an vui hạnh phúc

  -   Có nhiều bầu bạn và có nhiều người quan tâm giúp đỡ

  -   Có quyền hạn và được nhiều người tôn trọng

 Đó là lý do tại sao, những người thể hiện sự cung kính đối với người lớn tuổi bằng cách dâng lễ vật sẽ gặt hái được cả 10 lợi ích nêu trên. Họ đã có được hạnh phúc vì có danh giá - như một quyền lợi đương nhiên phải được hưởng ( Pujàca pujanejanam).

 2. Dhamma pūjā

 Cung kính bằng cách thực hành Giáo Pháp nghĩa là biết lắng nghe những lời khuyên nhủ của người lớn tuổi và thực hành Giáo Pháp của Đức Phật một cách cẩn thận. Ngoài 2 cách thực hành sự cung kính vừa nêu, những người thể hiện sự cung kính bằng cách thực hành Giáo Pháp sẽ làm cho các hạnh Ba-La-Mật mà họ đã có thêm phần sung mãn và thuần thục để có thể nhận thức được Niết Bàn. Vì vậy, trạng thái sung mãn của hạnh Ba-La-Mật sẽ bổ sung thêm nhiều lợi ích cho việc thực hành sự cung kính bằng cách dâng lễ vật. Những người thể hiện sự cung kính bằng cách thực hành Phật pháp có thể nhận thức được Niết Bàn ( Sacchikiriya).

Đó là một trạng thái hạnh phúc thoát tục hay hạnh phúc xuất thế gian ( Lokuttara mangāla). Đó là lý do tại sao, những người đã có nền tảng trong việc thực hành thiền minh sát thường thể hiện sự cung kính bằng cách thực hành loại thiền này.

Lợi ích của những người đón nhận sự cung kính

 Những người lớn tuổi khi đón nhận sự cung kính từ những người nhỏ tuổi hơn mình thường tự cân nhắc rằng : “ Chúng ta không còn là người bình thường nữa, chúng ta đang nhận sự cung kính của những người trẻ tuổi. Vì vậy, chúng ta chỉ có thể xứng đáng với sự cung kính ấy bằng cách giữ giới trong sạch ( có đạo đức tốt), thực hành thiền định và thiền Tuệ. Đó là điều thích hợp nhất đối với chúng ta. Đáng ra khi còn trẻ, chúng ta cần phải thực hành giới luật, thiền định và Thiền tuệ thì mới phải”. Có thể họ sẽ hối hận vì khi còn trẻ, họ đã phung phí thời gian và không thực hành những điều trên.Vì vậy bây giờ, khi đã già, họ thường hay quan tâm đến việc giữ giới, thiền định và thiền tuệ để gia tăng những phước báu của chính họ.

 Giá trị của tâm từ chân thật

 Những người trẻ tuổi phải thể hiện sự cung kính với người lớn tuổi bằng tâm từ chân thật ( Sacca Mettā - truthfully indulgent mind ), tâm bi ( yêu thương tử tế - Karunā - loving kindness) và lòng trắc ẩn thì họ mới được hạnh phúc. “ Cầu chúc cho ông được tai qua nạn khỏi !”, “ Cầu chúc cho bà sống được hơn 100 tuổi !” “ Cầu chúc cho cha được nhanh chóng mãn nguyện !” “ Cầu chúc cho mẹ luôn thực hành được Giáo Pháp Cao Thượng !”… Những lời cầu chúc này sẽ mang lại lợi lộc cho những người lớn tuổi trong kiếp sống hiện tại,  những kiếp sống mai hậu và trợ duyên cho họ thoát khỏi luân hồi.

Giá trị của tâm từ hỗ tương

 Khi những người lớn tuổi chúc phúc cho những người trẻ tuổi bằng tâm từ chân thật và yêu thương thì họ đã làm cho sự cung kính của những người trẻ tuổi được tròn đầy. Những người trẻ tuổi sẽ hoan hỷ ( Muditā - Rapture) khi được những người lớn tuổi chúc phúc. Sau đó tâm từ ( Mettā – indulgent mind) sẽ được phản hồi và những người trẻ tuổi sẽ quay lại cầu chúc cho thầy cô giáo, ông bà và cha mẹ của họ gặp được những điều tốt lành, làm tròn bổn phận với tôn giáo và thực hành Phật Pháp để gặt hái được nhiều lợi ích. Vì vậy, những lời ước nguyện và cầu chúc được phản hồi đó sẽ mang lại lợi ích cho cả 2 phía ( những người trẻ tuổi và những người lớn tuổi)  trong cuộc sống hiện tại, trong cuộc sống mai hậu và trợ duyên cho họ thoát khỏi luân hồi. Do đã thực hành sự cung kính và lễ độ, những người xứng đáng có thể loại trừ các nghiệp xấu, vun bồi lợi ích và phước báu cho cả 2 phía -  người thực hành sự cung kính lễ độ và người đón nhận những hành động đó.

 

                      Phải thực hành thiền minh Sát

 

 Cuộc sống của con người đầy dẫy những điều khó khăn như vấn đề thức ăn, áo quần, chỗ ở, giao tiếp xã hội, quan hệ chính trị… Tuổi sống của con người ở trần gian nếu đem so sánh với tuổi sống ở cõi trời Chư Thiên và Phạm Thiên thì quá ngắn ngủi. Một trăm năm cho một đời người trên thế gian này chỉ bằng 1 giờ 30 phút trên cõi trời của Chư Thiên. Mặc dù đời sống của con người ngắn ngủi và đầy dẫy những điều khó khăn. Tuy nhiên,  họ vẫn có được cơ hội tốt đẹp để vun trồng phước báu và hoàn thiện các hạnh Ba-La-Mật. Đó là những điều quí báu sẽ dẫn dắt con người đến với trạng thái chấm dứt khổ đau và đạt tới Niết Bàn. Tất cả những vị Phật Toàn Giác, Độc giác và A-La-Hán đã đạt tới Niết Bàn là nhờ vào việc các vị ấy đã từng cố gắng tích luỹ, trau dồi các phẩm hạnh xứng đáng và các hạnh Ba-la-mật trên cõi trần gian này. Đó là lý do tại sao khi đang còn làm người, bạn phải biết cách xử dụng thời gian của mình sao cho ích lợi nhất. Nếu bạn muốn xử dụng thời gian của mình một cách lợi ích nhất thì bạn phải thực hành thiền minh sát. Thực hành thiền minh sát nghĩa là xử dụng quỹ thời gian mà mình có được theo cách tốt nhất và lợi ích nhất. Thực hành thiền minh sát đơn giản chỉ là thực hiện sự chú ý để dập tắt tham lam, sân hận và vọng tưởng ( nghĩ tưởng những điều hão huyền không có thật). Một mặt, bạn thực hành thiền minh sát là để tự giúp chính mình thoát khỏi địa ngục. Mặc khác là để gặt hái năng lực tập trung nội quán thuần thục ( Samādhi Ñāna – Maturity of concentration insight). Trạng thái nội quán này sẽ dẫn dắt bạn đến với Niết Bàn Cao Thượng. Vì vậy, 2 điều vừa nói là những trạng thái hiện hữu hoàn hảo nhất.  Do đó, khi đang còn làm người, chúng ta phải thực hành thiền minh sát, bởi vì đó là lợi ích cao nhất của chúng ta. Thực hành thiền minh sát là một công việc vô cùng vi tế và khó khăn thuộc về tâm trí. Tuy nhiên, loại thiền này đã được chính Đức Phật thực hành và Ngài đã trao truyền phương pháp thực hành đó cho chúng ta với lòng trắc ẩn vô biên. Vì vậy, nếu thực hành đúng theo lời giáo huấn của Đức Phật, bạn sẽ gặt hái được những kinh nghiệm nội quán. Đến lúc ấy, bạn sẽ biết làm thế nào cho tâm trí của mình trở nên trầm tĩnh và vững vàng một cách khác thường. Chúng ta sẽ gặt hái được hạnh phúc với tư cách là con người bình thường, đang sống trên thế gian mà các loài khác đang tồn tại trên cõi trời không thể kinh qua. Đó là lý do tại sao, việc thực hành thiền minh sát là tối cần thiết và quan trọng cho một đời làm người của chúng ta. Bằng cách thực hành thiền minh sát, bạn sẽ trở nên dứt khoát hơn trong cuộc sống và không còn thái độ hoài nghi . Trí tuệ của bạn sẽ phát triển cao hơn, xa hơn khi thực hành loại thiền này và sẽ gặt hái được Chánh Đạo để có thể thoát khỏi địa ngục, luân hồi và khổ đau. Nhất định bạn sẽ đạt tới Niết Bàn đúng như lời ước nguyện của chính mình mỗi khi đang thực hiện những hành động xứng đáng. Ngoài ra không có con đường nào tốt hơn con đường thực hành thiền minh sát trong việc giúp cho bạn đắc thành Đạo quả và Niết Bàn. Trong việc thực hành thiền minh sát, bạn cần phải cố gắng khám phá được bản chất tự nhiên của những tiến trình thay đổi rất nhanh chóng đang xảy ra trong thân tâm của chính bạn. Chúng ta cần chú ý đến các hiện tượng của thân và tâm mình để nắm bắt được trạng thái thay đổi rất nhanh chóng của chúng theo 4 cách thức sau đây :

1.     Kāyānupassanā  Satipatthāna

  -  Chú ý để nhận biết mọi hoạt động của thân thể (To be mindful to know every bodily behaviour)

 2. Vedanānupassanā  Satipatthāna ( To be mindful to know the 3 type of sensation : Unpleasant, pleasant and neutral)

   -  Chú ý để nhận biết 3 loại cảm thọ ( tức cảm giác) : khổ thọ ( cảm giác khó chịu), lạc thọ ( cảm giác dễ chịu) và thọ vô ký tính ( cảm giác không dễ chịu và cũng không khó chịu ).

 3. Cittanupassanā  Satipatthāna

  - Chú ý để nhận biết những tiến trình thay đổi của tâm( To be mindful of the ever changing mental processes)

 4. Dhammānupassanā  Satipatthāna ( To be mindful of the remaining phenomena other than mentioned in the above three categories )

   -  Chú ý để nhận biết những hiện tượng còn lại khác trong tâm ngoài 3 loại cảm giác đã nêu trên ( khổ thọ, lạc thọ và thọ vô ký tính).

   *  Kāyānupassanā –  Chú ý đến mọi hoạt động của thân thể ngay khi chúng ta đang : đi, đứng, nằm, ngồi, co duỗi tay chân… để nhận biết được lề lối hoạt động của chúng. Lúc mới tập quan sát, chúng ta không thể chú ý hết được tất cả mọi hoạt động của thân thể. Để phát triển khả năng định tâm hay khả năng tập trung chú ý, bạn phải ngồi để quan sát và trầm tư sâu lắng. Khi tọa thiền, bạn nên ngồi theo lối Kiết Già ( còn gọi là thế ngồi theo hình hoa sen hay thế ngồi theo hình Kim tự tháp) trong một thời gian rất lâu. Kiết già là một lối ngồi rất vững chãi và tốt nhất. Tuy nhiên, bạn cũng phải tập luyện một thời gian thì mới quen được với thế ngồi này. Trong thế ngồi này, bạn phải ngồi bắt tréo 2 chân lại với nhau. Đầu tiên là duỗi 2 chân ra trước, tiếp đến, kéo chân phải đặt lên vế trái, sau đó kéo chân trái đặt lên vế phải. Đầu và cột sống của bạn phải thẳng hàng khi ngồi Kiết già, 2 tay có thể đặt lên 2 đầu gối, nhưng tốt hơn là đặt lòng bàn tay này lên lòng bàn tay kia ( lưng của bàn tay phải đặt trên lòng bàn tay trái). Việc đặt 2 lòng bàn tay lên nhau có thể gây bất tiện cho một số người, bởi vì trong quá trình ngồi thiền 2 bàn tay sẽ bị nóng lên. Khi đang chú ý đến hơi thở vào ( chỉ chú ý quan sát một cách thuần túy chứ không dùng ý thức để can thiệp vào hơi thở như cố ý hít vào thật mạnh chẳng hạn), bạn cần phải nhận biết được tiến trình đang dần dần phồng lên của bụng bằng cách quan sát hoạt động bên trong của nó, không cần tư duy về hình dạng đang phồng lên của bụng mà chỉ chấp nhận nó như là một khái niệm

( Paññatti- concept). Bạn cũng phải chú ý một cách tích cực để nhận biết cách thức thực tế mà không khí đã đi từ bên ngoài vào trong bụng và làm cho bụng phồng lên như thế nào, bởi vì cách thức này chính là thực tại cùng tột hay chân lý tuyệt đối ( Paramatha – Ultimate reality). Khi hơi thở đang đi ra hay thoát ra khỏi cơ thể, bạn cũng phải chú ý đến tiến trình này ( chỉ chú ý quan sát một cách thuần túy chứ không dùng ý thức để can thiệp vào hơi thở như cố ý thở mạnh ra chẳng hạn). Bạn cần phải nhận biết được tiến trình đang xẹp xuống của bụng diễn ra như thế nào bằng cách quan sát hoạt động bên trong của nó. Bạn không cần để tâm đến hình dạng đang xẹp xuống của bụng mà chỉ chú ý đến chuyển động đang xẹp xuống của nó, để nhận biết được bản chất của chuyển động này một cách sâu sắc, bởi vì nó chính là thực tại ( Paramattha ). Khi năng lực tập trung chú ý đã phát triển đến một mức nào đó, bạn sẽ nhận thức được rằng, tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng là thuần túy thuộc về thân thể ( tức vật chất). Nó hoàn toàn tách bạch với sự chú ý của tâm trí. Sự hiểu biết này là trạng thái nhận thức bằng trực giác bản chất của sắc pháp ( tức vật chất - Rūpa / matter) và danh pháp ( tức tinh thần – Nāma / Spirits). Nói cách khác, sắc phápdanh pháp là 2 phạm trù tách bạch chứ không phải là đồng nhất. Khoảng cách giữa tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng và sự chú ý của tâm trí trong thực tế là có thật. Hai phạm trù này không phải là một thực thể đồng nhất, bởi vì ở giữa chúng vẫn còn có một khoảng cách cực kỳ vi tế. Nếu duy trì sự chú ý lên tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng thì bạn sẽ khám phá ra rằng, có một nguyên nhân đã tác động lên những tiến trình này. Nguyên nhân tác động đó dĩ nhiên là có trước hiện tượng đang phồng xẹp lên xuống của bụng mà chúng ta đang chú ý để quan sát. Sau đó, khi năng lực định tâm đã đủ mạnh so với mức cần thiết, bạn sẽ có khả năng lãnh hội được thế nào là vô thường, khổvô ngã. Bạn sẽ nhận thức được rằng, tiến trình của những hiện tượng khởi lên và tan biến đi trong thân tâm của chính mình là đang xảy ra với một tốc độ khủng khiếp, ngoài sức tưởng tượng của một người bình thường. Nói cách khác, bạn sẽ trải nghiệm được rằng, những hoạt động thuộc về thân thể của chính mình như việc đi, đứng, nằm, ngồi và co duỗi tay chân…đang khởi lên và tan biến đi một cách gần như ngay lập tức ngay sau khi đã khởi lên. Khi đã có khả năng quan sát chúng với một năng lực tập trung tâm ý thích hợp, bạn sẽ nhận thấy được điều vừa nói. Sau khi đã nhận thức được trạng thái xuất hiện và tan biến đi của những hoạt động thuộc về thân thể như :  Đi, đứng, nằm, ngồi, co duỗi tay chân… Bạn sẽ có khả năng chú ý để nhận biết những cảm thọ. Khi chú ý đến những cảm thọ bằng một tâm trí tỉnh giác, bạn sẽ nhận thức được chúng đang khởi lên và tan biến đi như thế nào. Khi chú ý đến trạng thái đang nhìn, nghe, ngửi…thì bạn sẽ khám phá được bản chất của cách thức mà những tiến trình này đã khởi lên và tan biến đi. Bạn sẽ trải nghiệm được một niềm hạnh phúc đáng kể mà không một người bình thường nào hay một vị Chư Thiên nào có thể có được. Khi thường xuyên thực hành sự chú ý liên tục, nội tâm sẽ từng bước phát triển và bạn sẽ gặt hái được Đạo quả  Tu-Đà-Hườn, tức đã nhập vào giòng sông giác ngộ hay Chánh Đạo dẫn đến Niết Bàn. Đến lúc đó, những nghiệp xấu có nguồn gốc từ vô số những hành động xấu xa mà bạn đã thực hiện trong quá khứ đáng ra sẽ dẫn dắt bạn xuống địa ngục thì nay chúng đã bị dập tắt hoàn toàn. Kể từ lúc đắc được quả Tu-Đà-Hườn trở đi, bạn sẽ không còn bị nghiệp mới tác động nữa. Do đó, bạn đã hoàn toàn thoát khỏi những nghiệp xấu. Khi qua đời, bạn sẽ không còn một thái độ nghi ngại nào nữa. Bạn sẽ không còn bị tái sanh vào những cảnh giới khổ đau của địa ngục hay súc sanh, không còn bị tái sanh vào những hoàn cảnh sầu khổ, bẩn thỉu và xấu xa . Bạn sẽ có khả năng đi xuyên qua chu trình của cuộc sống một cách mạnh mẽ. Nếu một Tu-Đà- Hườn đã nhận thức được Niết Bàn bằng Chánh Đạo nhưng chưa đạt tới được Niết Bàn, vị ấy sẽ được hạnh phúc trong những kiếp tái sanh và có thể quên việc thực hành thiền minh sát trong 7 kiếp sống là tối đa. Sau 7 kiếp tái sanh, vị Tu-Đà-Hườn này sẽ trở nên hối hận và trở lại thực hành thiền minh sát để đạt tới Niết Bàn như một A-La-Hán. Thậm chí, khi đang hạnh phúc trong những kiếp tái sanh, một vị Tu-Đà-Hườn chắn chắn sẽ không hài lòng với cuộc sống thế gian. Hạnh phúc chủ yếu của vị này khi tái sanh trong kiếp sống làm người là thực hành bố thí, giữ giới và thực hành thiền. Đau khổ vì tuổi già, bệnh tật, cái chết, buồn khổ và than khóc trong những kiếp sống tái sanh đối với một vị Tu-Đà-Hườn đã trở thành ít ỏi như bụi trên móng tay  của Đức Phật. Một thời Đức Phật đang trú tại tịnh xá Kỳ-Viên ở Xá Vệ. Vào lúc đó, các vị Tỳ kheo đã tập trung lại để nghe Đức Phật thuyết Pháp. Vì không có nhiều thời gian, Đức Phật tiến lại gần các Tỳ Kheo, Ngài bốc một ít bụi trên mặt đất rồi đặt chúng lên móng tay của mình và hỏi : “ Này các Tỳ Kheo ! Bụi trên móng tay của ta đây nếu đem so sánh với bụi trên toàn trái đất này thì bụi ở đâu nhiều hơn ? Các Tỳ Kheo đã trả lời : “ Bạch Giáo Chủ ! Bụi trên móng tay của Ngài ít hơn nhiều so với bụi trên toàn trái đất này. Bụi trên toàn trái đất này là nhiều vô kể và không thể đếm được”. Khi nghe các Tỳ Kheo trả lời như thế, Đức Phật đã nói : “ Này các Tỳ Kheo ! Các đệ tử của ta nhiều như bụi trên toàn trái đất này, nhưng số người chịu khó thực hành thiền minh sát để trở thành Tu-Đà-Hườn thì có thể so sánh với bụi trên móng tay của ta đây. Số người còn lại phải chịu đau khổ trong luân hồi vì tuổi già, bệnh tật, cái chết, buồn lo, bị sinh vào những hoàn cảnh bẩn thỉu, xấu xa và nghiệp ác đầy đọa… có thể ví như số bụi trên toàn trái đất này. Vì vậy, Đấng Toàn Giác đã thuyết rằng, do có thực hành thiền minh sát và thành công trong bước đầu, một vị Tu-Đà-Hườn đã loại bỏ được khổ đau và gặt hái hạnh phúc. Đó là lý do tại sao, bạn nên xử dụng thời gian của mình sao cho ích lợi nhất, tức phải thực hành thiền minh sát khi đang còn sống trong kiếp người.

 

Vượt qua cảm thọ để gặt hái những kinh nghiệm nội quán

    

 Ngày nay, việc thực hành thiền minh sát đang rất hưng thịnh. Những người có kiến thức cho rằng thiền minh sát là đáng tin cậy và bất cứ ai cũng có thể thực hành nó. Rất nhiều người có tâm mong muốn nhưng chưa có cơ hội để tiếp cận với thiền minh sát. Có lẽ họ đang cố gắng học tập một phương pháp đúng đắn để thực hành loại thiền này. Trong các quốc gia trên thế giới, nhiều học giả và những người học tập về thiền đã quan tâm nghiên cứu một cách cẩn thận để xem thử phương pháp thực hành thiền minh sát có mang tính khoa học hay không, một người thực hành thiền minh sát đã làm thế nào để khám phá được bản chất tự nhiên của thân tâm con người. Nếu thực hành thiền minh sát một cách đúng đắn ( đúng theo phương pháp mà Đức Phật đã truyền dạy cho các đệ tử của Ngài ), thì bạn sẽ tự tìm thấy được bản chất tự nhiên trong thân tâm của chính mình một cách rạch ròi và tự nhận thấy rằng, đây là một phương pháp thực hành thiền mang tính khoa học cao rất đáng tin cậy. Thiền minh sát là một phương pháp khoa học xử dụng trực giác để khám phá ra bản chất tự nhiên của thân tâm con người. Chính Đức Phật đã tìm thấy phương pháp này bằng sự hiểu biết tối thượng của Ngài. Đức Phật cũng đã giải thích cho các đệ tử của Ngài một cách chi tiết về phương pháp thực hành thiền đúng đắn mà Ngài đã tìm thấy, đó là thiền minh sát. Từ thế hệ này đến thế hệ khác, các vị đệ tử của Đức Phật đã thực hành thiền đúng theo phương pháp mà vị thầy đáng tôn kính của họ chỉ dạy. Qua thực tế, những vị đệ tử ấy đã tìm thấy được bản chất tự nhiên của thân tâm họ một cách có khoa học và đã gặt hái được hạnh phúc thật sự. Bằng việc thực hành thiền minh sát với một phương pháp đúng đắn và có hệ thống, bạn sẽ nhận biết được bản chất tự nhiên của thân tâm mình thông qua kiến thức nội quán- vipassanā ñāna ( Insight knowledge-  kinh nghiệm hiểu biết có được nhờ thực hành sự chú ý vào phần bên trong của thân tâm để khám phá ra bản chất của chúng) và trải nghiệm được những cảm thọ ( tức cảm giác-Vedanā) phát xuất từ thân thể. Có 3 loại cảm thọ :

 1.Dukkha Vedanā – khổ thọ (  cảm giác khó chịu, khổ sở - Unpleasant sensation ).

 2. Sukha vedanā – lạc thọ (  cảm giác sung sướng, dễ chịu, hài lòng – Pleasant sensation).

 3. Upekkhā Vedanā – thọ vô ký tính hay cảm giác trung tính  ( tức cảm giác không dễ chịu và cũng không khó chịu – Neither unpleasant nor pleasant sensation or Neutral sensation)

Theo trật tự trong Giáo Pháp mà Đức Phật đã truyền bá ( Desanā – Preaching), Ngài đã thuyết về lạc thọ trước, sau đó Ngài mới thuyết về khổ thọvô ký tính. Tuy nhiên, qua quá trình thực hành thiền minh sát, người ta đã nhận thấy một thực tế rằng, khổ thọ là loại cảm giác thường khởi lên trong thân thể trước. Sau đó lạc thọ và thọ vô ký tính mới khởi lên sau. Chỉ bằng cách chú ý đến 3 loại cảm thọ nói trên và vượt qua chúng, bạn mới có khả năng đạt tới Niết Bàn như đã hằng mong muốn. Để vượt qua được 3 loại cảm thọ này, bạn cần phải thực hành như sau :

 1. Đối với khổ thọ, bạn phải vượt qua nó tựa như khi rút một mũi tên ra khỏi cơ thể mình ( tức phải chịu đau đớn, nhức mỏi, khiếp sợ…)

 2. Đối với lạc thọ, bạn phải thực hành thiền cho đến khi nhận thức được rằng, nó chính là nguyên nhân của sự khổ.

 3. Đối với thọ vô ký tính, chúng ta phải chiêm nghiệm được rằng, nó chính là trạng thái vô thường. Đây là những lời giáo huấn của Đức Phật.

 - Bạn cần phải rút được khổ thọ ( Dukkha vedanā – Unpleasant sensation ) ra khỏi tâm của mình tựa như khi rút một mũi tên ra khỏi cơ thể. Công việc này được ví von như sau : Một người nông dân đang làm việc trên một cánh đồng, thỉnh thoảng anh ta bị gai đâm vào lòng bàn chân. Nếu anh ta không chịu nhổ cái gai ra và cứ tiếp tục làm việc thì không bao lâu sau, công việc của anh ta sẽ bị gián đoạn ngay, bởi vì anh ta sẽ không thể chịu nổi cái đau do bị gai đâm ( khổ thọ). Nếu cứ làm theo cách ấy ( tức không chịu dừng lại để nhổ cái gai ra khỏi lòng bàn chân mà cứ tiếp tục làm việc), anh ta sẽ lãng phí thời gian và bị kiệt sức vì đau. Chỉ khi chịu khó nhổ cái gai ra khỏi lòng bàn chân của mình ngay sau khi bị nó đâm vào, anh ta mới có thể tiếp tục làm việc một cách bình thường được, mặc dù vẫn còn hơi bị đau nhưng với thời gian, anh ta sẽ cảm thấy hết đau và vui sướng vì đã loại trừ được cái gai quái ác. Nếu một người thực hành thiền minh sát không cố gắng vượt qua được cảm giác đau nhức, buồn chán… ( khổ thọ) cũng giống như thế, nghĩa là người này cứ để mặc cho khổ thọ tồn tại trong tâm mình và cố gắng chịu đựng chúng. Khi trạng thái đau nhức ( khổ thọ) đang khởi lên trong tâm mà bạn cứ duy trì sự chú ý trên hơi thở vào và hơi thở ra hoặc chuyển động đang phồng xẹp lên xuống của bụng thì tâm của bạn sẽ không bao giờ trầm tĩnh được. Nói cách khác, bạn không bao giờ định tâm ( Samādhi) được, bởi vì khổ thọ đã di chuyển sang một hướng khác và có thể nó đã đi sâu vào trong tiềm thức của bạn. Đó là sự né tránh khổ thọ chứ không phải là đối diện để có thể vượt qua nó. Trạng thái đau nhức và khổ sở ( khổ thọ) khởi lên trong tâm là rất rõ ràng. Khi đang duy trì sự chú ý trên hơi thở vào và hơi thở ra hoặc trên chuyển động đang phồng xẹp lên xuống của bụng thì tâm của bạn đã không hội tụ trực tiếp trên các khổ thọ ( như cảm giác đau nhức, khổ sở…). Vì vậy, khổ thọ đã bị di chuyển sang một hướng khác. Cảm giác đau nhức, khổ sở… cuối cùng vẫn tồn tại đâu đó trong tâm của bạn, chúng sẽ làm cho bạn nản chí và không còn muốn thực hành thiền nữa. Vì vậy, khi các khổ thọ khởi lên trong tâm, thì việc cần làm trước tiên của bạn là phải duy trì sự tập trung chú ý lên chúng, tâm của bạn phải hội tụ trực tiếp và liên tục lên khổ thọ đang hiện khởi để vượt qua chúng. Cũng giống như việc cần làm trước tiên của người nông dân kia khi bị gai đâm vào lòng bàn chân là ngay lập tức phải nhổ cái gai ra. Khi đang bị khổ thọ hành hạ, thay vì phải lập tức vượt qua nó thì có thể bạn lại chiêm nghiệm để tìm cách thoát khỏi nó. Nếu thực hành theo cách như thế thì tâm của bạn sẽ bị căng thẳng, bởi vì ngay lúc đang chiêm nghiệm thì tâm của bạn nghĩ rằng bạn đang bị khổ thọ hành hạ. Vì tâm của bạn đã nghĩ như thế cho nên nó đã bị dính mắc vào khổ thọ và trở nên bị căng thẳng, dẫn đến thân của bạn cũng căng thẳng theo. Chúng ta phải cẩn thận để tâm của mình không bị dính mắc vào trạng thái căng thẳng như vừa nêu ở trên, mỗi khi đang cố gắng vượt qua các khổ thọ trong suốt quá trình thực hành thiền. Bạn đừng có băn khoăn hay lo lắng về cách thức để dập tắt khổ thọ, dù nó có tan biến đi hay không cũng mặc nó, cứ để cho nó diễn ra theo tiến trình tự nhiên của riêng nó. Bạn cứ giữ cho tâm trí của mình trầm tĩnh và mát mẻ một cách tự nhiên. Bạn cần phải hội tụ sự chú ý của mình trực tiếp lên khổ thọ khi chúng đang khởi lên. Sau khi đã hội tụ sự chú ý trực tiếp lên khổ thọ, bạn cố gắng khám phá khổ thọ hiện đang nằm ở đâu trên thân mình, nó đang nằm trên thịt hay trên da, ở trong huyết quản hay đã thông qua xương… Bạn phải tập trung sự chú ý thật sâu để nhận biết bản chất tự nhiên của khổ thọ càng lâu càng tốt, cụ thể là chú ý lên cảm giác đang đau, đang ngứa, tim đang đập mạnh… Khi sự tập trung chú ý của bạn không hội tụ được trên một bộ phận nào của thân thể, như khi lưng đang bị đau, hông đang bị đau, đầu gối đang bị đau,  đầu đang bị ngứa, tim đang đập mạnh… thì bạn không thể nào loại bỏ được khổ thọ ra khỏi tâm mình. Khổ thọ sẽ tiêu hủy chỉ khi nó bị năng lực tập trung chú ý của tâm hội tụ một cách trực tiếp và chính xác lên nó. Sự chú ý của tâm phải được thực hiện một cách chính xác trên khổ thọ. Sự chú ý này phải được thực hiện một cách nghiêm túc và tích cực trên các loại khổ thọ như : Đang đau, đang ngứa, đang chóng mặt…”. Khi năng lực tập trung tâm ý của bạn đã trở nên mạnh mẽ bằng cách liên tục thực hiện sự chú ý, sau 4 hoặc 5 lần chú ý chính xác và liên tục, bạn sẽ nhận thấy rằng khổ thọ đang gia tăng cường độ. Khi khổ thọ đã đạt tới đỉnh điểm thì cường độ nó bắt đầu giảm dần và chuyển đến một nơi khác hoặc biến mất hẳn. Khi cường độ của khổ thọ đang giảm dần, bạn vẫn cứ duy trì sự chú ý lên nó. Liền sau đó, nhờ vào năng lực tập trung tâm ý đã trở nên mạnh hơn, bạn sẽ nhận thức được rằng, khổ thọ đang tan biến đi cách nhanh chóng. Bạn cần phải chú ý và nhận biết được trạng thái đang tan biến đó. Khi năng lực định tâm đã phát triển đủ mạnh, nếu lại tập trung chú ý đến khổ thọ khi chúng đang khởi lên trong tâm mình, bạn sẽ lãnh hội được rằng, khổ thọ đã tan biến ngay lập tức khi chúng vừa mới bị bạn chú ý đến. Ở một trình độ thực hành sự chú ý cao hơn nữa, bạn sẽ nhận thức được rằng sự chú ý của tâm trí cũng đã tan biến luôn. Bằng cách đó, bạn đã trải nghiệm được trạng thái tan biến của cảm thọ và sự chú ý của tâm trí. Như vậy, bạn đã biết cách xử dụng năng lực chú ý để vượt qua được cảm thọ. Do đó, tâm sân hận ( một dạng  khổ thọ) đã bị loại trừ. Khi đã vượt thoát được tâm sân hận, quí vị sẽ nhận thức được Niết Bàn, một cảnh giới hay trạng thái mà ở đó sân hận tiến đến trạng thái chấm dứt đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính bạn.

 - Đối với lạc thọ ( Sukha Vedanā), chúng ta phải thực hành thiền cho đến khi nhận thức được rằng, nó chính là nguyên nhân dẫn đến khổ đau. Điều này có nghĩa là : Bằng cách thực hành thiền minh sát để trải nghiệm được trạng thái thanh thản của thân tâm ( lạc thọ) và nhận thức được rằng lạc thọ chỉ khởi lên rồi tan biến đi như một hiện tượng ( Udayabbayana – Only rising and pasing away as a phenomenon). Do đã cố gắng nắm giữ và bám víu vào lạc thọ, tâm của bạn mới bị dính mắc vào nó. Nếu muốn không bị dính mắc vào lạc thọ khi nó đang khởi lên trong tâm, bạn phải chú ý một cách tích cực, chính xác và liên tục lên nó, đồng thời niệm thầm “ Lạc thọ, lạc thọ”…Sau đó bạn sẽ nhận thức được rằng, lạc thọ đã bị loại bỏ với một tốc độ cực kỳ nhanh. Trạng thái xuất hiện và biến mất đi một cách nhanh chóng của các hiện tượng nói chung dường như đã tạo ra một áp lực cho bạn. Vì vậy, bạn phải nhận thức được rằng trạng thái này chính là khổ đau  (  Dukkha – Suffering). Khi bạn đã nhận thức được rằng, lạc thọ chính là nguyên nhân dẫn đến khổ đau. Tâm quyến luyến và gắn bó vào lạc thọ chính là tham lam, vì vậy nó cũng là một nguyên nhân dẫn đến khổ đau. Tâm quyến luyến và bám víu vào lạc thọ sẽ bị loại bỏ chỉ khi bạn đã có khả năng vượt thoát khỏi tâm tham lam. Đến lúc đó, bạn mới có thể nhận thức được Niết Bàn –một cảnh giới hay trạng thái mà ở đó tâm tham lam đã tiến đến chỗ chấm dứt đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật hay sự hoàn thành bổn phận của chính bạn.

 - Đối với thọ vô ký tính ( Upekkhā Vedanā - Neutral sensation), bạn phải thực hành thiền để nhận thức được nó là vô thường nghĩa là : Khi đang thực hành thiền minh sát, bạn chợt nhận thấy tâm mình đi vào một trạng thái lâng lâng rất khó tả. Trạng thái này không dễ chịu cũng không khó chịu. Lúc đó, sự chú ý của bạn đã bị lạc vào một lằn ranh nằm giữa khổ thọ và lạc thọ. Trạng thái này sẽ tạo cho bạn một cảm giác thanh thản và thoải mái. Đây chính là lúc thọ vô ký tính đang khởi lên trong tâm của bạn. Thọ vô ký tính sẽ làm cho năng lực chú ý của bạn bị xả giãn ra. Do đó, bạn khó nhận thức được tính vô thường của nó. Bạn sẽ khó nhận thức được thọ vô ký tính đã tan biến đi như thế nào, bởi vì nó thường xuất hiện theo một cách thức rất huyền ảo và có thể  kéo dài hàng giờ, thậm chí cả ngày. Bạn cần lưu ý rằng trạng thái vô thường ( Anicca- impermanence) này sẽ đưa chúng ta đến với vọng tưởng ( Moha- Delusion). Vì vậy, trong quá trình thực hành thiền, khi sự chú ý bị buông lỏng, bắt đầu trở nên huyền ảo và khiến cho bạn có cảm giác lâng lâng khó tả. Ngay lúc đó, bạn phải lập tức quay lại chú ý một cách tích cực vào trạng thái đang chuyển động phồng xẹp lên xuống của bụng.

Từ đó, bạn sẽ nhận thức được trạng thái tan biến của thọ vô ký tính như là một hiện tượng vô thường . Tiếp đến, bạn cũng sẽ khám phá ra rằng, sự chú ý của tâm trí cũng đã biến mất luôn. Chuyển động đang phồng xẹp lên xuống của bụng là nhất thời và nó cũng vô thường như là tiến trình chú ý của tâm trí. Bạn cũng sẽ nhận thức được dấu hiệu của vô thường trong những tiến trình này. Trạng thái tan hoại hay biến mất đi với một tốc độ cực kỳ nhanh chóng của các hiện tượng dường như đã gây ra một áp lực lên tâm trí của bạn. Vì vậy, nó chính là “ khổ”. Bạn cũng đã nhận thức được dấu hiệu của khổ, bởi vì biết rằng không có cách nào có thể giúp cho bạn  ngăn chặn được trạng thái tan hoại của các hiện tượng như :  Khổ thọ, lạc thọ và thọ vô ký tính...Vì vậy, bạn đã nhận thức được dấu hiệu của vô ngã. Khi đã nhận thức được tính vô thường, khổvô ngã, thì vọng tưởng ( tức trạng thái vô minh - moha - delusion) trong tâm của bạn sẽ bị triệt tiêu. Vọng tưởng chính là thọ vô ký tính. Nó làm cho tâm của chúng ta bị lù đù và trở nên đần độn. Khi vọng tưởng đã bị loại trừ khỏi tâm trí, bạn sẽ nhận thức được Niết Bàn –một cảnh giới hay trạng thái mà ở đó vọng tưởng đã đi đến chỗ chấm dứt đúng như hạnh nguyện Ba-La- Mật của chính bạn.

 

 

 

 

 Lựa chọn một trung tâm thiền để lãnh hội được Giáo Pháp

 

Ngày nay việc thực hành thiền minh sát rất hưng thịnh. Mọi người có kiến thức về thiền minh sát đều thực hành thiền vào bất cứ lúc nào mà họ có thể. Họ thường đến các trung tâm thiền để thực hành thiền. Tuy nhiên, nếu họ không tìm được những trung tâm thiền thích hợp thì họ sẽ không nhận thức và lãnh hội được Giáo Pháp của Đức Phật. Từ đó, họ tự cảm thấy mình đã lãng phí thời gian và năng lượng, dẫn đến tình trạng chán nản, thối chí. Vì vậy, điều cần thiết là phải chọn được cho mình một trung tâm thiền thích hợp. Đức Phật đã từng thuyết rằng có 4 loại trung tâm thiền :

 1. Một trung tâm thiền mà nơi đó Giáo Pháp của Đức Phật không được trình bày một cách rõ ràng và đầy đủ. Điều này đã khiến cho người học không thể lãnh hội được kiến thức cần phải lãnh hội. Các nhu cầu tối thiểu trong đời sống hàng ngày của thiền sinh như nước uống, thức ăn, áo quần… cũng khan hiếm và khó tìm kiếm.

 2. Một trung tâm thiền mà nơi đó Giáo Pháp của Đức Phật không được trình bày một cách rõ ràng và đầy đủ. Điều này đã khiến cho người học không lãnh hội được kiến thức cần phải lãnh hội, mặc dù những nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống hàng ngày của thiền sinh là rất dồi dào và phong phú.

 3. Một trung tâm thiền mà nơi đó Giáo Gháp của Đức Phật được trình bày một cách rõ ràng và người học có thể lãnh hội được kiến thức cần phải lãnh hội. Tuy nhiên, các nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống hàng ngày của thiền sinh lại khan hiếm và khó tìm kiếm.

 4. Một trung tâm thiền mà nơi đó Giáo Pháp của Đức Phật được trình bày một cách rõ ràng và người học có thể lãnh hội được kiến thức cần phải lãnh hội. Các nhu cầu tối thiểu trong đời sống hàng ngày của thiền sinh được đáp ứng một cách dồi dào và phong phú.

 - Đối với loại trung tâm thiền ( Yeiktha – Meditation centre) thứ nhất :

 Thông thường, có những trường hợp các thiền sinh chỉ đến trung tâm để học cách thực hành thiền trong vòng 10 hoặc 15 ngày. Trong khi đó, tại trung tâm này, Giáo Pháp của Đức Phật không được trình bày một cách rõ ràng và đầy đủ. Do đó, có thể họ sẽ không lãnh hội được những điều cần lãnh hội. Các nhu cầu tối thiểu trong đời sống hàng ngày như nước uống, thức ăn, áo quần… lại khan hiếm và khó tìm kiếm. Trong trường hợp này, các thiền sinh không nên tiếp tục ở lại trung tâm, lập tức rời khỏi nơi này mà không cần phải thông báo gì cả.

Tóm tắtKhông lãnh hội được Giáo Pháp một cách rõ ràng, các nhu cầu tối thiểu trong đời sống hàng ngày khan hiếm và khó tìm thì lập tức rời khỏi trung tâm mà không cần phải thông báo gì cả.

- Đối vớiloại trung tâm thiền thứ hai :

Một thiền sinh cũng có thể theo học cách thực hành thiền tại trung tâm trong 10 hay 15 ngày hoặc có thể lâu hơn. Tuy nhiên anh ta đã không thể lãnh hội được Giáo Pháp một cách rõ ràng. Mặc dù nhu cầu tối thiểu trong đời sống hàng ngày như nước uống, thức ăn và áo quần …tại trung tâm thiền này đã được đáp ứng một cách dồi dào và phong phú. Trong trường hợp như vậy, thiền sinh không nên ở lại trung tâm này mà nên rời khỏi đây,tuy nhiên nên thông báo với ban tổ chức hoặc những người có thẩm quyền trong trung tâm.

Tóm tắtKhông lãnh hội được Giáo Pháp mặc dù các nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống được đáp ứng đầy đủ, nên rời khỏi trung tâm và có thông báo.

  - Đối với loại trung tâm thiền thứ ba :

Giáo Pháp đã được các thiền sinh lãnh hội một cách mạnh mẽ trong vòng một thời gian ngắn ( từ 10 đến 15 ngày…) Tuy nhiên, nhu cầu về nước uống, thức ăn và áo quần… quá khan hiếm và khó tìm kiếm. Trong trường hợp này, thiền sinh nên kiên nhẫn và ở yên tại trung tâm để tiếp tục tập luyện cho đến khi đạt được mục đích mong muốn.

Tóm tắt: Đã lãnh hội được Giáo Pháp một cách mạnh mẽ, nhưng các nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống hàng ngày quá khan hiếm và khó tìm kiếm. Phải kiên nhẫn và tiếp tục ở lại trung tâm để thực hành thiền cho đến khi đạt được mục đích.

 -Đối với loại trung thiền thứ tư :

Giáo Pháp được các thiền sinh  lãnh hội một cách rất rõ ràng trong vòng một thời gian ngắn.  Các nhu cầu tối thiểu trong đời sống hàng ngày như nước uống, thức ăn và áo quần… đã được đáp ứng rất dồi dào và phong phú. Mặc dù ban tổ chức hay những người có thẩm quyền trong trung tâm thiền đã có thông báo cho các thiền sinh biết rằng thời hạn học tập đã hết. Tuy nhiên, nếu trình độ lãnh hội Giáo Pháp mà thiền sinh mong đợi vẫn chưa đạt được thì thiền sinh cần phải giải thích cho ban tổ chức hiểu và xin phép họ cho mình được tiếp tục ở lại trung tâm để tu học.

Tóm tắtĐã lãnh hội được Giáo Pháp một cách rõ ràng và mạnh mẽ nhưng chưa đạt được trình độ mong muốn thì hãy giải thích và xin phép ở lại trung tâm thiền, mặc dù đã nhận được thông báo về kỳ hạn phải rời khỏi trung tâm.

Vì vậy, đúng theo lời giáo huấn của Đức Phật bạn phải tránh xa 2 loại trung tâm thiền thứ nhất và thứ hai. Chọn trung tâm thiền thứ ba và thứ tư để học cách thực hành thiền.

 

     Giới luật nghiêm ngặt là nhằm để gặt hái được lợi ích

 

 Ngày nay ở Miến Điện có nhiều lễ truyền giới Tỳ-kheo hơn ngày xưa. Nếu những Tỳ Kheo có thể thực hành Giáo Pháp đúng theo Giới luật dành riêng cho họ khi thọ Giới ( Sīla Sikkhāpada -  Dullabha monks – giới luật Tỳ Kheo) thì họ sẽ có được nhiều lợi ích trên con đường tu học dẫn tới Niết Bàn. Mặt khác, sự phát triển hưng thịnh và lợi ích của Giáo Pháp mà Đức Phật đã truyền dạy cũng tuỳ thuộc vào năng lực tu hành khó nhọc của các Tỳ Kheo. Nếu những Tỳ Kheo không thực hành việc giữ gìn Giới luật dành riêng cho mình, họ sẽ bị mất danh giá và đến khi qua đời sẽ bị đọa xuống địa ngục, bởi vì họ đã làm cho Giáo Pháp của Đức Phật bị suy đồi và giảm giá trị. Đó là lý do tại sao, các Tỳ Kheo phải thực hành Giới luật của mình một cách đúng đắn. Họ cần phải thực hành như thế vì lợi ích của chính họ và vì lợi ích của Giáo Pháp mà Đức Phật đã truyền dạy. Phần lớn mọi người điều hiểu được từ “ Dullabha”.Vì vậy, khi đã chấp nhận mang cuộc đời mình hiến dâng cho Giáo Pháp Cao Thượng của Đức Phật , chấp nhận hy sinh vì lợi ích của chúng sanh đang đau khổ trầm luân để làm thân phận một tu sĩ Phật Giáo, các Tỳ Kheo đã quan niệm cuộc đời của họ chỉ là một cái gì đó tạm bợ và không bền vững.Vì vậy, họ đã chấp nhận tất cả và hiểu được mình cần phải làm cái gì và không nên làm cái gì.Trong thực tế từ “ dullhaba” không có nghĩa là “ chấp nhận mang thân phận tạm bợ và ngắn ngủi của một tu sĩ Phật Giáo”. Nó có nghĩa là “ đạt được những điều khó đạt được”. Trong từ “ dullabha”, thì “ du” là một từ riêng lẻ và “ labha” là một từ khác.Từ “ du” nghĩa là “ điều khó đạt được” và từ “ labha” nghĩa là “ đạt được”. Vì vậy, từ “ dullabha” khi dịch thoát có nghĩa là “ thân phận Tỳ kheo là điều khó đạt được nhưng vẫn cố gắng để đạt được”. Thân phận Tỳ Kheo là điều khó đạt được bởi vì một người thế tục bình thường không thể nào giữ gìn 227 Giới luật dành cho Tỳ Kheo ( Sīla Sikkāpada – Dullabha monks) một cách hoàn hảo. Nếu mở rộng 227 Giới luật ( hay điều luật) dành cho Tỳ Kheo thì nó sẽ trở thành hơn chín ngàn ( 9000)  khoản Luật. Nếu mở rộng hơn nữa, nó sẽ trở thành 9 tỷ điểm luật mà các Tỳ Kheo phải tuân thủ. Chỉ khi những con số mang tính luật lệ nói trên được các Tỳ-Kheo quan tâm và tuân thủ, họ mới có thể gặt hái được phước báu từ Giới Luật. Đó là lý do tại sao từ

dullabha” có nghĩa là “ cố gắng đạt được điều khó đạt được”. Liên quan đến “sự cố gắng đạt được những điều khó đạt được”, các Tỳ-kheo thường được phân thành 5 dạng. Bên cạnh đó, những người chấp nhận thọ Giới Tỳ-Kheo để gia nhập vào Tăng đoàn cũng có 5 dạng :

 1. SaddhāpabbajitaTrở thành Tỳ-kheo bởi vì có niềm tin ( Enter monkhood because of faith)

 2. PaññāpabbajitaTrở thành Tỳ-kheo bởi vì có trí tuệ ( Enter monkhood due to wishdom)

 3. Bhayāpabhajita  - Trở thành TỲ-kheo bởi vì sợ hãi ( Enter monkhood because of fear)

 4. MiyophalapabbajitaTrở thành Tỳ-kheo do bị ảnh hưởng bởi truyền thống ( Enter monkhood due to traditional )

 5. DullabhapabbajitaTrở thành Tỳ-kheo bởi vì mong muốn đạt được những điều khó đạt được ( Enter monkhood because he wishes to attain what is difficult to attain)

  - Saddhāpabbajita -   Trở thành Tỳ Kheo bởi vì có niềm tin nghĩa là :

Một cá nhân nào đó được nghe nói về Đức Phật, Giáo Pháp và Tăng đoàn của Ngài ( còn gọi là Ba loại ngọc quí hay Tam BảoTiratanā) rồi có niềm tin vào họ. Do niềm tin nơi chính mình, người đó đã trở thành Tỳ Kheo và được biết đến như là một SaddhāpabbajitaTỳ-kheo có sở trường là niềm tin. Bởi vì dạng Tỳ-Kheo này tin tưởng và tôn kính Phật, Pháp, Tăng. Ông ta sẽ quan tâm đến việc giữ gìn giới luật mà không phá vỡ chúng. Ông ta tôn sùng thầy và đồng nghiệp của mình. Ông ta thực hành các đề mục hành thiền ( Kammatthāna - heading in meditation) một cách mãnh liệt để có thể thoát khỏi luân hồi. Bởi vì đặc tính thực hành thiền và đạo đức của mình, dạng Tỳ-kheo này có thể trở nên tự cao ngã mạn, bởi vì nghĩ rằng mình là thành viên của Tăng Đoàn.

 - Paññāpabbajita – Thọ giới Tỳ Kheo bởi vì có trí tuệ nghĩa là :

Một cá nhân nào đó học tập và lắng nghe Kinh Điển Phật Giáo. Vì vậy, ông ta đã mở mang được kiến thức và phát triển trí tuệ. Từ đó, ông ta trở thành một Tỳ Kheo và được biết đến như một PaññāpabbajitaTỳ-kheo có sở trường là trí tuệ. Dạng Tỳ Kheo này chỉ tôn sùng và học tập Kinh Điển. Ông ta không quan tâm đến công việc của Tăng Đoàn và cũng không cố gắng chống đối những người khác. Khi trở thành một Tỳ Kheo có kiến  thức về Kinh Điển ông ta đã được trang bị đầy đủ niềm tin và sự hiểu biết. Vì vậy, cuối cùng ông ta có thể sẽ trở thành một Tỳ-kheo kiêu căng tự phụ trong Tăng Đoàn.

 - Bhayāpabbajita -  Trở thành Tỳ Kheo bởi vì sợ hãi nghĩa là :

Một cá nhân nào đó đã trở thành Tỳ Kheo bởi vì ông ta đã từng phạm một tội ác nào đó rồi muốn chuyển đến một nơi an toàn, hoặc có thể là ông ta muốn giải quyết những vấn đề khó khăn mà mình đang gặp phải như các nhu cầu về thức ăn, áo quần và chỗ ở… Dạng Tỳ Kheo này được biết đến như là một BhayāpabbajitaTỳ-kheo sợ hãi. Hầu hết dạng Tỳ Kheo này không có ước muốn chung sống với Tăng Đoàn. Ông ta không quan tâm đến Giới luật và đương nhiên cũng sẽ không giữ Giới trong sạch để trở thành một Tỳ Kheo đáng tôn kính. Ông ta sẽ đi khắp nơi để xin xỏ đủ thứ và phá huỷ thanh danh của Tăng Đoàn.

 - Miyophalapabbajita – Trở thành Tỳ-Kheo do bị ảnh hưởng bởi truyền thống nghĩa là : Một cá nhân nào đó trở thành thành viên của Tăng Đoàn khi còn nhỏ tuổi. Đến khi được 20 tuổi, ông ta đã trở thành Tỳ Kheo đúng theo phong tục và truyền thống của gia đình mình. Dạng Tỳ kheo này được biết đến như là một MiyophalapabbajitaTỳ-kheo theo truyền thống. Ngày nay, dạng Tỳ Kheo này được người Miến Điện gọi là “ Ngephyu”, có nghĩa đại khái là “ tinh khiết từ lúc còn nhỏ tuổi”. “ Tỳ Kheo tinh khiết từ lúc còn nhỏ tuổi” đã lắng nghe được những lời dạy bảo và khuyên nhủ của các vị thầy tốt. Khi đã trở thành một Tỳ-Kheo có học thức về Kinh Điển, ông ta đã được trang bị đầy đủ niềm tin. Khi đã có đầy đủ niềm tin và trí tuệ, có thể ông ta sẽ trở nên kiêu hãnh, xem mình như là một anh hùng hay là một ngôi sao trong Tăng Đoàn.

- Dullabhapabbajita – Trở thành Tỳ-Kheo vì mong muốn đạt được những điều khó đạt được nghĩa là : Cá nhân nào đó suy nghĩ rằng, “mặc dù chưa xứng đáng ở lại trong Tăng Đoàn nhưng mình nhất quyết phải đạt được những điều khó đạt được”. Dạng Tỳ-kheo này luôn luôn mong muốn đạt được các hạnh Ba-La-Mật hay mong muốn hoàn thành bổn phận của mình. Ông ta đã tuân thủ Giới luật một cách tự nguyện và nghiêm chỉnh, bởi vì mong rằng cuộc sống mai hậu của chính ông ta sẽ được hoàn hảo. Vì vậy, trong sự “cố gắng đạt được những điều khó đạt được”, ông ta đã trở thành một Tỳ-Kheo và được biết đến như là một Dullabhapabbajita  - Tỳ-kheo tinh tấn. Ông ta đã trở thành một Tỳ-Kheo bởi vì “mong muốn đạt được những gì khó đạt được”. Những Tỳ-Kheo đã thọ giới nhưng không quan tâm và gìn giữ  227 Giới Luật dành riêng cho mình , không chịu lắng nghe những lời chỉ dạy của các bậc thầy đáng tôn kính, xử dụng tứ vật dụng

( y phục, vật thực được cúng dường, chỗ ở và thuốc men chữa bệnh) của Tăng Đoàn, thoả thích trong ăn uống và sống nhởn nhơ, không chịu thực hành Phật Pháp để có thể đạt được những điều khó đạt được. Dạng Tỳ-kheo thấp kém này sẽ bị mọi người khinh bỉ và có thể bị trục xuất khỏi Tăng Đoàn. Họ sẽ bị mất danh giá cho đến khi bị đọa xuống địa ngục. Những Tỳ Kheo vững chãi và chân chính ( tức Tỳ Kheo tinh tấn) sẽ thực hành đúng theo Giáo Pháp của Đức Phật, quan tâm và gìn giữ 227 Giới Luật mà những người bình thường không thể nào kham nổi. Họ biết lắng nghe những lời chỉ dạy của các bậc thầy đáng tôn kính. Họ quan tâm đến Giới luật, thiền định, thiền tuệ và siêng năng thực hành 3 việc này. Những “ Tỳ-kheo tinh tấn” sẽ gặt hái được nhiều lợi ích cho đến khi đạt tới Niết Bàn đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính họ. Tuy nhiên, khi hạnh Ba-La-Mật của họ dang còn non nớt, có thể họ chưa nhận thức được Chánh Đạo, Đạo Quả ( Phala -  Perspicacity) và Niết Bàn. Do đó, họ chỉ có thể trở thành Tu-Đà-Hườn

( Sotāpanna), Tư-Đà-Hàm ( Sakadāgami -  người đắc được quả này chỉ còn tái sanh vào luân hồi thêm một kiếp sống), A-Na-Hàm ( Anāgami - Bậc không còn trở lại luân hồi), A-La-Hán ( Arahant) trong những kiếp sống mai hậu của họ và được sống trong Giáo Pháp của Đức Phật cho đến khi đạt tới Niết Bàn. Trong thời Đức Phật Tỳ-Bà-Thi ( Vipassī Buddha – Clarify Buddha) còn tại thế , có một người thiện nam đã trở thành Tỳ-Kheo chuyên thực hành Pháp quán tử thi. Ông vất bỏ tất cả của cải và không muốn dính mắc vào bất cứ cái gì nữa để chuyên tâm thực hành Pháp của mình. Sau 7 ngày, ông thoát khỏi được buồn khổ và tuyệt vọng.Vì vậy, ông đã trở thành một người trầm mặc, không còn quan tâm đến thế sự. Sau khi chết như một người trầm mặc, ông không bị tái sanh vào địa ngục với 4 đường khổ và trải qua 90 đại kiếp ( Kappa – Chu kỳ sanh diệt của thế giới). Đến khi Đức Phật Cồ-Đàm xuất hiện trên thế gian, nhờ vào hạnh Ba-La-Mật đã thực hành trong thời Phật Tỳ-Bà-Thi còn tại thế, vị Tỳ-Kheo đó đã trở thành một A-La-Hán, đạt được 6 phép thần thông siêu thế ( Abhinnā – Supernatural Magic ) và nổi tiếng như một Sattāhàpabbajitathera – Trưởng Lão Tỳ-kheo 7 ngày.  Vì vậy, nếu những Tỳ Kheo đã chấp nhận thọ Đại-Giới và thực hành theo đúng Giới luật mình đã thọ, đạt được những điều khó đạt được, thì họ sẽ gặt hái được nhiều lợi ích cho đến khi đạt tới Niết Bàn.

 

              Những người đáng kính thấy được 2 phía

 

Những người khôn ngoan sáng suốt và có thể nhìn xa trông rộng để thấy trước sự việc sẽ không bị sai lầm trong khi thực hiện bổn phận của họ. Vì vậy, họ sẽ được hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại và trong những cuộc sống ở tương lai. Họ cũng khiến cho những người chung quanh họ được hạnh phúc theo. Đó là lý do tại sao, chúng ta thường đưa những người khôn ngoan sáng suốt và có thể nhìn xa trông rộng vào cương vị lãnh đạo. Chúng ta luôn luôn mong muốn được kết giao và thể hiện sự kính trọng đối với những người khôn ngoan sáng suốt có thể nhìn xa trông rộng. Liên quan đến sự khôn ngoan sáng suốt và nhìn xa trông rộng, Đức Phật đã từng nói rằng có 3 dạng người :

 1. Andha -  Dạng người “ đui mù”, không thấy cả 2 phía

 2. Ekacakkhu -  Dạng người chỉ thấy có một phía

 3. Dvicakkhu -  Dạng người thấy được cả 2 phía

                                                                                 ( Am 1 / 126 )

  - Andha –  Dạng người “ đui mù”, không thấy cả 2 phía :

Một người nào đó không có kiến thức hay không biết cách tìm kiếm sự giàu có. Anh ta cũng không biết cách làm gia tăng của cải mà mình đã kiếm được. Dạng người này chỉ biết hưởng thụ các lạc thú của cuộc đời mà không biết nhìn xa trông rộng để lo cho cuộc sống của chính mình. Anh ta không hiểu hoặc không tin rằng trộm cắp và những hành động bất thiện sẽ không mang lại được lợi ích gì cho kiếp sống hiện tại và những kiếp sống mai sau khi phải tái sanh vào luân hồi, mặc dù anh ta không thực hiện những hành động bất thiện đó. Anh ta cũng không có kiến thức, không thể nhìn xa trông rộng để hiểu rằng bố thí, giữ Giới và phước báu là những điều mang lại lợi ích cho kiếp sống hiện tại và những kiếp sống ở tương lai. Dạng người này được gọi là Andha – Người không nhìn thấy cả hai phía ( kiếp sống hiện tại và những kiếp sống ở tương lai). Dạng người này không nhìn thấy cả 2 phía và không thể có hạnh phúc được. Anh ta cũng không làm cho những người sống chung với mình như vợ con, thợ thầy, và những người có quan hệ với anh ta được hạnh phúc, bởi vì anh ta không có của cải, không thực hiện được những hành động xứng đáng – như là nguyên nhân dẫn đến hạnh phúc trong những kiếp sống mai hậu. Anh ta đánh mất cả hai sự lợi ích – lợi ích trong kiếp sống hiện tại và lợi ích trong những kiếp sống ở tương lai khi phải tái sanh vào luân hồi.

 - Ekacakkhu – Dạng người chỉ nhìn thấy được một phía

Một người nào đó có kiến thức và biết cách tìm kiếm của cải. Anh ta cũng biết cách làm gia tăng của cải mà mình đã kiếm được. Tuy nhiên, anh ta không hiểu hoặc không tin rằng những tội lỗi như sát sanh và trộm cắp là những điều không mang lại lợi ích gì cho kiếp sống ở hiện tại lẫn những kiếp sống mai sau khi phải tái sanh vào luân hồi và đó là những điều nên tránh. Mặt khác, anh ta cũng không biết được rằng những hành động đáng khen như bố thí, giữ Giới là rất lợi ích cho kiếp sống hiện tại và những kiếp sống ở tương lai. Dạng người này được biết như là một EkacakkhuNgười chỉ nhìn thấy được một phía. Dạng người  này không hiểu biết gì về những hành động xứng đáng và những hành động tội lỗi. Vì vậy, sự giàu có mà anh ta đã kiếm được là nhờ vào những phương tiện bất hợp pháp. Anh ta có thể trộm cắp hoặc mua đồ trộm cắp và buôn bán bất hợp pháp, nói xách ( hay nói thách- tức nâng giá bán lên quá mức giá thật của món hàng - ND ) khi bán hàng và thậm chí là gian dối về giá cả của những mặt hàng mà anh ta rao bán…miễn sao có lợi cho mình thì anh ta vẫn làm một cách vô liêm sĩ. Dạng người này tìm kiếm sự giàu có nhằm mục đích hưởng thụ những lạc thú của cuộc đời, bởi vì những lạc thú ấy có thể khiến cho các giác quan của anh ta được thoả mãn. Dạng người này chắc chắn sẽ bị đọa xuống địa ngục và phải gánh chịu nhiều hình thức khổ đau khác.

- Dvicakkhu – Dạng người nhìn thấy được cả hai phía

Một người nào đó có kiến thức và biết cách tìm kiếm sự giàu có. Anh ta cũng biết cách làm gia tăng những của cải mà mình đã kiếm được. Anh ta biết né tránh và hiểu được rằng, sát sanh, trộm cắp và những hành động bất thiện là không mang lại lợi ích gì cho kiếp sống hiện tại và những kiếp sống ở tương lai khi phải tái sanh vào luân hồi. Anh ta cũng có kiến thức và biết cách thực hành bố thí, biết giữ Giới, thiền định và thiền quán, bởi vì hiểu rằng những hành động này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho kiếp sống hiện tại và những kiếp sống mai sau khi phải tái sanh vào luân hồi. Dạng người này được biết đến  như là một Dvicakkhungười nhìn thấy được cả hai phía. Dạng người “nhìn thấy được cả 2 phía” sẽ tìm kiếm được sự giàu có bằng những phương tiện hợp pháp, biết thực hiện những phẩm hạnh xứng đáng như bố thí, giữ Giới, thực hành thiền… và không phải lo lắng khi qua đời. Anh ta sẽ được tái sanh vào cõi trời Chư Thiên - nơi có thật nhiều hạnh phúc. Bằng cách thực hành thiền minh sát, anh ta sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng cho đến khi đạt tới Niết Bàn đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính mình.  Đó là lý do tại sao Đức Phật đã thuyết rằng, chúng ta cần phải né tránh những người “không thấy được cả hai phía” và những người “chỉ thấy được một phía”. Chúng ta nên kính trọng và kết giao với những người “thấy được cả 2 phía”, bởi vì những người đó có thể mang lại lợi ích cho chúng ta cho đến khi chúng ta đạt tới Niết Bàn.

 

                    

                     Lời nói chân thật :  Tốt và xấu

 

 Ngoại trừ các vị A-Na-Hàm ( Anāgāmi – Non Returner) và A-La-Hán ( Araham- Arahant), tất cả mọi người đang sống trên thế giới này ngay lập tức đều trở nên sợ hãi, đau khổ, bất an khi phải đối mặt với một thảm họa đang đe dọa đến cuộc sống và của cải của chính họ. Vì vậy, số phận của chúng ta là do chân lý định đoạt. Bằng sức mạnh của chân lý, bạn có thể thoát khỏi được tai ương và thảm họa.

 Lời nói chân thật ( Sacca mantam – truthful word) nghĩa là:

  1. Thực hiện một lời nguyền ( tức lời thề - A vow) để biểu lộ những đặc tính tốt đẹp trong chính chúng ta một cách trung thực.

  2. Thực hiện một lời nguyền để biểu lộ những đặc tính xấu xa trong chính chúng ta một cách trung thực.

 - Khi phải đối mặt với một thảm họa đang đe dọa đến cuộc sống, của cải của chính bạn hoặc của nhiều người khác, bạn hãy thử chiêm nghiệm về những đặc tính tốt đẹp ( good traits) trong chính mình và buột miệng thề rằng : “ Bởi vì tôi đã nói đúng với sự thật, cầu mong cho tôi thoát khỏi được thảm họa này”. Nếu những lời nói này là đúng với sự thật, bạn sẽ thoát khỏi được nhiều loại thảm họa khác nhau.

 - Khi phải đối mặt với một thảm họa đang đe dọa đến cuộc sống, của cải của chính bạn và nhiều người khác, bạn hãy thử chiêm nghiệm về những đặc tính xấu xa trong chính mình và buộc miệng thề rằng : “ Bởi vì tôi đã nói đúng với sự thật, cầu mong cho tôi thoát khỏi thảm họa này. Nó đang đe dọa đến cuộc sống và của cải của tôi”. Nếu những lời nói này là đúng với sự thật thì bạn sẽ thoát khỏi được nhiều loại nguy hiểm và thảm họa đa dạng.

Ngày xưa, những người  thiện lành và cao thượng đã chữa trị được bệnh tật của họ, thoát chết và sống một cách hạnh phúc là nhờ vào việc xử dụng những lời nói chân thật ( Sacca mantam – truthful words ).

Thực hiện một lời nguyền với những đặc tính tốt đẹp

 Ngày xưa, do những lời nói chân thật của người con trai, chứng nhức đầu của một người mẹ đã được chữa khỏi . Cách đây rất lâu, có một người mẹ sống tại Tích Lan ( Srilanka or Ceylon) và 2 người con trai. Người con trai lớn tên là Mahācakkala và người con trai nhỏ tuổi hơn tên là Cullacakkala. Người con trai nhỏ tuổi làm việc kiếm sống và nuôi mẹ. Người mẹ bị khổ sở vì một chứng bệnh đau đầu dữ dội và thầy thuốc chữa trị cho bà đã kê đơn thuốc là máu của con thỏ. Vị thầy thuốc nói rằng chỉ có thứ ấy là chữa được chứng bệnh đau đầu nói trên mà thôi. Người con lớn tên là Mahācakkala đã sai em mình là Cullacakkala đi vào rừng để bẫy thỏ. Khi nghe anh trai mình nói như vậy, Cullacakkala bèn cầm lưới bẫy thỏ và đi vào rừng. Anh ta đã bẫy được một con thỏ mẹ đang nuôi 2 con thỏ con đang còn bú. Con thỏ mẹ đã tỏ ra khiếp đảm và kêu thét lên. Nó vùng vẫy và nổ lực hết sức mình để thoát khỏi chiếc bẫy. Hai con thỏ con nhỏ xíu chạy quanh chiếc bẫy nhìn theo mẹ chúng trông thật đáng thương. Cullacakkala nhìn thấy tình cảnh của 2 con thỏ con và nghĩ rằng : “ Mặc dù là thú vật nhưng chúng cũng đã biểu lộ được tư cách đáng thương đối với mẹ của chúng, thật là cảm động”. Vào lúc đó, Cullacakkala đã kịp nhận ra rằng, tình cảnh đáng thương của 2 con thỏ con thật giống tình cảnh của chính anh ta. Cullacakkala đã tự nghĩ : “ Ba con thỏ này cũng giống như là 3 thành viên trong gia đình của mình”. Nếu anh ta giết mẹ của 2 con thỏ con để cứu lấy mẹ của anh ta thì thật là không công bằng chút nào. Nếu làm điều đó, anh ta sẽ trở thành một người không có lòng trắc ẩn. Vì suy nghĩ như vậy, Cullacakkala đã giải thoát cho con thỏ mẹ ra khỏi bẫy. Khi Cullacakkala về đến nhà, người con trai lớn trong gia đình là Mahācakkala đã hỏi em mình rằng :

“  Tại sao anh ta không bắt được thỏ ?”. Cullacakkala đã đáp rằng, mặc dù anh ta đã bắt được một con thỏ mẹ đang cho 2 con bú,  nhưng cảm thấy buồn thương cho cả 3 con thỏ. Hoàn cảnh của chúng nó cũng giống như hoàn cảnh của 2 anh em họ. Vì vậy, anh ta đã thả con thỏ mẹ ra rồi. Người anh cả là Mahācakkala đã nổi giận, bởi vì mẹ của anh ta đã bị em trai mình so sánh như một con vật thấp hèn. Ngay lập tức, anh ta vơ lấy chiếc gậy và đánh tới tấp lên đầu người em. Cullacakkala đã chạy đến bên mẹ mình và ôm lấy bà. Người mẹ đã ngăn cản không cho người con lớn của bà đánh Cullacakkala. Tiếp đến, Cullacakkala đã buông ra một lời thề rằng : “  Tôi có thể thề rằng mình chưa bao giờ sát sanh. Với lòng yêu thương đến 3 con thỏ, ba mẹ con chúng cũng giống như gia đình tôi. Tôi đã thả con thỏ mẹ ra bởi vì tuân thủ Giới luật”. Cullacakkala lại nói lớn hơn : “ Bởi vì những lời nói của tôi là hoàn toàn đúng với sự thật, cầu mong cho bệnh đau đầu của mẹ tôi được lành hẳn ”. Kỳ diệu thay, chứng bệnh đau đầu của bà mẹ tự nhiên biến mất như thể nó được ai đó mang cất đi. Bởi vì Cullacakkala đã nói đúng sự thật về những phẩm chất tốt đẹp của anh ta, nên chứng bệnh đau đầu của mẹ anh ta đã được chữa khỏi.

 Lời nói chân thật về những phẩm chất xấu xa

 Một thời trong quá khứ khi Đức Phật đang là một ẩn sĩ Kanhadīpāyana. Ngài sống trong một tu viện ở Barānasī ( Đô thị của xứ Ba-La-Nại – Benares). Một ngày nọ, người đàn ông giàu có tên là Mandabya cùng với vợ và con trai nhỏ tuổi của ông ta là Yannadat đã đến tu viện của ẩn sĩ Kanhadīpāyana để cúng dường. Khi cha mẹ của mình đang trò chuyện với vị ẩn sĩ, thì đứa con trai nhỏ tuổi đang chơi với một con quay. Bổng nhiên, con quay bị rơi vào một cái lỗ nơi có một con rắn độc đang ở. Yannadat đã thò tay vào cái lỗ để lấy con quay ra. Hành động của cậu bé đã khiến cho con rắn độc nổi giận và cắn mạnh vào tay nó. Ngay lập tức, cậu bé đã ngã xuống và ngất đi. Cha mẹ cậu bé lập tức mang con trai của họ đến nhờ vị ẩn sĩ chữa giùm. Lúc đó, nọc độc của con rắn đang ngấm dần vào người cậu bé.Vị ẩn sĩ đã trả lời rằng, ông không thể chữa được cho cậu bé và nói : “ Nếu ông bà không thể chữa được cho cháu bằng thuốc thì hãy thực hiện một lời thề với những lời nói chân thật, hãy làm nhanh lên !”. Vị ẩn sĩ đã đặt tay mình lên đầu của Yannadat và nói lớn : “ Kể từ khi trở thành một ẩn sĩ, tôi đã gặt hái được hạnh phúc bởi vì đã thực hành Pháp Cao Thượng trong 7 ngày liên tiếp. Sau đó, trong suốt 50 năm tiếp theo, tôi không còn được hạnh phúc nữa bởi vì đã thực hành pháp đê tiện. Vì những lời nói chân thật này, tôi cầu mong nọc độc của con rắn sẽ không làm hại được đứa bé và nó sẽ được sống”. Nhờ vào sự chân thật của vị ẩn sĩ và những lời nói đúng đắn của ông, nọc độc của con rắn đã trào ra ngoài theo đầu vú của đứa bé và rơi xuống đất. Yannadat đã mở mắt ra gọi cha mẹ của nó và tỉnh lại. Vị ẩn sĩ Kanhadīpāyana đã nói với người đàn ông giàu có tên là Mandabya rằng :

 “ Tôi đã vận động hết sức lực của mình. Bây giờ ông bà hãy thực hiện một lời thề cho con của ông bà được sống lại”. Người cha đã buông ra một lời thề dứt khoát : “ Tôi không thích bố thí và tôi cũng không tôn kính những người đi khất thực. Tuy nhiên, tôi không muốn phá vỡ truyền thống của gia đình mình. Bởi vì những lời tôi đã nói là đúng với sự thật, cầu mong cho nọc độc của con rắn không làm hại được con trai tôi và nó sẽ được sống”. Do sự chân thật của Mandabya và những lời nói đúng đắn của ông, nọc rắn đã trào ra ở phần eo của Yannadat và rơi xuống đất. Mặc dù nọc rắn đã trào ra ngoài đến 2 lần nhưng Yannadat vẫn chưa thể đi đứng, cũng như chưa ngồi dậy được. Sau đó, người đàn ông giàu có đã nói với vợ của mình : “ Tôi đã vận động hết sức lực của tôi. Bây giờ bà hãy thực hiện một lời thề để con của chúng ta có thể đứng dậy và đi”. Người vợ của Mandabya lại nói với chồng : “ Ông Mandabya giàu có ! Tôi thấy ông không xứng đáng để tôi thề trước mặt ông ! ”. Người đàn ông thúc giục vợ mình hãy mau thực hiện lời thề để cứu  đứa con trai của họ. Do đó, người vợ đã nói : “ Tôi ghét con rắn đã cắn con trai tôi là Yannadat bao nhiêu thì tôi cũng ghét cha của Yannadat bấy nhiêu. Những lời nói này của tôi là đúng với sự thật, cầu mong cho nọc độc của con rắn không làm hại được con trai tôi và nó sẽ được sống”. Do những lời nói chân thật của người đàn bà, tất cả những nọc độc của con rắn còn lại trong người Yannadat đã trào ra ngoài và rơi xuống đất. Yannadat đã đứng dậy, đi lại và có thể chạy chơi một cách bình thường. Vị ẩn sĩ , người đàn ông giàu có và vợ của ông ta, mỗi người đã tự tìm thấy được lỗi lầm của chính mình. Họ đã có quyết tâm sửa chữa lại chính bản thân họ cho đúng đắn. Vì vậy, vị ẩn sĩ bất hạnh, người đàn ông giàu có không có thiện chí bố thí và người vợ ghét bỏ chồng đều đã sửa chữa được lỗi lầm của chính mỗi người. Tất cả những tính cách xấu xa đó đã được khắc phục và đã được đảo ngược thành hạnh phúc, thiện chí và yêu thương.

 

    4 kiểu sống đúng đắn để đạt tới những cảnh giới tốt đẹp

 

 Những ai khi sanh ra được làm người đều đã từng thực hiện những phẩm hạnh xứng đáng trong những tiền kiếp của họ. Được sinh ra như là một con người là kết quả của những hành động thiện lành trong quá khứ mà họ đã từng thực hiện. Họ cũng mong muốn được sống một cách thiện lành trong thế giới của loài người. Nếu có thể sống một cách đúng đắn, họ sẽ được tái sanh vào những cảnh giới tốt đẹp và có thể đạt tới Niết Bàn Cao Thượng. Ngài Trưởng Lão Tam Tạng Kaccayana, một ẩn sĩ Kàladevìla đã nói về 4 cách sống đúng đắn ( tức Chánh mạng – Sammā Ājiva - Right livelihood) trong thế giới loài người :

 1.  Sống đúng đắn là làm việc một cách siêng năng để tìm kiếm sự giàu có.

 2.  Sống đúng đắn là biết cách bố thí và chia xẻ của cải cho người khác.

 3. Sống đúng đắn là khiêm tốn và không khoe khoang khi có nhiều của cải.

 4. Sống đúng đắn là bình tĩnh khi của cải của mình bị thất thoát, mất mát hay suy đồi. Không thối chí, không chán nản và thất vọng khi đang ở trong hoàn cảnh đó. Đây là 4 cách sống tốt đẹp mà Tôn giả Kaccàyana đã nói với những ẩn sĩ trẻ tuổi có quan hệ với Ngài.

  1. Một người lười biếng và không cố gắng tìm kiếm sự giàu có sẽ có một cuộc sống bất hạnh, thiếu thốn thức ăn, áo quần và chỗ ở. Vì vậy, cha mẹ, con cái, thợ thầy và những người có quan hệ với anh ta cũng không được hạnh phúc, bởi vì anh ta không thể giúp được gì cho họ. Đó là lý do tại sao, một người lười biếng không chịu tìm kiếm của cải sẽ có một cuộc sống tồi tệ trong thế giới của loài người. Một người cố gắng tìm kiếm sự giàu có một cách siêng năng và hợp pháp sẽ được hạnh phúc, bởi vì anh ta có đầy đủ thức ăn, áo quần và chỗ ở tốt. Những người sống chung với anh ta như : Cha mẹ, con cái, thợ thầy và những người có quan hệ cũng sẽ được hạnh phúc, bởi vì có đủ thức ăn, áo quần và chỗ ở tốt do nhận được sự giúp đỡ của anh ta. Đó là lý do tại sao, siêng năng tìm kiếm sự giàu có một cách hợp pháp là một cách sống tốt đẹp trong thế giới của loài người.

 2. Một người không chia xẻ và bố thí của cải mà mình đã kiếm được cho những người đang cần chúng như :  Cha mẹ, con cái, thợ thầy, những người có quan hệ với mình. Anh ta cũng  không cúng dường cho Tăng già và những người đi khất thực mà cứ ôm chặt của cải của mình. Mặc dù anh ta có giàu có đi chăng nữa, điều đó cũng không mang lại lợi ích gì cho cuộc sống mai sau của anh ta. Vì vậy, đó là một lối sống tồi tệ trong thế giới của loài người. Một người sau khi đã chia số tài sản kiếm được của mình thành 4 phần, một phần để chia xẻ cho mọi người như : Cha mẹ, con cái, Tăng già và những người có quan hệ… hai phần để đầu tư vào công việc làm ăn buôn bán, kinh doanh… và một phần được giữ lại để chữa bệnh. Như vậy có thể nói, anh ta là một người biết xử dụng của cải của chính mình một cách thông minh. Chắc chắn anh ta sẽ có được một cuộc sống tốt đẹp trong thế giới của loài người.

3.Những người sau khi đã trở thành giàu có nhưng không biết chăm nom săn sóc cha mẹ đã già yếu, không giúp đỡ người thân và nhiều có quan hệ với mình… mà trở nên khoe khoang, kiêu hãnh và tự cao tự đại. Loại người này trước sau gì cũng bị suy đồi, thoái hoá trong kiếp sống hiện tại và trong những kiếp sống ở tương lai. Lối sống theo kiểu đó chính là nguyên nhân dẫn đến bất hạnh. Người ta nói rằng, đây là một cách sống tồi tệ trong thế giới của loài người. Những người sau khi đã trở thành giàu có nhưng không trở nên khoe khoang và tự cao ngã mạn. Họ biết cách quan tâm yêu mến và tôn trọng cha mẹ đã già yếu và nhiều người khác đang cần sự giúp đỡ… thì chắc chắn trước sau gì họ cũng sẽ được hạnh phúc trong kiếp sống hiện tại và trong những kiếp sống ở tương lai. Lối sống theo kiểu này chính là nguyên nhân dẫn đến hạnh phúc trong những kiếp sống ở tương lai.

 4.Lụt lội , hoả hoạn và trộm cướp là nguyên nhân có thể làm cho của cải của một người bị thất thoát hay mất đi. Điều đó có thể làm cho anh ta mất ăn mất ngủ do tác động của tai họa. Nếu bị rơi vào tình trạng suy sụp tinh thần nhưu vậy, người này sẽ đánh mất lợi ích của chính mình trong kiếp sống hiện tại và trong những kiếp sống ở tương lai khi phải tái sanh vào luân hồi. Đó là một hoàn cảnh tồi tệ trong thế giới của loài người. Khi của cải đã bị thất thoát hay bị mất đi trong những trường hợp như lụt lội, hoả hoạn, trộm cướp… bạn không nên quá xúc động và bối rối mà hãy bình tĩnh, đừng nản chí hay tuyệt vọng. Nếu làm được như thế, bạn sẽ có được nhiều lợi ích trong kiếp sống hiện tại và trong những kiếp sống mai sau, khi phải tái sanh vào luân hồi. Đó là một cách sống tốt đẹp trong thế giới của loài người. Chỉ khi đã có khả năng sống đúng theo 4 cách sống tốt đẹp vừa nêu trên, bạn sẽ được tái sanh vào những cảnh giới tốt đẹp và cao thượng. Bạn cũng sẽ đạt tới được Niết Bàn Cao Thượng, bởi vì đó là những cách sống tốt đẹp trong cuộc đời này. 

 

               Bốn cơ hội tốt để nhận thức Giáo Pháp

 

 Khi Giáo Pháp Nguyên Thuỷ của Đức Phật đã trải qua hơn 2500 năm, một vài người nghĩ rằng nó đã không còn thích hợp với thời đại ngày nay. Những người này nói rằng, nếu theo học và thực hành Giáo Pháp cổ xưa này, bạn sẽ không thể trở thành những Người Cao Quí ( Ariya Puggala – Noble person) như Tu-Đà-Hườn ( Sotāpaññā), A-Na-Hàm ( Anāgami)… và gặt hái được Niết Bàn Cao Thượng. Trong khi đó, một số người khác vẫn luôn luôn tin rằng, mặc dù Giáo Pháp Nguyên Thuỷ của Đức Phật đã trải qua hơn 2500 năm, tuy nhiên nó vẫn có thể khiến cho con người ngày nay được trở nên hạnh phúc. Nếu theo học và thực hành Giáo Pháp cổ xưa này, chắc chắn bạn sẽ trở thành người cao quí và gặt hái được Niết Bàn Cao Thượng.  Mặc dù vậy, trong các tác phẩm bàn về Giáo Pháp Nguyên Thuỷ của Đức Phật, người ta đã nhận thấy rằng, các nhà chú giải

( Atthakathā – commentators) Tam Tạng Kinh Điển đều xác nhận một cách rõ ràng : “ Giáo pháp cổ xưa của Đức Phật vẫn còn đúng với thời đại ngày nay”. Các nhà chú giải nói trên đã biết được rằng, niềm ao ước của Đức Phật là muốn cứu độ chúng sanh thoát khỏi khổ đau trong luân hồi. Để làm được điều đó, Đức Phật đã nêu ra cho chúng ta thấy 4 cơ hội để nhận thức hay lãnh hội được Giáo Pháp Cao Thượng của Ngài :

 1. Buddhuppādakhano – Được sinh ra làm người và sống trong thời Đức Phật còn tại thế, có cơ duyên để gặp gỡ và tiếp cận trực tiếp với Giáo Pháp Cao Thượng của Ngài.

 2. Majjhimadeseuppattikhano – Được sinh ra làm người và sống tại trung tâm của một miền ( Majjhimadesa – Central  region) mà ở đó Giáo Pháp của Đức Phật đang rất hưng thịnh.

 3. Sammāditthiyāpatiladdhakhano – Cơ hội có được một quan điểm hay quan kiến đúng đắn ( tức Chánh kiến – Sammā Ditthi - Right view).

 4. Channamāyatanānamavekallakhano – Cơ hội có được một khả năng để làm chủ các giác quan như :  Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.

                                    ( Dhammapadattha Sutta  - Kinh Pháp Cú Chú Giải  2/ 304 )

 - Khi không có Đức Phật và Giáo Pháp của Ngài, nếu người ta muốn thực hành Phật Pháp thì dĩ nhiên họ không thể làm được, bởi vì hoàn toàn không có thiền minh sát để thực hành và gặt hái Pháp Cao Thượng. Vì vậy, họ không thể nhận thức được Pháp Cao Thượng. Những người được sinh ra trong thời Đức Phật còn tại thế cùng với Giáo Pháp của Ngài ( Sāsanā ) có thể lắng nghe Đức Phật thuyết Pháp và thực hành thiền minh sát. Họ có thể trở thành những người cao quí như Tu-Đà- Hườn, A-Na-Hàm… và nhận thức được Giáo pháp Cao Thượng đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính họ. Đó là lý do tại sao, khi những người được sinh ra trong thời Đức Phật còn tại thế cùng với Giáo Pháp của Ngài là một cơ hội để họ nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng.

Tóm tắt: Gặp được Đấng Giác ngộ và Giáo Pháp của Ngài là cơ hội tốt lành.

- Mặc dù những người được sinh ra trong thời Đức Phật còn tại thế là một cơ hội tốt lành cho họ. Tuy nhiên, nếu họ được sinh ra trong một nơi mà Giáo Pháp của Ngài không được hưng thịnh, họ cũng không có cơ hội được lắng nghe Giáo Pháp và thực hành thiền minh sát. Vì vậy, họ sẽ không nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng. Những người được sinh ra trong một nơi mà Giáo Pháp của Đức Phật đang hưng thịnh thì họ có thể thực hiện những phẩm hạnh xứng đáng trong sự kết nối với Giáo Pháp. Họ có thể lắng nghe Giáo Pháp và thực hành thiền minh sát để gặt hái Giáo Pháp Cao Thượng.Vì vậy, họ có thể trở thành những người cao quí như Tu-Đà- Hườn, A-Na-Hàm… và nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng. Khi được sinh ra làm người tại một nơi mà Giáo Pháp của Đức Phật đang hưng thịnh thì đó là một cơ hội tốt lành để nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng.Trong thời Đức Phật còn tại thế, miền Trung của Ấn Độ là một nơi mà Giáo Pháp của Ngài rất hưng thịnh. Ngày nay, đất nước Miến Điện được cho là một nơi mà Giáo Pháp của Đức Phật đang rất hưng thịnh.

Tóm tắt : Được cư trú tại một nơi mà Giáo Pháp của Đức Phật đang hưng thịnh thì đó là một cơ hội tốt lành.

- Có một số người bất hạnh không tin rằng, việc thực hiện những hành động tốt lành như bố thí chẳng hạn, có thể làm cho người ta gặt hái được nhiều lợi ích và trở nên thịnh vượng trong mọi kiếp sống. Những hành động không lành mạnh như sát sanh, trộm cắp…sẽ dẫn dắt người ta đến với địa ngục nhiều khổ đau. Những người bất hạnh thường nghĩ rằng, chỉ có duy nhất một kiếp sống hiện tại bây giờ mà thôi, ngoài ra không hề có một cuộc sống tương lai nào khác. Với một quan điểm hay quan kiến lầm lạc ( Micchāditthi – Wrong view ) như thế, họ sẽ không thực hiện hạnh bố thí hay bất cứ một hành động xứng đáng nào. Họ cũng không thực hành thiền minh sát bởi vì họ chưa gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng và tất nhiên họ sẽ không bao giờ nhận thức được những điều quí báu nằm trong Giáo Pháp của Đức Phật.

 - Những người tin rằng, việc thực hiện những hành động tốt lành như bố thí chẳng hạn, sẽ làm cho họ trở nên thịnh vượng, gặt hái được nhiều lợi ích trong kiếp sống ở hiện tại và những kiếp sống ở tương lai cho đến khi đạt tới Niết Bàn là những người hạnh phúc. Họ có suy nghĩ rằng, sát sanh, trộm cắp và nhiều hành động không lành mạnh khác sẽ dẫn dắt họ đến với địa ngục nhiều khổ đau. Bởi vì có niềm tin đúng đắn, họ sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng. Vì vậy họ sẽ thực hành thiền minh sát và nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng. Họ cũng sẽ trở thành những người cao quí như Tu-Đà- Hườn, Tư-Đà-Hàm… và nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính họ. Vì vậy, có được niềm tin đúng đắn (chánh kiến) là một cơ hội tốt lành để lãnh hội Giáo Pháp của Đức Phật.

Tóm tắtCó niềm tin đúng đắn là một cơ hội tốt lành để lãnh hội Giáo Pháp của Đức Phật.

 Những người “ đui mù” không thể nhìn thấy được “ hình ảnh của Đức Phật”. Do đó, họ không thể tôn kính và thờ phụng Ngài. Có thể họ vẫn đang tôn kính và thờ phụng Đức Phật. Tuy nhiên, đó không phải là cách tôn kính và thờ phụng đúng đắn, bởi vì họ chưa có khả năng tập trung tâm ý để thấy được một cách rõ ràng hình ảnh của Ngài qua Giáo Pháp Cao Thượng. Những người “ điếc” không thể lắng nghe thuyết Pháp của Đức Phật, bởi vì họ không có khả năng chú ý để nghe trong Chánh niệmnghe với Chánh kiến. Những người có tính dễ bị xúc cảm hay dễ bị ảnh hưởng khi tiếp xúc với mùi, vị, trạng thái va chạm về thân xác ( xúc giác)… là những người đang có bệnh trong tâm thức của chính họ. Tinh thần của họ đang bị rối loạn. Do đó, họ không thể thực hành thiền minh sát. Vì vậy, họ không thể  gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng. Nếu 6 giác quan của bạn như :  Trạng thái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và ý thức được lành mạnh, tinh thần của bạn chắc chắn sẽ được lành mạnh và vững chãi.Vì vậy, bạn có thể tôn kính và thờ phụng hình ảnh Đức Phật một cách đúng đắn, lắng nghe những bài thuyết Pháp của Ngài và thực hành thiền minh sát. Nhờ đó, bạn có thể trở thành những người cao quí như Tu-Đà- Hườn, Tư- Đà-Hàm… và lãnh hội được Giáo Pháp Cao Thượng của Đức Phật. Đó là lý do tại sao, có được 6 giác quan lành mạnh, đúng hơn là có khả năng làm chủ được 6 giác quan là một cơ hội tốt lành để nhận thức được Giáo Pháp của Đức Phật.

Tóm tắt: Có được khả năng để làm chủ các giác quan một cách thật sự là một cơ hội tốt để nhận thức Giáo Pháp Cao Thượng của Đức Phật.

 Nếu có được 4 cơ hội tốt lành đã nêu trên để thực hành thiền minh sát một cách đúng đắn, chắc chắn bạn sẽ gặt hái được Giáo pháp Cao Thượng của Đức Phật. Những người thực hành thiền minh sát với một phương pháp đúng đắn ( mặc dù chưa có khả năng thực hành nó từng giây từng phút liên tục trong suốt cuộc đời mà chỉ có thể thực hành trong một khoảng thời gian có thể nào đó) sẽ hiểu được bản chất tự nhiên của vạn hữu. Một khi đã hiểu được bản chất tự nhiên của một pháp nào đó, dù chỉ là một pháp thôi thì bạn cũng sẽ trở nênthích thú trong việc thực hành những lời dạy của Đức Phật ( chữ pháp ở đây có nghĩa là sự vật hay hiện tượng – ND). Đến lúc đó, bạn sẽ có năng lực tinh tấn để tiếp tục chiêm nghiệm về Giáo Pháp của Ngài nhiều hơn nữa và tiến bộ trên con đường tìm Đạo của chính mình. Nhờ đó, bạn sẽ lãnh hội được Giáo Pháp của Đức Phật đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính mình.Khi càng chiêm nghiệm nhiều về Giáo Pháp của Đức Phật bao nhiêu, bạn sẽ có khả năng lãnh hội được Giáo Pháp của Ngài trong sự thấu hiểu về bản chất của cuộc sống ở một mức độ sâu sắc và tròn đủ bấy nhiêu. Nói cách khác, bạn sẽ có một khả năng nhận định rõ ràng và đúng đắn về cuộc sống, cũng như sẽ trở nên siêng năng và mạnh mẽ hơn. Khi tâm trí của bạn đã trở nên mạnh mẽ thì năng lực định tâm ( Samādhi – concentration) của bạn cũng sẽ vững chãi hơn. Nếu năng lực định tâm được gia tăng trong khi thực hành thiền nội quán ( tức thiền minh sát) thì bạn sẽ gặt hái được nhiều kinh nghiệm về bản chất của thân và tâm của chính mình. Khi đã thấu hiểu được bản chất của chính mình một cách mạnh mẽ và đầy đủ, bạn sẽ gặt hái được Chánh Đạo ẩn chứa trong Giáo Pháp của Đức Phật và đạt tới Niết Bàn Cao Thượng.

 

   Những cách thức chậm rãi và nhanh chóng nên thực hiện

 

Tất cả chúng ta đang sống trong thế giới loài người. Tuy nhiên thật ra, chúng ta đã không làm được một việc gì trọn vẹn cả. Ngoại trừ các vị A-La-Hán, những người đã làm được mọi sự một cách trọn vẹn. Đáng ra khi làm mọi việc, bạn cần phải phân biệt được những hành động nào là nên thực hiện một cách chậm rãi và những hành động nào là phải nhanh tay lên. Chỉ khi đã có khả năng phân biệt được như vậy, bạn mới có thể thực hiện được mọi việc một cách hoàn hảo, sắc bén và đúng thời gian dự định.

   Những công việc bạn nên thực hiện một cách chậm rãi là :

 1.  Khi đang tìm kiếm kiến thức và sự giáo dục

 2.  Khi đang tìm kiếm của cải và sự giàu có

 3.  Khi đang leo núi

 4.  Khi đang khao khát những lạc thú trần tục

 5.  Khi đang tìm cách loại bỏ trạng thái tâm sân hận

  - Một cá nhân nào đó mong muốn tìm kiếm được kiến thức và sự giáo dục bằng cách nỗ lực và thực hiện điều đó một cách hấp tấp. Anh ta chưa thông suốt được bài học đầu tiên mà đã nhảy sang học bài học thứ hai. Nếu chưa thông suốt được bài học đầu tiên, khi qua bài học thứ hai dĩ nhiên anh ta sẽ gặp phải khó khăn. Khi đã thật sự bước sang bài học thứ hai, anh ta cũng không thông suốt được nó mà vẫn tiếp tục nhảy qua bài học thứ ba. Như vậy, chắc chắn người này sẽ gặp phải những loại kiến thức khó lãnh hội hơn trong bài học thứ ba. Cứ theo cách đó, khi lên tới bài học thứ tư, thứ năm và các bài học ở trình độ cao hơn thì mức độ khó càng gia tăng. Đó là lý do tại sao, anh ta có thể nản chí trong việc tìm kiếm kiến thức và sự giáo dục. Một cá nhân nào đó tìm kiếm kiến thức và sự giáo dục bằng cách cố gắng học cho thông suốt bài học đầu tiên một cách chậm rãi cho đến khi đã nhớ được nó. Sau đó, anh ta tiếp tục học cho thông suốt bài học thứ hai, rồi bài học thứ ba… một cách rất chậm rãi. Kể từ khi có được sự trợ lực của bài học đầu tiên, người này đã có thể học tiếp những bài học cao hơn cho đến khi hoàn tất được việc học của mình. Đó là lý do tại sao, khi tìm kiếm kiến thức và sự giáo dục, bạn cần phải thực hiện công việc này một cách chậm rãi. Khi chúng ta nói rằng, một người nào đó cần phải tìm kiếm kiến thức và sự giáo dục một cách chậm rãi, điều này không có nghĩa là người đó cứ yên tâm mà lãng phí thời gian khi học tập. Thay vì chủ quan và lãng phí thời gian, người đó cần phải học đi học lại một cách tích cực các bài học đã được thầy của mình chỉ dạy, cho đến khi có thể thông suốt được chúng.  Đây là ý nghĩa của việc cần phải học tập một cách thật chậm rãi.

 - Một cá nhân nào đó tìm kiếm của cải và sự giàu có mong ước rằng, chỉ trong ngày một ngày hai là anh ta sẽ gặt hái được sự thịnh vượng. Do đó, người này đã cố gắng làm việc và mở rộng công việc của anh ta sang nhiều ngành nghề khác nhau. Tuy nhiên, anh ta không chịu đầu tư mọi thứ cần thiết để xây dựng được một nền tảng cho những ngành nghề đó. Người này không có kỹ năng trong những ngành nghề mà anh ta đang làm, cũng như không chịu bổ sung kiến thức và kỹ năng khi thực hiện những nghành nghề này.Vì vậy, anh ta sẽ không bao giờ làm được việc gì trọn vẹn. Kết quả của những công việc dở dang đó đã làm cho anh ta nản chí. Một cá nhân khi tìm kiếm sự giàu có đã thử làm một công việc mà anh ta đã có kiến thức và kỹ năng về nó một cách chậm rãi và liên tục. Sau đó, chắc chắn công việc vừa nói sẽ phát triển. Người này nổ lực hết mình cho công việc mà anh ta đang làm, tích luỹ của cải và trở nên giàu có. Đó là lý do tại sao khi tìm kiếm của cải, bạn cần phải làm việc một cách chậm rãi và liên tục, bởi vì chỉ với cách làm việc đó, bạn mới có thể thành công được.

- Một cá nhân nào đó đang leo lên một ngọn núi cao khoảng 4000 feet hay 5000 feet ( feet là một đơn vị đo lường của Anh quốc có chiều dài bằng 0,3048 mét - ND). Người này đã leo lên núi với một tốc độ rất gấp gáp vì muốn đến được đỉnh núi một cách nhanh chóng. Nếu leo núi theo cách như vậy, chắc chắn anh ta sẽ hết sức trước khi lên tới đỉnh núi và không thể leo thêm một chút nào nữa. Do đó, có thể anh ta sẽ buồn bã và phiền muộn. Một người đang chậm rãi và thận trọng leo lên một ngọn núi theo đúng với sức lực của chính mình. Anh ta sẽ lên leo tới được đỉnh núi như đã mong muốn. Đó là lý do tại sao, người ta cần phải leo núi một cách chậm rãi.

 - Bản chất của thế giới trần tục giống như một cặp vợ chồng thiển cận, bởi vì người ta đã vội vàng hấp tấp tìm kiếm cho mình một “ mẫu người lý tưởng” để thành hôn và gắn bó với người đó. Trong khi bản thân người ta vẫn chưa hiểu được người bạn đời của mình một cách sâu sắc. Sau khi đã gắn bó với nhau, đôi vợ chồng này phát hiện ra họ có những quan điểm sống khác nhau. Từ đó, họ sẽ trở nên bất hạnh. Có những trường hợp cô dâu hoặc chú rể đã ra đi, chôn vùi lễ cưới và những ngày hạnh phúc vào dĩ vãng. Cha mẹ và những người lớn tuổi của 2 dòng họ, bao gồm phía nhà trai và nhà gái đã bị mất thể diện. Những người lớn tuổi của 2 bên đã đánh mất của cải của họ để trang trải cho lễ cưới. Đó là lý do tại sao, khi tìm kiếm cho mình một cuộc sống hôn nhân lý tưởng và những lạc thú trần tục, bạn phải thực hiện những điều đó một cách thật chậm rãi.

- Một cá nhân nào đó bất thình lình bắt gặp một điều gì làm cho anh ta đánh mất sự tự chủ. Ngay lúc đó, người này chưa thể hiểu được nguyên nhân của sự việc xảy đến phát xuất từ đâu. Do đó, anh ta đã lập tức nổi giận, trở nên bạo lực trong cách đối xử và hăm dọa người khác bằng những lời chửi rủa lăng mạ. Như vậy, người này đã đánh mất danh giá vì những lời nói và cách đối xử sai lầm của anh ta. Những người bạn tốt của người này trước đây rất tôn trọng anh ta, nay họ sẽ xa lánh người này bởi vì có ấn tượng không tốt về anh ta. Đó là lý do tại sao, khi bắt gặp một điều gì có thể khiến cho chúng ta đánh mất tự chủ, bạn cần phải thật chậm rãi trong lời nói và cung cách đối xử để khỏi mắc phải sai lầm. Có 3 điều mà bạn nên chú ý để suy nghĩ và thực hiện chúng một cách chậm rãi :

 1. Thành hôn với người khác ( Matrimony)

 2.  Xây dựng chùa chiền ( building a pagoda)

 3. Xăm mình ( tattooning)

 - Một số nam nữ thanh niên thiếu vắng nền tảng đạo đức cần thiết hoặc có thể là không có hạnh kiểm tốt. Khi những người này mong muốn kết hôn với ai đó thì cuộc hôn nhân của họ sẽ không tồn tại được bao lâu. Khi sự việc đã rồi (đã kết hôn) thì họ khó mà sửa chữa lại được. Đó là lý do tại sao, khi muốn thành lập gia đình, bạn cần phải thực hiện việc đó một cách thật chậm rãi và chín chắn. 

 - Khi xây dựng chùa chiền hay làm ảnh tượng Phật để thờ phụng, chúng ta nên lựa chọn địa điểm thực thi sao cho thích hợp, tượng Phật hay ảnh Phật phải có dáng vẻ uy nghi và rực rỡ. Nếu địa điểm để xây dựng chùa chiền không thích hợp và ảnh tượng Phật không đạt được phẩm chất tối ưu trong dáng vẻ, chắc chắn bạn sẽ không được mãn nguyện với công trình của mình. Mặt khác, bạn cũng không thể phá huỷ công trình vừa xây dựng, việc khắc phục được những chỗ còn khiếm khuyết của công trình bất như ý đó cũng là một nhiệm vụ khó khăn. Đó là lý do tại sao, khi xây dựng chùa chiền và làm ảnh tượng Phật để thờ phụng, chúng ta phải suy nghĩ cẩn thận và phải thực hiện công việc đó một cách thật chậm rãi.

 - Một số người trẻ tuổi hay có thói quen xăm mình. Họ xăm trên cánh tay, ngực, lưng…của mình những hình ảnh như con mèo, con cọp và những biểu tượng tinh thần khác… Sau đó khi lớn lên, họ đã mong muốn tẩy xoá chúng đi. Tuy nhiên thuốc nhuộm đã chết dính vào thịt và họ không thể làm được điều đó. Vì vậy khi muốn xăm mình, người ta cần phải suy nghĩ thật chín chắn để hiểu rõ việc làm của chính mình trước khi thực hiện nó. Ông cha chúng ta ngày xưa cũng đã từng sáng tác những bài thơ nói về 3 điều vừa nêu trên, bởi vì những điều đó rất khó sửa chữa và khắc phục, mỗi khi bạn đã thực hiện chúng.

Tóm tắt: Lập gia đình, xây dựng chùa chiền,làm ảnh tượng Phật để thờ phụng và xăm mình là những công việc khó sửa chữa và khắc phục.

 Những điều bạn nên thực hiện một cách nhanh chóng là :

 Thực hành bố thí, giữ Giới, thực hành thiền định và thiền tuệ. Đức Phật cũng đã từng nói rằng : “ Nếu ngày hôm nay các con đang có được cơ hội để thực hiện những phẩm hạnh xứng đáng thì các con hãy thực hiện nó ngay trong ngày hôm nay, đừng trì hoãn đến ngày mai”. Khi đang có cơ hội để thực hiện một điều gì tốt lành ngay trong ngày hôm nay, bạn không nên trì hoãn điều đó đến ngày mai. Tại sao bạn lại không nắm bắt lấy cơ hội ngay trong ngày hôm nay ? Ngày hôm nay bạn đang còn sống đây. Tuy nhiên đến ngày mai, bạn đâu có biết được là mình có còn sống hay không ? Tại sao bạn lại sống cho ngày mai ? Thân thể của chúng ta có thể bị đến 96 loại bệnh nội tại. Nó có thể bị phá huỷ bởi các yếu tố phía bên ngoài như : Gươm, giáo, thuốc độc… Bạn không thể thỉnh cầu cái chết hãy để cho mình ở lại trong thế giới loài người này thêm một hay hai ngày nữa, một hay hai tháng , một hay hai năm nữa… bởi vì khi chưa gặt hái được Giáo Pháp, bạn có thể không bao giờ làm được bất cứ một việc gì mà mình đã có dự định. Chúng ta không thể làm bạn với thần chết rồi thực hiện các dự định của mình. Chúng ta cũng không thể đút lót cho thần chết hoặc chiêu mộ lính tráng để chiến đấu với ông ta. Đó là lý do tại sao, Đức Phật đã chỉ dạy rằng : “  Hãy thực hành thiền minh sát để nhận thức được Niết Bàn nếu chúng ta có cơ hội thực hành loại thiền này ngay lập tức trong ngày hôm nay”. Đó cũng là lý do tại sao, các hành động tốt lành là những công việc cần phải thực hiện một cách nhanh chóng và mau mắn.

                                                                                        ( Ma 3 / 226)

Tóm tắt: Bạn không thể đút lót cho thần chết và cũng không thể chiêu mộ lính tráng để chiến đấu với ông ta. Bạn cũng không thể biết được ngày mai đây mình có còn sống hay không. Vì vậy, bạn không nên trì hoãn việc thực hành thiền minh sát đến ngày mai.

                                                         ( Tôn giả Mahāsī - Ashin Mahāsī )

 

              Nhổ bật gốc của bất thiện bởi vì nó là cây độc

 

  Những người có trí tuệ, có một nền tảng về các hạnh Ba-La-Mật và có niềm tin mạnh mẽ vào Giáo Pháp của Đức Phật sẽ nghĩ rằng, những kiếp sống tái sanh trong luân hồi của con người là điều có thật. Điều mong muốn đặc biệt của họ là thoát khỏi địa ngục. Họ thực hành thiền đúng theo Giáo Pháp của Đức Phật đã chỉ dạy. Tuy nhiên, chỉ khi đã loại bỏ được những điều xấu xa trong chính bản thân, giống như việc nhổ bật gốc của một cây độc, thì đến lúc đó họ mới có thể thoát khỏi luân hồi.

Bất thiện giống như là một cây độc nghĩa là chúng ta đã:

 1. Thực hiện những hành động bất thiện thuộc về thân thể và lời nói ( Vītikkama Akusala – Bodily and verbal unwholesome actions).

 2.Tái hiện nhiều lần những ý nghĩ bất thiện trong tâm ( Pariyutthàna Akusala – Repeated unwholesome thoughts by the mental actions ).

 3. Thực hiện những hành động bất thiện không thể đếm được trong những kiếp sống ở quá khứ ( Anusaya Akusala -  Unwholesome actions existing from countless number of past lives).

 - Thực hiện những hành động bất thiện thuộc về thân thể và lời nói nghĩa là :

Sát sanh, trộm cắp hay lấy của không cho và tà dâm là 3 loại hành động bất thiện thuộc về thân thể. Nói dối, nói lời vu khống và phỉ báng, nói lời thô lỗ cộc cằn hay đe dọa và nói lời phù phiếm vô nghĩa là 4 loại hành động bất thiện thuộc về lời nói. Bảy loại hành động bất thiện này được ví như ngọn của một cây độc mà bạn có thể nhìn thấy chúng từ xa. Tương tự như  vậy, những hành động bất thiện của thân thể và lời nói là những thứ mà bạn có thể nhận thấy được một cách rõ ràng thông qua các giác quan. Bằng cách giữ Giới, bạn có thể nhổ bật gốc của bất thiện vì nó là cây độc. Khi bạn có thể giữ Giới một cách trong sạch, những hành động bất thiện thuộc về thân thể và lời nói như :  Sát sanh, trộm cắp, nói dối…sẽ bị loại bỏ. Năng lực giữ Giới trong sạch tựa như việc chúng ta cắt đứt hết ngọn của một cây độc.

Tóm tắtNhững hành động bất thiện thuộc về thân thể và lời nói cần phải được loại bỏ bằng cách giữ Giới trong sạch.

- Tái hiện những ý nghĩ bất thiện trong tâm nghĩa là :

 Trạng thái tái hiện nhiều lần trong tâm những cảm giác ham muốn có được một vật hay một điều gì chính là tham lam. Khi không có được vật hay điều mà mình ham muốn thì người ta hay lập đi lập lại sự bất hạnh của mình trong tâm do không được mãn nguyện. Đó chính là sân hận. Chúng ta không thể xác định rõ ràng chu vi của một thân cây độc, khi đang ở trong một khoảng cách rất xa so với nó. Chỉ khi tiến lại gần cây độc, bạn mới thực hiện được điều này. Trạng thái tái hiện nhiều lần trong tâm các ý nghĩ bất thiện là những hiện tượng không thể nhìn thấy được bằng mắt thường. Bạn chỉ có thể nhận thấy được những hiện tượng này khi chúng được xử dụng làm hành động lý lẽ để lập luận, tranh luận với người khác hay để làm cái gì đó. Trạng thái tái hiện nhiều lần trong tâm những ý nghĩ bất thiện được ví như thân của một cây độc. Trạng thái tái hiện nhiều lần những ý nghĩ bất thiện

( Pariyutthāna Akusala) tựa như một thân cây độc phải được tiêu huỷ bằng thiền định. Khi bạn chiêm nghiệm về danh tiếng của Đức Phật với những đức tính cao cả của Ngài hay tập trung ý thức vào một đối tượng nào đó một cách mạnh mẽ, trạng thái tái hiện nhiều lần trong tâm những ý nghĩ bất thiện sẽ không bao giờ có cơ hội để khởi lên. Điều đó có nghĩa là bạn đã tiêu huỷ chúng bằng thiền định. Thiền định đã tiêu huỷ những ý nghĩ bất thiện trong tâm của chúng ta giống như khi bạn bổ đôi một thân cây độc.

Tóm tắt: Khi những ý nghĩ bất thiện khởi lên trong tâm, bạn hãy xử dụng thiền định để tiêu huỷ chúng.

- Những hành động bất thiện đã thực hiện không thể đếm được trong những kiếp sống quá khứ ( Anusaya Akusala) nghĩa là những hành động bất thiện đã làm không thể đếm được có nguồn gốc từ quá khứ và đang hiện hữu trong tâm trí của chúng ta. Những ký ức bất thiện của con người là gốc của một cây độc. Bạn không thể nhìn thấy những ký ức này từ xa. Thậm chí, khi đã đến gần chúng, bạn cũng không thể nhìn thấy chúng bằng mắt thường được. Bạn chỉ có thể nhìn thấy những nghiệp bất thiện đó qua lý lẽ khi làm một việc gì đó. Cây độc sống được là nhờ gốc của nó đang ở trong lòng đất ( được ví như ký ức trong tâm của chúng ta). Bạn có thể thấy được gốc của cây độc thông qua năng lực trực giác ( tức sự nhận biết điều gì đó một cách trực tiếp, không có sự tham gia của ý thức). Theo như cách này, Anusaya Akusala có thể nhìn thấy được thông qua lý lẽ khi hành động. Vì vậy, nó được so sánh như là gốc của một cây độc. Bởi vì Akusaya Akusala được ví như là gốc của một cây độc, nó phải được tiêu huỷ bằng thiền quán niệm ( Vipassanà Bhàvana). Khi thực hành thiền quán niệm, hành giả sẽ xử dụng các đề mục đã được nói đến trong Bát Chánh Đạo để chú ý quan sát và nhận thức. Thiền quán niệm thực chất là một loại thiền minh sát căn bản. Mặc dù chúng ta nói rằng thiền Minh sát có thể loại trừ được Akusaya Akusala. Tuy nhiên thật ra, chỉ cần thiền quán niệm thôi thì bạn cũng đã có khả năng loại bỏ được gốc ký ức bất thiện đang hiện hữu trong tâm mình.  Vì vậy, bạn cũng cần phải thực hành thiền quán niệm bằng cách tập trung chú ý để quan sát các hiện tượng trong tâm mình đang xảy ra như thế nào. Khi thiền quán niệm được viên mãn, bạn sẽ gặt hái được kiến thức về Đạo ( Magga Ñāna). Nhờ đã có sự hiểu biết về Đạo, gốc ký ức và những nghi ngại trong tâm của bạn sẽ dần dần bị tiêu huỷ. Từ đó tham, sân, si cũng dần dần giảm bớt. Lúc này những hành động điên rồ và bất thiện mà chúng ta đã làm trong những kiếp sống ở quá khứ ( nguyên nhân dẫn đưa chúng ta xuống địa ngục) sẽ bị tiêu huỷ hoàn toàn. Vì vậy, người đã đắc được quả Tu-Đà-Hườn là người đã thoát khỏi mọi khổ đau ở địa ngục. Người này chỉ còn phải tái sanh vào luân hồi để làm người hay Chư-Thiên trong 7 kiếp sống là tối đa. Tuy nhiên, lúc này gốc ký ức của cây độc ( có thể ví như tham, sân và si) chỉ bị nhổ hay cắt bớt đi một phần. Vì vậy, một Tu-Đà- Hườn vẫn còn phải chịu nhiều đau khổ khi tái sanh làm người hay Chư-Thiên. Khi một người thực hành thiền đạt tới cảnh giới của một Tư-Đà-Hàm ( Sakadāgami – Once returner -  người chỉ còn phải tái sinh vào luân hồi một kiếp nữa thôi. Luân hồi gồm có 6 cõi là : Cõi trời, người, A-tu-la, ngạ quỉ, súc sanh và địa ngục) thì tham, sân, si trong tâm của người đó đã bị suy yếu một cách đáng kể, mặc dù chúng chưa bị loại trừ một cách hoàn toàn. Lúc này, gốc của cây độc đã bị làm cho suy yếu một cách trầm trọng.Vì vậy, một người đã trở thành Tư-Đà-Hàm là người đã thoát khỏi được tất cả những khổ đau trong kiếp sống làm người. Kiếp sống kế tiếp của người này không phải là người trên địa cầu nữa, mà là một cảnh giới cao hơn thế ( tuy nhiên vẫn còn ở trong luân hồi, tức vẫn còn chịu tác động của nghiệp). Khi người thực hành thiền tiếp tục công việc của mình và đạt tới cảnh giới của một A-Na-Hàm ( Anāgami –  Non returner) thì tham, sân, si trong người này đã tận diệt.Gốc của cây độc đã bị nhổ bỏ hoàn toàn hay Anusaya Akusala đã hoàn toàn bị loại trừ. Vì vậy, khi một người đã trở thành A-Na-Hàm, người này sẽ không còn trở lại luân hồi nữa và đương nhiên cũng sẽ thoát khỏi những khổ đau của luân hồi trong những kiếp sống kế tiếp sau khi đã qua đời . Người này đã thật sự thoát khỏi tác động của nghiệp dù ở bất cứ nơi đâu. Tuy vậy, một A-Na-Hàm cũng chưa thể đạt tới Niết Bàn. Khi một hành giả thực hành thiền Minh sát và đã đạt tới cảnh giới A-La-Hán ( một cảnh giới cao hơn cảnh giới A-Na-Hàm và là cảnh giới tối thượng mà con người có thể nhận thức được khi thực hành thiền Minh sát), người này đã đạt tới trí tuệ cao thượng tột bậc, không có một cái gì có thể diễn tả nổi cảnh giới này. Nói cách khác, cảnh giới A-La-Hán chính là Niết Bàn Cao Thượng vậy.

Tóm tắt: Những hành động  bất thiện đã làm trong nhiều kiếp sống ở quá khứ sẽ bị tiêu huỷ hoàn toàn bởi trí tuệ cao thượng.

 Trong thời Đức Phật còn tại thế, có một vị Bà-La-Môn đã loại bỏ được các hành động bất thiện thuộc về thân thể và lời nói ( được ví như ngọn của một cây độc - Vītikkama Akusala) bằng cách giữ Giới. Vị này cũng đã xử dụng thiền định để tiêu huỷ được trạng thái tái hiện những ý nghĩ bất thiện trong tâm (Pariyutthāna Akusala - được ví như thân một cây độc). Tuy nhiên, vị này cũng chưa thể loại trừ được hoàn toàn những nghiệp xấu xa đã thực hiện trong các kiếp sống ở quá khứ

( Anusaya Akusala – có thể tạm gọi là gốc bất thiện trong ký ức). Vì vậy, sau khi qua đời, ông đã tái sinh làm một con heo cái. Đến khi Đức Phật đang trú tại tu viện Trúc-Lâm (Veluvana) gần thành Vương-Xá ( Rājagaha). Một ngày nọ, cùng với Tôn giả A-Nan-Đà (Asin Ānandā ) và nhiều Tỳ Kheo khác tháp tùng, Đức Phật đang đi đến thành Vương-Xá để khất thực. Lúc đó, Ngài trông thấy một con heo cái đang đứng ngay tại cổng thành và Ngài đã mĩm cười. Tiếp đến, Tôn giả A-Nan-Đà đã hỏi Đức Phật vì sao Ngài lại cười khi thấy con heo đó. Đức Phật đã trả lời rằng, Ngài đã cười vì hiểu được con heo cái nhỏ này chính là sự tái sanh của một vị Bà-La-Môn. Nói đoạn, Đức Phật bắt đầu kể rằng : “ Trước kia trong thời Đức Phật Kakusandha, con heo cái này đã từng là một con gà mái đứng cạnh trai đường của Tăng Già để nghe tụng kinh như một đề mục để thực hành thiền. Khi con gà này chết đi, nó được tái sanh làm người cao quí – một công chúa. Khi bà công chúa nọ trở thành một Tỳ-kheo Ni ( Bhikkhunī – Nun ). Vị Tỳ Kheo Ni này đã tu hành và giữ gìn Giới luật rất trong sạch. Nhờ đó, bà đã cắt đứt được ngọn của cây độc

( những hành động bất thiện thuộc về thân thể và lời nói). Một ngày nọ, vị Tỳ Kheo Ni trông thấy những con giòi trong nhà xí và đã lấy chúng để làm đề mục thực hành thiền. Nhờ vậy, bà đã cắt đứt được thân của cây độc ( sự tái hiện những ý nghĩ bất thiện trong tâm). Sau đó, vị Tỳ kheo Ni đã đắc được Samātha Jhāna

( tầng thiền Diệt thọ tưởng định -ND) và sống trọn cuộc đời còn lại của mình trong hạnh phúc với quả thiền này. Sau khi chết, vị Tỳ Kheo Ni đó đã tái sanh thành một vị Bà-La-Môn . Tiếp đến vị Bà-La-Môn cũng qua đời rồi tái sanh thành con gái của một người giàu có trong thế giới của loài người. Người con gái này đã có những hành động xấu xa. Do đó, bây giờ cô ta mới bị tái sanh thành con heo cái đang đứng trước cổng thành Vương- Xá mà các ông đang thấy đó”. Sau khi nghe Đức Phật giảng giải như vậy, các Tỳ-kheo đã tỏ ra vô cùng thương xót và cảm thấy hối hận. Tại sao khi bà công chúa ấy đã từng là một vị Bà-La-Môn cao quí mà lại phải tái sanh làm một con vật chậm chạp như con heo cái ? Bởi vì khi thực hành Pháp như một Tỳ Kheo Ni, vị này chỉ thực hành Giới rồi đi vào Định. Do đó, bà chỉ cắt đứt được ngọn và thân của cây độc. Vị ấy đã không thực hành thiền minh sát để nhổ bỏ gốc của cây độc cho đến khi đạt được Chánh Đạo.

Tóm tắt: Không loại trừ được vô số những hành động bất thiện đã làm trong các kiếp sống ở quá khứ thì sẽ bị tái sanh làm một con heo cái.

Khi đang đứng trước cổng thành Vương-Xá, Đức Phật biết các Tỳ Kheo đã thật lòng hối cải, Ngài bèn thuyết một bài Pháp như sau : “ Hỡi các Tỳ Kheo ! Nếu những cành nhánh và thân của một cây độc đã bị cắt đứt, nhưng gốc của nó chưa bị nhổ bật lên thì những cành nhánh mới của nó sẽ phát triển và sum xuê trở lại. Theo cách đó, những hành động xấu xa thuộc về thân thể và lời nói tựa như ngọn của một cây độc có thể loại bỏ được bằng Giới. Trạng thái tái hiện những ý nghĩ bất thiện trong tâm tựa như thân của một cây độc có thể loại bỏ được bằng Định. Những hành động bất thiện vô số kể đã thực hiện trong quá khứ được ví như gốc của cây độc (Anusaya Akusala) không thể bị loại trừ bởi thiền quán niệm hay thiền định ( Samātha Bhāvanā – Tranquil Meditation). Người không tiêu huỷ được Anusaya Akusala khi qua đời sẽ phải tái sanh làm người và vẫn còn phải chịu nhiều khổ đau như tái sanh, tuổi già, bệnh tật, cái chết, buồn khổ, khóc than…”

( Kinh Pháp Cú Chú Giải – Dhammapadatthakatha 2 / 332 ) . Tất cả các Tỳ-Kheo nói trên sau khi Đức Phật thuyết bài Pháp này đều nhất loạt thực hành thiền minh sát cho đến khi đạt được Chánh Đạo. Bởi vì đã nhổ bỏ được gốc của cây độc, những Tỳ Kheo này đã trở thành những Tu-Đà-Hườn và thoát được cảnh tái sanh khổ đau ở địa ngục.

Tóm tắt:   Một cái cây chỉ bị cắt cành và thân nhưng gốc không bị cắt thì nó sẽ sum xuê trở lại. Không loại trừ được Anusaya Akusala thì đau khổ sẽ tái diễn. Mặt khác, nếu loại trừ được Anusaya Akusala thì sẽ thoát khỏi khổ đau. Vì vậy, bạn phải thực hành thiền minh sát để có thể nhổ bỏ được gốc của Anusaya Akusala.

 

             Lễ Dâng Y Cao Thượng – Một năm một lần

  

 Lễ Dâng Y ( Kathina) hàng năm có tầm quan trọng rất lớn đối với những người Phật tử. Tất cả mọi thành viên trong gia đình Phật tử đều tham gia vào lễ này. Những thí chủ trong Lễ Kathina thường rất hoan hỷ đón tiếp các quan khách đến dự lễ và chăm sóc họ rất chu đáo bằng cách chuẩn bị các loại thức ăn tuyệt hảo. Tại nơi diễn ra buổi lễ, các quan khách và mọi người cùng nhau thọ dụng những thứ ấy rất vui vẻ. Họ sẽ lắng nghe thuyết Pháp về Lễ Kathina cùng với các thí chủ.  Tất cả mọi người đều tin rằng Lễ Kathina được thực hiện một năm một lần sẽ mang lại nhiều lợi ích cao thượng cho họ. Việc dâng cúng Y phục, thức ăn, chỗ ở và thuốc men để chữa bệnh cho Chư Tăng là những cách thức cúng dường cao thượng nhất.

    Những điều cần biết về Lễ Kathina :

 1. Ý nghĩa của từ Kathina

 2.  Những điều kiện tổ chức Lễ Kathina cần phải nắm vững

 3.  Vì sao phải tổ chức Lễ Kathina

 4.  Quyền lợi của những thí chủ trong Lễ Kathina

 5.  Vì sao Lễ Kathina là một hình thức cúng dường cao thượng

  - Từ Kathina có nguồn gốc từ ngôn ngữ Pāli. Từ Kathina trong ngôn ngữ Pāli có nghĩa là cố định hay thường xuyên (  cố định hay thường xuyên ở đây là đối với mọi thứ dâng cúng, đối với thời gian tổ chức lễ và đối với quyền lợi của các Tỳ Kheo). Vì vậy, Kathina cónghĩa là khoảng gian cố định tốt đẹp và thuận lợi nhất để cúng dường cho Chư Tăng đã được Đức Phật qui định.

     Thế nào gọi là thời gian cố định ?

Lễ Kathina đã được Đức Phật chỉ định như là một sự phân công bổn phận mà những người Phật tử tại gia phải thực hiện đối với Tăng Đoàn. Lễ này không chỉ được tổ chức trong thời Đức Phật còn tại thế, ngày nay nó vẫn thường xuyên được tổ chức hàng năm trong cộng đồng những người Phật tử theo truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy- Theravāda. Theo chỉ định của Đức Phật, Lễ Kathina phải được tổ chức trong vòng một tháng và chỉ tổ chức trong vòng một ngày duy nhất. Kể từ ngày trăng khuyết đầu tiên của tháng Assayuja theo lịch của Ấn độ cổ đại

( khoảng tháng 10 hay tháng 11 dương lịch- người Miến Điện gọi tháng này là Thadingyut - ND ) cho đến ngày trăng tròn tháng Kattikāmāsa hay Kattikā

( tháng 10 của lịch Ấn độ cổ đại, tháng có chùm sao Đại hùng 7 ngôi với tên gọi là Kattikā toả sáng trên bầu trời – khoảng tháng 11 hay tháng 12 dương lịch. Những người tổ chức Lễ Kathina không được tự ý dời chuyển thời gian tổ chức lễ qua các tháng khác như : Tháng Māgasira ( khoảng tháng 12 hay tháng giêng dương lịch – người Miến Điện gọi tháng này là Nattaw - ND), tháng Māgha ( khoảng tháng giêng hay tháng 2 dương lịch – người Miến Điện gọi tháng này là Tabodwe - ND)… Đó là lý do tại sao, thời gian để tổ chức Lễ Kathina hàng năm phải được duy trì ở một thời điểm cố định đã nêu trên từ thời Đức Phật còn tại thế cho đến ngày nay.( Ở Việt Nam và cụ thể là ở thành phố Huế - Việt Nam, nơi người dịch sách này đang cư trú, Lễ Kathina thường được tổ chức vào ngày 15 tháng 09 Âm lịch hằng năm – ND).

Nhận xét  :  Hàng năm, những Phật tử không được tự ý chuyển dời thời điểm tổ chức Lễ Kathina, bởi vì nó đã được Đức Phật chỉ định.

  Thế nào là quyền lợi cố định của các Tỳ-kheo ?

 Đức Phật đã công nhận 5 quyền lợi mà các Tỳ Kheo được hưởng, khi đang cư trú tại các tu viện trong thời điểm trước mùa mưa ( những nơi mà lễ Kathina vẫn còn được gìn giữ). Mùa mưa ở Ấn độ được tính theo lịch cổ đại của quốc gia này thường bắt đầu từ ngày trăng khuyết đầu tiên của tháng Assayuja ( khoảng tháng 10 hay tháng 11 dương lịch- người Miến Điện gọi tháng này là Thadingyut - ND) rồi kéo dài đến ngày trăng tròn của tháng Phagguna ( khoảng tháng 2 hay tháng 3 dương lịch – người Miến Điện gọi tháng này là Tabaung - ND). Năm quyền lợi mà các Tỳ Kheo được hưởng trong mùa mưa là :  Khỏi phải đi khất thực và được thọ nhận Tứ Vật Dụng ( Catu Paccaya – Four basic Demand. Bao gồm : Y phục, vật thực, chỗ ở và thuốc men chữa bệnh - ND) do các thí chủ cúng dường. Các Tỳ Kheo chỉ được hưởng các quyền lợi này trong  4 tháng mùa mưa theo Giới luật mà Đức Phật đã qui định. ( Tùy theo khí hậu của từng địa phương mà các Tỳ Kheo có thể hưởng được quyền lợi nói trên trong vòng từ 3 đến 4 tháng mùa mưa, bởi vì ở Ấn Độ một năm chỉ có 3 mùa là : Mùa mưa, mùa lạnh và mùa khô, cho nên mùa mưa ở quốc gia này kéo dài đến 4 tháng - ND). Như vậy, nếu tính luôn cả tháng có Lễ Kathina thì các Tỳ Kheo chỉ được phép khỏi đi khất thực và thọ nhận tứ vật dụng trong khoảng thời gian tối đa là 5 tháng – bắt đầu từ ngày trăng khuyết đầu tiên của tháng Assayuja cho đến ngày trăng tròn của tháng Phagguna. Ngoài ra, luật này không áp dụng cho các tháng còn lại trong năm ( nghĩa là những tháng còn lại trong năm, các Tỳ Kheo phải đi khất thực để tự nuôi sống). Đó là lý do tại sao quyền lợi của các Tỳ Kheo nói chung đã được cố định.

Nhận xétCác quyền lợi mà những Tỳ Kheo nói chung được hưởng trong mùa Lễ Kathina không được áp dụng cho các thời điểm khác trong năm.

 - Những điều kiện thích hợpmà các Tỳ-kheo phải tuân giữ khi thọ nhận các quyền lợi trong mùa Lễ Kathina đã được Đức Phật qui định như sau :

 Lễ Kathina cần phải được duy trì và gìn giữ để gia tăng lợi ích cho toàn thể cộng đồng. Vào đầu mùa mưa, những Tỳ Kheo đang cư trú tại các tu viện không có tổ chức Lễ Kathina chỉ được hưởng 5 quyền lợi đã nêu trên trong vòng một tháng, kể từ ngày trăng khuyết đầu tiên của tháng Assayuja cho đến ngày trăng tròn của tháng Kattika. Những Tỳ Kheo đang cư trú tại các tu viện có tổ chức lễ Kathina thì được hưởng 5 quyền lợi đã nêu trên trong vòng từ 1 tháng đến 5 tháng là tối đa. Nếu thực hành như vậy thì lợi ích mới được gia tăng.

Tóm tắt: Trước mùa mưa, Lễ Kathina thường được tổ chức trong các cộng đồng Phật Giáo , các Tỳ Kheo nói chung chỉ được hưởng 5 quyền lợi là :Khỏi phải đi khất thực, được thọ nhận các của cúng dường như y phục, vật thực, chỗ ở và thuốc men chữa bệnh trong khoảng thời gian từ 1 đến 5 tháng là tối đa, kể từ khi Lễ Kathina bắt đầu được tổ chức. Đối với những nơi không có tổ chức lễ này, các Tỳ Kheo chỉ hưởng được các quyền lợi nói trên trong vòng 1 tháng.

  Những nam nữ thí chủ dâng cúng Tứ Vật Dụng và các Tỳ-kheo thọ những thứ ấy trong Lễ Kathina phải có những hoạt động đúng theo Giới luật ( Vinaya kamma). Các thí chủ chỉ được dâng cúng tứ vật dụng cho các vị Trưởng Thượng và Tăng già trong khoảng thời gian tối đa là 1 tháng - kể từ khi Lễ Kathina bắt đầu được tổ chức cho đến ngày trăng tròn của tháng Kattikà. Nói rõ hơn, trong khoảng thời gian tối đa là 1 tháng đó, các thí chủ chỉ được chọn cho mình một ngày thích hợp để cúng dường trong một lần duy nhất đối với một vị Tỳ Kheo nào đó mà họ tôn kính. Dĩ nhiên, trong khoảng thời gian qui định đã nêu trên, các thí chủ có thể cúng dường thêm cho bất cứ vị Tỳ Kheo nào khác mà họ muốn. 

- Lễ Kathina cần phải được tổ chức vì :

 Trong thời Đức Phật còn tại thế, có 30 vị Tỳ Kheo từ Pāveyyka đã đến thăm Ngài trong trạng thái mệt lả, y phục của họ bị ướt đẫm vì nước mưa.Vì vậy, Đức Phật đã cho phép tổ chức Lễ Kathina. Câu chuyện về 30 công dân xứ Pāveyyka đã trở thành Tỳ Kheo như sau: Một năm sau khi thành Đạo, Đức Phật đã đến rừng Ưu-Lâu-Tần-Loa ( Uruvela – khu rừng nằm gần thành Vương –Xá thuộc nước Ma-Kiệt-Đà- Magadha ). Khi Ngài đang lưu lại dưới một cây lớn, có 30 vị hoàng tử Bhaddavaggi với những người làm vợ thuê của họ đi đến khu rừng này để vui chơi và thưởng ngoạn phong cảnh. Khi họ đang nô đùa vui vẻ thì một người làm vợ thuê đã ăn trộm các đồ vật quí giá của một vị hoàng tử và bỏ trốn. Sau đó, trong khi chạy đi tìm người phụ nữ ăn trộm kia, các hoàng tử đã gặp Đức Phật. Họ đã nói với Ngài rằng họ đang đi tìm một người phụ nữ bị lạc trong rừng. Đức Phật đã hỏi họ : “ Các hoàng tử ! Đi tìm một người phụ nữ và đi tìm chính bản thân các Ngài thì đằng nào có lợi hơn ?” Các hoàng tử với hạnh Ba-La-Mật đã chín muồi trả lời rằng : “ Đi tìm chính chúng tôi có lợi hơn !”. Sau đó Đức Phật lại nói : “ Nếu các Ngài nói đã là đi tìm chính các Ngài có lợi hơn thì tôi sẽ thuyết cho các Ngài nghe một bài Pháp !”. Khi bài thuyết Pháp của Đức Phật vừa kết thúc thì 30 vị hoàng tử đã trở thành những Tu-Đà-Hườn. Đức Phật đã thốt ra  câu “ Ehibhikkhu !” và tất cả 30 vị hoàng tử liền trở thành Tỳ Kheo.  Câu “ Ehibhikkhu” có nghĩa là “ Lại đây các Tỳ Kheo !”. Đây là câu nói mà Đức Phật thường dùng để gọi những người xin xuất gia. Khi Ngài gọi như vậy thì những người đó tự nhiên trở thành Tỳ Kheo, có đầy đủ cả y bát,  râu tóc của họ tự rụng mà không cần cạo. Ba mươi vị Tỳ Kheo này thực hành lối sống trong rừng ( Ārannakanga – Practised living in the forest). Họ đi khất thực ( Pindapātikangadhutanga – Going for alms), chỉ mặc Tam y ( Adhitthāna ticīvarit ) và sống ngay giữa rừng chứ không làm nhà cửa hay chòi lá ( Pansukūlikanga). Ba mươi vị Tỳ Kheo này đã sống trong rừng tổng cọng là 13 năm. Cuối cùng, vì ao ước được viếng thăm Đức Phật, họ đã thực hiện một cuộc hành trình đến Xá-Vệ ( Sàvatthi ), nơi Đức Phật đang trú ngụ. Từ nơi ở trong rừng Ưu- Lâu-Tần- Loa của mình, 30 vị Tỳ Kheo đã đi bộ một chặng đường rất xa để đến được Sāketa và trải qua mùa mưa ở đây. Sāketa là một thành phố cách Xá-Vệ 6 do-tuần ( Yojana). Một do-tuần bằng 8 dặm Anh, một dặm Anh bằng 1609 mét. Sau khi mùa mưa đã qua đi, họ đã tổ chức Lễ Tự Tứ ( Pavāranā –Lễ chấm dứt 3 hay bốn tháng an cư trong mùa mưa, tùy theo khí hậu của từng địa phương. Trong lễ này, các Tỳ-Kheo sẽ tự kiểm điểm nội bộ trong suốt mùa an cư và tu học của mỗi người- ND). Sau đó, họ đã tiếp tục cuộc hành trình đến Xá-Vệ. Trong cuộc hành trình này, có nhiều lúc phải đi trong mưa lớn nên áo quần của họ thường bị ướt đẫm và dính đầy bùn đất. Điều này thật bất tiện cho họ khi đến nơi Đức Phật đang cư trú để thăm Ngài. Khi họ đã gặp được Đức Phật thì Ngài cất lên tiếng chào họ : “ Ôi ! Những đệ tử của ta ! Các con đều khoẻ mạnh và hạnh phúc cả chứ ?”. Sau đó, 30 vị Tỳ Kheo đã mệt lả vì phải vượt qua một quãng đường quá xa, y phục của họ đang bị ướt đẫm thật bất tiện. Vì vậy, Đức Phật đã cho phép tổ chức Lễ Kathina. Kể từ ngày đó, Tăng Đoàn Phật Giáo đã được phép tổ chức lễ này và truyền lại cho đến ngày nay.  

- Quyền lợi của thí chủ dâng cúng trong mùa Lễ Kathina :

   Khi các Tỳ Kheo tổ chức Lễ Kathina với sự dâng cúng tứ vật dụng của các nam nữ thí chủ. Bằng các hoạt động đúng theo Giới luật khi tổ chức lễ này, các Tỳ Kheo chỉ được thọ nhận 5 quyền lợi ( khỏi phải đi khất thực, được thọ nhận  y phục, thức ăn, chỗ ở và thuốc men chữa bệnh) từ ngày trăng khuyết đầu tiên của tháng Assayuja cho đến ngày trăng tròn của tháng Kattika ( đối với những nơi không có tổ chức lễ Kathina). Những người Phật tử thế tục cũng có 5 quyền lợi và các điều kiện qui định khi cúng dường cho các Tỳ Kheo.

 1. Anāmantacāra

 Khi cúng dường tứ vật dụng, những thí chủ có thể dâng cúng cho bất cứ tu viện nào mà họ mong muốn. Họ có thể bất ngờ đến thăm một tu viện nào đó để cúng dường mà không cần phải thông báo trước. Những thí chủ có quyền được làm như vậy mà không bị xem là vi phạm Giới luật.

Tóm tắt: Trong mùa Lễ Kathina, các thí chủ có thể cúng dường cho bất cứ tu viện nào mà họ mong muốn.

 2. Asamādānacārā

   Ngoài việc 3 loại Y dùng để dâng cúng phải được may đúng theo qui định của Giới luật. Các thí chủ có thể dâng y cho bất cứ tu viện nào mà họ muốn.

Tóm tắt: Trong mùa Lễ Kathina, các thí chủ có thể dâng y cho bất cứ tu viện nào mà họ mong muốn.

 3. Ganabhojana

 Các thí chủ có thể mời 4 vị Tỳ-kheo hay nhiều hơn đến tại nhà riêng của họ để Trai Tăng, nếu những Tỳ Kheo này cùng đồng ý như vậy. Nếu thí chủ cúng dường những vật thực không thích hợp hoặc có những lời nói bất nhã, các Tỳ Kheo có thể ra đi và không cần phải thọ thực. Những điều trên là được phép thực hiện và không bị xem là vi phạm Giới luật. Thí chủ trong Lễ Kathina có thể dâng cúng bất cứ loại vật thực nào mà họ mong muốn, với điều kiện các loại vật thực này không có chứa độc tố, không gây ra tình trạng nặng bụng, tiêu chảy và nhiều điều nguy hiểm khác.

Tóm tắt: Có thể cúng dường và có thể thọ thực bất cứ loại thức ăn nào, miễn là những loại thức ăn đó không gây ra những tình trạng phiền toái cho đường tiêu hoá.

 4. Yàvaddattacìvara

 Các loại tứ vật dụng dùng để dâng cúng phải đúng qui định và được cúng đúng vào thời điểm thích hợp ( từ ngày trăng khuyết đầu tiên của tháng Assayuja đến ngày trăng tròn của tháng Phagguna –  thời hạn tối đa là 5 tháng đối với những nơi có tổ chức lễ Kathina). Đó là lợi ích của các thí chủ. Trên các loại y phục cúng dường có thể đính thêm kim cương, vàng, bạc, hồng ngọc và nhiều loại đá quí khác. Trong trường hợp này, các vật quí đó không phải là những kẻ thù nguy hiểm.

Tóm tắt: Trong mùa Lễ Kathina có thể cúng dường nhiều loại tứ vật dụng. Tuy nhiên, chỉ được dâng cúng trong vòng tối đa là 5 tháng ( đối với những nơi có tổ chức Lễ Kathina). Trên các loại y phục dùng để cúng dường, có thể đính thêm các loại của cải quí giá mà không gây ra nguy hiểm gì cả.

 5. Yocatatthacivaruppāda

 Mặc dù tứ vật dụng cúng dường là dành cho tất cả Tăng Già. Tuy nhiên, tứ vật dụng đã được các thí chủ trong Lễ Kathina dâng cúng cho một tu viện nào thì những của cải này đã thuộc về tu viện đó. Những Tỳ Kheo cư trú chính thức trong tu viện đó có quyền xử dụng những tứ vật dụng thuộc về tu viện của mình. Những Tỳ Kheo khác, khi đến cư trú không chính thức trong tu viện nói trên thì không được phép xử dụng các của cải này. Ngoại trừ trường hợp đã xin phép trước hoặc được chia xẻ tứ vật dụng.

Tóm tắt: Mặc dù tứ vật dụng dâng cúng là dành cho tất cả Tăng Già. Tuy nhiên, chỉ có những Tỳ Kheo cư trú chính thức trong tu viện được dâng cúng Tứ vật dụng mới có quyền xử dụng những của cải đó.

 Những của cải được dâng cúng trong Lễ Kathina là do ý nguyện mong muốn được cúng dường của các thí chủ. Nếu họ không muốn cúng dường của cải của mình cho Tăng Già thì đó là ý muốn của họ. Không có một ai được phép gây áp lực hoặc thúc bách các thí chủ phải dâng cúng cho mình, dù với bất cứ hình thức nào. Tăng Già chỉ thu được lợi ích khi thọ nhận những của cải dâng cúng phát xuất từ ý chí tự nguyện của thí chủ.

Tóm tắt: Của cải mà Tăng Già thọ nhận là phát xuất từ ý chí tự nguyện cúng dường của các thí chủ, chúng không thể phát xuất từ sự áp lực hay thúc bách.

 Lễ Kathina là một hình thức cúng dường cao thượng. Qua đó, những Tỳ Kheo được phép yêu cầu cha mẹ, người thân của mình loại bỏ bớt những vật dụng không cần thiết khi dâng cúng, cũng như được phép yêu cầu được cúng dường những thứ mà họ đang cần thiết một cách chính đáng. Những Tỳ Kheo cũng được phép yêu cầu những người mời họ đến Trai Tăng tại nhà riêng cúng dường cho họ theo nhu cầu thiết yếu. Ngoài ra, đối với những thí chủ không thuộc vào 3 dạng đã nêu trên

( cha, mẹ và người thân), những Tỳ Kheo không được phép yêu cầu gì cả, nghĩa là được dâng cúng thứ gì thì thọ nhận thứ ấy. Khi thọ nhận tứ vật dụng trong Lễ Kathina, các Tỳ-kheo phải có niềm tin thiêng liêng vào những của cải do các thí chủ  dâng cúng như thể chúng là những của cải do các vị Trời thả xuống. Đó cũng là một ý nghĩa và lý do quan trọng để tổ chức Lễ Kathina. Những của cải mà các thí chủ dâng cúng phải được các Tỳ Kheo đón nhận một cách trong sạch, tinh tấn, hoan hỷ và không được đòi hỏi. Như vậy mới gọi là Dâng Y Cao Thượng.

Khi các Tỳ Kheo chấp nhận tứ vật dụng do các thí chủ dâng cúng trong Lễ Kathina, họ phải có niềm tin chân chính. Đức Phật đã từng nói : “ Hỡi các Tỳ Kheo ! Khi chúng ta không giữ Giới trong sạch mà lại mặc y của thí chủ dâng cúng thì còn khổ hơn choàng một tấm sắc nóng được nung trong lửa. Khi không giữ Giới trong sạch mà lại thọ dụng vật thực cúng dường của thí chủ thì còn khổ hơn là ăn hòn sắc nóng được nung trong lửa. Khi không giữ Giới trong sạch mà lại ở trong tu viện do thí chủ cúng dường thì còn khổ hơn ở trong lò nung sắc”. Đức Phật đã từng khuyên bảo các Tỳ-kheo như vậy. Khi các Tỳ-kheo chấp nhận của cải cúng dường của các thí chủ trong Lễ Kathina, Đức Phật đã tán dương họ : “ Hỡi các Tỳ kheo ! Khi các ông chấp nhận tứ vật dụng cúng dường của các thí chủ trong Lễ Kathina, các ông chỉ được thọ nhận những của cải đó trong khoảng thời gian tối đa là 5 tháng. Đó là lý do tại sao những của cải được cúng dường đó được gọi là những của cải tuyệt hảo. Hơn nữa, Lễ Kathina chỉ được tổ chức một năm một lần, trong vòng một tháng trong năm, việc dâng cúng phải được chấm dứt trong vòng một ngày. Đó là lý do tại sao Lễ Kathina là cao thượng và tinh khiết nhất”.

 

                  

                   Hãy làm cho niềm tin luôn luôn vững chắc

  

 Mọi người người Phật tử điều hoan hỷ khi thực hiện những phẩm hạnh xứng đáng. Khi đang thực hiện những việc này, tâm trí của bạn rất trong sáng, bình tĩnh và sẵn sàng tử tế, bởi vì bạn đã có niềm tin. Khi đã có niềm tin tròn đủ và mạnh mẽ, bạn có thể thực hiện việc bố thí, giữ Giới, phát triển tinh thần một cách hoàn hảo. Tinh thần của bạn luôn luôn được trong sáng và vui vẻ. Niềm tin là nhân tố căn bản nhất để có thể thực hành bố thí, giữ Giới và phát triển tinh thần. Nó cũng là yếu tố căn bản nhất để đạt tới Niết Bàn. Đó là lý do tại sao, Đức Phật đã nói rằng, phải luôn luôn thiết đặt một niềm tin vững chắc trong quá trình liên tục nhận thức của chúng ta. Như bạn đã biết, từ Saddhā có nghĩa là niềm tin hay đức tin. Nó là sự phối hợp của 2 từ tin tưởngsáng suốt. Chúng ta tin vào Đức Phật,  Phật Pháp và Tăng già, nghiệp và tác động của nghiệp, sự nhận thức sáng suốt của tâm trí. Theo hạnh nguyện Ba-La-Mật của một người, có 4 loại niềm tin :                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                

 1. Agama SaddhāNiềm tin siêu việt ( Transcendental faith)

   Là niềm tin nằm trong một tâm trí  liên tục tỉnh thức của các vị Bồ-Tát

( Bodhisatta)

2. Adhigama SaddhāNiềm tin giác ngộ ( Enlightenal faith)

   Là niềm tin tỉnh thức và vững chắc vào Phật, Pháp và Tăng của những người cao quí, như các vị Tu-Đà-Hườn chẳng hạn.

 3. Okappana SaddhāNiềm tin cậy trông ( Expectational faith)

   Là niềm tin phát xuất từ sự cậy trông vào 3 loại ngọc quí ( Phật, Pháp, Tăng ) của người thế tục.

 4. Pasādā Saddhā – Niềm tin sùng kính ( Revealing faith)

   Là niềm tin được biểu lộ qua sự sùng kính và tin tưởng.

 -  Từ khi được Đức Phật Nhiên-Đăng ( Dīpankara Buddha) thọ ký, Đức Phật Cồ-Đàm lúc còn là một vị Bồ Tát đã quyết chí gặt hái cho được Đạo quả Phật. Ngài đã tin tưởng một cách chắc chắn rằng, dứt khoát trước sau gì mình cũng sẽ thành Phật. Niềm tin vững chắc của Ngài thật không có gì có thể làm phai mờ được.Vì vậy, Bồ tát đã có thể thực hành 10 hạnh Ba-la-mật trên cả 3 cấp độ

( Bậc thượng, bậc trung và bậc hạ. Như vậy, có thể nói là Ngài đã thực hành được tất cả 30 hạnh Ba-la-mật) một cách liên tục và đầy đủ, dù ở bất cứ nơi đâu, dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào :

 a. Ngoài thân xác của mình ra, Ngài đã cho đi tất cả tài sản riêng. Đây chính là hạnh bố thí Ba-La-Mật ( Dānapāramī ).

 b. Buông bỏ và không dính mắc vào sự vật. Đây là hạnh buông bỏ Ba-La-Mật

( Dānaupapāramī).

 c. Hy sinh thân xác và cuộc sống của chính mình vì Đạo. Đây là hạnh bố thí bất nghịch ý haybố thí rốt ráo ( Dānaparamatha).

 Bồ Tát cũng đã từng thực hành được 5 loại Từ Bi Độ Lượng vĩ đại,bởi vì Ngài tin rằng chắc chắn mình sẽ thành Phật :

 a. Từ bỏ xa hoa phú quí, từ bỏ ngôi vị hoàng đế và vương quốc của mình để tìm Đạo giải thoát, cứu vớt chúng sanh đang đau khổ trong sanh tử luân hồi. Thực hiện những hạnh này là điều cực kỳ khó khăn. Vì vậy, Ngài được biết đến như là một Dhānapariccàga ( Người từ bỏ giàu sang phú quí – People who giving away his wealth  ).

 b. Xa lìa con cái của mình để tìm Đạo giải thoát, cứu vớt chúng sanh đang đau khổ trong sanh tử luân hồi. Vì vậy, Ngài được biết đến như là một Puttapariccāga

( Người xa lìa con cái – People who giving away his childrens).

 c. Xa lìa vợ của mình để tìm Đạo giải thoát, cứu vớt chúng sanh đang đau khổ trong sanh tử luân hồi. Vì vậy, Ngài được biết đến như một Bhariyapariccāga

( Người xa lìa vợ của mình – People who giving away his wife ).

 d. Cho đi tay, chân và những bộ phận lớn nhỏ trong cơ thể của mình để tìm Đạo giải thoát, cứu vớt chúng sanh đang đau khổ trong sanh tử luân hồi. Vì vậy, Ngài được biết đến như là một Angapariccāga ( Người cho đi các bộ phận của cơ thể mình – People who giving away all the parts of his body ).

 e. Hy sinh thân xác và mạng sống của mình để tìm Đạo giải thoát, cứu vớt chúng sanh đang đau khổ trong sanh tử luân hồi. Vì vậy, Ngài được biết đến như là một Jīvitapariccàga ( Người cho đi thân xác và cuộc sống của mình – People who giving away his body and life ).

 Bằng những cách đó, Bồ tát Cồ-Đàm đã thực hành được trọn vẹn 30 hạnh Ba-la-mật5 loại Từ Bi Độ Lượng một cách vô tư và trong sáng, bởi vì Ngài tin chắc rằng mình sẽ thành Phật. Đây là niềm tin vững chắc trong tâm trí liên tục thức tỉnh của các vị Bồ Tát.

  -  Niềm tin của những người cao quí ( Ariya puggala – Noble person) như các Tu-Đà-Hườn chẳng hạn, là niềm tin khi đã giác ngộ được giá trị cao quí của Phật, Pháp, Tăng. Trạng thái giác ngộ này chỉ là giai đoạn khởi đầu của tiến trình lãnh hội chân lý. Tuy nhiên trong mọi trường hợp của đời sống, niềm tin giác ngộ đều không bị phai mờ. Nó tồn tại một cách bền vững và không có bất cứ cái gì có thể chống đối lại hay phá huỷ được nó. Một thời Đức Phật đang trú tại Trúc-Lâm Tịnh Xá ( Veluvana Vihara), một người hủi tên là Suppabuddha đã trở thành một Tu-Đà-Hườn sau khi lắng nghe Đức Phật thuyết Pháp. Vào thời đó, Trời Đế Thích đã nói : “ Suppabuddha ! Nhà ngươi là một người nghèo và bị đau khổ vì bệnh hủi. Ta muốn cứu vớt nhà ngươi, niềm tin vào Phật, Pháp và Tăng chẳng có lợi ích gì đâu. Nếu nhà ngươi là một người điên và không biết xấu hổ thì ta đã không nói với nhà ngươi như thế đâu. Hãy tin vào lời nói của ta, ta sẽ cho nhà ngươi nhiều của cải như nhà ngươi đã mong muốn”. Khi đã trở thành một Tu-Đà-Hườn và có niềm tin vững chắc vào Phật, Pháp và Tăng. Suppabuddha đã không hề nao núng trước lời đe dọa và dụ dỗ của trời Đế Thích. Vì vậy, niềm tin của một Tu-Đà-Hườn là chắc chắn và không thể bị phá huỷ, thậm chí là trời Đế Thích cũng không thể phá huỷ được niềm tin đó.

  - Niềm tin vào Phật, Pháp, Tăng của người phàm tục ( Puthujjana – Secular people) là niềm tin không vững chắc của những người Phật Tử. Niềm tin này không vững chắc như niềm tin của các Tu-Đà-Hườn. Nó có thể bị phá huỷ vì nhiều lý do đa dạng trong cuộc sống hiện tại. Nó cũng có thể bị phá huỷ trong những kiếp sống ở tương lai. Thậm chí, người có những năng lực phi thường cũng không thể bảo vệ được cho niềm tin của người phàm tục trước mọi sự phá huỷ. Một người chỉ có thể bảo vệ được niềm tin của mình một cách chắc chắn bằng chính niềm tin của người đó.  Một thời Đức Phật đang trú tại một vùng thôn dã được gọi là Kundadhāna. Vào lúc đó, một bổn đạo của Tôn giả Mục-Kiền-Liên đã đến mời Đức Phật và Tăng Đoàn vào sáng ngày hôm sau đến thọ thực tại nhà riêng của người này. Cũng vào thời gian đó, mẹ của Tôn giả Vasīli ( một trong 10 đại đệ tử của Đức Phật) là công chúa Suppavāsa đã mang thai trong 7 năm và sau đó đã hạ sinh Ngài một cách vô cùng khó khăn. Suốt trong 7 bảy ngày liên tục, bà phải chịu đựng nhiều thử thách để hoàn thành công việc thiêng liêng của một người mẹ. Sau khi Ngài Vasīli đã ra đời một cách an toàn. Một tháng sau, mẹ Ngài mong muốn được cúng dường cho Đức Phật và Tăng đoàn như là một lễ cẩm tháng ( tức lễ đầy tháng hay lễ sinh nhật đầu đời của một người) của Ngài. Đồng thời tạo cơ hội để chồng của bà – là một hoàng tử có dịp diện kiến Đức Phật. Với trí tuệ siêu phàm của mình, Đức Phật đã nhìn thấy trước sự lợi ích cho Tăng Đoàn trong tương lai. Vì vậy, Ngài đã chấp nhận lễ cẩm tháng của Ngài Vasīli trước. Kể từ khi có 2 cuộc viếng thăm Đức Phật nói trên. Đức Phật đã phái Tôn Giả Mục- Kiền- Liên đến nói với vị  bổn đạo của Tôn Giả rằng hãy đợi thêm 7 ngày nữa, sau khi lễ cẩm tháng của Ngài Vasīli được tổ chức xong thì sẽ đến phiên người này cúng dường cho Đức Phật và Tăng Đoàn. Tôn giả Mục-Kiền –Liên đã đến nhà vị bổn đạo của Ngài và nói về việc hoãn lại lời mời của người này đối với Đức Phật và Tăng đoàn. Vị thí chủ là bổn đạo của Tôn giả Mục-Kiền-Liên đã nói rằng : “ Bạch Đức Bổn sư ! Trong vòng 7 ngày con phải chờ đợi đó, Ngài có thể bảo đảm cho con về những điều sau đây không ? Rồi vị thí chủ nói ra:

1. Mạng  sống của con

2. Của cải và sự giàu có của con

3. Niềm tin của con

 Nếu được như vậy thì con rất hoan hỷ hoãn lại lễ cúng dường của mình đến ngày thứ 8, ngay sau khi lễ cẩm tháng mà Ngài vừa nói chấm dứt. Ngài Mục- Kiền-Liên đã trả lời : “ Tôi có thể bảo đảm cho mạng sống và sự giàu có của thí chủ. Tuy nhiên, tôi không thể bảo đảm cho niềm tin của thí chủ có bị phá huỷ hay không.Vì vậy, một người có những năng lực phi thường như Tôn giả Mục-Kiền-Liên mà cũng không thể bảo đảm cho niềm tin vào Phật, Pháp và Tăng của những người phàm tục. Chỉ có chính bạn mới có thể tự bảo vệ cho niềm tin của mình được vững chắc mà thôi.

 - Sự sùng kính được biểu lộ ra bên ngoài là một dạng niềm tin yếu đuối và thấp kém nhất trong các loại niềm tin vào Phật, Pháp và Tăng. Loại niềm tin này có thể dẫn đến sai lầm. Sự sùng kính sau khi đã thấy được, nghe được và tự khoát lên mình bằng những chiếc áo Phật, Pháp và Tăng là dạng niềm tin tương đối thấp kém và không chắc chắn. Một thời Đức Phật đang trú tại tu viện Pubbārāma

( từ này có nghĩa là niềm vui thích hay trạng thái thỏa mãn nhất). Vào lúc đó, quốc vương của xứ Kiều-Tất-La đã đến thăm Đức Phật. Khi đang ngồi kế bên Đức Phật, quốc vương xứ Kiều-Tất-La ( Kosala) nhìn thấy tổ sư của Phái Lõa Hình ( theo giáo lý của Kỳ Na Giáo – Jaina. Tôn giáo này có đến 24 vị tổ sư. Trong đó, có 2 vị thường được nhắc đến nhất là ParshvaMahāvira. Vị tổ sư trong trường hợp này là Mahavira –Đại Anh Hùng, người sống cùng thời với Đức Phật và chỉ lớn tuổi hơn Ngài đôi chút - ND) đang cùng với những đệ tử của mình đi dọc theo con đường mòn sát bên tu viện Pubbārāma. Trong số họ có một vài người hoàn toàn khoả thân. Một số khác thì chỉ mặc y phục rất sơ sài và để lộ ra một nữa thân thể của họ. Khi nhìn thấy những người theo giáo phái Loã Hình này, vua nước Kiều-Tất-La tưởng rằng họ là những người đã dập tắt được sự ham muốn dục tình và đã trở thành các vị A-La-Hán. Nhà vua đã đan hai bàn tay vào nhau theo hình cánh cung và đưa ra trước mặt mình để bày tỏ thái độ khâm phục. Sau khi đoàn người theo phái Loã Hình đã đi qua, ông tiến sát Đức Phật và nói với Ngài rằng ông tin tưởng vào những người này, bởi vì họ là những người đã trở thành A-La-Hán. Đức Phật đã đáp rằng : “ Một vị vua như ông thì khó mà biết được ai là người đáng tôn kính !”. Nếu bạn muốn biết được ai là người đáng tôn kính thì hãy chiêm nghiệm 4 điều sau:

1. Sống chung với người mà mình cho là đáng tôn kính để thử xem thử người đó như thế nào.

2. Sống chung với người đó trong một khoảng thời gian lâu dài.

3. Xử dụng năng lực suy luận và phán đoán của mình để tìm ra những phẩm chất đáng tôn kính từ người này.

4. Xử dụng trí tuệ của mình để quyết đoán rằng, người đang sống chung với mình có phải là người đáng tôn kính hay không.

Tóm tắt: Sống chung một thời gian dài, xử dụng lý lẽ của trí tuệ để nhận biết một cách trực tiếp ai là người đáng tôn kính.

 Trong bốn dạng niềm tin vừa nêu trên, chỉ có niềm tin của các vị Bồ Tát và niềm tin của các Tu-Đà-Hườn là vững chắc. Hai niềm tin còn lại là không chắc chắn. Nếu bạn muốn có một niềm tin vững chắc như niềm tin của các Tu-đà-hườn và cũng muốn làm một Tu-Đà-Hườn, bạn phải thực hành thiền minh sát. Vì vậy, nếu mong muốn có được một niềm tin vững chắc trong tâm thức của chính mình thì bạn phải thực hành thiền minh sát.

 

        

      Phương pháp thực hành đúng đắn để đạt tới Niết Bàn  

  

Những người Phật tử luôn luôn mong muốn được sống hạnh phúc trong kiếp sống này cũng như trong những kiếp sống ở tương lai và đạt tới Niết Bàn. Đó là lý do tại sao, họ thực hành bố thí, giữ Giới, thiền định và thiền quán khi có thể. Hạnh phúc trong cuộc đời này và hạnh phúc trong những kiếp tái sanh không phải là hạnh phúc đích thực và bền vững. Họ cũng đã thấy rằng, những thứ hạnh phúc đó luôn luôn được trộn lẫn với khổ đau. Mỗi khi thực hành bố thí, giữ Giới bằng những hành động đáng khen ngợi, họ đều ước nguyện cho mình sẽ nhận thức được Niết Bàn bình yên. Khi đã nhận thức được Niết Bàn, gặt hái được những điều cao quí từ việc bố thí, giữ Giới và thiền định thì vẫn chưa đủ. Những người Phật tử cũng biết rằng, chỉ khi thực hành thiền minh sát thì họ mới có thể đạt tới Niết Bàn. Đó là lý do tại sao, những người Phật tử thuần thành và khôn ngoan sáng suốt thường thực hành thiền minh sát vào bất cứ lúc nào mà họ có thể. Đa số những người Phật tử chưa có thời gian để tìm kiếm và nghiên cứu một phương pháp thực hành thiền minh sát đúng đắn. Những người thực hành thiền minh sát thường mong muốn trải nghiệm được bản chất của pháp ( chữ pháp đây có nghĩa là vạn hữu - ND) và tiến bộ một cách nhanh chóng. Họ cũng mong muốn nhận thức được Giáo Pháp của Đức Phật một cách nhanh chóng. Đó là lý do tại sao, họ đang tìm kiếm một phương pháp thực hành thiền minh sát đúng đắn. Sau đây là bốn cách thực hành thiền minh sát đúng đắn :

 1. Kāyānupassanā Satipatthāna  -  Chú ý vào mọi hành động của thân thể ( To be mindful of every bodily actions )

 2. Vedanānupassanā Satipatthāna -  Chú ý vào 3 loại cảm thọ là : Lạc thọ, khổ thọthọ vô ký tính ( To be mindful of three kinds ‘s sensations is : Pleasants sensation, unhappy sensation and neutral sensation ).

 3. Cittànupassanā Satipatthāna -  Chú ý vào mọi hoạt động của tinh thần hay những trạng thái luôn luôn thay đổi của tâm trí ( To be mindful of every mental behaviour or changes of the mind).

 4. Dhammànupassanà Satipathāna – Chú ý vào những đối tượng của tâm trí như sự thấy, sự nghe, sự nếm… ( To be mindful of the mind- objects).

 - Chú ý vào mọi hành động của thân thể nghĩa là : Chú ý vào những hành động của thân thể như khi đang đi bộ, đang đứng, đang ngồi, đang nằm, đang uốn éo vặn mình, đang co duỗi tay chân… để thấy được tiến trình của những hiện tượng này là khởi lên và trôi qua, rồi lại khởi lên và trôi qua…Chú ý vào các hành động của thân thể để thực hành thiền gồm có 3 cách :

 a. Thiền tọa ( ngồi thiền)

 b. Thiền hành ( thiền trong khi đi lại )

 c. Thực hành thiền với đề mục là những hành động xảy ra hàng ngày của mình.

  -  Thiền tọa nghĩa là :

 Chọn một nơi vắng vẻ và yên bình, ngồi tréo 2 chân lại như thế hoa sen ( tức thế ngồi kiết già) hoặc ngồi trên hai đầu gối ( tức thế ngồi khổ hạnh), giữ lưng và đầu trên một đường thẳng, 2 mắt nhắm lại. Hội tụ sự chú ý lên bụng, khi thở vào thì tập trung chú ý đến áp lực và sự chuyển động của không khí đang đi từ ngoài vào trong cơ thể, để nhận thức được không khí đã làm cho bụng phồng lên như thế nào. Bạn hãy chú tâm tích cực vào tiến trình “đang phồng lên” này, chú ý một cách thuần túy, ngoài ra không suy nghĩ bất cứ điều gì và cũng không có bất cứ một hành động nào khác ( như tìm cách thở mạnh, cố gắng căng bụng lên…) khi tiến trình phồng lên của bụng đang tiếp diễn. Khi thở ra thì bụng đang dần dần xẹp xuống, bạn hãy chú ý để nhận biết bản chất tự nhiên của chuyển động đang xẹp xuống này, tâm của bạn phải cảm nhận “ tiến trình đang xẹp xuống” một cách trực tiếp chứ không phải dùng ý thức để nhận biết nó. Khi năng lực chú tâm đã phát triển, bạn sẽ quan sát được mối quan hệ “ đang phồng lên và xẹp xuống” của bụng – chúng tiếp nối nhau và tuần tự trôi qua, cái này trôi qua rồi đến cái kia trôi qua…

- Thiền hành nghĩa là :

Khi đang đi bộ nhanh , bạn hãy chú ý đến trạng thái chuyển động của bàn chân trái và bàn chân phải. Khi cẳng chân trái đang chuyển động, bạn phải tập trung chú ý đến tiến trình chuyển động dần dần của bàn chân. Bạn chỉ chú ý quan sát một cách đơn thuần và trực tiếp, không dùng ý thức để can thiệp vào sự chuyển động của bàn chân. Một cách tương tự như thế, khi bàn chân phải đang chuyển động, bạn cũng phải nhận thức được là nó đang từ từ chuyển động như thế nào. Khi đang đi bộ chậm rãi, bạn hãy chú ý đến tiến trình “ đang dở lên”, “ đang chuyển động dần dần về phía trước” và “đang đặt xuống” của 2 bàn chân. Bạn hãy lấy 3 hành động này làm một bước chú ý quan sát. Khi chú ý đến tiến trình “ đang dở lên” của bàn chân, bạn đừng dùng ý thức để điều khiển nó, cứ chú ý vào nó và để nó “dở lên” một cách tự nhiên rồi tiếp tục chú ý đến tiến trình “ đang chuyển động dần dần về phía trước” xảy ra liền ngay sau đó . Khi chú ý đến tiến trình “đang đặt xuống” của bàn chân, bạn phải nhận thức được một cách trực tiếp thời điểm nó chạm đất. Bạn cần phải nhận thức được cả 3 tiến trình “đang dở lên”, “đang chuyển động về phía trước” và “đang đặt xuống” của bàn chân như là một hiện tượng đang xảy ra liên tục. Tiến trình tuần tự diễn ra của hiện tượng này được bắt đầu từ “ hành động đang dở chân lên” và tiếp nối với “ những hành động khác”. Chúng ta không xử dụng ý thức hay khái niệm để điều khiển các hành động khi đang thiền hành. Sau đó, bạn sẽ nhận ra rằng, tiến trình chuyển động vô thức của bàn chân khi mình đang đi bộ là có thật, bởi vì tiến trình này chính là thực tại cùng tột ( Paramatha - Ultimate reality). Vì vậy, Bạn xử dụng nó để làm đối tượng thiền hành.

Tóm tắt: Trong thiền hành hay thực hành thiền nói chung, chúng ta phải loại bỏ ý thức hay khái niệm của mình khi đang quan sát các đề mục, chỉ tập trung chú ý đến thực tại cùng tột đang tiếp diễn trong những đề mục ấy.

Khi năng lực tập trung nội quán đã phát triển, bạn bắt đầu nhận thức được bản chất của tiến trình “đang dở lên” và “ đang đặt xuống” của bàn chân một cách rõ ràng hơn. Cụ thể, bạn sẽ nhận thấy rằng, khi bàn chân đang dở lên thì tiến trình này càng lúc càng trở nên nhẹ nhàng hơn. Khi bàn chân đang đặt xuống thì tiến trình này càng lúc càng trở nên nặng nề hơn…

Khi đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng

( Bhanga Ñāna – Knowledge of dissolution), bạn sẽ khám phá ra rằng tiến trình đang chuyển động của bàn chân chỉ là những trạng thái nhẹ nhàng và nặng nề. Những trạng thái này luôn luôn biến đổi một cách mau lẹ.

 -  Hành thiền với đề mục là những hành động đa dạng hàng ngày của chính mình nghĩa là :

 Khi bạn đang ngồi, đang đứng, đang uốn éo vặn mình, đang co duỗi tay chân…Ngay lúc đó, bạn cần phải chú ý một cách tích cực vào các chuyển động với một tâm trí tĩnh lặng.Ví dụ, khi bạn đang chú ý đến chuyển động đang dần dần ngồi xuống của thân thể. Trong trường hợp này, tuyệt đối bạn không nên xử dụng ý thức để điều khiển chuyển động của thân thể. Bạn phải phải thực hành như thể tâm trí ngay lúc đó, là một tiến trình chú ý tích cực và trọn vẹn. Lúc đó, tâm của bạn đang nhận thức một cách trực tiếp rằng, thân thể “ đang ngồi xuống”. Khi “ đang đứng lên”, bạn cũng tập luyện cách nhận thức trực tiếp về hành động đang đứng lên, khi thân thể đang từ từ ngẫng lên và chuyển động lên phía trên, Bạn chỉ cần chú ý một cách thuần tuý, không xử dụng ý thức để điều khiển hành động đang đứng lên. Khi năng lực định tâm ( Samādhi Ñāna) đã phát triển, bạn sẽ nhận thức được rằng, khi chú ý đến tiến trình “ đang ngồi xuống”  thì thân thể của mình càng lúc càng trở nên nặng nề và khi “ đang đứng lên” thì nó sẽ càng lúc càng trở nên nhẹ nhàng hơn. Khi đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu, bạn sẽ khám phá ra rằng, trạng thái “ nặng” và “ nhẹ” của thân thể sẽ nối đôi nhau tan biến một cách nhanh chóng. Khi đang co cánh tay lại và đưa khuỷu tay ra trước mặt, bạn đừng dùng ý thức để điều khiển hành động này, chỉ dùng trực thức hay trực giác để quan sát tiến trình đang chuyển động của cánh tay. Bạn cần phải hội tụ sự chú ý một cách trực tiếp và liên tục trên tiến trình đang chuyển động“co cánh tay” để  nhận biết được bản chất của chuyển động này . Khi đang co duỗi tay chân cũng cũng vậy, bạn phải dùng trực thức bằng cách hội tụ sự chú ý một cách trọn vẹn và trực tiếp lên tiến trình chuyển động “từ từ co duỗi của tay chân” để nhận thức được bản chất của những chuyển động này . Khi năng lực tập trung tâm ý

( tức khả năng định tâm) đã phát triển, bạn sẽ lãnh hội được rằng, khi bạn đang co cánh tay lên thì “chuyển động co lên” là nhẹ nhàng hơn “chuyển động duỗi cánh tay xuống”. Khi năng lực tập trung tâm ý đã tăng cao hơn nữa, bạn sẽ gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu. Đến lúc đó, bạn sẽ nhận thức được rằng, trạng thái nặng hay nhẹ của việc co duỗi chân tay cũng tuần tự tan biến đi một cách nhanh chóng.

-                     Khi đang quan sát các cảm thọ ( bao gồm khổ thọ, lạc thọ và thọ vô ký tính), bạn sẽ trải nghiệm được khổ thọ trước tiên. Trạng thái tâm vượt thoát được khổ thọ là điều chính yếu và quan trọng nhất. Khi đang thực hành thiền mà khổ thọ khởi lên trong tâm thức như :  Cảm giác đau nhức chẳng hạn, bạn phải lập tức hội tụ sự chú ý trực tiếp và liên tục lên cảm giác này. Khi đang làm như thế, có một điều quan trọng mà bạn cần lưu ý là “ đừng để cho thần kinh của mình bị căng thẳng và lo lắng vì trạng thái xuất hiện cũng như biến mất đi của khổ thọ”. Bạn cũng đừng buông thả tâm trí một cách thái quá, chỉ cần chú ý liên tục và trọn vẹn lên cảm thọ nói chung, để chiêm nghiệm thật chính xác vị trí của nó và xem thử nó hiện đang ở đâu trong thân mình, nó đang ở trên thịt hay trên da, nó đang ở trong huyết quản hay ở trong xương… đồng thời, bạn cũng cần nhận biết được phạm vi ( diện tích hẹp hay rộng mà cảm thọ lấn chiếm trong thân tâm) và bản chất của cảm thọ. Bạn cứ chú ý tích cực lên khổ thọ và niệm thầm trong tâm “ đang đau nhức, đang đau nhức” hoặc “ đang ngứa, đang ngứa ”… Khi năng lực định tâm đã phát triển, bạn sẽ khám phá ra rằng, sau 4 hoặc 5 lần chú ý trực tiếp lên cảm giác đau nhức hay ngứa ngáy… cường độ của những cảm giác này sẽ tăng lên đến đỉnh điểm. Sau khi cường độ của khổ thọ đã đạt tới đỉnh điểm, tự nhiên nó sẽ dần dần giảm xuống. Lúc này, bạn đừng có buông lơi sự chú ý mà vẫn tích cực chú tâm vào khổ thọ để tiếp tục trực thức nó. Nếu tiếp tục chú ý thì bạn sẽ trực thức được rằng, khổ thọ sẽ dần dần biến đi rồi chấm dứt hẳn. Khi tiếp tục thực hành thiền , năng lực định tâm của bạn sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Đến khi đó, nếu hội tụ sự chú ý trực tiếp và liên tục lên khổ thọ, bạn sẽ trực thức được rằng, cảm giác đau nhức, ngứa ngáy, tù túng… sẽ gia giảm một cách nhanh chóng hơn. Cứ mỗi lần bạn chú ý đến chúng thì mỗi lần chúng sẽ càng gia giảm cường độ hơn trước đó. Đối với cảm thọ nói chung, mỗi lần bạn hội tụ sự chú ý lên nó thì nó cũng giảm dần cho đến khi biến mất hẳn. Khi bạn tiếp tục thực hành thiền, năng lực tập trung tâm ý sẽ trở nên chín muồi. Đến lúc đó, bạn sẽ lãnh hội được rằng, khi mình vừa hội tụ sự chú ý trực tiếp lên cảm thọ thì ngay lập tức, nó sẽ gia giảm cường độ cho đến khi chấm dứt hẳn. Khi năng lực tập trung chú ý đã trở nên mạnh mẽ hơn nữa và đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu. Lúc bấy giờ, khi bạn vừa chú ý trực tiếp lên cảm thọ thì nó sẽ biến mất ngay lập tức. Thậm chí, bạn cũng sẽ khám phá ra rằng, sự chú ý của tâm trí cũng đã biến mất luôn. Vì vậy, cảm thọ nói chung là vô thường ( Anicca - impermanent), sự chú ý để trực thức cũng vô thường. Bởi vì cảm thọ đã khởi lên và biến mất đi trong tâm của bạn với một tốc độ rất nhanh, dường như nó đã gây ra một áp lực cho tâm của bạn, nó đã làm cho bạn khổ ( Dukkha – sufferings). Bạn không thể có cách nào để xoá tan được cảm thọ và áp lực của nó, ngoài việc chú ý một cách trực tiếp, liên tục và chính xác lên nó, nhất là đối với khổ thọ. Vì vậy, cảm thọ nói chung và áp lực của nó có tính vô ngã hay không thể điều khiển được ( Anatta – No self  or transient). Cảm thọ khởi lên trong tâm của bạn và biến mất đi theo ý muốn của riêng nó. Từ đó, bạn sẽ lãnh hội được 3 tính cách đặc trưng của cảm thọ là vô thường , khổvô ngã.

 - Chú tâm vào mọi hoạt động của tinh thần nghĩa là :

 Bạn có thể nhận thức được những cảm giác dễ chịu hay khó chịu, hạnh phúc hay buồn rầu… Bằng sự chú tâm trực tiếp và tích cực lên các cảm giác nói trên, bạn cần phải nhận thức được tiến trình đang khởi lên và phạm vi của những hoạt động tinh thần này. Khi bạn đang thiền tọa hay thiền hành, nếu có “ sự suy nghĩ ”đang khởi lên trong tâm mình, bạn hãy lập tức chú ý trực tiếp và tích cực lên “sự suy nghĩ đó” và niệm thầm trong tâm “ đang suy nghĩ, đang suy nghĩ”, hoặc nếu khi ấy đang có “ một kế hoạch” khởi lên trong tâm, bạn cũng lập tức chú ý trực tiếp và tích cực lên “kế hoạch đó”, đồng thời nhẩm thầm trong tâm “ kế hoạch, kế hoạch”… Nếu thực hành như vậy, bạn sẽ nhận thức được rằng, hoạt động thuộc về tinh thần này sẽ tan biến ngay lập tức khi bạn vừa chú ý lên nó. Khi đã quan sát được trạng thái tan biến đi một cách nhanh chóng của “ sự suy nghĩ” và “ kế hoạch” vừa thí dụ ở trên, bạn sẽ nhận thức được chúng là vô thường, ngay cả sự chú ý trực tiếp và tích cực của tâm trí cũng vô thường. Bởi vì “ sự suy nghĩ” và “ kế hoạch” đó tựa như một áp lực đè nặng lên tâm lý của bạn thông qua trạng thái biến mất quá sức nhanh chóng của chúng, Do đó chúng là khổ. Bạn không thể có cách gì để ngăn chặn và không cho chúng khởi lên, bởi vì chúng thường khởi lên theo ý muốn của riêng chúng, bản chất của chúng là vô ngã hay không thể điều khiển được. Vì vậy, bạn sẽ lãnh hội được 3 đặc tính của các hoạt động thuộc về tinh thần là vô thường, khổvô ngã.

- Chú ý vào những đối tượng của tâm trí nghĩa là :

Khi đang thực hành thiền, bạn hãy thử lấy một người nào đó để làm đề mục thực hành. Bạn hãy chú ý nhìn vào một người đó với một tâm trí không suy xét hay phán đoán, nghĩa là không cần biết người này là nam hay nữ, nhỏ tuổi hay lớn tuổi, có diện mạo đẹp hay xấu… Lúc đó, bạn chỉ nên chú ý tích cực vào trạng thái “ đang nhìn” của chính mình và nhẩm thầm trong tâm “ đang thấy, đang thấy”… Khi năng lực định tâm đã phát triển đến mức cần thiết, bạn sẽ gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng ( Bhanga Ñāna – Knowledge of dissolution). Đến lúc này, bạn sẽ lãnh hội được rằng trạng thái  “ đang thấy” sẽ từng bước tan biến đi như một đối tượng hữu hình ( Visible object) có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Trạng thái này cũng tan biến đi một cách nhanh chóng qua nhận thức của mắt. Đối tượng hữu hình này là vô thường và sự nhận thức của mắt cũng vô thường…Bởi vì tốc độ tan biến của trạng thái “ đang thấy” quá nhanh và dường như nó đã gây ra một áp lực cho tâm lý của bạn. Vì vậy nó là khổ. Bạn không có cách gì để ngăn chặn được trạng thái tan hoại của đối tượng hữu hình này. Nó xảy đến theo ý muốn của riêng nó và nó chính là vô ngã. Vì vậy, bạn sẽ nhận thức được 3 tính cách đặc trưng trong các đối tượng của tâm trí là vô thường, khổvô ngã. Khi đang thực hành thiền, nếu tình cờ nghe thấy một âm thanh nào đó, bạn đừng phán đoán là âm thanh đó là dễ chịu hay khó chịu, êm tai hay chát tai… đồng thời cũng không khởi ý mong muốn nhận biết hoặc tưởng tượng về nó. Bạn chỉ chú ý một cách thuần túy, trực tiếp và tích cực để nghe âm thanh này và niệm thầm trong tâm “ đang nghe, đang nghe”... Dần dần năng lực định tâm đã trở nên sắc bén và bạn sẽ gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng. Đến lúc đó, khi đang chú ý thuần túy, trực tiếp và tích cực để nghe một âm thanh nào đó, bạn sẽ nhận thức được tiến trình dần dần tan biến đi của âm thanh này một rất rõ ràng. Bạn cũng khám phá ra rằng, tiến trình trực giác của tâm trí để nhận biết âm thanh này cũng từng bước tan biến đi. Theo cách đó, nếu thực hành thiền theo một phương pháp đúng đắn bằng cách chú ý trực tiếp và tích cực lên các trạng thái đang ngửi, nếm và xúc chạm của chính mình, bạn cũng sẽ lãnh hội được 3 đặc tính vô thường, khổvô ngã của chúng. Vì vậy, bằng cách thực hành thiền đúng đắn và lãnh hội được 3 tính cách vô thường, khổvô ngã, bạn sẽ trở thành những người cao quí như Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm… đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính mình và nhận thức được Niết Bàn.

 

              

               Hãy thực hành thêm những Giới luật phụ

 

Giới luật của những người Phật tử có 2 loại : Giới gìn giữ ( Vāritta) và giới thực hành ( Cātitta). Bằng cách quan sát cả 2 loại giới luật này, người Phật tử sẽ có khả năng thực hành giới một cách đầy đủ. Người Phật tử tránh không thực hiện các hành động như : Sát sanh, trộm cắp, nói dối, tà dâm và dùng các chất gây say. Đây chính là giới gìn giữ cần phải được quan sát một cách cẩn thận. Bổn phận của cha mẹ, bổn phận của con cái, bổn phận của thầy cô giáo, bổn phận của học sinh, bổn phận của bạn bè…là những giới thực hành. Người Phật tử cũng phải hoàn thiện được giới thực hành thì mới được xem là giữ Giới đầy đủ. Giới thực hành bao gồm 4 giới luật phụ là : Bổn phận của cha mẹ, bổn phận của con cái, bổn phận của những người có quan hệ thân thiết với nhau và bổn phận của bạn bè. Đức Phật đã từng chỉ dạy về 4 giới luật phụ này trong Kinh khảo sát ( Sangaha Sutta – Survey ‘s Bible )như sau :

 1. Dāna – Bố thí ( To give alms or Charity )

   * Nhân hậu và rộng lượng bằng cách chia xẻ tài sản, vật thực, kiến thức… cho người khác

 2. Peyyavajja ( Speaking pleasing words)

   * Nói những lời nhu hoà làm vui lòng người khác

 3. Atthācariya ( Carrying out beneficial duties)

   *  Thực hiện những bổn phận mang lại nhiều lợi ích

 4.  Samānatthatā – ( to treat others as yourself)

   * Đối xử với những người khác như đối xử với chính mình

   -  Trong việc bố thí, người cho cũng cảm thấy hài lòng và gặt hái được phẩm hạnh xứng đáng giống như người nhận. Nói cách khác, cho tức là nhận. Người thực hành bố thí nghĩ rằng khi cho đi một cái gì đó nghĩa là anh ta đã làm cho người nhận của bố thí được hạnh phúc, bởi vì hài lòng và vui sướng. Bởi vì khi cho đi của cải của mình, người thực hành bố thí đã thoát khỏi được tính xan tham ( tức keo kiệt bủn xỉn- Macchariya – Stinginess) và tham lam ( Lobha – Greedy).Người cho mang tâm từ ( Mettā – Kindness) hướng đến người nhận. Nhờ đó, anh ta sẽ gặt hái phước báu qua tâm từ và tính hào phóng( Alobha – Unstinginess).Người nhận cũng biết rằng, người cho có từ tâm với anh ta. Do đó, anh ta cũng vui sướng theo. Chỉ khi người nhận được hạnh phúc về thể xác lẫn tinh thần một cách thật sự, anh ta mới có thể làm cho người cho được hạnh phúc bằng cách phản hồi hạnh phúc của chính mình đến với người cho. Vì vậy,người nhận sẽ gặt hái được phước báu.

 -  Khi chúng ta  nói những lời nhu hòa tràn đầy tình thương thì người nói lẫn người nghe điều được hạnh phúc. Do đó, cả người nói lẫn người nghe điều gặt hái được phước báu. Bởi vì người nói có suy nghĩ cặn kẽ trước khi nói, nên anh ta chỉ nói những lời nhu hòa với tâm từ. Nhờ đó, anh ta đã gặt hái được phước báu ý nghiệp hiền từ ( Manokamma mettā kusala). Đây là phước báu gặt hái được thông qua các hành động của tinh thần khi nói năng. Bởi vì khi những lời nói nhu hoà được nói ra làm vui lòng người khác, nên người nói đã gặt hái được phước báu ngôn nghiệp hiền từ ( Vacikamma mettā kusala). Đây là phước báu gặt hái được thông qua hành động nói.Bởi vì người nghe hài lòng với những lời mà anh ta đã nghe, nên anh ta sẽ được hạnh phúc. Sau đó, anh ta luôn nhớ nghĩ về người đã nói những lời nhu hoà với mình và cảm thấy hài lòng với người đó. Vì vậy, anh ta hay lập lại những lời nói nhu hoà mà mình đã được nghe. Nhờ đó, anh ta sẽ được hạnh phúc và gặt hái được phước báu.

  -  Một người thực hiện điều gì đó mang lại sự lợi ích cho người khác thì anh ta có thể khiến cho người khác bắt chước theo hành động tốt lành của mình. Những người đã bắt chước những hành động tốt lành sau đó lại tiếp tục hành động giống như những điều mình vừa học được. Vì vậy, tất cả họ đều gặt hái được lợi ích và được hạnh phúc. Một người nào đó khi muốn thực hiện những điều gì tốt lành, xứng đáng và mẫu mực để người khác có thể noi theo thì những hành động của anh ta phải mang lại sự lợi ích cho kiếp sống hiện tại và những kiếp sống ở tương lai. Anh ta phải thực hiện những hành động đáng khen, tôn kính những người khôn ngoan sáng suốt và không tôn kính những người ngu xuẩn điên rồ. Theo cách này, anh ta có thể ban phát những lời giáo huấn và khuyên răn với thiện chí tâm từ, nhằm đem lại sự lợi ích cho người khác. Vì vậy, anh ta sẽ gặt hái được phước báu dẫn dắt người khác đến với những lợi ích tốt đẹp. Người thực hành theo những lời giáo huấn đúng đắn tự nghĩ rằng, anh ta đã được giáo huấn để gặt hái được những lợi ích, nên anh ta sẽ lắng nghe với sự cung kính. Anh ta sẽ tránh không sát sanh,không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không xử dụng các chất gây say. Bởi vì anh ta đã tránh làm những hành động xấu xa, tránh xa những người ngu xuẩn điên rồ và tôn kính đức hạnh của những người khôn ngoan sáng suốt, nên anh ta đã gặt hái được những lợi ích trong kiếp sống hiện tại và những kiếp sống ở tương lai cho đến khi đạt tới Niết Bàn hạnh phúc.

- Đối xử với những người khác như đối xử với chính mình nghĩa là :

Cả hai dạng người lớn tuổi và người trẻ tuổi đều sống chung với nhau, cùng nhau gặt hái những lợi ích và hạnh phúc. Với tâm từ khoan dung độ lượng, người già chia xẻ mọi thứ với người trẻ. Mặc dù người trẻ đã có thái độ thân mật hay lạnh nhạt, sung sướng hay khổ sở, vui vẻ hay buồn chán tuyệt vọng… đối với họ. Mặc dù những người trẻ có thể có những lối cư xử không đúng đắn với họ trong lời nói, khi ăn uống và trong tất cả những phong cách sống. Tuy vậy, người già vẫn luôn cố gắng sống đúng đắn với tâm từ và lòng kiên nhẫn của họ. Do đó, người già vẫn sống cố gắng chung với những người trẻ với tâm từ và lòng khoan dung ( Khanti – Tolerance). Nhờ đó, họ sẽ gặt hái được phước báu từ tâm, làm cho tâm từ của họ ngày càng gia tăng và chín muồi. Những người trẻ sống chung với những người già hay những người lớn tuổi hơn họ qua những hoàn cảnh sống sung sướng hay cực khổ, nhận được lời chúc phúc từ người lớn tuổi hơn mình và được hạnh phúc.

Kể từ đó, họ sẽ bắt chước cung cách đối xử tốt đẹp của người lớn tuổi hơn mình, gặt hái được nhiều lợi ích trong kiếp sống hiện tại và những kiếp sống ở tương lai. Bình thường, một người nào đó có thể nghĩ rằng, chỉ bằng cách bố thí thôi thì họ đã hoàn thành được những giới luật phụ của mình. Tuy nhiên, đúng theo lời dạy của Đức Phật trong Kinh Khảo Sát ( Sangaha Sutta), có đến 4 giới luật phụ. Sau khi người này đã thực hành hạnh bố thí, tuy nhiên anh ta vẫn tiếp tục nói những lời cay nghiệt mỗi khi sân hận khởi lên. Nếu cư xử như vậy thì những hành động bố thí của anh ta chẳng có giá trị gì cả. Do đó, người nói trên cũng phải tập nói những lời nhu hoà làm vui lòng người khác. Một vài người khác không muốn thực hành hạnh bố thí nhưng muốn tập cách nói những lời nhu hòa để làm vui lòng người khác, cúng như để được người khác tôn trọng. Sự thật, những người không muốn thực hành hạnh bố thí cũng thường là những người không có ý muốn thực hành thói quen nói những lời nhu hoà một cách thật tâm. Những lời nói ngọt ngào êm tai của những người này chỉ là đầu môi chót lưỡi, mang tính đạo đức giả và cũng không đánh lừa được ai cả. Thật ra, hạng người đạo đức giả này chỉ muốn làm lợi cho chính họ mà thôi. Họ không hề để ý đến lợi ích của những người khác. Tuy nhiên, họ cũng mong muốn được sống chung với nhiều người khác. Vì vậy, những người lớn tuổi có đức hạnh và giàu kinh nghiệm vẫn khoan dung và sống chung với hạng người đạo đức giả này, cũng như mong muốn cho họ mau mau hối cải để có thể sống tốt hơn. Người vừa biết thực hành hạnh bố thí và cũng biết nói những lời nhu hoà để làm hài lòng người khác là một người tốt. Tuy nhiên, nếu anh ta quên đi bổn phận của mình đối với gia đình và bạn bè thì anh ta cũng giống như người đang lái một chiếc xe chở đầy thức ăn ngon và nhiều của cải. Xe của anh ta đang chở nặng nhưng thiếu mất những cái chốt chận bánh xe, nhờ các cái chốt này mà những chiếc bánh xe không bị văng ra khỏi trục xe. Vì vậy, trên đường đi, chắc chắn anh ta sẽ gặp phải những điều lo lắng phiền muộn, bởi vì các bánh xe có thể bị văng ra khỏi trục xe. Tương tự như thế, người chỉ thực hành hạnh bố thí và biết nói những lời nhu hòa cũng sẽ phải khổ đau trong kiếp sống này và trong những kiếp sống mai hậu, khi tái sanh vào luân hồi. Thông thường, những người đã giữ gìn 5 giới trong sạch còn thực hành thêm 4 giới luật phụ đúng như lời dạy của Đức Phật một cách trọn vẹn,. Nhờ đó, cuộc đời của họ sẽ được trơn tru thông suốt và an toàn. Chắc chắn họ sẽ được hạnh phúc trong kiếp sống hiện tại và trong những kiếp sống ở tương lai, cho đến khi đạt tới Niết Bàn mong muốn. Trong lịch sử của Phật giáo, có một vị Bồ Tát đã giáng trần làm vua của các loài chim vẹt. Khi làm vẹt chúa, Ngài đã quan tâm chăm sóc cho cha, mẹ, con cái của mình và những con vẹt bị tàn tật rất tận tình chu đáo như thể một người phải trả các món nợ cũ cho người khác, tạo những sự đầu tư mới, tích luỹ và cất giữ những “hủ vàng”.Trong thời vị Bồ Tát nọ hoá thân thành một con vẹt chúa sống trong khu rừng gần thành Vương-Xá. Có một vị Bà-La-Môn sống tại làng Sāliddiya, cũng gần thành Vương Xá. Vị Bà-la-môn có 1000 mẫu đất dùng để trồng lúa nước. Ông ta đã thuê một người bảo vệ để trông coi giùm mình một nữa cánh đồng lúa, tức 500 mẫu ruộng. Khi lúa trên đồng đã chín vàng, con vẹt chúa và cả bầy vẹt sà xuống cánh đồng mà người bảo vệ đang trông coi để ăn những hạt lúa tốt nhất. Khi người bảo vệ đến và xua đuổi đàn vẹt thì cả đàn vẹt không chịu đi. Chúng chỉ luẫn quẫn quanh đám ruộng và tiếp tục ăn lúa. Tất cả những con vẹt đều ăn lúa xong rồi bay đi, ngoại trừ con vẹt chúa không ăn. Nó chỉ ngậm những hạt lúa hình tai trong miệng để mang về. Người bảo vệ không thể đuổi được đàn vẹt đi khỏi cánh đồng mà ông ta đang trông coi. Vì vậy, ông ta đi về nhà và nói lại chuyện đó với chủ của mình là vị Bà -La-Môn nọ. Vị Bà-La-Môn đã sai người bảo vệ làm một cái bẫy để bắt con vẹt chúa rồi mang nó về cho ông ta. Người bảo vệ đã vâng lời chủ và làm một cái bẫy. Sau đó, ông ta đã bắt được con vẹt chúa và mang nó về cho vị Bà-La-Môn. Vị Bà-Ma-Môn bồng lấy con vẹt chúa to khoẻ và đẹp như một con công đực với thái độ yêu mến và quí trọng. Ông ta xem con vẹt chúa như chính con trai của mình nên ôm ấp nó vào lòng và hỏi :  “ Ơi vẹt ! Mọi con vẹt khác đều ăn lúa rồi bay đi, trong khi mày không ăn lúa mà chỉ ngậm chúng ở trong miệng để mang về, bây giờ ta hỏi mày :

 1.Có phải vì cái bao tử của mày to hơn bao tử của những con vẹt khác hay không ?

 2. Hay mày có một cái kho dự trữ lúa ?

 3. Hay chúng tao là những kẻ thù của mày ?”

   Con vẹt chúa đã trả lời : “ Không, những lời ông đã nói là không đúng.  Tôi ngậm những hạt lúa hình tai trong miệng mình mà không ăn là vì :

  1. Tôi phải trả các món nợ cũ của tôi

 2. Tôi phải thực hiện một sự đầu tư mới

 3. Tôi phải chôn dấu những “hủ vàng”

Đó là những lý do khiến tôi phải ngậm những hạt lúa hình tai trong miệng mà không ăn”. Vị Bà-La-Môn lại nói : “ Ta không thể hiểu được những gì mày vừa nói, hãy làm ơn giải thích ?” Con vẹt đáp rằng : “ Tôi phải nuôi cha mẹ già của tôi bằng những hạt lúa hình tai. Đây chính là sự trả nợ của tôi. Tôi cũng phải nuôi con cái của tôi bằng những hạt lúa hình tai. Đây chính là việc tạo ra sự đầu tư mới. Tôi cũng phải mang những hạt lúa hình tai về để nuôi những con vẹt bị tàn tật cùng ở với tôi, bởi vì chúng không bay được. Đây chính là việc chôn dấu những “hủ vàng”. Tôi đã giải thích xong những điều tôi đã nói”. Người chủ cánh đồng là vị Bà-La-Môn đã trở nên vô cùng sợ hãi và tôn kính con vẹt.Thậm chí, con người đang sống trên cõi đời này cũng chưa hiểu được cách làm tròn những bổn phận của mình đối với cha mẹ, con cái và bạn bè. Con vẹt mà ông ta đang bồng trên tay chỉ là một con vật tầm thường, còn lâu nó mới bằng con người. Tuy vậy, nó đã làm được những việc mà con người không phải ai cũng làm được. Sự thật trong thấy là như vậy, thì làm sao ông ta lại không kính sợ con vẹt này cho được ! Sau đó, vị Bà-La-Môn nọ ngày càng trở nên sùng kính con vẹt hết mực, ông ta đã dâng cúng cho nó toàn bộ lúa trên cánh đồng 1000 mẫu đất của mình. Con vẹt chỉ chấp nhận lấy 8 mẫu đất với những hạt lúa đang chín vàng. Bây giờ những người Phật tử có thể lấy hình ảnh của con vẹt chúa này để làm tấm gương sáng mà noi theo trong việc quan sát và thực hiện giới thực hành.

1. Khi nuôi nấng cha mẹ , bạn hãy xem đó là việc trả những món nợ cũ của mình.

 2. Khi đang nuôi nấng con cái, bạn hãy xem đó là sự đầu tư mới của chính mình.

 3. Khi bố thí cho người nghèo, cúng dường, quan tâm chăm sóc cho các Tỳ kheo Ni và Tăng Già, bạn hãy xem như đó là việc chôn dấu những “hủ vàng” của mình.

Tóm tắtViệc trả những nợ cũ, đầu tư mới và chôn dấu những “hủ vàng” giống như con vẹt chúa đã làm là thực hiện giới thực hành ( Cāritta Sīla).

 

                          Chú tâm để gặt hái phước báu

  

 Những Phật tử thuần thành sẽ thật sự nhận thức được rằng, cái thiện ( Kusala – The good) là chân lý đáng tin cậy và cái bất thiện hay cái ác ( Akusala - The evil) là kẻ thù của họ. Đó là lý do tại sao, họ luôn luôn cố gắng tránh xa những điều bất thiện và gặt hái cho được những điều thiện lành càng nhiều càng tốt, mỗi khi có thể. Có 5 nhân tố quan trọng liên quan đến việc gặt hái được những phước báu :

1. Yonisomanasikāra  -  Chú ý đúng đắn ( To pay proper attention).

 2. Sappurisūpanissaya -  Chấp nhận và cố gắngtruyền bá, cổ vũ cho đạo đức của con người ( to get the support of virtuous people).

 3. Saddhammasavana -  Có khả năng lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng ( To be able to listen to sublime dhamma).

 4. Patirūpadesavāsa -  Cư trú trong một vùng thích hợp ( To reside in a suitable locality).

 5. Pubbecakatapuññata – Những hành động đặc biệt xứng đáng mà bạn đã làm trong những kiếp sống ở quá khứ ( Specially meritorious deeds in the past lives which you have done)

 -  Sự chú tâm đúng đắn nghĩa là:

Mỗi khi thình lình bắt gặp những đối tượng mang lại cho bạn cảm giác dễ chịu hay khó chịu, bạn cần phải chiêm nghiệm ( tức nhìn vào và suy ngẫm) để biết được nguyên nhân và tác động đích thực nào đã tạo ra những cảm giác này. Tiếp theo, bạn hãy hội tụ sự chú tâm một cách đúng đắn lên chúng ( cảm giác dễ chịu hay khó chịu). Chú tâm đúng đắn ở đây là chỉ đơn thuần hội tụ sự chú ý lên những cảm giác đó, chứ không phải suy nghĩ về chúng.  Khi thình lình bắt gặp những đối tượng mang lại cho bạn cảm giác dễ chịu, bạn phải cố gắng đừng để bị dính mắc hay gắn bó với chúng.Vì nếu bị dính mắc vào vào chúng là tham lam ( Lobha-Greedy). Lúc này, bạn cần chiêm nghiệm rằng, bởi vì trong những kiếp sống ở quá khứ, mình đã có những hành động tốt lành cho nên bây giờ mới gặp được những cảm giác dễ chịu này. Để có được những đối tượng tốt đẹp mang lại những cảm giác dễ chịu cho mình trong những kiếp sống ở tương lai cho đến khi đạt tới Niết Bàn, bạn đừng quên thực hiện những hành động thiện lành. Nếu chiêm nghiệm theo lối trên, bạn sẽ không bao giờ bị dính mắc vào những cảm giác dễ chịu do các đối tượng của tâm trí mang lại. Thay vào đó, bạn sẽ loại bỏ được tính tham lam và gặt hái phước báu. Cũng theo cách ấy, bạn sẽ vượt qua được những đối tượng có thể mang lại cho mình những cảm giác khó chịu mà không hề sân hận ( Dosa – Anger) hay buồn bực ( Domamassa – Grief). Lúc này, bạn phải chiêm nghiệm rằng, bởi vì các nghiệp xấu đã tạo ra trong những kiếp sống ở quá khứ, cho nên bây giờ mình phải gặp những cảm giác khó chịu do các đối tượng của tâm trí mang lại. Chúng ta chỉ có thể vượt qua những cảm giác khó chịu bằng cách thực hiện những hành động thiện lành. Bạn cần phải ghi khắc trong tâm rằng, mình cần phải thực hiện những hành động thiện lành nhiều hơn nữa, nhiều gấp bội lần trong quá khứ. Nếu suy nghĩ theo lối này, bạn sẽ không còn thực hiện những điều bất thiện. Nhờ đó, sân hận cũng sẽ biến mất và bạn sẽ gặt hái được những phước báu. Vì vậy, chú tâm đúng đắn là nhân tố quyết định để gặt hái được phước báu. Bạn cần phải chú tâm đúng đắn đang khi thực hiện những hành động thiện lành như :  Dâng cúng hay bố thí của cải mà mình đã kiếm được một cách lương thiện, tìm kiếm người có đức hạnh và chấp nhận cho mình dâng cúng… Bố thí đúng đắn sẽ giúp cho bạn vượt thoát được luân hồi cho đến khi đạt tới Niết Bàn. Vì vậy, chú tâm đúng đắn là nhân tố quyết định thứ nhất có thể giúp cho chúng ta gặt hái được phước báu bố thí.

 Thế nào là sự có lý của Tôn giả Anuruddhā :    

  Trong một kiếp sống ở quá khứ, Tôn giả Anuruddhā là một người cắt cỏ nghèo khổ tên là Annabhāra. Ngài đã từng là người ở mướn trong nhà của phú ông Sumana. Một hôm khi đang mang những bó cỏ về nhà, Annabāra đi băng qua một vùng đất hoang cỏ dại mọc um tùm. Trên đường đi, anh ta đã gặp Phật Độc Giác đang đi khất thực. Annabhāra vội vã trở về nhà thúc dục vợ mình cúng dường cho Phật Độc Giác một bữa ăn. Bởi vì trong những kiếp sống ở quá khứ, họ đã không có những hành động xứng đáng, nên lúc bấy giờ họ rất nghèo khổ. Lúc đó, hai vợ chồng đang có một bữa ăn đã chuẩn bị sẵn và Phật Độc Giác đã chấp nhận cho họ cúng dường vật thực. Annabhāra đã nói với vợ của anh ta sự thật về nguyên nhân và tác động của Sự chú ý đúng đắn ( Yonisomanasikāra ) làm động cơ thúc đẩy họ cúng dường vật thực cho Phật Độc Giác.

- Truyền bá và cổ vũ cho đạo đức của con người nghĩa là :

  Được sống với cha mẹ và thầy cô giáo thiện lành. Những người được sống với cha mẹ và thầy cô giáo thiện lành đã hiểu rằng, bố thí, giữ Giới, thiền định và thiền minh sát là những hành động xứng đáng. Họ có ao ước để làm những điều đó mỗi khi có thể và chắc chắn sẽ làm chúng đến cùng. Bởi vì họ đã nhận được lời chỉ dạy và khuyên nhủ của cha mẹ và thầy cô giáo, họ đã thực hiện những hành động xứng đáng nêu trên. Do đó, truyền bá và cổ vũ cho đạo đức của con người

( Sappurisupanissaya) là nhân tố quyết định thứ hai có thể giúp cho chúng ta gặt hái được phước báu.

- Có khả năng lắng nghe Giáo Pháp cao thượng nghĩa là :

Biết lắng nghe những lời nói về bố thí, giữ Giới, thiền định và thiền minh sát… Bố thí sẽ giúp cho bạn được thịnh vượng trong mọi kiếp sống. Từ đó, bạn có thể tiếp tục thực hiện những phẩm hạnh xứng đáng cho đến khi đạt tới Niết Bàn. Vì vậy, biết lắng nghe Giáo Pháp cao thượng được gọi là Saddhammasavana. Việc giữ Giới mang lại lợi ích là tìm kiếm được sự giàu có rất dễ dàng, có được danh tiếng tốt, sung sướng vì được nhiều người khác quan tâm chăm sóc, khi chết sẽ được thấy những dấu hiệu tốt đẹp và được chết trong bình yên, khi tái sanh được sinh lên cõi trời. Nếu giữ Giới trong sạch, khi thực hành thiền bạn sẽ gặt hái được năng lực định tâm mạnh mẽ ( tức Định- Samādhi) một cách nhanh chóng, có sức khoẻ tốt và được sống lâu trong mọi kiếp tái sanh. Thiền định sẽ dẫn dắt bạn đến với cảnh giới của trời Phạm Thiên. Trong khi đó, thiền tuệ ( tức thiền minh sát) sẽ dẫn dắt bạn đến việc gặt hái được Đạo quả trí tuệ và Niết Bàn đúng như ước nguyện mỗi khi bạn thực hiện những hành động xứng đáng. Khi bạn đang lắng nghe một ai đó thuyết Pháp nghĩa là bạn đã biết lắng nghe Giáo pháp Cao Thượng của Đức Phật. Vì vậy, có khả năng lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng là nhân tố quyết định thứ ba để gặt hái được phước báu.

- Cư trú trong một vùng thích hợp nghĩa là :

Bạn nên cư trú trong một vùng thích hợp. Khi sống trong vùng này, bạn dễ dàng tìm kiếm được sự giàu có một cách hợp pháp. Một vùng đất thích hợp là nơi mà 3 loại ngọc quí ( Phật, Pháp, Tăng) được tôn trọng và sùng kính. Một vùng đất như vậy được gọi là Patirūpadesavāsa . Những ai cư trú trong một Patirūpadesavāsa sẽ có khả năng bố thí, giữ Giới, thiền định và thiền quán một cách dễ dàng. Vì vậy, Patirūpadesavāsa là một nơi rất tốt và thích hợp để sinh sống. Đây là nhân tố quyết định thứ tư có thể giúp cho chúng ta gặt hái được phước báu.

- Những hành động đặc biệt xứng đáng mà bạn đã làm trong quá khứ nghĩa là

 Trong những kiếp sống ở quá khứ, vào thời Đức Phật Thích Ca, Đức Phật Độc Giác, các vị A-la-hán còn tại thế… bạn đã thực hiện những hành động xứng đáng như bố thí, giữ Giới… Người đã từng thực hiện các hành động đặc biệt xứng đáng trong những kiếp sống ở quá khứ thì người này cũng sẽ hăng hái thực hiện những hành động đó trong kiếp sống ở hiện tại. Anh ta cũng dễ dàng gặt hái được phước báu như đã mong đợi. Vì vậy, Pubbecakatapuññata là nhân tố quyết định thứ năm có thể giúp cho chúng ta gặt hái được phước báu. Mặc dù Pubbecakatapuññata là một nhân tố ở xa nhất so với những nhân tố có thể giúp cho bạn gặt hái phước báu trong kiếp sống hiện tại. Tuy nhiên, nó là nhân tố mạnh mẽ nhất trong 5 nhân tố đã nêu ở trên. Nhờ có Pubbecakatapuññata mà bạn có thể được cư trú trong một vùng đất tốt đẹp và thích hợp ( Patirūpadesavana). Bạn cũng có được khả năng truyền bá và cổ vũ cho đạo đức của con người

( Saddhammasavana). Nhờ nó mà bạn đã gặp được cha mẹ và thầy cô giáo tốt lành ( Sappurisūpanissaya), có quan điểm sống đúng đắn trong đường lối tư duy, có khả năng chú ý đúng đắn và gặt hái được nhiều phước báu ( Yonisomanasikāra).

  Thế nào là sự có lý của gia đình Bồ -Tát :

 Cách đây rất lâu, khi quốc vương Bramadatta đang còn trị vì xứ Ba-La-Nại. Đức Phật Thích Ca lúc đó còn là một vị Bồ Tát đã giáng trần làm một Bà-La-Môn sống tại làng Tanka. Lúc đó, vị Bà-La-Môn đang sống rất hạnh phúc với vợ, con trai, con gái, con dâu và một người tớ gái của ông. Họ cùng nhau làm việc trên những cánh đồng để kiếm sống. Một này nọ, vị Bà-La-Môn và con trai của ông đang cày đất trên cánh đồng thì người con trai bị rắn cắn chết. Vị Bà-La-Môn đã nhờ một người hàng xóm tình cờ đi qua về nhắn tin cho vợ ông rằng : “ Hãy nói với người tớ gái hôm nay khác với những ngày trước, chỉ mang bữa ăn trưa ra đồng vừa đủ cho một người dùng thôi và cả bốn người còn lại trong nhà hãy ra đồng ngay. Khi đi nhớ mặc quần áo màu tang trắng, mang theo một ít dầu thơm”. Sau đó, vị Bà-La-Môn đặt thi hài của con trai ông dưới một bóng cây và ngồi đợi. Đúng như lời nhắn của vị Bà-La-Môn, vợ, con gái, con dâu và người tớ gái của ông đã làm đúng theo như vậy. Khi họ ra đến chỗ bóng cây, nơi vị Bà-La-Môn đang ngồi cạnh thi hài của con trai mình thì không một ai trong họ khóc lóc hay rơi nước mắt. Họ chiêm nghiệm về cái chết một cách trầm tĩnh. Người vợ đưa bữa ăn trưa cho vị Bà-La-Môn và ông đã ngồi ăn một cách rất tự nhiên bên cạnh thi hài của con trai mình. Khi vị Bà-La-Môn đã dùng xong bữa ăn trưa , cả năm người lấy củi chất thành một đống và rảy vào đó một ít dầu thơm để hoả táng thi hài người chết. Tất cả họ không có ai khóc lóc mà chỉ chiêm nghiệm về bản chất của sự chết. Năng lực giữ Giới quá mạnh mẽ của gia đình vị Bà-La-Môn đã khiến cho chỗ ngồi của Trời Đế thích trở nên có sức nóng. Từ trên cao, Trời Đế Thích giáng trần và đứng cạnh gia đình chỉ còn lại 5 người của vị Bà-La-Môn và hỏi : “ Các ngươi đang làm gì vậy ?” Cả gia đình vị Bà-La-Môn đáp rằng : “ Chúng tôi đang hoả táng một người”. Trời Đế Thích nói : “ Các ngươi không phải đang hoả táng một người, ta không nghĩ như vậy, các ngươi đang thui một con nai !”. Vị Bà-La-Môn nói lại :

 “ Không phải, chúng tôi đang hoả táng một người”. Trời Đế Thích lại nói : “ Nếu các ngươi đang hoả táng một người thì chắc hẳn người này là kẻ thù của các ngươi !”. Vị Bà-la-môn lại nói : “ Người này không phải là kẻ thù của chúng tôi. Đây chính là con trai của tôi vừa mới chết”. Trời Đế Thích lại nói : “ Nếu ngươi đang hoả táng con trai của mình, thì đây là một đứa con mà ngươi không hề yêu thương nó. Vị Bà-La-Môn đáp lại : “ Không, chúng tôi rất thương yêu nó”. Trời Đế Thích lại hỏi : “ Nếu các người yêu thương anh ta thì tại sao các người không khóc ?”. Lúc đó, từng thành viên trong gia đình vị Bà-La-Môn lần lượt trả lời rằng :

Giống như rắn lột xác

 Vị Bà-La-Môn nói : “ Như khi một con rắn đã già. Nó lột bỏ lớp da đã cũ kỹ của nó mà không một chút luyến tiếc. Con trai tôi đã từ bỏ thân thể của nó và đến với một cuộc sống khác. Thân xác bỏ lại của nó giống như lớp da đã già nua của con rắn. Thân xác được bỏ lại này hoàn toàn không có cảm giác, mặc dù nó bị đốt nhưng nó không hề biết gì là mình đang bị đốt. Nhìn vào thi hài người chết và khóc thì không thể có được bất cứ một lợi ích nào cả. Đó là lý do, tôi đã không khóc.

Đã đến không phải do một lời mời, đã ra đi cũng không hề xin phép ai

Vợ của vị Bà-La-Môn nói : “ Con trai tôi đã đến nhà của chúng tôi từ một cuộc sống khác và không phải do chúng tôi đã mời nó đến. Không hề xin phép chúng tôi, nó đã tự ý ra đi để đến với một cuộc sống khác. Nó đã đến theo ý riêng của nó và cũng đã ra đi theo ý riêng của nó. Nếu có khóc than, tôi cũng không thể gặt hái được một sự lợi ích nào cả. Đó là lý do tại sao tôi đã không khóc.

Chỉ làm cho kiệt sức

 Chị gái của người chết nói : “ Nếu khóc lóc, tôi sẽ làm cho bản thân mình càng thêm mệt lã và kiệt sức. Không có lợi ích gì để làm việc đó. Nếu khóc lóc, có thể tôi sẽ làm cho bạn bè và người thân của mình thêm buồn khổ, khóc không mang lại lợi ích nào cả. Đó là lý do tại sao tôi đã không khóc”.

Giống như khóc vì mặt trăng…

Vợ của người chết nói : “ Nếu tôi khóc cho cái chết của chồng tôi thì tôi sẽ giống như một đứa trẻ đang khóc vì mặt trăng đang du hành trong không gian. Nếu có khóc than thảm thiết thì tôi cũng không gặt hái được một sự lợi ích nào cả. Đó là lý do tại sao tôi đã không khóc.

Giống như một cái bình nước đã vỡ tan tành không thể sửa chữa lại được nữa

 Người tớ gái đã cho biết quan kiến của mình : “ Nếu than khóc cho cái chết của cậu chủ, tôi sẽ không được bình thản. Hơn nữa, cậu ấy cũng không thể nào sống lại được. Một cái bình nước to đã vỡ tan tành thì không thể nào sửa chữa lại được nữa. Cũng giống như vậy, cậu chủ của tôi đã chết nên không thể làm cho cậu ấy sống lại được nữa. Nếu khóc lóc, tôi cũng sẽ không gặt hái được một sự lợi ích nào cả. Đó là lý do tại sao tôi đã không khóc. Cái chết của một thành viên trong gia đình vị Bà-La-Môn đáng ra là một điều bất hạnh cho toàn thể gia đình của ông. Tuy nhiên, cái chết đó đã trở thành lợi ích, bởi vì mỗi người đang còn sống trong gia đình này đã có thể suy nghĩ đúng đắn, lành mạnh và uyển chuyển.

 

           Hạnh phúc vì có 4 khả năng nhìn xa thấy trước

 

Những người có khả năng hiểu biết hay khôn ngoan sáng suốt đều mong muốn được thịnh vượng trong cõi thế gian và xuất thế gian. Họ mong muốn được làm những công việc phù hợp với khả năng của mình. Họ cũng mong được thành công trong những công việc làm của họ. Có 4 khả năng nhìn xa thấy trước để dẫn đến thành công :

 1. Sathakasampajanna - Phải nhìn xa thấy trước để lựa chọn được một công việc mang lại nhiều lợi ích ( Having the foresight of choosing a work that is beneficial)

 2. Sappāyasampajanna  - Phải nhìn xa thấy trước để lựa chọn được một công việc thích hợp ( Having the foresight of choosing a suitable work)

 3. Gocarasampajanna – Phải nhìn xa thấy trước về sự tiến triển của công việc

( Having the foresight of working continuoussly)

 4. Asammahasampajanna – Phải nhìn xa thấy trước để nhận thức được một cách rõ ràng về công việc mà mình đang làm ( Having the foresight of clear comprehension your working)

Những lý lẽ đúng đắn để thực hiện những công việc thế gian

 1. Để được thịnh vượng trong cuộc sống ở thế gian, bạn phải biết lựa chọn loại công việc mang lại nhiều lợi ích nhất. Sau đó, hãy bắt tay vào thực hiện nó. Theo cách này, bạn cần phải chọn được một loại công việc tốt nhất làm nhân tố nền tảng để phát triển sự nghiệp của mình.

 2. Tiếp theo là khả năng để khởi đầu công việc. Bạn cần phải lựa chọn được một nơi chốn và thời điểm thích hợp để thực hiện công việc. Người xưa đã khuyên rằng, mỗi khi làm một công việc gì, chúng ta cần phải lưu ý đến việc lựa chọn một thời điểm và nơi chốn thích hợp để thực hiện công việc đó, chiêm nghiệm xem thử công việc mà mình sắp làm có giá trị gì và nó có mang lại sự giàu có cho mình hay không. Nếu lựa chọn một thời điểm và nơi chốn không thích hợp để thực hiện công việc, bạn sẽ không thể tiến hành được công việc đó theo như ý mình mong muốn. Nếu làm việc gì đó trong một hoàn cảnh không thuận lợi thì chắc chắn bạn sẽ phải buồn khổ vì mất mát của cải, công sức và thời gian. Đó là lý do tại sao, thời điểm và nơi chốn để thực hiện một công việc phải được chọn lựa sao cho thích hợp bằng cách nhìn xa thấy trước. Vì vậy, chọn được một thời điểm và nơi chốn hợp lý để thực hiện công việc là nhân tố quyết định có thể giúp cho bạn thực hiện tốt công việc đó. 

 3. Sau khi đã lựa chọn được một công việc thích hợp nhất, một thời điểm và nơi chốn hợp lý để thực hiện công việc đó, bạn hãy bắt tay vào để khởi động công việc. Bạn phải có hứng thú khi làm công việc của mình, đặt trái tim và tinh thần của mình vào công việc đó, làm một cách liên tục và trôi chảy. Sau khi đã khởi động một công việc, nếu bạn không có hứng thú với công việc đó và xử dụng đa số thời gian của mình cho những công việc khác thì công việc vừa được khởi động sẽ không tiến triển đúng theo ý muốn của bạn. Thậm chí, nó có thể bị hư hỏng và giảm giá trị. Đó là lý do tại sao, bạn phải làm công việc mà mình đã chọn một cách liên tục trong trạng thái tâm hứng thú thật sự. Vì vậy, cung cách làm việc trong trạng thái tâm hứng thú và liên tục là một trong những nhân tố căn bản để phát triển một công việc nào đó mà bạn đã chọn lựa.

 4.Trong khi đang liên tục thực hiện một công việc, bạn cần phải đồng thời nghiên cứu, học tập thêm và nhận thức được tình trạng hiện thời của công việc mà mình đang thực hiện, xem thử nó có đang phát triển không, có bị hư hỏng hay bị thiếu sót chỗ nào không. Bạn cần phải biết được tình trạng thật sự về công việc mà mình đang làm một cách rõ ràng và dứt khoát. Hàng ngày, hàng tháng hoặc hàng năm… bạn cần phải hiểu thật đúng và chính xác về tổng giá trị đầu tư, lợi nhuận và thất thoát có liên quan đến công việc mà mình đang làm. Đây cũng là một nhân tố quyết định làm nền tảng cho sự phát triển một công việc nào đó mà bạn đã lựa chọn. Một ai đó có thể hoàn thiện được 4 nhân tố của sự nhìn xa thấy trước vừa nêu trên, người này sẽ phát triển được công việc mà mình đã lựa chọn và trở nên thịnh vượng trong cuộc sống ở thế gian.

Những lý lẽ đúng đắn cần có khi thực hành Giáo Pháp của Đức Phật

 1. Những người thực hành Giáo Pháp của Đức Phật với mục đích nhận thức được Niết Bàn phải biết lựa chọn cho mình những hành động hạnh xứng đáng có thể mang lại nhiều lợi ích nhất trước khi bắt tay vào công việc. Những hành động mang lại nhiều lợi ích nhất là:  Thực hiện bố thí, giữ Giới, thờ phụng và tôn kính những ngôi chùa linh thiêng, thực hành thiền định và thiền quán…Vì vậy, lựa chọn loại hành động xứng đáng nhất là nhân tố căn bản để nhận thức Giáo pháp Cao Thượng và đạt tới Niết Bàn.

 2. Sau khi đã lựa chọn được loại hành động xứng đáng nhất, bạn phải tiếp tục lựa chọn một thời điểm, một trung tâm thiền ( Yeiktha) hay một tu viện và một vị thầy dạy thích hợp . Mặc dù đã có được lý do đúng đắn và lựa chọn được loại hành động xứng đáng nhất để thực hành Giáo Pháp. Tuy nhiên, nếu bạn không chọn được một thời điểm thích hợp thì khi thực hành Giáo Pháp, bạn cũng sẽ không gặt hái được một lợi ích nào cả. Thậm chí, bạn có thể bị thoái hoá và suy đồi. Vì vậy, bạn cần phải lựa chọn được cho mình một thời điểm, một trung tâm thiền hay một tu viện và một vị thầy dạy thích hợp để thực hành Giáo Pháp của Đức Phật. Ví dụ, khi đang đi chùa để chiêm bái ảnh tượng của Đức Phật. Đây là một việc làm có lợi ích. Tuy nhiên ở ngôi chùa mà bạn đến đang diễn ra một lễ hội với nhiều cuộc trình diễn âm nhạc, ca hát và khiêu vũ, thì đây là một thời điểm không thích hợp đặc biệt đối với một Tỳ Kheo hay một người mới xuất gia. Nếu các Tỳ Kheo và những người mới xuất gia đi đến một ngôi chùa và chiêm bái ảnh tượng của Đức Phật trong một thời điểm mà ngôi chùa đó đang tổ chức một lễ hội lớn không thích hợp, họ sẽ không gặt hái được một sự lợi ích nào cả. Thậm chí, còn bị xem là đã phạm Giới ( Āpatti – Committing offences) và suy đồi đạo đức cho đến khi họ làm lễ xám hối. Đó là lý do tại sao, những Tỳ Kheo và những người mới xuất gia mong muốn gặt hái được phước báu phải biết chọn lựa thời điểm thăm viếng chùa, tốt nhất là khi chùa đang có rất ít người.Thực hành thiền minh sát là một sự lợi ích quan trọng, bạn cần phải chọn được một trung tâm thiền hay một tu viện thích hợp để có thể thực hành loại thiền này. Một trung tâm thiền hay một tu viện được cho là thích hợp phải hội đủ 5 yếu tố sau :

 a. Không ở quá xa hoặc quá gần chỗ ở riêng của bạn.

 b. Yên tĩnh và ít người.

 c. Ít ruồi muỗi và các loài côn trùng khác.

 d. Thức ăn, thuốc men chữa bệnh và nhiều nhu cầu khác có thể tìm kiếm một cách dễ dàng.

 e. Thầy dạy thiền có đạo đức tốt, có khả năng chỉ dạy thiền một cách thông thạo cho những người có kinh nghiệm lẫn chưa có kinh nghiệm về Giáo Pháp của Đức Phật. Những thiền sinh sau khi tham gia học tập phải đạt được một trình độ nhận thức nhất định nào đó ( càng cao càng tốt để có thể gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng).

 Một trung tâm thiền hội đủ 5 yêú tố vừa nói trên phải là một nơi đang giảng dạy thiền minh sát. Cũng có một phương pháp khác để lựa chọn trung tâm thiền hay tu viện. Phương pháp này được phân chia thành 4 loại như sau :

 - Bạn thực hành thiền nhiều ngày trong một trung tâm thiền hay một tu viện mà ở đó người học không lãnh hội được Giáo Pháp một cách mạnh mẽ. Nơi đây vật thực, nước uống, thuốc men chữa bệnh và nhiều nhu cầu khác quá khan hiếm. Loại trung tâm thiền hay tu viện kiểu này là không thích hợp để thực hành thiền.

 - Bạn thực hành thiền nhiều ngày trong một trung tâm thiền hay một tu viện mà ở đó người học không lãnh hội được Giáo Pháp một cách mạnh mẽ. Tuy nhiên, vật thực, nước uống, thuốc men chữa bệnh và các nhu cầu tối thiểu khác rất phong phú. Đây cũng không phải là một loại trung tâm thiền hay tu viện thích hợp để thực hành thiền.

 - Bạn thực hành thiền nhiều ngày trong một trung tâm thiền hay một tu viện mà ở đó người học lãnh hội được Giáo Pháp một cách mạnh mẽ và rõ ràng. Tuy nhiên, vật thực, nước uống, thuốc men và nhiều nhu cầu tối thiểu khác quá khan hiếm. Đây là loại trung tâm thiền hay tu viện có thể được xem là thích hợp để thực hành thiền.

 - Bạn thực hành thiền nhiều ngày trong một trung tâm thiền hay một tu viện mà ở đó người học lãnh hội được Giáo Pháp một cách mạnh mẽ và rõ ràng. Ở đó vật thực, nước uống, thuốc men và nhiều nhu cầu tối thiểu khác rất phong phú. Đây chính là loại trung tâm thiền hay tu viện rất thích hợp để thực hành thiền. Vì vậy, việc lựa chọn được một trung tâm hành thiền hay tu viện thích hợp là nhân tố nền tảng để gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng và đạt tới Niết Bàn.  

 3. Sau khi lựa chọn được thời điểm và một trung tâm thiền hay tu viện thích hợp, bạn hãy vào đó để thực hành thiền và đề ra một mục tiêu nhất định để gặt hái Giáo Pháp Cao Thượng. Bạn phải thực hành thiền một cách hăng hái cho đến khi đạt được một trình độ nhất định về Giáo Pháp mà mình đã đề ra. Trong quá trình thực hành thiền, khă năng chú ý liên tục, năng lực tập trung tâm ý, kiến thức trực giác phải được thực hành và trau dồi một cách tích cực liên tục. Bạn cần phải thực hành và rèn luyện khả năng trực giác cho đến khi đạt tới một trình độ nào đó về Giáo Pháp. Có 3 cách thực hành thiền minh sát, đó là :  Thiền tọa, thiền hànhkhi đang làm bất cứ công việc gì đó trong ngày. Trong 3 loại thiền này, thực hành thiền bằng cách chú ý vào bất cứ một hành động nào trong ngày là khó nhất. Bạn cần tập luyện nhận biết một cách rõ ràng và chi tiết mỗi hoạt động hàng ngày của thân thể như khi đang đi bộ, đang đứng, đang ngồi, đang nằm...( Sampajanna – concious of each bodily behaviour in detail). Đây là lời thuyết Pháp của Đức Phật.      

Bạn cần phải nhận thức được mọi chuyển động của thân thể trong một trạng thái chú ý liên tục. Bạn cũng phải giữ cho tiến trình thực hành thiền của mình không bị ngắt quãng. Năng lực chú ý, trạng thái định tâm và tiến trình nội quán phải được thực hiện một cách liên tục từ đầu đến cuối. Vì vậy, rèn luyện khả năng chú tâm liên tục, không để cho tiến trình chú ý liên tục bị phá vỡ là một nhân tố nền tảng để gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng và đạt tới Niết Bàn. Trong 500 vị Tỳ Kheo đã được tuyển chọn ở lần Đại Kết Tập Kinh Điển ( Great synod) đầu tiên của Phật giáo có 499 vị đã là A-La-Hán. Chỉ có duy nhất Tôn giả A-Nan-Đà là chưa đạt tới quả vị A-la-hán. Trong đêm chuẩn bị cho Lễ Đại Kết Tập Kinh Điển lần đầu tiên vào sáng ngày hôm sau, Tôn giả A-Nan-Đà đã nổ lực thực hành thiền một cách hăng hái trong khi Ngài đang đi bộ. Tôn giả đã thực hành thiền suốt từ đầu hôm cho đến nữa đêm. Khi bình minh vừa ló dạng, Ngài vẫn quyết tâm tiếp tục hành thiền khi đang nằm. Lúc đó, Ngài đã lưu tâm một cách chi tiết là “ đang nằm, đang nằm”… Nhờ đó, Ngài đã trở thành một A-La-Hán và  nhận thức được niềm vui của Niết Bàn.

 4. Khi bạn chú ý đến các hoạt động của thân thể như :  Đang đi bộ, đang đứng, đang ngồi, đang nằm…một cách chi tiết và gặt hái được trạng thái định tâm, bạn sẽ nhận thức được rằng, các hoạt động của thân thể chỉ là những hiện tượng vật lý được cấu thành thuộc về vật chất ( Rūpa). Bạn sẽ nhận thức được trạng thái hiện hữu rời rạc của chúng bằng cách chú ý liên tục để nhận biết. Trạng thái chú ý liên tục để nhận biết này là thuộc về tinh thần ( Nāma). Bạn cũng sẽ lãnh hội được một cách rõ ràng bản chất tự nhiên của tinh thần ( Nāma) và vật chất (Rūpa) là 2 thành phần tách biệt. Khi đã có khả năng giữ gìn cho tiến trình chú ý liên tục không bị phá vỡ hay bị xáo trộn, bạn sẽ nhận thức được rằng, bởi vì bạn “có ý định đi bộ” cho nên “hành động đi bộ” mới xuất hiện, bởi vì “có ý định đứng dậy” cho nên “hành động đứng dậy” mới hiện khởi, bởi vì “có ý định ngồi xuống” cho nên “hành động ngồi xuống” mới có mặt, bởi vì “có ý định nằm” cho nên “hành động nằm” mới hiện khởi… Đến lúc này, bạn sẽ nhận thức được bản chất tự nhiên của nguyên nhântác động của nguyên nhân ( tức kết quả). Khi đã có khả năng chú ý một cách liên tục, năng lực định tâm của bạn sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Lúc đó, bạn sẽ khám phá ra rằng, hành động đang đi bộ, đang đứng, đang nằm, đang ngồi… đã khởi lên và tan biến đi từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác. Bạn cũng sẽ nhận thức được cách thức mà những hiện tượng khác đã khởi lên và tan biến đi một cách chính xác và rõ ràng, không có một sự lẫn lộn nào. Về sau, khi bạn vẫn có khả năng giữ gìn cho sự chú ý liên tục của mình không bị phá vỡ với một năng lực định tâm mạnh mẽ và sâu sắc, bạn sẽ nhận thức được rằng, những hành động của thân thể như đang đi bộ, đang đứng, đang nằm, đang ngồi… đang tan biến đi với một tốc độ cực kỳ nhanh và đó cũng chính là trạng thái tỉnh táo của sự chú tâm. Những hành động của thân thể ( hoạt động thuộc về vật chất) và sự chú ý của tâm trí để nhận thức ( hoạt động thuộc về tinh thần) cũng sẽ tan biến đi với một tốc độ khủng khiếp. Chúng chính là sự vô thường (Anicca). Bởi vì 2 hoạt động vật chất và tinh thần này luôn luôn tan biến đi một cách nhanh chóng, dường như chúng đã gây ra một áp lực lên tâm lý của bạn. Vì vậy, chúng là khổ

( Dukkha). Bạn không thể điều khiển hay ngăn chặn được trạng thái tan hoại của chúng, dù là bằng cách nào đi nữa. Chúng luôn luôn xảy ra theo cách riêng của chúng. Vì vậy, chúng là vô ngã ( Anatta). Bạn sẽ nhận thức được những sự thật này một cách rõ ràng mà không hề có bất cứ một sự lẫn lộn nào. Nhận thức được bản chất tự nhiên trong những tiến trình hoạt động của thân tâm là một nhân tố căn bản để gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng và đạt tới Niết Bàn.Tóm lại, bạn phải :

 1. Lựa chọn được những công việc mang lại lợi ích

 2. Phân biệt được công việc nào là thích hợp và không thích hợp với một nơi chốn và thời điểm thích hợp.

 3. Phải biết được công việc mà mình đang làm có phát triển hay không.

 4. Phải nhìn xa thấy trước để có thể nhận thức được thực trạng của công việc mà mình đang làm một cách rõ ràng.

 Nếu có thể hoàn thiện được 4 nhân tố nhìn xa thấy trước này, chắc chắn bạn sẽ phát đạt và thịnh vượng. Nhờ đó, bạn sẽ trở nên thành công trên 2 cõi thế gian và xuất thế gian.

 

 Nếuloại bỏ những thứ ô nhiễm, hạnh phúc sẽ theo sau

 

Mặc dù tất cả những người đang hiện hữu trên thế giới này đều mong muốn thoát khỏi khổ đau. Tuy nhiên trong thực tế, chính họ là những người đang cố bám víu vào những loại khổ đau. Nguyên nhân chính dẫn đến khổ đau là tham dục ( Rāga – ham muốn xác thịt hay vật chất nói chung), sân hận ( Dosa) và vọng tưởng ( Moha - Nghĩ tưởng những điều hão huyền  không có thật).Vì vậy, chừng nào họ còn biểu hiện trong chính mình những trạng thái tâm nói trên, chừng đó họ vẫn còn phải chịu khổ đau. Chỉ khi tham dục, sân hậnvọng tưởng đã bị loại bỏ thì lúc đó, người ta mới có được hạnh phúc đích thực. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã thuyết Pháp về 3 cách thức để loại bỏ tham dục, sân hậnvọng tưởng. Ba cách thức đó là :

 1. Phải thực hành Pháp quán đề mục tử thi ( Asubha Kammatthāna) để loại bỏ tham dục ( từ dục trong tiếng Hán- Việt cónghĩa là thịt hay xác thịt - ND ).

 2. Phải thực hành Pháp quán đề mục là tâm từ ( Mettà Kammatthāna) để loại bỏ sân hận.

 3. Phải thực hành thiền minh sát ( Vipassanā Bhāvanā – Insight Meditation) để loại bỏ vọng tưởng ( tức vô minh hay suy nghĩ về những điều hão huyền không có thật). ( Am 2 / 388)

 - Phải thực hành Pháp quán đề mục tử thi để loại bỏ tham dục nghĩa là :

  Nếu bạn nghĩ rằng thân thể xác thịt ( Kāya - Body) của mình và người khác là thứ mang lại nhiều niềm vui, bạn sẽ trở nên gắn bó với nó. Như thế gọi là tham dục ( Rāga). Chỉ khi bạn đã có thể chiêm nghiệm được rằng thân thể xác thịt là đáng kinh tởm, đến lúc đó bạn sẽ thoát khỏi được tham dục, không còn quyến luyến hay bám víu vào thân xác của chính mình và người khác. Từ Asubha trong tiếng Pāli có nghĩa là thân xác, tử thi, xác chết,xấu xa, kinh tởm, ghê tởm

Đó là lý do vì sao, Đức Phật đã từng dạy rằng, để loại bỏ được tâm tham dục và quyến luyến vào thân xác, chúng ta phải thực hành quán đề mục tử thi để tự phản hồi bản chất kinh tởm và khó chịu của nó. Từ đó, chúng ta sẽ trở nên nhàm chán và không còn quyến luyến hay bám víu vào thân xác của mình nữa. Có 2 loại Asubha : Asubha của người chết và Asubha của người đang còn sống. Asubha của người chết thì rõ ràng và dễ nhận thấy hơn Asubha của người đang sống. Bản chất ghê tởm tiềm ẩn trong Asubha của người đang sống khó nhận thấy, bởi vì nó bị che đậy bởi áo quần và các loại mỹ phẩm. Dường như thân xác đã khiến cho chúng ta cảm thấy hài lòng và yêu thích nó. Thật ra, 2 loại Asubha có bản chất trái ngược nói trên cũng chỉ là một. Chúng không có gì khác nhau. Bạn có thể hiểu được bản chất ghê tởm của tử thi mỗi khi thấy nó. Bản chất ghê tởm của thân xác một người đang sống cũng có thể thấy và hiểu được. Tuy nhiên, thông thường thì người ta không chịu nhìn nhận hoặc không nhận thức được bản chất kinh tởm và khó chịu của một thân xác đang sống. Con người luôn luôn nghĩ rằng thân xác của chính mình thật là đáng yêu và họ thường cảm thấy hài lòng về nó. Đó là lý do tại sao, họ đã trở nên gắn bó với thân xác của chính mình và người khác. Đó chính là tham dục. Để loại bỏ được tham dục, bạn phải bắt đầu quán niệm về thân xác của chính mình. Sau đó, chuyển sang quán niệm thân xác của những người khác để thấy được rằng chúng đích thực là Asubha. Nếu có thể nhận thức được bản chất kinh tởm và khó chịu trong thân xác của chính mình, bạn sẽ nhận thức được bản chất ấy trong thân thể của người khác. Đó là lý do tại sao, trước tiên bạn cần phải cố gắng nhận thức cho được bản chất kinh tởm và khó chịu chứa đựng trong thân xác của chính mình.

  Asubha đã loại bỏ được tham dục như thế nào

Nếu chú ý đến tất cả những thứ được thải ra ngoài từ thân thể của chính mình, chắc chắn bạn sẽ không hài lòng chút nào. Bạn sẽ thấy rằng, chúng thật là khó chịu và có một bản chất đáng kinh tởm. Chất bài tiết từ mắt, tai, mũi…Tất cả đều thật kinh tởm. Nước bọt và đờm dãi thải ra từ miệng của bạn, nước tiểu, phân đều có mùi hôi thối và khó chịu. Mồ hôi từ 99 ngàn lỗ thoát của thân xác đều bầy nhầy nhớp nháp và có mùi hôi. Mọi thứ được thoát ra ngoài từ thân xác của bạn là khó chịu và có một bản chất đang kinh tởm. Đó là lý do tại sao, thân xác của bạn thực tế là một Asubha. Khi đã nhận thức được thân xác của chính mình thực tế là một Asubha, bạn sẽ khám phá ra rằng, thân thể của người khác thực tế cũng là một Asubha . Những người lãnh hội được rằng, thân thể của chính họ cũng giống như thân thể của nhiều người khác, tất cả đều là Asubha thì họ sẽ thoát khỏi tâm gắn bó hay bám víu vào thân xác. Đó là lý do tại sao, Đức Phật đã nói tham dục ( Rāga) phải được loại trừ bằng Pháp quán đề mục tử thi - Asubha Kammatthāna. Có một thời, Tôn giả A-Nan-Đà đang trú trong tịnh xá Kỳ-Viên ở Xá-Vệ. Ngài đã đến thành Xá-Vệ để khất thực, đi theo Ngài là một Tỳ Kheo trẻ tuổi – Tôn giả Vangīsa. Theo lời mời của nhà vua và các quan thượng thư, Tôn giả A-Nan-Đà đã đến nhà của họ, nơi có các thiếu nữ nhàn hạ và đài các trong những chiếc váy xinh đẹp. Tôn giả Vangīsa đã nói với Tôn giả A-Nan-Đà rằng, Ngài đã trở nên gắn bó với các thiếu nữ này và Ngài hiểu được là mình đang tham dục. Tôn giả A-Nan-Đà đã đáp lại và thúc giục vị Tỳ Kheo trẻ tuổi hãy thực hành Pháp quán đề mục tử thi để loại bỏ tham dục. Do đã nhìn thấy những thiếu nữ xinh đẹp mà Tôn giả Vangīsa đã trở nên tham dục. Từ đó, Giáo Pháp trong Ngài đã trở nên suy đồi và Tôn giả đã gặt lấy sự buồn khổ. Theo lời chỉ dạy của Tôn giả A-Nan-Đà, Tôn giả Vangīsa đã thực hành Pháp quán đề mục tử thi. Nhờ vậy, Ngài đã loại bỏ được tham dục. Từ đó, Tôn giả Vangīsa đã sống cuộc đời còn lại của mình trong Giáo Pháp cho đến khi trở thành một A-La-Hán.

 - Phải thực hành Pháp quán đề mục tâm từ để loại bỏ sân hận nghĩa là :

 Sân hậntâm từ đúng là đối chọi nhau như lửa với nước . Sân hận ( Dosa – Anger) giống như lửa. Một người đang tức giận tự đốt cháy mình và làm cho nhiều người khác cảm thấy nóng nực. Khi một người đã trở nên sân hận, điều này sẽ làm cho nhiều người khác trở nên tức giận ngay lập tức, khi tiếp xúc với anh ta. Trạng thái nóng nực trong họ lại càng lúc càng gia tăng hơn. Khi trong một thành phố có một đám cháy thì lập tức lửa sẽ lan từ nhà này sang nhà khác. Tương tự như vậy, sân hận sẽ lan từ người này sang người khác. Tất cả những người bị nó ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp sẽ cảm thấy rất nóng nực. Đó là lý do tại sao, sân hận được ví như lửa. Tâm từ ( Mettā – Loving kindness)) giống như nước. Một người đã có tâm Từ thì chính người đó sẽ được bình yên và anh ta cũng làm cho người khác được bình yên. Khi một người nói và làm mọi việc với tâm từ thì người này cũng có thể làm cho nhiều người khác trở về với tâm từ. Người nói và làm mọi việc với tâm từ sẽ được hạnh phúc nhờ vào những công việc mà anh ta đã thực hiện. Tâm từ lan truyền hỗ tương qua lại từ người này sang người khác và mang lại trạng thái tâm yên bình. Đó là lý do tại sao, tâm từ được ví như nước, có tính lạnh và mát.

Tâm từ đã loại bỏ được sân hận như thế nào

Tâm từ đã được phát triển và vun trồng từ những người có quan hệ hay liên lạc với bạn. Nó cũng đến từ muôn loài đang sinh sống trong 10 phương của thế giới này. Bằng cách chiêm nghiệm về tâm từ, bạn hãy nhủ thầm “ cầu chúc cho muôn loài đều được hạnh phúc giống như tôi”. Nếu thực hành như vậy, bạn cũng được hạnh phúc. Đó chính là hành động tạo nên ý nghiệp từ tâm ( Manokamma mettā – mental  kindness karma). Khuyên nhủ người khác thực hiện một điều gì qua lời nói với từ tâm để họ được hạnh phúc chính là hành động tạo nên ngôn nghiệp từ tâm ( Vacikamma mettā – verbal kindness karma ). Khi bạn làm cho người khác việc gì mang tính thể lý ( tức tính vật chất -  Kayakamma – Physical) có thể sờ mó  hay thấy được bằng mắt thường, ví dụ như giúp đỡ người khác dựng lại nhà sau một cơn bão, bố thí hay dâng cúng vật thực, dắt người già băng qua đường … với một từ tâm thì đó chính là hành động tạo nên thân nghiệp từ tâm ( Kayakamma mettā – Physiscal kindness karma). Theo lối này, khi đã có được ý nghiệp từ tâm

( Manokamma mettā), ngôn nghiệp từ tâm ( Vacikamma mettà) và thân nghiệp

( Kayakamma mettā), sân hận sẽ không bao giờ còn cơ hội khởi lên trong tâm của bạn. Khi đã triệt tiêu được sân hận, bạn sẽ được sống trong bình yên. Những người có thể thực hành Pháp quán đề mục tâm từ ( Mettà Kammatthāna) cho đến khi tâm thức của họ hoàn toàn dung chứa trong Pháp này, họ sẽ triệt tiêu được sân hận trong chính họ và gặt hái được hạnh phúc cao nhất trong cuộc sống thế gian. Ngoài ra, trên thế gian này không có một loại hạnh phúc nào có thể so sánh được với loại hạnh phúc do tâm từ mang lại. Do sự xúi dục của Māgandi, vua Udena đã bắn một mũi tên có tẩm thuốc độc để giết chết thứ hậu Sammāvati. Ông dự định sau khi làm việc đó sẽ tiếp tục giết hết 500 người hầu gái của bà. Vì trước đó, thứ hậu Sammāvati và 500 người hầu gái của bà đã có thực hành tâm từ, nên khi mũi tên của vua Udena vừa được bắn ra, thay vì đi đúng hướng nó đã bật ngược trở lại phía nhà vua. Vì vậy, vua Udena đã bỏ cung xuống và bào chữa tội lỗi của mình trước thứ hậu Sammāvati. Nhờ có được năng lực từ tâm tột bậc mà thứ hậu Sammāvati và 500 người hầu gái của bà đã thoát chết. Sau đó, họ lại được sống bên nhau một cách hạnh phúc.

- Để loại bỏ được vọng tưởng, bạn phải thực hành thiền minh sát. Vọng tưởngsự thông thái đối nghịch với nhau một cách trực tiếp. vọng tưởng giống như bóng tốisự thông thái giống như ánh sáng. Nếu bầu trời không có ánh sáng mặt trời hoặc ánh sáng mặt trăng thì nó sẽ trở nên tối om. Khi ánh sáng mặt trời hay ánh sáng mặt trăng xuất hiện, bóng tối sẽ biến mất. Tương tự như vậy, nơi nào không có ánh sáng của sự thông thái thì nơi đó sẽ bị bóng tối của những vọng tưởng bao phủ. Nơi nào có ánh sáng của sự thông thái xuất hiện thì bóng tối của vọng tưởng sẽ bị tiêu tan. Đó là lý do tại sao, Đức Phật đã dạy rằng, phải thực hành thiền minh sát để loại bỏ vọng tưởng. Một người đã bị vọng tưởng chiếm hữu tâm hồn mình, cũng như đã bị nó làm cho bối rối và hoang mang thì suy nghĩ của người này sẽ trở nên lầm lạc. Vọng tưởng đã làm cho anh ta mất hết khả năng phán đoán và tư duy đúng đắn. Khi tiếp cận với điều sai thì anh ta sẽ nghĩ đó là điều đúng và tiếp cận với điều đúng anh ta lại nghĩ đó là sai. Vọng tưởng có thể xúi giục người ta thực hiện những điều không nên thực hiện. Nó cũng có thể khiến cho người ta từ bỏ những điều đáng phải làm. Vọng tưởng cũng đã sai sử những người là nạn nhân của nó tìm cách chiếm hữu những cái không thuộc về họ. Nó sẽ dẫn dắt họ đến với những hoàn cảnh suy đồi và thoái hoá. Đó là lý do tại, sao vọng tưởng được ví như là bóng tối. Khi đã có được sự thông thái trong tâm trí, bạn sẽ nhận thức được những gì là sự thật. Điều này sẽ giúp cho bạn loại bỏ được những mối hoài nghi. Sự thông thái mang lại cho bạn khả năng nhận biết được cái gì đích thực là lợi ích và cái gì là không lợi ích. Sự thông thái cũng giúp bạn tránh được những điều gì bất lợi và biết cách thực hiện những công việc có thể mang lại lợi ích. Vì vậy, bạn sẽ được sống lâu và tận hưởng một kiếp sống thú vị. Sự thông thái cũng có thể khiến cho bạn trở thành người cao quí, được sống hạnh phúc với nhiều lợi ích đã thu được. Đó là lý do tại sao sự thông thái được ví như là ánh sáng.

Sự thông thái đã loại bỏ được vọng tưởng như thế nào

 Nếu muốn có khả năng loại bỏ được vọng tưởng, quí vị phải thực hành thiền minh sát. Trong tiếng Pàli từ Vipassanā nghĩa là trí tuệ thấy được bản chất của tâm tánh. Ngoài ra nó cũng có nhiều nghĩa khác. Vì vậy, Vipassanā chính là sự thông thái có thể loại bỏ được vọng tưởng. Khi thực hành thiền minh sát, bạn phải chọn cho mình một nơi yên tĩnh và ngồi xuống với thế ngồi hoa sen (  Lotus position of sitting) hay thế ngồi bắt chéo cẳng chân ( Cross-legged sitting). Có người lại gọi đó thế ngồi kim tự tháp ( Pyramidal position of sitting) hay thế ngồi kiết già… Thế ngồi này rất vững vàng và giúp cho bạn có thể ngồi lâu mà không bị mỏi. Nếu muốn chú ý đến hơi thở vào và hơi thở ra, bạn phải chú ý tại chóp mũi – nơi không khí đang ra vào. Khi đang thở vào, không khí sẽ tiếp xúc với 2 lỗ mũi, vì vậy bạn phải lưu tâm “ đang thở vào, đang thở vào”. Khi đang thở ra, không khí cũng tiếp xúc với 2 lỗ mũi. Vì vậy, bạn phải lưu tâm “ đang thở ra, đang thở ra”. Khi kiến thức nội quán hay tuệ minh sát ( Vipassanā Ñāna) trong bạn đã phát triển, bạn sẽ nhận thức được rằng, trạng thái xúc chạm của không khí với 2 lỗ mũi và sự chú ý của bạn là 2 hiện tượng hoàn toàn tách biệt. Tiến trình xúc chạm của không khí với thân thể vật chất đang ngồi ( ở đây là 2 lỗ mũi) của bạn là thuộc về sắc pháp ( tức vật chất – Rūpa - Physiscal ). Vì vậy, nó không hề có sự nhận thức. Sự chú ý để nhận biết của bạn trong trường hợp này là nhận biết về hơi thở vào và hơi thở ra. Sự chú ý đó là thuộc về danh pháp ( tức tâm linh hay tinh thần  – Nāma –Spyche or Spirits). Vì vậy, nó có sự nhận thức. Trong uẩn ( Khandhā – có nghĩa là chùm, nhóm, sự tích tụ, kết hợp hay cấu thành) này, tức bao gồm trạng thái đang xúc chạm của không khí với 2 lỗ mũi và sự chú ý để nhận biết nói trên chỉ là sự kết hợp của sắc phápdanh pháp ( tức là vật chất và tinh thần). Bạn cũng khám phá ra sự thật rằng, uẩn này không chứa đựng bất cứ một cái gì có thể gọi là bản ngã

 ( atta – self). Vì vậy, quan kiến và tư duy lầm lạc về bản ngã đã bị loại bỏ. Minh sát tuệ đã loại bỏ được vọng tưởng. Khi bạn liên tục thực hành thiền minh sát thì minh sát tuệ sẽ từng bước phát triển. Đến lúc đó, nếu chú ý đến hơi thở vào và hơi thở ra, trạng thái đang xúc chạm của không khí với 2 lỗ mũi, bạn sẽ nhận thức được những tiến trình này sẽ lần lượt trôi qua ( tan biến đi) trong tâm của bạn với một tốc độ cực nhanh . Sự chú ý để nhận biết được bản chất của tiến trình đang xúc chạm nói trên cũng sẽ dần dần biến mất đi trong từng khoảnh khắc. Tiếp đến, bạn sẽ lãnh hội được rằng, tiến trình đang xúc chạm của không khí với 2 lỗ mũi là vô thường ( Anicca – Impermanent). Sự chú ý để nhận biết được bản chất của tiến trình xúc chạm này cũng vô thường. Trạng thái đang tan hoại của 2 hiện tượng thuộc về sắc phápdanh pháp này xảy ra quá nhanh và dường như chúng đã tạo nên một áp lực đối với tâm lý của bạn. Vì vậy, chúng chính là khổ. Bạn không thể có cách nào để ngăn chặn được trạng thái tan hoại cực kỳ nhanh chóng của chúng. Chúng luôn luôn tan biến đi theo cách riêng của chúng. Bạn không thể nào điều khiển được tiến trình tan hoại này. Vì vậy, chúng là vô ngã. Như vậy là bạn đã gặt hái được tuệ minh sát – Vipassanā Ñāna. Khi chưa thực hành thiền minh sát, bạn đã từng có suy nghĩ sai lầm rằng, thân thể của chính mình là thường còn ( Nicca – Permanence). Nói một cách chính xác hơn, bạn chưa có khả năng nhận thức được rằng, thân thể của chính mình đang biến đổi và tan hoại đi trong từng khoảnh khắc. Đến bây giờ, hạnh phúc ( Sukha - Happy) trần thế và bản ngã (atta- Self) giả tạm của bạn đã bị thiền minh sát nhổ bật gốc. Vì vậy, thiền minh sát đã loại được vọng tưởng ( Moha - tức vô minh hay nghĩ tưởng về những điều hão huyền không có thật). Theo đúng phương pháp thực hành thiền của Ngài Đại Đức Trưởng Lão Mahāsī, khi đang ngồi tại một nơi yên tĩnh và đang thở vào, bụng của bạn sẽ dần dần chuyển động và phồng lên. Ngay lúc này, bạn cần phải chú ý một cách tích cực để nhận biết được bản chất của chuyển động phồng lên này, kể từ lúc bụng mới bắt đầu phồng lên cho đến khi đã phồng hết mức. Bạn phải nhận biết được bao tử của mình đã căng lên như thế nào, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang phồng lên, đang phồng lên”. Khi đang thở ra, bụng của bạn đang dần dần xẹp xuống. Ngay lúc này, bạn phải chú ý tích cực để nhận biết được bản chất của chuyển động đang dần dần xẹp xuống của bụng một cách chính xác và liên tục, kể từ lúc nó bắt đầu xẹp xuống cho đến khi đã xẹp hẳn ( lúc bạn đã chấm dứt hơi thở ra), đồng thời cũng niệm thầm trong tâm “ đang xẹp xuống, đang xẹp xuống”. Khi tuệ minh sát của bạn đã  trở nên sâu sắc hơn, bạn sẽ nhận thức được rằng, tiến trình phồng xẹp lên xuống của bụng và sự chú ý để nhận thức là 2 hiện tượng tách biệt. Trạng thái đang phồng xẹp lên xuống của bụngthân thể đang ngồi là không hề có sự nhận thức, bởi vì chúng thuộc về sắc pháp ( vật chất - Rūpa). Chỉ có sự chú ý để nhận biết là có sự nhận thức bởi vì nó thuộc về danh pháp ( tức tinh thần - Nāma). Bạn phải luôn nhớ rằng, trong thân thể của chính bạn, sắc pháp là không hề có sự nhận thức, chỉ có danh pháp là có sự nhận thức mà thôi. Thông thường, khi nhận thức về sự phối hợpcủa 2 hiện tượng này ( sắc pháp và danh pháp), chúng ta cứ nhầm tưởng rằng chúng là một, kỳ thực chúng là hai. Bằng tuệ minh sát, bạn sẽ nhận thức được một sự thật, không hề có cái gọi là bản ngã ( atta – Self ) trong thân thể của chính mình. Thân thể vật chất và tinh thần của bạn chỉ là một sự cấu thành của nhiều yếu tố ( bao gồm 5 uẩn là sắc,thọ, tưởng,hànhthức). Khi bạn đã có khả năng nhận thức đến mức đó, bản ngã giả tạm do vọng tưởng mà có đã bị loại bỏ. Đây là cách mà vọng tưởng đã bị tuệ minh sát triệt tiêu. Khi bạn liên tục thực hành thiền thì kiến thức hay sự hiểu biết ( Nāna – Knowledge) về minh sát sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Đến lúc đó, nếu chú ý vào những tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng, bạn sẽ khám phá ra rằng, chúng sẽ nối đuôi nhau tan biến đi trong từng khoảnh khắc. Hiện tượng phồng xẹp lên xuống của bụng là vô thường. Sự chú ý để nhận biết được bản chất của hiện tượng này cũng vô thường. Trạng thái tan biến với một tốc độ quá nhanh của 2 hiện tượng vô thường này dường như đã tạo nên một áp lực lên tâm lý của bạn. Vì vậy, chúng là khổ

( Dukkha). Bạn không thể có cách nào để ngăn chặn được trạng thái tan hoại của chúng. Những hiện tượng này đã xảy đến và tan biến đi theo cách riêng của chúng. Vì vậy, chúng là vô ngã. Đây là sự nhận thức đúng đắn phát xuất từ tuệ minh sát – Vipassanā Ñāna. Khi chưa thực hành thiền minh sát, bạn đã từng nắm giữ quan kiến lầm lạc khi cho rằng thân thể của chính mình là thường còn - Nicca, hạnh phúc - sukkha và có bản ngã- atta. Nay quan kiến lầm lạc này đã bị tuệ minh sát nhổ bỏ tận gốc. Đó chính là cách thức mà sự thông thái hay tuệ minh sát đã loại bỏ được vọng tưởng. Bằng cách thực hành thiền minh sát, bạn sẽ gặt hái được đầy đủ kiến thức hay sự hiểu biết về vô thường , khổvô ngã. Tham dục, sân hậnvọng tưởng sẽ bị loại bỏ bởi kiến thức về Đạo ( Magga Ñāna – The road of knowledge) đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính bạn. Nhờ đó, bạn sẽ trở thành Tu-Đà-hườn, Tư-Đà-hàm, A-Na-Hàm hay A-La-Hán và đạt tới Niết Bàn.

                 

                Bảy phẩm chất của người có đạo đức

  

Nếu sống chung với người có đạo đức, bạn sẽ được hạnh phúc ngay trong kiếp sống này và trong Giáo Pháp của Đức Phật. Nếu sống chung với người có đạo đức, bạn sẽ thoát khỏi những hành động xấu xa tội lỗi và vì vậy bạn sẽ được hạnh phúc. Bạn cũng sẽ có cơ hội để thực hiện những phẩm hạnh xứng đáng. Nhờ đó, bạn cũng sẽ được hạnh phúc trong những kiếp sống ở tương lai. Đó là lý do tại sao, chính bạn cũng mong muốn trở thành người có đạo đức và được sống chung với những người có đạo đức. Có thể bạn cũng thường cầu mong cho mình sẽ gặp được người có đạo đức trong những kiếp sống ở tương lai. Con người ngày xưa cũng thường cầu mong cho họ gặp được người có đạo đức, như các vị Bồ Tát chẳng hạn. Một thời, Bồ Tát ẩn dật Akitti được cho là đã đạt tới tầng thiền “ Hỷ Lạc Xuất Thế” khi Ngài đang ở  bên cạnh một cội cây. Trời Đế Thích rất sùng kính vị Bồ Tát này. Vì vậy ông đã nói rằng : “ Hỡi vị ẩn sĩ ! Hãy vui lòng nói lên một lời ước”. Bồ Tát Akitti đã đáp lại :

 a. Ta không mong muốn thấy những người ngu xuẩn. Ta chỉ mong nhìn thấy những người khôn ngoan sáng suốt và có đạo đức.

 b. Ta không mong muốn nghe những lời nói ngu xuẩn. Ta chỉ muốn nghe lời nói của những người khôn ngoan sáng suốt và có đạo đức.

 c. Ta không mong muốn kết giao với những người ngu xuẩn. Ta chỉ muốn kết giao với những người khôn ngoan sáng suốt và có đạo đức.

 e.Ta không mong muốn trò chuyện với những người ngu xuẩn.Ta chỉ muốn trò chuyện với những người khôn ngoan sáng suốt và có đạo đức.

 f. Ta không mong muốn thân thiện với những người điên rồ. Ta chỉ muốn thân thiện với những người khôn ngoan sáng suốt và có đạo đức.

 Theo cách đó, Bồ Tát Akitti đã nói rằng Ngài chỉ muốn gặp những người có đạo đức. Đó là lý do tại sao, khi Bồ Tát Akitti đã giác ngộ và trở thành Phật, Ngài đã thuyết về 7 phẩm chất của một người có đạo đức. Ngài cũng thuyết về cách thức để nhận biết một người có phải thật sự là có đạo đức hay không.Bảy phẩm chất đó là :

 1. Saddhā – Niềm tin ( faith)

  2. Sīla – Có Giới luật, tức có đạo đức và có khả năng điều khiển được tất cả những hành động thuộc về thân thể và lời nói ( Morality, to have control over physical and verbal actions).

 3. Hiri – Biết hổ thẹn với những hành động xấu xa tội lỗi ( To be ashamed of doing unwholesome actions).

 4. Ottappa  - Biết ghê tởm và coi khinh những hành động xấu xa tội lỗi ( To be nauseating and despised of doing unwholesome actions).

 5. Suta – Có kiến thức hay sự hiểu biết (  To have knowledge).

 6. Cāga  - Có tínhhào phóng và thích bố thí ( Generosity and give charity).

 7. Paññā – Nhậnbiết được chân lý hay có trí tuệ ( To know the truth or have intelligence).

  -  Niềm tin

  Niềm tin ở đây là niềm tin vào Phật, Pháp, Tăng, nghiệp và kết quả của nghiệp. Từ niềm tin được kết hợp bởi 2 từ là tin tưởngsáng suốt. Tin tưởng ở đây là tin tưởng vào Phật, Pháp, Tăng, nghiệp và kết quả của nghiệp. Sáng suốt ở đây là sáng suốt trong tiến trình hoạt động của tâm trí. Nếu tôn kính 3 loại ngọc quí Phật, Pháp, Tăng đang khi thực hiện những hành động xứng đáng như bố thí chẳng hạn, tâm trí của bạn sẽ trở nên sáng suốt và bén nhạy bởi vì bạn có niềm tin. Niềm tin đúng đắn là nhân tố nền tảng tốt nhất để gia tăng những hành động xứng đáng. Nó có thể giúp cho bạn được tái sanh vào những nơi cao thượng hay nhàn cảnh ( tức cảnh sống an vui – Sugati – Good destination) và cuối cùng sẽ đạt tới Niết Bàn. Đó là lý do tại sao, Đức Phật đã nói rằng niềm tin đúng đắn giống như một người bạn tốt, giống như bàn tay, giống như của cải, sự giàu có và giống như những hạt giống tốt.

 Thế nào là niềm tin giống như một người bạn tốt

 Nếu du hành qua nhiều đất nước và những nơi mà bạn chưa bao giờ đặt chân tới, bạn rất cần có một người đồng hành tốt tại những nơi đó. Bởi vì một người bạn tốt sẽ có khả năng đưa bạn đến những nơi mà bạn muốn đến. Ở đó, bạn sẽ được hạnh phúc. Tương tự như vậy, niềm tin đúng đắn sẽ đưa bạn đến với những bình diện tâm thức cao hơn mà bạn hằng mong muốn. Niềm tin đúng đắn cũng sẽ đưa bạn đến với Niết Bàn. Đó là lý do tại sao, niềm tin đúng đắn giống như một người bạn tốt. Nó là một phẩm chất của người có đạo đức.

  Thế nào là niềm tin giống như bàn tay

Bàn tay là bộ phận hữu dụng nhất trong cơ thể của chúng ta. Nó có thể chùi sạch bụi bẩn và được xử dụng để bài trí, xếp đặt lại những gì không đẹp mắt. Nó gìn giữ những gì có giá trị và hữu dụng. Tương tự như vậy, nếu có niềm tin đúng đắn, bạn cũng sẽ trở nên hữu dụng như bàn tay. Bạn sẽ có khả năng thực hiện những hành động xứng đáng bằng cách bố thí và gặt hái phước báu bố thí. Bằng cách giữ Giới, bạn có thể gặt hái được phước báu giữ Giới. Bằng cách thực hành thiền minh sát, bạn sẽ gặt hái được trạng thái phát triển của tinh thần. Đó là lý do tại sao, niềm tin đúng đắn giống như bàn tay. Nó là một phẩm chất của người có đạo đức.

                                                                                         ( Am 2 / 304).

  Thế nào là niềm tin giống như sự giàu có và 3 loại ngọc quí

 Những người giàu sẽ có thức ăn ngon, áo quần đẹp, phương tiện đi lại tốt, nhà cửa to lớn và sống rất hạnh phúc. Tương tự như vậy, những người có niềm tin đúng đắn có thể tận hưởng được hạnh phúc trên cõi trần gian và cõi trời bằng cách bố thí và giữ Giới. Bằng cách thiền định, họ có thể đạt tới cõi trời Phạm Thiên và được hạnh phúc. Đó là lý do tại sao, niềm tin đúng đắn giống như 3 loại ngọc quí và sự giàu có. Nó là một phẩm chất của người có đạo đức. ( Sam 1 / 216 )

 Thế nào là niềm tin giống những hạt giống tốt

 Hạt giống tốt có 2 chức năng, mỗi khi được gieo xuống đất nó sẽ mọc rễ và đâm chồi nảy nhánh. Với 2 chức năng này, hạt giống tốt sẽ trở thành một cái cây. Sau đó cây này sẽ cho hoa và quả. Tương tự như vậy, những người có niềm tin đúng đắn có thể giữ Giới vững chãi giống như rễ cây bám chặt vào lòng đất. Họ cũng sẽ có khả năng thiền định và thiền tuệ giống như việc cây đâm chồi nảy nhánh. Với phẩm hạnh giữ Giới, thiền định và thiền tuệ thích đáng, họ có thể gặt hái được Niết Bàn giống như cây cho hoa và quả. Vì vậy, niềm tin đúng đắn giống như hạt giống tốt. Nó là một phẩm chất của người có đạo đức. Theo cách này, niềm tin đúng đắn giống như một người bạn tốt, bàn tay, của cải, sự giàu có, các loại ngọc quí và hạt giống tốt. Niềm tin đúng đắn là một phẩm chất cao thượng của người có đạo đức. Nó sẽ tạo nên một nền tảng để vun trồng và gặt hái phước báu. Niềm tin đúng đắn giúp chúng ta đạt tới nhàn cảnh và nhận thức được Niết Bàn hạnh phúc. 

  - Giữ Giới

 Biết giữ gìn 5 Giới ( không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không xử dụng các chất say), biết giữ gìn 8 giới và 9 giới… là có Giới luật. Những người giữ Giới vững chãi sẽ có được 5 lợi ích sau đây :

 a. Kiếm được của cải và sự giàu có một cách dễ dàng

 b. Có tiếng tốt và được nhiều người biết đến

 c. Luôn luôn được hạnh phúc vì có địa vị xã hội cao

 d. Khi sắp chết được thấy các dấu hiệu tốt và được chết trong bình yên

 e. Được tái sanh lên cõi trời

  Những người thực hành thiền cần phải giữ Giới và chỉ khi đã giữ Giới một cách trong sạch thì họ mới có thể định tâm được. Khi bạn đã gặt hái được trạng thái định tâm thì từ đó, thiền minh sát mới có thể phát triển được.

Khi đã trở nên hoàn thiện trong việc thực hành thiền minh sát, bạn mới có thể đạt tới Chánh Đạo và gặt hái Quả Tuệ. Khi đã có Chánh Đạo và Quả Tuệ, bạn mới có khả năng đạt tới Niết Bàn. Vì vậy, Giới luật là nhân tố căn bản để đạt tới Niết Bàn. Nó là một phẩm chất của người có đạo đức.

  -  Biết hổ thẹn khi đã lỡ phạm những hành động xấu xa tội lỗi

 Khi đã lỡ phạm một trong những điều sau : Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, xử dụng các chất say, nói lời vu khống phỉ báng, xử dụng ngôn ngữ lỗ mãng và lăng mạ, nói lời chia rẽ bất hoà,  nói lời phù phiếm vô nghĩa… việc đầu tiên là bạn phải biết thừa nhận lỗi lầm của mình, mang tâm hối cải và tìm mọi cách để xám hối hay chuộc lỗi để từ bỏ những điều đó… Đây chính là sự biết hổ thẹn với 10 hành động xấu xa tội lỗi.

 - Biết sợ hãi những hành động xấu xa tội lỗi

 Biết tiên liệu, đề phòng, kiêng cữ và xa lánh việc sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời chia rẽ bất hoà, nói lời vu khống phỉ báng, xử dụng ngôn ngữ lỗ mãng và lăng mạ, nói lời phù phiếm vô nghĩa…là biết sợ hãi các hành động xấu xa tội lỗi.

  -  Sự khác biệt giữa Hiri và ottappa ( Biết hổ thẹn và sợ hãi những hành động xấu xa tội lỗi )

 Một người có đạo đức tự lý lẽ với chính mình : “ Tôi là con cháu hậu duệ của những người cao quí và dũng cảm, có tâm hồn trong sáng và cao thượng, có học vấn và có tri thức. Tôi sẽ không thích hợp với những hành động xấu xa tội lỗi”. Vì vậy, đôi khi đã lỡ phạm một điều gì xấu xa, anh ta liền tự nhận ra lỗi lầm của chính mình. Mang tâm hối cải, anh ta tìm mọi cách để xám hối hay chuộc lỗi và từ bỏ những điều ấy. Đó chính là Hiri.  Một người có đạo đức tự lý lẽ với chính mình : “ Tôi kinh tởm và coi khinh những hành động xấu xa tội lỗi của chính tôi và của những người khác. Tôi sợ sự trừng phạt của pháp luật và nhà cầm quyền. Tôi sợ hãi hiểm nguy của địa ngục. Vì vậy, tôi rất sợ những hành động xấu xa tội lỗi. Đó là ottappa . Theo cách này thì Hiri khác với ottappa. Hiriottappa là nguyên nhân dẫn đến khả năng giữ Giới vững vàng. Giới luật là nguyên nhân dẫn đến trạng thái định tâm. Trạng thái định tâm là nguyên nhân dẫn đến thiền minh sát. Thiền minh sát là nguyên nhân dẫn đến Chánh Đạo và Quả Tuệ. Theo cách này, Hiriottappa là nguyên nhân từng bước dẫn đến Chánh Đạo và Quả Tuệ. Chúng là những phẩm chất của người có đạo đức.

  -  Có kiến thức haysự hiểu biết ở đây nghĩa là :

 Học tập Tam Tạng Kinh Điển hay những lời thuyết Pháp của Đức Phật và hiểu được chúng. Chỉ khi đã lãnh hội được Tam Tạng Kinh Điển, bạn mới có khả năng thực hành chúng một cách đúng đắn. Chỉ khi đã có khả năng thực hành những lời thuyết Pháp của Đức Phật một cách đúng đắn thì lúc đó, bạn mới thu được những lợi ích cho đến khi đạt tới Niết Bàn mong muốn. Đó là lý do tại sao, việc có kiến thức hay sự hiểu biết ( Suta hoặc Ñāna – knowledge) là một phẩm chất của người có đạo đức. Ngày nay, những Phật tử nào biết học tập và hiểu được Tam Tạng Kinh Điển là những người có kiến thức. Nếu không học tập Tam Tạng Kinh Điển thì bạn sẽ không có kiến thức. Vì vậy, bạn sẽ không thể hiểu được bản chất tự nhiên của pháp ( chữ pháp ở đây có nghĩa là vạn hữu - ND). Mặt khác, bạn có thể giải thích sai về bản chất của các sự vật và hiện tượng trong đời sống.Những người không học Vi Diệu Pháp ( Abhidhamma – Giáo Lý Cao Siêu) có thể có những quan điểm hay quan kiến lầm lạc. Ví dụ khi nghiên cứu, phiên dịch Kinh Điển hay làm thông dịch viên trong các trung tâm thiền…người ta có thể lẫn lộn  giữa từ Macchariya ( tính bủn xỉn, hám lợi – Stinginess or Avarice) với từ Kukkucca

 ( lầm lạc – Wrong ), từ Issa ( tính ghen tị - jealousy) với từ Macchariya

Thay vì xử dụng từ Macchariya người ta lại xử dụng từ Kukkucca, thay vì xử dụng từ Issa người ta lại xử dụng từ Macchariya… Từ đó, có thể dẫn đến nhiều sai lầm đáng tiếc. Thậm chí, gây ra hậu quả nghiêm trọng trong quá trình học tập và thực hành Phật Pháp. Tính ghen tị ( Issa – jealousy) phải được loại bỏ bằng thái độ vui vẻ trước hạnh phúc của người khác ( tức thái độ hoan hỷ - Mudità – Sympathetic Joy), tính bủn xỉn ( Macchariya – stinginess) phải được loại bỏ bằng tâm từ bố thí ( Mettādāna – Kindness). Tâm lo lắng về những hành động xấu xa mà mình có thể phạm phải cũng như những hành động xấu xa mà mình đã thực hiện phải được loại bỏ bằng cách thực hành thiền địnhthiền tuệ.

  - tính hào phóng và hay bố thí nghĩa là :

 Biếu tặng quà cho cha mẹ và người thân, bố thí những nhu cầu thiết yếu cho người nghèo, dâng cúng tứ vật dụng cho Tăng Già, Tỳ kheo Ni và những người có đạo đức…Những người bố thí đúng đắn sẽ có được 5 lợi ích :

 a. Được nhiều người khác yêu mến và tôn trọng

 b. Được tiếp xúc với những người có đạo đức

 c. Có tiếng tốt và được nhiều người biết đến

 d. Luôn luôn hạnh phúc vì có địa vị xã hội cao và có tứ vật dụng đầy đủ trong cuộc sống hiện tại ở thế gian để xử dụng.

 e. Sau khi chết sẽ được tái sanh vào cõi trời

 Những người bố thí cũng gặt hái được 5 điều lợi ích khác :

 a. Sống lâu

 b. Có diện mạo xinh đẹp

 c. Được hạnh phúc trong đời sống vật chất và tinh thần

 d. Được nhiều người quan tâm chăm sóc và phục vụ

 e. Có nhiều quyền hạn để hưởng được 5 lợi ích này

Tóm tắt: Được sống lâu, có diện mạo xinh đẹp, hạnh phúc, được nhiều người quan tâm chăm sóc và phục vụ, có nhiều quyền hạn là 5 lợi ích do tâm hào phóng và thực hành bố thí mang lại.

  Khi đang ở trong Tăng Đoàn như một Tỳ Kheo, những người có tâm hào phóng và hay bố thí cũng có được 5 lợi ích sau :

 a. Có nhiều y phục

 b. Được dâng cúng tứ vật dụng dồi dào và phong phú

 c. Có nhiều tu viện hay tịnh xá

 d. Có nhiều thuốc chữa bệnh và nhiều nhu cầu thiết yếu khác

 e. Được các Tỳ Kheo khác yêu mến và kính trọng

 Bởi vì có tâm hào phóng và hay bố thí, bạn sẽ có được một tâm trí sáng suốt khi thực hành thiền, gặt hái được Chánh Đạo, Quả Tuệ. Nhờ đó, bạn sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng một cách nhanh chóng. Đó là lý do tại sao bố thí là một phẩm chất của người có đạo đức.

 - Nhận biết được chân lý hay có trí tuệ nghĩa là :

 Biết được nguyên nhân nào dẫn đến khổ đau và nguyên nhân nào không dẫn đến khổ đau, nguyên nhân nào dẫn đến hạnh phúc và nguyên nhân nào không dẫn đến hạnh phúc. Biết được cái gì mang lại ích lợi cho cuộc sống hiện tại và cái gì không, biết được cái gì mang lại ích lợi cho những kiếp sống ở tương lai và cái gì không. Những sự hiểu biết này chính là trí tuệ. Một người cao quí cần phải có trí tuệ, nhận biết được trạng thái đang khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng ( Udayabbaya ). Những đức hạnh riêng mà một người có đạo đức cần phải có là Pannà Kammassakkata ( Trí tuệ chăm lo -  Understanding to look after). Trí tuệ chăm lo nghĩa là trí tuệ để nhận biết rằng nghiệp chỉ là tài sản riêng của mỗi người, người nào nghiệp đó không thể lẫn lộn. Thậm chí, trong cuộc sống này, bạn cũng  không thể loại bỏ được những cái đáng ghét như lũ lụt, hoả hoạn, bạo chúa, kẻ cướp… Bạn cũng không thể nắm giữ hay kiểm soát được những cái ấy trong những kiếp sống ở tương lai, dù là bằng cách nào đi nữa. Đó là lý do tại sao, của cải và sự giàu có không phải là của riêng bạn, chúng là của chung. Hành động bố thí, giữ Giới mà bạn đã thực hiện sẽ trở thành phước báu chỉ khi những hành động đó có khả năng mang lại những lợi ích cho chính bạn trong một chuỗi sống ( gồm nhiều kiếp sống) cho tới khi đạt được Niết Bàn. Bạn cần phải có trí tuệ chăm lo để nhận biết được những phẩm hạnh xứng đáng mà mình đã thực hiện là tài sản riêng của mình. Bạn thực hiện những điều cao quí đó cho chính mình chứ không phải cho một ai khác. Người có trí tuệ chăm lo và có thực hành thiền minh sát một cách đúng đắn sẽ gặt hái được Niết Bàn thông qua Chánh Đạo và Quả Tuệ đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật mà anh ta mong muốn. Đó là lý do tại sao, trí tuệ là một phẩm chất của một người có đạo đức. Những ai đã gặt hái được 7 phẩm chất hay tính cách của một người có đạo đức, có thực hành thiền minh sát thì họ sẽ gặt hái được Niết Bàn thông qua Chánh Đạo và Quả Tuệ đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính họ. Những người nào có cha mẹ, tổ tiên là những người có đạo đức đáng kính muốn gặt hái được Niết Bàn thông qua Chánh Đạo và Quả Tuệ thì phải thực hành thiền minh sát một cách đầy đủ, trọn vẹn để gặt hái được 7 phẩm chất hay tính cách của một người có đạo đức. Họ cũng cần phải tìm cách kết giao với những người có đạo đức để học tập và có được 7 phẩm chất hay tính cách tốt đẹp, cao thượng đã nêu ở trên.

     

                                    Sáu loại bố thí

  

 Những người Phật tử thường mong muốn có được thật nhiều phước báu. Họ tin tưởng rằng phước báu là một sự thật đáng tin cậy. Bởi vì có niềm tin như vậy, họ đã cố gắng gặt hái cho được những phước báu bố thí, giữ Giới, tham thiền… Họ liên tục thực hiện những hành động bố thí, nhất là để phù hợp với câu nói : “ Bố thí và tục thảy nước cúng luôn luôn hiện hữu trên bàn tay”. Họ cũng mong muốn nhận biết được sự lợi ích của nhiều kiểu bố thí mà họ đã và đang thực hiện. Đó là lý do tại sao, Đức Phật đã thuyết về 6 loại bố thí và 6  lợi ích khi Ngài đáp ứng lời thỉnh cầu được nghe Pháp của một vị trời nọ :

 1. Người bố thí thường có thói quen dâng cúng vật thực, trái cây, bánh ngọt và các món tráng miệng khác sẽ gặt hái được lợi ích là sức mạnh và năng lượng.

 2. Người bố thí bằng cách dâng cúng y phục sẽ gặt hái được lợi ích là có được diện mạo xinh đẹp.

 3. Người bố thí bằng cách dâng cúng các loại phương tiện đi lại sẽ gặt hái được lợi ích là được hạnh phúc trong đời sống vật chất và tinh thần.

 4. Người bố thí bằng cách dâng cúng ánh sáng sẽ gặt hái được lợi ích là có được thị lực tốt.

 5. Người bố thí bằng cách dâng cúng các tu viện hay tịnh xá sẽ gặt hái được 4 lợi ích trong cuộc sống hiện tại.

 6. Người bố thí hay dâng cúng Pháp bằng cách thuyết Pháp, ấn tống các loại sách nói về Phật Pháp… sẽ đạt tới Niết Bàn. Đức Phật đã thuyết Pháp rằng, họ có thể gặt hái được những lợi ích nói trên nhờ vào việc bố thí và cúng dường cao thượng.

  -  Lợi ích của việc bố thí hay dâng cúng vật thực là gặt hái được sức mạnh và năng lượng dồi dào

  Đức Phật đã nói rằng, người gặt hái được lợi ích là sức mạnh và năng lượng dồi dào bằng cách cúng dường vật thực, trái cây, bánh ngọt và các loại tráng miệng khác có nghĩa là : Ví dụ một người không có thức ăn để xử dụng trong 2 hay 3 ngày liên tiếp, người này sẽ trở nên yếu sức và không còn năng lượng để thực hiện nghĩa vụ của mình hay những gì mà anh ta phải làm. Một người bố thí hay dâng cúng vật thực, trái cây, bánh ngọt và nhiều thứ tráng miệng khác tức là người đó đã bố thí sức mạnh và năng lượng. Vì vậy, anh ta sẽ gặt hái được sức mạnh và năng lượng dồi dào trong mọi kiếp sống. Đức Phật đã thuyết trong Kinh Vật thực

( Bhojana Sutta) về 5 lợi ích mà một thí chủ thực hành bố thí bằng cách dâng cúng vật thực và các món tráng miệng có thể gặt hái được trong mọi kiếp sống :

 1. Được sống lâu

 2. Có diện mạo xinh đẹp

 3. Được hạnh phúc trong đời sống vật chất và tinh thần

 4. Có được sức mạnh và năng lượng

 5. Có được kiến thức và sự thông thái

  Thí chủ này có được 5 lợi ích trên bởi vì đã thực hiện việc bố thí bằng cách dâng cúng chứ không phải van xin hay cầu nguyện mà có. ( Am 2 / 35)

 - Lợi ích của việc dâng cúng y phục là gặt hái được diện mạo xinh đẹp :

 Lợi ích của việc bố thí hay dâng cúng Y phục là gặt hái được diện mạo xinh nghĩa là : Mặc dù một người có diện mạo đẹp đẽ. Tuy nhiên áo quần của anh ta cũ kỹ, bẩn thỉu và rách rưới thì diện mạo của anh ta trông cũng không được đẹp cho lắm và ít được người khác chú ý đến. Nếu một người không có diện mạo xinh đẹp nhưng khi anh ta mặc áo quần đẹp đẽ thì tự nhiên diện mạo của anh ta trông sẽ bảnh bao hơn là khi mặc áo quần rách rưới và bẩn thỉu. Đó là lý do tại sao, khi bố thí y phục thì bạn sẽ gặt hái được diện mạo xinh đẹp trong mọi kiếp sống. Trong nhiều Kinh khác, Đức Phật cũng có nói đến những điều nên làm và không nên làm khi bố thí hay dâng cúng vật thực để có thể gặt hái được lợi ích là có diện mạo xinh đẹp như sau :

 a. Phải chuẩn bị và nấu nướng những loại vật thực thích hợp để bố thí hay dâng cúng cho Tăng già.

 b. Bố thí hay dâng cúng y phục, trang hoàng tu viện hay tịnh xá, chùa và ảnh tượng Đức Phật.

 c. Quét dọn và làm vệ sinh môi trường sống.

 d. Tránh tình trạng nóng giận hay điên tiết khi làm những việc trên.

 Nếu làm được như vậy, người ta sẽ gặt hái được những lợi ích là có được diện mạo xinh đẹp trong mọi kiếp sống.

 - Bố thí các phương tiện đi lại sẽ gặt hái được hạnh phúc thể xác và tinh thần

Một người đang du hành trên đường xa mà không có các phương tiện đi lại như xe Honda, xe hơi, dù che, giày dép,… sẽ bị mưa nắng làm cho hao mòn sức khoẻ và năng lượng. Người đó sẽ bị nhiều khổ sở. Ngược lại, một người khác cũng đang du hành trên đường xa nhưng anh ta có đủ các phương tiện nói trên thì dĩ nhiên anh ta sẽ được hạnh phúc. Đó là lý do tại sao, khi  bố thí các phương tiện trên thì bạn sẽ gặt hái lợi ích là được hạnh phúc trong đời sống vật chất và tinh thần. Trong các loại phương tiện, các Tỳ Kheo và những người mới xuất gia không được xử dụng các loại xe do súc vật kéo như :  Xe bò, xe ngựa, xe voi… Họ chỉ có thể xử dụng các loại xe được điều khiển bằng máy. Bố thí dù che, giày dép, gậy chống để đi đường, thuyền, xe Honda, làm và sửa chữa cầu đường, cầu thang…để các Tỳ Kheo di chuyển nói chung là bố thí hay dâng cúng các phương tiện đi lại. Đó là lý do tại sao, những người bất hạnh trong đời sống vật chất và tinh thần do bị bệnh tật hành hạ hay nhiều nguyên nhân khác phải nên thực hành bố thí bằng cách cúng dường các phương tiện nói trên . Đưa đón các Tỳ Kheo, người già, người bệnh bằng thuyền, tàu thuỷ, xe Honda và xe hơi… cũng được gọi là bố thí bằng cách dâng cúng các phương tiện đi lại.

  - Lợi ích của việc bố thí hay dâng cúng ánh sáng là gặt hái được thị lực tốt :        

Một người có thị lực tốt nhưng khi trời đang tối thì người đó cũng không thể nhìn thấy những đối tượng mà mình mong muốn như : Các tu viện hay tịnh xá, các ảnh tượng Phật và các ngôi chùa… Chỉ khi trời sáng thì người đó mới có thể nhìn thấy các đối tượng trên và nhận biết được những đối tượng này. Đó là lý do tại sao, người bố thí ánh sáng sẽ gặt hái được thị lực tốt. Người có thị lực kém cần phải biết bố thí bằng cách dâng cúng những loại ánh sáng cho các tu viện hay tịnh xá, cho các ảnh tượng Phật và các ngôi chùa. Người này có thể bố thí đèn huỳnh quang, đèn bóng dây tóc Tungsten, đèn compact, đèn sáp thơm, đèn thắp dầu hoả… Những người mong muốn có được thiên nhãn thông ( khả năng thị lực phi thường có thể nhìn xuyên vũ trụ và nhiều kiếp sống – Dibbacakkhu Abhinnanā – Devine eye), có thể nhìn thấy được các vật thể cực kỳ bé nhỏ, các vật ở khoảng cách rất xa, có thể nhìn thấy cuộc sống của Chư Thiên, địa ngục… thì những người đó phải thực hành bố thí bằng cách dâng cúng ánh sáng.

 - Người dâng cúng các tu viện hay tịnh xá sẽ gặt hái được 4 lợi ích trong kiếp sống hiện tại nghĩa là :

 a. Một người đang du hành trên đường xa bị đói khát, anh ta mất hết năng lượng và kiệt sức. Khi bước chân vào một tu viện, anh ta có thể nằm xuống đó nghỉ ngơi dưỡng sức và hồi phục năng lượng. Đó là lý do tại sao, người dâng cúng các tu viện hay tịnh xá sẽ gặt hái được lợi ích là năng lượng.

 b. Một người đang du hành trên đường xa tại một nơi có khí hậu khắc nghiệt như : Nắng to và gió khô làm nhiệt độ không khí tăng cao… thì anh ta sẽ trở nên bị xạm nắng. Diện mạo của người này trông thật xấu xí và đáng sợ. Lúc này, nếu người này được vào một tu viện hay tịnh xá, đóng của lại và nghỉ ngơi thì anh ta sẽ trở nên bảnh bao trở lại. Đó là lý do tại sao, người dâng cúng các tu viện hay tịnh xá sẽ gặt hái được lợi ích là có được diện mạo xinh đẹp trong mọi kiếp sống.

 c. Người không có các tu viện hay tịnh xá để trú thân nên phải sống ngoài trời. Người này sẽ phải chịu nhiều đau khổ về thể xác và tinh thần, bởi vì có thể bị ruồi muỗi cắn chích. Anh ta cũng phải chịu đựng cái lạnh và nóng khiết nghiệt của thời tiết. Người được sống trong tu viện hay tịnh xá sẽ thoát khỏi buồn khổ và được hạnh phúc. Đó là lý do tại sao, người bố thí các tu viện hay tịnh xá sẽ gặt hái được hạnh phúc về thể xác và tinh thần trong mọi kiếp sống. Anh ta sẽ được học tập Kinh Điển trong một tu viện hay tịnh xá an toàn, được hạnh phúc về mặt thể xác và tinh thần. Vì vậy, việc học của anh ta sẽ được tập trung hơn và có sự tiến bộ một cách nhanh chóng. Người thực hành thiền Minh sát trong một tu viện hay tịnh xá sẽ được an toàn, bởi vì tu viện hay tịnh xá thường sạch sẽ, ngăn nắp. Nhờ đó, người này sẽ gặt hái được nhiều niềm vui ( Piti – joy). Niềm vui sẽ dẫn đến trạng thái hạnh phúc về thể xác và tinh thần. Hạnh phúc ( Sukha – Happiness) sẽ dẫn đến trạng thái định tâm ( Samādhi – Calmness). Trạng thái định tâm sẽ dẫn đến khả năng minh sát tuệ. Minh sát tuệ sẽ dẫn đến khả năng nhận biết nguyên nhân và tác động của vật chấttinh thần ( Rūpa và Nāma – Physical and spirits). Khi thiền minh sát trong một người đã được hoàn thiện, người này sẽ đạt tới Niết Bàn thông qua sự hiểu biết về Chánh Đạo và Quả Tuệ.

 d. Một người đang du hành trên đường xa, nơi mà nắng và gió cực kỳ nóng nực, mắt của anh ta sẽ bị khô, mờ đi và đau nhức. Khi có dịp ghé lại một tu viện an toàn để nghỉ ngơi thì mắt của anh ta sẽ trở nên tốt và sáng trở lại. Vì vậy, người dâng cúng các tu viện hay tịnh xá sẽ gặt hái được lợi ích là có được một thị lực tốt.

 - Bố thí bằng cách thuyết Pháp sẽ gặt hái được lợi ích là đạt tới Niết Bàn nghĩa là :

Những người ít khi có cơ hội được lắng nghe thuyết Pháp sẽ không có niềm tin vững chãi để có thể thực hành bố thí, giữ Giới, thực hành thiền định và thiền minh sát.Vì vậy, họ sẽ không gặt hái được Niết Bàn. Chỉ khi thường xuyên có được cơ hội để lắng nghe thuyết Pháp, người ta mới có thể thực hiện bố thí, giữ Giới, thực hành thiền định và thiền minh sát. Từ đó, họ sẽ có khả năng đạt tới Niết Bàn. Vì vậy, những người thực hành bố thí bằng cách thuyết Pháp sẽ đạt tới Niết Bàn. Khi một người có khả năng thuyết Pháp và mong muốn được làm điều đó thì người này không cần phải có 100 hay 1000 người lắng nghe họ. Trong các sách chú giải Kinh Điển Pāli có dạy rằng : “ Khi có bất cứ người nào đến hỏi điều gì có liên quan đến bản chất của Pháp mà họ không biết thì những người có khả năng thuyết Pháp phải trả lời cho họ được rõ, chỉ ra cho họ những đề mục để thực hành thiền, sắp xếp thời gian để thuyết Pháp cho họ nghe”. Đó là những giá trị có thể giúp cho những người lắng nghe thuyết Pháp có thể đạt tới Niết Bàn. Những người lớn tuổi hay cha mẹ…thường khuyên nhủ và dạy bảo con cháu của họ:   “Đừng sát sanh, nếu sát sanh thì các con sẽ bị đoản thọ. Nếu không sát sanh thì các con sẽ được trường thọ”. Lời dạy như vậy cũng được xem như là thuyết Pháp và cũng có giá trị giúp cho người lắng nghe lời dạy đó có thể đạt tới Niết Bàn.

Tóm tắt: Sát sanh sẽ dẫn đến đoản thọ, không sát sanh sẽ dẫn đến trường thọ.

Đừng trộm cắp tài sản của người khác, nếu trộm cắp tài sản của người khác thì các con sẽ nghèo túng và khó tìm kiếm của cải. Nếu không trộm cắp thì các con sẽ có nhiều của cải.

Tóm tắt: Trộm cắp sẽ làm cho các con khó tìm kiếm của cải, nếu không trộm cắp thì các con sẽ có nhiều của cải.

 Đừng tà dâm với người khác, nếu làm như vậy mọi người sẽ ghét bỏ các con. Nếu không tà dâm thì các con sẽ được mọi người yêu mến.

Tóm tắt: Tà dâm sẽ bị mọi người ghét bỏ, nếu không tà dâm sẽ được mọi người yêu mến.

Đừng nói dối, nếu nói dối thì mọi người sẽ không lắng nghe các con và sẽ trở nên chống đối các con.

Tóm tắtKhi nói dối thì ngôn ngữ không được đúng đắn, nếu không nói dối thì ngôn ngữ sẽ trở nên đúng đắn.

Đừng xử dụng các chất say, nếu xử dụng các chất say thì tinh thần của các con sẽ bị tán loạn. Các con sẽ trở nên giả mạo trong lối sống do ảnh hưởng của ảo giác. Các con sẽ tối dạ, đần độn và không thể học tập được gì cả. Nếu không xử dụng các chất say, các con sẽ có trí nhớ tốt, thông minh và học được mọi thứ một cách nhanh chóng.

Tóm tắt: Xử dụng các chất say sẽ làm cho lối sống trở nên giả mạo, nếu biết tránh xa các chất say thì sẽ có trí nhớ tốt và thông minh.

 Khuyên nhủ và dạy bảo con cháu như vậy cũng là một cách thuyết Pháp để giúp cho chúng có thể đạt tới Niết Bàn.

                                                      

                                         Kết thúc

  

 Cuốn Pháp Như Ý này là cốt tuỷ của Tam Tạng Kinh Điển được trích dẫn từ các sách chú giải Kinh Điển Pāli . Mọi thiện nam tín nữ đều có thể đọc, học tập, đàm đạo và thực hành theo sách này. Những điều cao quí mà sách này chứa đựng có thể giúp cho quí độc giả gặt hái được nhiều lợi ích trong cuộc sống ở thế gian và xuất thế gian cho đến khi đạt tới Niết Bàn.Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !

                     

                        Tập I của cuốn Pháp Như Ý kết thúc tại đây.                 

  

                       

 

                       Danh sách các thí chủ hùn phước để ấn tống

                    cuốn Pháp Như Ý ( bản tiếng Anh - tập 1 )

 

   Úc Đại Lợi  ( Australia )

 1. Sandra Piggott

   Đức quốc  ( Germany )

 2. Kusala Sari ( Marion Gehring )

   Hàn quốc  ( Korea )

 3. Park Saeng Yeob

 4. Kwun Po Keum

 5. Tỳ-kheo Wom Dam ( Bhikkhu Wom Dan)

 6. Tỳ-kheo ni Hye Youn ( Bhikkhuni Hye Youn)

 7.  Park Youn

 8. Park Dal Heung

 9. Park Hyun Jin

10. Park Bok Heung

11. Park Jeong Sim

12. Tỳ-kheo ni Duk Hyung ( Bhikkhuni Duk Hyung )

13. Tỳ-kheo ni Hye Song ( Bhikkhuni Hye Song)

14. Tỳ-kheo ni Soo Jung  ( Bhikkhuni Soo jung )

15. Tỳ-kheo ni Dae Sung  ( Bhikkhuni Dae Sung )

16. Samini Myung O

17. Samini Ill Hee

18. Park Dal Sik

19. Park Jin Jye

20. Jung Hye Chang

21. Park Kyung Hee

22. Park Hye Jin

23. Bo Moon Haeng

24. Park Seon Young

25. Park Soon Yee

26. In Soon

27. Kim Soon Yee

28. Jo Ba

29. Nam Ji Sim

30. Im Young Soo

31. Jeong Seung Yuon

32. Im Un Woo

33. Im joon Sang

34. Pyung Deung Haeng

35. Park Jong Hoon

36. Lee Lae Un

37. Jang Chang Ho

38. Park Gyun Hyun

39. Tỳ kheo Hye Joe

40. Ko Yunok

41. Lee Sin Hee

42. Kim Ju

43. Lee Sin Hee

44. Choi Sook

45. Lee In Hee

46. Jun Seung Pyung

47. O Chung Ung

48. Lee Ho Soung

49. Tỳ kheo ni Sang Jock ( Bhikkhuni Sang Jock)

50. Lee Hye Kyung

51. Kim Han Sool

52 . U Kyaw Lwin

 Ý Đại Lợi   ( Italy )

53. Daniela Morando

 Miến Điện   ( Myanmar)

54. Tiến sĩ Than Than Nyein

55. Thạc sĩ  Moe Myat Aung

56. Daw Thein New

57. Daw Hla Mra

58. U Thein Maung và Daw Saw Yu Khaing

59. Daw Win Win Thu

60. Daw Than

  Thuỵ sĩ  ( Switzerland)

61. Trần Thị Tri

  Vương quốc Anh ( U.K – United Kingdom)

62. Ryan A. Myint

  Mỹ Quốc  ( U.S.A – United States of American)

63. Subasi ( Hà Trương Thành )

64. Cassidy Trager

 Cầu chúc cho những thí chủ đã hùn phước để xuất bản cuốn Pháp Như Ý ( bản tiếng Anh - tập 1) được hoan hỷ với những hành động xứng đáng và hào phóng của họ. Cầu chúc họ đạt sẽ tới Niết Bàn và đoạn tận được tất cả những nổi khổ đau. Lành thay !

                            

 

 

 

 

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                               

Tác giả bài viết: Admin

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

top

Những tin cũ hơn

top