Pháp Bảo (Tập 2)

Thứ năm - 20/02/2014 09:00
Pháp Bảo (Tập 2)

Pháp Bảo (Tập 2)

Pháp Bảo (Tập 2)

Tác giả:     Ngài Kundalābhivamsa

Biên tập:   Hội đồng biên tập trung tâm thiền Saddhammaramsī

Xuất bảnLt.Col Tin Aung ( Retd – 03366), Saddhammaramsi Sapei, No. 7, Zeyarkhemar Street, Mayangone Township, Yangon, Myanmar

Nguyên bản tiếng Miến Điện  :  Dhamma Padetha

Dịch sang tiếng AnhTiến sĩ Kay Mya Yee

Dịch sang tiếng Việt từ bản tiếng Anh:  Phạm Xuân Quang ( 2012)

                                   Địa chỉ :  24 A Kiệt 257 Chi Lăng – Huế- Việt Nam                

                                   Telephone0542460293

                                    Mobilephone: 0948753810

                                    Email : sachthienhaiau@yahoo.com.vn

 

                                               Mục lục

-   Lời giới thiệu

-   Công nhận của dịch giả

1. Bốn kiểu giữ Giới trong ngày lễ Bố-Tát ( Uposatha)

 -  Bốn cách thức giữ Giới

 -  Thiền định

 -  Thiền minh sát

 2. Hành động và kết quả

 -   Bảy vấn đề

 -   Giải thích đầy đủ về 7 vấn đề

 3. Những điều chậm rãi và nhanh chóng cần thực hiện

-    Những điều chậm rãi cần thực hiện

 -   Những điều nhanh chóng cần thực hiện

 4. Lời nguyền chân thật : Tốt và xấu

 -   Lời nguyên chân thật và kết quả tốt

 -   Lời nguyền chân thật và kết quả xấu

 5. Hành động phước thiện

 - Ba kiểu hành động phước thiện

 - Bốn mươi hành động phước thiện

 - Những lợi ích của bố thí

 - Những lợi ích của việc giữ Giới

 - Những lợi ích của việc tham thiền

 6. Ngày của Vi Diệu Pháp

7.  Bốn Pháp ủng hộ

 -  Bốn cách thức thể hiện sự tôn trọng và ủng hộ

 8. Hạnh phúc và thịnh vượng

 -  Hạnh phúc và thịnh vượng trong kiếp sống hiện tại

 -  Hạnh phúc và thịnh vượng trong kiếp sống tương lai

9. Bảy lợi ích gặt hái được từ con đường của một Tu-Đà-Hườn

10. Tôn giả Anuruddha và Kinh Mahāvitaka

           ( 8 Pháp để đạt tới Niết Bàn) 

 -  Bảy lối tư duy

- Những  nhu cầu và sự mãn nguyện

-  Ba kiểu ẩn dật

Hai kiểu bầu bạn

Ba kiểu nổ lực

-  Ba cách thức quán niệm để vượt qua cảm thọ

11. Indriyasamvara Sutta- Kinh Thu Thúc

 -   Tỳ kheo Cittagutta

 -   Hai kiểu người

 -   Tuệ minh sát

12. Kinh Chuyển Pháp Luân

 -   Hai lối tu hành cực đoan

 -   Thực hành theo Trung Đạo

 -   Bốn Chân Lý Cao Thượng

 -   Bát Chánh Đạo và thiền minh sát

13. Ví von về sự phá vỡ vỏ trứng

14. Kinh Giới Bổn -  Sīla Sutta

   -  Bốn kiểu giữ Giới

   -  Hai kiểu định tâm

   -  Yathàbhùta Vipassanā Ñāna

   -  Balavant Vipassanā

 

                                            

 

 

                                          Lời giới thiệu

 

Những bài thuyết Pháp trình bày trong sách này đã được Ngài Saddhammaramsī đáng kính tuyển chọn từ một số bài thuyết Pháp vô giá của Ngài. Cuốn sách này bao gồm 14 bài thuyết Pháp nói về những cách thức giữ Giới, những kiến thức từ căn bản đến nâng cao dành cho những người mới tập sự thực hành Phật Pháp…Tương tự như vậy, những người có tâm hồn cao thượng mong muốn đạt tới Niết Bàn hạnh phúc cần phải thực hành Giới, Định, Tuệ. Năng lực định tâm phát triển được là nhờ vào việc giữ Giới một cách vững chãi. Khi năng lực định tâm đã phát triển một cách mạnh mẽ và trở nên chín muồi thì tâm thức của hành giả sẽ phát sanh trí tuệ. Do đó, muốn phát triển được năng lực định tâm, hành giả phải biết giữ Giới một cách thấu đáo và thực hành những Pháp thích hợp. Giới không chỉ mang lại lợi ích cho những người xuất gia mà còn tạo nên các thành tựu cho những người thế tục. Một người có giữ Giới sẽ thành công trong những công việc thuộc về kinh tế và xã hội, bởi vì anh ta được nhiều người tín nhiệm. Ngược lại, người không giữ Giới sẽ không tạo được uy tín về phương diện kinh tế và xã hội. Đó là lý do tại sao chúng ta nên hiểu biết về Giới luật và những lợi ích mà nó mang lại, đồng thời luôn thực hành những Pháp thích hợp. Giới luật dành cho những người xuất gia lẫn thế tục cũng được phân chia và giải thích một cách rõ ràng trong sách này. Sau khi đã nghiên cứu rất nhiều Giới luật mà các Tỳ kheo cần phải tuân giữ, người ta sẽ trở nên càng tôn kính họ hơn. Đấng Cao Thượng đã thuyết ra  những bài Pháp trong suốt 45 mùa mưa. Tất cả những bài Pháp này được bao gồm trong Kinh Chuyển Pháp Luân ( Dhammacakkappavattana Sutta - Bài Pháp đầu tiên mà Đấng Giác Ngộ đã thuyết cho 5 nhà tu khổ hạnh nghe, người đứng đầu là Kiều-Trần-Như - Kondaññā). Do đó, tất cả những người Phật tử nên học bài Pháp Cao Thượng này để thực hành và lãnh hội những điều cao quí mà Đức Bổn Sư đã chỉ dạy. Kinh Chuyển Pháp Luân đã được giải thích một cách rõ ràng trong cuốn sách này. Ngoài ra sách này cũng trình bày rất nhiều bài thuyết Pháp khác rất thú vị và bổ ích. Do đó, những người đọc sách này sẽ gặt hái được nhiều lợi ích để áp dụng vào cõi thế gian và xuất thế gian. Tựa đề của sách là Pháp Bảo – Dhamma Ratanā. Trách nhiệm duy nhất thuộc về người dịch nếu có gì đó sai sót trong dịch phẩm. Kính mong quí độc giả lượng tình tha thứ cho những lỗi lầm thiếu sót. Thành thật mong muốn rằng mọi người sẽ có khả năng thực hành thiền Tứ-Niệm-Xứ một cách hăng hái nhiệt tình để có thể nhanh chóng gặt hái được Đạo quả và Niết Bàn sau khi đọc cuốn Pháp Bảo – Dhamma Ratanā.

                                                                                          Mya Yee

                                                                                 Tháng 11 năm 2002

                                               

                                              Sự công nhận

 

Thành thật cám ơn những thành viên trong Hội Đồng Biên Tập Trung Tâm Thiền Saddhammaramsī ( Ngưỡng Quang – Miến Điện) đã có công xem xét và duyệt lại bản thảo của cuốn sách. Tôi xin tỏ lòng biết ơn đối với cô Daw Wynn Wynn về việc đã bền chí và kiên nhẫn đánh máy lại toàn bộ bản thảo của sách này. Đồng thời tôi cũng có lời cám ơn chân tình đối với Daw Khin Ma Lay và Daw Hla Mra về việc họ đã chịu khó đọc lại và sửa chữa bản in thử của cuốn Pháp Bảo. Cuối cùng, với tư cách đại diện cho ban biên tập, tôi xin ngõ lời cám ơn đối với tấm lòng hào phóng và rộng lượng của thí chủ Gregory.G.Y. Pai.

                                                                      Mya Yee -  Tháng 11 năm 2002

 

 

                         Bốn kiểu giữ Giới trong ngày lễ Bố-Tát

                                           ( Uposatha Sīla )

 

Đa số những người Phật tử đều tỏ ra thân thiết với nhau trong những ngày Lễ Bố-Tát ( Uposatha), còn gọi là các ngày Xa-Bát ( tức những ngày Lễ Trọng của Phật Giáo - Sabbath). Theo lời Phật dạy, những ngày mà các Phật tử thường thực hành việc giữ 8 Giới hay 9 Giới được gọi chung là ngày Lễ Bố-Tát. Thông thường, đối với những tín đồ Phật giáo thì trong một tháng âm lịch có 4 ngày Lễ Bố-Tát, đó là ngày thứ 8 trăng trònngày thứ 15 trăng tròn, ngày trăng khuyết thứ 8  (thường rơi vào ngày 23 âm lịch) và ngày trăng khuyết thứ 14 hay 15 ( thường rơi vào ngày 29 hay 30 âm lịch). Trong những ngày này, các Phật tử có thể thực hành giữ 8 hay 9 Giới. Tuy nhiên, cách thức giữ Giới của mỗi người lại khác nhau. Nói tóm lại, có tất cả 4 cách giữ Giới trong những ngày Lễ Bố-Tát.

Bốn cách giữ Giới trong những ngày lễ Bố-Tát

1. Hānabhāgiya SīlaGiữ Giới một cách vô ích

 Một người thực hành giữ 8 Giới hay 9 Giới. Trong khi đó, anh ta không nhận thức được rằng mình đã vi phạm 1 hay 2 Giới trong những Giới ấy. Người này chưa bao giờ tham gia thực hành việc giữ Giới một cách đúng đắn. Thậm chí, anh ta còn cảm thấy vui thích đối với nhiều cảm giác dễ chịu khác. Đây là một cách giữ Giới thấp kém.

Tóm tắt: Không nhận thức được những Giới luật đã vi phạm trong quá trình thực hành giữ Giới được gọi là Hānabhāgiya Sīla.

2. Thitibhāgiya Sīla – Giữ Giới một cách đơn thuần

Một người thực hành giữ Giới rất vững chãi. Tuy nhiên, anh ta không thực hành thiền định hay thiền minh sát, có trường hợp còn thực hành pháp tự hành xác. Trong quá trình thực hành giữ Giới, người này chỉ quan sát thân tâm của mình một cách cẩn thận để khỏi bị phạm Giới mà thôi. Đây cũng là một cách giữ Giới xoàng xĩnh.

Tóm tắt: Không thực hành thiền định hay thiền minh sát trong quá trình giữ Giới được gọi là Thitibhāgiya Sīla.

3. Visesabhāgiya Sīla – Cách giữ Giới có một ý nghĩa nhất định

Một người giữ Giới vững chãi bằng cách quan sát những Giới luật và có thực hành thiền định. Đây là một cách giữ Giới cao thượng.

Tóm tắt: Có thực hành thiền định khi giữ Giới gọi là Visesabhāgiya Sīla

4. Nibbedhabhāgiya Sīla – Giữ Giới một cách sâu sắc

Một người giữ Giới vững chãi và có thực hành thiền minh sát. Cách giữ Giới này là cao thượng nhất bởi vì khi giữ Giới theo cách này, hành giả có thể thấu suốt được những thứ ô nhiễm như tham lam, sân hận và vọng tưởng. Những người đang lắng nghe thuyết Pháp ngày hôm nay đều thực hành giữ Giới theo cách cao thượng nhất, bởi vì họ có thực hành thiền minh sát.

Tóm tắt: Có thực hành thiền minh sát khi giữ Giới gọi là Nibbedhāgiya Sīla

Thiền định

Thiền định cũng mang lại lợi ích. Do đó, bạn nên thực hành loại thiền này. Trong một đất nước, nhà cầm quyền xử dụng cảnh sát và quân đội để bảo vệ an ninh cho người dân và bờ cõi. Cũng thế, chúng ta nên tự mình ngăn chặn những kẻ thù nội tuyến và ngoại tuyến. Mặc dù thân thể vật chất là vô dụng và không có giá trị gì cả. Tuy nhiên, nó cũng có thể mang lại cho chúng ta những lợi ích xuất thế gian. Qua việc quan sát thân thể vật chất, bạn có thể hiểu được bản chất của các sự vật và hiện tượng. Nếu bị những kẻ thù ngoại tuyến tấn công, bạn chỉ mất một kiếp sống. Tuy nhiên, nếu bị những kẻ thù nội tuyến tấn công bằng những nọc độc như tham lam, sân hận và vọng tưởng, chúng sẽ phá hủy bạn trong nhiều kiếp sống.

Bốn Pháp cảnh giác

Những kẻ thù nội tuyến cần phải được ngăn chặn bởi 4 Pháp cảnh giác để có thể nhận thức được Niết Bàn. Bốn Pháp đó là :

a. Thực hành quán niệm những ân đức Phật – Suy niệm về những phẩm chất tốt đẹp và sự toàn giác của Đức Phật.

b. Quán niệm về tâm từ - Rải từ tâm đến với muôn loài chúng sanh

c. Quán niệm về tính nhờm gớm của tử thi – Suy niệm về tính ô trược của thân thể

d. Quán niệm về sự chết – Lập đi lập lại sự quán niệm về hiện tượng chết

- Khi vọng tưởng khởi lên trong tâm thức, bạn nên suy niệm về những phẩm chất tốt đẹp của Đức Phật. Vô minh có nguyên nhân từ quan kiến lầm lạc về cuộc sống và những thói quen trụy lạc. Nó không mang lại lợi ích gì cho cõi thế gian và xuất thế gian. Làm sao bạn có thể trông mong cho mình được thịnh vượng khi vẫn luôn luôn nhận thức sai lầm về các sự vật và hiện tượng. Bạn cũng sẽ không bao giờ gặt hái được Phật Pháp nếu vẫn còn chứa chấp những quan kiến hay quan điểm lầm lạc. Nếu vọng tưởng khởi lên trong tâm thức và tiến trình thực hành thiền không có sự tiến bộ, bạn hãy quán niệm những phẩm chất tốt đẹp và trạng thái toàn giác của Đức Phật.

- Khi sân hận khởi lên trong tâm thức, bạn hãy quán niệm tâm từ, bởi vì trạng thái tâm lý yêu thương tử tế là thuốc giải được sân hận. Sân hận giống như lửa, tâm từ giống như nước mát dập tắt được lửa.

-  Nếu tham lam và bám víu khởi lên trong tâm thức, bạn hãy quán niệm về tính ô trược của thân thể mình và những người khác. Từ đó, bạn sẽ nhận thức được rằng, không có bất cứ một cái gì trong cuộc sống này đáng để cho mình bám víu. Tất cả chúng đều là những thứ ô nhiễm và đáng nhàm chán.

- Tính tự cao ngã mạn như “ tôi có thể làm tốt hơn bạn”, “ tôi giàu có hơn bà ấy”, “ tôi có địa vị xã hội cao hơn anh ấy”…có thể xóa tan được bằng cách quán niệm về sự chết. Cái chết là một điều chắc chắn sẽ xảy ra đối với mỗi người trong chúng ta, nó có thể xảy đến trong ngày hôm nay, ngày mai hay bất cứ lúc nào chưa thể biết trước được. Khả năng nhận thức được như vậy có thể khiến cho bạn vứt bỏ tính tự cao ngã mạn. Một ngày nọ, Đấng Cao Thượng hỏi về quan điểm của các vị Tỳ-kheo về sự sống chết. Lúc đó, những vị này đang thực hành quán niệm về sự chết. Có một số Tỳ-kheo đã trả lời rằng họ sẽ cảm thấy hạnh phúc nếu được sống :

1. Một ngày và một đêm

2. Một ngày

3. Nữa ngày

4. Khoản thời gian bằng một bữa ăn

5. Khoản thời gian bằng nữa bữa ăn

6. Khoản thời gian có thể thọ dụng được từ 4 đến 5 miếng vật thực

7. Khoản thời gian có thể thọ dụng được 1 miếng vật thực

8. Khoản thời gian bằng một hơi thở vào và một hơi thở ra

Lúc đó, Đức Phật đã tán dương những người đáp rằng họ sẽ cảm thấy hạnh phúc khi được sống trong một khoảng thời gian mà người ta có thể thọ dụng một món vật thực. Ngài cũng ca ngợi những người đã đáp rằng họ sẽ cảm thấy hạnh phúc khi được sống trong một khoảng thời gian bằng một hơi thở vào và một hơi thở ra. Rải tâm từ là cách tốt nhất khiến người ta có thể thành công trong việc giữ Giới. Nó là một phương pháp quán niệm có tính hỗ tương. Phương pháp này mang lại lợi ích cho những người rải tâm từ và cả những người nhận được tâm từ. Những phương pháp quán niệm khác chỉ mang lại lợi ích cho những người thực hành chúng mà thôi.

Phát triển tâm từ để thực hiện hạnh Ba-La-Mật và phát triển thiện nghiệp

Bạn có thể rải tâm từ bằng cách mong muốn rằng hạnh phúc sẽ đến với những người mà mình kết giao và những người tình cờ gặp gỡ. Đó là tâm từ hay lòng thương yêu tử tế. Bằng nhiều cách, bạn có thể giúp cho người khác được hạnh phúc. Hy sinh xác thân của mình cho người khác được gọi là thể hiện tâm từ bằng thân xác. Bạn có thể nói với người khác bằng những lời lẽ dịu dàng, tử tế và lợi ích như : “ Nếu chú ý khi đang ăn, bạn sẽ gặt hái được Phật Pháp” hay “ Đây là cách đi bộ để nhận thức được chuyển động của bàn chân”…Như vậy là thể hiện tâm từ bằng lời nói. Đức Phật đã giải thích về 5 điều cần đạt được trong lời nói thiện lành. Những người đang lắng nghe thuyết Pháp nên thực hiện những lời nói thiện lành để mang lại lợi ích cho cộng đồng và gặt hái được thiện nghiệp.

Tóm tắt: Đức Phật đã từng khuyên chúng ta nên nói đúng thời và nói đúng sự thật với tâm hòa nhã. Nói những lời lợi ích với tâm từ.

Dưới đây là 5 điều cần đạt được khi nói năng :

1. Nói đúng thời

Ví dụ khi bạn muốn nói với một người nào đó rằng anh ta đã sai lầm. Tuy nhiên, ngay lúc đó, anh ta đang tiếp đãi một vài vị khách quí. Do đó, quí vị phải đợi đến lúc thích hợp rồi hãy nói. Nếu quí vị chỉ ra sự sai lầm của anh ta ngay trước mặt những vị khách quí kia thì không có lợi ích gì cả, quí vị không được lợi ích và anh ta cũng vậy. Anh ta sẽ nổi giận, cảm thấy xấu hổ và quí vị cũng không nhận được sự biết ơn.

2. Nói đúng sự thật

Khi muốn nói một điều gì, quí vị phải chắc chắn rằng mình sẽ nói những lời đúng với sự thật, đặc biệt là đối với những người có địa vị cao hơn mình. Người ta thường có xu hướng tâng bốc một người nào đó hơn là anh ta xứng đáng được như vậy, người ta cũng thường có xu hướng làm nhục một người nào đó hơn là nói đúng sự thật về anh ta. Do đó, chúng ta nên cẩn thận và thành thật khi nói về người khác, dù đó là những lời nói tốt hay xấu.

3. Nói lời dịu dàng êm ái                 

 Nói lời dịu dàng êm ái nghĩa là tùy theo lứa tuổi của người nghe mà xưng hô cho đúng vai vế, đại khái như “ Chị, dì, cậu”…Đối với những người đang cùng thực hành thiền với mình, cách tốt nhất bạn nên xưng hô là “ Hành giả - Yogi”. Từ “ Hành giả” có thể áp dụng trong cách xưng hô đối với tất cả những người đang thực hành sự chú ý. Nếu thấy cần nói bất cứ một điều gì, chúng ta nên có những lời nói dịu dàng êm ái như “ Đây là lý do tại sao chúng ta không nên làm như vậy”, “ bạn nên thực hành thiền minh sát bởi vì đây là một phương pháp tốt nhất để phát triển trí tuệ”…

4. Nói lời lợi ích

Nói lời lợi ích nghĩa là không nói những gì làm cho người khác cảm thấy khó chịu, bởi vì nếu nói như vậy sẽ không mang lại lợi ích cho ai cả. Người lắng nghe những lời nói khó chịu có thể sẽ nổi giận với bạn. Thậm chí, nếu thấy rằng lời nói của mình sẽ không mang lại lợi ích gì cho người khác, tốt hơn hết bạn đừng nên nói gì cả.

5. Nói với tâm từ

Nói với tâm từ là nói với lòng thương yêu tử tế. Đây cũng là cách thức để thể hiện tâm từ bằng lời nói. Bạn nên nhớ rằng 5 điều cần đạt được khi nói năng đã trình bày ở trên là do chính Đức Phật truyền bá.

Phát triển tâm từ để gặt hái trạng thái định tâm

Tóm tắt: Lúc ban đầu, bạn không nên rải tâm từ lên những bộ phận cơ thể thuộc về giới tính, người đã chết, những kẻ thù, những người xa lạ và người mà mình yêu quí nhất.

a. Những người đã chết

Tất cả chúng ta đều biết rằng rải tâm từ lên người đã chết là một điều không cần thiết, bởi vì người đã chết không thể nhận được tâm từ của chúng ta. Cách tốt nhất là chia xẻ phước báu cho họ.

b. Cũng không thích hợp chút nào khi rải tâm từ lên những bộ phận cơ thể thuộc về giới tính, bởi vì nếu người nhận tâm từ là khác phái thì người rải tâm từ sẽ phát khởi tâm ham thích và luyến ái đối với người đó.

c. Khi rải tâm từ lên những người mà mình yêu quí nhất, bạn sẽ phát khởi tâm lo âu và sầu muộn. Cả hai loại tâm này đều có nguồn gốc từ sân hận. Bạn có thể nghĩ rằng “ Liệu họ có được khỏe mạnh hay không ? Liệu họ có bị tổn hại gì không ? Liệu có điều gì không hay xảy đến với họ không ?”… Lo âu và sầu muộn là những kẻ thù của tâm từ.

d. Nếu rải tâm từ lên những người xa lạ thì bạn cũng không phát triển được tâm từ.

e. Rải tâm từ lên những kẻ thù của mình có thể làm cho bạn trở nên sân hận khi trông thấy khuôn mặt của họ trong tâm thức.

Do đó, đầu tiên bạn nên rải tâm từ lên những người nào ? Dĩ nhiên là chính bản thân bạn. Đức Phật đã chỉ ra rằng, bản thân chúng ta là người mà chúng ta yêu quí nhất. Lúc khởi sự rải tâm từ, bạn nên thực hiện điều đó với bản thân mình trước. Bạn có thể nói “ Cầu mong cho tôi thoát được những sự tổn hại. Cầu mong cho tôi thoát được những nổi khổ đau về tinh thần. Cầu mong cho tôi thoát được những khổ đau về thân xác. Cầu mong cho thân tâm của tôi được thanh thản và có khả năng chịu đựng nổi gánh nặng của cuộc sống”. Bằng cách rải tâm từ theo cách này, tâm từ đối với người khác sẽ phát triển trong tâm thức của bạn. Sau đó, bạn có thể tìm đến một nơi yên tĩnh giống như khi muốn thực hành thiền, nhắm mắt lại, chọn một tư thế thích hợp và rải tâm từ lên chính mình trước. Tiếp đến, bạn mới rải tâm từ lên những người mà mình yêu quí nhất. Khi đã gặt hái được sự định tâm, bạn hãy rải tâm từ lên những người xa lạ. Khi tâm từ đã được thiết lập và phát triển một cách vững chãi trong tâm thức, bạn bắt đầu rải tâm từ lên những kẻ thù của mình. Điều quan trọng để gặt hái được hạnh phúc trong thế gian là phải loại bỏ được tâm sân hận bởi vì nó chính là kẻ thù của tâm từ. Sân hận ở đây chính là tâm lo âu và sầu muộn. Nếu làm được như vậy thì trong những kiếp sống kế tiếp, bạn sẽ gặt hái được nhiều lợi ích. Chúng ta hãy luôn luôn thực hành việc rải tâm từ đến những chúng sanh đang sống trên 10 phương thế giới. “ Cầu chúc cho muôn loài chúng sanh trên 10 phương thế giới thoát được những sự tổn hại, cầu chúc cho họ thoát được những nổi khổ đau về tinh thần và thể xác, cầu chúc cho thân tâm của họ được thanh thản và có khả năng chịu đựng nổi những gánh nặng của cuộc sống”. Thật ra, chúng ta nên tuần tự rải tâm từ đến với từng phương trên thế giới, bắt đầu từ phương Đông. “ Cầu mong cho tất cả muôn loài chúng sanh đang sống tại phương Đông thoát được những sự tổn hại, cầu chúc cho họ thoát được những khổ đau về tinh thần và thể xác, cầu chúc cho thân tâm của họ được thanh thản và có thể chịu đựng nổi gánh nặng của cuộc sống”. Sau khi đã rải tâm từ lên những chúng sanh đang sống tại phương Đông, bạn tiếp tục tuần tự rải tâm từ đến những chúng sanh đang sống tại phương Tây, phương Bắc, phương Nam, phương Đông-Nam, phương Đông-Bắc, phương Tây-Nam, phương Dưới và phương Trên. Đây là cách rải tâm từ đến những chúng sanh đang sống trên 10 phương thế giới. Rải tâm từ trong tiến trình thực hành giữ Giới cũng mang lại lợi ích như việc thực hành thiền minh sát.

Thiền minh sát

 Bây giờ,tôi sẽ nói vắn tắt về thiền minh sát. Theo sự hướng dẫn của Ngài Đại Đức Tăng Thống Mahāsī thì hành giả nên tìm đến một nơi yên tĩnh, chọn cho mình một tư thế thực hành thiền thích hợp, hai mắt nhắm lại, giữ lưng và đầu nằm trên một đường thẳng, tâm trí đặt trên thành bụng. Hành giả thực hành sự chú ý một cách chính xác và liên tục để nhận biết “ tiến trình đang phồng lên” và “ tiến trình chuyển động đang xẹp xuống” của bụng, đừng để cho tâm trí bị lang thang vô định. Hành giả không cần chú ý đến hình dáng bên ngoài của bụng, chỉ cần chú ý để nhận biết cảm giác căng cứng khi bụng đang dần dần phồng lên. Tiếp đến, hành giả luân phiên chú ý đến “tiến trình chuyển động đang xẹp xuống của bụng” khi bụng đang xẹp xuống do ảnh hưởng của yếu tố chuyển động. Trong thiền minh sát, hành giả chỉ quan sát để nhận biết được thực tại cùng tột – Paramattha, không cần lưu tâm đến thực tại qui ước – Paññatti.

Tóm tắt: Không cần lưu tâm đến thực tại qui ước, chỉ cần chú ý đến thực tại cùng tột.

Khi hành giả nhận thức được rằng “ yếu tố chuyển động” chính là nguyên nhân đã khiến bụng căng cứng khi nó đang phồng lên. Tương tự, “ yếu tố chuyển động” cũng chính là nguyên nhân khiến bụng biến đổi và xẹp xuống. Như vậy, yếu tố này là nguyên nhân chính khiến bụng luân phiên phồng lên rồi xẹp xuống, tiếp tục phồng lên rồi lại xẹp xuống…Tiếp đến, hành giả chỉ cần thực hành sự chú ý để nhận biết thực tại cùng tột. Do đó có thể nói, tiến trình nội quán của hành giả đã có sự tiến bộ. Tiến trình đang xúc chạm của thân thể, tiến trình đang thấy của nhãn căn…chỉ là những thực tại qui ước. Hành giả cần quan sát để nhận biết được “ cảm giác chuyển động” trong thân thể mình khi đang đi bộ, “ cảm giác nóng và cứng khi đang thiền tọa”. Nếu tâm trí chưa được ổn định mà vẫn còn xao động khi thực hành sự chú ý đến 3 đề mục là “ tiến trình đang chuyển động phồng lên của bụng”, “tiến trình đang chuyển động xẹp xuống của bụng”, “tiến trình đang xúc chạm của thân thể”. Hành giả nên chuyển sang thực hành sự chú ý đến một trong 4 đề mục bao gồm 3 đề mục vừa nêu và “ tiến trình đang ngồi xuống của thân thể”. Năng lực định tâm sẽ phát triển khi hành giả đã có khả năng chú ý đến đối tượng quan sát một cách chính xác và liên tục. Tiếp đến, tuệ minh sát sẽ phát triển trong tâm thức của hành giả.  Lúc mới khởi sự thực hành thiền, các hiện tượng vẫn chưa xuất hiện một cách rõ ràng trong tâm thức của hành giả. Tuy nhiên, với sự chín muồi của năng lực định tâm, hành giả sẽ thấy rõ rằng “ tiến trình đang ngồi xuống của thân thể” là hoàn toàn khác với “sự chú ý của tâm trí”. Tương tự, hành giả cũng sẽ nhận thức được rằng “ tiến trình đang phồng lên” và “ tiến trình đang xẹp xuống” của bụng, “ tiến trình đang xúc chạm của thân thể” là hoàn toàn tách biệt với “ sự chú ý của tâm trí”. Với “ trí tuệ vượt trội”, hành giả sẽ tự nhận biết được những điều này. Trong khi đó, với “ niềm tin vượt trội”, hành giả chỉ nhận biết được chúng khi được các vị thiền sư chỉ ra cho thấy. Do đó, tinh thần và vật chất rõ ràng là khác biệt nhau. Đến lúc này, hành giả đã nhận biết được một cách rõ ràng rằng, hoàn toàn không có một thực thể nào được gọi là “ tôi”, “ ông T”, bà C” hay “ cô X”…Những danh xưng có tính qui ước đó thường được xử dụng nhằm mục đích thuận tiện trong giao tiếp mà thôi. Chúng không phải là những thực thể hay sự vật có thật.  Do đó, hành giả đã loại bỏ được quan kiến lầm lạc về tự ngã và tâm bám víu vào 5 uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Đây là bước đầu tiên để thấu suốt được quan kiến lầm lạc ( Diţţhi Kilesa – Wrong view). Trong trạng thái nội quán được gọi là kiến thức về nhân quả - Paccayapariggaha Ñāna, hành giả sẽ nhận thức được rằng, sở dĩ “ sự chú ý”  của mình có thể khởi lên là do có sự xuất hiện của “đối tượng quan sát”, còn gọi là đối tượng của giác quan, đối tượng nhận thức hay khách thể. Khi “ tiến trình chuyển động đang phồng lên” và “ tiến trình chuyển động đang xẹp xuống của bụng” chưa xuất hiện một cách rõ ràng trong tâm thức, hành giả có thể chuyển sang chú ý đến “ tiến trình đang ngồi xuống” và “ tiến trình đang xúc chạm” của thân thể. Từ đó, anh ta sẽ nhận thức được rằng “ tiến trình đang ngồi của thân thể” là nguyên nhân và “ sự chú ý của tâm trí” chính là kết quả của tiến trình này. Vì vậy, hành giả đã gặt hái được kiến thức về nhân quả. Bây giờ, hành giả đã có khả năng thực hành sự chú ý tổng hợp và chi tiết, nghĩa là đã có thể chú ý đến bất cứ một hoạt động nào thuộc về thân tâm của chính mình một cách chi tiết và dễ dàng. Dĩ nhiên, hành giả cũng đã có khả năng chú ý đến “ ý định muốn thực hiện” một hành động nào đó, ý định này thường xuất hiện ngay trước hành động mà hành giả muốn thực hiện. Như vậy, hành giả đã có sự tiến bộ trong quá trình thực hành thiền minh sát. Với trình độ nội quán như đã nêu trên, theo những bậc thầy chú ý giải Kinh điển, hành giả đã trở thành một Tiểu-Tu-Đà-Hườn ( Cula-Sotāpaññā). Đến lúc này, hành giả đã không còn chịu ảnh hưởng bởi bất cứ một quan kiến lầm lạc nào khác. Do đó, chắc chắn anh ta sẽ được tái sanh vào những cảnh giới tốt đẹp. Đây là bước đầu loại bỏ tâm tham lam, sân hận và vọng tưởng. Nếu những người đang lắng nghe thuyết Pháp ngày hôm nay có thể thấu suốt được cách thức giữ Giới đúng đắn thì chắc chắn họ sẽ loại bỏ được những thứ ô nhiễm trong tâm thức. Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp nói về bốn kiểu giữ Giới trong ngày lễ Bố-Tát, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành theo những lời dạy của Đức Phật. Với tâm siêng năng cần mẫn trong việc thực hành quán niệm, cầu chúc cho tất cả quí vị nhanh chóng nhận thức được Niết-Bàn mong muốn, đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !    

 

                                            Hành động và kết quả

                                  ( Kinh Culakamma Vibhanga)

 

Bài thuyết Pháp ngày hôm nay sẽ nói về hành động và kết quả như đã được Đức Phật trình bày một cách chi tiết trongCulakamma Vibhanga Sutta.

Từ cula có nghĩa là tiểu hay nhỏ, kamma nghĩa là nghiệp hay hành động, vibhanga cónghĩa là sự ước lượng hayđánh giá. Từ sutta nghĩa là giải thích hay giảng giải. Vì vậy, Culakamma Vibhanga Sutta có thể tạm dịch là Giải thích về sự đánh giá chi tiết đối với hành động. Nói cách khác, trong Kinh này, Đức Phật đã ước lượng và giải thích  về những hành động thiện lành, những hành động bất thiện và kết quả của chúng. Đồng thời Ngài cũng có ý muốn nhắc nhở các Tỳ-kheo rằng, hãy tinh tấn loại bỏ những nghiệp bất thiện và thực hiện những nghiệp thiện lành.

Bảy vấn đề

Một thời khi Đức Phật đang trú tại tu viện Kỳ-Viên ở thành Xá-Vệ, có một người đàn ông trẻ tuổi tên là Subha tiến lại gần Ngài đảnh lễ và nói : “ Hỡi Đức Phật ! Trong thế giới này có một số người nghèo khổ, trong khi đó một số người khác lại được giàu có. Một số người bị đoản thọ và một số khác lại sống rất lâu. Thậm chí, có những người được sanh ra cùng cha cùng mẹ nhưng cuộc đời của họ lại diễn tiến một cách khác nhau. Vì lý do gì mà lại có sự khác nhau như vậy ?” Tiếp đến, Subha đã đưa ra bảy vấn đề sau đây :

1. Một số người bị đoản thọ và một số người khác lại sống rất lâu.

2. Một số người có sức khỏe tốt còn một số người khác thì không.

3. Một số người có diện mạo xấu xí và một số người khác lại có diện mạo xinh đẹp.

4. Một số người không có quyền hành gì cả còn một số người khác lại có nhiều quyền hành.

5. Một số người bị nghèo khổ và một số người khác lại được giàu có

6. Một số người xuất thân từ dòng dõi thấp kém và một số người khác lại xuất thân từ dòng dõi cao thượng.

7. Một số người có rất ít sự hiểu biết và một số người khác lại có nhiều kiến thức sâu và rộng.

Ngay lập tức, Đức Phật đã đưa ra câu trả lời rằng :  “ Tất cả những điều nói trên đều là kết quả phát xuất từ hành động đã từng thực hiện của riêng mỗi người. Nói cách khác, nghiệp của mỗi người mỗi khác, không có ai giống ai. Do đó, kết quả của nghiệp cũng sẽ không giống nhau. Sau khi nghe Đức Phật trả lời, Subha đã cung kính khẩn nài Ngài hãy giải thích những vấn đề trên một cách rõ ràng và đầy đủ hơn. Tiếp đến, Đức Phật đã giải thích về nghiệp một cách dứt khoát. Tất cả muôn loài chúng sanh đều có nghiệp riêng của từng người. Họ là người thừa tự nghiệp riêng của chính mình. Nghiệp là nguyên nhân chính của tất cả những gì xảy đến. Nghiệp chính là các mối quan hệ của họ, là nơi nương náu của họ. Chúng sanh sẽ thừa tự nghiệp riêng của họ đúng theo những hành động thiện hay bất thiện mà họ đã thực hiện.

Giải thích đầy đủ về 7 vấn đề

1. Một người sát sanh thì trong kiếp sống kế tiếp anh ta sẽ bị tái sanh vào địa ngục. Mặc dù may mắn được sanh làm người, sau khi đã chịu kiếp đọa đày ở địa ngục, anh ta vẫn sẽ bị đoản thọ. Một người không sát sanh trong kiếp sống kế tiếp sẽ được tái sanh vào thế giới của Chư-Thiên. Khi đã tái sanh làm người, anh ta sẽ sống rất thọ. Trong trường hợp bị buộc phải sát sanh, bạn phải cự tuyệt và tránh không thực hiện điều đó. Khi còn nhỏ, bạn được các bậc cha mẹ thiện lành giáo dục. Khi lớn lên, bạn được những thầy cô giáo đức hạnh hướng dẫn. Bạn đã từng được học về kết quả của những hành động thiện lành và bất thiện. Do đó, chắc chắn bạn sẽ không thực hiện những hành động bất thiện mà giữ gìn Giới luật một cách vững chãi. Bằng cách suy niệm về sự hoàn hảo của chính mình, bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc. Nhờ đó, bạn đã gặt hái được phước báu.

Tóm tắt: Sát sanh sẽ dẫn đến kết quả là bị đoản thọ, không sát sanh sẽ được trường thọ

2. Một người độc ác chuyên gieo rắt đau khổ cho người khác thì trong kiếp sống kế tiếp anh ta sẽ phải chịu nhiều khổ đau ở địa ngục. Khi được tái sanh làm người, anh sẽ phải sống một cuộc đời khổ sở vì bệnh tật và nghèo đói cùng cực, giống như những gì mà anh ta đã gây ra cho người khác trong kiếp sống ở quá khứ. Đó chính là kết quả của những hành động bất thiện. Nếu phải khổ đau do bệnh tật hành hạ, bạn hãy suy niệm rằng “ sự khổ đau của tôi trong kiếp sống này có nguyên nhân từ kiếp sống quá khứ của chính tôi. Đó là lý do tại sao trong kiếp sống này tôi phải khổ đau”. Bằng cách suy niệm như vậy, bạn sẽ trở nên hối hận và không còn tiếp tục gieo rắt đau khổ cho người khác nữa. Đến khi mãn kiếp, bạn sẽ được tái sanh vào thế giới của Chư-Thiên. Thậm chí, vẫn có thể lại tái sanh làm người. Tuy nhiên trong kiếp sống làm người đó, bạn sẽ không còn bị bệnh tật hành hạ nữa. Những đứa trẻ được sanh ra cùng một cha một mẹ. Tuy nhiên có đứa được mạnh khỏe còn một vài đứa khác thì không được như thế. Những kết quả đó đã xảy đến đúng theo những hành động mà chúng đã từng thực hiện trong kiếp sống ở quá khứ.

Tóm tắt: Gieo rắt khổ đau cho người khác sẽ bị khổ đau do bệnh tật hành hạ, sống mà không làm cho người khác khổ đau sẽ có sức khỏe tốt.

Nếu có được sức khỏe tốt và không bị khổ đau dày vò, bạn sẽ làm gì ? Bạn có đi du ngoạn, chơi bóng đá hay tham dự vào các buổi hòa nhạc và khiêu vũ không ? Dĩ nhiên là không nên. Tôi tin chắc rằng bạn sẽ tận dụng trạng thái sức khỏe tốt đẹp của mình để thực hành thiền minh sát, bởi vì đó là một cơ hội ngàn vàng. Sức khỏe là nhân tố thứ hai dẫn đến việc gặt hái được Phật Pháp.

Tóm tắt: Có niềm tin vững chãi, sức khỏe tốt, lương thiện và trung thực, nổ lực tinh tấn một cách kiên định, quán niệm về trạng thái sanh diệt của vạn hữu là 5 nhân tố dẫn đến thành tựu trong tham thiền.

3. Khi một người nào đó bị sân hận thống trị, anh ta rất dễ phạm phải những hành động bất thiện thuộc về thân xác và lời nói như :  Đánh đập, sát sanh, chửi rủa và lăng mạ người khác. Kết quả của những hành động bất thiện này là trong kiếp sống kế tiếp anh ta phải chịu nhiều khổ đau ở địa ngục. Thậm chí, nếu được tái sanh làm người, anh ta sẽ có diện mạo rất xấu xí. Một người có diện mạo xinh đẹp sẽ trở nên xấu xí khi khởi tâm sân hận. Tất cả mọi người đều thích có diện mạo xinh đẹp. Đó là lý do tại sao họ thường hay trang điểm, xử dụng mỹ phẩm và nhiều cách làm đẹp khác. Khi một người đã thoát được sân hận và phát triển tâm từ thì người này sẽ trở nên rất dễ thương và xinh đẹp. Khi quá bận rộn với công việc, bạn rất dễ nổi cáu. Vì vậy, bạn nên làm chủ được sân hận để phát triển tâm từ. Sân hận giống như lửa và tâm từ giống như nước mát. Chúng đối chọi nhau một cách kịch liệt.

Tóm tắt: Kết quả của sân hận là có diện mạo xấu xí, tránh được sân hận sẽ có diện mạo xinh đẹp.

 Rải tâm từ để thực hiện hạnh Ba-La-Mật và phát triển thiện nghiệp

Tôi tin chắc rằng những người đang lắng nghe thuyết Pháp ngày hôm nay đã hiểu khá rõ về phương pháp rải tâm từ để thực hiện hạnh Ba-La-Mật và phát triển thiện nghiệp. Để thực hành theo phương pháp đó, bạn hãy mong muốn cho những người có quan hệ với mình thoát khỏi những khổ đau và được hạnh phúc. Đó là hành động rải tâm từ thuộc về tinh thần. Bạn cũng có thể giúp đỡ những người khác bằng cách nói rằng “ đây là cách thức đúng đắn cần thực hiện”, “ đây là chỗ thích hợp mà bạn có thể ngồi xuống”…Đó là hành động rải tâm từ bằng lời nói. Khi đang đi bộ qua một đoạn đường nào đó, bạn có thể rãi tâm từ bằng cách nhặt sạch những loại que lẻ chắn ngang lối đi, đập nhỏ những viên gạch vụn hay đất đá nằm vung vãi trên đường và thực hiện nhiều hành động khác đại loại như thế. Bạn cũng có thể chuẩn bị vật thực, nước uống, các loại quạt xua đuổi côn trùng… để cúng dường cho những hành giả đang thực hành thiền, xếp dọn bàn ghế trong trung tâm thiền lại cho gọn gàng và ngăn nắp…Đó là những hành động rải tâm từ bằng thân xác. Do đã phát triển được tâm từ, bạn sẽ giảm bớt được tâm sân hận.

Bằng cách gặt hái được trạng thái định tâm, bạn sẽ xua tan được sân hận.

Rải tâm từ để gặt hái sự định tâm

Lúc ban đầu khi mới khởi sự thực hành phương pháp rải tâm từ, bạn không nên rải tâm từ đến những đối tượng sau đây :

a. Những người đã chết, bởi vì người chết không còn biết gì nữa cả.

b. Những bộ phận thuộc về giới tính trên thân thể. Bởi vì khi rải tâm từ lên những đối tượng này, bạn rất dễ sanh tâm khao khát và bám víu.

c. Những người mà mình yêu quí nhất. Bởi vì khi rải tâm từ lên những người này, bạn sẽ trở nên lo lắng cho họ và tự hỏi :  “ Liệu họ có bị sự tổn hại nào không ? Liệu họ có được khỏe mạnh hay không ?”…

d. Những người xa lạ. Khi rải tâm từ lên những người xa lạ, bạn cũng không phát triển được tâm từ.

e. Những kẻ thù của mình. Nếu rải tâm từ lên những kẻ thù của mình thì bạn sẽ trở nên sân hận khi thấy hình ảnh của họ xuất hiện trong tâm thức.

Người mà bạn nên rải tâm từ trước hết chắc chắn là chính bản thân bạn, bởi vì người mà chúng ta thường yêu quí nhất chính là bản thân mình. Sau khi rải tâm từ lên chính mình, bạn mới có thể phát triển tâm từ đối với những người khác. Trong quá trình thực hành thiền minh sát, nếu bạn muốn rải tâm từ thì hãy tìm đến một nơi yên tĩnh, chọn cho mình một tư thế thích hợp, hai mắt nhắm lại và rải tâm từ lên chính mình : “ Cầu mong cho tôi thoát khỏi mọi sự tổn hại, cầu mong cho tôi thoát khỏi sự đau khổ về tinh thần và thể xác, cầu mong cho thân tâm của tôi được thanh thản và chịu đựng nổi gánh nặng của cuộc sống”. Tiếp đến, bạn hãy rải tâm từ lên những người mà mình yêu quí nhất như con trai, con gái, cha mẹ, anh chị em…

Sau đó, bạn tiếp tục rải tâm từ lên những người xa lạ và cuối cùng là những kẻ thù của mình. Để gặt hái được trạng thái định tâm, bạn nên thực hành việc rải tâm từ theo thứ tự đã trình bày ở trên. Việc rải tâm từ lên chính mình trước hết nhằm mục đích thiết lập một trạng thái định tâm như là một nền tảng để có thể tiếp tục rải tâm từ đến những đối tượng khác. Một khi tâm từ trong bạn đã phát triển đủ mạnh, đến lúc đó bạn mới nên rải tâm từ lên những kẻ thù của mình. Một Tỳ-kheo sống ở nước ngoài đã nói rằng, ông thường thực hành việc rải tâm từ lên chính mình trước tiên, khi đã nhận thức được ánh sáng phát ra trong thân thể, ông mới rải tâm từ đến những đối tượng khác. Hàng ngày chúng ta nên rải tâm từ đến những những người đang sống tại 10 phương thế giới. Đây là phương pháp rải tâm từ để gặt hái trạng thái định tâm. Thật ra, bạn nên tuần tự rải tâm từ đến từng phương thế giới, hết phương này đến phương khác. Khi tâm từ đã phát triển mạnh thì sân hận sẽ tự nhiên giảm bớt. Sân hận giống như lửa và tâm từ giống như nước. Bằng cách thường xuyên rải tâm từ, bạn sẽ thành công trong việc vượt qua được sân hận. Tuy nhiên, có một vài người vẫn kiêu hãnh khi nói rằng :  “ Quí vị biết không, tôi là một kẻ cuồng nộ”. Những người này nên nhớ lại rằng họ sẽ trở nên rất xấu xí và sẽ bị tái sanh vào địa ngục khổ đau. Có khả năng làm chủ được sân hận nghĩa là đã mang lại hạnh phúc cho chính mình và những người khác. Hơn nữa, nếu có được khả năng đó là đã thực hành đúng theo lời dạy của Đức Phật.

4. Có một số người thường khởi tâm ghen tị và đố kỵ khi thấy người khác thành công, thịnh vượng, có danh tiếng tốt… Tâm ghen tị đó sẽ đưa họ đến với địa ngục trong kiếp sống kế tiếp. Thậm chí, khi được tái sanh làm người họ sẽ không có một chút quyền hành nào, cũng không được ai tôn trọng. Nếu một người nào đó cảm thấy sung sướng khi thấy người khác được thịnh vượng, thành công và tự nghĩ rằng : “ Họ được giàu có và tốt đẹp là do những phước báu mà họ đã gặt hái được trong kiếp sống ở quá khứ”. Nếu khởi tâm trong sáng như vậy thì trong kiếp sống kế tiếp, anh ta sẽ được tái sanh vào cõi Phạm-Thiên. Sung sướng khi thấy người khác được thịnh vượng và có danh tiếng là đã có tâm hỷ - một trong bốn Pháp Cao Thượng. Khi tái sanh làm người, người luôn mang tâm hỷ sẽ có rất nhiều quyền hành. Nếu thường xuyên khởi tâm hoan hỷ khi thấy người khác thành công, thịnh vượng và có danh tiếng tốt thì trạng thái tâm lý này sẽ trở thành một thói quen rất tốt. Một số người cảm thấy ghen tị và không thể chịu đựng nổi khi thấy người khác được thịnh vượng và trở nên nổi tiếng. Một vài đứa trẻ có thói quen hay ném đá hay bùn đất vào những người ăn mặc đẹp. Đối với những người thiếu giáo dục và hiểu biết đó, chúng ta nên từ tốn hướng dẫn cho họ trở thành người tốt, tạo điều kiện để họ có thể tự suy nghĩ rằng :

 “ Chúng tôi nghèo khổ là vì trong những kiếp sống ở quá khứ chúng tôi đã thực hiện những hành động bất thiện”, thay vì khởi tâm ghen tị với những người khác.

Tóm tắt: Địa vị thấp kém trong xã hội là kết quả của tâm ghen tị, có địa vị cao trong xã hội là kết quả của tâm hỷ.

3. Những người không thực hành bố thí sẽ bị nghèo khổ. Thậm chí, khi đã giàu có họ vẫn cứ khư khư ôm lấy tài sản của mình một cách bủn xỉn, không chịu bố thí cho ai một đồng nào. Do đó trong kiếp sống kế tiếp, họ sẽ bị tái sanh vào thế giới của ngạ quỷ ( một loài quỷ đói- Peta). Liệu một hành giả thực hành thiền minh sát có bị tái sanh vào địa ngục hay không, khi anh ta đã thất bại trong việc thực hành bố thí ? Câu trả lời là không. Tuy nhiên, nếu để cho tâm ham muốn và tham lam vượt qua của cải đang có, người này có thể bị khổ đau ở địa ngục. Sau đây là một ví dụ điển hình. Một vị Tỳ-kheo được dâng cúng một loại y phục hảo hạng mà trước đó ông chưa bao giờ có. Do khởi tâm bám víu vào loại y này, ông đã bị tái sanh làm loài rệp. Vì lý do đó, chúng ta nên thực hành bố thí khi có cơ hội. Nếu có thực hành bố thí, bạn sẽ được tái sanh vào thế giới của Chư-Thiên, nếu tái sanh vào cõi người bạn cũng sẽ được giàu có. Thực hành bố thí những của cải kiếm được một cách lương thiện sẽ gặt hái được lợi ích. Ngược lại những của cải phi nghĩa khi đem đi bố thí sẽ chẳng mang lại một lợi ích nào. Đức Phật đã từng nhấn mạnh rằng, thực hành bố thí là nhân tố tiên quyết mà chúng ta cần phải đạt được trong quá trình thực hành Giáo Pháp.

Tóm tắt: Không thực hành bố thí sẽ bị nghèo khổ, bố thí là nguyên nhân dẫn đến sự giàu có.

Kiêu hãnh là một trong những nguyên nhân dẫn đến địa ngục khổ đau hay những cảnh giới thấp kém. Có một vài người tự cao nói rằng họ đã trở nên tỏa sáng hơn vì đã tỏ tôn kính các vị Trưởng Lão. Họ tự phụ nói :  “ Tôi tự hào rằng mình tốt hơn những người khác”. Những người tỏ ra kiêu hãnh sẽ không bao giờ thành công trong thiền minh sát. Có người đã đứng bên cạnh quả vị A-La-Hán, chỉ cần một bước nữa thôi là anh ta sẽ gặt hái quả vị này. Tuy nhiên, do đã khởi tâm kiêu hãnh nên năng lực tu chứng của anh ta đột nhiên biến mất. Nếu xuất thân trong một hoàn cảnh thấp kém, chắc chắn người này sẽ dính dáng đến những hành động bất thiện. Sau đây là một trường hợp điển hình : Người con trai của một ngư phủ tìm kế sinh nhai bằng cách đánh bắt các loài cá. Do đó, trong những kiếp sống tương lai, địa vị xã hội của anh ta chắc chắn sẽ càng thấp kém hơn. Vì vậy, điều quan trọng để được tái sanh vào những cảnh giới cao thượng là chúng ta phải thực hành bố thí, giữ Giới và thiền minh sát. Việc thường xuyên thực hiện những hành động thiện lành sẽ giúp chúng ta dễ dàng nhận thức được Giáo Pháp Cao Thượng và Niết Bàn.

Tóm tắt: Kiêu hãnh sẽ bị tái sanh vào những cảnh giới thấp kém, khiêm tốn sẽ được hưởng những kết quả cao thượng.

Kiêu hãnh là một trong 3 pháp ( khao khát, kiêu hãnh và có quan kiến lầm lạc) góp phần kéo dài cuộc sống của chúng ta trong luân hồi. “ Ô ! Tôi có thể làm tốt hơn anh ấy”. Một lời bình luận như vậy không mang lại một kết quả tốt đẹp nào cả. Nó chỉ là nguyên nhân dẫn đến những hành động bất thiện. Những người đang lắng nghe thuyết Pháp ngày hôm nay là những người khiêm tốn, thực hành thiền minh sát để loại bỏ những quan kiến lầm lạc.

Do đó, họ có thể giảm bớt tính kiêu hãnh và tự cao tự đại phát xuất từ tâm tham lam, bám víu. Nếu một hành giả còn kiêu hãnh và tự cao tự đại, anh ta có gặt hái được Phật Pháp hay không ? Anh ta nên loại bỏ tâm kiêu hãnh của mình và siêng năng thực hành thiền minh sát thì đúng hơn phải không ?

7. Những người không tìm tòi học hỏi sẽ không có sự hiểu biết uyên bác. Chúng ta nên học hỏi các vị Trưởng Lão và thầy cô giáo, nếu thấy còn nghi ngờ về một điều gì đó và chưa biết chắc điều mình có ý định làm là thiện hay bất thiện. Một thời trong một thành phố nhỏ, có một vị Tỳ-kheo tin rằng tất cả những việc mà ông có ý định muốn làm đều là tốt cả. Với niềm tin như vậy, ông thường xuyên cắt cỏ và trồng cây để giữ cho tu viện được sạch sẽ và ngăn nắp. Khi có bậc Trưởng Thượng của tu viện nghé thăm, ông cung kính thuật lại niềm tin của mình với Ngài về những gì mà ông đã làm. Tuy nhiên, vị Tỳ-kheo nói trên đã vô cùng ngạc nhiên khi nghe bậc Trưởng Thượng nói rằng cắt cỏ và trồng cây là vi phạm Giới luật. Do tin chắc rằng những việc làm của mình là không phạm Giới, ông đã không hỏi ý kiến của những vị Tỳ-kheo khác, cũng không tìm kiếm lời khuyên từ những bậc Trưởng Lão. Vì vậy sau khi chết, vị Tỳ-kheo này đã bị tái sanh vào địa ngục. Bậc Trưởng Thượng của tu viện đã nói rằng :  “ Tin rằng tất cả những việc làm của mình đều tốt” là sai lầm và vi phạm Giới luật.

Tóm tắt: Không tìm tòi học hỏi sẽ thiếu sự hiểu biết, ham học hỏi sẽ có kiến thức.

Một thời khi đang trú tại tu viện Medhini, tôi đã dẫn các Tỳ-kheo đi khất thực . Những người mộ Đạo đã dâng cúng cho chúng tôi rất nhiều thứ khác nhau, trong đó bao gồm cả gạo. Một thời gia sau, tôi đã nói : “Sau một hay hai tuần gì đó, tôi chợt nảy ra ý nghĩ nhận gạo là phạm Giới. Nói xong, tôi tiến lại gần Ngài tu viện trưởng để thỉnh cầu ý kiến. Ngài tu viện trưởng đã nói với tôi rằng : “ Không có vi phạm gì đâu, chúng ta đều ăn gạo cả mà. Tuy nhiên, nhận thóc mới vi phạm Giới luật”. Bằng cách tìm kiếm lời khuyên từ những bậc Trưởng Lão, mối nghi ngờ của tôi đã bị xua tan. Khi ở lại trong trung tâm thiền Mahāsī, tôi đã bối rối trước 2 điều khoản được gọi là YonisommasikāraAttasammāpanidhi. Điều khoản thứ nhất là có quan kiến đúng đắn, điều khoản thứ hai là phương tiện kiếm sống chân chánh và nổ lực cải thiện cuộc sống. Tôi đã thảo luận 2 điều khoản này với những Tỳ-Kheo khác và họ đã khuyên tôi hãy tìm đến Ngài Mahàsi để hiểu rõ hơn về những điều khoản này. Lúc ban đầu, tôi đã miễn cưỡng chấp nhận lời khuyên của họ và nghĩ rằng mình có thể quấy rầy Ngài Mahāsī chỉ vì một câu hỏi không đâu vào đâu. Tuy nhiên, sau đó tôi đã tìm đến Ngài và cung kính trình bày vấn đề của mình. Ngài Tăng Thống đã chỉ ra cho tôi hiểu một cách đơn giản rằng Yonisommanasikāra  (quan kiến đúng đắn – Proper attitude) là nguyên nhânAttasammàpanidhi ( phương tiện kiếm sống chân chánh và nổ lực cải thiện cuộc sống – living honestly and striving for improvement) là kết quả. Bây giờ tôi đã hiểu được một cách rõ ràng rằng, quan kiến đúng đắn đã sản sinh ra phương tiện kiếm sống chân chánhsự nổ lực cải thiện cuộc sống. Nếu không tìm kiếm lời khuyên từ Ngài Mahāsī thì tôi vẫn sẽ còn bối rối và thiếu sự hiểu biết. Nếu muốn có được một sự hiểu biết đúng đắn thì bạn phải biết tìm tòi học hỏi và có được câu trả lời cho những vấn đề mà mình còn nghi ngờ. Sau khi lắng nghe bài thuyết Pháp nói về “ hành động và kết quả”, “ sự giải thích đầy đủ  về 7 vấn đề”, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành theo những lời dạy của Đức Phật. Với tâm siêng năng cần mẫn trong thực hành quán niệm, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ nhanh chóng nhận thức được Niết-Bàn mong muốn và đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !

 

 

            Những điều chậm rãi và nhanh chóng cần thực hiện

 

Những người đang sống trên thế giới này có rất nhiều việc phải làm. Vì vậy, khi đang làm việc, họ nên phân biệt được việc gì cần phải làm một cách chậm rãi và việc gì cần phải nhanh tay lên. Đối với các vị A-La-Hán, họ không còn việc gì để làm nữa cả, bởi vì họ đã gặt hái được Phật Pháp một cách viên mãn. Ngoại trừ các vị A-La-Hán ra, tất cả mọi người đều phải làm việc. Các vị thầy dạy về đạo đức đã nói rằng, có hai loại công việc cần phải làm, cụ thể là những công việc cần phải làm một cách chậm rãi và những công việc cần phải nhanh tay lên khi làm chúng.

 

Những công việc cần phải làm một cách chậm rãi

1. Tìm kiếm kiến thức và sự giáo dục là công việc cần phải thực hiện một cách chậm rãi. Nếu một cá nhân nào đó mong muốn tìm kiếm sự giáo dục một cách vội vã, người này sẽ nổ lực học tiếp bài thứ hai trong khi chưa thấu đáo bài số đầu tiên. Vì vậy, chắc chắn anh ta sẽ gặp khó khăn khi học bài thứ hai. Anh ta cũng sẽ vấp phải khó khăn khi tiếp tục học bài thứ ba, thứ tư và những bài cao hơn, trong khi vẫn chưa thấu đáo được bài số một. Đó là lý do tại sao người này có thể trở nên chán nản trong quá trình tìm kiếm sự giáo dục. Đáng ra, anh ta phải tìm kiếm kiến thức một cách chậm rãi mới đúng.Tương tự như vậy, một người đang học 9 chương trong Vi Diệu Pháp Toát Yếu ( Abhidhammattha Sangaha) chưa thấu đáo chương nói về tâm vương ( Citta) đã muốn chuyển sang học chương nói về tâm sở ( Cetasika). Do đó, anh ta sẽ không thành công trong việc học và trở nên chán nản, thất vọng. Nếu một người nào đó chịu khó học hết bài học đầu tiên một cách thấu đáo rồi tiếp tục học sang bài kế tiếp, anh ta sẽ thành công trong việc học, bởi vì bài học thứ nhất là nền tảng giúp cho anh ta có thể hiểu được bài thứ hai…Vì vậy, tìm kiếm kiến thức và sự giáo dục là một công việc phải thực hiện một cách chậm rãi. Tuy nhiên, chậm rãi ở đây không có nghĩa là lười biếng hay chểnh mãng.

2. Một cá nhân nào đó đang tìm kiếm sự giàu có và thịnh vượng mong muốn mình sẽ đạt được điều đó trong vòng một đêm. Anh ta nổ lực và làm nhiều công việc khác nhau. Trong khi đó, anh ta lại không chịu đầu tư cơ sở vật chất nền tảng và kỹ năng để làm việc. Khi nhận lấy thất bại, anh ta sẽ trở nên lo lắng và chán nản. Một cá nhân khác cũng đang tìm kiếm sự giàu có. Tuy nhiên, anh ta luôn luôn chú trọng đến việc trau dồi kỹ năng, đầu tư cơ sở vật chất nền tảng, nổ lực làm việc một cách chậm rãi, siêng năng và liên tục. Nhờ đó, người này đã phát triển được công việc của mình và tích lũy được của cải.Vì vậy,những vị thầy dạy về đạo đức đã chỉ ra rằng, người ta nên tìm kiếm sự giàu có một cách chậm rãi.

3. Một cá nhân nào đó đang leo lên một ngọn núi cao 30 ngàn feet ( 1 feet bằng 0,3048 mét). Anh ta vừa chạy vừa leo một cách hấp tấp vì muốn nhanh chóng đến được đỉnh núi. Chắc chắn người này sẽ mệt lã và kiệt sức trước khi lên tới đỉnh núi. Một cá nhân khác cũng đang leo lên đỉnh ngọn núi kia. Tuy nhiên, anh ta đã leo lên đó một cách chậm rãi và cẩn thận. Cuối cùng, người này đã lên tới đỉnh núi. Một vài người lớn tuổi nói rằng, khi leo núi người ta phải chú ý cẩn thận từng bước chân và leo một cách chậm rãi để có thể phân phối sức cho đều đặn. Nếu leo núi như thế, người ta mới có thể lên  tới đỉnh núi. Đó là lý do tại sao người ta phải leo núi một cách chậm chạp.

4. Người ta nên chậm rãi tìm kiếm những lạc thú, đặc biệt khi thành lập gia đình. Trong thời hiện đại, những người trẻ tuổi thường vội vã chọn vợ hay kiếm chồng. Họ cũng vội vã tổ chức lễ cưới trong khi chưa tìm hiểu nhau một cách sâu sắc. Sau khi đã trở thành vợ chồng của nhau, họ mới nhận ra rằng vợ chồng họ có những quan điểm bất đồng và trở nên bất hạnh. Do đó, khi thành lập gia đình người ta cần phải cẩn thận tìm hiểu nhau một cách thấu đáo để chọn lấy người bạn đời của mình. Nhờ vậy, cuộc sống hôn nhân sẽ dễ dàng hạnh phúc hơn.

5. Một cá nhân nào đó thình lình chạm trán với một sự cố làm cho anh ta mất hết bình tĩnh đến độ không còn khả năng phân biệt đúng sai. Trong chốc lát, anh ta đã trở nên điên tiết. Đây là một phản ứng bất lợi mà chúng ta không nên có. Một người đang tức giận thường nói năng và đối xử sai lầm với người khác. Do đó người này sẽ bị đau khổ dày vò, trạng thái thăng bằng trong thân tâm của anh ta sẽ bị phá hủy. Anh ta không chỉ gây rắc rối cho chính mình mà còn cho nhiều người khác. Ngoại trừ các vị A-La-Hán và A-Na-Hàm, tất cả mọi người đều có ít nhất một lần tức giận. Tuy nhiên, họ không nên điên tiết lên mà cần phải làm chủ được cơn giận dữ của chính mình. Tôi tin chắc rằng những người đang lắng nghe thuyết Pháp ngày hôm nay sẽ có khả năng làm chủ được trạng thái tức giận của chính họ. Cách tốt nhất là không nên nổi giận với bất cứ ai hay bất cứ cái gì. Nếu chưa có khả năng làm chủ được trạng thái tức giận, chúng ta cũng nên cố gắng kiềm chế nó, để tâm tức giận có thể khởi lên một cách chậm rãi, không nên thả cửa cho cơn giận dữ bùng lên một cách vô ý thức. Ngài Mahāsī đã từng khuyên rằng, hãy cố gắng kiềm chế cơn giận trong tâm trí của mình, đừng để cho nó thoát ra ngoài bằng cách niệm thầm trong tâm “ đang giận, đang giận”… Chúng ta cũng không nên thể hiện cơn giận dữ của mình bằng lời nói.

Nếu cơn giận dữ đã khởi lên thì đừng để cho nó lan sang thân thể và trở thành những hành động bất lợi. Bằng cách chú ý ngay trong khoảnh khắc mà cơn giận dữ đang khởi lên, chúng ta có thể làm chủ được nó. Vì vậy, thiền niệm xứ là phương pháp tốt nhất để vượt qua sân hận. Các vị A-La-Hán và A-Na-Hàm không bao giờ tức giận. Tuy nhiên, những người đang lắng nghe thuyết Pháp ngày hôm nay thì vẫn còn tức giận. Chúng ta không nên thể hiện sự tức giận đối với bất cứ ai hay bất cứ một cái gì. Nếu sân hận xuất trong tâm thức, bạn hãy cố gắng kiềm chế để nó có thể khởi lên một cách chậm rãi, mặc dù một người bình thường không thể nào làm chủ được sân hận giống như các vị A-La-Hán và A-Na-Hàm. Khi đã về già, một người nọ đã gia nhập Tăng đoàn và trở thành Tỳ-Kheo. Vị Trưởng Lão này đã thực hành thiền minh sát. Ông đã gặt hái được nền tảng căn bản về Phật Pháp một cách chắn chắn. Vì vậy, ông tự nghĩ rằng mình đã là một A-Na-Hàm. Mặc dù sống và tu hành trong một tịnh thất riêng lẻ nhưng thỉnh thoảng vị Trưởng Lão vẫn gặp những Tỳ-kheo tân học khác. Vị Trưởng Lão thường xuyên đề cập đến quả vị A-Na-Hàm, mỗi khi gặp những Tỳ-kheo tân học. Điều này đã khiến cho những Tỳ-kheo sanh tâm nghi ngờ và tự hỏi rằng : “ Liệu không biết ông ta đã đạt tới quả vị đó hay chưa ? Chúng ta cần y nọ, khi vị Trưởng Lão đang đi khất thực, những Tỳ-kheo tân học đã khóa chặt tịnh thất của ông bằng một ổ khóa khác. Khi đi khất thực về, vị Trưởng Lão đã điên tiết lên khi thấy tịnh thất của mình đã bị khóa chặt bằng một ổ khóa khác, mặc dù giờ ăn trưa đã đến. Sau đó, ông đã dùng một cái rìu để phá cửa ra vào tịnh thất. Như vậy, vị Trưởng Lão này đã trở thành A-Na-Hàm hay chưa ? Chắc chắn là chưa. Thật ra, ông đã khởi tâm kiêu hãnh và đánh giá quá cao về bản thân mình mà thôi. Một vị A-La-Hán hay A-Na-Hàm phải đứng vững trước những lời chất vấn như đã trình bày ở trên.

Chúng ta có nên kiêu hãnh và tự đánh giá cao về mình hay không ? Chắc chắn là không. Nói tóm lại, có 5 điều mà chúng ta cần phải thực hiện một cách chậm rãi, đó là :

1. Khi đang tìm kiếm kiến thức và sự giáo dục

2. Khi đang tìm kiếm sự giàu có và thịnh vượng

3. Khi đang leo núi

4. Khi đang khao khát những lạc thú trần tục

5. Khi đang mất bình tĩnh 

Những vị hiền triết ngày xưa đã cọng thêm 3 điều cần phải thực hiện một cách chậm rãi vào 5 điều đã nêu trên, đó là :

1.Hôn nhân là một quyết định trọng đại của đời người. Vì vậy, đây là một công việc cần phải thực hiện một cách chậm rãi.

2. Xây dựng chùa chiền và làm ảnh tượng của Đức Phật là công việc cần phải thực hiện một cách chậm rãi. Người ta cần phải chọn được một địa điểm thích hợp để thực thi công trình. Hình dáng và đường nét của ngôi chùa cũng như ảnh tượng của Đức Phật phải được thực hiện một cách thích hợp và đúng theo Giới luật.

3. Xăm mình là công việc cần phải được thực hiện một cách chậm rãi.

Ngày xưa, người ta có thói quen xăm mình, tuy nhiên ngày nay thì tập tục đó đã không còn nữa. Những người trẻ tuổi thường xăm lên cánh tay, ngực hay lưng của họ những loại mặt nạ hay các biểu tượng như là sức mạnh có thể chống lại nhiều mối nguy hiểm và tổn hại. Khi đã lớn tuổi, họ không còn thích những hình xăm đó nữa. Tuy nhiên, hình được xăm bằng những loại mực khó phai đã ăn sâu vào da thịt và không thể tẩy xóa được nữa.Thậm chí có trường hợp, mực xăm đã ăn sâu tới xương. Xưa kia có một thanh niên xăm vào bắp đùi của anh ta hình một con lợn như là một biểu tượng để chống lại những mối nguy hiểm và tổn hại. Một thời gian ngắn sau đó, phần da bị xăm trên bắp đùi của anh ta đột nhiên đau nhức dữ dội. Tiếp đến, anh ta lại xăm thêm một câu ghi chú lên đùi mình rằng “ Con lợn này đã cố gắng trốn thoát và không muốn bảo vệ cho tôi”. Như vậy, thật ra hình xăm kia có cứu vớt người thanh niên này không ? Chắc chắn là không. Đó là lý do tại sao xăm mình là công việc cần phải thực hiện một cách chậm rãi, bởi vì đây là một quyết định quan trọng. Xây dựng chùa chiền và làm ảnh tượng của Đức Phật cũng là một công việc khó sửa chữa nếu công trình bị hỏng. Người ta cũng không thể phá hủy hay đốt hết những công trình này, bởi vì trong quá khứ đã có nhiều trường hợp xã hội và kinh tế đã bị rối loạn, trì trệ do hậu quả của việc phá hủy chùa chiền và ảnh tượng Phật. Phá hủy chùa chiền và ảnh tượng của Đức Phật là một quyết định bất thiện, dù có nhân danh cái gì đi nữa, kể cả việc nhân danh sự tôn kính đối với Ngài. Nếu có ai đó hỏi ý kiến của bạn để phá hủy một ngôi chùa, bạn hãy nói với họ rằng : “ Tôi không thể biết được chuyện này, ngay cả những bậc Trưởng Thượng và Tăng già cũng không thể có bất cứ một lời khuyên nào về sự phá hủy chùa chiền và ảnh tượng Phật”.

Tóm tắt: Hôn nhân, xây dựng chùa chiền, làm ảnh tượng Phật và xăm mình là những công việc cần phải thực hiện một cách chậm rãi, bởi vì nếu làm hỏng thì rất khó sửa chữa.

Một số người trẻ tuổi trong thời hiện đại thường hay bất cẩn trong vấn đề hôn nhân. Họ nghĩ rằng nếu hôn nhân thất bại thì họ có thể tái hôn nhiều lần. Đây có phải là một việc làm đúng đắn hay không ? Chắc chắn là không. Khi thành lập gia đình, người ta nên có tâm kiên nhẫn chịu đựng lẫn nhau để cùng chung sống. Nếu chùa chiền và ảnh tượng Phật đã cũ nát, chúng ta nên nâng cấp hơn là làm mới. Không nên phá hủy, đốt đi hay thả trôi theo dòng nước những ảnh tượng Phật bị hỏng trong quá trình thực hiện. Xăm mình là công việc cần phải thực hiện một cách chậm rãi. Nói tóm lại, hôn nhân, xây dựng chùa chiền, làm ảnh tượng Phật và xăm mình là những quyết định rất quan trọng và rất khó sửa chữa mỗi khi đã thực hiện chúng. Vì vậy, chúng ta không nên thực hiện những công việc này một cách vội vã.

Những công việc cần phải thực hiện một cách nhanh chóng

Những công việc gì chúng ta cần phải thực hiện một cách nhanh chóng ?

Dĩ nhiên, bố thí, giữ Giới, thực hành thiền định và thiền minh sát là những công việc cần phải thực hiện một cách nhanh chóng. Đức Phật đã từng nói rằng “ nếu quí vị có cơ hội thực hiện những hành động phước thiện trong ngày hôm nay thì hãy làm ngay đi, đừng nên trì hoãn đến ngày mai? Tại sao phải làm như vậy ? Bởi vì ngày hôm nay bạn đang sống đây, tuy nhiên ngày mai có thể bạn sẽ chết, bạn không thể biết trước được điều này. Tại sao ngày mai bạn lại có thể chết ? Bởi vì thân xác của con người ẩn chứa đến 96 loại bệnh nội tại. Bạn cũng có thể chết vì những mối nguy hiểm đến từ bên ngoài như các loại vũ khí gây hại, các loại thuốc độc… Bạn không thể nào thỉnh cầu với thần chết rằng tôi chưa gặt hái được Phật Pháp, hãy để cho tôi sống thêm một ngày, một tháng hay một năm nào nữa. Bạn không thể kết thân với thần chết hay đút lót cho ông ta. Bạn cũng không thể huy động quân đội để chiến đấu với thần chết. Ngày hôm nay, bạn vẫn còn sống đây nhưng ngày mai thì chưa thể biết được. Đó là lý do tại sao, bố thí, giữ Giới, thực hành thiền định và thiền minh sát là những công việc cần phải thực hiện một cách nhanh chóng và không nên trì hoãn. Việc bố thí, giữ Giới và thiền định của những người Phật tử chưa phải là mong muốn cao nhất của Đức Phật.

Việc thực hành thiền minh sát của bạn mới chính là mong muốn cao nhất của Ngài. Do đó, bạn nên thực hành loại thiền này. Khi không có thời gian để thuyết Pháp, Đức Phật thường khuyên mọi người rằng “ đừng quên, đừng quên”… Rõ ràng lời khuyên này của Ngài không có nghĩa là “ đừng quên tận hưởng những lạc thú xa hoa trong cõi người, cõi Chư-Thiên và Phạm-Thiên bằng cách thực hành bố thí, giữ Giới và thiền định”. Chắc chắn rằng qua lời khuyên này, Đức Phật muốn cổ vũ mọi người “ đừng quên thực hành thiền minh sát” để có thể thoát khỏi địa ngục khổ đau. Một cách đúng đắn, bạn hãy nhanh chóng thực hành thiền minh sát. Ngài Mahāsī đã sáng tác một bài Kệ dưới đây để thúc giục những hành giả và tất cả mọi người hãy thực hành thiền minh sát.

Tóm tắt: Không thể dàn xếp với thần chết, cũng thể đút lót cho ông ta. Không đủ sức để chiến đấu với thần chết. Mọi người đều biết rằng ngày mai mình có thể chết vì một lý do nào đó. Không thể trì hoãn việc thực hành minh sát thêm một giây nào nữa, mọi người nên thực hành loại thiền này ngay bây giờ và mãi mãi.

Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp nói về “ những công việc cần phải thực hiện một cách chậm rãi và những công việc cần phải thực hành một cách nhanh chóng”, cầu chúc cho tất cr quí vị sẽ có khả năng thực hành quán niệm một cách dễ dàng và siêng năng. Cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ nhanh chóng nhận thức được Niết Bàn mong muốn để đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !             

 

 

                            Lời nguyền chân thật : Tốt và xấu

 

Thỉnh thoảng những người lắng nghe Giáo Pháp cũng chạm trán với tai họa. Mạng sống và của cải bị đe dọa đã khiến cho họ trở nên hoảng sợ và đau khổ. Khi không có ai có thể ngăn chặn được những mối nguy hiểm và tổn hại, chúng ta đành phải phụ thuộc vào năng lực của sự thật hay chân lý

( Sacca - Truth) để thoát khỏi chúng. Sacca cũng có nghĩa là những lời nói đúng với sự thật. Chúng ta có thể thực hiện một lời nguyền khi gặp điều tốt hay xấu để ngăn chặn các mối nguy hiểm. Chắc hẳn bạn cũng đã từng nghe nói về phương pháp này.Tuy nhiên, nếu chịu khó lắng nghe về nó thêm một lần nữa thì bạn sẽ hiểu rõ hơn.

Lời nguyền chân thật và điều tốt

Cách đây rất lâu tại Tích-Lan ( Sri Lanka), có một người mẹ sống với hai người con trai của bà. Người con trai lớn tên là Mahācakkala và người con trai út tên là Culacakkhala. Hàng ngày, hai người con trai đi làm và phụng dưỡng bà mẹ già của họ. Một ngày nọ, bà mẹ bổng nhiên mắc phải một chứng bệnh đau đầu cực kỳ dữ dội, vị thầy thuốc đã đến khám cho bà và nói rằng chỉ có máu thỏ còn tươi mới chữa khỏi được căn bệnh quái ác này. Do đó, Mahākkhala đã sai người em trai mình đi vào rừng bẫy thỏ. Nghe theo lời anh mình, Culakkhala mang bẫy và đi vào rừng. Khi vào đến rừng, anh ta bắt được một con thỏ mẹ đang cho hai con thỏ con bú. Con thỏ mẹ đã hoảng sợ và kêu lên dữ dội. Nó cố gắng hết sức mình để chống cự và tìm cách thoát ra khỏi chiếc bẫy. Với dáng vẻ thật tội nghiệp, hai con thỏ con chạy lòng vòng quanh chiếc bẫy nhưng không có cách gì để giải thoát cho mẹ của chúng. Culakkhala nhìn thấy cảnh tượng đáng thương đó và nghĩ rằng :

 “ Mặc dù là loài vật nhưng chúng cũng biết thể hiện sự thương xót khi thấy mẹ của mình gặp phải nguy hiểm bằng cách cứ chạy vòng quanh chiếc bẫy”. Tiếp đến, Culakkhala tự nhận ra rằng hoàn cảnh của hai con thỏ con kia cũng giống như hai anh em anh ta. Culakkhala thấy trong lòng mình trào dâng lòng thương xót đối với chúng. Anh ta tự nghĩ rằng : “ Ba con thỏ này là một gia đình và rất giống với gia đình của mình. Nếu mình giết con thỏ mẹ để cứu lấy mẹ của mình thì thật không công bằng chút nào. Nếu làm như vậy thì mình thật là một người nhẫn tâm và không có lòng trắc ẩn”. Vì suy nghĩ như vậy, cuối cùng Culakkhala đã quyết định phóng thích con thỏ mẹ ra khỏi chiếc bẫy. Khi Culakkhala về đến nhà, người anh cả là Mahākkhala đã hỏi anh ta có bắt được thỏ không. Culakkhala đã trả lời rằng anh ta đã bắt được một con thỏ mẹ đang cho hai con bú. Tuy nhiên, vì cảm thấy quá thương xót 3 con thỏ và nghĩ rằng hoàn cảnh của chúng cũng giống như gia đình của mình nên anh ta đã thả con thỏ mẹ rồi. Người anh cả đã nổi cơn tức giận bởi vì mẹ của anh ta bị so sánh với một loài vật tầm thường là con thỏ mẹ. Do đó, ngay lập tức anh ta vơ lấy chiếc gậy và đánh người em tới tấp. Người em út bỏ chạy đến bên mẹ của mình và ôm lấy bà. Trong khi đó, bà mẹ lại tìm cách ngăn cản không cho người con trai lớn đánh người con trai út. Ngay lúc đó, Culakkhala đã lớn tiếng thực hiện một lời nguyền : “ Kể từ khi có thể nhận thức được lẽ phải, tôi không bao giờ sát sanh. Với tâm từ thương xót 3 con thỏ có hoàn cảnh giống như gia đình của mình, tôi đã phóng thích con thỏ mẹ và như vậy tôi đã không phạm Giới sát sanh. Với lời nói cực kỳ chân thật này, cầu mong cho chứng đau đầu của mẹ tôi sẽ được chữa khỏi”. Ngay lúc đó, chứng đau đầu của bà mẹ bổng nhiên biến mất một cách kỳ diệu. Đây chính là một lời nguyền chân thật và điều tốt. Bởi vì Culakkhala đã nói đúng với sự thật, nên chứng đau đầu của mẹ anh ta đã được chữa khỏi.

Lời nguyền chân thật và điều xấu

Một thời xa xưa trong quá khứ, khi Đức Phật đang là ẩn sĩ Kanhadìpàyana sống trong một tu viện ở Bārānasi ( đô thị của xứ Ba-La-Nại). Một ngày nọ, cùng với vợ và con trai tên là Yannadat, phú ông Mahadabya đã đến cúng dường cho vị ẩn sĩ. Khi cha mẹ đang nói chuyện với vị ẩn sĩ, đứa con trai nhỏ chơi với một con quay và đột nhiên con quay bị rơi vào một cái lỗ, nơi có một con rắn độc đang ở. Yannadat đã thò tay vào cái lỗ để lấy con quay ra. Do đó, con rắn đã nổi giận và cắn vào tay Yannadat. Ngay lập tức, cậu bé ngã nhào xuống đất và bất tỉnh. Cha mẹ của cậu bé mang cậu đến gặp vị ẩn sĩ để nhờ ông chữa trị cho con của họ. Vị ẩn sĩ đã trả lời rằng ông không thể chữa được cho cậu bé. Tuy nhiên, ông đã nói : “ Nếu ông bà không thể chữa trị cho đứa bé bằng thuốc thì hãy thực hiện một lời nguyền chân thật để loại bỏ nọc rắn trong người của nó ra ngoài. Ông bà hãy nhanh tay lên”. Vị ẩn sĩ đặt tay mình lên đầu Yannadat và nói lớn : “ Kể từ khi tôi trở thành một ẩn sĩ, tôi đã gặt hái được hạnh phúc trong vòng bảy ngày bằng cách thực hành Pháp Cao Thượng. Tiếp đến, trong vòng 50 năm sau, tôi đã cảm thấy bất hạnh vì không phát huy được Pháp Cao Thượng. Tuy nhiên, hiện nay tôi vẫn còn thực hành Pháp ấy. Do những lời nói chân thật này, cầu mong cho nọc rắn trong người cậu bé sẽ biến mất và nó được sống”. Nhờ vào lời nguyền của vị ẩn sĩ, nọc rắn đang lưu thông ở phần ngực cậu bé đã mất hết tác dụng. Yannadat đã mở mắt ra gọi cha mẹ của nó rồi lại bất tỉnh thêm một lần nữa. Vị ẩn sĩ đã nói với phú ông Mahadabya rằng “ tôi đã thể hiện năng lực của mình bằng cách nói những lời chân thật vừa rồi. Bây giờ đến lượt ông hãy thực hiện một lời nguyền để cứu sống con trai của ông”. Ngay lập tức, Mahadabya thốt ra một lời nguyền dứt khoát : “ Tôi không thích bố thí. Tôi cũng không tôn trọng những người đến hỏi xin bố thí. Tuy nhiên, tôi đã bố thí vì muốn gìn giữ truyền thống của gia đình. Do những lời nói chân thật này, cầu mong cho nọc rắn trong người con trai tôi tan biến đi và nó được sống”. Nhờ vào lời nguyền chân thật của Mahadabya, nọc rắn đang lưu thông ở phần thắt lưng của cậu bé đã mất hết tác dụng. Đây chính là lời nguyền chân thật và điều xấu. Mặc dù nọc rắn độc đã thoát ra ngoài thân thể của cậu bé nhưng Yannadat mới chỉ ngồi dậy được mà thôi. Nó chưa đứng dậy và đi lại được. Vì vậy, phú ông Mahadabya đã nói với vợ của ông ta :

“ Tôi đã thể hiện phẩm chất của mình. Bây giờ bà hãy thực hiện một lời nguyền để con của chúng ta có thể đứng dậy và đi lại”. Ngay lập tức, mẹ của Yannadat đã nói với chồng của mình rằng : “ Phú ông thân mến ! Ông không xứng đáng để tôi thực hiện một lời nguyền”. Người chồng bèn thúc dục vợ mình hãy nhanh chóng thực hiện một lời nguyền để cứu đứa con trai. Sau đó, người vợ đã nói : “ Tôi ghét con rắn độc đã cắn con trai tôi là Yannadat và tôi cũng ghét cha của nó như thế. Do những lời chân thật này, cầu mong cho nọc độc của con rắn trong người con trai tôi sẽ tan biến đi và nó được sống”. Đây chính là lời nguyền chân thật và điều xấu. Bởi vì những lời nói chân thật của người mẹ mà tất cả nọc độc của con rắn trong thân thể Yannadat đã tan biến đi và cậu bé đã được sống. Như vậy, vị ẩn sĩ, người đàn ông giàu có và vợ của ông ta, mỗi người đã tìm tự ra những điểm xấu của chính họ để tự sửa đổi. Những lời nguyền chân thật nói về những điều xấu của chính mình cũng mang lại hiệu quả tốt. Khi phải đối mặt với những tình huống nguy hiểm, người ta thường thực hiện một lời nguyền chân thật nói về những tính cách của chính mình, dù đó là những tính cách tốt hay xấu đi nữa thì chúng vẫn mang lại hiệu quả tốt.

Tóm tắtNhững lời nói chân thật về tính cách tốt hay xấu của chính mình cũng đều mang lại kết quả tốt.

Từ những trường hợp đã được đề cập ở trên, chúng ta thấy rằng lời nguyền chân thật nói về những tính cách tốt hay xấu đều mang lại kết quả tốt. Lời nguyền chân thật của Culacakkala nói về những tính cách tốt của chính anh ta. Trong khi đó, vị ẩn sĩ, người đàn ông giàu có và vợ của ông ta lại thực hiện lời nguyền chân thật nói về những tính cách xấu của họ. Tuy nhiên, tất cả 4 người này đều đã thành công theo cách riêng của họ. Ngoài ra cũng có rất nhiều trường hợp tương tự như trên. Một thời tại Tích Lan, mẹ của Tỳ-kheo Mahàmitra đã mắc phải một chứng bệnh giống như bệnh ung thư vú. Người mẹ nói với con gái của bà ( cũng là một Tỳ-kheo ni) hãy đến tìm Tỳ-Kheo Mahàmitra để xin một ít thuốc chữa bệnh. Mahàmitra đã nói với chị gái của ông rằng “ tôi không có thuốc chữa bệnh, đồng thời tôi cũng không biết cách chữa bệnh thông thường. Tuy nhiên, tôi vẫn thường chữa bệnh bằng lời nguyền chân thật ( Sacca Mantra)”. Sau đó, ông đã thốt ra những lời nói chân thật có liên quan đến tư cách đạo đức của mình. “ Kể từ ngày tôi trở thành Tỳ-Kheo cho đến nay, tôi không bao giờ nhìn bất cứ một người nữ ( Mātugāma) nào với tâm khao khát”. Tiếp đến, Mahàmitra thỉnh cầu chị gái của ông hãy quay về và xoa bóp cho mẹ của ông. Vị Tỳ-Kheo ni đã nói với mẹ của bà tất cả những gì mà Mahàmitra đã nói và xoa bóp cho bà. Ngay lập tức, chứng bệnh của bà mẹ đã được chữa khỏi. Thật ra, từ “ mātugāma” không có nghĩa là “ một người nữ phá rối sự tu hành của các Tỳ-kheo”, người ta thích dùng từ “ Dhagāmagyi” với nghĩa này hơn, kể từ khi người ta phát hiện ra rằng từ “ mātugāma” đã bị dịch sai. Nói một cách chi tiết, từ ngữ đúng nhất để chỉ một người mẹ được đề cập trong tiếng Pāli là

Mātuyagāmo mātugāmo”. Ngoài ra từ này còn dùng để chỉ “ hành động và cung cách đối xử”. Một cách chính xác, từ “ Mātuyagāmo Mātugāmo” được xử dụng với nghĩa  “khi những Tỳ-kheo nhìn thấy một người nữ nhưng họ không khởi tâm khao khát và bám víu”. Ngày nay, người ta không còn xử dụng từ “ Mātugāma” với ý nghĩa sai lầm như trước nữa. Do đó, những người nữ cũng không nên tức giận khi có người gọi mình là “ Mātugāma”. Một thời khi Tôn giả Mitta đang trú tại động đá Ca-Diếp ( Kasspa Cave), người phụ nữ thường hay dâng cúng vật thực cho Ngài đã đem lòng yêu thương Ngài như một đứa con trai của bà. Một ngày nọ, vị thí chủ này đã nói với con gái của bà rằng “ ta đã có một ít gạo và cải cay còn sót lại từ ngày hôm qua, số gạo này cũng đủ để nấu cơm cho buổi sáng và tối rồi. Đây là gạo mới, đây là sữa, mật đường và bơ, con hãy nấu chúng thành một món ăn thật ngon cho anh trai Tỳ-Kheo của con”. Lúc đó, Tôn giả Mitta đang đứng tại cửa ra vào ngẫng đầu lên nghe những từ ngữ đó và tự nghĩ rằng “ tâm trí của mình chưa được tinh khiết, mình không nên chấp nhận món vật thực được dâng cúng với một niềm tin mạnh mẽ như thế”. Vì nghĩ như vậy, Tôn giả đã trở về cốc liêu của mình và thực hành thiền minh sát với một lời nguyền rằng “ Tôi sẽ không rời khỏi động đá này nữa, trừ khi đã gặt hái được Phật Pháp”. Không bao lâu sau, Tôn giả đã trở thành một vị A-La-Hán và Ngài lại đi khất thực trở lại. Từ đó, hàng ngày Tôn giả đã đi khất thực một cách đều đặn và gặt hái được nhiều lợi ích. Chúng ta nên học tập bài học tốt đẹp này. Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp nói về “ lời nguyện chân thật- tốt và xấu”, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành theo lời dạy của Đức Phật một cách thanh thản, nhanh chóng nhận thức được Niết-Bàn mong muốn, đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !               

                        

 

                                           Hành động phước thiện

 

Hành động phước thiện là một nền tảng đạo đức căn bản và tốt đẹp trong nền văn hóa Phật Giáo. Khi thực hiện những hành động phước thiện với một niềm tin mạnh mẽ, người ta sẽ gặt hái được rất nhiều lợi ích như có sức khỏe tốt, sống lâu, có diện mạo xinh đẹp, tránh được nhiều mối nguy hiểm và bệnh tật, được giàu có, có địa vị xã hội cao và danh tiếng tốt, được nhiều người yêu mến, được tái sanh vào những cảnh giới cao thượng như cõi người, Chư-Thiên, Phạm-Thiên…Ngược lại, những hành động bất thiện sẽ mang lại những kết quả xấu như tình trạng sức khỏe kém, đoản thọ, có diện mạo xấu xí khó coi, mắc phải nhiều loại bệnh tật, nghèo khổ, có địa vị xã hội thấp kém và chẳng ai biết đến, bị nhiều người ghét bỏ, bị tái sanh vào địa ngục và những cảnh giới khổ đau… Mặc dù quí vị đang lắng nghe bài thuyết Pháp ngày hôm nay đã quá quen thuộc với những hành động phước thiện. Tuy vậy, khi chịu khó lắng nghe thêm về đề tài này, quí vị sẽ hiểu rõ thêm và xóa tan được những mối nghi ngờ về Giáo Pháp. Đồng thời, tôi vẫn nói lại các cách thức thực hiện hành động phước thiện để những người chưa bao giờ được lắng nghe chúng có cơ hội học tập và thực hành theo như một cách tu tập nhằm mục đích gặt hái phước báu. Đó là lý do tại sao, chủ đề về “ hành động phước thiện” vẫn thường hay được các bậc Trưởng Thượng nhắc đến trong những buổi thuyết Pháp.

Ba kiểu hành động phước thiện

10 kiểu hành động phước thiện  (còn gọi là thập thiện) có thể được cô đọng lại thành 3 kiểu, cụ thể là bó thí ( Dāna), giữ  Giới ( Sīla) và tham thiền ( Bhāvanā). Thậm chí, 10 kiểu hành động phước thiện còn được giải thích rộng ra thành 40 kiểu.

1. Bố thí:

Bố thí gồm có PattidānaPattanumodānà. Trong đó, Pattidāna có nghĩa là hoan hỷ và đánh giá cao phước báu của những người khác.

Khi được người khác chia xẻ phước báu bằng lời nói, chúng ta hãy nói

Lành thay – Sādhu” một cách hoan hỷ. Chia xẻ phước báu cho người khác cũng là một hình thức bố thí. Khi đang thực hành giữ Giới và thiền minh sát , chúng ta có thể nói “ tôi muốn chia xẻ phước báu tham thiền

cho những người khác. Khi chúng ta muốn chia xẻ phước báu cho những người khác, không phải bất cứ lúc nào người ta cũng nhận được nó.

Tóm tắt: Mười kiểu hành động phước báu là những nhân tố căn bản để hình thành một tư cách tốt đẹp, cổ vũ và động viên những người khác bằng cách giải thích những phước báu của chính họ, đồng thời cũng hoan hỷ và đánh giá cao những phước báu đó. Bốn mươi kiểu hành động phước báu cũng chỉ là một sự giải thích mở rộng của thập thiện.

Chia xẻ phước bố thí cho những người khác chính là một hình thức bố thí thiện nghiệp. Chia xẻ phước báu giữ Giới cho những người khác cũng tương tự như thế, chứ không phải là bố thí phước báu giữ Giới. Chia xẻ phước báu tham thiền cho những người khác cũng được xem như là bố thí thiện nghiệp, chứ không phải là bố thí phước báu tham thiền. Cổ vũ và khuyến khích những thành viên trong gia đình của mình tham thiền mới chính là chia xẻ phước báu tham thiền. Chúng ta không thể chia xẻ phước báu tham thiền với những người khác, bởi vì đây là pháp chỉ có thể gặt hái được qua kinh nghiệm thực hành thiền của riêng từng người. Không có ai có thể thực hành thiền giúp cho người khác, mỗi người phải tự thực hành thiền cho chính mình. Có rất nhiều lý do tại sao người lớn tuổi không thể thực hành thiền, ví dụ như sức mạnh thể chất của họ không được tốt, họ không thể ngồi lâu,, họ không thể đi bộ thẳng lưng, tai điếc, mắt mờ, khả năng chú ý kém…Do đó, thực hành thiền lúc còn trẻ mới gặt hái được lợi ích, đợi đến khi lớn tuổi mới thực hành thiền là một điều bất lợi, thậm chí không thể thực hành được.

Tóm tắt: Thực hành Phật Pháp lúc còn trẻ tuổi mới mong gặt hái được lợi ích, không nên đợi tới lúc lớn tuổi mới bắt đầu thực hành.

Bạn sẽ gặt hái được Phật Pháp trong vòng một tháng nếu thực hành thiền ở độ tuổi từ 30 đến 40 hoặc trẻ hơn. Nhờ đó, bạn sẽ gặt hái được một nền tảng Phật Pháp tốt đẹp để có thể tiếp tục đạt tới những Pháp xuất thế cao thượng. Ở độ tuổi từ 50 đến 60, bạn có thể mất đến hai tháng thực hành thiền mới mong gặt hái được Phật Pháp, thậm chí là không thể tìm kiếm được lợi ích gì cả bởi vì ở độ tuổi đó, tinh thần và thể xác của bạn có thể đã yếu đi rất nhiều so với lúc còn trẻ. Khi đã chuyển sang độ tuổi từ 70 đến 80 mươi, bạn sẽ cảm thấy hối hận và muốn thực hành thiền. Tuy nhiên, lúc đó bạn không còn khả năng thực hành thiền được nữa, bởi vì tinh thần và thể xác của bạn đã trở nên quá già cỗi. Do trí nhớ đã kém, bạn rất khó thực hành sự chú ý một cách chi tiết đến những gì đang xảy ra không hiện tại. Không những thế, bạn còn mất khả năng ngồi thiền trong một khoảng thời gian dài như một, hai, ba tiếng đồng hồ…Do đó, năng lực định tâm của bạn cũng không thể phát triển được.

Tóm tắt: Không thể thực hành thiền khi tuổi đã già, đừng quên điều đó.

Khi đã già và không thể thực hành thiền được nữa nhưng bạn vẫn còn muốn tham gia vào công việc gia đình và thảo luận về vấn đề kinh tế. Tuy nhiên, lúc đó con cái của bạn lại mong muốn bạn thực hành thiền. Họ không muốn bạn tham gia vào những công việc gia đình. Do đó, bạn sẽ cảm thấy rất bực mình bởi vì bị bỏ rơi. Bạn có thể nghĩ rằng con cái không còn quan tâm đến mình nữa. Từ đó, bạn sẽ cảm thấy chán nản, đau khổ do tinh thần và thể xác đang dần dần suy yếu. Vì vậy, lợi ích quan trọng nhất là chúng ta nên thực hành thiền khi còn trẻ tuổi và khỏe mạnh. Một vài quí bà lớn tuổi thường nói với các bậc Trưởng Thượng rằng họ không thể đến trung tâm thiền bởi vì công việc gia đình quá bề bộn. Sở dĩ họ bị rơi vào tình trạng như vậy là do họ vẫn còn nhiều mối ràng buộc lớn lao với gia đình. Như vậy, khi nào thì họ có thể thoát khỏi những ràng buộc đó ? Chỉ khi họ đã chết. Khi về già, con cái của bạn rất mong muốn bạn thực hành thiền tại một trung tâm nào đó, thay vì gánh vác công việc gia đình. Nếu thực sự mong muốn gặt hái được Phật Pháp, bạn có thể làm được điều đó. Tất cả mọi chuyện điều tùy thuộc vào bạn mà thôi. Do đó, khi chúng ta muốn chia xẻ phước báu tham thiền với những người khác thì thật ra chúng ta đang chia xẻ thiện nghiệp với họ, chứ không phải là chia xẻ phước báu tham thiền. Nói tóm lại, tham thiền là công việc có tính chất cá nhân và phước báu gặt hái được từ công việc này là không thể chia xẻ với những người khác. Đạo quả gặt hái được qua thiền minh sát là sự thực hành và trải nghiệm có tính cá nhân thuần túy.

Giữ Giới bao gồm ApacāyanaVeyyāvacca. Trong đó, Apacāyana có nghĩa là tôn kính Phật, Pháp, Tăng, cha mẹ, thầy cô giáo và những người lớn tuổi. Veyyāvacca có nghĩa là giữ gìn đạo đức bằng cách phục vụ và thi hành những bổn phận đối với Tăng già, cha mẹ và những hành giả thực hành thiền minh sát.

Tóm tắt: Apacāyana và Veyyāvacca chính là giữ Giới ( Sīla).

Tham thiền – Bhāvanā

Tham thiền gồm có lắng nghe Giáo Pháp, truyền bá Giáo Pháp và có niềm tin đúng đắn. Một người có niềm tin đúng đắn phải tin vào những kết quả tốt hoặc xấu do các hành động mà mình đã thực hiện mang lại. Niềm tin đúng đắn là nhân tố trợ lực cho việc gặt hái được Phật Pháp.

Tóm tắt: Lắng nghe và truyền bá Giáo Pháp, có niềm tin đúng đắn cũng được cho là tham thiền – Bhāvanā.

Bốn mươi kiểu hành động phước thiện

Chúng ta có được 40 kiểu hành động phước thiện bằng cách nhân 10 kiểu hành động phước thiện đã được thảo luận ở trên với 4 nhân tố dưới đây :

1. Thực thi 10 kiểu hành động phước thiện. Bố thí, giữ Giới và tham thiền. Một người nào đó hoàn thiện việc giữ Giới sẽ được nhiều người khác đánh giá cao và tin rằng anh ta là một người lương thiện.

2. Cổ vũ những người khác thực hiện 10 kiểu hành động phước thiện.

3. Giải thích về bản chất nhân văn của 10 kiểu hành động phước thiện.

4. Cảm thấy vui thích khi thực hiện 10 kiểu hành động phước thiện.

Cổ vũ nhiều người khác thực hiện những hành động phước thiện một cách đơn thuần không mang lại kết quả gì, trừ khi họ đã nhận thức được những sự lợi ích của bố thí. Vì vậy, điều quan trọng là phải hiểu được những lợi ích mà bố thí mang lại.

Những lợi ích của việc bố thí

Tóm tắt: Sống thọ, có diện mạo xinh đẹp, giàu có, có nhiều bạn bè và quyền hành.

Người dâng của bố thí sẽ được thích thú với những lợi ích mà Pháp môn này mang lại như được sống rất thọ, có diện mạo dễ nhìn, thịnh vượng, có nhiều bạn bè và quyền hành trong mọi kiếp sống. Một thời khi Đức Phật Ca-Diếp vẫn còn tại thế, có hai vị Tỳ-kheo nọ, một người có tánh tình rất rộng lượng còn người kia thì không. Mặc dù vậy, họ vẫn là bạn tốt của nhau. Vị Tỳ-kheo tánh tình rộng lượng thường có thói quen đi khất thực cho đến khi đầy bát rồi đem những của bố thí về chia xẻ với những Tỳ-kheo khác, ông chỉ giữ lại một ít vật thực đủ dùng cho bản thân. Ông luôn luôn khuyên những Tỳ-kheo đồng tu hãy chịu khó kiếm thật nhiều vật thực để có thể chia xẻ chúng cho những người khác. Trong khi đó, vị Tỳ-kheo có tánh tình ích kỷ lại nói rằng ông chỉ đi khất thực vừa đủ cho ông xử dụng mà thôi, bởi vì đó là lời dạy của Đức Phật. Hơn nữa, tìm kiếm tứ vật dụng nhiều đến mức vượt quá nhu cầu của chính mình là tham lam. Tuy vậy, cả hai vị Tỳ-kheo này đều là những người giữ Giới rất vững chãi. Họ đã sanh ra và tái sanh trong nhiều kiếp, có lúc làm người có lúc làm Chư-Thiên cho đến thời Đức Phật Cồ-Đàm ( Gotama Buddha). Trong kiếp sống này, vị Tỳ-kheo có tánh tình rộng lượng đã tái sanh thành con trai của hoàng đế Kiều-Tất-La ( Kosala), vị Tỳ-kheo kia lại tái sanh làm con của một người hầu trong cung điện của nhà vua. Vào ngày Lễ Qui Y, mỗi người đã có một Pháp danh riêng. Lúc đó, vị Tỳ-kheo có tánh tình rộng lượng ( lúc bấy giờ đã là một hoàng tử) đã nói với vị Tỳ-kheo ích kỷ ( lúc bấy giờ là con của một người hầu) rằng : “ Hãy nhìn đi ! Tôi có thể thích thú và cảm thấy rất thoải mái khi ngủ trên một chiếc giường sang trọng. Trong khi đó, bạn chỉ có mỗi một chiếc giường ngủ bình thường thôi. Đây chính là kết quả mà bạn phải hứng chịu, vì năm xưa bạn đã không nghe lời tôi cũng như không chịu chia xẻ vật thực kiếm được cho những người khác”. Con trai của người hầu trong cung điện không giữ được im lặng đã nói vặn lại : “ Phải chăng một chiếc giường sang trọng và một chiếc giường nghèo khổ cũng giống nhau bởi vì chúng đều có cùng bản chất, chúng đều đến từ cát bụi và rồi cũng sẽ trở về với cát bụi mà thôi. Vì vậy bạn đừng nên tự cao tự đại mà làm gì”. Tiếp đến, do có những ý kiến đối lập về kiếp sống trong quá khứ của mỗi người, họ đã cãi nhau dữ dội. Lúc đó, hoàng tử Suvana tình cờ đi ngang qua, ông nghe thấy cuộc tranh luận của họ bèn sanh tâm ái ngại nhỡ có ai biết được chuyện này sẽ cho rằng đó là những lời nói nhảm nhí của trẻ con. Sau đó, ông đã tìm đến với Đức Phật và cung kính bạch rằng : “ Bạch Đức Giáo Chủ ! Trong Giáo đoàn của Ngài có hai người có niềm tin giống nhau, tư cách đạo đức đồng đẳng và trí tuệ của họ cũng vậy. Tuy nhiên, trong đó chỉ có một người thực hành bố thí và người kia thì không. Liệu đến khi được tái sanh lên cõi trời Chư-Thiên, họ có trải nghiệm kiếp sống ở đó một cách giống nhau hay không ?” Đức Phật đã trả lời rằng : “ Không, họ không thể có cuộc sống giống nhau được. Người có thực hành bố thí sẽ có cuộc sống trội hơn người kia. Anh ta sẽ gặt hái được 5 loại lợi ích, đó là được sống lâu, có diện mạo xinh đẹp, được thịnh vượng, có nhiều bạn bè và quyền hành”. Hoàng tử lại hỏi Đức Phật : “ Vậy khi được tái sanh làm người, họ có tận hưởng cuộc sống của chính họ một cách giống nhau hay không ?”. Đức Phật đã giải thích rằng người có thực hành bố thí sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn người không thực hành Pháp môn này. Hoàng tử Suvana lại hỏi Đức Phật : “ Vậy khi gia nhập Tăng đoàn và trở thành Tỳ-kheo, cuộc sống của họ có giống nhau không ?”. Đức Phật đã trả lời :

 “ Người có thực hành bố thí sẽ có nhiều y áo, nhiều vật thực, nhiều chỗ ở, nhiều loại thuốc men chữa bệnh cần thiết và được những Tỳ-kheo khác tôn trọng. Tuy nhiên, khi đã trở thành A-La-Hán thì họ không còn gì khác nhau nữa cả. Nói cách khác, họ đã đồng đẳng trên mọi phương diện”. Đấng Giác Ngộ đã từng tán dương những sự lợi ích của bố thí và Ngài cũng thường khuyên mọi người rằng cần phải nhận thức được những lợi ích này.

Những lợi ích của việc giữ Giới

Theo trình tự cổ vũ cho người đang thực hành giữ Giới, điều cần thiết và đầu tiên mà họ cần phải đạt tới là nhận thức được những lợi ích của việc giữ Giới. Người có niềm tin khi giữ Giới sẽ dễ dàng trở thành một người lương thiện và được mọi người yêu mến. Trong quan hệ xã hội cũng như trong buôn bán kinh doanh, anh ta đều được người khác tiếp đón niềm nở. Do đó, người này dễ dàng trở nên thịnh vượng và không gặp phải những vấn đề rắc rối trong giao tiếp với người khác. Nhiều người khác đều nghe tiếng anh ta là một người lương thiện, mặc dù họ chưa bao giờ gặp mặt anh ta và đồng thời cũng muốn gặp anh ta. Mặt khác, không có ai muốn giao tiếp với một người không có đạo đức tốt và thậm chí là bất lương. Do không có được sự tín nhiệm của nhiều người khác, một người bất lương sẽ gặp nhiều khó khăn trong quan hệ xã hội và buôn bán kinh doanh. Một người có giữ Giới sẽ được chết với một trạng thái tâm thức nhẹ nhàng và trong sáng. Vì vậy, anh ta sẽ được tái sanh vào cõi Chư-Thiên. Mặt khác, những người không thực hành giữ Giới chắc chắn sẽ bị tái sanh vào những cảnh giới thấp kém.

Tóm tắt: Một người lương thiện sẽ dễ dàng được thịnh vượng và được nhiều người chấp nhận, được chết với một tâm thức nhẹ nhàng và trong sáng, được tái sanh vào cõi trời Chư-Thiên. Đây là những lợi ích của việc giữ Giới.

Những lợi ích của việc tham thiền

Nhiều người cho rằng tham thiền là một công việc khó khăn, đặc biệt là thiền minh sát. Để tạo cảm hứng cho những người tham thiền, chúng ta nên giải thích và thảo luận một cách rõ ràng về những lợi ích thế gian cũng như xuất thế gian mà tham thiền mang lại. Đức Phật đã từng tuyên bố về những lợi ích của việc tham thiền ( Bhāvanā). Trước đó, Ngài cũng đã chỉ ra trong Kinh Đại-Niệm-Xứ ( Mahā Satipatthāna Sutta) rằng :

- Nếu quí vị muốn loại bỏ những thứ ô nhiễm trong tâm thức thì hãy thực hành thiền Tứ-Niệm-Xứ. Sau đó, bằng cách chú ý đến những gì đang xảy ra trong hiện tại, tâm trí của quí vị sẽ trở nên tinh khiết.

- Tham lam, sân hận, vọng tưởng, ghen tị, hám lợi, lo âu và than khóc…chắc chắn sẽ bị xua tan bằng cách thực hành thiền Tứ-Niệm-Xứ.

- Việc thực hành thiền Tứ-Niệm-Xứ sẽ giải phóng chúng ta ra khỏi những trạng thái đau khổ về thể xác và tinh thần.

- Nếu một người nào đó mong muốn gặt hái được Bát-Chánh-Đạo để có thể khép lại cánh cửa của địa ngục thì hãy thực hành thiền Tứ-Niệm-Xứ

( Satipatthāna Bhāvanā).

- Để đạt tới Niết Bàn, dập tắt tất cả những nổi khổ đau thì hãy chuyên tâm thực hành thiền Tứ-Niệm-Xứ. Bố thí, giữ Giới và thiền định có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau. Tuy nhiên, việc thực hành thiền Tứ-Niệm-Xứ không thể thực hiện được bằng thân xác và lời nói. Nó là một công việc thuộc về tinh thần. Để thực hành loại thiền này người ta phải vận dụng khả năng nhận thức của tâm trí. Bố thí, giữ Giới và thiền định không thể nhận thức được Niết Bàn. Chỉ có thiền Tứ-Niệm-Xứ là con đường duy nhất dẫn đến Niết Bàn. Bạn sẽ gặt hái được phước báu khi giải thích và thảo luận về những lợi ích của bố thí, giữ Giới và tham thiền.

Tóm tắt: Để loại bỏ những thứ ô nhiễm trong tâm thức, hãy thực hành thiền Tứ-Niệm-Xứ. Để vượt qua được lo âu và than khóc, hãy thực hành thiền Tứ-Niệm-Xứ. Để thoát khỏi những khổ đau về thể xác, hãy thực hành thiền Tứ-Niệm-Xứ. Để nhận thức được Bát-Chánh-Đạo, hãy thực hành thiền Tứ-Niệm-Xứ. Để đạt tới Niết Bàn, hãy thực hành thiền Tứ-Niệm-Xứ.

Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp nói về “ hành động phước thiện”, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành theo những lời dạy của Đức Phật, nhanh chóng nhận thức được Niết Bàn mong muốn, đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau ! Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !  

 

                

                                            Ngày của Vi Diệu Pháp

 

Ngày trăng tròn tháng Theeding yut ( tức tháng Assyuja trong lịch Ấn Độ cổ đại, khoảng tháng 10 hay tháng 11 dương lịch) là một ngày hứa hẹn. Trong ngày này, các Phật tử thường có những hoạt động để gặt hái phước báu. Đây là ngày cuối cùng trong mùa an cư của các Tỳ-kheo và cũng là ngày cử hành lễ Tự-Tứ ( Pavāranā). Từ Pavāranā có nghĩa là mời mọc hay thỉnh cầu. Vào cuối mùa an cư, tại nhiều nơi, người ta thường tổ chức những buổi lễ nhằm mục đích truyền bá Phật Pháp. Những Tỳ-kheo cùng cư trú trong một tu viện thường tổ chức một buổi lễ họp mặt để chấm dứt mùa an cư ( người Việt Nam gọi là Lễ Ra Hạ - ND). Trong buổi lễ này, người ta thường thỉnh cầu những người khác như “ Hãy vui lòng cho tôi một lời khuyên tử tế nếu quí vị có thể, hãy chỉ cho tôi thấy được những lỗi lầm của chính tôi nếu quí vị có thể”…Nói tóm lại, lễ Tự Tứ là một buổi lễ được tổ chức nhằm mục đích kiểm điểm lại quá trình ăn ở, tu hành của các Tỳ-kheo trong suốt 3 tháng an cư.

Tóm tắt: Lễ Tự Tứ được tổ chức vào ngày trăng tròn tháng Theedingyut.

Một cá nhân nào đó bị phạm phải nhiều lỗi lầm chắc chắn sẽ không gặt hái được Phật Pháp. Đó là lý do tại sao người này cần phải biết rõ những lỗi lầm đã phạm phải của chính mình để có thể sám hối và sửa đổi lại cho đúng đắn.

Tóm tắtBiết được lỗi lầm của chính mình là một hành động tử tế.

Những hành giả đang thực hành thiền minh sát có nên học bài học này hay không ? Có. Những hành giả nên thỉnh cầu vị thiền sư chỉ ra cho họ thấy được những lỗi lầm mà họ đã phạm phải.

Tóm tắt: Lập tức nghe lời các vị thiền sư và sám hối để sửa sai khi đã nhận thấy được những lỗi lầm của chính mình.

Ngày trăng tròn tháng Theedingyut cũng là một ngày đặc biệt. Vào ngày này, Đức Phật đã trở về cõi người sau khi đã lên cõi Tam-Thập-Tam-Thiên ( tức cõi trời Đạo Lợi - Tāvatimsā) để thuyết Vi Diệu Pháp liên tiếp trong 3 tháng cho Phật Mẫu nghe. Tất cả những quốc gia theo Phật Giáo Nguyên Thủy ( Theravāda) đều thừa nhận ngày trăng tròn tháng Theedingyut là

ngày của Vi Diệu Pháp”.

Tóm tắt: Đức Phật đã thuyết Vi Diệu Pháp trong mùa mưa thứ bảy, kể từ khi Ngài thành đạo.

Vào mùa an cư thứ bảy, để trả ơn cho mẹ của mình, Đức Phật đã đến cõi trời Đạo-Lợi ( Tāvatimsā), ngồi trên một phiến đá ngọc lục bảo và thuyết Vi Diệu Pháp. Lúc bấy giờ, Phật Mẫu đã là một Chư-Thiên có tên là Santusita. Chư-Thiên và Phạm-Thiên trên 10 ngàn thế giới đã đến dự để nghe Vi Diệu Pháp.

Tóm tắt: Vi Diệu Pháp đã được Đức Phật thuyết lần đầu tiên tại cõi trời Đạo-Lợi.       

 Tại sao khi ngày Vi Diệu Pháp đến với cõi người, người ta lại nghĩ rằng Vi Diệu Pháp đã được thuyết ra tại cõi trời Đạo-Lợi ? Bởi vì vào ngày này Đức Phật đã trở về cõi người sau khi đã thuyết Vi Diệu Pháp tại cõi trời Đạo-Lợi.

Tóm tắt: Đức Phật đã trở về cõi người vào ngày trăng tròn tháng Theedingyut.

Đức Phật đã thuyết Pháp liên miên ngày và đêm như thể nước nguồn đổ xuống. Trong lúc đang thuyết Pháp, nếu cần đi khất thực, Đức Phật đã tạo ra một bản sao giống hệt như Ngài và để cho bản sao này ngồi thuyết Pháp, còn Ngài thì đi khất thực. Chỉ có những vị Chư-Thiên và Phạm-Thiên đủ thần thông mới biết được sự thật này, những vị khác không thể biết được. Khi bản sao của Đức Phật đang ngồi thuyết Pháp tại cõi trời Đạo-Lợi, Ngài trở về địa cầu, đến tắm tại hồ Anotatta và đi khất thực tại đảo Bắc. Sau đó, Ngài lại trở về hồ Anotatta để thọ thực và nghỉ ngơi dưới lùm cây đàn hương

( Sandal-Wood). Tôn giả Xá-Lợi-Phất đã đến gặp Ngài và giúp một vài công việc vặt. Đức Phật đã thuyết Vi Diệu Pháp một cách tóm tắt cho Tôn giả nghe. Với trí tuệ siêu việt, Tôn giả Xá-Lợi-Phất đã học hết mọi khía cạnh đặc trưng của Vi Diệu Pháp và sau đó đã dạy bài Kinh này lại cho 500 vị đệ tử của Ngài. Vào thời Đức Phật Ca-Diếp còn tại thế, có 500 con dơi sống trong một hang động đã cảm thấy rất hoan hỷ khi nghe 2 vị Tỳ-kheo tụng Vi Diệu Pháp. Những con dơi này không hề có khái niệm về phước báu hay ác nghiệp gì cả. Tuy nhiên, do năng lực của Vi Diệu Pháp, chúng vẫn cảm thấy hoan hỷ với những âm thanh phát ra từ tiếng tụng Kinh của 2 vị Tỳ-kheo nói trên. Khi chết đi, 500 con dơi này tái sanh thành những vị Chư-Thiên. Do năng lực của Vi Diệu Pháp, họ lại tiếp tục tái sanh làm những Chư-Thiên vào giữa thời Đức Phật Ca-Diếp và Đức Phật Cồ-Đàm. Đến thời Đức Phật Cồ-Đàm, những Chư-Thiên này lại tái sanh làm người. Họ gia nhập Tăng Đoàn, trở thành những Tỳ-kheo đệ tử của Tôn Giả Xá-Lợi-Phất và Tôn Giả đã dạy Vi Diệu Pháp cho họ. Do trong kiếp sống ở quá khứ đã là những con dơi sống trong hang động nói trên, những vị Tỳ-kheo này đã học Vi Diệu Pháp một cách dễ dàng. Trong suốt ba tháng an cư và thuyết Vi Diệu Pháp cho Phật Mẫu nghe, hàng ngày mỗi lần trở về thọ thực bên hồ Anotatta, Đức Phật cũng đã thuyết Vi Diệu Pháp một cách tóm tắt cho Tôn Giả Xá-Lợi-Phất nghe. Sau đó, mỗi ngày Tôn Giả quay về đều dạy lại Pháp này cho những đệ tử của Ngài. Từ đó, Vi Diệu Pháp đã lan rộng khắp cõi người thông qua Tôn Giả Xá-Lợi-Phất, người đã dạy Pháp này cho 500 vị Tỳ-kheo đệ tử của Ngài. Trong tiếng Pàli, từ Abhi có nghĩa là phi thường, siêu việt hay cao siêu ( Extraordinary) và từ Dhamma có nghĩa là Giáo Pháp. Như vậy, Abhidhamma có nghĩa là Giáo Pháp Cao Siêu bởi vì nó cao cấp hơn các loại Kinh Điển khác trong Phật Giáo. Nói cách khác, Vi Diệu Pháp là một sự giải thích chi tiết và công phu về ý nghĩa của Kinh Điển Phật Giáo. Vi-Diệu-Pháp về giải thích 5 uẩn ( Khanda), 12 xứ ( Àyàtana), 18 giới ( dhàtu), 4 sự thật cao thượng ( tức Tứ Diệu Đế - Catu Ariya Sacca) và 4 nền tảng quán niệm (Catu Satipatthāna)…đã được Đức Phật thuyết ra một cách tóm tắt trong Kinh Điển thông thường.

Tóm tắt: Vi Diệu Pháp là sự giải thích lại Kinh Điển thông thường một cách chi tiết và công phu.

Vi Diệu Pháp đích thực là chân lý, là những lời dạy do chính Đức Phật thuyết ra. Những lời dạy của Đức Phật trong Kinh Điển thông thường có tính khế cơ, thích hợp với khả năng hiểu biết và độ chín muồi trong hạnh nguyện Ba-La-Mật riêng của từng người và rất dễ lãnh hội. Do đó, những lời dạy của Đức Phật trong Kinh điển thông thường có lúc cao siêu hay sâu thẳm và có lúc cũng rất giản dị và bình thường. Những đối tượng lắng nghe Đức Phật thuyết những bài Kinh thông thường chỉ giải phóng được tư tưởng của họ đến một mức nào đó nào đó mà thôi, tùy theo trình độ lãnh hội và độ chín muồi trong hạnh Ba-La-Mật của chính họ. Ngược lại, những lời của Đức Phật dạy trong Vi Diệu Pháp là rất chính xác, thực tế và rõ ràng, không phân biệt trình độ của những đối tượng được giáo hóa. Những phán quyết hay quyết định về ý nghĩa đích thực của Giáo Pháp do Tăng đoàn đưa ra đều có tham khảo qua Vi Diệu Pháp. Đức Phật đã giải thích trong Kinh Vibhanga rằng, kết quả của những người thực hành bố thí, giữ Giới và thiền định là được tái sanh vào cõi người, sáu cõi trời sắc giới và 6 cõi trời vô sắc của Phạm-Thiên. Tuy nhiên vào một ngày nào đó, nếu hết phước, họ vẫn bị đọa vào 4 đường khổ là địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ và A-Tu-La. Ngài cũng đã dạy rằng bố thí, giữ Giới và thiền định không thể dẫn đến Niết Bàn.

Trong khi đó, người thực hành thiền minh sát có thể khép lại cánh cửa địa ngục và đạt tới Niết Bàn. Đối với một vị Tu-Đà-Hườn, những hành động bất thiện mà vị này đã từng thực hiện trong quá khứ đã mất hết hiệu lực. Do đó, một Tu-Đà-Hườn đã thật sự thoát khỏi địa ngục. Không những thế, những hành động bất thiện trong kiếp sống hiện tại của một Tu-Đà-Hườn cũng đã biến mất. Khi đã vĩnh viễn thoát khỏi địa ngục, một vị Tu-Đà-Hườn sẽ có khả năng chịu đựng những kiếp sống còn lại của mình trong luân hồi một cách mạnh mẽ. Trong những kiếp sống tương lai, chắc chắn vị này sẽ trở thành những bậc cao thượng và được tái sanh vào những cảnh giới tốt đẹp. Mặc dù khi đang tận hưởng những kiếp sống dễ chịu trong luân hồi, một vị Tu-Đà-Hườn có thể quên thực hành Giáo Pháp. Tuy nhiên, tối đa cũng chỉ là 7 kiếp mà thôi. Sau đó, vị này sẽ đạt tới Niết Bàn bằng cách thực hành thiền minh sát. Mặc dù Đức Phật đã không nói một cách thẳng thừng rằng thiền Tứ-Niệm-Xứ ( tức thiền minh sát) là đáng tin cậy nhất. Tuy nhiên, Ngài đã nói một cách dứt khoát trong Vi Diệu Pháp rằng, bố thí, giữ Giới và thiền định không có khả năng giúp cho chúng ta thoát khỏi địa ngục. Vào ngày trăng tròn tháng Theedingyut, khi bài thuyết về Vi Diệu Pháp đã kết thúc, Đức Phật tỏ ý muốn trở về địa cầu, vua của cõi Chư-Thiên đã tạo ra 3 cái thang kéo dài từ cõi trời Đạo-Lợi cho đến cổng thành Sankassa. Cái thang ở giữa được làm bằng hồng ngọc, cái bên phải được làm bằng vàng và cái bên trái được làm bằng bạc.

Tóm tắt: Vàng ở bên phải, trái là bạc và ở giữa là hồng ngọc.

Đức Phật đã trở về địa cầu bằng cái thang hồng ngọc. Trong khi đó, Chư-Thiên hộ tống Ngài trên cái thang bằng vàng với nhạc trời trổi lên. Phạm-Thiên nắm những cây dù màu trắng và bước xuống trên cái thang bằng bạc. Đức Phật đã thể hiện thần thông làm cho con  người, Chư-Thiên và Phạm-Thiên đang tập họp trong phạm vi 36 do –tuần ( một dặm Anh bằng 1609 mét- ND) có thể thấy nhau. Thần thông của Đức Phật trải rộng từ cõi Bhavagga ( cõi trời cao nhất trong thế giới của Phạm-Thiên) đến cõi Avīci

( A-Tỳ-địa ngục, cõi thấp nhất ở địa ngục), xuyên qua 10 phương vũ trụ vô cùng tận. Những người đã từng nhìn thấy sự huy hoàng của Đức Phật trong ngày ấy, không có ai là không ao ước gặt hái được Đạo quả Phật. Những người nữ xuất hiện trong đám đông chào đón Đức Phật trở về địa cầu từ cõi trời Đạo-Lợi cũng có thể đạt tới Đạo quả Phật. Đó là lý do tại sao không có ai có thể nói rằng phụ nữ không thể đạt tới Đạo quả Phật. Với sự kiện này, những vị Trưởng Lão ngày nay đã quả quyết rằng phụ nữ vẫn có thể đạt tới Đạo quả Phật. Thật ra, phụ nữ không thể đạt tới giác ngộ như một vị Phật, mặc dù họ mong muốn như vậy, trừ khi họ đã tái sanh làm một người nam, chỉ đến lúc ấy thì họ mới được mãn nguyện. Những người nữ muốn được tái sanh thành nam giới cần phải có 4 điều kiện sau đây :

1. Có niềm tin mạnh mẽ vào Tam-Bảo dù phải trả giá bằng sinh mạng của chính mình.

2. Giữ gìn 5 Giới một cách vững chãi

3. Chán ghét thân phận nữ giới của chính mình

4. Mong muốn trở thành nam giới như một ước nguyện lớn lao

Mặc dù sau khi đã được nghe và thấy sự huy hoàng vĩ đại của Đức Phật, những người có mong muốn đạt tới Đạo quả Phật vẫn còn lưỡng lự nếu họ biết được khoảng thời gian mà họ cần phải trải qua để hoàn thiện hạnh Ba-La-Mật của chính mình. Để trở thành một vị Phật Trí Tuệ ( Paññādhika Buddha), người ta cần phải trải qua 4 A-tăng-kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp mới có thể đạt tới mục đích. Nếu muốn trở thành một vị Phật Niềm Tin

( Saddhādhika Buddha), người ta cần phải trải qua 8 A-tăng-kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp. Để trở thành một vị Phật Tinh Tấn ( Viriyadhika Buddha), người ta cần phải trải qua 16 A-tăng-kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp. Với những khoảng thời gian dài nói trên, những người nữ cũng có thể chưa đạt tới Đạo quả Phật, thậm chí khi họ đã cố gắng trở thành một Tu-Đà-Hườn. Để đạt tới Đạo quả Phật, những người nữ cần phải có ý chí mạnh mẽ và lòng dũng cảm vô bờ bến. Có một trường hợp người nữ đã đạt được 4 điều kiện để trở thành nam giới trong kiếp sống thứ hai. Vào thời Đức Phật còn tại thế, Gopika là một công chúa thuộc dòng họ Thích-Ca có niềm tin mạnh mẽ vào Tam-Bảo, bà giữ gìn 5 Giới rất vững chãi. Bà luôn chán ghét thân phận nữ giới và luôn luôn mong muốn được làm một người nam. Với mong muốn đó, mỗi ngày bà đều thỉnh 3 vị Tỳ-kheo đến thăm nhà của mình để dâng cúng vật thực.

 Trong kiếp sống kế tiếp, bà được tái sanh thành một nam Chư-Thiên tên là Gopaka, con trai của vua cõi Chư-Thiên. Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp nói về “ ngày của Vi-Diệu-Pháp”, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành theo những lời dạy của Đức Phật một cách dễ dàng. Cầu chúc cho quí vị sẽ nhanh chóng gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng, nhận thức được Niết-Bàn và đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !

 

 

                                                  Bốn Pháp ủng hộ

 

Bài thuyết Pháp hôm nay sẽ nói về 4 Pháp ủng hộ như đã được trích dẫn trong Kinh Sangaha. Đa số mọi người đều giữ Giới theo 2 kiểu, đó là Vāritta SīlaCāritta Sīla. Đức Phật đã qui định về những cách thức thực hành giữ Giới như “ Tôi cam kết tránh xa việc sát sanh – Pānātipātā veramani sakkhāpadam”, “ tránh xa việc trộm cắp – adinnādhānā veramani sakkhāpadam”…Những giới luật này được gọi là Vāritta Sīla.Giới luật vāritta được Đức Phật ban bố ra nhằm ngăn chặn những hành động sát sanh, trộm cắp, tà dâm…

Tóm tắt: Những Giới luật ngăn chặn những hành động bất thiện được gọi là Vāritta Sīla.

Đức Phật cũng đã qui định những loại nghĩa vụ phải thực hiện như nghĩa vụ đối với cha mẹ, con cái, thầy cô giáo, học sinh, bạn bè…Nói theo quan điểm của cõi thế gian, nếu không tuân thủ những nghĩa vụ này tức là đã vi phạm luân thường đạo lý.

Tóm tắt: Những nghĩa vụ cần phải thực hiện trong cõi thế gian là Cāritta Sīla.

Bốn cách thể hiện sự tôn trọng và ủng hộ

Đức Phật đã từng qui định 4 Pháp mà những người đang chung sống với nhau cần phải thực hành để thể hiện sự tôn trọng và ủng hộ, đó là :

1. Dāna  – Dâng cúng, ủng hộ và tôn trọng những người khác

2. Peyyāvajja – Khi gặp trường hợp cần phải nói một điều gì đó thì hãy nói một cách nhu hòa và tử tế với người khác.

3. Atthācariya – Bạn bè, thầy cô giáo và học sinh, những thành viên trong một gia đình đang chung sống với nhau nên có tinh thần ủng hộ, tôn trọng và làm việc vì lợi ích của người khác.

4. Samānatthatā – Luôn luôn đồng hành, ăn ở và xem người khác như thể chính mình, dù đó là những người giàu có hay nghèo khổ.

Tóm tắt: Bố thí, nói lời nhu hòa và tử tế, làm việc vì lợi ích của người khác và xem người khác như thể chính mình là 4 cách thức ủng hộ.

1. Dāna- bố thí

Bố thí làm cho cả người nhận lẫn người cho đều được hạnh phúc và tích lũy được những phước báu. Người nhận sẽ hạnh phúc vì nhận được những thứ mà anh ta đang cần. Người cho cũng cảm thấy sung sướng khi thấy người khác được hạnh phúc. Hạnh phúc và yên bình trong tâm trí của người cho đã thủ tiêu được tính bám víu vào của cải, tính tham lam và ghét bỏ đồng loại. Đồng thời người nhận cũng nghĩ rằng người cho có lòng thương yêu tử tế và tự nguyện. Từ đó, tâm từ của người nhận sẽ phản hồi lại đến người cho và khiến cho người cho được hạnh phúc. Vì vậy, phước báu hỗ tương sẽ phát triển trong tâm thức của người nhận lẫn người cho. Những cá nhân đang chung sống với nhau hoàn thiện được nghĩa vụ của mình đối với những người khác theo một quan điểm đúng đắn nghĩa là đã ủng hộ và tôn trọng người khác.

2. Peyyāvajja- nói lời nhu hòa

Khi gặp trường hợp cần phải nói một điều gì đó thì bạn nên nói một cách nhu hòa và tử tế. Sau khi đã dâng cúng, nếu bạn nói lời cay nghiệt và lăng mạ đối với những người có địa vị thấp hơn mình, nghĩa là bạn chẳng có ủng hộ họ gì cả.

Tóm tắt: Nên nói những lời nhu hòa, tử tế và giàu lòng trắc ẩn đối với những người có địa vị thấp hơn mình.

Khi gặp phải những người ăn nói thiếu văn hóa, bạn nên có những suy nghĩ mang tính trắc ẩn như “ Người này đã nói những điều bất lịch sự đó bởi vì anh ta chưa trưởng thành và chưa có sự hiểu biết”. Nói năng nhu hòa và tử tế là một cách ủng hộ người khác. Thay vì nói lời ủng hộ, một người muốn hạ nhục và bạc đãi với người khác( Vihimsa) bằng cách nói “ ông, bà, cô…là người vô dụng và không biết gì cả ”. Đúng ra người này cần phải vun bồi tâm hỷ ( Muditā) đối với những người làm tốt hơn mình, có sức khỏe, của cải và sự giáo dục hơn mình mới phải. Người này cần phải suy niệm rằng :

 “ Mình cảm thấy vui vẻ với sự giàu có của họ và mong muốn cho họ ngày càng thịnh vượng và hạnh phúc hơn”. Đây chính là cách thức ủng hộ và tôn trọng những người khác hơn mình. Ghen tị và đố kỵ có thể phát triển trong tâm thức nếu chúng ta thất bại trong việc vun bồi tâm hỷ đối với những người khác.

Tóm tắt: Nên nói lời hoan hỷ với những người có địa vị cao hơn mình.

Đối với những cá nhân có địa vị ngang hàng với mình, chúng ta nên phát triển tâm từ bằng cách suy niệm rằng : “ Cầu chúc cho họ được hạnh phúc và thịnh vượng giống như mình”.

Tóm tắt: Nên nói lời thương yêu tử tế đối với những người có địa vị ngang hàng với mình.

Phát triển tâm từ đối với những người có địa vị ngang hàng với mình với sự tôn trọng nhân cách và phẩm giá của họ được xem là một hình thức thể hiện sự ủng hộ và tôn trọng. Nếu một người nào đó mang tâm ghét bỏ người khác thì tính kiêu căng tự phụ và đố kỵ sẽ khởi lên trong người này. Vì vậy, anh ta sẽ không có khả năng nói những lời nhu hòa và tử tế.

3. Atthācariya- làm việc vì lợi ích của người khác

Làm việc vì lợi ích của người khác được biết đến như là một hình thức thể hiện sự ủng hộ và tôn trọng. Ví dụ như việc giúp đỡ một người nào đó gặt hái được sự giáo dục khi người này mong muốn như vậy. Chúng ta cũng có thể giúp cho ai đó có được một phương kế sinh nhai lương thiện bằng những lời khuyên, giúp đỡ về tài chánh và làm cho người mình muốn giúp có thể tự làm lấy công việc của anh ta. Khi có một ai đó đau ốm, chúng ta có thể chăm sóc cho người này bằng cách đưa anh ta đi gặp bác sĩ, trợ giúp cho anh ta những nhu cầu thiết yếu... Theo lời Phật dạy, những cách thức ủng hộ này sẽ khiến cho người thực hiện chúng gặt hái được nhiều lợi ích trong thế gian.

Trên quan điểm về cõi xuất thế gian, chúng ta có khuyến khích và động viên bạn bè, những thành viên trong gia đình của mình và nhiều người khác thực hành giữ Giới, bố thí, thiền định và thiền minh sát. Đây cũng được xem như là một cách thức thể hiện sự ủng hộ và tôn trọng người khác, là “ thương người như thể thương thân – Atthācariya”. Những người lắng nghe Giáo Pháp thực hành đúng theo lời dạy của Đức Phật sẽ gặt hái được phước báu bằng cách khuyến khích và động viên người khác thực hành giữ Giới, bố thí, thiền định và thiền minh sát. Họ có thể khuyến khích và động viên người khác bằng lời nói và ủng hộ về mặt tài chánh. Vì vậy, họ được người khác tôn trọng và tín nhiệm. Nếu một người nào đó mang tâm ghen tị thì chắc chắn nhiều vấn đề bất lợi khác sẽ xảy đến với anh ta. Đức Phật đã từng có chủ trương giúp đỡ người khác bằng cách khuyến khích và động viên họ thực hành thiền, giữ Giới và bố thí. Trong tất cả những loại hành động thiện lành, Đức Phật đã chỉ ra rằng, thiền minh sát là một loại thiền mang lại nhiều lợi ích nhất. Người có thực hành bố thí sẽ được tái sanh vào cõi người và cõi Chư-Thiên, có một cuộc sống hạnh phúc và thanh thản. Người không thực hành bố thí kiếm kế sinh nhai một cách khó khăn, thậm chí phải trả giá bằng mạng sống của chính mình mới có được. Người muốn thực hành bố thí cho người khác phải có một cuộc sống giàu có và thịnh vượng. Vì vậy người này phải chăm chỉ làm việc để tìm kiếm của cải một cách lương thiện. Những người giữ Giới vững chãi sẽ được tái sanh vào cõi người và cõi Chư-Thiên, có sức khỏe tốt và sống lâu. Trong khi đó, người không thực hành giữ Giới có thể bị tái sanh vào những cõi sống thấp kém khi hết phước. Bảy khoảnh khắc xung lượng hay sức đẩy của tâm ý ( Javana- Còn gọi là tốc hành tâm) chỉ xuất hiện vỏn vẹn trong một ý niệm thiện lành. Xung lượng xảy ra trong khoảnh khắc thứ nhất kể khi hành động thiện lành được thực hiện ( ở đây là bố thí và giữ Giới) có thể khiến cho người thực hiện hành động này được sung sướng trong kiếp sống hiện tại. Trong khi đó, xung lượng xảy ra trong khoảnh khắc thứ bảy có thể mang lại kết quả tốt cho kiếp sống thứ hai, khi người thực hiện hành động thiện lành tái sanh làm người hay Chư-Thiên. Tuy vậy, xung lượng xảy ra trong khoảnh khắc thứ năm sẽ mang lại lợi ích dài lâu cho đến khi người thực hiện hành động thiện lành đạt tới Niết-Bàn. Do đó, chúng ta nên chuyên tâm thực hành việc bố thí và giữ Giới. Do ảnh hưởng của nghiệp thiện lành gặt hái được từ thiền định ( Samātha bhāvanā), người ta sẽ trở thành Phạm-Thiên ( Brahmā) trong kiếp sống thứ hai.

Tuy nhiên, năng lực của thiền định không có hiệu quả lâu dài. Khi ảnh hưởng của năng lực này chấm dứt, người ta lại phải tái sanh vào cõi người, mặc dù đã từng là một Phạm-Thiên. Khi đã tái sanh làm người, nếu vi phạm vào những hành động bất thiện, vị Phạm-Thiên nói trên vẫn có thể bị đọa xuống địa ngục.Vì vậy, thiền định chỉ mang lại lợi ích trong hai kiếp sống. Bố thí và giữ Giới chỉ có thể khiến cho người ta được tái sanh vào cõi người hay cõi Chư-Thiên mà thôi. Chỉ riêng phước báu gặt hái được từ việc bố thí và giữ Giới thì không đủ năng lực thúc đẩy để người ta có thể gặt hái được Niết-Bàn. Mặt khác, nếu phước báu bố thí và giữ Giới không đủ mạnh thì điều này có thể khiến cho cận tử nghiệp ( tức khoảnh khắc cuối cùng trước khi chết- Āsanna Kamma ) của một người nào đó xảy ra trong một trạng thái không được tốt đẹp. Từ đó, người này có thể bị tái sanh vào địa ngục. Năng lực của thiền định có thể làm cho tác động của nghiệp xấu bị tiêu tan khi người ta chết đi. Một người đã hoàn thiện được năng lực thiền định của chính mình sẽ không bao giờ bị tái sanh vào địa ngục trong kiếp sống thứ hai. Tuy nhiên trong kiếp sống thứ ba, người này chưa chắc được tái sanh vào cõi người hay cõi Chư-Thiên. Vì vậy, năng lực của thiền định không có ảnh hưởng chắc chắc và lâu dài giống như xung lượng xảy ra vào khoảnh khắc thứ năm, khi người ta thực hiện một hành động phước thiện nào đó. Thiền minh sát mới chính là con đường trí tuệ đáng tin cậy nhất. Khi một người nào đó đã gặt hái được kiến thức về nhân quả - Paccaya pariggaha Nàna, anh ta có thể được công nhận như là một Tiểu-Tu-Đà-Hườn ( Cula-Sotāpañña), người đã vĩnh viễn không còn bị tái sanh vào địa ngục trong những kiếp sống kế tiếp. Một người sau khi đã nhận thức được Đạo quả Tu-Đà-Hườn bằng cách liên tục gặt hái được những trạng thái nội quán thì cánh cửa của địa ngục khổ đau sẽ vĩnh viễn đóng lại đối với anh ta. Những nghiệp bất thiện trong quá khứ và hiện tại của một Tu-Đà-Hườn sẽ mất hết tác dụng và cuối cùng sẽ bị tiêu tan giống như một cái cây đã bị sét đánh bật gốc, không thể mọc lại được nữa. Thiền minh sát là con đường trí tuệ đáng tin cậy nhất, là một sự biểu hiện đích thực của Chánh Pháp. Chúng ta nên thường xuyên cổ vũ, khuyến khích, động viên bạn bè và nhiều người khác thực hành loại thiền này. Đây chính là một cách thức ủng hộ mang lại nhiều lợi ích cho người khác. Không còn nghi ngờ gì nữa, một Tu-Đà-Hườn sẽ không bao giờ còn bị tái sanh vào cõi súc sinh, ngạ quỷ, A-tu-la và địa ngục. Vị này sẽ trải nghiệm những kiếp sống tốt đẹp và cao thượng còn lại trong luân hồi như :  Có diện mạo xinh đẹp, có đời sống tinh thần cao cấp, được sanh vào những gia đình thượng lưu và có cuộc sống sung túc về mặt vật chất. Khi vẫn còn sống trong luân hồi, một vị Tu-Đà-Hườn sẽ có một những kiếp sống vô úy ( không còn sợ hãi) và thanh thản. Người trần tục phải luôn luôn nổ lực đặc biệt để có được một cuộc sống tốt đẹp và cao thượng. Tuy nhiên, một Tu-Đà-Hườn không cần phải nổ lực gì cả mà vẫn có được cuộc sống mong muốn đó. Giáo Pháp sẽ luôn luôn ủng hộ các vị Tu-Đà-Hườn để họ luôn luôn có được sự thịnh vượng, những suy nghĩ cao thượng và niềm tin vững chãi. Một Tu-Đà-Hườn luôn luôn có niềm tin mạnh mẽ và vững chãi vào Phật, Pháp, Tăng, nghiệp và tác động của nghiệp, mặc dù phải đối diện với những hiểm nguy trong cuộc sống. Do được tận hưởng những kiếp sống dễ chịu còn lại trong luân hồi, một Tu-Đà-Hườn có thể quên không thực hành thiền minh sát. Tuy nhiên tình trạng đó cũng chỉ kéo dài tối đa là 7 kiếp sống mà thôi. Vào kiếp sống thứ bảy trong luân hồi, một Tu-Đà-Hườn sẽ trở thành A-La-Hán và đạt tới Niết-Bàn.Vì vậy, khuyến khích người khác thực hành theo những lời dạy của Đức Phật là một việc làm mang lại lợi ích cho tất cả muôn loài chúng sanh.

4. Samānatthatā- xem người khác như thể chính mình

Sống, ăn uống, du ngoạn và xem tha nhân như chính bản thân mình, không phân biệt giàu nghèo là một cách thức ủng hộ người khác. Tại Miến Điện không hề có sự phân biệt đẳng cấp xã hội. Trong một vài quốc gia khác, tình trạng phân chia đẳng cấp xã hội xảy ra khá trầm trọng, người thuộc đẳng cấp cao và người thuộc đẳng cấp thấp trong xã hội không thể ăn uống chung với nhau. Khi cùng tắm trên một dòng sông, người thuộc đẳng cấp thấp trong xã hội phải tắm dưới dòng, người thuộc đẳng cấp cao tắm ở phía trên dòng. Tại những quốc gia có tình trạng phân chia đẳng cấp xã hội đó, việc cảm thông và tôn trọng danh giá giữa người và người hình như không thật sự tồn tại. Người Miến Điện luôn xem cuộc sống của người khác như thể cuộc sống của chính mình. Do ảnh hưởng của sự hướng dẫn từ các bậc cha mẹ và thầy cô giáo, họ luôn ăn ở với nhau đúng theo những lời dạy của Đức Phật.

Những thành viên trong cùng một gia đình, thầy cô giáo và học sinh, nhóm bạn bè chung sống với nhau và cùng thực hành 4 Pháp ủng hộ được ví như những cái chốt trục bánh xe. Một chiếc xe có những cái chốt trục bánh của nó có thể chuyên chở mọi người và hàng hóa đến nơi mong muốn. Trong khi đó, một chiếc xe khác không có những cái chốt này sẽ bị văng bánh ra ngoài khi đang di chuyển trên đường và gây ra nhiều vấn đề rắc rối. Người không thực hành 4 Pháp ủng hộ được trình bày trong bài này chắc chắn sẽ phải chạm trán với những hoàn cảnh nghèo khổ cùng cực trong nhiều kiếp sống ở luân hồi. Hầu như chắc chắn họ sẽ bị khổ đau ở địa ngục khi chứa chấp tham lam, sân hận và vọng tưởng trong tâm trí. Nếu như họ biết thực hành Pháp ủng hộ và tôn trọng người khác thì ngay trong kiếp sống hiện tại này, chắc chắn họ sẽ đạt tới Niết Bàn.

Tóm tắt: Cho đi tài sản của chính mình nghĩa là dāna, nói lời dịu dàng, trắc ẩn và cảm thông với người khác nghĩa là peyyāvajja, làm việc vì lợi ích của người khác nghĩa là atthācariya, xem người khác như thể chính mình nghĩa là samānatthatā.                                           

Những người có thực hành 4 Pháp nói trên sẽ được đền đáp qua việc có được một cuộc sống hạnh phúc trên cõi thế gian và xuất thế gian, được bầu bạn với những người cao thượng và cuối cùng sẽ đạt tới Niết-Bàn như thể một chiếc xe đã đến được nơi mong muốn vì có những cái chốt trục bánh chắc chắn. Tất cả những vị Bồ-Tát đều có thực hành và đã hoàn thiện được 4 Pháp này, không chỉ đối với con người mà còn đối với những loài súc sinh.

Trong một kiếp sống luân hồi ở quá khứ, Đức Phật của chúng ta lúc đó đã là một vị Bồ-Tát, Ngài là chúa của một đàn vẹt sống trong một khu rừng gần thành Vương-Xá ( Rājagaha). Lúc đó có một vị Bà-La-Môn tên là Kosiyaguttha đang sở hữu một cánh đồng lúa rộng 1750 mẫu Anh tại làng Sāliddhiya ( một mẫu Anh bằng khoảng 0,4 hecta -ND). Khi lúa đã chín vàng, do không đủ sức quản lý nổi cánh đồng rộng lớn, vị Bà-La-Môn bèn mướn một người giúp việc để trông coi giùm cho ông nữa cánh đồng. Lại xảy ra một tình trạng bất khả kháng tại cánh đồng của vị Bà-La-Môn, hàng ngàn con vẹt sinh sống tại khu rừng nói trên đã bay đến cánh đồng này để ăn lúa chín. Do không xua đuổi được đàn vẹt phá lúa, người trông ruộng thuê đã thuật lại với vị Bà-La-Môn rằng : “ Rất nhiều con vẹt đã đến ăn lúa, có một con vẹt rất to, nó không chỉ ăn mà còn mang lúa đi bằng cách ngậm trong miệng”. Vị Bà-La-Môn đã nói người trông ruộng thuê hãy làm bẫy để bắt vẹt. Con vẹt chúa luôn luôn ăn lúa tại một chỗ cố định trên cánh đồng, vì vậy nó đã bị bắt. Khi trông thấy con vẹt chúa xinh đẹp với bộ lông rực rỡ, vị Bà-La-Môn đã tỏ ra thương yêu và chăm sóc nó như con trai của mình. Ông ẳm nó vào ngực mình và hỏi : “ Những con chim khác chỉ ăn lúa chín trên đồng rồi bay đi, tại sao mày đã ăn lúa rồi lại còn mang đi nữa ? Chắc mày có một cái bao tử hay một kho chứa lúa to lắm phải không ? Chúng tao là kẻ thù của mày hay sao ?” Con vẹt chúa bèn nói : “ Không, không phải như vậy. Tôi có 3 lý do để làm việc đó. Thứ nhất tôi phải trả nợ quá khứ, thứ hai thực hiện một sự đầu tư mới và thứ ba là chôn dấu những hủ vàng”. Vô cùng kinh ngạc và bối rối, vị Bà-La-Môn đã yêu cầu con vẹt giải thích cho ông được rõ hơn. Con vẹt đã đáp rằng : “ Nợ quá khứ nghĩa là tôi phải nuôi cha mẹ của tôi ( những con vẹt đã lớn tuổi), thực hiện một sự đầu tư mới nghĩa là tôi phải nuôi con cái của tôi ( những con vẹt còn nhỏ), chôn dấu những hủ vàng nghĩa là tôi phải nuôi những người già tàn tật và không còn bay được nữa ( tức những con vẹt đã quá già và bệnh tật trong đàn). Mặc dù là một con chim, nhưng con vẹt chúa này cũng biết thực hành 4 Pháp ủng hộ và tôn trọng người khác. Sau khi nghe con vẹt chúa trả lời, vị Bà-La-Môn cảm thấy rất hài lòng và nói với con vẹt : “ Mặc dù là một con chim tầm thường nhưng mày cũng lãnh hội được 4 Pháp ủng hộ và tôn trọng người khác.Trong khi đó, một số chúng sanh đã may mắn với thân phận cao quí khi làm loài người, tuy nhiên họ vẫn chưa có được những ý tưởng giống như mày”. Càng ngày vị Bà-La-Môn nọ lại càng tỏ ra kính trọng hạnh Ba-La-Mật của con vẹt và cuối cùng ông đã dâng cúng tất cả 1750 mẫu lúa đã chín vàng của ông cho nó. Vẹt chúa lúc đó là một vị Bồ-Tát đã cân nhắc và chỉ chấp nhận lấy 1,75 mẫu mà thôi.

Tóm tắt: Trả nợ quá khứ, thực hiện một sự đầu tư mới và chôn dấu những hủ vàng

Đến đây, những người lắng nghe thuyết Pháp chắc đã không còn nghi ngờ 4 Pháp thực hành sự ủng hộ và tôn trọng người khác. Nếu một người nào đó không thực hiện việc trả nợ quá khứ thì người này có thể trở thành một nô lệ trong những kiếp sống ở tương lai, có thể bị đọa xuống địa ngục khổ đau và lặn ngụp trong luân hồi bất tận. Thậm chí, những phúc lành của họ cũng tan biến mất.Việc trả nợ quá khứ chắc chắn sẽ mang lại nhiều phúc lành. Không còn nghi ngờ gì nữa, phúc lành chính là nguyên nhân khiến cho tất cả những nghiệp xấu biến mất và những thiện nghiệp hiện khởi. Đối xử tử tế với cha mẹ là trả nợ quá khứ. Nhờ đó, người ta sẽ được tận hưởng một cuộc sống hạnh phúc và thịnh vượng về vật chất lẫn tinh thần, dễ dàng thực hành 4 Pháp ủng hộ và đạt tới Niết-Bàn. Các bậc cha mẹ thường ủng hộ và giúp đỡ con cái của họ chính là thực hiện một sự đầu tư mới. Các bậc cha mẹ có nên khuyến khích con cái của họ hãy thực hiện việc trả nợ quá khứ hay không ? Vâng, họ nên làm điều đó, nếu không con cái của họ có thể trở thành những nô lệ trong các kiếp sống ở tương lai hoặc có thể bị đọa xuống địa ngục bởi vì chúng không biết thực hiện việc trả nợ quá khứ. Nếu một người nào đó thất bại trong việc báo hiếu đối với cha mẹ thì người này sẽ mất dần sự tín nhiệm từ những người khác. Do đó, các bậc cha mẹ nên hướng dẫn cho con cái của họ biết cách thực hiện sự ủng hộ và tôn trọng người khác, nhất là đối với cha mẹ của chúng. Đây là lời dạy của Đức Phật. Đúng theo sự hướng dẫn của các bậc cha mẹ và thầy cô giáo thiện lành, những người có niềm tin vững chãi và trí tuệ sẽ thực hành bố thí cho người nghèo hay những người có nhu cầu nhận của bố thí, dâng cúng cho Tăng-Già và các Tu-Nữ đáng kính. Nhờ vậy, họ đã có thể chôn dấu những hủ vàng. Đây chính là một phương pháp tu hành tốt đẹp mà Đức Phật đã truyền bá. Bồ-Tát Cồ-Đàm cũng đã thực hành theo phương pháp này. Ngài đã trở thành Phật và cuối cùng đã đạt tới Niết-Bàn. Mục đích tu hành cuối cùng của những người Phật tử là đạt tới Niết-Bàn hạnh phúc, mọi người nên thực hành theo con đường của các vị Bồ-Tát.

Tóm tắt: Trả nợ quá khứ, thực hiện một sự đầu tư mới và chôn dấu những hủ vàng là thực hành 4 Pháp ủng hộ giống như con vẹt chúa đã được đề cập đến trong bài thuyết Pháp này.

Hứng thú học tập và thực hành 4 Pháp ủng hộ nói trên là hạnh phúc cao thượng nhất. Người thực hành 4 Pháp này một cách hoàn thiện có thể đạt tới Niết-Bàn như là một kết quả tốt đẹp. Kết quả này cũng giống như một chiếc xe với những chốt chặn bánh vững chãi có thể chuyên chở con người và hàng hóa đến nơi mong muốn, bốn Pháp ủng hộ sẽ dẫn dắt người ta đến với Niết-Bàn. Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp nói về “ Bốn Pháp ủng hộ”, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành theo những lời dạy của Đức Phật. Cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ nhanh chóng nhận thức được Niết-Bàn mong muốn, đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau bằng cách thực hành Phật pháp với một tâm thức thanh thản và thoải mái. Lành thay!    

     

   

                                         Hạnh phúc và thịnh vượng

 

Một hoàng tử thuộc dòng họ Câu-Lị ( Koliya) tên là Dīghajānu đã bạch với Đức Phật rằng : “ Bạch Đấng Giác Ngộ ! Con người lãng phí thời gian bằng cách mải mê tìm kiếm những lạc thú trần tục. Họ không có sự hiểu biết về hạnh phúc và thịnh vượng trong kiếp sống hiện tại cũng như trong kiếp sống ở tương lai. Vậy Ngài có thể vui lòng giải thích về chuyện này cho tôi hiểu được không ?” ( An Pāli)

Hạnh phúc và thịnh vượng trong kiếp sống hiện tại

Đức Phật đã từng giải thích về 4 điều kiện cần phải đạt tới để có được hạnh phúc và thịnh vượng trong kiếp sống hiện tại, đó là :

1. Siêng năng cần mẫn và giàu nghị lực

2. Tích lũy tài sản một cách cẩn thận

3. Có nhiều bạn tốt

4. Cân bằng cán cân thu chi

Đức Phật đã phân tích 4 điều trên một cách chi tiết như sau :

1. Siêng năng cần mẫn và giàu nghị lực

a. Phải có kiến thức và kỹ năng làm việc

b. Không nên lười biếng

c. Luôn luôn tìm kiếm thêm kiến thức và kỹ năng cho công việc đang làm

d. Có khả năng làm việc thật thụ

e. Phải có khả năng quản lý công việc

2. Tích lũy của cải một cách cẩn thận nghĩa là phải có khả năng ngăn chặn những mối nguy hiểm xảy đến làm tiêu tán của cải như lụt lội, hỏa hoạn, nhà cầm quyền xấu xa, trộm cắp và người thừa kế không xứng đáng. Người không có khả năng trên thì không thể thịnh vượng được.

3. Phải có nhiều bạn tốt. Bạn tốt là những người có cùng niềm tin chân chính, có thực hành giữ Giới, bố thí và có trí tuệ.

a. Để làm một người bạn tốt người ta cần phải có niềm tin vào Phật, Pháp, Tăng, nghiệp và kết quả của nghiệp.

b. Bạn tốt là những người có khả năng thực hành tối thiểu là 5 Giới, bởi vì Giới là những thứ trang sức đẹp đẽ nhất. Người có giữ Giới sẽ có nhiều bạn tốt và được người khác kính trọng. Các nhà hiền triết ngày xưa nói rằng để phát triển thiện nghiệp, Đức Phật đã truyền bá 5 Giới. Người muốn có một cuộc sống hạnh phúc và thịnh vượng phải giữ gìn 5 Giới một cách vững chãi. Những người không giữ gìn 5 Giới chắc chắn sẽ không được hạnh phúc, mặc dù họ có thể là những người giàu có. Vì vậy, thực hành giữ Giới cũng giống như việc mặc áo quần để bảo vệ thân thể. Người nhiều mánh khóe và xảo quyệt có thể che đậy những tội lỗi của mình bằng cách giữ Giới ( tức hạng người đạo đức giả), tương tự như người ăn diện để che đậy những chỗ khiếm khuyết của thân thể. Tuy nhiên, thật ra họ vẫn là những người xấu xí và thiếu khôn ngoan. Những người có lối sống không đứng đắn trong kiếp hiện tại thì trong kiếp sống ở tương lai họ cũng không biết cách giữ Giới.

Do ảnh hưởng từ các bậc cha mẹ và thầy cô giáo thiện lành, bạn sẽ có khả năng giữ Giới một cách vững chãi. Nhờ vậy, bạn sẽ có nhiều bằng hữu tốt.

c. Phẩm chất thứ ba của người được gọi là bạn tốt là có thể thực hành bố thí cho người khác một cách tự nguyện và cảm thấy rất hạnh phúc khi làm công việc đó.

d. Có trí tuệ nghĩa là có khả năng nhận biết được những điều gì đúng đắn nên làm và những điều gì sai quấy không nên làm, biết cái gì ăn được và cái gì không ăn được, con đường nào nên đi theo và con đường nào là không nên đi theo. Vì vậy, dựa trên 4 phẩm chất vừa nêu, chúng ta nên biết cách lựa chọn những người bạn tốt để giao du. Những lời dạy của Đức Phật về những người bạn tốt đến đây đã đầy đủ, không cần phải nói thêm gì nữa.

4. Cân bằng cán cân thu chi là một điều kiện cần phải có để đạt tới hạnh phúc và thịnh vượng. Những bậc thầy chú giải Kinh Điển đã từng nói rằng để cân bằng cán cân thu chi, tiền bạc thu vào phải được  chia làm 4 phần :

a. Một phần chi dùng cho cuộc sống hàng ngày

b. Hai phần đầu tư vào công việc làm ăn, buôn bán kinh doanh

c. Một phần đem cất đi để dùng vào việc chữa bệnh khi cần thiết

Trong lời dạy về việc cân bằng cán cân thu chi nói trên, những bậc thầy chú giải Kinh Điển không đề cập đến bố thí. Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu rằng số tiền sẽ đem đi bố thí đã được tính vào khoản chi dùng cho cuộc sống hàng ngày. Ngày nay, cuộc sống đắt đỏ, giá cả tăng cao, có thể người ta sẽ không sẵn sàng xử dụng khoản tiền chi dùng hàng ngày vào việc cúng dường cho các vị Tỳ-Kheo, Tu-Nữ và những người nghèo. Tuy nhiên, theo lời dạy của Đức Phật, những người có khả năng làm được điều đó chắc chắn sẽ được hạnh phúc và thịnh vượng. Ngày xưa, con người thường xuyên phải đối diện với những mối nguy hiểm như đói khát, thiên tai, dịch bệnh…Tuy nhiên, họ vẫn thường xuyên xử dụng số tiền chi dùng hàng ngày để cúng dường cho những người có nhu cầu nhận của bố thí. Phải chăng đây là một vấn đề chính đáng mà chúng ta nên suy ngẫm một cách nghiêm túc ?

Hạnh phúc và thịnh vượng trong kiếp sống ở tương lai

Đức Phật đã trình bày chi tiết rằng, có 4 Pháp dẫn đến hạnh phúc và thịnh vượng trong những kiếp sống ở tương lai, đó là :

1. Niềm tin - Saddhā

2. Giới luật - Sīla                

3. Bố thí – Dāna

4. Trí tuệ - Paññā

Nếu có được 4 Pháp này thì người ta sẽ được hạnh phúc và thịnh vượng trong những kiếp sống ở tương lai, thậm chí có thể đạt tới Niết-Bàn. Có một điều chắc chắn rằng, mong muốn đặc biệt nhất của các thính giả đang lắng nghe thuyết Pháp ngày hôm nay là được hạnh phúc và thịnh vượng trong những kiếp sống ở tương lai.

1. Niềm tin là nền tảng tốt đẹp nhất để đạt tới hạnh phúc và thịnh vượng trong những kiếp sống ở tương lai, nhận thức được Đạo quả và Niết-Bàn, đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau. Niềm tin chắc chắn đã hiện hữu trong tiềm thức của những người lắng nghe Giáo Pháp. Tiếng Miến Điện gọi niềm tin là yonekyi, tức niềm tin vào Phật, Pháp, Tăng, nghiệp và kết quả của nghiệp. Từ yone có nghĩa là tin tưởng và từ kyi có nghĩa là trong sáng. Tâm trí của một người nào đó sẽ trở nên trong sáng khi người này đã có niềm tin vào Phật, Pháp,Tăng, nghiệp và kết quả của nghiệp.Tính trong sáng của tâm trí chắc chắn phải đến từ sự tôn kính Đức Phật, từ việc dâng cúng vật thực, hoa quả, nước uống và ánh sáng cho Ngài, từ việc tụng Kinh và thực hành thiền minh sát. Nó cũng đến từ niềm tin vào 3 loại ngọc quí, nghiệp và kết quả của nghiệp. Từ việc giữ gìn 5 Giới cho đến việc thực hành thiền minh sát đều do chính Đức Phật chỉ dạy. Những người lắng nghe Giáo Pháp đã tin rằng thiền minh sát có thể đưa họ đến với Niết Bàn, đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau cũng sẽ tin rằng Phật Pháp sẽ mang đến cho họ niềm hạnh phúc và thịnh vượng trong kiếp sống hiện tại, cũng như trong những kiếp sống ở tương lai. Do đó, niềm tin vào Phật Pháp và thiền minh sát là nhân tố tiên quyết mà những người đang thực hành loại thiền này cần phải có được. Niềm tin đó cũng rất cần thiết cho việc làm chủ thân tâm, lãnh hội những trải nghiệm Phật Pháp và làm cho việc thực hành thiền phát triển một cách nhanh chóng. Người muốn làm chủ thân tâm của mình cần phải đạt được 5 nhân tố sau :

a. Saddhindriya – Niềm tin mạnh mẽ

b. Viriyindriya – Tinh tấn dũng mãnh

c. Satindriya – Chú ý mạnh mẽ

d. Samādhindriya – Định tâm mạnh mẽ

e. Paññindriya – Trí tuệ mạnh mẽ  

Trong tất cả những nhân tố cần có để làm chủ thân tâm, nhân tố niềm tin là căn bản. Khi niềm tin phát triển mạnh mẽ, nó sẽ thúc đẩy yếu tố tinh tấn phát triển theo. Yếu tố tinh tấn sẽ thúc đẩy và khiến cho năng lực định tâm phát triển. Năng lực định tâm mạnh mẽ sẽ dẫn đến trí tuệ. Vì vậy, trong tiến trình làm chủ thân tâm, một nhân tố nào đó phát triển sẽ thúc đẩy nhân tố khác phát triển theo. Người đã đạt tới mục đích của thiền minh sát có thể nhận thức được Niết Bàn và đóng lại cánh cửa dẫn đến địa ngục khổ đau. Khi niềm tin vào Phật Pháp phát triển mạnh mẽ, hành giả sẽ thực hành Phật Pháp một cách siêng năng cần mẫn, khả năng chú ý và năng lực tinh tấn của hành giả này cũng sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Nếu hành giả không thực hành thiền một cách tinh tấn thì khả năng chú ý của anh ta sẽ phát triển một cách yếu ớt. Do đó, hành giả không thể chú ý một cách đều đặn và chính xác. Mặc dù hành giả vẫn có thể giữ sự chú ý trên đối tượng quan sát nhưng đó chỉ là năng lực định tâm nhất thời mà thôi. Tuệ minh sát chỉ phát triển khi sự chú ý của hành giả thường xuyên hiện hữu trên đối tượng quan sát. Tiến trình thực hành thiền sẽ phát triển một cách chậm chạp khi hành giả có mong muốn trải nghiệm Phật Pháp một cách nhanh chóng. Thay vào đó, hành giả cần phải phát triển năng lực định tâm một cách tự nhiên, không suy nghĩ và cũng không phân biệt gì cả. Khi năng lực định tâm đã trở nên mạnh mẽ, hành giả sẽ nhanh chóng nhận thức được sự khác nhau giữa vật chất và tinh thần, nguyên nhân và kết, tiến trình khởi lên va tan biến đi của các hiện tượng. Trong giai đoạn đầu mới tập sự thực hành thiền, hành giả phải cố gắng một cách tích cực. Năng lực định tâm sẽ phát triển qua tiến trình thực hành thiền tọa, và thiền hành. Tuệ minh sát sẽ tự động mạnh lên khi năng lực định tâm đã phát triển mạnh mẽ. Những nhân tố cấu thành năng lực làm chủ thân tâm sẽ trở nên sắc bén khi đã có nhân tố niềm tin làm nền tảng. Đó là lý do tại sao, những người thực hành thiền minh sát cần phải thấm đẫm niềm tin vào Phật, Pháp, Tăng, nghiệp và kết quả của nghiệp, nếu họ mong muốn được hạnh phúc và thịnh vượng, nhận thức được Niết Bàn trong những kiếp sống ở tương lai.                                                                           

2. Giới luật là nhân tố cốt tủy trong việc phát triển năng lực định tâm.

Trong khi đó, năng lực định tâm là nhân tố thúc đẩy tuệ minh sát phát triển. Giới luật cũng khiến cho chúng ta có được những kiếp sống hạnh phúc và thịnh vượng trong hiện tại và tương lai. Sự hiểu biết về những lợi ích của Giới luật sẽ khiến cho người ta thực hành việc giữ Giới một cách vững chãi.

Tóm tắt: Có cuộc sống thịnh vượng, có danh tiếng tốt, được chết trong bình yên, không bị đọa vào những cảnh giới thấp kém, được tái sanh vào cõi Chư-thiên là 5 lợi ích của việc giữ gìn Giới luật.       

Người tin tưởng vào những lợi ích của việc giữ Giới sẽ có được cuộc sống thịnh vượng một cách dễ dàng. Mặc dù những người khác chưa bao giờ trông thấy anh ta, nhưng họ vẫn mong muốn gặp cho được bởi vì anh ta là một người nổi tiếng có niềm tin vào việc giữ Giới. Trong các buổi tiệc hay các cuộc giao dịch làm ăn buôn bán, người có giữ Giới vững chãi luôn luôn được nhiều người khác chấp nhận. Thậm chí sau khi đã chết trong bình yên, anh ta sẽ được tái sanh vào cõi Chư-thiên. Ngược lại, người không có niềm tin vào Giới luật sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm sự giàu có và thịnh vượng. Khi không có danh tiếng tốt, anh ta cũng khó mà gặp được sự đón chào nồng nhiệt từ những người khác. Do đó, anh ta sẽ cảm thấy e ngại khi tiếp xúc với một đám đông. Khi gần chết, người không thực hành giữ Giới sẽ nhìn thấy những dấu hiệu xấu, anh ta sẽ chết trong một tâm trạng bối rối và sợ hãi. Số phận sau đó của anh ta là chắc chắn sẽ bị tái sanh vào địa ngục khổ đau. Người có khả năng giữ Giới khi tái sanh vào cõi trời Chư-Thiên sẽ gặt hái được Phật Pháp trong vòng một thời gian ngắn nếu trước đó anh ta có thực hành Phật Pháp. Khi tái sanh vào cõi người, anh ta sẽ không bị đau khổ trong suốt 9 hay 10 tháng nằm trong dạ mẹ. Những người có khả năng giữ Giới sẽ tái sanh vào cõi Chư-thiên bằng hình thức hóa sanh

(đột nhiên rơi xuống từ bầu trời) thành một nam Chư-thiên 20 tuổi hay một nữ Chư-thiên 16 tuổi. Trong cõi Chư-thiên khí hậu ôn hòa và dễ chịu. Những Chư-thiên không gặp bất cứ một vấn đề khó khăn nào trong việc tìm kế sinh nhai, mọi thứ sẽ xuất hiện một cách tự động đúng theo mong muốn của họ. Tuổi sống của Chư-thiên rất thọ, khi thực hành quán niệm họ sẽ nhận thức được Phật Pháp một cách nhanh chóng, không giống như ở cõi người. Con người phải cần đến từ 2 đến 3 tháng mới thực hiện được điều đó. Những Chư-thiên sẽ gặt hái được Phật Pháp trong vòng một thời gian ngắn bằng khoản thời gian co hay duỗi cánh tay. Đây chính là những lợi ích của việc giữ Giới. Đa số những người không thực hành Phật Pháp sẽ quên không thực hành nó khi tái sanh vào cõi Chư-thiên. Đó là lý do tại sao bạn nên lắng nghe Phật Pháp và cố gắng thực hành theo để tối thiểu cũng nhận thức được Đạo quả. Đa số những Phật tử đều được tái sanh vào cõi Chư-thiên do kết quả của việc bố thí, giữ Giới và thiền định. Tuy nhiên, họ không thể tái sanh vào cõi Phạm-thiên khi chưa gặt hái được các tầng thiền. Sau khi đã thực hành bố thí, giữ Giới và thiền định, nếu có khuynh hướng mong muốn được tái sanh vào cõi người thì người ta sẽ được mãn nguyện. Tuy nhiên, hạnh phúc và lạc thú ở cõi người chỉ giống như một giọt nước rơi xuống trên đầu ngọn cỏ. Trong khi đó hạnh phúc ở cõi Chư-thiên thì giống như nước trong 4 đại dương. Một Chư-thiên có thể quên không thực hành Phật Pháp nếu khi còn làm người, vị Chư-thiên này đã không thực hành nó. Vì vậy, bạn nên cẩn thận và đừng quên thực hành Phật Pháp.

3. Một người được hạnh phúc và thịnh vượng trong luân hồi chỉ khi người này đã từng thực hiện những hành động phước thiện như bố thí, bởi vì bố thí là một nhân tố trợ lực cho việc đạt tới Niết Bàn. Người đã thực hiện bố thí sẽ tiếp tục thực hành bố thí và cảm thấy hạnh phúc khi anh ta đã học được 5 loại lợi ích đến từ Pháp môn này.      

 Tóm tắt : Có diện mạo xinh đẹp, hạnh phúc, sống lâu, có nhiều bầu bạn và quyền hạn là 5 loại lợi ích đến từ việc thực hành bố thí.

Người thực hành bố thí sẽ được hạnh phúc, sống lâu, có diện mạo xinh đẹp và có nhiều bầu bạn. Có quyền hạn ở đây có nghĩa là họ có thể thực hiện bất cứ điều gì họ muốn một cách nhanh chóng, không bị người khác điều khiển hay khống chế. Mặc dù của cải cá nhân là của riêng mỗi người. Tuy nhiên, người không thực hành bố thí sẽ không được nhiều người biết đến và không thể làm được một việc gì đúng theo mong muốn của mình. Để được thịnh vượng, hạnh phúc và có nhiều quyền hạn trong những kiếp sống ở tương lai, người ta nên thực hành bố thí.

4. Có kiến thức nghĩa là có trí tuệ. Người thực hành thiền minh sát gặt hái được trí tuệ thông qua trải nghiệm cá nhân. Đó không phải là loại kiến thức gặt hái được do tiên đoán mà bằng sự hoàn thiện được những trạng thái nội quán như kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất – Nāmarūpa pariccheda Ñāna, kiến thức về nhân quả - Paccaya parigaha Ñāna, kiến thức lãnh hội được 3 tướng vô thường, khổ và vô ngã trong lòng các hiện tượng – Sammasana Ñāna, kiến thức về sự khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng – Udayabbaya Ñāna… Người ta có thể nhận thức được Udayabbaya Ñāna chỉ khi đã gặt hái được Ñāmarūpa pariccheda Ñāna một cách đúng đắn. Bằng cách chú ý đến tiến trình đang phồng lên của bụng, tiến trình đang xẹp xuống của bụng, tiến trình đang ngồi, đang xúc chạm, đang dở chân lên…đúng theo những hướng dẫn của Ngài Mahàsi, hành giả sẽ gặt hái Ñāmarūpa pariccheda Ñāna khi năng lực định tâm đã phát triển. Với Ñāmarūpa pariccheda Ñāna làm nền tảng, hành giả sẽ lãnh hội được rằng, tiến trình đang phồng lên của bụng, tiến trình đang xẹp xuống của bụng, tiến trình đang ngồi, đang xúc chạm…

là những hành động thuộc về vật chất, chúng không hề có sự nhận thức. Trong khi đó, sự chú ý của tâm trí đến những tiến trình này lại thuộc về tinh thần, do đó nó có sự nhận thức. Đối với những người có sự hiểu biết và trí tuệ ở mức trung bình, trong vòng từ 3 đến 4 ngày thực hành thiền minh sát, người ta đã có thể gặt hái được kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất – Ñāmarūpa pariccheda Ñāna. Bằng hạnh chú ý liên tục, năng lực định tâm đã trở nên mạnh mẽ, hành giả sẽ nhận thức được nguyên nhân và kết quả của các hiện tượng. Hành giả sẽ đạt được điều đó bằng cách chú ý đến sự biểu hiện của các hành động như :  Bụng đang dần dần phồng lên và xẹp xuống, hành động đang ngồi, đang xúc chạm…Nếu những hành động này không xuất hiện một cách rõ ràng thì hành giả không thể nào chú ý để nhận biết được chúng. Do đó, hành động chính là nguyên nhân và sự chú ý của tâm trí là kết quả của nguyên nhân đó. Bằng những sự chú ý liên tục, hành giả sẽ gặt hái được kiến thức lãnh hội – Sammasana Ñāna, một trạng thái nội quán sẽ khiến cho hành giả cảm thấy đau đớn và khổ sở. Không lâu sau khi hành giả tọa thiền, anh ta sẽ trải nghiệm cảm giác đau, nhức, ngứa ngáy, hoa mắt chóng mặt hay thân thể bị lắc lư như đánh võng…Các loại cảm thọ ( tức cảm giác – Vedanā) này sẽ càng lúc càng xuất hiện một cách rõ ràng hơn đối với những hành giả trước đây chưa từng thực hành thiền định. Do đó, họ sẽ trải nghiệm cảm giác đau khổ về thân xác lẫn tinh thần. Bằng cách quán niệm, những hành giả này sẽ nhận thức được những nổi khổ ( Dukkha- Suffering)) này. Thậm chí, những cảm giác khổ hay khổ thọ ( Dukkha Vedanā) đó lại luôn luôn biến đổi và không bao giờ giống nhau, chúng vô thường ( Anicca- Impermanent).

Mục đích của việc thực hành thiền minh sát là gặt hái được hạnh phúc.

Tuy nhiên, đến lúc đó hành giả lại phải trải nghiệm sự khổ xảy đến với chính họ, mỗi người mỗi khác. Không có cách nào để điều khiển hay ngăn chặn được những khổ thọ ( tức những cảm giác khổ - Dukkha Vedanā). Do đó, khổ thọ chính là vô ngã ( Anatta- No self ) hay không thể điều khiển được ( Uncontrolable). Bằng cách quán niệm, hành giả sẽ nhận thức được 3 tướng vô thường, khổvô ngã, cố gắng  lãnh hội được Giáo Pháp. Bằng hạnh chú ý liên tục, hành giả sẽ gặt hái được kiến thức về sự khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng – Udayabbaya Ñāna. Lúc ban đầu khi mới gặt hái được trạng thái nội quán này, tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng vẫn chưa xuất hiện một cách rõ ràng trong tâm thức của hành giả. Tuy nhiên, đến lúc này hành giả đã không còn cảm thấy đau khổ, anh ta sẽ trải nghiệm được nhiều cảm giác hạnh phúc như thân tâm trở nên nhẹ nhàng, vi tế và dễ uốn nắn. Ở trình độ thực hành thiền này, hành giả có thể tọa thiền liên tục trong 1 giờ đồng hồ mà không cần phải thay đổi tư thế. Thậm chí, nhiều hành giả có thể tọa thiền liên tục từ 2, 3 hay 4 giờ đồng hồ. Hành giả sẽ cảm thấy chính mình đã khá thành thạo trong việc thực hành thiền. Sự chú ý của anh ta trong giai đoạn này đã xuất hiện một cách tự động. Một vài hành giả thuật lại rằng “ Dường như tôi chỉ việc ngồi và quan sát mà thôi”. Có hành giả lại trải nghiệm được trạng thái thân tâm thanh thản đã thuật lại rằng “ Thân thể tôi rất trầm lặng và thẳng đứng như một con búp bê”. Hành giả này cảm thấy thân tâm của chính mình được hạnh phúc và tận hưởng hoan hỷ minh sát. Bây giờ anh ta đang ở trong một trạng thái nội quán dịu dàng và dễ chịu được gọi là Udayabbaya Ñāna. Đức Phật đã từng nói rằng : “ Sống cô đơn trong thế giới trần tục là một điều hoan hỷ và hạnh phúc, một Chư-thiên cũng không có được cơ hội đó”. Một vài hành giả trẻ tuổi và thông minh sẽ có được trải nghiệm cá nhân về hoan hỷ minh sát, nếu siêng năng thực hành quán niệm. Một hành giả sau khi đã gặt hái được Udayabbaya Ñāna sẽ tìm đến một nơi vắng vẻ tĩnh mịch và thực hành quán niệm đến tiến trình khởi lên, tiến trình biến mất đi của vật chất và tinh thần. Khi năng lực định tâm đã trở nên mạnh mẽ và chín muồi, 3 tướng vô thường, khổvô ngã đã được lãnh hội một cách rõ ràng, hành giả sẽ nhận thức được Phật Pháp. Lúc đó, anh ta sẽ tuyên bố rằng được làm người là một cơ hội lớn lao. Những hành giả đã có được niềm hạnh phúc khi sống trong Giáo Pháp chắc chắn sẽ đạt tới Niết Bàn. Những người lắng nghe Giáo Pháp nên siêng năng thực hành thiền minh sát để gặt hái được Udayabbaya Ñāna. Sau khi đã lắng nghe 4 Pháp nói về hạnh phúc và thịnh vượng, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành Phật Pháp một cách dễ dàng, nhanh chóng đạt tới Niết Bàn, đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !         

                   

 

                       Bảy lợi ích gặt hái được từ con đường của

                                   một Tu-Đà-Hườn

 

Ngày nay, càng lúc càng có nhiều người thực hành thiền minh sát với quan điểm tối thiểu cũng trở thành một Tu-Đà-Hườn ( Sotāpañā – Stream winner). Sách Thanh-Tịnh-Đạo ( Visuddhimagga)  Pāli nói rằng, bằng cách thực hành thiền minh sát, người ta sẽ gặt hái được 7 lợi ích sau khi đã đạt tới Đạo của Tu-Đà-Hườn ( Sotāpaññāmagga – The Path of Stream Winner) đúng như ước muốn của họ. Bảy lợi ích đó là :

1. Phá hủy đến tận gốc rễ của những thứ ô nhiễm như tham lam, sân hận và vọng tưởng.

2. Những khổ đau trong luân hồi tựa như nước đại dương bắt đầu khô cạn

3. Đóng lại tất cả những cánh cửa dẫn đến địa ngục

4. Gặt hái được 7 Pháp Cao Thượng

5. Loại bỏ được 8 quan điểm lầm lạc

6. Phá hủy tất cả những mối nguy hiểm và tổn hại

7. Làm người con thật sự của Đức Phật

                                                                  ( Visuddhimagga-dhu 442)

1. Khi đang thực hành thiền minh sát, những thứ ô nhiễm như tham lam, sân hận và vọng tưởng là nguyên nhân dẫn đến địa ngục sẽ bị phá hủy đến tận gốc rễ trong giây lát qua mỗi sự chú ý, trước khi người ta đạt tới con đường của một Tu-Đà-Hườn.

Tóm tắt: Tham lam, sân hận và vọng tưởng sẽ bị phá hủy tận gốc rễ.

2. Những khổ đau trong luân hồi tựa như nước đại dương sẽ bắt đầu khô cạn khi người ta đạt tới con đường của một Tu-Đà-Hườn bằng cách thực hành thiền minh sát.

Tóm tắt: Khổ đau trong luân hồi được ví như nước trong đại dương bắt đầu khô cạn.

Những Tu-Đà-Hườn chỉ còn ở lại luân hồi tối đa là 7 kiếp. Sau đó, họ sẽ đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau trong luân hồi tựa như nước đại dương đang khô cạn dần. Một thời Đức Phật đã chỉ ra rằng : “ Hỡi những người con thiện lành của ta ! Những khổ đau trong luân hồi mà người đã đạt tới con đường của một Tu-Đà-Hườn còn phải chịu đựng tựa như bụi trên móng tay của ta. Những khổ đau trong luân hồi mà một Tu-Đà-Hườn đã loại bỏ được có thể ví như bụi trên toàn địa cầu này”.

Tóm tắt: Những khổ đau trong luân hồi mà một Tu-Đà-Hườn còn phải chịu đựng tựa như bụi trên móng tay, những khổ đau trong luân hồi mà vị này đã loại bỏ được có thể ví như bụi trên toàn địa cầu.

3. Khi thực hành thiền minh sát và trở thành một Tu-Đà-Hườn, cánh cửa dẫn tới địa ngục, thế giới của súc sinh, ngạ quỷ và A-Tu-La sẽ bị đóng lại bởi con đường tu chứng của bậc Thánh này. Đây chính là một trong 7 lợi ích gặt hái được từ con đường của một Tu-Đà-Hườn.

4. Bảy Pháp cao thượng như niềm tin ( Saddhā), tư cách đạo đức hay Giới ( Sīla), tâm biết hổ thẹn ( Hiri), tâm biết kinh sợ tội lỗi ( Uttappa), có kiến thức hay sự hiểu biết ( Suta), nhân hậu ( Cāga) và trí tuệ ( Paññā) đã phát triển một cách chắc chắn trong tâm thức của một Tu-Đà-Hườn thông qua quá trình thực hành thiền minh sát. Những Pháp Cao Thượng đó sẽ không bao giờ bị phá hủy, không chỉ trong kiếp sống hiện tại mà còn trong những kiếp sống ở tương lai. Đây chính là 7 Pháp Cao Thượng mà một Tu-Đà-Hườn đã gặt hái được.

Tóm tắt: Một Tu-Đà-Hườn gặt hái được 7 Pháp Cao Thượng.

5. Tám quan điểm lầm lạc như : Niềm tin lầm lạc ( tức tà kiến- Micchadiţţhi),tư duy lầm lạc ( tức tà tư duy- Micchasankappa), ngôn ngữ lầm lạc ( tức tà ngữ - Micchavācā), hành động lầm lạc ( tức tà nghiệp - Micchakammanta), phương tiện kiếm sống lầm lạc ( tức tà mạng – Miccha ājiva), tinh tấn lầm lạc ( tức tà tinh tấn - Micchavāyāma), chú ý lầm lạc ( tức tà niệm – Micchasati) và tà định ( Miccha samādhi) đã bị loại bỏ khi người ta đạt tới con đường của một Tu-Đà-Hườn bằng cách thực hành thiền minh sát.

 

Tóm tắt: Tám quan điểm lầm lạc đã bị loại bỏ vĩnh viễn.

Con đường của một Tu-Đà-Hườn chỉ loại bỏ được 8 quan điểm lầm lạc đã nêu trên, con đường cuả các bậc cao thượng hơn như : Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm và A-La-Hán có khả năng loại bỏ được những quan điểm lầm lạc còn lại. Con đường của Tu-Đà-Hườn chỉ loại bỏ được những tà ngữ như : 

Nói dối, nói lời đâm thọc, nói lời lỗ mãng để sĩ nhục người khác. Những tà nghiệp như :  Sát sanh, trộm cắp, hành vi tình dục không đứng đắn. Những tà mạng như :  Phương tiện kiếm sống không chân chính… Con đường của một Tư-Đà-Hàm có thể loại bỏ được những quan điểm lầm lạc sau :

- Có suy nghĩ muốn hưởng thụ 5 loại khoái lạc trần tục

-  Có những suy nghĩ gây nguy hiểm cho cuộc sống của người khác

- Có những suy nghĩ khiến cho người khác phải đau khổ

- Nói lời vu khống

- Nói lời lỗ mãng sĩ nhục người khác

Con đường của một A-La-Hán có thể loại bỏ được những quan điểm lầm lạc sau đây :

- Nói lời phù phiếm vô nghĩa

- Tà tinh tấn

-Tà niệm

- Tà định

6. Khi thực hành thiền minh sát và gặt hái được Đạo quả Tu-Đà-Hườn, người ta sẽ có khả năng loại bỏ được những thứ ô nhiễm, những nguyên nhân dẫn đến phạm Giới bằng con đường của bậc Thánh này.

Tóm tắt: Những mối nguy hiểm tổn hại đã bị loại bỏ.

7. Khi thực hành thiền minh sát và gặt hái được Đạo quả Tu-Đà-Hườn, người ta đã trở thành con cái đích thực của Đức Phật.

Tóm tắt: Được làm con cái đích thực của Đức Phật là lợi ích do Đạo quả Tu-Đà-Hườn mang lại.

Những người thực hành Giáo Pháp và trở thành một Tu-Đà-Hườn sẽ gặt hái được 7 loại lợi ích vừa nêu trên một cách đồng thời. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !    

 

                      Tôn giả Anuruddha và Kinh Mahāvitaka

                             ( 8 Pháp dùng để đạt tới Niết Bàn)

 

Bài thuyết Pháp ngày hôm nay sẽ nói về Asin AnurudhaMahāvitaka Sutta. Trong ngôn ngữ Pāli, từ Asin Anuruddha có nghĩa là Tôn giả Anuruddha, từ vitaka có nghĩa là tư duy hay suy nghĩ, từ Mahā có nghĩa là to lớn và từ Sutta có nghĩa là giải thích hay Kinh. Như vậy Mahāvitaka Sutta có thể tạm dịch là Kinh Đại-Tư-Duy. Có bảy phương pháp tư duy được cho là những nhân tố xử dụng để đạt tới Niết Bàn . Thật ra, nhằm đạt tới Niết Bàn, chính Đức Phật đã truyền bá tất cả là 8 nhân tố tư duy để các Tỳ kheo thực hành theo. Sau khi hoàn tất mùa an cư, Tôn giả Anuruddha trở nên có thần nhãn, Ngài có thể nhìn thấy một ngàn thế giới. Tuy nhiên, Tôn giả chưa có khả năng loại bỏ hoàn toàn những thứ ô nhiễm trong tâm thức của Ngài và chưa gặt hái được Đạo Quả. Do đó, Ngài đã tìm đến với Tôn giả Xá-Lợi-Phất ( Asin Sāriputta) và cung kính bạch rằng : “ Bạch Ngài Đại đức ! Tôi đã hoàn tất được một mùa an cư, đã đắc được thần nhãn và có thể nhìn thấy được một ngàn thế giới. Tôi không lười biếng mà đầy cả nghị lực.

Tôi luôn luôn chú ý mà không quên lãng, thân tâm của tôi hoàn toàn trầm tĩnh và không hề có một sự ray rứt gì cả. Tâm trí tôi trong sáng, yên tĩnh và không bị lang thang vô định. Tuy nhiên, tôi vẫn chưa thoát được những thứ ô nhiễm, bám víu và chưa gặt hái được Đạo Quả. Vì vậy, xin Ngài hãy hoan hỷ và tử tế chỉ giáo cho tôi về thiền minh sát”. Là một người có trí tuệ bậc nhất trong Tăng Đoàn của Đức Phật, Tôn giả Xá-Lợi-Phất đã động viên Anuruddha như sau : “ Ông luôn bị 3 pháp bất thiện thiêu đốt, nếu có thể loại bỏ được chúng thì ông sẽ trở thành A-La-Hán và đạt tới Niết Bàn. Đầu tiên ông cần phải loại bỏ tính tự cao tự đại ( tức tính ngã mạn- Mana) về khả năng nhìn thấy một ngàn thế giới của ông. Thứ hai, ông thường xuyên quán niệm về những phẩm chất và năng lực tốt đẹp của chính mình như :  Khả năng chú ý cao, thân tâm được trầm tĩnh và trong sáng, tâm trí không bị xao động. Do đó, tâm trí của ông đã trở nên mất ổn định và lang thang.

Thứ ba, ông thường xuyên quán niệm về lý do tại sao mình chưa gặt hái được Đạo Quả, mặc dù đã có được những phẩm chất tốt đẹp. Do đó, ông thường xuyên bị ray rứt và ân hận. Nếu những hành giả thực hành thiền minh sát quán niệm về năng lực chú ý và trạng thái định tâm thì tâm trí của họ sẽ bị xáo trộn, không thể yên tĩnh được. Thật ra, họ không nên làm như vậy. Thỉnh thoảng họ trở nên lo lắng vì không lãnh hội trọn vẹn những bài thuyết Pháp và hướng dẫn về phương pháp thực hành chú ý một cách liên lục. Vì vậy, họ nên loại bỏ 3 pháp bất thiện nói trên để có thể gặt hái được Đạo Quả.

Tóm tắt: Tự cao tự đại, tâm trí bất an và ray rứt là 3 pháp bất thiện cần phải loại bỏ trong quá trình thực hành thiền minh sát.

Nhận được sự giáo huấn về thiền minh sát từ Đại đức Xá-Lợi-Phất, Tôn giả Anuruddha đã trở về Rừng-Tre ( Trúc Lâm) để thực hành Pháp vừa học được. Sau 15 ngày tích cực thực hành, khi cảm thấy mệt, Tôn giả đã ở lại dưới bóng mát của một bụi tre và quán niệm về 7 lối tư duy. Lúc đó, Đức Phật biết được chuyện này, bằng khoản thời gian mà người ta co duỗi một cánh tay, Ngài đã bay đến thăm Tôn giả. Ngồi tại chỗ được dành riêng cho mình, Đức Phật đã hỏi Tôn giả rằng : “ Hỡi con trai của ta ! Có phải con đang suy nghĩ về 7 lối tư duy hay không ?” Tôn giả Anuruddha đáp rằng đúng như vậy. Đức Phật lại nói : “ Bảy lối tư duy này rất lợi ích cho việc đạt tới Niết Bàn, tuy nhiên còn một nhân tố nữa mà con đã quên mất”.

Bảy lối tư duy

1. Một người tham lam không thể gặt hái được 9 Pháp Siêu Thế, cụ thể là Bốn Đạo, Bốn QuảNiết-Bàn.

Tóm tắt: Người có nhiều ham muốn và tham lam sẽ không nhận thức được Phật Pháp, người có ít ham muốn và thường xuyên quán niệm sẽ nhận thức được Đạp Quả trong Phật Pháp.

2. Đạo, Quả và Niết Bàn không dành cho những người tham lam, chỉ dành cho những người tri túc và thường xuyên thực hành quán niệm.

Tóm tắt: Chín Pháp Siêu Thế chỉ dành riêng cho những người tri túc và thường xuyên thực hành quán niệm.

3. Chín Pháp Siêu Thế  là những Pháp dành riêng cho những người thích sống nơi yên tĩnh hẻo lánh và có thực hành thiền. Chúng không phải dành cho những người còn quyến luyến bầu bạn và không thực hành thiền.

Tóm tắt: Phật Pháp không dành cho những ai còn quyến luyến bầu bạn và tham lam. Phật Pháp chỉ dành cho những người thích sống nơi yên tĩnh hẻo lánh và có thực hành thiền.

4. Những người siêng năng và tích cực thực hành thiền mới có khả năng gặt hái được 9 Pháp Siêu Thế.

Tóm tắt: Lười biếng, không thực hành quán niệm sẽ không gặt hái được Phật Pháp

5. Những người có khả năng chú ý cao để nhận thức sẽ gặt hái được 9 Pháp Siêu Thế.

Tóm tắt: Những người không tập luyện sự chú ý và bất cẩn sẽ không bao giờ gặt hái được 9 Pháp Siêu Thế.               

6. Những người có tinh thần trầm tĩnh và tâm trí không bị xao động mới có thể gặt hái được 9 Pháp Siêu Thế.

Tóm tắt: Người không gặt hái được trạng thái định tâm thì tâm trí của anh ta sẽ lang thang vô định và không nhận thức được Phật Pháp.

7. Những người thông thái mới có thể gặt hái được 9 Pháp Siêu Thế.

Tóm tắt: Những người ngu si đần độn sẽ không nhận thức được Phật Pháp.

8. Sau khi nói rằng 7 Pháp tư duy này là có liên quan đến Phật Pháp, Đức Phật đã nhắc nhở Tôn giả Anuruddha về Pháp tư duy thứ 8 như sau : “ Hỡi con trai của ta! Bốn Đạo, Bốn Quả và Niết Bàn không phải dành cho những người còn tìm kiếm hạnh phúc trong thế giới hiện tượng. Chín Pháp Siêu Thế này chỉ dành riêng cho những người lấy hạnh phúc của Niết Bàn làm mục đích sống để có thể thoát khỏi tham ái, ngã mạn và những quan kiến lầm lạc”.

Tóm tắt: Tìm hạnh phúc trong những thứ nhỏ nhặt, tham ái và ngã mạn sẽ không thể nhận thức được Phật Pháp. Tìm hạnh phúc trong những cái rộng lớn và thường xuyên thực hành quán niệm sẽ nhận thức được Phật Pháp.

Sau đó,Đức Phật tiếp tục giáo huấn một cách chi tiết cho Tôn giả Anuruddha về phương pháp thực hành quán niệm đúng với thực tế. Tôn giả đã nổ lực thực hành theo và không lâu sau đã gặt hái được quả vị A-La-Hán, kiến thức về Phật Pháp của Ngài đã tăng lên gấp ba lần. Tôn giả Anuruddha là người đã nắm giữ hạnh phúc trong thế giới hiện tượng bằng cách quán niệm về một ngàn thế giới. Phật Pháp sẽ phát triển rất chậm chạp đối với những người không thực hành quán niệm trên đối tượng nhận thức. Một vài hành giả chỉ muốn cố gắng chú ý bằng mắt hay tai. Do đó, năng lực định tâm của họ không đủ mạnh. Đây chính là nguyên nhân khiến cho tâm trí bị xao động. Thật ra, họ chỉ nên chú ý đến những gì mà họ có thể quan sát được.

Nhu cầu và sự mãn nguyện

Những bậc thầy chú giải Kinh Điển đã từng phân tích một cách tỉ mỉ về bản chất của nhu cầu và sự mãn nguyện như sau : Từ pāpicchā là sự kết hợp của từ pāpa và từ icchā. Trong khi đó từ pāpa có nghĩa là xấu xa và từ icchā có nghĩa là nhu cầu hay ham muốn. Do đó, từ pāpicchā có nghĩa là ham muốn xấu xa. Người thiếu đạo đức khi thực hành thiền định và thiền minh sát luôn luôn giả vờ và làm cho người khác nghĩ rằng họ đã gặt hái được Phật Pháp. Sự thật, những người có ham muốn xấu xa sẽ không bao giờ gặt hái được Phật Pháp, đặc biệt là những người trẻ tuổi. Họ đến với trung tâm thiền một cách bất đắc dĩ do lời khuyên của cha mẹ của mình. Những người này luôn luôn nôn nóng muốn gặt hái Phật Pháp một cách nhanh chóng ngay sau khi thực hành thiền. Đó chính là ham muốn xấu xa.

Tóm tắt: Giả vờ có phẩm chất tốt và làm cho người khác nghĩ rằng mình đã gặt hái được Phật Pháp là một hành động bất thiện.

Từ Mahicchā là sự kết hợp của từ mahāicchā. Do đó, Mahicchā có nghĩa là ham muốn lớn lao. Một cá nhân nào đó thực hành giữ Giới rất vững chãi, thực hành và gặt hái được Phật Pháp nhưng lại nói về sự thành công của mình cho người khác biết thì sự phát triển của Phật Pháp trong chính anh ta sẽ bị đình trệ.

Tóm tắt: Nói về thành công trong Phật Pháp của chính mình cho người khác biết là có ham muốn lớn lao.    

 Một người có ham muốn lớn lao có thể tường thuật lại sự thành công của anh ta cho các vị thầy. Nhờ đó, anh ta sẽ tránh được tình trạng đình trệ của tiến trình phát triển Phật Pháp trong chính tâm thức của anh ta và nhiều người khác. Một hành giả thực hành thiền minh sát phải luôn luôn mang trong tâm mình sự thật này. Từ Apicchā là sự kết hợp của từ apa và từ icchà. Do đó, Apicchā có nghĩa là không ham muốn. Giữ im lặng khi đã thật sự có được một thành công nào đó trong Phật Pháp là một phẩm chất cao quí để tiếp tục gặt hái những thành tựu khác. Một người đã có phẩm chất này sẽ giữ im lặng khi bị người khác chất vấn về sự tiến bộ trong Phật Pháp của chính mình. Nhờ đó, sự chú ý của anh ta sẽ không bị xao động và lúng túng. Nếu một ai đó mong muốn gặt hái được Phật Pháp thì người này phải thực hành sự chú ý một cách liên tục và chính xác.

Tóm tắt: Người biết giữ im lặng về những phẩm chất cao quí mà mình đã gặt hái được là người không ham muốn.

Từ sanduttatthā có nghĩa là mãn nguyện. Người biết mãn nguyện với những gì mình đã có là người đã gặt hái được Phật Pháp.

Tóm tắt:   Người biết mãn nguyện với những gì mình đã có cuối cùng sẽ được thịnh vượng và được nhiều người khác kính trọng.

Thậm chí, tình cảm thiêng liêng và vô điều kiện của người mẹ đối với một đứa con cũng không còn giá trị gì, khi đứa con đó không bao giờ biết mãn nguyện với những gì nó đã có và cứ luôn luôn hỏi xin thêm. Không còn nghi ngờ gì nữa, người không biết mãn nguyện sẽ không bao giờ gặt hái được Phật Pháp. Thậm chí, người quản lý một trung tâm thiền cũng sẽ không thích những hành giả không biết mãn nguyện và thường thỉnh cầu được thay đổi phòng với ý nghĩ điều này sẽ làm cho họ khá hơn trong quá trình tu tập.

Tóm tắt: Phật Pháp không phải dành cho những người tham lam và không bao giờ mãn nguyện. Người biết mãn nguyện và siêng năng thực hành quán niệm sẽ gặt hái được Phật Pháp. Người không biết mãn nguyện sẽ không bao giờ được người khác thương yêu, thậm chí là ghét bỏ. Ngay cả một người mẹ cũng không thương nổi một đứa con tham lam, không biết mãn nguyện và luôn luôn đòi hỏi.

Ba kiểu ẩn dật

1. Thân ẩn dật ( Kāya viveka)

2. Tâm ẩn dật ( Citta viveka)

3. Ẩn dật hoàn toàn ( Upadhi viveka)

Thân ẩn dật

Thân ẩn dậtlà sống một mình tại nhà riêng, tại nơi ẩn dật ít người qua lại hay tại một trung tâm thiền nào đó và thực hành Phật Pháp một cách mãnh liệt. Sống tại nhà riêng và thực hành thiền minh sát gọi là nekkhama.

Du ngoạn cùng với gia đình đến một nơi hẻo lánh và yên tĩnh không phải là thân ẩn dật.

 

 

Tâm ẩn dật

Người được xem là ẩn dật tâm phải gặt hái được trạng thái định tâm. Bằng cách siêng năng thực hành sự chú ý đến tiến trình đang phồng lên của bụng, tiến trình đang xẹp xuống của bụng, tiến trình đang ngồi, tiến trình đang xúc chạm…hành giả sẽ phát triển được trạng thái định tâm, giảm bớt tính tham lam, sân hận và vọng tưởng. Nhờ đó, tâm trí của hành giả sẽ trở nên trong sáng và tinh khiết ( Cittavisuddhi). Đó chính là tâm ẩn dật.

Ẩn dật và hoàn toàn

Sự nhận thức được Niết-Bàn thông qua Đạo quả A-La-Hán được xem ẩn dật hoàn toàn. Những hành giả đã thiết lập được thân ẩn dậttâm ẩn dật nên cố gắng đạt tới trạng thái hoàn toàn ẩn dật, thực hành thiền một cách mãnh liệt và liên tục. Pháp ẩn dật hoàn toàn không dành cho những ai còn mang tâm luyến ái, bám víu vào người thân và bầu bạn.

Tóm tắt: Người còn mang tâm tham lam và bám víu chắc chắn sẽ không gặt hái được Pháp ẩn dật hoàn toàn. Người tìm đến một nơi hiu quạnh để ẩn dật sẽ gặt hái được Pháp này.   

Hai kiểu bầu bạn

a. Kiểu bầu bạn bên ngoài chính là bạn bè, bà con, cha mẹ và gia đình. Người ta sẽ không bao giờ gặt hái được Đạo quả và Niết Bàn nếu còn mong muốn tận hưởng những lạc thú trần tục, còn luyến ái những kiểu bầu bạn như thế này. Luyến ái và bám víu là cái gốc của tham lam.

Tóm tắt: Người còn bám víu vào bầu bạn và tham lam chắc chắn sẽ không gặt hái được Đạo quả và Niết Bàn.

b. Kiểu bầu bạn bên trong chính là những thứ ô nhiễm ( Kilesa). Nếu một ai đó tìm kiếm sự hài lòng trong những thứ ô nhiễm thì chắc chắn người này sẽ không gặt hái được Đạo quả và Niết Bàn. Một cụ bà 80 tuổi đã cung kính bạch với bậc Trưởng Thượng rằng trong quá khứ bà chưa bao giờ bị cô đơn, vậy mà bây giờ bà phải sống một mình. Bà tự hồi tưởng lại những tháng ngày hạnh phúc khi đang còn trẻ tuổi, khi còn tham gia vào các công tác xã hội và tiệc tùng cùng với con cháu. Bậc Trưởng Thượng đã nhắc nhở bà nên chú ý đến việc thực hành thiền. Nếu lười biếng không thực hành thiền và còn muốn hưởng thụ các lạc thú trần tục thì bà sẽ không bao giờ đạt tới 9 Pháp Siêu Thế ( cụ thể là Bốn Quả, Bốn Đạo và Niết Bàn hạnh phúc).

Chín Pháp Siêu Thế này chỉ dành riêng cho những người siêng năng thực hành thiền.

Tóm tắtNgười không siêng năng thực hành thiền và biếng nhác chắc chắn sẽ không gặt hái được Đạo quả và Niết Bàn. Người siêng năng thực hành quán niệm chắc chắn sẽ gặt hái được Đạo quả và Niết Bàn.

Liệu một người luôn luôn lười biếng và uể oải trên giường ngủ có thể gặt hái được Đạo quả và Niết Bàn hay không ? Chắc chắn là không. Do đó, nếu muốn gặt hái được Đạo quả và Niết Bàn, người ta nên nổ lực tinh tấn và siêng năng thực hành quán niệm.  

Ba kiểu nổ lực

1. Ārambha dhātu – Nổ lực đầu tiên

2. Nikkama dhātu – Nổ lực để thoát khỏi trạng thái buồn chán và mệt mỏi

3. Parakkama – Tiếp tục nổ lực để gặt hái đạo quả và Niết Bàn thông qua

 những trạng thái nội quán. Khi một hành giả quyết định kết giao với  một

trung tâm thiền nào đó, hành giả này đã sắp xếp xuôi công việc gia đình và

những bổn phận khác. Hành giả cũng đã chuẩn bị đầy đủ những thứ cần

thiết sẽ xử  dụng tại trung tâm thiền mà mình có ý định đến tu học. Do đó,

hành giả đã gặt hái được phước báu qua nổ lực đầu tiên. Tại trung tâm thiền,

trước hết hành giả cần phải biết lắng nghe những lời giáo huấn về thiền minh

sát của các vị thầy và thực hành thiền một cách siêng năng cần mẫn, luyện

tập sự chú ý đến tiến trình đang phồng lên của bụng, tiến trình đang xẹp

xuống của bụng, tiến trình đang ngồi và tiến trình đang xúc chạm. Trạng thái

nội quán đầu tiên không có gì nhiều để lãnh hội. Tuy nhiên, sau 2 hoặc 3

ngày luyện tập sự chú ý đến những tiến trình vừa nêu trên, hành giả sẽ lãnh

hội được rằng “ sự chú ý của tâm trí” là khác với những tiến trình nói trên.

Những hành giả có trí tuệ vượt trội sẽ lãnh hội được điều này một cách nhanh chóng và rõ ràng. Trong khi đó, những hành giả có niềm tin vượt trội chỉ lãnh hội được nó khi nhận được những sự giáo huấn của các thiền sư. Tiến trình đang phồng lên của bụng, tiến trình đang xẹp xuống của bụng, tiến trình đang ngồi và tiến trình đang xúc chạm là thuộc về vật chất hay sắc pháp ( Rūpa- Matter). Chúng không hề có sự nhận thức. Sự chú ý của tâm trí là thuộc về tinh thần hay danh pháp ( Nāma – Spirits) và nó chính là  sự nhận thức. Từ đó, hành giả sẽ nhận thấy rằng, thân tâm của anh ta chỉ là một sự phối hợp của vật chấttinh thần, nó hoàn toàn không phải là “ Tôi”, “ ông B”, “ bà C” hay “ cô X” nào cả. Những danh xưng này chỉ mang tính qui ước nhằm mục đích thuận tiện trong xưng hô và giao tiếp. Từ đó, quan kiến lầm lạc về tự ngã ( Atta diţţhi- Wrong belief on self) và quan kiến hảo huyền về sự tồn tại của một cá thể, tức thân kiến ( Sakkāya diţţhi) đã bị loại bỏ, cánh cửa địa ngục đã bị đóng lại. Từ đó trong nổ lực đầu tiên, hành giả đã gặt hái được Kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất ( Nāmarūpapaccheda Ñāna). Nāma có nghĩa là tinh  thần, Rūpavật chất hay thân xác, Paricchedakhả năng nhận thức sâu sắc hay khả năng phân biệt, Ñānakiến thức haynăng lực nội quán để nhận thức. Do chú ý liên tục, năng lực định tâm của hành giả đã trở nên mạnh mẽ, những hành giả có trí tuệ vượt trội sẽ nhận thức được rằng, tiến trình đang phồng lên của bụng, tiến trình đang xẹp xuống của bụng, tiến trình đang ngồi, tiến trình đang xúc chạm chính là những nguyên nhân. Sự chú ý của tâm trí đến những nguyên nhân này chính là kết quả. Tiến trình phồng xẹp không chỉ xuất hiện ở bụng, chúng còn đồng thời xuất hiện ở hai bên sườn, thỉnh thoảng xuất hiện trên hai cánh tay hay trên đỉnh đầu. Sự chú ý của tâm trí cũng dựa theo những nơi đó mà khởi lên. Do đó có thể nói rằng, những tiến trình vừa nêu chính là nguyên nhân và sự chú ý của tâm trí là kết quả. Vì vậy, hành giả đã gặt hái được kiến thức về nhân quả ( Paccayapariggaha Ñāna). Đây cũng chính là sự nổ lực đầu tiên của hành giả. Trong vòng một tuần lễ thực hành thiền minh sát, hành giả sẽ có khả năng phân biệt được nguyên nhânkết quả làm phát sanh các hiện tượng. Những hành giả có trí tuệ vượt trội sẽ phân biệt được nguyên nhân và kết quả của các hiện tượng một cách rõ ràng thông qua trải nghiệm riêng của họ. Những hành giả có niềm tin vượt trội chỉ phân biệt được nguyên lý nhân quả khi nhận được sự giáo huấn và giải thích của các vị thiền sư. Một con gà mái ấp trứng nhưng một vài con gà con chưa đủ sức phá vỡ vỏ trứng để chui ra. Vì vậy, con gà mái đã mổ và làm vỡ vỏ trứng giúp cho những đứa con của nó. Những con gà con có đủ sức mạnh sẽ tự đập vỡ vỏ trứng để chui ra ngoài. Tương tự như vậy, những hành giả có trí tuệ vượt trội có thể tự phân biệt được sự khác nhau giữa nguyên nhân và kết quả. Trong khi đó, những hành giả có niềm tin vượt trội phải cần đến sự giải thích của những bậc Trưởng Thượng và các thiền sư mới phân biệt được sự khác nhau này. Tương tự, những Tu-Đà-Hườn có niềm tin vượt trội chỉ gặt hái được Giáo Pháp khi có sự giúp đỡ của Đức Phật. Trong trạng thái nội quán được gọi là kiến thức về nhân quả - paccayapariggaha ñāna, những hành giả có thể chú ý một cách cẩn thận khi được các vị thiền sư thúc giục rằng trong Pháp thực hành sự chú ý một cách chi tiết và tổng hợp đến các hoạt động hàng ngày, đầu tiên họ nên luyện tập sự chú ý đến “ ý định của tâm trí” khi hành giả muốn thực hiện một hành động nào đó. Trong trạng thái được gọi là kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất – ñāmarūpa pariccheda ñāna, theo trình tự đúng đắn để có thể trải nghiệm Giáo Pháp một cách nhanh chóng, những vị thiền sư cũng luôn luôn thúc giục những hành giả rằng đầu tiên họ nên chú ý đến “ ý định của tâm trí”. Tuy nhiên, đa số các hành giả đều trình Pháp rằng họ không thể chú ý đến “ ý định của tâm trí” bởi vì năng lực định tâm của họ chưa đủ mạnh. Trong giai đoạn đầu khi hành giả mới gặt hái được kiến thức về nhân quả, ý định của tâm trí chưa xuất hiện một cách rõ ràng. Một hành giả trung thực nhất đã trình Pháp rằng : “ Khi chưa có khả năng trải nghiệm ý định của tâm trí một cách rõ ràng, tôi chỉ có thể đoán chừng mà thôi”. Trong trường hợp này, thiền sư phải nói cho anh ta biết rằng nên chú ý một cách liên tục. Sau khi đã thành công trong việc thực hành sự chú ý một cách nghiêm túc, chính xác và liên tục, hành giả sẽ có khả năng chú ý đến “ ý định của tâm trí” một cách rõ ràng mà không cần phải đoán chừng nữa. Khi buổi thuyết Pháp vừa chấm dứt, hành giả sẽ có ý định đứng lên, ngay lúc này anh ta cần phải chú ý đến “ ý định muốn đứng lên”. Nếu hành giả không có “ý định đứng lên” thì anh ta có thể đứng lên hay không ? Chắc chắn là không. Tiếp đến, hành giả phải chú ý và niệm thầm trong tâm “ đang có ý định đứng lên, đang có ý định đứng lên”…Do ảnh hưởng của “ý định muốn đứng lên”, một luồng không khí từ bên trong thân thể của hành giả sẽ thúc đẩy thân thể anh ta đứng lên. Lúc đó, hành giả sẽ dùng sức để đứng lên, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang dùng sức để đứng lên, đang dùng sức để đứng lên”… Khi đang chống tay để đứng lên, hành giả cần niệm thầm trong tâm mình “ đang chống tay để đứng lên, đang chống tay để đứng lên”…Tiếp đến, hành giả phải chú ý đến “ chuyển động đang dần dần đứng lên” của thân thể anh ta. Liền sau đó, hành giả hãy niệm thầm trong tâm mình “ đang đứng lên, đang đứng lên”…Hành giả không cần chú ý đến hình dáng bên ngoài của đầu, thân thể, hai chân và hai tay, bởi vì chúng chỉ là những khái niệm. Trong quá trình thực hành thiền, chúng không phải là đối tượng của sự chú ý. “Bản chất của chuyển động đang dần dần đứng lên” của thân thể hành giả mới chính là “đối tượng cần phải chú ý” một cách cẩn thận, bởi vì nó là thực tại cùng tột.

Tốt nhất, hành giả nên nhắm mắt lại khi đang thực hành sự chú ý. Nếu hành giả mở mắt và nhìn ra đây đó thì “bản chất của chuyển động đang dần dần đứng lên” sẽ không xuất hiện một cách rõ ràng. Hai trạng thái nội quán mà hành giả đã gặt hái được nói trên chính là kết quả của việc chú ý đến “ ý định của tâm trí”. Ý định của tâm trí chính là sự nhận thức, nó thuộc về tinh thần. Trong khi đó, hành động đang đứng lên của thân thể là thuộc về vật chất, nó không hề có sự nhận thức. Từ đó, hành giả sẽ nhận thức được được rằng “ không phải tôi đang đứng lên”. “Ý định muốn đứng lên” chính là nguyên nhân thúc đẩy và khiến cho hành động đứng lên hiện khởi. “Hành động đang đứng lên” chính là kết quả của nguyên nhân này.

Tóm tắt: Ý định muốn đứng lên là thuộc về tinh thần, hành động đang đứng lên là thuộc về vật chất. Không phải “ tôi” hay “ bạn” đang đứng lên. Chính tinh thần và vật chất đang đứng lên. Trong trường hợp này, nếu có quan niệm rõ ràng về sự phối hợp giữa tinh thần và vật chất thì bạn đã nhận thức được ý định muốn đứng lên.

Hai quan điểm lầm lạc cụ thể là niềm tin vào tự ngã và ngũ uẩn sẽ bị loại bỏ khi hành giả gặt hái được kiến thức về nhân quả. Theo các bậc thầy chú giải Kinh điển, khi đã loại bỏ được 2 quan điểm lầm lạc nói trên thì hành giả được xem như là đã trở thành một Tiểu- Tu-Đà-Hườn ( Culasotāpañña). Người đã gặt hái được kiến thức về nhân quả ( Paccayapariggaha Ñāna)

tức là người đã thiết lập được một nền tảng vững chắc trong Giáo Pháp của Đức Phật. Vì vậy, anh ta đã thoát khỏi và không còn chịu ảnh hưởng bởi những quan điểm lầm lạc về một Đấng Sáng Tạo, cũng như những niềm tin không thích hợp. Nếu hành giả bị ảnh hưởng bởi những quan điểm lầm lạc này và trở nên nghi ngờ về niềm tin vào nguyên nhân và kết quả, anh ta sẽ do dự trong việc thẩm định về những điều đúng sai. Tuy nhiên, thông qua trải nghiệm riêng của chính mình, hành giả sẽ  có một niềm tin vững chắc rằng những kết quả tốt đẹp trong kiếp sống hiện tại có nguồn gốc từ những hành động thiện lành trong quá khứ. Những hành động xấu ác trong quá khứ chính là nguyên nhân dẫn đến một kiếp sống tồi tệ trong hiện tại. Sự thật, những hành động thiện lành trong quá khứ sẽ mang lại những tác động tốt cho kiếp sống hiện tại, những hành động xoàng xĩnh sẽ mang lại những kết quả xoàng xĩnh. Những hành động bất thiện trong quá khứ sẽ tiếp tục kéo dài tác động của nó đến hiện tại và khi có cơ hội chúng sẽ khởi lên một cách rõ ràng. Theo niềm tin về Đấng Sáng Tạo thì Ngài chính là nguyên nhân đầu tiên. Ngài tự mình trở thành mà không hề phát xuất từ một nguyên nhân hay kết quả nào cả.  Những Đấng Sáng Tạo như Phạm-Thiên ( Brahmā), Vishnu hay Chúa,  với lòng trắc ẩn, các Ngài đã tạo ra cuộc sống của muôn loài với sự bình đẳng về phương diện sức khỏe, sự giàu có, diện mạo, trí thông minh và tâm tính…Tuy nhiên trong thực tế, muôn loài chúng sanh đều khác nhau trên những phương diện này. Vì vậy, thuyết sáng tạo không thể giải thích về sự giàu có hay nghèo khổ, có sức khỏe hay bệnh tật, diện mạo xinh đẹp hay xấu xí…bởi vì thuyết này không có ý niệm về nguyên nhân và kết quả. Ngày nay có khá nhiều người cải đạo, họ chuyển đổi từ một tôn giáo này sang một tôn giáo khác. Vậy liệu một Tu-Đà-Hườn đã có một nền tảng vững chắc trong Giáo Pháp của Đức Phật có chuyển đổi sang một tôn giáo khác hay không ? Một người đã gặt hái được kiến thức về nhân quả chắc chắc sẽ không bao giờ chuyển đổi sang một tôn giáo khác. Bầu bạn xấu là một trong những lý do khiến người ta chuyển đổi từ một tôn giáo này sang một tôn giáo khác. Thậm chí, một hành giả thực hành thiền minh sát nào đó sẽ không gặt hái được Giáo Pháp nếu anh ta không thực hành theo một phương pháp đúng đắn hay chưa thể tìm được cho mình một vị thầy có đạo đức và tài giỏi. Do đó, tối thiểu những hành giả trẻ tuổi cần phải gặt hái cho được kiến thức về nhân quả. Nếu làm được như vậy thì trong kiếp sống tương lai họ sẽ có được những điểm đến tốt đẹp như cõi người, cõi Chư-Thiên và Phạm-Thiên, thay vì bị đọa xuống địa ngục khổ đau. Một người nào đó thực hiện những hành động thiện lành ít hơn những hành động bất thiện chắc chắn sẽ bị tái sanh vào địa ngục. Vì lý do đó, người này cần phải cố gắng gặt hái cho được kiến thức về nhân quả. Sự nổ lực này được biết đến như là nổ lực đầu tiên ( Àrambha dhàtu – Initial exertion). Bằng hạnh chú ý nghiêm túc, hành giả sẽ gặt hái được kiến thức lãnh hội được 3 tướng vô thường, khổ và vô ngã – Sammāsana Ñāna. Đây là một trạng thái nội quán sẽ khiến cho tâm của hành giả cảm thấy khổ sở. Nếu trong quá khứ, hành giả chưa từng thực hành thiền định, năng lực định tâm yếu kém anh ta sẽ phải trải nghiệm những kiểu khổ đau như chóng mặt, buồn nôn, trạng thái thân thể bị đong đưa như đánh võng, đau nhức, tê cóng, cảm giác bị co giật toàn thân, ngứa ngáy…Do đó, hành giả sẽ nhận thức được rằng thân thể của anh ta chỉ thuần túy là một đống khổ đau ( Dukkha – Suffering). Những khổ đau này rất hay thay đổi, gây ra trạng thái buồn phiền và bối rối cho tâm trí của hành giả. Vì vậy chúng là vô thường  ( Anicca – Impermanent). Hành giả cũng sẽ nhận thức rằng, anh ta không hề mong muốn những cảm giác bất như ý đó, tuy nhiên chúng vẫn cứ xuất hiện theo cách riêng của chúng, cho dù anh ta có thích hay không. Hành giả không có cách nào để điều khiển hay ngăn chặn những cảm giác bất như ý này. Do đó chúng là vô ngã ( Anatta – No self or Uncontrollable). Ba tướng vô thường, khổvô ngã đã được lãnh hội một cách rõ ràng thông qua sự quán niệm của hành giả và chúng đã khiến cho anh ta trở nên kiệt sức, mất hết hứng thú và ý chí trong việc thực hành thiền. Hành giả sẽ cảm thấy đau khổ trong thân tâm, anh ta muốn trở về nhà. Sở dĩ anh ta đã đến với trung tâm thiền là do sự thúc giục của cha mẹ mình.  Tuy nhiên, nếu hành giả tiếp tục kiên trì thực hành thiền một cách siêng năng để có thể vượt qua được những cảm giác bất như ý này, anh ta sẽ thoát khỏi chúng. Sự nổ lực này được xem như là nổ lực để tự giải phóng ( Nikkama dhātu). Sự nổ lực để vượt qua được các loại cảm thọ ( tức cảm giác – Vedanā) là đặc biệt quan trọng trong việc thực hành thiền minh sát. Vì vậy, hành giả cần phải nổ lực để có thể thực hiện được điều này.

Ba cách quán niệm để vượt qua cảm thọ

1. Quán niệm với mục đích làm cho cảm thọ biến mất đi

2. Quán niệm với mục đích quét sạch cảm thọ ra khỏi tâm trí

3. Quán niệm với mục đích lãnh hội được bản chất của cảm thọ

-  Quán niệm với mục đích làm cho cảm thọ biến mất đi là cách thực hành chú ý với tâm mong muốn phát triển lòng tham ( Lobha-Greed). Thiền minh sát là một phương pháp thực hành để thoát khỏi tham ái hay khao khát.

 Tuy nhiên, theo cách quán niệm này, như là một thứ ô nhiễm, khao khát đã xuất hiện trong mỗi sự chú ý. Từ đó, hành giả không thể trải nghiệm và gặt hái được Phật Pháp. Vì vậy cách thực hành quán niệm này là không thích hợp, bạn nên tránh xa.  

- Quán niệm với mục đích quét sạch cảm thọ ra khỏi tâm trí là mang tâm buồn bực ( Domanassa) và sân hận ( Dosa). Thực hành thiền minh sát là để thoát khỏi buồn bực và sân hận. Tuy nhiên theo cách quán niệm này, như là những thứ ô nhiễm, đau buồn và sân hận luôn xuất hiện trong mỗi sự chú ý. Từ đó, thỉnh thoảng hành giả cũng không thể trải nghiệm và gặt hái được Phật Pháp. Vì vậy, hành giả cũng không nên thực hành theo cách quán niệm lầm lạc này.

- Tóm lại, chỉ khi bản chất của cảm thọ đã được nhận biết và lãnh hội thì việc thực hành quán niệm mới có ý nghĩa. Tiến trình trở thành và tan hoại của các hiện tượng có thể trải nghiệm được chỉ khi bản chất của cảm thọ đã được hành giả lãnh hội. Vì vậy, trong khi đang hành thiền, hành giả phải thực hành quán niệm và quan sát xem thử cảm thọ hiện đang ở đâu, nó đang ở trên da hay đang ở trong thịt, nó đang ở trong xương hay đang ở trong tủy. Chỉ sau 4 hoặc 5 lần chú ý liên tục, hành giả sẽ trải nghiệm được bản chất của cảm thọ. Cường độ của cảm thọ sẽ gia giảm dần khi đã tăng lên đến cực điểm. Tuy nhiên, khi cảm thọ đang giảm dần cường độ thì hành giả không nên nới lỏng sự chú ý. Khi bị chú ý, cảm thọ có thể di chuyển sang những bộ phận khác của cơ thể. Nhận thức được tiến trình gia tăng và gia giảm, tiến trình di chuyển của cảm thọ từ nơi này sang nơi khác trên thân thể là đã lãnh hội được bản chất của nó. Đây chính là cách quán niệm đúng đắn mà hành giả nên thực hành theo. Khi hành giả ngày càng cảm thấy thú vị hơn đối với Giáo Pháp và đã có khả năng chú ý một cách liên tục thì sự chú ý và năng lực định tâm của anh ta sẽ trở nên mạnh mẽ. Lúc đó hành giả sẽ tự trải nghiệm rằng, cảm thọ đã gia tăng cường độ trong mọi sự chú ý. Sau khi đã đạt tới đỉnh điểm, cảm thọ sẽ gia giảm cường độ rồi di chuyển sang nơi khác trên thân thể. Do đó, bản chất của cảm thọ đã xuất hiện một cách rõ ràng trong tâm thức hành giả. Với sự chú ý liên tục, năng lực định tâm của hành giả đã trở nên chín muồi hơn, tiến trình trở thành và biến mất đi của các hiện tượng nói chung đã xuất hiện một cách rõ ràng trong nhận thức của hành giả. Ở trình độ thực hành thiền này, sự chú ý của tâm trí đã có thể vượt qua được cảm thọ. Do ảnh hưởng của sự chú ý liên tục, hành giả sẽ gặt hái được kiến thức về tính tan hoại của các hiện tượng – Bhanga Ñāna, nơi mà tiến trình tan hoại của các hiện tượng ngày càng xuất hiện một cách sống động hơn. Trong mỗi sự chú ý, hành giả sẽ lãnh hội trạng thái lướt qua một cách nhanh chóng của tiến trình tan hoại. Lúc đó, hành giả sẽ không còn cảm thấy đau khổ nữa, cảm thọ đã bị sự chú ý của tâm trí vượt qua. Đây chính là cách quán niệm được gọi là Nikkama dhātu- nổ lực để tự giải phóng. Một vài hành giả nhận xét rằng họ có thể chú ý tốt hơn khi cảm thọ khởi lên. Nếu không tập trung chú ý khi cảm thọ đang khởi lên thì tâm trí của họ sẽ bị lang thang vô định, năng lực chú ý cũng trở nên rời rạc. Hành giả không cần phải chú ý đến các hình thức vật chất như đầu, thân thể, 2 cẳng chân và 2 tay bởi vì chúng chỉ là những khái niệm ( Paññati – Conception). Những khái niệm sẽ tự biến mất đi trong tâm thức hành giả khi tuệ minh sát đã phát triển một cách mạnh mẽ. Khái niệmtuệ minh sát là 2 phương diện hoàn toàn đối nghịch nhau. Khi cái này xuất hiện thì cái kia sẽ biến mất. Đây là cách quán niệm được gọi là Nikkama dhātu. Khi kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng đã chín muồi trong tâm thức, tự nhiên hành giả sẽ có khuynh hướng chú ý đến tiến trình tan hoại một cách nhanh chóng của cảm thọ. Lúc đó, cả cảm thọ lẫn sự chú ý của tâm trí sẽ tan biến đi, khiến cho hành giả nhận thức ra rằng, cảm thọ cũng như sự chú ý của tâm trí là vô thường- Anicca. Việc phải đối mặt với cảm thọ là rất khó khăn. Do đó, nó là khổ - Dukkha.  Không ai có thể ngăn chặn được tiến trình trở nên và biến mất đi một cách nhanh chóng của cảm thọ. Do đó, nó là vô ngã – Anatta. Với Nikkama dhātu, khi đã tự lãnh hội được 3 tướng vô thường, khổvô ngã chứa đựng trong lòng các hiện tượng, hành giả sẽ thoát khỏi trạng thái kiềm tỏa của cảm thọ nói chung và gặt hái được Giáo Pháp cao thượng. Sau khi đã gặt hái được kiến thức lãnh hội – Sammāsana Ñāna, hành giả sẽ tiếp tục gặt hái kiến thức về sự trở thành và tan biến đi của các hiện tượng – Udayabbaya Ñāna. Udaya có nghĩa là trở thành, baya có nghĩa là tan biến đi. Lúc ban đầu khi mới gặt hái Udayabaya Ñāna, tiến trình trở thành của cảm thọ chưa xuất hiện một cách rõ ràng và sống động. Tuy nhiên, cảm giác dễ chịu sẽ được hành giả trải nghiệm một cách rõ ràng trong thiền tọa và thiền hành. Lúc đó, hành giả không còn cảm thấy khổ sở, thân tâm của anh ta đã trở nên nhẹ nhàng, vi tế và dễ điều khiển hơn trước rất nhiều. Hành giả đã có khả năng thiền tọa liên tục trong một giờ đồng hồ mà không cần phải thay đổi tư thế. Trước đó, khi đang ở trong những trạng thái nội quán thấp hơn, anh ta thường xuyên thay đổi tư thế khi đang thực hành thiền. Thậm chí đến trình độ này, hành giả đã có thể thiền tọa liên tiếp trong 2, 3 hay 4 giờ liền. Hành giả sẽ tự thấy rằng bản thân mình đã khá thành thạo trong quán niệm, khi có bất kỳ đối tượng nào khởi lên trong tâm thức thì dường như sự chú ý của anh ta đã có khả năng xuất hiện một cách tự động để dõi theo đối tượng này. Một vài hành giả trình Pháp rằng “ khi có một đối tượng bất kỳ nào đó khởi lên trong tâm thức, tôi không cần làm gì cả, chỉ cần ngồi và dõi theo nó. Sự chú ý của tôi đã có khả năng vận hành một cách tự động”. Hành giả cũng sẽ trải nghiệm được trạng thái yên tĩnh trong thân tâm. Anh ta đã có thể nói rằng “ thân thể của tôi trầm tĩnh và thẳng đứng như một con búp bê”. Ở trình độ thực hành thiền này, hành giả sẽ cảm thấy hạnh phúc trong thân tâm do đã gặt hái được hoan hỷ minh sát. Trong trạng thái nội quán được gọi là Udayabbhaya Ñāna , thân tâm của hành giả đã trở nên mềm mại, uyển chuyển và dễ điều khiển. Đức Phật đã nói rằng “ một hành giả đã gặt hái được Udayabbhaya Ñāna sẽ tìm đến nơi yên tĩnh để thực hành quán niệm về tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng. Anh ta sẽ gặt hái được hoan hỷ minh sát – Vipassanā Pīti. Hành giả này sẽ có khả năng sống một mình giữa thế giới trần tục, thậm chí Chư Thiên cũng cũng không có được cơ hội để tận hưởng được loại hạnh phúc này”. Một vài hành giả trẻ tuổi và thông minh cũng có thể tự trải nghiệm được hoan hỷ minh sát. Tuy nhiên, nếu quá bám víu vào cảm giác hạnh phúc trong hoan hỷ minh sát thì tiến trình phát triển Giáo Pháp trong chính họ sẽ bị đình trệ.

Tóm tắt: Bám víu vào cảm giác như ý đang khi thực hành sự chú ý nghĩa là đã bị đình trệ từ bên trong.

 Khi thấy tiến trình thực hành thiền bị đình trệ do bám víu hay bị lôi cuốn bởi lạc thọ ( Sukka Vedanā), điều cốt tủy và quan trọng nhất là hành giả cần phải chú ý đến nó và niệm thầm trong tâm mình “ lạc thọ, lạc thọ…”. Theo trình tự nổ lực hành thiền và giải thoát khỏi cảm giác buồn chán và mệt mỏi ( Parakkama dhātu), hành giả cần phải thực hành quán niệm một cách liên tục và mãnh liệt để từng bước gặt hái được hết tất cả những trạng thái nội quán. Đặc biệt, hành giả cần phải chú ý đến lạc thọ trong giai đoạn mới gặt hái được Udayabbhaya Ñāna. Khi cảm giác hạnh phúc trong thân tâm đã hiện khởi một cách rõ ràng, anh ta cần phải chú ý đến cảm giác này.

Khi Udayabbhaya Ñāna đã chín muồi, những hành giả thông minh sẽ lãnh hội được tiến trình khởi lên và tan biến đi của lạc thọ, đồng thời khi đang chú ý đến nó họ phải niệm thầm trong tâm “ lạc thọ, lạc thọ…”. Hiện khởi tức trở thànhbiến mất đi nghĩa là tan hoại. Hành giả sẽ nhận thức được rằng, tiến trình trở thành và tan hoại của lạc thọ cũng chính là khổ. Đấng Giác Ngộ đã động viên chúng ta như sau : “ Người ta cần phải chú ý đến lạc thọ cho đến khi đã thật sự nhận thức được nó chính là khổ đau”. Khi đã nhận thức được lạc thọ là khổ thì hành giả sẽ không còn mang tâm bám víu vào nó nữa. Cách quán niệm lạc thọ cũng giống như cách quán niệm khổ thọ

( Dukka vedanā). Khi đã vượt qua được tâm bám víu vào lạc thọ và tiến bộ qua từng trạng thái nội quán, có thể nói hành giả đã thật sự bước sang giai đoạn nổ lực để giải thoát khỏi tạng thái buồn chán và mệt mỏi

( Parakkama Dhātu). Nói cách khác, trong Udayabbhaya Ñāna, hành giả cần phải vượt qua được lạc thọ bằng cách thực hành Parakkama dhātu. Cuối cùng, hành giả sẽ gặt hái được Đạo quả và Niết Bàn.

Tóm tắt: Khi lạc thọ đang khởi lên, hành giả cần phải chú ý để nhận thức được rằng nó chính là khổ.

Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp được trích dẫn từ Kinh Anurudha Mahāvitakkha, cầu chúc cho quí vị sẽ có khả năng thực hành thiền một cách thích hợp, nhanh chóng tiến bộ trong tiến trình phát triển nội quán, đạt tới Niết Bàn mong muốn, đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau bằng cách thực hành Phật Pháp với một tâm thức thanh thản và thoải mái ! Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !             

               

              

 

                       Kinh Thu Thúc  - Indriyasamvara Sutta

 

Bài thuyết Pháp này sẽ nói về phương pháp làm chủ thân tâm bằng cách làm chủ hay thu thúc các giác quan. Indriya có nghĩa là điều khiển các giác quan, samvara có nghĩa là điều khiển hay thu thúc, sutta có nghĩa là Kinh hay sự giải thích. Theo Tăng Chi Bộ Kinh Ba-Lị ( Anguttara Pāli), Đức Phật đã từng chủ trương rằng : “Hỡi các con của ta !Giới Bổn Tỳ Kheo (Pātimokkhasamvara sīla) sẽ không phát triển được trong một ai đó nếu người này không làm chủ thân tâm bằng cách thu thúc hay làm chủ các giác quan”. Điều này có nghĩa là nếu một người không thu thúc các giác quan như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thì Giới Phòng Hộ ( Indriyasamvara Sīla) sẽ bị phá vỡ. Nếu không làm chủ được 6 giác quan thì việc gìn giữ 5 Giới, 8 Giới hay 9 Giới (đối với người thế tục) và 227 Giới ( đối với bậc xuất gia)

sẽ bị phá vỡ. Từ đó, năng lực định tâm sẽ không phát triển được do sự thiếu Giới. Khi năng lực định tâm không phát triển thì hành giả cũng không có được trí tuệ để nhận thức về sự trở thành của vạn hữu. Do đó, kiến thức về sự nhàm chán ( Nibbida Ñāna) sẽ không phát triển. Vì vậy, tâm của hành giả không có khả năng suy xét đúng đắn và quán niệm về sự giải thoát, dẫn đến không thể nhận thức được Đạo quả và Niết Bàn hạnh phúc. Ngược lại, có thể nói rằng nếu có khả năng giữ Giới Phòng Hộ ( Indriyasamvara Sīla), người ta có thể giữ được Giới Bổn Tỳ Kheo ( Pātimokkhasamvara Sīla) bằng cách làm chủ hay thu thúc 6 giác quan. Đây chính là điều kiện đầu tiên cần phải có để thực hành 5 Giới, 8 Giới, 9 Giới và 227 Giới. Năng lực định tâm sẽ phát triển khi những Giới luật này được đáp ứng một cách thỏa mãn. Yarthābhūta Ñāna – kiến thức có thể nhìn thấy thực tại sẽ phát triển khi năng lực định tâm đã trở nên mạnh mẽ. Tiếp đến là sự xuất hiện củaNibbida Ñāna – kiến thức về sự nhàm chán, khả năng suy xét độc lập và vô tư ( Virāga) sẽ dẫn đến kiến thức về trạng thái giải thoát – Vimuttinānadassana. Khi kiến thức về trạng thái giải thoát được tiếp tục vun trồng sẽ dẫn đến Paccavekkhana Ñāna – Kiến thức về sự nhớ lại quá khứ sẽ phát triển. Sự thật, những bậc thầy chú giải Kinh điển đã từng nói rằng Giới Phòng Hộ là điều kiện ắt phải có để có thể đạt tới quả vị A-La-Hán và giải thoát khỏi luân hồi. Do đó, Giới Phòng Hộ ( Indriyasamvara Sīla) đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nhận thức Giáo Pháp. Những hành giả thực hành thiền minh sát có mong muốn giữ Giới, phát triển được năng lực định tâm để nhanh chóng trải nghiệm được Giáo Pháp nên làm chủ hay thu thúc 6 giác quan của họ. Chỉ có cách thực hành như vậy thì tham lam, sân hận và vọng tưởng mới không khởi lên được. Nếu không thu thúc 6 giác quan thì tham lam sẽ khởi lên khi các đối tượng dễ chịu tiếp xúc với chúng. Nếu các đối tượng ấy là khó chịu thì sân hận sẽ khởi lên. Vì vậy tâm trí sẽ bất ổn và Giới Phòng Hộ sẽ bị phá vỡ, dẫn đến Giới Bổn Tỳ Kheo cũng bị ảnh hưởng theo. Một ví dụ rõ ràng khi mắt tiếp xúc với khiêu vũ, tai tiếp xúc với âm nhạc thì mắt của người ta sẽ dõi theo và tai của họ sẽ lắng nghe 2 đối tượng này. Đây là sự vi phạm Giới luật. Khi không thu thúc 6 giác quan, Giới Bổn Tỳ Kheo sẽ bị phá vỡ, năng lực định tâm và trí tuệ cũng không thể phát triển được… Khi Giới Phòng Hộ không được gìn giữ một cách tốt đẹp thì dẫn đến nhiều điều bất lợi khác.

 Đó là lý do tại sao việc thu thúc 6 giác quan đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình thực hành Giáo Pháp. Những hành giả thực hành thiền minh sát đặc biệt phải quan tâm đến việc thu thúc 6 giác quan bằng cách chỉ chú ý một cách thuần túy ( tức chú ý mà không phán xét và không xử dụng ý thức để can thiệp vào tiến trình đang xảy ra của các hiện tượng) đến sự thấy, nghe, xúc chạm, suy nghĩ…Nhờ vậy Giáo Pháp sẽ phát triển trong tâm thức của hành giả. Khi Giới Phòng Hộ được gìn giữ một cách vững chãi thì Giới Bổn Tỳ Kheo cũng được gìn giữ và năng lực định tâm sẽ phát triển. Năng lực định tâm sẽ tăng cường và thúc đẩy kiến thức có thể nhìn thấy thực tại ( Yathābhūta Ñāna) phát triển. Tiếp đến là sự phát triển của kiến thức về sự nhàm chán ( Nibbidā Ñāna), năng lực suy xét độc lập và vô tư ( Vīrāga Ñāna), kiến thức có thể nhớ lại quá khứ ( Paccavekkhana Ñāna), trạng thái nhận thức về Đạo Quả và giải thoát. Nếu liên tục vun trồng những loại kiến thức nói trên, hành giả sẽ trải nghiệm được Giáo Pháp, nhận thức và đạt tới Niết Bàn.

Tóm tắt: Giới Phòng Hộ sẽ nuôi dưỡng Giới Bổn Tỳ Kheo và năng lực định tâm, năng lực định tâm là nguyên nhân làm phát triển năng lực có thể nhìn thấy thực tại. Năng lực nhìn thấy thực tại sẽ dẫn đến sự nhận thức Niết Bàn và giải thoát.    

Khi một ai đó đã thấm nhuần Giới Phòng Hộ thì 5 trạng thái nội quán vừa nêu trên sẽ phát triển một cách liên tục và chắc chắn trong người này.

Nhờ đó, anh ta sẽ đạt tới Niết Bàn. Ngày xưa, những hành giả thường xử dụng khăn trùm đầu để làm chủ thị giác của họ. Tuy nhiên ngày nay, các hành giả đã học được cách thu thúc thị giác một cách đúng đắn. Khi đang thực hành thiền để đạt tới Đạo quả và Niết Bàn, thị giác là một giác quan cần phải được thu thúc một cách đặc biệt. Tôn giả Kaccāyana ( Ca-Chiên-Diên) đã dạy rằng để thu thúc thị giác, người ta cứ làm như thể mình bị mù. Đây là một lời giáo huấn rất có ích cho việc phát triển năng lực định tâm trong một thời gian ngắn. Cốt tủy của Giới Phòng Hộ ( Indriyasamvara Sīla) là niệm

 ( sati). Nếu khả năng chú ý phát triển tốt, thị giác sẽ được thu thúc một cách vững chãi. Chú ý tốt sẽ tăng cường và thúc đẩy năng lực định tâm phát triển. Trong thiền tọa, với 2 mắt nhắm lại, năng lực định tâm sẽ dễ dàng phát triển.

Khi hành giả đứng lên và nhìn ra đây đó, trạng thái định tâm của anh ta sẽ bị xáo trộn. Đó là lý do tại sao thu thúc thị giác là một việc cần phải quan tâm đến một cách đặc biệt. Khi đang thực hành thiền minh sát, thật lợi ích nếu hành giả làm như thể mình là một người điếc. Nếu hành giả lắng nghe một âm thanh hay tiếng động nào đó và tự hỏi “ đây là tiếng người, tiếng chim hay là tiếng búa đập?”, tâm trí của anh ta sẽ bị lang thang vô định, dẫn đến năng lực định tâm sẽ không phát triển. Do đó, tuệ minh sát ( Vipassanā Paññā) cũng không phát triển được. Những lời giáo huấn của Tôn giả Ca-Chiên-Diên ( Ashin Kaccāyana) là đúng theo lời khuyên của Đức Phật.

Nếu một hành giả nào đó mong muốn trải nghiệm được Giáo Pháp thì hành giả này phải đặc biệt chú ý đến việc thu thúc thị giác và thính giác. Anh ta phải thiết lập được khả năng nhìn và nghe một cách thuần túy, tức nhìn và nghe mà không phán xét hay xử dụng ý thức để can thiệp vào tiến trình đang xảy ra của hình ảnh và âm thanh. Đối với một người bình thường chưa có nền tảng về thiền minh sát, việc nhìn và nghe một cách thuần túy có thể không dễ dàng chút nào. Tuy nhiên, đối với một người đã phát triển được trạng thái định tâm thì việc này không có gì khó. Khi đang thiền hành, bạn giả cần chú ý và niệm thầm trong tâm mình “ đang dở chân lên, đang bước tới và đang đặt chân xuống”. Bạn cần phải nhận thức được rằng chuyển động đang dở chân lên càng lúc càng trở nên nhẹ nhàng, chuyển động đang đặt chân xuống càng lúc càng trở nên nặng nề hơn. Khi có một ai đó đang đi ngang qua trước mặt bạn, ngay lúc đó bạn vẫn nhận thức sự có mặt của người này. Tuy nhiên, bạn không cần phải thắc mắc đó là đàn ông hay đàn bà, cao hay thấp, diện mạo đẹp hay xấu…Nói cách khác, bạn chỉ cần nhìn đối tượng một cách thuần túy. Bạn sẽ nhanh chóng gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng nếu có thể thiết lập được một khả năng nhìn thuần túy. Có rất nhiều thí dụ minh họa về sự lợi ích của việc thu thúc hay làm chủ thị giác.         

Tỳ kheo Cittagutta

Một thời có một vị Trưởng Lão Tỳ-kheo tên là Cittaguta. Ngài trú trong một hang động ở Kurandaka có tên là Đại-Động ( The Great Cave). Trên các bức tường của hang động có 7 bức tranh rất đẹp mô tả 7 vị Phật thoát tục, trong đó bao gồm Đức Phật Tỳ-Bà-Thi ( Vipassi Buddha) và 6 vị Phật khác. Ngay tại cửa ra vào động còn có một cây to gọi là cây gỗ Sắt ( tiếng Miến Điện gọi là Gan-Gaw, tức cây Bao-Báp). Vị Tỳ kheo Trưởng Lão đã 80 tuổi và đã sống tại hang động này được 60 năm. Tuy đã sống tại hang động trong một khoảng thời gian lâu như vậy nhưng Ngài chưa một lần để mắt tới những bức tranh, cũng như cây gỗ to lớn nói trên. Tuy nhiên, Ngài vẫn nhận thấy rằng hàng năm cây gỗ to lớn này có ra hoa, cũng như đã trông thấy những cánh hoa của nó rơi xuống mặt đất. Vị Trưởng lão cũng nhận biết sự hiện diện của những bức tranh nằm trên tường của hang động chỉ khi một vài vị Tỳ kheo là khách đến thăm trầm trồ kinh ngạc về vẻ đẹp của chúng. Chỉ khi ấy những bức tranh mới khiến Ngài chú ý đến. Vị Trưởng Lão đã hoàn toàn thu thúc được thị giác của chính mình và thực hành Phật Pháp một cách rất chuyên cần. Nhà vua nghe tiếng tốt về vị Tỳ kheo Trưởng Lão đức hạnh và mong muốn có dịp được đảnh lễ Ngài. Nhà vua đã 3 lần thỉnh cầu vị Trưởng Lão hãy đến thăm cung điện của mình. Tuy nhiên, vị Trưởng lão đã từ chối vì không muốn việc thực hành thiền của Ngài bị xáo trộn. Thậm chí, Ngài còn nghĩ rằng lời mời mọc của nhà vua chẳng có mảy may gì liên quan đến tôn giáo. Lời mời mọc đó đối với Ngài chẳng mang lại chút lợi ích nào cho trí tuệ. Sau đó, nhà vua đã nghĩ ra một kế hay để khiến cho vị Trưởng Lão phải đến thăm cung điện của ông. Kế hay đó là nhà vua đã ra lệnh cho tất cả những người làm nghề vú nuôi ở ngôi làng bên cạnh ( có tên là Mahāgāma)  phải ngưng ngay việc cho các em bé sơ sinh bú mớm. Những người vú nuôi này có nhiệm vụ phải mời cho được vị Trưởng Lão đến thăm cung điện của nhà vua. Đến chừng đó thì lệnh cấm nói trên mới được bãi bỏ. Sau một vài ngày, vị Trưởng Lão nghe được tin này và đã tỏ lòng trắc ẩn đối với những em bé sơ sinh. Ngài đã đến thăm ngôi làng nói trên. Nhà vua vô cùng mừng rỡ và luôn dịp mời vị Trưởng Lão ghé thăm cung điện của mình. Nhà vua đảnh lễ vị Trưởng Lão và thỉnh cầu Ngài hàng ngày hãy trở lại cung điện để ông dâng cúng vật thực. Vị Trưởng Lão đã cùng với một số Tỳ kheo sống trong nhiều ngôi làng khác nhau đến thăm cung điện của nhà vua. Hàng ngày sau bữa ăn, Ngài thường thuyết một bài Pháp. Nhà vua và hoàng hậu cũng thường đến đảnh lễ các Tỳ kheo, có khi là nhà vua và đoàn tùy tùng của ông, có khi là hoàng hậu và đoàn tùy tùng của bà. Những lúc ấy, vị Trưởng Lão đều chúc phúc cho họ rằng “ Cầu chúc cho bệ hạ được hạnh phúc và mạnh khỏe”. Khi trở về ngôi tu viện trong làng, những Tỳ kheo đã cung kính hỏi vị Trưởng Lão rằng “ Tại sao khi nhà vua hay hoàng hậu đến đảnh lễ Đại Đức, Ngài đều nói “ cầu chúc cho bệ hạ được hạnh phúc và mạnh khỏe ?”. Vị Trưởng Lão đã trả lời rằng : “ Ồ ! Đúng là ta đã không nhận biết được ai đã đến đảnh lễ, nhà vua hay là hoàng hậu ta cũng không biết nữa. Ta chỉ nghĩ rằng nhà vua đã mời ta đến thăm cung điện cho nên ta chúc phúc cho ông ấy, vậy thôi”. Vị Trưởng Lão đã vun trồng lối thực hành thu thúc các giác quan, Ngài chỉ nhận biết một cách chung chung là có người đến đảnh lễ mình. Tuy nhiên, Ngài không biết đó là ai, Ngài đã chú ý một cách thuần túy. Sau một vài ngày, nhà vua nhận ra rằng nếu để vị Trưởng Lão ở lại trong làng và hàng ngày phải dâng cúng cho Ngài thì vất vả quá. Thậm chí, nhà vua còn nói nếu vị Trưởng Lão ở lại trong làng thì ông cảm thấy bất an. Do đó, đến ngày thứ 7 thì nhà vua ra lệnh cho vị Trưởng Lão hãy trở lại hang động của Ngài. Khi đã về đến hang động, vị Trưởng Lão đã thực hành thiền suốt đêm. Ngài vô cùng ngạc nhiên vì năng lực định tâm của chính mình đã trở nên mạnh mẽ hơn trước rất nhiều. Tiếp đến, nhiều cấp độ nội quán khác nhau đã lần lượt khởi lên trong tâm thức của vị Trưởng Lão một cách rất rõ ràng. Cuối cùng, vào lúc hết đêm Ngài đã đạt tới quả vị A-La-Hán. Chắc hẳn bạn sẽ tự hỏi rằng : “ Tại sao vị Trưởng Lão đã không trở thành một A-la-Hán trong suốt một thời gian dài nổ lực thực hành thiền, tức trước khi viếng thăm cung điện của nhà vua ?” hay “ Tại sao vừa trở về từ cung điện của nhà vua Ngài đã gặt hái được quả vị A-La-Hán ?” Câu trả lời là vị Trưởng Lão đã nổ lực thu thúc thị giác của Ngài một cách cẩn thận và chuyên cần. Cung điện của nhà vua có rất nhiều cảnh tượng tuyệt vời và dễ chịu. Vì vậy, vị Trưởng Lão đã ra sức thực hành sự chú để không bị rối trí trước những cảnh tượng đó. Nhờ vậy năng lực định tâm của Ngài đã trở nên mạnh mẽ một cách phi thường. Sau khi trở về hang động và nổ lực cao độ để thực hành thiền, sự chú ý của Ngài đã nhanh chóng được thiết lập một cách cực kỳ vững chãi trên đối tượng quán niệm. Trạng thái định tỉnh và tinh khiết của tâm trí mà vị Trưởng Lão đã gặt hái được là kết quả tất yếu phải xảy ra. Từ đó, Ngài đã trải nghiệm được Giáp Pháp một cách dễ dàng với tuệ minh sát đã chín muồi trong tâm thức và đạt tới quả vị A-La-Hán. Những điều trên đã xảy đến do vị Trưởng Lão đã có khả năng thu thúc thị giác của Ngài một cách vững chãi. Câu chuyện về Tỳ kheo Citagutta đã được 6 hội đồng Phật Giáo chấp nhận. Một người bình thường nào đó có thể trở thành Tu-Đà-Hườn đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật mà người đó đã hoàn tất. Năng lực định tâm sẽ dẫn đến trí tuệ nhận thức được thực tại, tức chân lý về sự trở thành của vạn hữu ( Yathābhūta Ñāna dassana). Năng lực nhận biết được thực tại sẽ gia tăng và thúc đẩy tuệ minh sát phát triển. Các bậc thầy chú giải Kinh Điển ( Atthakhthā teacher) đã dẫn Tương Ưng Bộ Kinh

( Samyutta Nikāya) và giải thích rằng năng lực nhận biết thực tại- Yathābhūta Ñāna tương đương với tuệ minh sát trong giai đoạn mới phát khởi ( tức trạng thái minh sát đang còn ở mức độ yếu, vi tế và khó nhận biết – ND). Năng lực nhận biết được thực tại bao gồm 4 trạng thái nội quán. Trạng thái nội quán thứ nhất là kiến thức nhận biết được trạng thái trở thành của vạn hữu, tức hành- Sankhāra. Trạng thái này có tên gọi đầy đủ là Sankhāra pariccheda Ñāna. Sankhāra nghĩa là vật chất và tinh thần

( Rūpa và Nāma). Ngày nay, trạng thái nội quán này được gọi là Nāmarūpa pariccheda ñāna. Trạng thái nội quán thứ hai là kiến thức có thể vượt qua được trạng thái tâm hoài nghi và chủ nghĩa hoài nghi ( Skepticism). Ngày nay nó được gọi là Paccaya pariggaha ñāna, tức kiến thức về nhân quả. Khi một người nào đó nhận thức được rằng, trạng thái xuất hiện của vạn hữu đều có nguyên nhânkết quả thì người này sẽ không còn hoài nghi về Giáo Pháp. Trạng thái nội quán thứ ba là kiến thức lãnh hội được tính vô thường, khổvô ngã chất chứa trong lòng của vạn hữu. Trạng thái nội quán này được gọi là Sammāsana Ñāna- Kiến thức lãnh hội. Trạng thái nội quán thứ tư là kiến thức phân biệt được đúng sai. Ngày xưa người ta gọi nó là Magga magga Ñāna, ngày nay nó được gọi là Udayabbaya Ñāna. Trong lãnh vực thiền minh sát, người ta thường đề cập rằng, những hành giả cần phải sự nổ lực để gặt hái được Yathābhūta Ñāna. Nếu một vài người nào đó ( đặc biệt là người ngoại quốc) muốn biết rõ Yathābhūta Ñāna là cái gì thì bạn phải có khả năng giải thích cho họ hiểu về trạng thái nội quán này một cách đúng đắn, nếu không muốn bị hổ thẹn và bị các giáo phái khác bắt lỗi, cũng như chỉ trích. Khi một người nào đó đang thực hành thiền minh sát và gặt hái được những trạng thái nội quán nói trên thì anh ta sẽ tin chắc rằng mình đã thực hành theo một con đường đúng đắn. Từ đó niềm tin cũng đã phát triển trong tâm thức của hành giả này. Đây chính là nền tảng tốt đẹp để nhận thức Giáo Pháp nếu hành giả nói trên tiếp tục thực hành thiền. Có câu nói tóm tắt rằng “ niềm tin, sức khỏe, quan kiến đúng đắn, sự chuyên cần, năng lực nhận thức được tiến trình trở thành và tan hoại của các hiện tượng là 5 nhân tố để gặt hái Giáo Pháp”. Niềm tin

( Saddhā) là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất để gặt hái Giáo Pháp.

Có quan kiến đúng đắntức là không nói dối và xử dụng các mánh khóe để lừa đảo người khác. Chuyên cần nghĩa là thực hành thiền một cách cần cù và mãnh liệt, thậm chí không cần để ý đến mạng sống của chính mình.

Tóm tắt: Thực hành thiền một cách mãnh liệt, thậm chí không cần màng đến cuộc sống của chính mình.

Nếu một hành giả nào đó luôn luôn coi trọng và chăm chút đến cuộc sống thế tục của anh ta thì hành giả này sẽ không bao giờ trở thành một Tu-Đà-Hườn. Trong cuộc sống thế gian, một hành giả nào đó chắc chắn sẽ trở thành Tu-Đà-Hườn đúng theo hạnh nguyện Ba-La-Mật đã chín muồi của anh ta. Do đó, anh ta phải có can đảm thực hành thiền một cách chuyên cần, không cần màng đến cuộc sống của chính mình. Trong thiền minh sát, niềm tin có một ý nghĩa nhất định. Khi các trạng thái nội quán đã phát triển thì niềm tin sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Nếu thực hành thiền một cách liên tục thì một người nào đó sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng đúng theo hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính anh ta. Dưới sự hướng dẫn lợi ích của Ngài Màhasi, bạn có thể thực hành quán niệm về tiến trình phồng xẹp lên xuống của bụng, tiến trình đang ngồi, tiến trình đang xúc chạm…Khi mới khởi sự tập luyện, có thể bạn chưa có khả năng lãnh hội được một điều gì đặc biệt, bởi vì năng lực định tâm chưa phát triển. Khi năng lực định tâm đã trở nên mạnh mẽ hơn, bạn sẽ nhận thức được một sự thật rằng, những hoạt động như tiến trình phồng xẹp lên xuống của bụng, tiến trình đang xúc chạm, tiến trình đang ngồi… là hoàn toàn tách biệt với sự chú ý của tâm trí. Đến lúc ấy, bạn sẽ hiểu rằng những tiến trình này là không hề có sự nhận thức, bởi vì chúng thuộc về vật chất ( Rūpa). Sự chú ý của tâm trí là thuộc về tinh thần

( Nāma) bởi vì nó có sự nhận thức. Thậm chí, bạn còn nhận thức được rằng, 5 uẩn tạo thành một người nào đó chỉ là những yếu tố vật chấttinh thần, ngoài ra không có gì khác. Những đại từ nhân xưng như “ ông T”,

bà C”, “ Cô X”, “ tôi” và “ bạn”….chỉ là những cách xưng hô mang tính qui ước, nhằm mục đích thuận tiện trong giao tiếp mà thôi. Năng lực nhận thức được trạng thái hoàn toàn khác nhau giữa vật chất và tinh thần được gọi là Nāmarūpa paricheda Ñāna.

Hai kiểu người

Giữa những hành giả thực hành thiền để trở thành Tu-Đà-Hườn vẫn có sự khác biệt về trạng thái trải nghiệm và lãnh hội Giáo Pháp.

1. Những hành giả có trí tuệ vượt trội trải nghiệm và lãnh hội Giáo Pháp thông qua các hành động riêng của mỗi người. Ví dụ, họ sẽ trải nghiệm và lãnh hội rằng “ tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng và sự chú ý của tâm trí là 2 thành phần hoàn toàn khác biệt nhau.

2. Khi quán niệm, những hành giả có niềm tin vượt trội chưa trải nghiệm và lãnh hội được một cách rõ ràng rằng “ tiến trình hành động của chính họ và sự chú ý của tâm trí là khác biệt nhau”, mặc dù khả năng chú ý của họ rất tốt. Những hành giả đó sẽ nhận thức được điều này chỉ khi họ được nghe các thiền sư nói ra cho họ biết. Đến lúc đó, họ mới gặt hái được Nāmarūpa pariccheda Ñāna, mặc dù ở đây trạng thái nội quán mà hành giả gặt hái được mới chỉ ở giai khởi đầu. Nói cách khác, theo các bậc thầy chú giải Kinh điển, thật ra hành giả chỉ mới gặt hái được trạng thái nội quán gọi là Yathābhūta Ñāna. Với trạng thái chú ý liên tục, năng lực định tâm sẽ trở nên mạnh mẽ hơn và hành giả sẽ nhận thức rằng, sở dĩ có sự chú ý là do có sự xuất hiện của tiến trình phồng lên và xẹp xuống của bụng. Từ đó, anh ta sẽ lãnh hội được nguyên nhân ( ở đây là tiến trình phồng lên xẹp xuống của bụng) và kết quả ( ở đây là sự chú ý của tâm trí). Đây chính là trạng thái nội quán được gọi là Paccaya pariccheda ñāna. Những hành giả có trí tuệ vượt trội sẽ nhận biết rằng nếu không có nguyên nhân thì kết quả sẽ không bao giờ xuất hiện. Trong trạng thái nội quán này, thỉnh thoảng tiến trình phồng lên xẹp xuống của bụng cũng không xuất hiện một cách rõ ràng cho lắm qua sự chú ý của hành giả. Tương tự, tiến trình đang ngồi hay tiến trình đang xúc chạm cũng có thể xuất hiện một cách không được rõ ràng trong tâm thức của hành giả. Các bậc thầy giảng dạy Phật Pháp gọi tên trạng thái nội quán này là Kankhavitarana Ñāna. Lúc ban đầu, khi mới thực hành quán niệm trong trạng thái này, các thiền sư thường khuyên hành giả nên chú ý một cách chi tiết đến tất cả những hoạt động của chính mình. Nhờ đó, hành giả sẽ trải nghiệm được Giáo Pháp, lãnh hội và gặt hái được nó một cách nhanh chóng. Tuy nhiên trong thực tế, họ vẫn chưa có được khả năng thực hành như vậy. Chỉ đến khi các hành giả đã lãnh hội được Paccaya pariggaha ñānakiến thức về nhân quả thì họ mới có khả năng này. Đến lúc đó, họ sẽ có khả năng chú ý đến “ ý định muốn ngồi xuống của tâm trí”, cũng như có thể chú ý và niệm thầm trong tâm “ đang ngồi xuống, đang ngồi xuống…” khi hành động ngồi đã thật sự xảy ra. Khi đã có khả năng chú ý đến “ ý định của tâm trí” ( tức nguyên nhân), thì việc chú ý đến “ hành động của chính mình

( tức kết quả) cũng không còn khó khăn như trước nữa. Từ đó, sự chú ý sẽ trở nên trôi chảy và liên tục, chứ không bị đứt quãng. Trong trạng thái nội quán được gọi là kiến thức lãnh hội – Sammasana ñāna, đặc biệt đối với những hành giả trước đó chưa từng thực hành thiền định- Samātha Bhāvanā, họ sẽ phải trải nghiệm qua trạng thái đau, nhức, tê cóng, ngứa ngáy, chóng mặt, buồn nôn, cảm giác bị lắc lư toàn thân như đánh võng…Đây là một trạng thái nội quán sẽ làm cho hành giả phát sanh tâm đau đớn và buồn khổ. Do đó, đầu tiên hành giả sẽ nhận thức được rằng những cảm giác khó chịu này chính là khổ ( Dukkha- Suffering). Tiếp đến họ sẽ nhận thấy rằng chúng là vô thường ( Anicca- Impermanence) bởi vì chúng cứ liên tục thay đổi. Cuối cùng khi không có cách gì để ngăn chặn sự khởi lên của những cảm giác khó chịu, họ sẽ lãnh hội được tính vô ngã hay không thể điều khiển được ( Anatta – No self or Uncontrollable) của chúng. Từ đó, hành giả sẽ có khả năng thực hành thiền và gặt hái hạnh phúc, đau buồn sẽ không còn nữa. Tuy nhiên, cảm giác đau, nhức, tê cóng…vẫn cứ xảy đến theo cách riêng của chúng. Đến mức đó, hành giả đã lãnh hội được kiến thức về 3 tướng ( khổ, vô thường và vô ngã) thông qua sự quán niệm riêng của mỗi người. Trạng thái nội quán được gọi là kiến thức về trạng thái khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng – Udayabbaya Ñāna cũng gây cho hành giả không ít buồn khổ. Tuy nhiên, không giống như những cảm giác nặng nề trong thân tâm mà hành giả phải trải nghiệm trong kiến thức về sự lãnh hội- Sammasana Ñāna, ở đây hành giả sẽ có cảm giác bị đong đưa như đánh võng, toàn thân bổng nhẹ tênh như chiếc lá, tiến trình thực hành thiền không phát triển được, tâm trí của hành giả có khuynh hướng bị cuốn hút vào cảm giác đong đưa nói trên. Đối với trường hợp này, các vị thiền sư thường khuyên hành giả nên chú ý tích cực và niệm thầm trong tâm “ đong đưa, đong đưa…” để vượt qua nó bằng cách không hướng tâm trí về phía cảm giác khó chịu này. Nhờ vậy, tiến trình thực hành thiền của hành giả sẽ có sự tiến bộ. Khi đạt tới Sammsana Ñāna, thân tâm của hành giả vẫn đang còn ở trong trạng thái thô ráp. Tuy nhiên, khi đã gặt hái được Udayabbaya Ñāna, thân tâm của anh ta đã trở nên tinh tế hơn. Trạng thái thô ráp của thân tâm hành giả được biểu lộ một cách rõ ràng khi anh ta trình Pháp với thiền sư về trạng thái nội quán gọi là kiến thức về sự lãnh hội- Samasana Ñāna. Hành giả sẽ nhận thấy rằng thân tâm của chính mình đã trở nên dễ điều khiển hơn khi đã gặt hái được Udayabbaya Ñāna. Đến lúc này, anh ta đã có thể thực hành quán niệm liên tục trong 2 hay 3 giờ đồng hồ mà không cần phải thay đổi tư thế. Nói cách khác, trước đây trong lúc tọa thiền hành giả thường có thói quên thay đổi tư thế. Tuy nhiên, bây giờ năng lực thực hành thiền của anh ta đã được cải thiện hơn trước. Khi thân tâm của hành giả đã trở nên thuần thục và dễ uốn nắn thì sự chú ý của anh ta cũng diễn ra một cách trôi chảy hơn. Có thể nói, ở trình độ thực hành thiền này, sự chú ý của hành giả đã tự động thiết lập trên đối tượng quan sát. Hành giả không cần phải nổ lực chú ý nữa. Có hành giả đã trình Pháp rằng “ dường như tôi chỉ cần ngồi và quan sát sự chú ý của chính tôi, nó làm việc một cách tự động”. Như vậy, chắc chắn hành giả này đã gặt hái được Udayabbaya Ñāna. Anh ta cũng đã trải nghiệm được trạng thái thanh thản và hạnh phúc trong thân tâm. Do đó, hành giả sẽ cảm thấy rất hạnh phúc và được mãn nguyện với Giáo Pháp. Đức Thế Tôn đã nói : “ Một hành giả đã nhận thức được rằng, cuộc sống thế tục chứa đầy những mối nguy hiểm rình rập, anh ta sẽ tìm đến một nơi vắng vẻ, quán niệm về những hiện tượng vật chất và tinh thần, tận hưởng hoan hỷ minh sát – Vipassanā Pīti. Thậm chí, Chư Thiên cũng không có được thú vui sống một mình giữa đời thường như hành giả này”. Theo cách đó, nếu bị thu hút thái quá bởi hoan hỷ minh sát, tiến trình thực hành Giáp Pháp của hành giả sẽ bị đình trệ. Hành giả cần cảnh giác để khỏi bị rơi vào tình trạng bất như ý này, khi đã gặt hái được Udayabbaya Ñāna.

Tóm tắt: Bám víu vào những cảm giác dễ chịu đang khởi lên trong khi đang thực hành sự chú ý nghĩa là đã bị đình trệ từ bên trong. Nếu không mang tâm mong mỏi sẽ gặt hái được những cảm giác dễ chịu như là kết quả của sự nổ lực chú ý, hành giả sẽ không bị tắt ngẽn từ bên trong. Ngược lại, anh ta còn có sự tiến bộ trong nhận thức.

Tuệ minh sát

Trạng thái xuất hiện của Tuệ minh sát trong tâm thức của hành giả sẽ phát khởi Bhanga Ñāna – kiến thức về sự tan hoại, Bhaya Ñāna – kiến thức về cảm giác sợ hãi, Ādīnava Ñāna – kiến thức về sự nhàm chán và kinh khiếp, Nibbida Ñānakiến thức chiêm nghiệm về sự ghét bỏ, Muncītukamyatā Ñāna- kiến thức về sự khao khát được giải thoát, Patisankha Ñāna – kiến thức về sự quán niệmSankhārūpekkhā Ñāna – kiến thức về sự thanh thản. Tuy nhiên, các bậc thầy chú giải Kinh điển đã xét đoán một cách kỹ lưỡng rằng, sau tuệ minh sát chỉ có 4 trạng thái nội quán, cụ thể là Bhaya ñāna, Ādīnava ñāna, Muncitukamyatā ñānaPatisankhā ñāna. Bốn trạng thái nội quán này đã bao gồm cả 3 trạng thái còn lại như vừa nêu trên. Khi kiến thức về sự khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng ( Udayabbaya ñāna) đã chín muồi trong tâm thức của hành giả, nó sẽ xuất hiện một cách rõ ràng kể từ khi mới xuất hiện cho đến khi đã tan biến hoàn toàn. Ví dụ, trong trạng thái nội quán này, qua sự chú ý và nhận thức của hành giả, tiến trình bắt đầu phồng lên của bụng sẽ khởi lên một cách rõ ràng cho đến khi bụng đã căng lên hết mức. Đối với tiến trình bắt đầu xẹp xuống của bụng cho đến khi bụng đã xẹp hẳn cũng giống như vậy. Dần dần, đến giai đoạn khi mà Udayabbaya ñāna đã hoàn toàn chín muồi trong tâm thức của hành giả, trạng thái tan hoại của tiến trình phồng lên, tiến trình xẹp xuống của bụng sẽ trở nên rất rõ ràng và dễ nhận biết.

Trong trạng thái nội quán được gọi là Bhanga Ñāna, hành giả chỉ còn nhận biết được trạng thái tan hoại của các hiện tượng mà thôi, các trạng thái khác thì không. Nói cách khác, tiến trình bắt đầu phồng lên và tiến trình bắt đầu xẹp xuống của bụng sẽ xuất hiện một cách mờ nhạt trong tâm thức của hành giả, chỉ có giai đoạn cuối của tiến trình phồng lên và giai đoạn cuối của tiến trình xẹp xuống là có thể nhận biết được một cách rõ ràng mà thôi. Nếu lúc đó, hành giả nổ lực chú ý để nhận biết những đối tượng mờ ảo vừa nói thì anh ta không thể nào được mãn nguyện, cũng như tiến trình thực hành thiền sẽ bị chậm lại. Đến lúc này, hành giả chỉ nên quán niệm và nhận biết những đối tượng có thể lãnh hội được một cách rõ ràng mà thôi. Do ảnh hưởng của tiến trình tan hoại xảy ra một cách nhanh chóng, các hình thức của thân thể như bụng, đầu và tứ chi chẳng hạn… đã không còn xuất hiện một cách rõ ràng trong tâm thức của hành giả. Trong tiến trình chú ý, trạng thái đang căng lên và trạng thái đang xẹp xuống của bụng sẽ biến mất một cách nhanh chóng. Do đó, tuệ minh sát trong hành giả sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, để có thể thích ứng với từng trạng thái nội quán và sự thay đổi của các hình thức vật chất. Bhaya ñānakiến thức về trạng thái sợ hãi. Khi nhận biết được rằng các hình thức vật chất đang thay đổi và tan biến đi với một tốc độ cực nhanh chóng, hành giả sẽ phát sanh tâm lý sợ hãi. Cùng thời điểm đó, hành giả sẽ nhận biết được tính bất toàn của vật chất và trở nên chán ghét nó.

 Đó chính là Ādīnava ñāna- kiến thức về sự nhàm chán và kinh khiếp. Tiếp đến, hành giả sẽ cảm thấy thân xác mình trở nên rã rời và kiệt sức, sanh tâm chán ghét và mong muốn được giải thoát ( Muncītukamyata ñāna ). Năng lực nhận biết thực tại- Yathābhūta ñāna sẽgiúp cho Nibbida ñāna phát khởi và trưởng thành. Tiếp đến, hành giả sẽ nhận thức rằng, anh ta cần phải thực hành sự chú ý theo một trình tự thực hành thiền để được giải phóng khỏi những khổ đau đang hiện hữu. Đây cũng là một trạng thái nội quán làm cho hành giả phát sanh tâm đau khổ ( tức Patisankha ñāna – kiến thức về sự quán niệm). Tiếp đến là Sankhārūpekkhā ñāna – kiến thức về trạng thái thanh thản, nơi mà hành giả luôn luôn nhận thức được tiến trình giải thoát. Đức Phật đã truyền bá rằng Nibbidā Ñāna tối thiểu cũng sẽ dẫn đến trạng thái gọi là Virāga. Trong khi đó, Virāga có nghĩa là thoát ra khỏi những đối tượng của cảm giác và 5 uẩn, nơi người ta sẽ không tìm thấy được bất cứ một đối tượng như ý nào để bám víu. Virāga chính là yếu tố giúp nâng cao tầm nhận thức để đạt tới Ariya magganiCon Đường Cao Thượng hay Bát Chánh Đạo. Sau khi đã nhận thức được Ariya maggani, hành giả sẽ đạt tới một trong những quả vị tu chứng sau : Sotāpatti Phala- Quả vị Tu-Đà-Hườn, Sakadāgāmi Phala – Quả vị Tư-Đà-Hàm, Anāgāmi Phala – Quả vị A-Na-HàmArahatta Phala – Quả vị A-La-Hán. Tiếp đến, hành giả sẽ đạt tới một trạng thái nội quán được gọi là kiến thức nhìn lại quá khứ-Paccavekkhana Ñāna. Sau khi lắng nghe bài thuyết Pháp giải thích về Kinh Thu Thúc – Indriyasamvara Sutta, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành theo những lời dạy của Đức Phật, nhanh chóng gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng như đã mong muốn, đạt tới Niết Bàn và đoạn tận mọi khổ đau. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !

 

 

    Kinh Chuyển Pháp Luân – Dhammacakkapavattana Sutta

 

Cakkanghĩa làbánh xe, Pavattana nghĩa là xoay chuyển hay thuyết giảng. Vì vậy, Dhammacakkapavattana có thểdịch là Chuyển Pháp Luân. Pháp này bao gồm 2 loại trí tuệ :

1. Trí tuệ siêu phàm thấu suốt Bốn Chân Lý Cao Thượng ( tức Tứ Diệu Đế - Catu Ariya Saccani) mà Đức Phật đã đạt tới qua sự kiện Thành Đạo dưới cuội cây Bồ Đề của Ngài.

2. Trí tuệ siêu phàm được thể hiện qua việc Bốn Chân Lý Cao Thượng đã được giải thích một cách rõ ràng cho nhóm 5 tu sĩ khổ hạnh tại Vườn Nai

( Migadavana) ở Bārānasi ( đô thị của xứ Ba-La-Nại). Bằng 2 loại trí tuệ siêu phàm này, “ Bánh Xe Pháp” ( tiếng Miến Điện gọi là Dhamma Cakyar) đã được xoay chuyển.

Tóm tắt: Bánh Xe Pháp đã xoay chuyển bởi 2 loại trí tuệ siêu phàm.

Hai lối tu hành có tính cực đoan

Bài “ Chuyển Pháp Luân” đã được Đức Phật mở đầu bằng tiếng Pāli như sau : “ Dve me Bhikkhave antā pabbajitena na sevitabbā…”. Câu này có nghĩa là “ Hỡi các Tỳ kheo ! có hai lối tu hành mang tính cực đoan mà các ông nên tránh…” Sau đó, một vị Tỳ kheo đã nhận thức được khổ đau và cố gắng thoát khỏi nó. Hai lối tu hành mang tính cực đoan là : Lối tu lợi dưỡnglối tu tự hành xác.

 

 

 

1. Lối tu lợi dưỡng

a. Hino – Là cách tu hành thấp kém, bởi vì khi đang tận hưởng những cảm giác dễ chịu thì tham ái hay khao khát sẽ khởi lên. Tiếp đến, hành giả sẽ ngày càng phát triển tâm ham muốn những cảm giác dễ chịu đó. Sân hận sẽ khởi lên khi mong muốn của hành giả không được thỏa mãn. Nếu tâm trí của một người đã bị tham ái và sân hận thống trị thì chắc chắn anh ta sẽ trở nên vô minh, không còn khả năng phân biệt đúng sai. Tham ái, sân hận và vô minh là những nguyên nhân dẫn đến việc tái sanh vào các cảnh giới thấp kém. Khi đem lối tu hành này so sánh với hạnh phúc mà thiền mang lại thì nó kém xa. Thậm chí, loài vật cũng biết tận hưởng những cảm giác dễ chịu. Do đó, có thể nói lối tu hành này được gọi là lối tu hành của loài vật. Đó là lý do tại sao lối tu hành này là thấp kém và không xứng đáng với những người đã gặt hái được Giáo Pháp.  

b. Gāmo- Là lối tu hành của những người thấp kém và vô minh.

c. Potujjaniko – Là lối tu hành của hạng người thường, tâm trí vẫn còn chứa chấp nhiều thứ ô nhiễm.

d. Anariyo – Là lối tu hành của những kẻ hạ liệt.

e. Anatta sanhito – Là lối tu hành không thể dẫn đến việc gặt hái Đạo quả và Niết Bàn. Do đó nó không mang lại lợi ích gì cả.

Những người nổ lực thực hành Phật Pháp để đạt tới Niết Bàn cần phải có đạo đức, năng lực định tâm và trí tuệ. Ham muốn những cảm giác dễ chịu sẽ làm đình trệ tiến trình vun bồi đạo đức, phá hoại năng lực định tâm và trí tuệ cũng không phát triển được. Một người nào đó đã xua tan được tâm ham muốn những cảm giác dễ chịu chắc chắn sẽ nhận thức được Đạo quả và Niết Bàn. Nếu chưa có khả năng xa lánh những cảm giác dễ chịu một cách hoàn toàn, chúng ta nên dần dần giảm bớt tâm ham muốn chúng. Như câu nói

cùng một lúc bắt cá hai tay sẽ không bắt được con nào”. Nếu bạn mong muốn tận hưởng những cảm giác dễ chịu như : Thưởng thức các hình ảnh đẹp, âm thanh bùi tai, mùi thơm dễ chịu, vị ngọt ngào và cảm giác xúc chạm êm ái… đồng thời cũng mong muốn đạt tới Niết Bàn thì chắc chắn sẽ không thành tựu được cái gì cả. Vì vậy, nếu bạn thật tâm mong muốn gặt hái được Đạo quả và Niết Bàn thì điều cần thiết là phải giảm bớt tâm ham muốn tận hưởng những cảm giác dễ chịu với khả năng có thể. Ngài Đại Đức Mahāsī đã có những lời khuyên dưới đây đối với chúng ta.

Tóm tắt:Từ bỏ tâm ham muốn được tận hưởng những cảm giác dễ chịu.

Ham muốn được tận hưởng những cảm giác dễ chịu sẽ khiến cho tâm tham ái hay khao khát phát khởi. Vì vậy, đây không phải là cách tu hành đúng đắn của những người cao thượng. Nó là cách tu hành của ma quỉ.

 

2. Lối tu tự hành xác

Lối tu tự hành xác cũng không phải là cách thực hành của những người cao thượng, chúng ta nên tránh.

a. Dukkho – Là lối tu hành mang lại khổ đau, rồi sau đó sẽ dẫn tới địa ngục.

b. Anariyo – Là lối tu hành thấp kém, không xứng đáng với những người cao thượng.

c. Annatta sanhito – Là lối tu hành không thích hợp cho tiến trình vun bồi đạo đức, năng lực định tâm và trí tuệ. Do đó, nó không mang lại ích lợi gì cho việc gặt hái Đạo quả và Niết Bàn.

Tóm tắt: Xa lánh lối tu tự hành xác.

Có nhiều lối tu tự hành xác như : Nhịn ăn từ 1 đến 2 ngày ( thậm chí là 15 ngày), đốt bốn đống lửa lớn tựa như bốn bức tường vây quanh và ngồi vào ở giữa, ngồi dưới ánh mặt trời thiêu đốt vào lúc nửa ngày ( ngày xưa, lối tu này khá phổ biến tại Ấn Độ). Những lối tu này được cho là có khả năng thiêu đốt tâm ô nhiễm và giúp thoát khỏi tính khao khát. Chưa cần biết những lối tu hành đó có thể thiêu đốt được ô nhiễm và tham ái hay không, trước mắt chúng sẽ khiến cho tâm của người ta phát khởi sân hận.

Tóm tắt: Lối tu tự hành xác chứa đầy sân hận và chắc chắn sẽ dẫn dắt người ta đến với địa ngục khổ đau.

Trong một kiếp ở quá khứ, Đức Phật đã thấy được sự khủng khiếp của địa ngục khi Ngài đang nằm chết trên một cái giường. Sau đó, Ngài đã hiểu rằng lối tu tự hành xác là lầm lạc. Có một lối tu tự hành xác khác, đó là ngâm mình trong dòng nước đóng băng giữa mùa đông lạnh giá. Người ta đã tu như vậy bởi vì tin rằng lối tu này có khả năng tiêu hủy được tham ái. Tuy nhiên, sự thật nó chỉ làm tăng thêm tính sân hận trong tâm của người ta mà thôi. Có người lại dành ra nhiều giờ đồng hồ để tự treo ngược hai chân của mình lên cành cây, đầu chúi xuống đất. Tất cả những lối tu tự hành xác vừa đề cập ở trên đều được xem là thấp kém, không thích hợp với tiến trình vun bồi đạo đức, năng lực định tâm và trí tuệ. Vì vậy, những người có mong muốn gặt hái được Đạo quả và Niết Bàn thì họ nên xa lánh chúng đi. Có một số thiền sư đã giải thích sai về cách quán niệm những cảm giác dễ chịu

( Sukkha Vedanā – Pleasant feeling) và những khó chịu ( Dukkha Vedanā- Unpleasant feeling). Theo họ, việc quan sát lạc thọ ( Sukkha Vedanà) và khổ thọ ( Dukkha Vedanā ) là không đúng. Do đó, trong quá trình thực hành thiền minh sát, họ chỉ quan sát thọ vô ký tính ( Upekkhā Vedanā – Neutral feeling) mà thôi. Kể từ khi những những hành giả đã học được phương pháp thực hành thiền minh sát đúng đắn, họ luôn luôn quan sát lạc thọ và khổ thọ một cách sâu sắc mỗi khi chúng khởi lên trong tâm. “ Liệu phương pháp chú ý đến khổ thọ có phải là tự tra tấn hay không ?” Câu trả lời là không. Sự thật, phương pháp kiên trì quán niệm khổ thọ mỗi khi nó đang khởi lên là rất thích hợp với tiến trình phát triển những trạng thái nội quán. Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rõ rằng, lối tu tự hành xác nhằm mục đích tạo điều kiện cho khổ đau phát sanh để chịu đựng nó là hoàn toàn sai lầm. Đức Phật đã từng chủ trương rằng, người thực hành theo Phật Giáo cần phải biết “ chịu đựng và chú ý đến các loại khổ thọ đang phát khởi một cách tự nhiên như :  Hơi nóng, hơi lạnh, trạng thái đói, đau nhức…”. Chịu đựng là một năng lực mà người thực hành thiền minh sát bắt buộc phải có. “ Thế thì chúng ta cần phải chịu đựng khổ thọ trong bao lâu ?”. Đức Phật đã khuyên rằng, chúng ta nên chịu đựng nó cho đến khi chết luôn. Đã có nhiều trường hợp do có khả năng chịu đựng khổ thọ nên đã thoát khỏi khổ đau. Một thời, có vị Tỳ kheo đã thực hành thiền minh sát suốt đêm, ông bị cảm lạnh và khổ sở do một cơn đau bụng hành hạ. Khi vị Tỳ kheo nằm xuống nghỉ ngơi thì cơn đau càng lúc càng trở nên tồi tệ hơn. Lúc đó, ông bắt đầu lăn qua lăn lại trên giường ngủ cho đỡ đau. Y phục của vị Tỳ kheo đã trở nên nhàu nát từ lúc nào mà ông cũng không còn để ý nữa. Một vị Trưởng Lão giàu kinh nghiệm đã đến thăm ông và nói : “ Một Tỳ kheo nên có tính kiên nhẫn !”. Tiếp đến vị Tỳ kheo đang bệnh đã nói câu “ lành thay !” rồi bình tĩnh nằm xuống giường. Ông bắt đầu quán niệm khổ thọ một cách chính xác, kiên nhẫn và liên tục. Việc quán niệm khổ thọ một cách mãnh liệt của vị Tỳ kheo đã khiến cho năng lực chú ý của ông bắt kịp được tốc độ của khổ thọ đang tiếp diễn và vượt qua nó. Sau đó, vị Tỳ kheo này đã qua đời. Do mang tâm kiên nhẫn chịu đựng khổ thọ, ông đã trở thành một A-Na-Hàm. Nếu vị Tỳ kheo này vẫn cố chấp, lăn qua lăn lại trên giường vì đau đớn và không thực hành quán niệm về khổ thọ thì ông đã không gặt hái được trạng thái định tâm, dẫn đến trí tuệ của ông cũng không phát triển được để gặt hái Đạo quả và Niết Bàn. Một người nào đó với năng lực định tâm mạnh mẽ, khi đang đau khổ vì trọng bệnh sẽ biết trước thời điểm mà mình sẽ chết. Khoảng thời gian biết trước cái chết sẽ xảy đến với chính mình đối với người này có thể là một giờ, một ngày, một tuần hay thậm chí là một tháng. Nhờ đó, người này sẽ có đủ can đảm để chẳng cần quan tâm đến thân thể và mạng sống của mình nữa. Thay vào đó, là sự quán niệm về cảm thọ nói chung một cách kiên nhẫn, liên tục và chính xác. Phương pháp quán niệm khổ thọ này có tính tự nhiên. Do đó, nó không phải là lối tu tự hành xác. Sự thật, nó là cách thực hành để phát triển khả năng chịu đựng. Có một Tỳ kheo khác tên là Jivitasamasisi đã thực hành quán niệm về trạng thái khổ đau mà bệnh tật mang lại, từ khi bệnh tình của ông mới khởi phát cho đến lúc chết. Nhờ đó, khi vừa chết đi, ông đã gặt hái được quả vị A-La-Hán. Đến giờ phút này, bạn có còn muốn thay đổi tư thế thực hành thiền khi bắt gặp cảm giác đau đớn đang khởi lên nữa không ? Bạn đừng nên thực hành như vậy nhé !

Tóm tắt: Không cần để ý đến thân xác và tính mạng, cứ tàn nhẫn với chúng đi, không sao đâu !

Thực hành theo Trung Đạo

Đấng Giác Ngộ đã truyền bá rằng “ nên xa lánh 2 lối tu hành cực đoan, chỉ có Trung Đạo mới có khả năng làm cho người ta phát triển được tầm nhìn boa quát và dẫn đến trạng thái tâm bình yên, nâng cao sự hiểu biết, giác ngộ và đạt tới Niết Bàn”. Vậy Trung Đạo là gì ? Chắc chắn Trung Đạo là Tám Con Đường Cao Thượng, còn gọi là Bát Chánh Đạo ( Ariya Maggani - Eightfold Noble Path). Bát Chánh Đạo gồm có :

1. Chánh kiến ( Right View)

2. Chánh Tư Duy ( Right Thought)

3. Chánh Ngữ ( Right Speech)

4. Chánh Nghiệp ( Right Action)

5. Chánh Mạng ( Right Livelihood)

6. Chánh Tinh Tấn ( Right Endeavour or Right Effort)

7. Chánh Niệm ( Right Mindfulness)

8. Chánh Định ( Righr Concentration)

Tóm tắt: Xa lánh 2 lối tu hành cực đoan, thực hành theo Trung Đạo

Trung Đạo sẽ được hình thành bởi trạng thái vượt trội của trí tuệ. Đấng Giác Ngộ đã tự mình phát triển và thực hành nó. Có một vài người cho rằng “ Kinh Chuyển Pháp Luân” là loại Kinh chỉ dùng để tụng đọc chứ không cần thực hành. Tuy nhiên, khi Đức Phật thuyết Kinh này một cách dứt khoát cho 5 nhà tu khổ hạnh ( người đứng đầu là Kiều-Trần-Như) nghe, Ngài đã muốn nói rằng : “ Trung Đạo đã được chính ta khám phá ra, phát triển và thực hành. Các ông nên đi trên con đường này để đến với Niết Bàn”. Đó là lý do tại sao chúng ta nên tuân theo lời giáo huấn của Đức Phật, phát triển và thực hành Trung Đạo. Khi Đức Phật thuyết Kinh Chuyển Pháp Luân, có 8 tỷ Chư Thiên và Phạm Thiên đã được giải thoát khỏi luân hồi.

Do đó, Kinh Chuyển Pháp Luân không chỉ dùng để tụng đọc. Kinh này còn dùng để thực hành đúng theo những phương pháp đã được Đức Phật giải thích mà nó chứa đựng. Kinh này cuối cùng đã được 5 nhà tu khổ hạnh nói trên thực hành theo. Bằng cách thực hành theo những chỉ dẫn của Ngài Đại Đức Mahàsi, người ta có thể phát triển được Tuệ Minh Sát. Lúc ban đầu, khi mới khởi sự thực hành thiền, năng lực định tâm của bạn chưa được phát triển. Lúc này bạn có thể nghĩ rằng “ Tôi đang thực hành sự chú ý ! Bụng của tôi đang phồng lên ! Sự chú ý của tâm trí chính là tôi ! Bụng của tôi đang xẹp xuống !”… Đây chính là lý do khiến cho tầm nhìn và sự hiểu biết của bạn chưa phát triển được. Khi năng lực định tâm đã trở nên mạnh mẽ,

 “ sự chú ý của tâm trí” và “ tiến trình đang phồng lên  của bụng” sẽ được bạn nhận thức như là 2 thành phần khác biệt nhau. Tương tự như vậy, khi đang chú ý đến “ tiến trình đang ngồi”, “ tiến trình đang xúc chạm”, “ tiến trình  đang đi bộ”, “ tiến trình đang đứng”…Sự chú ý của tâm trí và đối tượng bị chú ý sẽ được bạn lãnh hội như là 2 thành phần khác biệt nhau.

Đến lúc này, bạn đã lãnh hội được một cách rõ ràng rằng :  “ Không có một thực thể nào được gọi là “ tôi”. Thật ra “ tôi” chỉ là một từ ngữ có tính qui ước với nhau để tiện lợi trong việc xưng hô khi giao tiếp. Khi chú ý đến “ tiến trình đang ngồi”, bạn sẽ nhận thức một cách đầy đủ rằng, tiến trình đang ngồi của thân thể không hề có sự nhận thức, bởi vì nó thuộc về vật chất

( Rūpa – Material). Trong khi đó, sự chú ý của tâm trí thì có sự nhận thức, bởi vì nó thuộc về tinh thần ( Nāma – Spiritual). Theo cách đó, tiến trình xúc chạm của thân thể là vật chất và sự chú ý đến tiến trình này là tinh thần. Nhờ vậy, bạn đã  loại bỏ được những quan kiến lầm lạc về tự ngã

( Attadiţţhi), không còn cố chấp 5 uẩn ( Sakkāya diţţhi) là “ tôi” “ bạn”, “họ ”, “ ông ấy” hay “ cô ấy”…Đến mức đó, bạn đã thành tựu kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa vật chất và tinh thần. Sau đó, tầm nhìn mới sẽ thúc đẩy và nâng cao sự hiểu biết của bạn. Tiếp đến, tâm trí của bạn sẽ được yên tĩnh do ảnh hưởng của năng lực định tâm đã chín muồi. Một quí bà bị sụp đổ tinh thần, mất cảm hứng sống và mất khả năng điều khiển những mối âu lo của chính mình. Những người bạn của bà đã giới thiệu bà đến với một trung tâm thiền. Sau một tháng thực hành thiền, quí bà này đã gặt hái được Phật Pháp. Một điều không thể tránh được là khi đang có những mối âu lo trong tâm, chắc chắn người ta sẽ cảm thấy rất khó chịu. Tuy nhiên, đối với trường hợp của quí bà này, nếu bà chịu thực hành và phát triển Bát Chánh Đạo trong sự nhận thức của riêng bà, chắc chắn tâm trí của bà sẽ được yên tĩnh và gặt hái được sự hiểu biết có thể thấu suốt Bốn Chân Lý Cao Thượng ( tức Tứ Diệu Đế - Catu Arya Saccani). Đức Phật ( người đã thành tựu được sự hiểu biết có thể thấu suốt Tứ Diệu Đế) đã từng nói rằng, nếu quí vị mong muốn nhận thức được Niết Bàn thì hãy thực hành và phát triển Bát Chánh Đạo. Đấng Giác Ngộ cũng đã từng giải thích về Giáo Pháp Cao Thượng mà Ngài đã khám phá ra và thực hành theo.

Bốn Chân Lý Cao Thượng

a. Dukkha Sacca – Chân lý về sự khổ

b. Samudaya Sacca – Chân lý về nguyên nhân của sự khổ

c. Niroda Sacca – Chân lý về sự chấm dứt của khổ đau

d. Magga Sacca – Chân lý về con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau

Trong tất cả 84 ngàn Pháp Môn ( Dhammakkhanda) mà Đức Phật đã chỉ dạy, không có Pháp Môn nào có thể sánh bằng Tứ Diệu Đế. Mọi người Phật tử nên hiểu biết Tứ Diệu Đế, nếu không Phật Giáo sẽ bị đình trệ và không thể tiếp tục truyền bá sâu rộng được. Thậm chí, nếu Tứ Diệu Đế không được truyền bá rộng rãi, có thể người ta sẽ hiểu sai và đánh giá thấp về Pháp Môn này. Có 3 cách để học tập và nghiên cứu Tứ-Diệu Đế, đó là :

1. Sutamaya Ñāna – Kiến thức gặt hái được thông qua học tập và lắng nghe Giáo Pháp

2. Cindāmaya Ñāna – Kiến thức gặt hái được thông qua sự hồi tưởng và tư duy về Giáo Pháp đã học tập.

3. Bhāvanāmaya Ñāna – Kiến thức gặt hái được qua việc thực hành thiền minh sát.

Chúng ta đã hiểu một cách đại khái rằng, nếu có những sự khổ đau thì tất nhiên cũng phải có các nguyên nhân dẫn đến những sự khổ đau ấy. Nếu có chân lý về sự chấm dứt của khổ đau thì tất nhiên cũng sẽ có con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau. Đối với sự hiểu biết nông cạn này, chúng ta có thể gặt hái được nó qua việc đọc sách và lắng nghe Giáo Pháp. Vậy thật sự khổ đau là cái gì ? Toàn bộ thân thể của chúng ta là chân lý về sự khổ đau. Tham ái hay khao khát là nguyên nhân dẫn đến khổ đau. Niết Bàn là sự chấm dứt của khổ đau và Bát Chánh Đạo là con đường hay cách thức dẫn đến sự chấm dứt khổ đau.

Tóm tắt:  Năm uẩn chính là chân lý về sự khổ đau, tham ái và bám víu là nguyên nhân dẫn đến khổ đau, Niết Bàn là trạng thái chấm dứt của khổ đau và Bát Chánh Đạo là con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau.

Tứ Diệu Đế được bao gồm trong tục đế ( Sự thật đời thường – Mundane truth) và cả Thánh đế (Sự thật thoát tục hay sự thật siêu thế -Supramundane truth). Hai sự thật thuộc về tục đếkhổ đaunguyên nhân của khổ đau. Trong khi đó, chân lý về trạng thái chấm dứt của khổcon đường dẫn đến trạng thái chấm dứt của khổ đau lại thuộc về Thánh đế.

Chúng ta chỉ có thể quan sát hai sự thật đời thường trong cuộc sống hàng ngày và chứng thực chúng. Hai sự thật thuộc về Thánh đế thì người thế tục chưa thể quan sát được. Như một sự thật, 5 uẩn chính là khổ đau, tham lam và bám víu chính là nguyên nhân của khổ đau. Do đó, tham lam và bám víu sẽ khởi lên rất rõ ràng trong sự chú ý của chúng ta. Chừng nào chưa loại bỏ được tất cả những thứ ô nhiễm trong tâm và đạt tới Niết Bàn thì bạn sẽ chưa thể quán niệm được chân lý về trạng thái chấm dứt của khổ đau. Tương tự, khi chưa phát triển được Bát Chánh Đạo trong sự nhận thức thì bạn cũng chưa có khả năng quan sát Pháp này. Một điều khá rõ ràng rằng, bạn không thể nào chú ý đến những gì mà mình chưa có. Do đó, bạn cũng không thể xử dụng những thứ chưa có đó để làm đề mục cho việc thực hành thiền minh sát. Bạn cũng chưa có khả năng quan sát Bát Chánh Đạo trong khoảnh khắc nhận thức về Đạo Quả. Sự hiểu biết của bạn về 2 chân lý đời thường và 2 chân lý siêu thế sở dĩ có được là do học tập và lắng nghe Giáo Pháp, chứ thật sự chưa phải có được qua việc thực hành thiền minh sát. Điều cốt yếu ở chỗ là bạn phải phân biệt sự khác nhau giữa 2 sự thật đời thường và 2 sự thật siêu thế. Chúng ta cũng có thể phân loại Tứ Diệu Đế theo cách sau :

a. Sự thật như là một kết quả

  Đã có khổ đau thì tất nhiên phải có sự chấm dứt của khổ đau như là một kết quả tất yếu.

b. Sự thật như là một nguyên nhân

  Do ảnh hưởng của tham lambám víu mới có khổ đau. Ở đâu có trạng thái phát triển của Bát Chánh Đạo thì ở đó sẽ có trạng thái chấm dứt của khổ đau. Chắc hẳn bạn cũng chỉ hiểu được điều này thông qua học tập và lắng nghe Giáo Pháp, chứ chưa phải thật sự hiểu được nó thông qua việc thực hành thiền minh sát. Khi đã có sự hiểu biết về Tứ Diệu Đế thông qua học tập và lắng nghe Giáo Pháp, bạn có thể quán niệm trên bất kỳ những gì xảy đến với bản thân bạn và nhận thấy rằng  “Ồ ! 5 uẩn này là một đống khổ đau, bởi vì từ trong bản chất, chúng luôn phát khởi tâm tham lam- như là một nguyên nhân dẫn đến khổ đau. Nếu khổ đau hiện hữu trong đời sống của chúng ta thì nó cần phải được loại bỏ. Rồi từ đó, chúng ta sẽ được hạnh phúc”.  Nếu quán niệm được như vậy thì bạn sẽ có khả năng lãnh hội được một cách rõ ràng rằng : “ Nguyên nhân đúng đắn sẽ dẫn đến kết quả đúng đắn”. Đây chính là sự hiểu biết thành tựu được qua công phu quán niệm. Loại kiến thức hay sự hiểu biết này không phải gặt hái được qua việc học tập và lắng nghe Giáo Pháp. Quán niệm sự vật và hiện tượng để nhận thức được bản chất của chúng sẽ dẫn đến trạng thái chấm dứt của khổ đau. Tuy nhiên, những điều được quán niệm như đã trình bày ở trên chỉ là một hình thức làm nền tảng cho việc đạt tới Niết Bàn. Chỉ khi thực hành sự chú ý trên 4 nền tảng quán niệm ( tức Tứ Niệm Xứ, bao gồm : Thân, thọ, tâm, pháp) thì bạn mới có thể nhận thức được Tứ Diệu Đế một cách sâu sắc.

Bát Chánh Đạo và thiền minh sát

Khi thực hành sự chú ý đến “ tiến trình đang phồng lên của bụng”, “ tiến trình đang xẹp xuống của bụng”, “ tiến trình đang dở chân lên”, “ đang bước tới”, “ đang đặt chân xuống” … bạn sẽ lãnh hội được Tứ Diệu Đế. Lại nữa, khi đang thực hành thiền, 8 Chi trong Bát Chánh Đạo đã bao trùm tất cả mọi sự chú ý đến các sự vật hay hiện tượng của chính bạn.

Tóm tắt: Nếu quán niệm một cách chính xác trong khoảnh khắc đang xảy đến của bất kỳ một hiện tượng hay sự vật nào, bạn sẽ lãnh hội được Tứ Diệu Đế.

Chúng ta cũng có thể xếp loại Bát Chánh Đạo theo cách dưới đây :

a. Sīla Magganga ( Giới) Cách thức vun bồi đạo đức gồm có Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp và Chánh Mạng.

b. Samādhi Magaganga ( Định) – Cách thức rèn luyện tinh thần được cấu thành bởi Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định.

c. Paññā Magganga ( Tuệ) – Con đường trí tuệ bao gồm Chánh Kiến và Chánh Tư Duy.

Khi bạn đang thực hành thiền minh sát, Bát Chánh Đạo cũng đang phát triển trong tâm thức của bạn. Sau khi đã thọ 8 hay 9 giới, bạn không nên duy trì những lối suy nghĩ có thể dẫn đến các hành động bất thiện, kiêng cữ những hành động bất thiện thuộc về lời nói và thân xác. Trong khoảng thời gian thực hành quán niệm về “ tiến trình đang phồng lên của bụng”, “ tiến trình đang xẹp xuống của bụng”, “ tiến trình đang đứng”, “ tiến trình đang đi bộ”… Bạn phải kiêng cữ 4 hành động bất thiện thuộc về lời nói ( tức nói dối, nói lời lăng mạ, nói lời đe dọa và nói lời nhảm nhí vô nghĩa). Nói cách khác, hành giả phải thực hành Chánh Ngữ. Anh ta cũng phải kiêng cữ 3 hành động bất thiện thuộc về thân xác ( bao gồm sát sanh, trộm cắp và tà dâm). Bằng cách kiêng cữ 4 hành động bất thiện thuộc về lời nói và 3 hành động bất thiện thuộc về thân xác, bạn đã có được Chánh Mạng. Hơn nữa, khi thực hành quán niệm, hành giả phải nổ lực để chú ý một cách chính xác đến đối tượng quan sát. Ví dụ, ngay khi bụng vừa mới phồng lên, hành giả phải chú ý đến tiến trình này và niệm thầm trong tâm “ đang phồng lên, đang phồng lên”…Đó là Chánh Tinh Tấn. Vì vậy, bạn đã quan tâm đến việc đặt tâm trí của mình trên đối tượng quan sát. Nếu lơ đễnh hay quên lãng, bạn sẽ bỏ mất cơ hội quan sát đối tượng của giác quan đang khởi lên. Đó là Chánh Niệm. Tâm trí của bạn trú trên đối tượng của giác quan một cách liên tục và chính xác kể từ khi nó bắt đầu khởi lên cho đến khi đã chấm dứt hẳn. Đó là Chánh Định. Vì vậy, 3 đường lối rèn luyện tinh thần đã thành tựu một cách đồng thời trong tiến trình thực hành thiền minh sát. Trong mọi khoảnh khắc chú ý, tâm trí được thiết lập trên những hành động hay tiến trình chuyển động của các hiện tượng. Ví dụ, khi bạn chú ý đến “chuyển động đang phồng lên của bụng”, sự chú ý của tâm trí đã tạm trú trên chuyển động này. Một cách tương tự, khi bạn chú ý đến “ chuyển động đang xẹp xuống của bụng”,

“ chuyển động đang ngồi xuống của thân thể”, “ chuyển động đang xúc chạm của thân thể”…thì sự chú ý của tâm trí cũng tạm trú trên những chuyển động này. Trạng thái tạm trú của tâm trí vừa nói được biết đến như là Chánh Tư Duy. Nói rõ hơn, tư duy ở đây là không cần phải “ suy nghĩ hay tưởng tượng” gì cả. Đây chính là trạng thái mà bản chất tự nhiên của sự chú ý đã vượt qua được cảm giác. Với năng lực định tâm đã chín muồi, bạn sẽ lãnh hội được rằng : “ Tiến trình đang phồng lên của bụng” là không hề có sự nhận thức, bởi vì nó thuộc về vật chất. “Sự chú ý của tâm trí” là có sự nhận thức bởi vì nó thuộc về tinh thần. Đây chính là Chánh kiến về vật chấttinh thần. Tương tự, trong sự chú ý đến “ tiến trình đang ngồi”, “ tiến trình đang xúc chạm”, “ tiến trình đang dở chân lên”, “ tiến trình đang bước tới”, “ tiến trình đang đặt chân xuống”… Bạn sẽ nhận thức được một cách rõ ràng rằng, “sự chú ý của tâm trí” là hoàn toàn khác biệt với “những tiến trình này”. Từ đó, năng lực nhận thức đúng đắn đã giúp cho bạn thành tựu được 2 cách thức rèn luyện trí tuệ, cụ thể là Chánh Kiến và Chánh Tư Duy. Đây là cách thức phát triển Bát Chánh Đạo qua việc thực hành thiền minh sát. Trung Đạo không nhất thiết phải thực hành một cách tách biệt đối với thiền minh sát. Tiến trình phồng xẹp lên xuống của bụng là chân lý về trạng thái khổ đau của thân xác. Sự chú ý của tâm trí là chân lý về trạng thái khổ đau của tinh thần. Khi bạn đang thực hành sự chú ý đến tiến trình phồng xẹp lên xuống của bụng, tham lam và bám víu đã bị loại bỏ. Vì vậy, nguyên nhân của khổ đau đã thật sự bị tiêu hủy. Với sự chấm dứt của tham lam, tâm bám víu sẽ không có cơ hội để khởi lên. Không bám víu nghĩa là sẽ không có trở thành, không có già, bệnh, chết, lo lắng, băn khoăn và than khóc. Trong một khoảnh khắc nào đó, khi hành giả đang tu tập, khổ đau sẽ đột nhiên chấm dứt ( Tadinga). Mỗi sự chú ý của hành giả là một nguyên nhân dẫn đến sự chấm dứt của khổ đau. Nơi nào không có sự chú ý thì nơi đó sẽ có sự trở thành mà kết quả của nó là sự sanh, lão, bệnh và tử. Nơi nào đã có sanh, lão, bệnh và tử thì nơi đó vẫn còn mãi mãi chìm đắm trong vòng luân hồi bất tận. Sự chú ý được thực hiện trong từng khoảnh khắc đang khởi lên của cảm giác là một cách thức thực hành trí tuệ. Nói cách khác, đây chính là sự hiểu biết được hình thành qua trí tuệ. Sự hiểu biết này chính là chân lý về trạng thái chấm dứt của khổ đau. Đây là cách thức thực hành Tứ Diệu Đế thông qua thiền minh sát, nhằm mục đích phát triển năng lực nhận thức thực tại, sự hiểu biết mang tính phân tích, xua tan những thứ ô nhiễm và đạt tới chân lý.

Tóm tắt: Nếu quán niệm một cách chính xác trong từng khoảnh khắc đang xảy đến của các hiện tượng hay sự vật, năng lực nhận thức và sự hiểu biết mang tính phân tích sẽ phát triển, những thứ ô nhiễm trong tâm sẽ bị xua tan, hành giả chắc chắn sẽ gặt hái được năng lực để lãnh hội Tứ Diệu Đế.

Bằng cách lắng nghe “ Bốn Chân Lý Cao Thượng” và “ Bát Chánh Đạo” đã được giải thích trong Kinh Chuyển Pháp Luân, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành đúng theo những lời giáo huấn của Đức Phật. Với tính siêng năng cần mẫn trong quán niệm và tâm thanh thản trong quá trình thực hành Phật Pháp nói chung, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ nhanh chóng nhận thức được Niết Bàn mong muốn, đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !                                          

 

   

                                     

 

                                   Ví von về sự phá vỡ vỏ trứng

 

Bài thuyết Pháp về thiền minh sát hôm nay được ví như sự phá vỡ vỏ trứng để thoát ra của một chú gà con. Bài thuyết Pháp này đã được trích dẫn từMulapannāsa Cetokhila Sutta. Từ Mulapannāsa có nghĩa là cái gốc của trí tuệ, từ Cetokhila có nghĩa là tinh thần cứng rắn và từ Sutta nghĩa là Kinh hay sự giải thích. Đức Phật đã từng giải thích cho các Tỳ kheo hiểu về Kinh này bằng phương pháp so sánh. Khi trứng gà được gà mái ấp đã đến thời kỳ nở thành gà con thì chú gà con nhỏ xíu nằm bên trong trứng đã được hình thành và trở nên mạnh mẽ. Chú sẽ phá vỡ vỏ trứng và thoát ra ngoài ánh sáng. Tương tự như vậy, Tăng già và những hành giả mong muốn trở thành A-La-Hán bằng cách thực hành thiền minh sát, xóa sạch những thứ ô nhiễm trong tâm thức sau khi đã phá vỡ được màn đêm vô minh ( được ví như vỏ trứng). Vào thời điểm đó, họ đã gặt hái được tất cả những trạng thái nội quán một cách hoàn chỉnh. Những bậc thầy chú giải Kinh Điển đã từng so sánh thiền minh sát với sự phá vỡ vỏ trứng nhằm mục đích làm cho người lắng nghe Giáo Pháp và những thế hệ kế tiếp hiểu được một cách dứt khoát về loại thiền này. Ở đây có 3 thứ đáng chú ý là : Vỏ trứng, chất nhầy và chú gà con nhỏ xíu nằm bên trong cái trứng. Vỏ trứng được ví như tính vô minh ( Avijjā - Ignorance) bao phủ cuộc sống của muôn loài chúng sanh. Vỏ trứng ngăn chặn không cho chú gà con nhỏ xíu thoát ra ngoài cũng giống như muôn loài chúng sanh bị màn đêm vô minh bao phủ và không cho họ thoát khỏi 31 cõi sống trong luân hồi.

Tóm tắt: Vô minh được ví như vỏ trứng gà.

Vô minh đã khiến cho con người nhận thức lầm lạc về đúng sai. Đến mức đó, nó ngăn chặn và không cho họ thoát khỏi màn đêm tối tăm của luân hồi khổ đau. Vật chất và tinh thần bị hiểu nhầm là “ tôi”, “ bạn”, “ ông B”, “ bà C ”, “ cô X”…Sự hiểu nhầm này chính là màn đêm hay sự hiểu biết lầm lạc của nhận thức. Do ảnh hưởng của tham ái hay khao khát, người ta thường có thói quen bám víu vào những khái niệm ( Paññatti). Tham ái được ví như chất nhầy nằm bên trong cái trứng gà. Do ảnh hưởng của tham ái, chúng sanh không thể thoát khỏi luân hồi khổ đau. Họ bị gắn chặt vào những cảnh giới như :  Cõi người, cõi Chư Thiên và Phạm Thiên… Họ bám víu vào những cảm giác dễ chịu trong 3 cõi sống vừa đề cập giống như chất nhầy nằm bên trong cái trứng gà.

Tóm tắt: Trạng thái bám víu vào những kiếp sống giống như chất nhầy nằm bên trong cái trứng gà.

Chất nhầy nằm bên trong cái trứng gà ngăn chặn không cho chú gà con nhỏ xíu cử động. Vì vậy, chất nhầy này được ví như tính tham ái níu giữ chúng sanh trong cái bẫy của luân hồi sanh diệt. Chú gà con nhỏ xíu nằm bên trong vỏ trứng được ví như thiền minh sát. Khi gà mái ấp trứng và cung cấp hơi nóng cho chúng. Sau 28 ngày, gà con bắt đầu trở thành, mỏ và móng vuốt của nó đã đủ mạnh. Tiếp đến, nó phá vỡ vỏ trứng và chui ra ngoài ánh sáng. Tương tự, khi thiền minh sát đã trở nên trưởng thành và mạnh mẽ, qua Đạo quả Tu-Đà-Hườn, kiến thức nội quán của hành giả đã được nâng cao, thiền minh sát sẽ xuyên thủng màn đêm vô minh và vươn tới Niết Bàn.

Tóm tắt: Thiền minh sát giống như chú gà con nhỏ xíu nằm bên trong vỏ trứng gà.

Chú gà con nhỏ xíu không thể chuyển động trong đống chất nhầy của trứng khi nó chưa có đủ sức mạnh. Tương tự, những người lắng nghe Giáo Pháp và những chúng sanh khác không thể thoát khỏi được luân hồi khổ đau do ảnh hưởng của tham ái và bám víu ( được ví như chất nhầy nằm bên trong trứng gà), họ phải tái sanh làm người, Chư Thiên và Phạm Thiên…Hơn nữa, họ lại bị màn đêm vô minh bao phủ lên năng lực nhận thức. Khi chú gà con nhỏ xíu nằm bên trong vỏ trứng đã trở thành và có đủ sức mạnh, nó sẽ phá vỡ vỏ trứng và chui ra ngoài ánh sáng. Tương tự, khi thiền minh sát đã phát triển, tính tham ái được ví như chất nhầy bên trong vỏ trứng gà sẽ bị khô cạn và cánh cửa địa ngục đã bị đóng lại, tối đa là thêm 7 kiếp sống nữa, hành giả sẽ đạt tới Niết Bàn. Ví dụ về việc phá vỡ vỏ trứng của chú gà con nhỏ xíu cũng tương tự như việc thiền minh sát xuyên thủng màn đêm vô minh bao phủ nhận thức của chúng sanh. Ví dụ này rất dễ hiểu và thích đáng. Nếu gà mái không ấp những quả trứng thì chúng sẽ bị thối rữa. Vì vậy, nếu trong kiếp sống này, nếu không thực hành thiền minh sát thì bạn sẽ đánh mất những phước báu đã tích lũy được trong các kiếp sống ở quá khứ. Vì vậy, những người lắng nghe Giáo Pháp nhất định phải thực hành thiền minh sát. Thiền sư được ví như là một con gà mái.

Tóm tắt: Vị thiền sư được ví như là một con gà mái.

Khi gà mái mới ấp trứng được một ngày, nó không biết được vỏ trứng đang càng lúc càng mỏng dần đi. Nó cũng không biết được chất nhầy nằm bên trong trứng gà đang khô cạn dần, chú gà con nhỏ xíu đang dần dần trở thành và mạnh mẽ hơn. Bằng khoa học kỹ thuật, người ta có thể đo lường, đánh giá và biết được những hiện tượng vừa nói đang xảy ra như thế nào. Tuy nhiên, với mắt thường thì điều này là không thể thực hiện được. Trong thực tế, vỏ trứng gà càng ngày càng mỏng dần đi, chất nhầy nằm bên trong trứng cũng dần dần khô cạn, chú gà con nhỏ xíu cũng dần dần trở thành và mạnh mẽ hơn. Tương tự như vậy, khi thiền minh sát được bạn đem ra thực hành bằng cách chú ý đến “ tiến trình đang dần dần phồng lên của bụng”, “ tiến trình đang dần dần xẹp xuống của bụng”. “ tiến trình đang ngồi của thân thể” , “ tiến trình đang xúc chạm của thân thể”, “ tiến trình đang đứng của thân thể”, “ tiến trình đang đi bộ”, “ tiến trình đang co duỗi tứ chi”…Trong mọi sự chú ý, vô minh đang càng lúc càng mỏng dần đi, tính bám víu được ví như chất nhầy bên trong trứng gà cũng mỗi lúc một khô cạn dần, tuệ minh sát đang dần dần trở nên chín muồi và mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, trong thời gian đầu lúc mới khởi sự thực hành thiền, tác dụng của thiền minh sát vẫn chưa được biểu lộ một cách rõ ràng. Vậy bây giờ những người đang lắng nghe Giáo Pháp có tin rằng khi họ đang thực hành thiền minh sát thì vô minh đang càng lúc càng mỏng dần đi hay không ? Họ có tin rằng tính tham lam và bám víu càng lúc càng giảm dần đi hay không ? Có phải trong mỗi sự chú ý, tuệ minh sát càng lúc càng trở nên chín muồi hay không ? Nếu tin như vậy thì họ đã có những niềm tin đúng đắn. Khi gà mái đang ấp trứng từ ngày này sang ngày khác, chú gà con nhỏ xíu nằm bên trong trứng gà càng ngày càng trở nên mạnh mẽ, chất nhầy nằm bên trong vỏ trứng càng ngày càng khô cạn dần, vỏ trứng gà càng ngày càng mỏng dần đi. Sau 28 ngày ấp trứng của gà mái, chú gà con nhỏ xíu nằm bên trong trứng gà đã trở thành, mỏ và móng vuốt của nó đã trở nên sắc nhọn, chất nhầy bên trong trứng gà đã khô hết, vỏ trứng đã mỏng đến độ chú gà con có thể nhìn thấy ánh sáng ở bên ngoài. Lúc đó, chú gà con sẽ cố sức phá vỡ vỏ trứng để chui ra ngoài ánh sáng. Trong thời gian đầu mới khởi sự tập luyện, người thực hành thiền minh sát chưa thể nhận biết được một cách rõ ràng sự lợi ích của loại thiền này. Trong mỗi sự chú ý, vô minh đang dần dần mỏng đi, tính tham ái cũng càng lúc càng giảm dần, tuệ minh sát càng lúc càng trở nên chín muồi hơn. Sự chú ý của hành giả đến các hiện tượng được lập đi lập lại nhiều lần đã khiến cho tuệ minh sát càng ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn. Con đường hiểu biết của Tu-Đà-Hườn ( Sotāpattimagga) đã xuyên thủng màn đêm vô minh ( nguyên nhân dẫn đến tái sanh vào 4 cảnh giới thấp kém trong luân hồiApāya Samsāra, bao gồm địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ và A-tu-la). Tính tham lam và bám víu được ví như chất nhầy nằm bên trong trứng gà

( cũng là nguyên nhân dẫn đến 4 cảnh giới khổ đau nói trên) đã bị khô cạn. Vì vậy, các bậc thầy chú giải Kinh Điển đã giải thích rằng, với sự chín muồi của tuệ minh sát, tính tham lam và bám víu sẽ bị thiêu hủy hoàn toàn, người thực hành loại thiền này sẽ đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Sau khi đã thành tựu được những trạng thái nội quán cao cấp, lợi ích của thiền minh sát sẽ trở nên rõ ràng hơn trong sự nhận thức của bạn. Qua mỗi sự chú ý của bạn, vô minh ( được ví như vỏ trứng gà) đã trở nên mỏng hơn, tính tham lam và bám víu

( được ví như chất nhầy bên trong trứng gà) đã khô cạn, thiền minh sát

( được ví như chú gà con) đã trở nên mạnh mẽ hơn. Đó là lý do tại sao, khi bắt gặp bất cứ một đối tượng nào của giác quan, dù tốt hay xấu, dù như ý hay bất như ý, bạn cũng nên duy trì sự chú ý trên nó. Việc quán niệm một đối tượng tốt hay xấu đều nhằm mục đích làm cho màn đêm của vô minh mỏng dần đi. Nó cũng nhằm mục đích làm cho tính tham lam và bám víu giảm dần qua thời gian để thiết lập một trạng thái tuệ minh sát mạnh mẽ. Nếu đối tượng quan sát là bất như ý, hành giả có nên dừng sự chú ý lại hay không ? Câu trả lời là không. Theo Ngài Mahàsi,trong thời gian đầu mới khởi sự thực hành thiền, hành giả chưa nhận thức được Giáo Pháp một cách rõ ràng. Trong thiền tọa, bạn thực hành sự chú ý đến “ tiến trình đang phồng lên của bụng”, “ tiến trình đang xẹp xuống của bụng”, “ tiến trình đang ngồi xuống của thân thể”, “ tiến trình đang xúc chạm của thân thể”. Khi tuệ minh sát chưa phát triển, có thể bạn sẽ nghĩ rằng chính bụng của mình đang phồng lên xẹp xuống, chính bạn là người đang thực hiện hành động ngồi, đang có hành động xúc chạm, chính bạn đang chú ý. Nói cách khác, bạn đã nghĩ rằng

 “ những hành động thuộc về thân xác và tinh thần đó là do tôi thực hiện”. Sự nhận thức lầm lạc này đã hiện hữu do ảnh hưởng của vô minh ( Avijjā – Ignorance), tương tự như hiện tượng chú gà con nhỏ xíu nằm trong trứng gà chưa có khả năng chui ra ngoài ánh sáng do bị chi phối và ngăn chặn bởi vỏ trứng. Màn đêm vô minh bao phủ những người đang lắng nghe Giáo Pháp và những chúng sanh khác đã khiến cho họ khởi lên sự nhận thức lầm lạc.

Sự chú ý liên tục và năng lực định tâm mạnh mẽ sẽ khiến cho bạn có thể nhận thức được rằng những hoạt động như “ tiến trình đang phồng lên xẹp xuống của bụng”, “ hành động đang ngồi”, “ hành động đang xúc chạm”… là hoàn toàn khác biệt với sự chú ý của tâm trí. Những hoạt động đó không hề có sự nhận thức bởi vì chúng thuộc về vật chất ( Rūpa – Material). Trong khi đó, sự chú ý của tâm trí lại có sự nhận thức, bởi vì nó thuộc về tinh thần ( Nāma – Spiritual). Đến mức đó, hành giả sẽ nhận thức được rằng không có một thực thể nào được công nhận là “ tôi”, đó chỉ là sự phối hợp của vật chất và tinh thần mà thôi. Tuệ minh sát đã xuyên thủng được màn đêm vô minh. Thậm chí, trong từng giây phút khi bạn mới khởi sự thực hành thiền, tuệ minh sát cũng đã có khả năng xuyên thủng được màn đêm vô minh.  

Giải thích về Phật Pháp cho những hành giả Miến Điện hiểu là một công việc khá dễ dàng. Ngược lại, đối với những hành giả ngoại quốc thì công việc đó tương đối khó khăn, nhất là đối với những hành giả chưa có kiến thức đúng đắn về vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, khi những hành giả ngoại quốc thành tâm và thực hành quán niệm một cách hăng hái thì họ cũng sẽ gặt hái được tuệ minh sát. Khi họ không nói tiếng Miến Điện và cũng không quen thuộc với tôn giáo, họ sẽ trình Pháp như sau : “ Khi mới khởi sự thực hành thiền, tôi thấy chỉ có một người là chính tôi. Bây giờ tôi lại thấy có hai người. Các hoạt động như “ tiến trình phồng xẹp lên xuống của bụng”, “ tiến trình đang ngồi”, “ tiến trình đang xúc chạm” là một người và sự chú ý của tâm trí là một người khác”. Thiền sư chắc chắn sẽ biết rằng hành giả đã gặt hái được kiến thức phân biệt sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất – Nāmarūpa pariccheda ñāna. Bằng cách thực hành theo sự hướng dẫn đúng đắn dưới đây, màn đêm vô minh sẽ bị xuyên thủng khi các hiện tượng thuộc về vật chất và tinh thần đã được hành giả lãnh hội một cách đúng đắn. Bằng hạnh chú ý lập đi lập lại, năng lực định tâm đã trở nên mạnh mẽ và bằng sự thông minh, bạn sẽ nhận thức được rằng, sở dĩ sự chú ý có thể thực hiện được là do có sự biểu lộ của hoạt động phồng lên và xẹp xuống của bụng. Nếu những hoạt động này không xuất hiện thì sự chú ý cũng sẽ không có. Do đó, các hoạt động phồng lên và xẹp xuống của bụng chính là nguyên nhân và sự chú ý của tâm trí là kết quả. Đây là kiến thức về nhân quả - Paccaya-pariggaha Ñāna, tức sự hiểu biết có thể nhận thức được nguyên nhân và kết quả. Tiến trình phồng lên và xẹp xuống có thể được biểu lộ bên cạnh sườn của bạn, trên lưng, trên ngực hay trên đỉnh đầu. Một nữ hành giả đã nói rằng “ “ Bạch Đại Đức ! Tiến trình phồng lên và xẹp xuống không phải khi nào cũng biểu lộ trên bụng, chúng có thể thay đổi vị trí biểu lộ bằng cách xuất hiện trên đỉnh đầu. Tôi phải thực hành sự chú ý bằng cách nào đây ?” Thiền sư đã nói với hành giả này rằng : “ Cô có thể chú ý đến hoạt động phồng xẹp lên xuống tại bất cứ nơi đâu mà chúng xuất hiện”. Vì vậy, hành giả này đã nhận thức được nguyên nhân ( ở đây là hoạt động phồng xẹp lên xuống) và kết quả ( ở đây là sự chú ý của tâm trí). Trong trạng thái nội quan này, nếu tiến trình phồng lên và xẹp xuống chưa xuất hiện một cách rõ ràng, bạn không nên thực hành sự chú ý bằng cách phỏng đoán, bởi vì người ta không thể phát triển thiền minh sát bằng cách đó. Nếu đặt sự chú ý trên những đối tượng không rõ ràng thì bạn sẽ gặt hái được Giáo Pháp một cách chậm chạp. Nếu cố gắng tìm kiếm đối tượng để quan sát thì sự chú ý của bạn sẽ bị ngắt quãng. Trong thiền tọa, khi chú ý đến tiến trình đang ngồi, tiến trình đang xúc chạm, bạn không cần lưu tâm đến hình dáng bên ngoài của đầu, thân thể và tứ chi. Bạn chỉ cần chú ý một cách liên tục đến trạng thái đang căng lên của bụng, nhận biết không khí bên trong bụng đã thúc đẩy và làm cho bụng căng lên như thế nào. Bạn cũng không cần lưu tâm đến hình thức xúc chạm giữa thân thể và sàn tọa. Tuy nhiên, bạn cần phải chú ý một cách cẩn thận đến độ cứng và sức nóng sinh ra từ hình thức xúc chạm này.

Lãnh hội được bản chất của độ cứng là đã nhận thức được yếu tố đất

( Pathavī – Earth). Lãnh hội được bản chất của sức nóng là đã nhận thức được yếu tố lửa ( Tejo – Light). Một hành giả thông minh sẽ lãnh hội được  “tiến trình đang phồng lên của bụng”, “ tiến trình đang xẹp xuống của bụng” như là những nguyên nhân, sự chú ý của tâm trí chính là kết quả của những nguyên nhân này. Do ảnh hưởng của vô minh, có thể bạn sẽ không lãnh hội được như thế. Vì vậy, bạn có thể nghĩ rằng “ chính tôi là người nhận biết, tôi là người đã làm”… Bây giờ, bạn đã nhận thức được một phần nào về nguyên nhânkết quả bởi vì tuệ minh sát đã xuyên thủng được màn đêm vô minh bao phủ nhận thức của chính bạn. Bạn đã có khả năng thực hành sự chú ý một cách liên tục. Trong trạng thái nội quán được gọi là Paccayapariggaha Ñāna- Kiến thức về nhân quả, khi đang đứng lên từ tư thế ngồi, đang ngồi xuống từ tư thế đứng, đang chuyển sang đi bộ từ tư thế đứng, nếu chú ý một cách cẩn thận, bạn sẽ nhận biết được “ ý định của tâm trí” một cách rõ ràng. Những thính giả sau khi đã lắng nghe thuyết Pháp sẽ đứng lên để ra về hay làm việc gì đó. Ngay lúc này, nếu quán niệm một cách liên tục từ khi mình đang còn trong tư thế ngồi cho đến khi đang đứng lên, bạn sẽ nhanh chóng nhận biết được “ ý định muốn đứng lên” xảy đến ngay trước “ hành động đứng lên”. Khi đang nhận biết được như vậy, bạn hãy niệm thầm trong tâm mình “ đang có ý định đứng lên, đang có ý định đứng lên”…Do có “ ý định đứng lên” , sức đẩy của không khí đóng vai trò là nguyên nhân đã khiến cho “ hành động đứng lên” hiện khởi. Khi đang cố gắng đứng lên, bạn hãy niệm thầm trong tâm mình “ đang cố gắng đứng lên , đang cố gắng đứng lên”…Khi đang chống tay xuống sàn và thân thể đang dần dần chuyển động để đứng lên, bạn hãy niệm thầm trong tâm “ đang chống tay để đứng lên, đang chống tay để đứng lên”…Chuyển động của thân thể trong trường hợp này là “ đang đứng lên”. Tuy nhiên, “ đang đứng lên” chỉ là một những từ ngữ có tính qui ước hay chỉ là một khái niệm

( Paññatti - Conception). Nó không phải là đối tượng để thực hành sự chú ý.

bản chất của chuyển động dần dần đứng lên ” mới là đối tượng cần chú ý một cách cẩn thận, bởi vì nó chính là thực tại cùng tột ( Paramatha – Ultimate reality). Nếu nhắm mắt lại khi đang đứng lên, bạn sẽ nhận biết được “bản chất của chuyển động dần dần đứng lên” một cách rõ ràng hơn. Nếu mở mắt và nhìn ra chung quanh thì bạn sẽ không lãnh hội được “bản chất của chuyển động này” một cách rõ ràng. Khi đang chú ý đến chuyển động dần dần đứng lên của thân thể, bạn không cần lưu tâm đến hình dáng bên ngoài của đầu, thân thể và tứ chi, chỉ cần chú ý để nhận biết và bắt kịp được tốc độ của chuyển động này. Khi đã có thể chú ý và nhận biết một cách liên tục đến chuyển động dần dần đứng lên của thân thể, bạn cũng sẽ lãnh hội được rằng, chuyển động này càng lúc càng trở nên nhẹ nhàng hơn. Sự lãnh hội được tính nhẹ nhàng trong “chuyển động đang đứng lên của thân thể” chính là sự nhận thức về yếu tố lửa  ( Tejo – Light). Nhận biết được hơi nước tức là đã nhận biết được yếu tố gió ( Vāyo – Wind), một yếu tố chính yếu đã tạo nên trạng thái chuyển động. Bạn sẽ liên tục nhận biết được 2 yếu tố lửagió khi quan sát các chuyển động của thân thể. Những yếu tố khác cũng đang tồn tại trong trạng thái chuyển động, mặc dù chúng chưa biểu lộ đến mức đủ để cho bạn có thể nhận biết. Điều quan trọng nhất đối với người thực hành thiền minh sát là lãnh hội được bản chất của sự vật và hiện tượng. Sự nhận biết được hai yếu tố lửagió là bước đầu trải nghiệm được bản chất của vạn hữu. Sau đó, bạn sẽ nhận thức được rằng : “Chuyển động của thân thể” không phải là “ tôi”. Nó chỉ đơn thuần là một yếu tố chuyển động, vậy thôi.  Đây chính là sự hiểu biết đúng đắn về các yếu tố trong tự nhiên. Thật ra “ có phải là tôi đang đứng không ? Có phải là tôi đang chuyển động không ? Câu trả lời là không phải. Sở dĩ bạn đã có sự hiểu biết lầm lạc là do năng lực nhận thức của bạn đang bị vô minh bao phủ và chi phối. Nhận thức về những yếu tố trong tự nhiên nghĩa là nhận biết được nguyên lý nhân quả.Trong trạng thái nội quán được gọi là kiến thức về nhân quả- Paccayapariggaha Ñāna, từng giây từng phút màn đêm vô minh đã bị tuệ minh sát xuyên thủng.

Tóm tắt: Yếu tố lửa và gió có tính nhẹ nhàng rất dễ nhận biết. Lửa là yếu tố có chứa đựng hơi nước, gió là yếu tố chính tạo nên sự chuyển động.

Trong thiền hành ( tức thiền khi đang đi bộ), nếu lưu tâm một cách đặc biệt, lúc ban đầu bạn sẽ nhận biết được “ ý định muốn đi bộ”. Ngay khi nhận biết được ý định này, bạn hãy niệm thầm trong tâm mình  “đang có ý định đi bộ, đang có ý định đi bộ”…Khi không khí bị ảnh hưởng bởi “ ý định muốn đi bộ”, nó sẽ thúc đẩy thân thể bước đi, lúc đó chuyển động đi bộ sẽ hiện khởi. Tiếp đến, bạn phải chú ý để nhận biết “ chân trái đang dở lên, bước tới và đặt xuống, chân phải đang dở lên, bước tới và đặt xuống”… Khi bạn muốn đứng lại khi đang đi bộ, với kiến thức nhân quả đã gặt hái được, đầu tiên bạn sẽ nhận thức được rằng “ ý định muốn đứng lại” đã khởi lên “trước thời điểm mà bạn sẽ đứng lại” khoảng hai hay ba bước chân. Tiếp đến, bạn cần niệm thầm trong tâm mình “ đang có ý định đứng lại, đang có ý định đứng lại”…Khi hành động đứng lại đã thật sự hiện khởi, bạn phải niệm thầm trong tâm  “ đang đứng lại, đang đứng lại”…Bạn không cần phải lưu tâm đến hình dáng bên ngoài của thân thể, đầu và tứ chi. Nói đúng hơn là bạn phải lờ đi như thể không nhìn thấy chúng. Lúc này, bạn phải liên tục chú ý để nhận biết bản chất nặng nề của thân thể, để nhận biết được không khí đã chịu ảnh hưởng của “ ý định muốn đứng lại” và thúc đẩy thân thể đứng lại như thế nào. Nếu “có ý định muốn tham dự” một buổi tập ăn trong chánh niệm, bạn đừng nên ngồi xuống một cách nhanh chóng quá. Một hành giả đã gặt hái được kiến thức về nhân quả sẽ nhận biết được “ ý định muốn ngồi xuống” một cách vững vàng nếu hành giả này có sự tập trung sự chú ý. Khi đã nhận biết được “ ý định muốn ngồi xuống”, hành giả phải niệm thầm trong tâm mình “ đang có ý định muốn ngồi xuống, đang có ý định muốn ngồi xuống”…Khi hành động ngồi xuống đã hiện khởi, hành giả tiếp tục niệm thầm trong tâm “ đang ngồi xuống, đang ngồi xuống”…Ngay khi đang chú ý, hành giả không cần phải lưu tâm đến hình dáng bên ngoài của đầu, thân thể và tứ chi, anh ta chỉ cần chú ý một cách liên tục để nhận biết được bản chất của chuyển động đang dần dần ngồi xuống của thân thể mà thôi. Tốt hơn hết, bạn nên nhắm 2 mắt lại để dễ nhận biết được bản chất của chuyển động này. Nếu không thể nhắm 2 mắt lại thì bạn có thể giữ cho 2 mắt khép hờ cũng được. Nếu nhắm 2 mắt lại, bạn sẽ dễ dàng nhận biết được rằng “ chuyển động đang dần dần ngồi xuống của thân thể sẽ càng lúc trở nên nặng nề hơn”. Lãnh hội được tính nặng nề trong chuyển động đang ngồi xuống là đã nhận thức được yếu tố đất ( Pathavī – Earth) và nước ( Āpo – Water). Yếu tố đất có đặc tính nặng hay nhẹ ? Nó có đặc tính nặng nề.

Yếu tố nước có đặc tính nặng hay nhẹ ? Nó cũng có đặc tính nặng nề.

Tóm tắtĐất và nước là 2 yếu tố có đặc tính nặng nề rất dễ nhận thấy.

Bây giờ bạn đã nhận thức được rằng “ không phải tôi đang ngồi hay đang xúc chạm, chính 4 yếu tố đất, nước, gió, lửa đang ngồi hay đang xúc chạm”. Sự nhận thức đại loại như “ tôi đang ngồi” hay “ tôi đang xúc chạm” là hoàn toàn sai lầm. Bạn sẽ có được một năng lực nhận thức phát triển khi màn đêm vô mình đã bị xuyên thủng. Các bậc thầy chú giải Kinh Điển đã công nhận rằng hành giả nào đã gặt hái được kiến thức về nhân quả- Paccayapariggaha Ñāna tức là hành giả đó đã trở thành một Tiểu –Tu-Đà-Hườn ( Culasotāpaññā – A lesser Sotāpañā). Nói cách khác, hành giả này đã tự thiết lập được cho mình một chỗ đứng vững chắc trong Giáo Pháp của Đức Phật. Sau khi đã gặt hái được kiến thức về nhân quả, chắc chắn hành giả sẽ được bình yên trong tâm trí. Anh ta sẽ không bao giờ có bất cứ một niềm tin lầm lạc nào, ví dụ như việc tin rằng hạnh phúc hay bất hạnh của chúng sanh tự nhiên mà có, chứ không phải do một nguyên nhân nào sinh ra cả. Do ảnh hưởng của sự trải nghiệm cá nhân về những kết quả tốt phát xuất từ các nguyên nhân thiện lành, những kết quả xấu đến từ các nguyên nhân bất thiện, hành giả nói trên không thể nào có bất cứ một niềm tin lầm lạc nào, dù anh ta có đi quá đà khi hùng biện trước người khác. Anh ta đã hiểu được một cách hoàn hảo rằng, tư duy và hành động tốt đẹp có nguồn gốc từ những nguyên nhân thiện lành, tư duy và hành động xấu xa chính là kết quả của những nguyên nhân bất thiện. Đó là lý do tại sao, hành giả được bình yên trong tâm trí. Anh ta sẽ không được như vậy nếu vẫn còn chứa chấp những mối hoài nghi về nguyên lý nhân quả trong tâm thức. Một hành giả đã gặt hái được sự hiểu biết về nguyên lý nhân quả sẽ không bao giờ tin vào thuyết sáng tạo. Theo thuyết này, muôn loài chúng sanh đã được tạo ra bởi Phạm-Thiên ( Brahmā), VishnuChúa trời. Đấng Sáng Tạo với lòng trắc ẩn và từ tâm chắc chắn sẽ tạo ra sự bình đẳng trong muôn loài chúng sanh. Tuy nhiên trong thực tế, muôn loài không được bình đẳng, một số người được giàu có nhưng một số khác lại nghèo khổ, một số người có diện mạo xinh đẹp nhưng một số khác lại xấu xí, một số người rất thông minh nhưng một số khác lại ngu đần…Do đó, nếu nói rằng Đấng Sáng Tạo là nguyên nhân đầu tiên sanh ra tất cả muôn loài thì kết quả của nguyên nhân này đã vi phạm luận lý ( tức phi logic). Một người nào đó đã từng thực hiện những hành động thiện lành trong các kiếp sống ở quá khứ sẽ được thịnh vượng ngay trong kiếp sống hiện tại. Người đã có đôi chút phước báu trong những kiếp sống ở quá khứ sẽ được hưởng một vài lợi ích bình thường trong kiếp sống hiện tại. Cũng vậy, người có rất ít phước báu trong những kiếp sống ở quá khứ thì trong kiếp sống hiện tại sẽ bị nghèo khổ, sức khỏe kém, tâm trí chậm chạp và kém thông minh…Bạn có tin như vậy không ? Nếu bạn tin như vậy thì đó là một niềm tin đúng đắn. Bạn có muốn thay đổi niềm tin lầm lạc của chính mình không ? Kể từ khi có niềm tin vững chãi vào Giáo Pháp, chắc chắn bạn sẽ không bao giờ muốn thay đổi niềm tin ấy nữa. Người ta sẽ không bao giờ gặt hái được kiến thức về nhân quả khi vẫn còn chứa chấp một niềm tin lầm lạc trong tâm trí.Có một điều chắc chắn rằng, một Tiểu-Tu-Đà-Hườn sẽ được tái sanh vào nhàn cảnh ( tức cảnh sống an vui hạnh phúc – Sugati). Nói cách khác, người này sẽ được tái sanh vào cõi người, cõi Chư Thiên và Phạm Thiên. Trong kiếp sống kế tiếp, anh ta sẽ không bao giờ bị tái sanh vào những cảnh giới thấp kém như địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ và A-Tu-La. Tuệ minh sát đã xuyên thủng màn đêm vô minh hằng bao phủ sự nhận thức của anh ta. Vì vậy, người này sẽ được tái sanh làm người hay Chư Thiên, sau khi đã có được một sự hiểu biết đúng đắn. Giống như chú gà con nhỏ xíu đã trở nên mạnh mẽ hơn khi nó thấy được ánh sáng xuyên qua vỏ trứng mỏng. Tương tự, khi thiền minh sát đã trở nên mạnh mẽ, hành giả sẽ lãnh hội được những gì đúng đắn giống trạng thái thấy được ánh sáng của chú gà con. Trong kiếp sống kế tiếp, một Tiểu-Tu-Đà-Hườn sẽ không bao giờ bị tái sanh vào những cảnh giới thấp kém và khổ đau. Người đã thành tựu được kiến thức về nhân quả sẽ luôn luôn nhận biết được trạng thái tâm trí của chính mình. Khi tâm trí của anh ta khởi lên những ý nghĩ thiện lành thì anh ta sẽ tiếp tục duy trì và phát triển những ý nghĩ thiện lành đó. Anh ta sẽ tìm cách xóa tan tất cả những ý nghĩ xấu xa trong tâm trí mình, cố gắng thực hiện những hành động phước báu càng nhiều càng tốt. Vì vậy đối với anh ta, cánh cửa của địa ngục đã bị đóng lại. Vì vậy, anh ta xứng đáng được công nhận là một Tiểu-Tu-Đà-Hườn. Tăng Già và Kinh Điển sẽ không bao giờ có khả năng phán xét hay chi phối đối với một Tiểu-Tu-Đà-Hườn, nếu anh ta chưa từng thực hành thiền minh sát. Trong khi đó, một thiền sư vẫn phải còn chịu sự ảnh hưởng, chi phối cũng như phán xét của Tăng Già và Kinh Điển. Một người đã gặt hái được kiến thức về nhân quả sẽ có khả năng tự phán xét chính mình kể từ khi anh ta có được niềm tin vững chãi vào Giáo Pháp mà mình đang theo. Khi một người nào đó miễn cưỡng nói rằng mình đã là một Tiểu Tu-Đà-Hườn thì người này vẫn chưa có được một niềm tin vững chãi vào Giáo Pháp mà anh ta đang theo. Những người biết lắng nghe và thực hành Giáo Pháp một cách tôn kính chắc chắn trước sau gì cũng sẽ được công nhận như là một Tiểu Tu-Đà-Hườn. Một người nào đó sau khi đã gặt hái được kiến thức về nhân quả sẽ tin rằng những nguyên nhân thiện lành sẽ dẫn đến những lợi ích tốt đẹp, những nguyên nhân bất thiện sẽ dẫn đến những kết quả tồi tệ. Vì vậy, người này đã có được một niềm tin đúng đắn. Màn đêm vô minh đã bị xuyên thủng và chắc chắn anh ta sẽ được giải thoát. Với sự thực hành thiền một cách liên tục, năng lực định tâm đã trở nên mạnh mẽ, bạn sẽ gặt hái được trạng thái nội quán thứ ba là kiến thức lãnh hội – Sammasana Ñāna. Đây là loại kiến thức có liên quan đến việc quán niệm về vô thường- Anicca, khổ - Dukkhavô ngã- Anatta. Đây là một trạng thái sẽ gây ra tâm lý buồn khổ cho bạn, nếu trước đó bạn chưa từng thực hành thiền định- Samātha Bhāvanā. Những hành giả chưa từng thực hành thiền định, khi gặt hái được kiến thức lãnh hội sẽ phải trải nghiệm cảm giác đau, nhức, tê cóng, buồn nôn, ngứa ngáy, kiệt sức…Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau đó, bạn sẽ có khả năng ngồi xuống và tiếp tục thực hành thiền minh sát. Về sau, bạn sẽ nhận thức được tính cách đặc trưng của khổ bằng cách quán niệm rằng “ thân thể này là một đống khổ đau và không có hạnh phúc”. Ngoài ra, bạn cũng sẽ nhận thức tính cách đặc trưng của vô thườngvô ngã bằng cách quán niệm về chúng. “ Những cảm giác đau, nhức, tê cóng… này là vô thường. Khi chúng biến mất đi, tôi cảm thấy rất dễ chịu, tuy nhiên chúng sẽ tái hiện nhiều lần. Chúng luôn luôn thay đổi trong mọi lúc. Vì vậy chúng là vô thường. Tôi thực hành thiền là để có sự tiến bộ trong nhận thức và nhanh chóng trải nghiệm được bản chất của vạn hữu. Tuy nhiên, tôi tin rằng vạn hữu là không thể điều khiển được, chúng vẫn luôn luôn xảy đến theo bản chất riêng của chúng. Vì vậy chúng là vô ngã. Ba tính cách đặc trưng của vạn hữu đã được bạn lãnh hội bằng cách thực hành quán niệm về chúng trong trạng thái nội quán gọi là kiến thức lãnh hội – Sammasana Ñāna. Sự hiểu biết về vô thường, khổvô ngã vừa nêu trên chính là Chánh kiến. Theo trình tự giải thoát đối với người thực hành Phật Pháp nói chung, màn đêm vô minh phải bị xuyên thủng. Khi đã xuyên thủng được màn đêm vô minh bao phủ tâm thức, người ta đã tự thiết lập được cho mình một chỗ đứng vững chắc trong Giáo Pháp của Đức Phật. Với sự chú ý liên tục, năng lực định tâm sẽ trở nên mạnh mẽ và chín muồi, bạn sẽ gặt hái trạng thái nội quán thứ tư được gọi là Udayabbaya Ñāna – kiến thức về trạng thái khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng. Lúc mới gặt hái được trạng thái nội quán này, tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng chưa xuất hiện một cách rõ ràng trong tâm thức của bạn. Tuy nhiên, bạn sẽ trải nghiệm được những cảm giác rất dễ chịu, thân tâm bổng nhiên trở nên nhẹ nhàng và phấn khởi. Trong trạng thái nội quán được gọi là kiến thức lãnh hội, bạn cảm thấy thân tâm nặng nề, tâm trí hầu như luôn luôn bực bội, tù túng và rất dễ nổi cáu. Một hành giả đã trình Pháp rằng : “ Bạch Đại Đức ! Tôi không biết được những gì đang xảy đến với tôi và làm cho tôi nổi giận”. Đây chính là trạng thái nội quán được gọi là kiến thức lãnh hội. Nó cũng được biết đến như là một trạng thái nội quán buồn khổ. Trong giai đoạn đầu lúc mới gặt hái được Udayabbaya Ñāna, thân tâm của hành giả trở nên vi tế và rất khó quán niệm. Tuy nhiên, hành giả vẫn có thể trình Pháp với thiền sư một cách đúng đắn. Lúc đó, vị thiền sư hướng dẫn sẽ biết rằng hành giả đã gặt hái được Udayabbaya Ñāna. Với trình độ thực hành thiền này, khi đã nhận biết được niềm hạnh phúc trong thân tâm, hành giả có thể kể lại quá khứ thơ ấu của chính mình cho người khác nghe không một chút nhầm lẫn. Tuy nhiên, anh ta vẫn chưa lãnh hội được tiến trình trở thành và tan hoại của vạn hữu mọt cách hoàn hảo. Trong giai đoạn này, do khả năng thích nghi cao của thân tâm đối với thiền minh sát, hành giả có thể tọa thiền liên tục trong nhiều giờ đồng hồ mà không cần phải thay đổi tư thế. Trước đây, khi đang ở trong những trạng thái nội quán thấp hơn ( như Nāmarūpapariccheda Ñāna hay Paccayapariggaha Ñāna), trong một giờ đồng hồ hành giả thường có thói quen thay đổi tư thế hành thiền từ 3 đến 4 lần. Bây giờ hành giả đã có thể tọa thiền một cách rất thoải mái và liên tục từ 4 đến 5 giờ đồng hồ. Kể từ khi hành giả đã có khả năng thực hành thiền một cách thành thạo, thân tâm đã trở nên nhẹ nhàng và thoải mái trong lúc đang hành thiền, sự chú ý của hành giả đã có thể phát khởi một cách tự động. Nói cách khác, khi các hoạt động như “ tiến trình đang phồng lên của bụng”, “ tiến trình đang xẹp xuống của bụng”, “ tiến trình đang ngồi xuống”, “ tiến trình đang xúc chạm của thân thể”…xuất hiện theo cách riêng của chúng thì sự nhận thức của tâm trí hành giả sẽ tự động xuất hiện một cách thích ứng với những các hoạt động này, hành giả không cần phải dụng công hay nổ lực gì cả. Một hành giả đã trình Pháp rằng : “ Bạch Đại Đức ! Khi tôi đang thực hành quán niệm, dường như sự chú ý của tâm trí và đối tượng quan sát đã xuất hiện theo cách riêng của chúng. Tôi chỉ việc ngồi và quan sát chúng mà thôi”. Như vậy hành giả này đã đạt tới trạng thái nội quán nào ? Anh ta đã gặt hái được trạng thái nội quán gọi là Udayabbaya Ñāna, mặc dù đây chỉ là giai đoạn mới khởi đầu của trạng thái nội quán này. Khi hành giả đã trải nghiệm được trạng thái tĩnh lặng trong thân tâm, anh ta sẽ nói : “ Trước đây, tôi chưa bao giờ trải nghiệm được trạng thái tĩnh lặng như thế. Thân thể tôi đã trở nên thẳng đứng và trầm tĩnh như một con búp bê”. Đây là trạng thái nội quán gì ? Đó là giai đoạn mới bắt đầu của Udayabbaya Ñāna. Hơn nữa, khi thân tâm đã được thanh thản, hành giả cũng tận hưởng được hoan hỷ minh sát – Vipassanā Pīti. Những người bình thường ( không có thực hành thiền minh sát) và thậm chí cả Chư Thiên cũng không thể tận hưởng được loại hoan hỷ này. Đúng như lời Đức Phật đã giáo huấn, khi giai đoạn Udayabbaya Ñāna mới hình thành trong tâm thức, hành giả sẽ thực hành sự chú ý và trải nghiệm được cảm giác hân hoan, thanh bình. “ Một hành giả thực hành quán niệm sẽ tìm đến một nơi yên tĩnh và hẻo lánh. Hành giả này sẽ quan sát tiến trình khởi lên rồi tan biến đi của các hiện tượng thuộc về vật chất và tinh thần với một tâm trí tĩnh lặng. Khi làm việc đó, hành giả sẽ tận hưởng hoan hỷ minh sát và nhận thấy rất hạnh phúc khi được sống một mình. Những người bình thường và thậm chí cả Chư Thiên cũng không thể tận hưởng được trạng thái tâm thức giống như vậy”. Những người lắng nghe Giáo Pháp cũng có thể tự mình tận hưởng được niềm hân hoan và hạnh phúc như đã nói trên. Tuy nhiên với trạng thái tâm thức tuyệt vời đó, người ta rất dễ phát sanh tâm bám víu. Do đó, hành giả phải hết sức cẩn thận, không nên có ý nghĩ rằng trạng thái hân hoan và hạnh phúc đó là đỉnh cao của Giáo Pháp. Một hành giả đã nói : “ Bạch Đại Đức ! Tôi đã đạt tới Giáo Pháp Cao Thượng. Tôi đã thấy ánh sáng và màu sắc”. Vậy thật ra hành giả này đã đạt tới Giáo Pháp Cao Thượng chưa ? Câu trả lời là chưa. Vì vậy, tâm bám víu vào cảm giác hân hoan có thể làm cho tiến trình phát triển Giáo Pháp trong tâm thức của hành giả bị đình trệ.

Tóm tắtBám víu vào những cảm giác dễ chịu trong quá trình thực hành quán niệm là nguyên nhân dẫn đến trạng thái đình trệ ở nội tâm.

Sự chú ý phải được thực hành một cách liên tục, chính xác và nghiêm túc. Mặc khác, chú ý và bám víu vào những cảm giác dễ chịu có thể làm lãng phí thời gian. Các vị thiền sư đã từng chủ trương rằng, hành giả nên thực hành sự chú ý một cách liên tục kể từ khi đối tượng quan sát bắt đầu khởi lên cho đến khi đã chấm dứt hẳn, không nên để cho tâm trí bị lơ đễnh và lang thang đây đó. Khi mới bắt đầu thực hành thiền được một hoặc hai ngày, có thể hành giả chưa có khả năng chú ý một cách liên tục và rốt ráo đến các hoạt động như “ tiến trình đang phồng lên của bụng” , “ tiến trình đang xẹp xuống của bụng”…Thậm chí trong những ngày kế tiếp, hành giả có thể nói rằng :

“ Bạch Đại Đức ! Tôi đã có khả năng chú ý từ đầu đến cuối, kể từ khi bụng mới căng lên cho đến khi nó đã xẹp hẳn”. Tiến trình bắt đầu căng lên và bắt đầu xẹp xuống của bụng là trạng thái trở thành, trạng thái chấm dứt của tiến trình căng lên và xẹp xuống của bụng là sự tan hoại”. Một người đã có khả năng lãnh hội rõ ràng về tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng nghĩa là người này đã có sự tiến bộ trong Giáo Pháp. Vì vậy, người không mang tâm bám víu vào các cảm giác dễ chịu sẽ lãnh hội được rằng, các hiện tượng sẽ tan hoại đi sau khi đã khởi lên. Do ảnh hưởng của vô minh, người ta có thể nhầm tưởng rằng vạn hữu là thường còn. Khi vô minh đã bị xuyên thủng bởi tuệ minh sát, người ta sẽ nhận thức được sự thật rằng, vạn hữu đang từng giây từng phút trở thành và tan hoại đi với một tốc độ cực kỳ nhanh chóng. Bằng thói quen thực hành sự chú ý liên tục, hành giả sẽ tự lãnh hội được trạng thái tan hoại của tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng. Vì vậy, anh ta đã phát triển được sự hiểu biết về tính vô thường, khổvô ngã chất chứa trong lòng của vạn hữu. Nói cách khác, hành giả đã tiến tới sự hiểu biết rằng hoạt động phồng xẹp lên xuống của bụng là vô thường, sự chú ý của tâm trí cũng vô thường. Kiến thức về vô thường đã xuyên thủng vô minh. Với sự chú ý liên tục, năng lực định tâm đã trở nên mạnh mẽ và chín muồi. Khi đang chú ý đến hoạt động phồng xẹp lên xuống của bụng, hành giả sẽ nhận biết tiến trình bắt đầu phồng lên và tiến trình bắt đầu xẹp xuống của bụng đã trở nên mờ nhạt trong tâm thức. Tuy nhiên, tiến trình tan hoại ( ở đây là thời điểm khi bụng đã căng lên hết mức và khi bụng đã xẹp xuống hết mức) thì vẫn xuất hiện một cách rõ ràng. Ở trình độ thực hành thiền này, khi đang chú ý đến tiến trình phồng xẹp lên xuống của bụng, hành giả bổng giật mình ngạc nhiên vì nhận thấy tiến trình tan hoại đang xảy ra một cách quá nhanh chóng. Đây chính là một dấu hiệu chứng tỏ hành giả đã có sự tiến bộ đáng kể trong việc thực hành nội quán. Bây giờ hành giả đang ở trong trạng thái nội quán được gọi là kiến thức về trạng thái tan hoại – Bhangā Ñāna. Đến đây hành giả sẽ tự lãnh hội được một điều quan trọng :  “ Không những hoạt động phồng xẹp lên xuống của bụng ( thuộc về vật chất) là vô thườngsự chú ý của tâm trí ( thuộc về tinh thần) cũng vô thường luôn. Người ta thật sai lầm khi quan niệm rằng, vật chất và tinh thần là thường còn bất biến. Như vậy, kiến thức về vô thường đã xuyên thủng và xua tan màn đêm vô minh hằng bao phủ sự nhận thức của chúng sanh.

Bằng hạnh chú ý liên tục, hành giả sẽ tiến đến sự hiểu biết rằng, hoạt động phồng xẹp lên xuống của bụng, cũng như bất cứ hiện tượng nào mà anh ta có thể chú ý được đều đang tan hoại với một tốc độ cực kỳ nhanh chóng. Khi đang thực hành sự chú ý, trạng thái biến mất quá nhanh chóng của tiến trình tan hoại có thể làm cho hạnh giả cảm thấy sợ hãi. Đến đây, hành giả đã đạt tới trạng thái nội quán gọi là kiến thức về sự sợ hãi – Bhaya Ñāna.

Hành giả sẽ nhận thức được rằng, thân thể của chính anh ta chỉ là một đống hôi thối và đáng ghét. Thân thể này chẳng có gì đáng giá để bám víu bởi vì nó luôn luôn ở trong trạng thái đang tan hoại. Đây chính là trạng thái nội quán có tên kiến thức về sự nhàm chán và kinh khiếp – Ādīnava Ñāna. Do đó, hành giả sẽ cảm thấy thân thể rã rời và khó chịu. Đến đây, hành giả lại chuyển sang một trạng thái nội quán cao hơn, đó là kiến thức chiêm nghiệm và sự ghét bỏ - Nibbhida Ñāna. Đối với  Bhaya Ñāna, Ādīnava ÑànaNibbhida Ñāna, thỉnh thoảng sự xuất hiện của một trong 3 trạng thái nội quán này cũng không được rõ ràng, khi trạng thái này không tiếp nối được với trạng thái kia trong tiến trình phát triển của chúng. Tiếp đến là kiến thức về trạng thái ao ước được giải thoát – Muncitukamyata Ñāna. Trong trạng thái nội quán này, hành giả sẽ có mong muốn vứt bỏ thân xác của chính mình, bởi vì cảm thấy rằng nó bất như ý và không có gì đáng thèm muốn. Thậm chí, hành giả cũng không còn muốn tiếp tục thực hành sự chú ý. Tuy nhiên, anh ta sẽ có ao ước muốn được giải thoát khỏi luân hồi. Hành giả sẽ không còn muốn làm người, Chư Thiên hay Phạm Thiên nữa. Sở dĩ hành giả đã muốn như vậy bởi vì “ chất nhầy tham ái” đã khô cạn. Tham ái nghĩa là ao ước hay khao khát được tái sanh vào cõi người, cõi Chư Thiên hay Phạm Thiên. Chất nhầy nằm trong trứng gà đã ngăn chặn không cho chú gà con nhỏ xíu thoát ra ngoài. Tương tự, tâm khao khát và bám víu vào cuộc sống ở cõi người, Chư Thiên và Phạm Thiên đã ngăn cản không cho chúng sanh vượt thoát khỏi luân hồi sanh diệt. Với năng lực nội quán đã chín muồi, hành giả luôn luôn mong muốn được giải thoát khỏi cuộc sống hiện tại và không còn bị tái sanh nữa. Thật rõ ràng rằng, “ chất nhầy tham ái” trong tâm thức hành giả đã khô cạn. Con người ta vẫn phải còn đương đầu với những thứ khổ đau như tuổi già, bệnh tật và cái chết chừng nào họ vẫn còn mơ ước về một kiếp sống mới. Thậm chí, một Chư Thiên vẫn có thể bị tái sanh vào cõi súc sinh như một con lợn. “ Ánh sáng chiếu ra từ cõi Phạm Thiên chỉ là tiếng ủn ỉn trong một chuồng lợn bẩn thỉu”. Với tâm mong muốn được giải thoát, hành giả sẽ nhận thấy rằng mình cần phải nổ lực thực hành sự chú ý nhiều hơn nữa, để có thể buông bỏ được kiếp sống này. Đây chính là kiến thức về sự quán niệm – Patisankhā Ñāna. Nó cũng là một trạng thái nội quán gây ra nhiều sự buồn khổ cho hành giả ( đau, nhức, ngứa ngáy…) giống như kiến thức về sự lãnh hội – Sammāsana Ñāna. Trong trạng thái này, hành giả sẽ phải trải nghiệm trạng thái đau khổ về thân xác và tinh thần. Tuy nhiên, có một vài hành giả lại bị đau khổ về tinh thần nhiều hơn là đau khổ về thân xác. Một hành giả đã nói : “ Bạch Đại Đức ! tâm trí của tôi không còn giống như trước nữa. Tôi không thể tôn kính Tam Bảo như trước nữa.  Sự tôn kính của tôi đối với cha mẹ và thầy cô giáo cũng đã giảm bớt”. Ở đây, chúng ta cần phải hiểu rõ rằng, trạng thái tâm thức vừa nêu không phải là một sự phản bội hay vong ân đối với Tam Bảo, cha mẹ và thầy cô giáo…Nó là một trạng thái tâm lý tự nhiên phát xuất từ hoạt động tự điều chỉnh của tâm thức mà thiền minh sát chính là nguyên nhân tác động. Đối với người thực hành thiền minh sát, nó là một trạng thái rất khó chịu, bất đắc dĩ phải trải nghiệm. Sự xuất hiện của nó là tất yếu phải xảy ra trong lộ trình tiến đến giải thoát. Tuy nhiên, nó vẫn là một dấu hiệu tốt, chứng tỏ quá trình thực hành thiền của bạn là đúng phương pháp và có sự tiến bộ. Như vậy, hành giả đã gặt hái được trạng thái nội quán thứ 10 có tên là kiến thức về sự quán niệm – Patisankhā Ñāna, còn gọi là kiến thức trở về nhà. Thông thường, một hành giả sẽ trải nghiệm trạng thái tâm thức bất mãn sau một tháng thực hành thiền, mặc dù khi mới khởi sự tu tập, năng lực quán niệm của anh ta rất tốt. Khi đang thiền tọa, hành giả luôn luôn muốn thay đổi tư thế. Hành giả sẽ cảm thấy thân thể của mình luôn bị ngứa ngáy, khi thì chỗ này, lúc khác thì chỗ kia và muốn đứng dậy để bước đi, mặc dù sự chú ý của anh ta vẫn đang diễn ra rất tốt. Những hành giả nào đã từng trải nghiệm và chịu đựng Patisankhā Ñāna có thể hướng dẫn và động viên tinh thần cho một hành giả mới gặt hái được trạng thái nội quán này, để người mới tập sự hành thiền còn thiếu kinh nghiệm có thể vững tâm tiếp tục rèn luyện. Một hành giả khoảng 50 tuổi đã đến thực hành thiền tại trung tâm. Bà đánh giá rất cao về mình, mặc dù khi còn trẻ bà chưa bao giờ thực hành thiền. Khi trải qua các trạng thái nội quán ở bậc thấp, việc hành thiền của bà đã có sự tiến bộ. Tuy nhiên, đến khi bước qua trạng thái nội quán được gọi là kiến thức về sự quán niệm- Patisankhā Ñāna thì tình trạng hành thiền của bà không tiến bộ được bao nhiêu. Bậc Trưởng thượng đã động viên bà :  “ Trạng thái nội quán này luôn luôn như vậy. Nếu có khả năng chịu đựng, thí chủ sẽ vượt qua nó”. Hành giả lại nói : “ Tôi không thể cố gắng hơn được nữa. Đúng là tôi đã đánh giá quá cao về bản thân mình”. Sau đó, hành giả này đã trở về nhà. Tuy nhiên, 10 ngày sau bà lại đến trung tâm thiền để tham gia công tác phục vụ và tiếp tục thực hành thiền. Bà đã có sự tiến bộ trong Giáo Pháp. Có một vài hành giả đã từng 2 hay 3 lần quay trở lại với trung tâm thiền, mặc dù các thiền sư đã khuyên họ không nên làm như vậy. “ Khi đã gặt hái được kiến thức về trạng thái thanh thản – Sankhārupekkhā Ñāna, bạn sẽ cảm thấy thỏa thích trong Giáo Pháp và không muốn trở về nhà nữa”. Một vài hành giả đã tự ý trở về nhà riêng của họ mà không thông báo cho các vị thiền sư biết. Tuy nhiên, sau một tuần họ đã trở lại với trung tâm vì không còn thích nghi được với cuộc sống ở nhà nữa. Một hành giả đã trình Pháp như sau : “ Bạch Đại Đức ! Tôi ngại rằng mình sẽ bị xáo động tâm trí, tôi sẽ thực hành chú ý bằng cách nào đây?” Bậc Trưởng thượng đã nói với hành giả này rằng : “ Thí chủ chỉ cần chú ý và niệm thầm trong tâm mình : Tôi đang ngại sẽ bị xáo động tâm trí, tôi đang ngại sẽ bị xáo động tâm trí…”

Sau đó, hành giả này đã thực hành chú ý đúng theo sự chỉ dẫn của thiền sư và nói rằng bà không còn bị khổ sở bởi trạng thái rối loạn tinh thần nữa. Những trạng thái khổ sở về thân xác như đau, nhức, ngứa ngáy…thường xuất hiện không rõ ràng cho lắm. Ngược lại, những trạng thái khổ sở về tinh thần lại thường xuất hiện khá rõ ràng. Hành giả chỉ nên chú ý đến những đối tượng đang hiện khởi một cách rõ ràng. Họ không nên chú ý đến những đối tượng mà sự xuất hiện của chúng không được rõ ràng và khó nhận biết, nếu làm như vậy thì tiến trình thực hành thiền của họ sẽ không có sự tiến bộ.

Với sự chú ý liên tục, một hành giả nào đó sẽ gặt hái được kiến thức về sự bình thản – Sankhārupekkhā Ñāna. Khi đã đạt tới trạng thái nội quán này, hành giả sẽ cảm thấy rất thanh thản và dễ chịu. Ngài Mahāsī đã sáng tác một đoạn Kệ ngắn nhằm mục đích giúp cho những người đang lắng nghe Giáo Pháp và các thế hệ mai sau có thể lãnh hội Giáo Pháp một cách rõ ràng, cũng như có thể thực hành Giáo Pháp một cách đúng đắn.

Tóm tắt: Thoát khỏi sợ hãi, xem khổ đau hay hạnh phúc cũng như nhau, quán niệm 3 tướng vô thường, khổ và vô ngã với một tâm trí thanh thản.

Trong Sankhārupekkhā Ñāna, hành giả sẽ không còn cảm thấy e ngại những điều kiện bất tiện trong cõi thế gian cũng như xuất thế gian. Anh ta sẽ không còn cảm thấy phấn chấn khi bắt gặp những đối tượng dễ chịu. Hành giả sẽ có được một tâm lý vững vàng khi đối diện với những đối tượng bất kỳ nào đó, dù chúng là dễ chịu hay khó chịu. Anh ta sẽ có quan điểm luôn luôn bình thản trước khổ đau hay hạnh phúc. Đó là lý do tại sao việc chú ý của hành giả đã trở nên dễ dàng và thuận tiện. Các tiến trình phồng xẹp lên xuống của bụng sẽ xuất hiện trong nhận thức của hành giả một cách rõ ràng và trôi chảy, sự chú ý của hành giả đến những tiến trình này cũng trở nên mạnh mẽ và hiệu quả. Khi năng lực chú ý đã trở nên tự động, hành giả chỉ cần ngồi và thực hành sự chú ý một cách dễ dàng, không cần phải nổ lực gì cả. Vì vậy, anh ta đã gặt hái được hạnh phúc. Tại một trung tâm thiền có một hành giả đã thực hành thiền được 3 năm. Khi được hỏi về sự trải nghiệm cá nhân có liên quan đến những lợi ích của thiền minh sát, hành giả này đã trả lời như sau : “ Trước đây khi chưa thực hành thiền minh sát, tôi rất ngại ngủ một mình. Bây giờ chuyện đó không còn là một vấn đề đối với tôi nữa”. Như vậy lợi ích của thiền minh sát là rõ ràng và rất dễ nhận thấy khi người ta đã có khả năng vững vàng để đối diện với những thăng trầm của cuộc sống. Câu tóm tắt dưới đây sẽ nói về những đặc tính chứa đựng nhiều ý nghĩa của Sankhārūpekkhā Ñāna :

Tóm tắt: Sự quán niệm của hành giả sẽ được liên tục và trôi chảy trong một khoảng thời gian dài, tâm trí không bị lang thang vô định, năng lực nhận thức Giáo Pháp ngày càng tinh tế. Đây là 3 đặc tính có nhiều ý nghĩa của Sankhārūpekkhā.      

Sự chú ý của hành giả sẽ luôn luôn được liên tục, mặc dù anh ta đang ở trong tư thế ngồi, nằm hay nhiều tư thế khác. Nó cũng sẽ trở nên vi tế đến mức hành giả không thể diễn đạt hay giải thích cho người khác hiểu. Hành giả sẽ nhận thấy rằng thân xác của anh ta đã trở nên rất nhẹ nhàng như thể anh ta đang ngồi trên một làn hơi.  Sự chú ý của hành giả sẽ luôn luôn gắn chặt trên đối tượng quan sát. Mặc dù hành giả cố gắng hướng tâm trí của mình đến những đối tượng quan sát khác ( có thể là tốt hoặc xấu), nhưng sự chú ý của anh ta vẫn an trú trên hoạt động phồng xẹp lên xuống của bụng. Hành giả không bao giờ có khả năng chịu đựng những thăng trầm của cuộc sống một cách vững vàng khi chưa lãnh hội được chân lý. Điều này có nghĩa là anh ta vẫn bị chôn vùi trong vô minh. Hành giả sẽ tiến đến chỗ nhận biết được đúng là đúng và sai là sai khi màn đêm vô minh đang bao phủ anh ta bị xuyên thủng. Năng lực chú ý liên tục sẽ dẫn đến sự chín muồi của Sankhārūpekkhā Ñāna. Năng lực nội quán của hành giả cũng đã trở nên sắc bén. Tiếp đến là trạng thái nội quán có tên kiến thức về sự thích nghi - Anuloma Ñāna. Trạng thái nội quán này sẽ giúp hành giả tiếp cận và thích nghi với Đạo quả. Kiến thức về trạng thái chín muồi của nhận thức – Gotrabhu Ñāna là một trạng thái nội quán có thể giúp cho hành giả loại bỏ hoàn toàn những thứ ô nhiễm trong tâm trí. Nó dập tắt tất cả những hiện tượng vật chất và tinh thần có thể xuất hiện trong tâm thức của hành giả. Trạng thái nội quán này thường xuất hiện ngay sau khi hành giả đã gặt hái được Anuloma Ñāna. Khi kiến thức về con đường hiểu biết của Tu-Đà-Hườn – Sotāpattimagga Ñāna hiện khởi trong tâm thức của hành giả thì màn đêm vô minh sẽ bị xuyên thủng, tương tự như vỏ trứng gà đã bị chú gà con nhỏ xíu nằm bên trong phá vỡ. “ Chất nhầy tham ái” đã khô cạn và hành giả sẽ có khả năng nhận thức được Niết Bàn trong vòng tối đa là 7 kiếp sống kế tiếp trong luân hồi. Đạo quả Tu-Đà-Hườn sẽ bất chợt khởi lên trong tâm thức của hành giả một cách ngay lập tức với một khoảng thời gian còn nhanh hơn một khoảnh khắc tư duy. Vô minh giống như vỏ trứng gà đã bị xuyên thủng hoàn toàn, “ chất nhầy tham ái” đã khô cạn đến mức tận cùng.

Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp có tựa đề “ ví von như sự phá vỡ vỏ trứng”, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành đúng theo những lời giáo huấn của Đức Phật. Với tâm siêng năng cần mẫn và thanh thản trong quán niệm, cầu chúc cho tất cả quí vị nhanh chóng nhận thức được Niết Bàn mong muốn, đoạn tận với tất cả những nổi khồ đau. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !   

 

 

                                   Kinh Giới Bổn – Sīla Sutta

 

Sīla nghĩa là sự kiêng cữ thuộc về thân xáctinh thần. Sutta nghĩa là sự giải thích. Kinh này được soạn ra để giải thích về sự quan sát và giữ gìn Giới luật. Khi đang đồng trú cùng các Tỳ kheo, một ngày nọ Tôn giả Xá-Lợi-Phất ( Asin Sāriputta) đã giải thích về cách thức giữ gìn Giới luật cho họ hiểu. “ Hỡi các Tỳ kheo ! Hậu quả của việc phạm Giới là năng lực định tâm sẽ bị phá hủy. Tiếp đến là không có khả năng phát triển trí tuệ để nhận thức thực tại, chân lý về tất cả sự hình thành cuộc sống. Nếu một người nào đó không quan tâm đến tất cả những gì đã và đang tạo nên sự sống thì người đó sẽ không có cơ hội để loại bỏ tham ái. Vì vậy, sự hiểu biết về Đạo quả thông qua trí tuệ sẽ không bao giờ được thiết lập trong nhận thức của anh ta. Do chưa có khả năng quán niệm về quá khứ, người ta sẽ không bao giờ gặt hái được kiến thức về sự giải thoát. Cuối cùng, khi Giới luật bị phá vỡ thì chắc chắn sẽ không có sự gặt hái Giáo Pháp. Tôn giả Xá-Lợi-Phất là người đã nắm giữ danh hiệu cao nhất về trí tuệ trong Tăng đoàn của Đức Phật. Ngài đã truyền bá rằng, cách thức giữ Giới tương tự như màu trắng đối chọi lại với màu đen. Vì vậy, Ngài là một người rất nổi tiếng. Ngài nói rằng : “ Khi một người nào đó có khả năng giữ gìn Giới luật thì năng lực định tâm của anh ta sẽ phát triển. Điều đó sẽ khiến cho anh ta gia tăng khả năng thiết lập trí tuệ. Thông qua trí tuệ, anh ta sẽ nhận thức được chân lý về sự hình thành cuộc sống. Vì vậy, năng lực quán niệm về trạng thái nhàm chán đối với cuộc sống sẽ xuất hiện. Tiếp đến, tâm tham ái sẽ bị loại bỏ. Từ đó, người ta sẽ gặt hái được Đạo Pháp rồi dẫn đến Đạo quả và giải thoát thông qua trí tuệ. Cuối cùng, kiến thức về sự nhìn lại quá khứ  ( Paccavekkhāna Ñāna) sẽ được thiết lập. Theo cách này, năng lực giữ Giới một cách liên tục sẽ khiến cho trí tuệ phát triển từ trạng thái này sang trạng thái khác”. Đây chính là phương pháp giữ gìn Giới luật mà Tôn giả Xá-Lợi-Phất đã truyền bá trong Kinh Giới Bổn ( Sīla Sutta). Theo truyền thống Phật Giáo, phương pháp giữ gìn Giới luật của Ngài Xá-Lợi-Phất cũng được xem như là lời giáo huấn của Đức Phật. Kiến thức về sự nhìn lại quá khứ là một kết quả. Vì vậy, nó không thể thúc đẩy trạng thái phát triển trí tuệ. Giới là nền tảng của Giáo pháp dẫn đến việc gặt hái được Đạo quả và kiến thức về sự nhìn lại quá khứ. Do sự hướng dẫn của cha mẹ và thầy cô giáo, chắc chắn những người lắng nghe Giáo Pháp cũng đã từng quan sát và giữ gìn 5 Giới khi họ còn thơ ấu. Đối với tất cả những người mong muốn gặt hái được Đạo quả và kiến thức về sự nhìn lại quá khứ, có 4 cách giữ Giới. Kinh Giới Bổn Tỳ Kheo – Pātimokkhasamvara Sīla là bài Kinh căn bản làm nền tảng cho việc thực hành giữ Giới.

Bốn cách giữ Giới

1. Pātimokkhasamvara Sīla là sự gìn giữ những Giới luật. Những Tỳ kheo phải quan sát và tuân giữ tất cả 227 Giới. Trong khi đó, những người thế tục chỉ cần quan sát và tuân giữ 5, 8, 9 hay 10 Giới.

2. Indriyasamvara Sīla là sự thu thúc và làm chủ 6 giác quan. Đa số những người thực hành giữ Giới theo cách này đều nhận thấy khó khăn và rất dễ bị phạm Giới. Tuy nhiên, đây là cách thức giữ Giới mang lại nhiều lợi ích nhất khi bạn có khả năng thực hành nó một cách đúng đắn. Khi tình cờ nhìn thấy một cảnh tượng hay một người nào đó, chúng ta cần phải biết cách thu thúc và làm chủ thị giác của chính mình. Theo cách ấy, khi tai tình cờ nghe thấy một âm thanh hay tiếng động nào đó, bạn cần phải biết cách thu thúc và làm chủ thính giác. Khi mũi tình cờ ngửi thấy một mùi thơm, bạn cần thu thúc và làm chủ khứu giác, khi lưỡi tình cờ nếm thấy một vị ngon hay dở thì cần phải thu thúc và làm chủ vị giác, khi thân thể đang xúc chạm cần phải thu thúc và làm chủ xúc giác, khi tâm trí suy nghĩ một điều gì cần phải thu thúc và làm chủ tâm ý. Khi tham ái và buồn khổ đang khởi lên, nếu bạn có khả năng làm chủ các giác quan một cách thuần thục thì cái ác và những hành động bất thiện sẽ không có cơ hội để xuất hiện. Đây là cách giữ Giới mà trong đó khả năng chú ý chiếm ưu thế và đóng vai trò quan trọng nhất.

Hành giả cần phải thực hành sự chú ý để thu thúc và làm chủ các giác quan, đặc biệt cần chú ý đến tham lam và sân hận để loại bỏ chúng khi các giác quan tiếp xúc với lục trần ( gồm có sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp). Chúng ta làm cách nào để bảo vệ các giác quan ? Tham lam sẽ khởi lên khi mắt của bạn tiếp xúc với một cảnh tượng dễ chịu và ngoạn mục, sân hận sẽ khởi lên khi cảnh tượng ấy là bất như ý đối với bạn. Khi mắt không được bảo vệ, nó rất khó kiềm chế trước các đối tượng của thị giác. Khi mắt nhìn thấy mọi vật, chúng ta cần phải được thu thúc và làm chủ nó để nó có thể nhìn một cách thuần túy, nghĩa là hành giả chỉ nên nhìn sự vật một cách đơn thuần và không xử dụng ý kiến phán xét của cá nhân để can thiệp vào tiến trình đang xảy ra của trạng thái nhìn, ví dụ như khen một hình ảnh đẹp, chê một hình ảnh xấu, khởi tâm sợ hãi khi nhìn thấy một cảnh tượng hãi hùng… Nếu chưa có khả năng nhìn một cách thuần túy thì tốt hơn hết là đừng nhìn gì cả. Tôn giả Kaccàyana đã từng khuyên các Tỳ kheo rằng “ các ông cứ làm như thể mình bị mù, mặc dù các ông không phải là những người mù. Khi từng cờ nghe thấy một âm thanh nào đó, các ông hãy cố gắng nghe như thể nó chỉ là một âm thanh thuần túy thay vì quán niệm “ đây là tiếng của một người đàn ông, đây là tiếng chim hót”... Các ông cứ làm như thể mình bị điếc vậy”. Tôn giả Kaccàyana là người đã sở hữu danh hiệu cao quí về khả năng giải thích những bài Pháp tóm tắt của Đức Phật một cách tinh tế và công phu. Chúng ta có nên nghe theo lời khuyên của Tôn giả không ? Câu trả lời là có. Bằng cách làm như vậy, chúng ta sẽ gặt hái được phước báu. Chúng ta nên chú ý một cách thuần túy khi khứu giác tình cờ ngửi thấy một mùi nào đó, ăn một cách thuần túy khi lưỡi nếm thấy một vị nào đó, nhận biết cảm giác xúc chạm một cách thuần túy. Theo cách này, chắc chắn hành giả sẽ gặt hái được Đạo quả. Trong việc thực hành thiền minh sát, thu thúc và làm chủ các giác quan là một nhân tố quan trọng nhất. Năng lực định tâm không thể phát triển được nếu các giác quan không được thu thúc và làm chủ. Nói cách khác, nếu Indriyasamvara Sīla không được người ta quan sát và thực hành một cách đúng đắn thì trạng thái định tâm sẽ không bao giờ được thiết lập.

3. Ājīvapārisuddha Sīla là cách thức giữ Giới có thể làm cho Chánh mạng được tinh khiết. Theo cách giữ Giới này, các Tỳ kheo không thực hành Chánh mạng bằng những đường lối không thích hợp với một tu sĩ Phật giáo. Những Tỳ kheo được phép thọ dụng tứ vật dụng ( gồm vật thực, y phục, chỗ ở và thuốc men chữa bệnh) bằng cách giáo huấn và truyền bá Phật pháp, đi khất thực để nuôi mạng. Một người thế tục thực hành Chánh mạng bằng cách kiêng cữ 3 loại hành động bất thiện thuộc về thân xác ( gồm sát sanh, trộm cắp và tà dâm), 4 loại hành động bất thiện thuộc về lời nói ( gồm nói dối, nói lời bất hòa gây chia rẽ, nói lời lăng mạ và de dọa, nói lời nhảm nhí và vô nghĩa).

4. Paccaya – sannissita là cách giữ Giới có liên quan đến tứ vật dụng.

Khi đang thọ dụng tứ vật dụng, các Tỳ kheo cần phải có quan kiến đúng đắn trong sự nhận thức về những thứ mà mình đang thọ dụng. Một Tỳ kheo nên thọ dụng y phục của mình bằng cách quán niệm rằng “ y phục chỉ là một phương tiện thuần túy dùng để bảo vệ thân thể trước cái lạnh và nóng của thời tiết, vật thực kiếm được không phải là thứ dùng để tận hưởng những cảm giác dễ chịu. Vị Tỳ kheo thọ dụng vật thực nhằm mục đích sống còn để thực hành Phật Pháp chứ không phải để tìm kiếm sức mạnh và sự chịu đựng giống như một võ sĩ, cũng như không phải để tìm kiếm một thân thể xinh đẹp, dẻo dai và mềm mại như một vũ công. Với tâm quán niệm sáng suốt, vị Tỳ kheo xử dụng chỗ ở của mình một cách thuần túy như là một phương tiện dùng để chống chọi với các hiện tượng bất tiện của thời tiết như nắng, mưa, lụt lội và bão tố…khi phải sống một mình. Ông ta cũng thọ dụng các loại thuốc men cần thiết một cách thuần túy như là một phương tiện dùng để trị bệnh. Có thể trong một khoản thời gian ngắn, những người thực hành thiền minh sát chưa có khả năng thực hành hết những đề mục vừa nêu trong Giới này. Tuy nhiên, họ nên thực hành quán niệm một cách sáng suốt nhằm mục đích thuận lợi trong việc thực hành thiền minh sát và tâm niệm rằng “ chúng tôi xử dụng những loại vật thực đa dạng này nhằm mục đích sống còn để có thể thực hành Phật Pháp và gặt hái được hạnh phúc trong thân tâm”. Thiếu sáng suốt và không thành thật trong quán niệm thì không thể gọi là thực hành giữ Giới có liên quan đến vật thực. Tôn giả Xá-Lợi- Phất đã nói :

 “ Những hành giả quan sát và thực hành một cách siêng năng cần mẫn theo 4 cách giữ Giới căn bản chắc chắn sẽ gặt hái được trạng thái định tâm. Lời nói này quả là thành thật và giàu tính khoa học. Hoàn thiện được 4 cách giữ Giới căn bản là đã thiết lập được một nền tảng cho việc gặt hái Giáo Pháp. Niềm tin chiếm ưu thế và đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn Giới luật nói chung. Trong thế giới trần tục, hát hay lắng nghe một bài hát, chơi các loại nhạc cụ, xử dụng vật thực sau giờ ngọ ( bắt đầu từ 11h đến 13h) không bị xem là vi phạm Giới luật. Không có một người thế tục nào bị khiển trách hay bắt lỗi vì đã có những hành động như vừa nói. Tuy nhiên, Đức Phật đã từng khuyên các hành giả rằng “ trong Tăng đoàn của Ngài, những hành động như vậy bị ngăn cấm”. Nếu tuân theo những lời giáo huấn của Đức Phật, bạn nên quan sát và thực hành giữ Giới để gặt hái được lợi ích. Lời giáo huấn của Đức Phật đã chỉ ra cho chúng ta một niềm tin trong việc giữ gìn Giới luật này.

Tóm tắt: Trong Pātimokkha Sīla, niềm tin thật sự chiếm ưu thế và đóng một vai trò quan trọng nhất.

Trong khi đó, năng lực chú ý lại chiếm ưu thế và đóng vai trò quan trọng trong Indriyasamvara Sīla như  : Chú ý để có thể thấy một cách thuần túy, chú ý để có thể nghe một cách thuần túy, chú ý để có thể ngửi một cách thuần túy, chú ý để có thể nhận biết cảm giác xúc chạm một cách thuần túy….Như vậy, những hành giả sẽ có khả năng giữ Giới theo cách này chỉ khi họ đã có năng lực chú ý tốt.

Tóm tắt:Trong Indriya Sīla, năng lực chú ý thật sự chiếm ưu thế và đóng một vai trò quan trọng nhất.             

Trong Ājīvaparisuddha Sīla, năng lực tinh tấn chiếm ưu thế và đóng một vai trò quan trọng. Việc làm Giới luật trong bạn được tinh khiết tùy thuộc vào năng lực riêng của từng người. Tuy nhiên, nó không thể tùy thuộc vào những phương tiện kiếm sống bất thiện và phi pháp.

Tóm tắt: Trong Ājīvaparisuddha Sīla, năng lực tinh tấn thật sự chiếm ưu thế và đóng một vai trò quan trọng nhất.

Trong Paccaya-sannissita Sīla, trí tuệ chiếm ưu thế và đóng một vài trò quan trọng. Trong quá trình thực hành Giới này, hành giả chủ yếu xử dụng trí tuệ để quán niệm rằng “ tứ vật dụng là những phương tiện thuần túy để duy trì mạng sống”.

Tóm tắt: Trong Paccaya-sannissita Sīla, trí tuệ thật sự chiếm ưu thế và đóng một vai trò quan trọng nhất.

Hai kiểu định tâm

Trạng thái định tâm sẽ trở nên mạnh mẽ khi hành giả có quan sát và thực hành theo Indriyasamvara Sīla. Có 2 kiểu định tâm : Samātha concentration ( trạng tháiđịnh tâm trong thiền định) và Vipassanā Concentration ( trạng thái định tâm trong thiền quán )

1. Kiểu định tâm trong thiền định phát triển qua quá trình thực hành thiền định. Ngày nay, kiểu thực hành để gặt hái trạng thái định tâm theo cách này đã không còn phổ biến, kể từ khi nó được biết như là một kiểu tu tập làm mất nhiều thời gian hơn so với tu tập thiền quán.

2. Định tâm trong thiền quán là “ kiểu định tâm nhất thời” có được bằng cách thực hành sự chú ý đến “tiến trình đang khởi lên và tan hoại của các sự vật hay hiện tượng”, kể từ khi tiến trình trở thành của vạn hữu bắt đầu khởi lên cho đến khi chúng đã biến mất hẳn. Ví dụ, hành giả tìm kiếm năng lực định tâm bằng thiền quán sẽ thực hành sự chú ý đến hoạt động phồng xẹp lên xuống của bụng, kể từ khi bụng bắt đầu phồng lên cho đến khi đã xẹp hẳn…Tương tự, tâm trí của hành giả cũng phải an trú liên tục trên “ hành động đang ngồi xuống của chính mình”. Nói chính xác hơn, hành giả phải liên tục chú ý đến “ sự chuyển động đang ngồi xuống” của anh ta. Đối với “ tiến trình đang xúc chạm của thân thể” , hành giả cũng thực hành sự chú ý theo kiểu trên. Theo trình tự tu tập để ngăn chặn trạng thái lang thang lơ đễnh của tâm trí, hành giả phải ra sức nổ lực một cách mãnh liệt. Trong thiền hành ( thực hành thiền khi đang đi bộ), hành giả phát triển năng lực định tâm nhất thời bằng cách thực hành sự chú ý một cách liên tục lên các “ tiến trình đang dở chân lên” , “ tiến trình đang bước tới” “ tiến trình đang đặt chân xuống”, kể từ khi các tiến trình này bắt đầu khởi lên cho đến khi đã chấm dứt hẳn. Năng lực định tâm có được từ thiền quán cũng tốt đẹp như năng lực định tâm có được từ thiền định. Năng lực định tâm sẽ trở nên mạnh mẽ khi sự chú ý được thực hiện một cách liên tục. Ngài Đại Đức Mahàsi đã từng so sánh giai đoạn đầu khi mới gặt hái được Udayabbaya trong thiền quán với bậc thứ hai trong thiền định ( tức nhị thiền), sự chín muồi của Udayabbaya trong thiền quán tương đương với bậc thứ ba trong thiền định ( tức tam thiền), Sankhārūpekkha trong thiền quán tương đương với bậc thiền thứ tư trong thiền định  (tức tứ thiền). Đó là lý do tại sao Ngài đã khuyên mọi người nên thực hành thiền quán. Nếu chưa có khả năng định tâm, có thể hành giả sẽ suy nghĩ nhiều về tuệ minh sát. Điều này sẽ khiến cho việc tu tập của hành giả bị đình trệ. Trong lúc đang thực hành thiền quán, hành giả không thể gặt hái được trạng thái định tâm bằng cách quán rằng :  “ Đây là vật chất mà tôi đang chú ý” hay “ Đây là tinh thần mà tôi đang chú ý”…Tôn giả Xá-Lợi-Phất đã từng chỉ ra rằng tuệ minh sát chỉ phát triển khi có trạng thái định tâm. Các bậc Trưởng thượng ngày xưa cũng đã từng giáo huấn như vậy. Sự hiểu biết về chân lý hình thành vạn hữu sẽ được thiết lập khi năng lực định tâm đã trở nên mạnh mẽ. Trong thiền tọa, nếu bạn đột ngột đứng dậy sau khi đã tọa thiền với đôi mắt không được thu thúc và làm chủ, năng lực định tâm đã thu được có thể bị phá hủy. Năng lực làm chủ được các giác quan là nhân tố cốt tủy trong việc thiết lập trạng thái định tâm. Ngày xưa, các vị thiền sư thường khuyên những hành giả nên xử dụng khăn trùm kín đầu để khỏi nhìn thấy bất cứ cái gì khác, ngoài việc tập trung chú ý. Ngày nay, những người lắng nghe Giáo pháp đã học được cách thực hành để phát triển trạng thái định tâm. Vì vậy, việc xử dụng khăn trùm kín đầu khi đang thực hành thiền không còn cần thiết nữa.

Yathābhūta ñāna dassana

 Yathābhūta ñāna dassana  là trạng thái nội quán mà ở đó hành giả sẽ gặt hái được sự hiểu biết về chân lý hình thành của vạn hữu. Trạng thái nội quán này gồm có :

1. Nāmarūpa paraccheda Ñāna – Kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Mặt khác, các bậc thầy chú giải Kinh Điển lại xem nó như là kiến thức về sự cấu thành vạn hữu.

2. Paccaya pariggaha Ñāna -  Kiến thức về nhân quả. Loại kiến thức này có thể giúp cho hành giả xóa tan những mối hoài nghi có liên quan đến niềm tin rằng “ thân thể của người ta chỉ được cấu thành bởi tinh thần và vật chất, ngoài ra không còn gì khác nữa”.  

3. Sammasana Ñāna – Kiến thức về vô thường, khổvô ngã. Hành giả sẽ gặt hái được loại kiến thức này nhờ có thực hành quán niệm.

4. Udayabbaya Ñāna – Kiến thức về sự trở thành và tan hoại của vạn hữu.

Hành giả phải thực hành thiền để gặt hái được Yathābhūta ñāna dassana.

Nói cách khác, hành giả cần phải nhận thức được chân lý về sự hình thành của vạn hữu bằng cách phát triển sự hiểu biết đúng đắn về tinh thần và vật chất, kiến thức về nhân quả, kiến thức về 3 tướng vô thường, khổ và vô ngã chứa đựng trong lòng vạn hữu, kiến thức về trạng thái trở thành và tan hoại của vạn hũu. Đây là một trạng thái nội quán mà ở đó tuệ minh sát đang còn yếu ớt, vì vậy hành giả cần phải luôn luôn có nhiều nổ lực trong thực hành quán niệm. Theo sự hướng dẫn của Ngài Mahāsī, sau 2 hoặc 3 ngày thực hành thiền minh sát, năng lực lực định tâm nhất thời đã được thiết lập, hành giả sẽ gặt hái được sự hiểu biết đúng đắn về tinh thần và vật chất. Trong giai đoạn đầu khi mới gặt hái được sự hiểu biết này, hành giả sẽ nghĩ rằng đúng là bụng của anh ta đang phồng xẹp lên xuống. Anh ta cũng nghĩ rằng chính mình là người đang chú ý đến tiến trình phồng xẹp lên xuống đó. Trong giai đoạn này hành giả cứ tưởng rằng tinh thần và vật chất là một thực thể không sai khác. Tuy nhiên, khi năng lực định tâm đã phát triển và gặt hái được tuệ minh sát, hành giả bắt đầu nhận thức được rằng “hành động phồng xẹp lên xuống của bụng”, “ hành động đang ngồi”, “ hành động đang xúc chạm”… là hoàn toàn tách biệt với “sự chú ý của tâm trí”. Nói cách khác, “ hành động đang phồng lên của bụng” là một thành phần, sự chú ý của tâm trí là một thành phần khác. Theo cách này, hành giả sẽ nhận thức được rằng “ sự nhận thức của tâm trí chính là tinh thần”, “ thân thể vật chất hoàn toàn không có sự nhận thức”. Từ đó, trí tuệ của hành giả sẽ trở nên sắc bén hơn. Sau khi đã thực hành thiền minh sát được 4 hoặc 5 ngày, hành giả sẽ gặt hái được Nāmarūpa pariccheda Ñāna ( kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất). Một hành giả ngoại quốc đã từng nói rằng : “ Lúc ban đầu tôi cứ tưởng rằng chỉ có một người đang ngồi thiền. Tuy nhiên, sau đó tôi lại nhận thấy rằng có một người khác đang chú ý đến hành động ngồi”. Hành giả này muốn nói rằng “ người đang ngồi” là khác biệt với “ người đang chú ý”. Theo cách hiểu này, hành giả nói trên đã gặt hái được Nāmarūpa pariccheda Ñāna và đã vượt qua được những mối hoài nghi của chính anh ta về vật chất và tinh thần. Do có những hoạt động như “ phồng xẹp lên xuống của bụng”, “ đang ngồi”, “ đang xúc chạm”…hành giả mới có thể thực hiện được sự chú ý. Do đó, “ hoạt động đang phồng xẹp của bụng”, “ hoạt động đang ngồi” , “ hoạt động đang xúc chạm”… chính là những nguyên nhân, sự chú ý của tâm trí chính là kết quả của “ những hoạt động này”. Một hành giả với trí tuệ sắc bén sẽ nhận thức được một cách rõ ràng về nguyên nhân và kết quả. Nói cách khác, anh ta đã gặt hái được Paccaya pariggaha ñāna ( kiến thức về nhân quả). Dần dần qua tiến trình thực hành quán niệm, hoạt động phồng xẹp lên xuống của bụng sẽ trở nên vi tế rất khó nhận biết. Do đó, sự chú ý của tâm trí của hành giả cũng không còn xuất hiện nữa. Thậm chí, “ hoạt động phồng lên hay xẹp xuống của bụng” sẽ không xuất hiện một cách rõ ràng tại một vị trí cố định nào cả. Thỉnh thoảng, chúng xuất hiện ở 2 bên sườn của hành giả, có khi lại xuất hiện ở lưng, khi khác lại xuất hiện trên cánh tay hay trên đỉnh đầu. Những lúc đó, hành giả sẽ không còn nhận thấy chúng xuất hiện trên bụng nữa. Điều này có thể khiến cho hành giả cảm thấy bối rối, không biết phải thực hành sự chú ý như thế nào nữa. Vì vậy, hành giả nên thực hành sự chú ý đến những đối tượng nào mà họ có thể nhận biết được chúng một cách rõ ràng. Tiếp đến, hành giả sẽ gặt hái được kiến thức về nhân quả. Lúc đó, anh ta sẽ tin chắc rằng ngoài tinh thần và vật chất ra, thân thể người ta không còn chứa đựng một cái gì khác”. Hành giả cũng sẽ nhận thức được rằng không hề có Đấng Sáng Tạo. Điều này cũng có nghĩa là anh ta đã thoát khỏi niềm tin rằng vạn hữu tự nhiên mà có ( Ahetuka Diţţhi). Anh ta cũng thoát khỏi Thuyết Sáng Tạo

( Visama Diţţhi) phi lý. Nếu Đấng Sáng Tạo với ý định thiện lành thì Ngài đã tạo ra trạng thái bình đẳng trong muôn loài. Tuy nhiên trong thực tế, có người lại sở hữu những phẩm chất tuyệt vời như có diện mạo xinh đẹp, giàu có và hạnh phúc, sức khỏe tốt… Một số khác lại có diện mạo xấu xí, nghèo khổ và bất hạnh, sức khỏe kém… Như vậy, rõ ràng theo thuyết nhân quả thì ở đây, nguyên nhân ( Đấng sáng tạo) và kết quả ( những phẩm chất khác biệt nhau giữa muôn loài) là không thích hợp với nhau. Khi đã hiểu được trạng thái bất bình đẳng giữa muôn loài, hành giả sẽ thoát khỏi ảnh hưởng của những quan điểm lầm lạc. Có niềm tin vào thuyết nhân quả tức là đã có Chánh kiếnSammā Diţţhi. Trong trạng thái nội quán được gọi là kiến thức lãnh hộiSammāsana Ñāna, hành giả sẽ trải nghiệm nhiều kiểu đau khổ khác nhau như : “ Cảm giác đau, nhức, tê cóng, chóng mặt, trạng thái thân thể bị đong đưa như đánh võng, cảm thấy tù túng… Có thể hành giả sẽ cảm thấy tức ngực, khó thở, thậm chí bị ngẹt thở. Do đó, thông qua quán niệm, hành giả sẽ nhận thức được rằng thân thể của chính anh ta đúng là một đống khổ đau. Thậm chí, hành giả còn nhận thấy rằng đống khổ đau  đó luôn luôn thay đổi một cách liên tục. Ngay bây giờ, thân thể của hành giả đang bị đong đưa như đóng võng, tuy nhiên  chỉ một khoảnh khắc sau đó, nó đã chuyển sang bị đau, một khoảnh khắc sau nữa nó lại chuyển sang bị tê cóng…Từ đó, hành giả sẽ nhận thức được tính vô thường ( Anicca – Impermanent) của thân xác. Những trạng thái liên tục thay đổi của thân thể sẽ khiến cho hành giả cảm thấy khổ sở, dằn vặt…Đây chính là khổ ( Dukkha – Suffering). Trước đó, hành giả đã đến với trung tâm thiền để thực hành thiền với tâm mong muốn gặt hái được Giáo Pháp chứ không phải là mong muốn đau khổ. Tuy nhiên, bây giờ những gì mà anh ta đã trải nghiệm là không đúng như mơ ước của chính mình. Những trạng thái khổ sở nói trên xảy đến với hành giả theo cách riêng của chúng. Vì vậy, chúng chính là vô ngã ( Anatta – No self ) hay không thể điều khiển được ( Uncotrollable). Hành giả sẽ lãnh hội được 3 tướng vô thường, khổvô ngã chứa đựng trong lòng vạn hữu bằng cách thực hành quán niệm. Nói cách khác, anh ta đã gặt hái được kiến thức lãnh hội – Sammāsana Ñāna. Trong giai đoạn đầu khi mới gặt hái được kiến thức về trạng thái trở thành và tan hoại của các hiện tượng – Udayabbaya Ñāna, tiến trình trở thành và tan hoại của vạn hữu chưa xuất hiện một cách rõ ràng trong tâm thức của hành giả. Tuy nhiên, cảm giác đau nhức và khổ sở đã giảm bớt rõ rệt. Hành giả sẽ trải nghiệm rằng, thân tâm của chính mình đã trở nên thanh thản, nhẹ nhàng và vi tế. Trong Sammasana Ñāna, hành giả sẽ tìm thấy nhiều khiếm khuyết khác của bản thân. Tuy nhiên, anh ta vẫn chưa hiểu được những khiếm khuyết này một cách rõ ràng. Vì vậy, hành giả rất dễ nổi giận và có thể có những hành động khiếm nhã với người khác. Thậm chí, đối với các vị thiền sư, anh ta cũng không chịu nghe lời và tỏ ra thiếu sự tôn kính. Lúc đó, hành giả có thể nói với thiền sư của mình rằng :  “ Trước đây tôi không phải là người nóng tính nhưng bây giờ tính khí của tôi thật là bốc đồng”. Tuy nhiên, vị thiền sư đang hướng dẫn cho hành giả vẫn sẽ trả lời anh ta một cách kiên nhẫn : “ Thí chủ bị rơi vào tình trạng như vậy là do thí chủ đã nhận thức được tính nóng giận của chính mình một cách sâu sắc hơn qua quá trình thực hành thiền”. Trong Udayabbaya Ñāna, thân tâm của hành giả đã trở nên thuần thục và dễ uốn nắn. Hành giả đã có thể ngồi thiền liên tục trong 2 hay 3 giờ đồng hồ mà không cần phải thay đổi tư thế. Trước đây, anh ta chưa có khả năng như vậy. Nói cách khác, khi đang còn trú trong những trạng thái nội quán thấp hơn, chỉ trong vòng một giờ đồng hồ thực hành thiền, hành giả đã nhiều lần thay đổi tư thế. Tuy nhiên, khi đã gặt hái được Udayabbaya Ñāna, anh ta đã có khả năng ngồi thiền liên tục trong 2, 3, 4 hay 5 giờ đồng hồ. Khi đang còn trú trong những trạng thái nội quán thấp hơn, hành giả phải tự nổ lực để thực hành sự chú ý. Khi đã gặt hái được Udayabbaya Ñāna, sự chú ý của hành giả đã trở nên tự động thiết lập trên đối tượng quan sát, anh ta không cần phải nổ lực gì cả. Như vậy, sự hiểu biết về chân lý hình thành của vạn hữu đã được thiết lập trong tâm thức của hành giả.

Balavant Vipassanā Ñāna

Tiếp đến, khi đã gặt hái được kiến thức chiêm nghiệm về trạng thái ghét bỏ - Nibbhida Ñāna, năng lực quán niệm của hành giả lại trở nên yếu ớt. Tôn giả Xá-Lợi-Phất đã giải thích về Nibbhida Ñāna và sự dập tắt tham dục bằng cách quán niệm ( Virāga). Đồng phát khởi với Nibbhida Ñāna là Balavant vipassanā ñāna. Trạng thái nội quán được gọi là Balavant vipassanā ñāna gồm có : Bhaya Ñāna ( kiến thức về cảm giác sợ hãi), Ādinava Ñāna ( kiến thức về cảm giác nhàm chán và kinh khiếp), Muncitu-kamyatā Ñāna ( kiến thức về sự ao ước được giải thoát) và Sankhārūpekkhhā Ñāna ( kiến thức về cảm giác thanh thản). Bản chất của những trạng thái nội quán này không giống nhau. Thật ra, Balavant vipassanā ñāna baogồm : Bhanga Ñāna ( kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu), Bhaya Ñāna, Ādīnava Ñāna, Nibbhida Ñāna, Muncitukamyatā, Patisankhā Ñāna ( kiến thức về sự quán niệm)và Sankhārūpekkhā Ñāna. Trong Balavant vipassanā ñāna chỉ có 4 trạng thái nội quán là xuất hiện một cách rõ rệt mà thôi.Vì vậy, Nibbhida Ñāna chỉ bao gồm : Bhaya Ñāna, Ādinava Ñāna, Muncitukamyatā ÑānaSankhārūpekkhā Ñāna.      

 Một người thành thật và chuyên cần trong việc thực hành thiền minh sát sẽ gặt hái được đạo quả và Niết Bàn khi đã nhận thức rõ những trạng thái nội quán vừa nêu trên. Do ảnh hưởng của Bhanga Ñāna, Bhaya Ñāna sẽ phát khởi. Sau đó, những trạng thái khác trong Bhaya Ñāna sẽ dần dần biến mất, hành giả chỉ còn nhận thấy tiến trình tan hoại cực kỳ nhanh chóng của các hiện tượng. Hình dáng của thân thể cũng không còn xuất hiện một cách rõ ràng trong tâm thức của hành giả. Trong Udayabbaya Ñāna, tiến trình trở thành và tan hoại của “ hành động phồng xẹp” xuất hiện khá rõ ràng, nhưng giai đoạn giữa của “ hành động này” thì không. Nói cách khác, hành giả sẽ nhận thấy rằng tiến trình trở thành của các hiện tượng xuất hiện một cách rõ ràng rồi nhanh chóng tan biến đi với một tốc độ chóng mặt, ngay sau khi đã khởi lên. Có thể nói, tiến trình trở thành và tan hoại của các hiện tượng sẽ lần lượt diễn ra một cách liên tục trong từng khoảnh khắc. Trong Bhanga Ñāna, hình dáng của thân thể xuất hiện một cách mờ nhạt, thậm chí không thể nhận biết được, chỉ có giai đoạn khi bụng đã hoàn toàn căng lên hết mức và giai đoạn khi bụng đã hoàn toàn xẹp xuống hết mức là xuất hiện một cách rõ ràng mà thôi. Trong khi hành giả đang chú ý đến “ hành động ngồi xuống”, đối tượng bị chú ý ( ở đây là chuyển động ngồi xuống) sẽ biến mất một cách ngay lập tức. Trong sự chú ý đến “ hành động đang xúc chạm”, đối tượng bị chú ý ( ở đây là cảm giác xúc chạm) cũng sẽ biến mất một cách tức thì. Năng lực chú ý mạnh mẽ như vừa đề cập được gọi là Balavant vipassana ñāna. Nói cách khác, tuệ minh sát đã phát triển trong tâm thức của hành giả ở một mức độ cao nhất. Khi tuệ minh sát đã phát triển mạnh, hành giả không cần phải nổ lực gì cả trong suốt tiến trình thực hành quán niệm. Trong 4 trạng thái nội quán thấp hơn, sự chú ý của hành giả vẫn còn trú trên thân thể. Tuy nhiên, trong Balavant vipassanā ñāna, nó không còn trú trên thân thể nữa. Do đó, hành giả sẽ gặp phải khó khăn trong khi thực hành sự chú ý. Năng lực chú ý của hành giả trong giai đoạn này cũng không được tốt. Nó bị phân tán và thiếu tính liên tục. Tình trạng này có thể khiến cho hành giả trở nên mệt mỏi, chậm chạp và thối chí đối với việc thực hành thiền. Trong Bhaya Ñāna, khi tuệ minh sát đã được cải thiện, hành giả sẽ nhận thức được rằng các hiện tượng và sự chú ý của tâm trí đã tan hoại một cách nhanh chóng, ngay sau khi chúng vừa mới khởi lên. Tương tự trong tiến trình “ đang ngồi xuống”, “ đang xúc chạm”… hành giả cũng nhận thấy rằng đối tượng bị quan sát và sự chú ý của tâm trí sẽ đồng thời biến mất đi một cách cực kỳ nhanh chóng. Sự biến mất một cách nhanh chóng của các hiện tượng là nguyên nhân khiến cho hành giả cảm thấy sợ hãi. Vì vậy, Bhanga ñānaBhaya ñāna có thể được xem là đồng thời hiện khởi. Trong Ādinava Ñāna, hành giả sẽ nhận thức được rằng tất cả những hiện tượng tâm vật lý đều tan hoại một cách nhanh chóng và không đáng để ao ước. Bản chất của chúng là thấp kém và bất thiện. Thỉnh thoảng, hành giả sẽ nhận biết được chức năng của các bộ phận trong thân thể và sự đáng ghê tởm của chúng. Điều này sẽ khiến cho hành giả cảm thấy khổ sở và bất hạnh. Trong Nibbhida Ñāna, hành giả không còn muốn thực hành sự chú ý một chút nào nữa. Anh ta sẽ cảm thấy thân tâm của chính mình hoàn toàn rã rời và kiệt sức. Trong Muncitukamyatā Ñāna, với trạng thái thân tâm rã rời, hành giả sẽ phát khởi tâm ao ước được giải thoát. Trong Patisankhā Ñāna, với tâm ao ước được giải thoát, hành giả sẽ nhận thấy rằng anh ta cần phải nổ lực chú ý nhiều hơn nữa để có thể thoát khổ. Khả năng và mức độ nổ lực trong Patisankhā Ñāna tùy thuộc vào tâm ao ước được giải thoát của hành giả. Do đó, có thể nói Patisankhā NānaMuncitukamyatā Nāna đã phát khởi một cách đồng thời. Sankhārūpekkhā Ñāna là một trạng thái nội quán mạnh mẽ. Trong trạng thái nội quán này, hành giả đã có thể thực hành sự chú ý một cách dễ dàng. TừNibbhida Ñàna đến Sankhārūpekkhā Ñāna được xem như là Nibbhida Ñāna. Trong khi đó, Nibbhida Ñāna có thể khiến cho Virāga  (tâm muốn dập tắt tham ái bằng cách quán niệm) gia tăng và phát triển. Khi hành giả cảm thấy thân tâm rã rời, anh ta không còn muốn bám víu vào chúng nữa. Đây chính là Virāga. Nói cách khác, hành giả đã dập tắt được tham ái. Các bậc thầy chú giải Kinh Điển xem Virāga chính là Đạo. Hành giả sẽ gặt hái được Vimutta hay Phala Ñāna ( kiến thức về quả vị giải thoát) chỉ khi đã đạt tới Đạo ( Magga). Tiếp theo sau quả vị giải thoátPaccavekkhana Ñāna ( kiến thức về sự nhìn lại quá khứ).

Tất cả những trạng thái nội quán vừa đề cập ở trên sẽ dẫn đến Niết Bàn.

Tôn giả Xá-Lợi-Phất đã truyền bá một cách tóm tắt như sau : “ Giới luật là nền tảng để thiết lập năng lực định tâm và mang lại hiệu quả tốt đẹp trong Yathābhūta Ñāna ( kiến thức về sự hình thành của vạn hữu). Sau đó, Nibbhida Ñāna sẽ phát triển, tiếp đến là Virāga ( tức Magga Ñāna- Kiến thức về Đạo). Việc đạt tới Đạo ( Virāga) là nguyên nhân dẫn đến trạng thái thiết lập quả vị giải thoát ( Phala Ñāna). Cuối cùng, hành giả sẽ từng bước đạt tới Paccavekkhana Ñāna và nhận thức được Niết Bàn”.

Tóm tắt: Giới luật đúng đắn sẽ thúc đẩy năng lực định tâm phát triển. Định tâm đúng đắn sẽ dẫn đến việc gặt hái được Yathābhūta Ñāna. Yathābhūta Ñāna đúng đắn sẽ thúc đẩy việc thiết lập Nibbhida Ñāna. Nibbhida Ñāna đúng đắn sẽ dẫn đến Virāga. Virāga đúng đắn sẽ dẫn đến năng lực nhận thức được Vimutta. Vimutta đúng đắn sẽ thúc đẩy việc đạt tới Paccavekkhana Ñāna.

Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp nói về “ Kinh Giới Bổn”- Sự giải thích về việc liên tục gặt hái được những trạng thái nội quán trong quá trình thực hành Phật Pháp, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành đúng theo những lời giáo huấn của Đức Phật. Với tâm siêng năng cần mẫn và thanh thản trong thực hành quán niệm, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ nhanh chóng nhận thức được Niết Bàn mong muốn, đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !                                    

              

                                               * * * Hết * * *                       

        

         

                                    

            

    

 

                                                                        

Tác giả bài viết: Admin

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

top

Những tin cũ hơn

top