Pháp Bảo (Tập 1)

Thứ tư - 19/02/2014 14:03
Pháp Bảo (Tập 1)

Pháp Bảo (Tập 1)

Pháp Bảo (Tập 1)

 

       Tác giả :      Ngài Kundalābhivamsa

       Biên tập:    Hội đồng biên tập trung tâm thiền Saddhammaramsī

       Nguyên bản tiếng Miến Điện: Dhamma Ratanā

       Dịch sang tiếng Anh:  Tiến sĩ Kay Mya Yee

       Xuất bản:   Lt.ColTin AUNG ( RETD) 03366 –

                            Saddhammaramsī Sapei

                            Số 7 đường Zeiyakhemar, quận Mayangone,

                            Ngưỡng Quang – Miến Điện

        Dịch sang tiếng Việt từ bản tiếng Anh :  Phạm Xuân Quang

                                           Địa chỉ : 24 A Kiệt 257 Chi Lăng – Huế - VN

                                           Telephone: 0542460293

                                            Mobilephone: 0948753810

                                            Email : sachthienhaiau@yahoo.com.vn

                                                

                                                    * * * * * * *

                   

                                                        Mục lục                                                      

                                                                                             

        Lời giới thiệu                                                                       Trang                                                                                                                                                 

        Ghi chú                                                                               Trang                                                                                                     

        Công nhận của dịch giả                                                      Trang                                                                      

    1. Ba điều cốt tuỷ :                                                                                               

     -  Của cải và sự cúng dường                                                                                     

     -  Thân thể vật chất và giới luật                                                                             

     -  Cuộc sống và thiền minh sát                                                                        

     -  Thiền nội quán                                                                                                

    2.   Bảy điều thiện lành phải thường xuyên làm cho sinh sôi nảy nở           

     -   An trú trong 3 loại ngọc quí                                                                           

     -    Giữ gìn 5 giới                                                                                            

     -    Dâng cúng đủ thứ                                                                                             

     -    Dâng cúng các loại vật thực ( 2 tuần một lần)                                                

     -    Dâng y                                                                                                              

     -    Dâng cúng các dụng cụ đựng nước uống                                                               

     -    Xây dựng các tu viện

    3.  Bốn điều kiện khó đạt được

     -   Được làm con người là một điều kiện khó khăn

     -   Sống còn là một điều kiện khó khăn

    -    Được lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng là một điều khó khăn

    -    Được sống trong thời Giáo Pháp của Đức Phật vẫn đang còn tồn        

          tại là một điều kiện khó khăn

    -    Bốn nền tảng của sự chú ý

    4.   Bốn điều khó ngăn chặn

    -     Tình trạng suy tàn

    -     Bệnh tật

    -     Cái chết

    -     Tác động của nghiệp xấu

    5.   Bốn nhân tố cấu thành và 24 dạng Tu- Đà- Hườn

     - Nương tựa vào những bậc cao thượng

    -  Lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng

    -  Phát triển quan điểm đúng đắn

    -  Thực hành những pháp thích ứng với Đạo Quả và Niết Bàn

    -  Ba phương pháp thực hành thiền minh sát

    -  Phải trải qua vô số kiếp sống

    -  Những nhân tố vượt trội

    -   Những đường lối thực hành

    6. Bốn nhân tố cấu thành và 6 lợi ích của một Tu -Đà-Hườn

    -   Nương tựa vào những vị thầy cao thượng

    -   Lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng

    -   Phát triển quan điểm đúng đắn

    -   Thực hành những pháp thích hợp với Đạo Quả và Niết Bàn

    -    Sáu lợi ích

    7.  Năm nhân tố ủng hộ

    -   Giới luật

    -   Bốn kiểu giữ Giới

    -   Kiến thức

    -   Luận Đạo

    -   Thiền định

    -   Bốn cách thức bảo vệ

    -   Thiền minh sát

     8. Năm điều kiện vệ sinh

    -   Sự tiện nghi

    -   Khí hậu

    -   Vật thực

    -   60 Tỳ Kheo và Mātikamatā

    -   Bầu bạn

    -   Lắng nghe Giáo Pháp

    -   Năm loại lợi ích

    -   Câu chuyện về Kāla

    9. Bốn sự nổ lực quan trọng nhất

    -  Ngăn chặn những điều bất thiện chưa phát sanh

    -  Loại bỏ những điều bất thiện đã phát sanh

    -  Phát triển những điều thiện lành đã phát sanh

    -  Làm cho những điều thiện lành chưa phát sanh trở nên phát sanh

    10. Hạnh phúc và lạc thọ

    - Hạnh phúc trong Giáo Pháp

    - Hạnh phúc trong tham thiền

    - Hạnh phúc trong sự loại bỏ những pháp bất thiện

    - Hạnh phúc tại nơi tĩnh mịch

    - Hạnh phúc trong sự giải phóng khỏi khổ đau

    - Hạnh phúc trong sự thoát khỏi những pháp ràng buộc

    11. Ba nhân tố cần phải có để đạt tới Niết Bàn

   -    Sự nhìn

    -  Tỳ Kheo Cittagutta

    -   Sự nghe

    -   Sự ngửi

    -   Sự ăn

    -   Sự xúc chạm

    -   Sự suy nghĩ

    -   5 vị Tỳ Kheo

    -   Người tù và một tách dầu

    -   Tắt ngẽn từ bên trong

    -   Năm loại hoan hỷ minh sát

    -   Sự bám víu

   12. Ba loại cảm thọ

    -  Khổ thọ

    -  Ba cách thức quán niệm

    -  Lạc thọ

    - Thọ vô ký tính

    -  Bốn kiểu hành giả thực hành thiền

    13. Những nhân tố dẫn đến giác ngộ ( Thất Giác chi)

    -   Niệm giác chi

    -   Trạch Pháp giác chi

    -    Tinh tấn giác chi

    -    Hoan hỷ giác chi

    -    Khinh an giác chi

    -    Định giác chi

    -    Xả giác chi

    14. Những loại Bảo Tháp

    -   Tháng Tasaungmone và Lễ Hội Ánh Sáng

    -    Bảo Tháp Culàmani

    -    Bảo Tháp Dussa

    -    Ba loại Bảo Tháp

    -    Năm loại Bảo Tháp

    -    Ba công việc

    -    Bảo Tháp và sự quán niệm

    15. Tiến trình nội quán với sự nhấn mạnh về trí tuệ thanh thản

-         Cách thức của nghiệp

-         Cách thức gom tâm

-         Đường lối trí tuệ

-         Kiến thức về sự thanh thản

-         Những sự khác biệt

    16.  Hạnh phúc cao thượng

     -    Làm chủ tâm trí khi nó bị kích động

     -    Động viên tâm trí khi nó bị áp lực đè nặng

     -    Hãy hân hoan khi cần thiết

     -    Không quan tâm khi có nhu cầu

     -    Phát triển về phía Đạo Quả Cao Thượng

     -    Hạnh phúc trong Niết Bàn cao thượng

   

 

                                              Lời giới thiệu

 

 Trong cuốn sách này, quí độc giả sẽ tìm thấy những lời giải thích minh bạch về bố thí, giữ giới, thiền định và thiền minh sát. Những phương pháp quán niệm để vượt qua các loại khổ thọ ( Dukkha Vedanā – Sufferings ‘s Sensation), đặc biệt rất hữu ích đối với những người mới tập sự thực hành thiền minh sát và thường xuyên gặp phải những điều khó khăn. Xa hơn nữa là cách thức của nghiệp, cách thức gom tâm và cách thức thực hành để có sự thông thái. Tất cả những điều đó đều được trình bày theo một phương pháp rất dễ hiểu. Những người thực hành thiền minh sát cần phải có một số kiến thức về các trạng thái tâm lý sẽ diễn ra trong quá trình thực hành loại thiền này. Nhờ đó, họ sẽ phát triển được tuệ minh sát một cách liên tục. Với cuốn sách này, quí độc giả sẽ lãnh hội được những trạng thái nội quán một cách rõ ràng qua một lối giải thích rất đơn giản. Để khuyến khích những hành giả thực hành thiền minh sát, sách cũng bàn luận đến cách thức để thoát khỏi địa ngục thông qua việc gặt hái được những phước báu thiện lành, mặc dù trong kiếp sống hiện tại những hành giả đó chưa đạt tới quả vị Tu- Đà- Hườn.

Ngoài ra , đối với những người đang nổ lực để trở thành Tu- Đà- Hườn ngay trong kiếp sống hiện tại, sách cũng nói đến những điều kiện để đạt tới quả vị tu chứng này. Trong đó, 4 điều kiện để cấu thành một Tu –Đà- Hườn đã được phức hợp một cách rõ ràng. Thêm vào đó, sách cũng đề cập đến những phương pháp để làm chủ tâm trí, cách thức động viên tâm trí khi nó bị áp lực đè nặng, cách làm cho tâm trí được hân hoan khi cần thiết. Đây chính là các nhân tố cốt tủy giúp cho những người thực hành thiền minh sát lãnh hội được Phật pháp một cách minh bạch. Thiền minh sát là công việc nhận thức của tâm trí. Nó cũng chính là sự học tập và nghiên cứu cực kỳ quan trọng để bồi bổ tâm trí, hạn chế và chinh phục dục vọng trong quá trình gặt hái Giáo Pháp Cao Thượng, Đạo Quả và Niết Bàn.  

                                                                                

                                                                      Ngài Saddhammaramsī    

 

                                                        Ghi chú

 

 Ngài Đại Đức Saddhammaramsī U Kundalābivamsa sinh năm 1921.

Năm lên chín tuổi, Ngài đã xuất gia làm một Giới tử của Phật Giáo Nguyên Thuỷ. Vào năm 1940, Kundalābivamsa đã thọ giới Tỳ Kheo với Ngài U Dhammapiya . Ngài đã từng theo học Phật Pháp tại tu viện Medini ( một tu viện trong rừng ) thuộc quận Kyaukgone,  Ngưỡng Quang – Miến Điện và đã trở thành một Pháp sư của tu viện này. Vào năm 1977, Kundalābivamsa thực hành thiền minh sát dưới sự hướng dẫn của Ngài Hòa thượng Tăng Thống Mahāsī tại Trung tâm thiền Māhasī. Sau đó Ngài đã trở thành một thiền sư vào năm 1978. Với sự cho phép của Ngài Mahāsī, Kundalābivamsa đã thành lập Trung tâm thiền Saddhammaramsī ( Trung tâm thiền Ánh Sáng Đạo Pháp)vào năm 1979. Kể từ đó ( từ năm 1979 trở đi), Ngài đã thường xuyên thuyết Pháp và giáo huấn về thiền minh sát, đồng thời cũng đã xuất bản rất nhiều loại sách viết về Phật Giáo. Bằng cách đó, Ngài không những chỉ truyền bá Phật Pháp tại Miến Điện mà còn ở rất nhiều quốc gia khác trên thế giới. Kể từ năm 1994, Ngài là người đỡ đầu cho nhiều khoá tu theo Pháp Đầu Đà ( Dhamma Dhuta) tại những quốc gia Tây phương như Mỹ quốc, Gia- Nã- Đại, Cọng hoà Pháp, Đức quốc, Ý- Đại- Lợi, Thụy Sĩ, Hà Lan, Vương quốc Bỉ… Ngài cũng đã thực hiện điều tương tự tại các quốc gia Đông phương như Mã- Lai- Á và Tân- Gia- Ba.

Ngài Kundalābivamsa đã cống hiến nhiều công sức và trí tuệ để hướng dẫn, động viên, cổ vũ cho sự phát triển và truyền bá giáo lý Phật Giáo Nguyên Thuỷ tại những quốc gia nói trên với sự định hướng dựa trên quan điểm của các vị Trưởng Lão về Phật Pháp. Có rất nhiều người đã tìm đến các quốc gia nói trên để học tập, nghiên cứu và thực hành thiền minh sát theo phương pháp của Ngài Mahāsī. Hàng tháng tại trung tâm thiền Saddhammaramsī, số lượng hành giả đến đây để học tập, nghiên cứu và thực hành thiền minh sát đã gia tăng một cách rõ rệt. Vào buổi sáng các ngày lễ thiêng liêng của Phật Giáo, tại trung tâm thiền Saddhammaramsī, sau khi đã làm lễ truyền 9 Giới cho những người Phật tử mộ Đạo. Thông thường Ngài Kundalābivamsa có giáo huấn về thiền minh sát. Ngài cũng thường thuyết Pháp vào buổi chiều trong những ngày trăng tròn. Những băng hình, đĩa từ…ghi lại các buổi thuyết Pháp của Ngài  đã được tổng hợp và chọn lọc, dịch sang nhiều thứ tiếng và xuất bản trong cuốnPháp Bảo. Từ Ratanà trong tiếng Pàlì có nghĩa là quí báu, các loại ngọc quí, bảo vật... mà ngài Kundalābivamsa đã xử dụng để làm tựa đề cho cuốn sách này. Tựa đề Pháp Bảo – Dhamma Ratanā được biểu hiện như là một sự đáp ứng làm thoả mãn ước nguyện của những người Phật tử mộ đạo. Vì vậy, những bài thuyết Pháp rất thú vị trong cuốn sách này đã mang tính hướng dẫn cách thức phát triển các Pháp xuất thế để gặt hái được hạnh phúc. Ngài Kundalābivamsa cũng thường xuyên lập lại những điểm quan trọng trong các bài thuyết Pháp của Ngài bằng các câu tóm tắt ngắn gọn, giúp cho quí độc giả hiểu rõ và nắm bắt được những ý chính mà Ngài muốn nói. Ví dụ, khi Ngài muốn nhấn mạnh đến sự khác nhau giữa vật chất ( rūpa – matter) và tinh thần ( Nāma – Spirits) thì Ngài sẽ nói : “ Tiến trình đang ngồi là không hề có sự nhận thức bởi vì nó thuộc về sắc pháp ( tức vật chất), sự chú ý của tâm trí đến tiến trình đang ngồi đó là có sự nhận thức, bởi vì nó thuộc về danh pháp ( tức tinh thần)”.  “ Tiến trình đang đứng là không hề có sự nhận thức bởi vì nó thuộc về sắc pháp, sự chú ý của tâm trí đến “ tiến trình đang đứng này” là có sự nhận thức bởi vì nó thuộc về danh pháp”... Sự nhắc đi nhắc lại một điều gì trong cuốn sách này của Ngài Kundābivamsa cũng nhằm mục đích trợ giúp cho quí độc giả hiểu sâu hơn về điều đó. Vì vậy, sự lập lại  này là một ý định cao thượng và giàu lòng trắc ẩn của Ngài đối với chúng ta. Cuối cùng, chúng tôi hy vọng các bạn sẽ kiên nhẫn trong quá trình đọc sách để hiểu được Phật Pháp một cách sâu sắc, cũng như có khả năng nhớ kỹ nội dung của những phần mà mình đã nghiên cứu. Nếu cuốn Pháp Bảo có điều gì đó sai sót thì trách nhiệm này thuộc về dịch giả. Chúng tôi cũng hy vọng rằng các bạn sẽ thành công trong việc thực hành bố thí, giữ giới và thiền minh sát, gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn sau khi đọc và thực hành theo cuốnPháp Bảo.

Cầu chúc cho tất cả quí độc giả sẽ có khả năng phát triển các Pháp xuất thế và được hạnh phúc trong kiếp sống hiện tại sau khi đã chấp nhận cuốn sách bổ ích và quí báu này.

                                                       

                                                 Dịch giả Mya Yee – Tháng 9 năm 1997

                                                                                              

                       

 

                      

                           Công nhận của dịch giả

 

Tôi mong muốn được tỏ lòng biết ơn đến những thành viên trong Hội đồng dịch thuật, Uỷ ban những người phụng vụ  của trung tâm thiền Saddhammaramsī đã bỏ ra nhiều thời gian và công sức để xem lại bản thảo của cuốn Pháp Bảo. Tôi cũng mong muốn tỏ lòng biết ơn đến thí chủ Daw Wynn Wynn Thu về việc cô đã có chí nguyện vững chãi và lòng kiên nhẫn để đánh máy lại bản thảo của cuốn sách này.

                                                              

                                                   Dịch giả Mya Yee – Tháng 9 năm 1997

 

                                                  

                            Lời của dịch giả bản tiếng Việt Nam

                              

Cuốn Pháp Bảo – Dhamma Ratanā đã được dịch sang tiếng Việt Nam và hoàn tất vào dịp Lễ Tam Hợp – 2013 ( PL. 2557). Như quí độc giả đã biết qua lời giới thiệu của Ngài Saddhammaramsī, đây quả là một cuốn sách quí đúng như tên gọi của nó. Sách này đã được dịch sang tiếng Việt Nam như là một món quà Pháp mà người dịch mong muốn dâng lên Đức Phật, các vị thầy Tổ để tỏ lòng tôn kính và biết ơn vô hạn. Sách này cũng được dịch ra nhằm mục đích chia xẻ phước báu với quí Tăng Ni, thiện nam tín nữ Phật Giáo Nguyên Thủy và bất cứ ai có mong muốn tìm hiểu những lời giáo huấn của Đức Phật. Trong quá trình dịch thuật, chúng tôi đã tham khảo, tra cứu khá nhiều tài liệu như :  Tự điển Pàli- Anh, Pāli-Việt, tự điển Anh-Việt phổ thông, tự điển Anh-Anh và chuyên ngành, tự điển Phật học tiếng Việt, bách khoa toàn thư Phật Giáo Nguyên Thủy, các loại sách viết và chú giải về Phật Giáo Nguyên Thủy của những bậc tiền bối…nhằm mục đích chuyển ngữ một cách chính xác ý định muốn nói của tác giả sang tiếng Việt Nam. Phương pháp dịch sát nghĩa và thoát ý cũng được người dịch phối hợp xử dụng một cách cơ động và xen kẻ. Các thuật ngữ bằng tiếng Pāli đã được chuyển sang tiếng Việt Nam đi kèm với tiếng Anh, đôi chỗ có vay mượn một số thuật ngữ Hán-Việt chuyên về Phật học, tuy chưa được chính xác một cách tuyệt đối nhưng cũng không đến nổi sai lệnh tới mức vượt ra ngoài ý định của tác giả. Với tâm nguyện trong sáng và thành thật, kính mong quí độc giả lượng tình tha thứ cho những chỗ còn thiếu sót hay ngộ nhận của dịch phẩm. Với tâm khiêm nhường, nhẫn nại và ham học hỏi, người dịch sẽ rất hoan hỷ khi nhận được các lời góp ý, chỉ dạy thêm của những bậc thầy uyên thâm về Phật Pháp, những bậc thiện tri thức và tất cả những ai có thiện chí mong muốn cho dịch phẩm này ngày càng được hoàn thiện hơn. Cuối cùng, với lòng tin tưởng và tôn kính tột bậc, con xin thành tâm ghi nhận ân đức của Tam Bảo đã gia hộ cho con hoàn thành được dịch phẩm Pháp Bảo – Dhamma Ratanā sang tiếng Việt Nam.Với món quà Pháp này, cầu chúc cho tất cả mọi người được dồi dào sức khỏe, thân tâm an lạc để chào đón một mùa Lễ Tam Hợp như ý và diệu kỳ. Lành thay!

                                                                       

                                                           Mùa Lễ Tam Hợp 2013 ( PL. 2557)

                                                                         Phạm Xuân Quang                                                 

                                              

 

 

                                                   Ba điều cốt tủy

 

Bài thuyết Pháp hôm nay sẽ nói về 3 điều cốt tủy có liên quan đến số tiền cúng dường 50 ngàn kyats (đơn vị tiền tệ của Miến Điện) của U Ba Khine và Daw Tin Tin trong một buổi lễ truyền Giới. Buổi lễ này đã được tổ chức nhằm mục đích truyền giới Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni tân học cho con trai và con gái của 2 người nói trên. Đức Phật đã từng chỉ ra 3 điều cốt tủy của việc cúng dường trong Kinh Pháp Cú Pāli ( Pāli Dhammapāda Sutta). Những bậc thầy chú giải Kinh Điển ( Athakathā master) cũng đã từng giải thích một cách rõ ràng về 3 điều cốt tủy này. Tuy nhiên, có một số người vẫn chưa nắm vững và nhận thức được thế nào là những điều cốt tủy có liên quan đến vấn đề cúng dường. Những thính giả lắng nghe Pháp trong ngày hôm nay chắc chắn sẽ tự tìm kiếm được những điều cốt tủy về vấn đề nói trên mà họ chưa gặt hái được. Có 3 điều được gọi là cốt tủy và cũng có 3 điều khác được gọi là không phải cốt tủy. Điều này tùy thuộc vào lối suy nghĩ và đức hạnh của riêng từng người. Nói cách khác, căn cứ vào những hạnh Ba-La-Mật của các vị Bồ-Tát, chúng ta sẽ biết được lối suy nghĩ của người ta có đúng đắn hay không khi thực hiện việc cúng dường, hạnh Ba-La-Mật của những người thực hiện công việc này có được chín muồi hay không. Những người có hạnh Ba-La-Mật còn non nớt sẽ nghĩ rằng của cải và sự giàu có của họ là cốt tủy. Họ nghĩ rằng những thứ đó là đáng tin cậy và bền vững. Họ cũng sẽ nghĩ rằng thân thể vật chất của họ là quí nhất, là cốt tủy. Nếu có một điều gì đó không may xảy đến với thân xác thì họ sẽ mang của cải và sự giàu có ra để chi tiêu nhằm mục đích bảo vệ cho nó, bởi vì họ cho rằng thân thể vật chất của họ quí báu hơn của cải và sự giàu có. Nếu có điều gì đó nguy hiểm đe dọa đến mạng sống thì họ sẽ sẵn sàng cắt bỏ đi những bộ phận đã bị hư hoại trong thân thể vật chất của chính mình để bảo toàn mạng sống. Họ nghĩ rằng mạng sống của chính họ quí báu hơn thân thể vật chất.

Của cải và sự cúng dường

Những vị Bồ-Tát với hạnh Ba-La-Mật đã chín muồi sẽ nghĩ rằng sự giàu có, thân thể vật chất và mạng sống của chính họ không phải là cốt tủy. Tôi tin rằng những quí vị thính giả đang lắng nghe Pháp ở đây chắc chắn sẽ tự nhận biết được điều này. Trong một kiếp sống nọ, Bồ-Tát Cồ-Đàm là con trai của một vị Bà- La-Môn triệu phú. Khi cha mẹ của Ngài đã qua đời, một hôm Bồ-Tát mở kho báu của dòng họ ra và nhìn thấy không biết bao nhiêu là vàng bạc và châu báu.Trên những của cải đó có ghi tên của ông cố, bà cố, ông nội, bà nội và cha mẹ của Ngài cùng với những di chúc thừa kế để lại cho những người đời sau. Của cải châu báu của những vị đó vẫn còn hiển hiện ngay trước mắt của Bồ-Tát nhưng nghiệt ngã thay, họ đã chết hết cả rồi và không còn hiện hữu trên cõi đời này nữa. Trước tình cảnh đó, Ngài đã cảm thấy xót xa và trở nên trầm tư. Bồ-Tát suy nghĩ rằng của cải và sự giàu có không phải là cốt tủy, bởi vì khi chết đi người ta sẽ không thể mang chúng theo mà đành phải bỏ lại phía sau lưng. Của cải và sự giàu có cũng có thể bị phá hủy bởi 5 loại kẻ thù ( Hỏa hoạn, lụt lội, nhà cầm quyền xấu xa, trộm cướp và những người thừa kế không xứng đáng) vào bất cứ lúc nào. Vì vậy, chúng không phải là cốt tủy. Một ngày nào đó, bạn sẽ tự nhận thấy được điều này một cách rõ ràng.

Tóm tắt: Của cải và sự giàu có không phải là cốt tủy bởi vì chúng có thể bị phá hủy bởi 5 loại kẻ thù là hỏa hoạn, lụt lội, nhà cầm quyền xấu xa, trộm cướp và những người thừa kế không xứng đáng.                  

Vậy thì cái gì là cốt tủy ? Cốt tủy đích thực phát xuất từ việc bố thí haycúng dường ( Dāna – Alms offering). Cho đi của cải và sự giàu có một cách đơn thuần thì chưa phải là cốt tủy. Trong cốt tủy của sự bố thí hay cúng dường có 2 nhân tố cốt tủy, đó là : Cho đi những của cải vật chất và cho đi những thứ đó bằng tâm tự nguyện. Sau khi thực hiện bố thí hay cúng dường, cái đọng lại là phước báu. Đây là kết quả của những hành động thiện lành và tâm tự nguyện. Mặc dù khi thực hiện bố thí hay cúng dường vật chất ( Rūpa – Matter), tác dụng của hành động này không kéo dài bằng hành động bố thí hay cúng dường tinh thần ( Nāma – Spirits or Mind), tức Pháp thí vậy. Những lợi ích do tâm tự nguyện và những hành động thiện lành mang lại

( tức phước báu – kusala dhamma – Merit of deeds) là không thể sờ mó và nhận biết được.Tuy nhiên, những lợi ích đó chính là cốt tủy và chúng đã thực sự hiện hữu trong chính bạn. Năm loại kẻ thù đã nói ở trên không thể phá hủy được những lợi ích này. Cốt tủy của việc thực hành bố thí hay cúng dường là một trợ duyên hay tăng thượng duyên ( Adhipati paccaya) mạnh mẽ cho việc gặt hái Niết Bàn.Vì vậy, bố thí hay cúng dường với tâm tự nguyện vững chãi và hoan hỷ là điều cần phải có để có thể chắt lọc được cốt tủy của những hành động thiện lành này từ những của cải chẳng có gì gọi là cốt tủy.

Tóm tắt : Từ của cải vật chất và sự giàu có,bạn hãy chắt lọc lấy cốt tủy của sự bố thí hay cúng dường.     

Đa số những người Phật tử ở Miến Điện đều biết tiết kiệm tiền bạc mà họ đã kiếm được một cách lương thiện, khôn ngoan và sáng suốt. Họ biết gìn giữ tiền bạc với mục đích để dành cho việc bố thí và cúng dường. Họ dâng cúng cho việc xây dựng các tu viện và chùa chiền, các buổi lễ truyền giới cho Tỳ Kheo, Tỳ Kheo tân học ( tức Giới tử - Sāmanera) và Tỳ Kheo Ni. Quả thật đây là một điều may mắn cho Phật Pháp. Ngày hôm nay, U Ba Khine và Daw Tin Tin đã chắt lọc được cốt tủy cúng dường từ những của cải chẳng có gì gọi là cốt tủy của họ bằng cách dâng cúng 50 ngàn Kyats.

Thân thể vật chất và giới luật

Bồ-Tát đã từng nói rằng “ thân thể vật chất không phải là cốt tủy”. Nó luôn luôn có nhiều thứ bệnh tật. Ngày hôm nay, bạn có thể được mạnh khỏe nhưng ngày mai thì chưa chắc bạn còn được như thế. Không có bất cứ một người nào là không bị khổ đau vì bệnh tật. Đức Phật đã từng nhấn mạnh : “ Người nói rằng bản thân mình không bao giờ bị bất cứ một thứ bệnh nào cả là người đần độn”. Mọi người đều có bệnh tật trong thân thể vật chất của chính họ, tùy theo mức độ nhiều hay ít của riêng từng người. Có bao giờ thân thể vật chất của bạn đã bị mắc phải một thứ bệnh nào chưa ?

Chắc hẳn thân thể vật chất của bạn đã bài tiết ra những thứ như nước mắt, nước giải, mồ hôi, phân… ? Nếu những thứ đó không được bài tiết ra khỏi thân thể vật chất một cách đều đặn và thông suốt thì chắc chắn bạn sẽ mắc phải một loại bệnh tật nào đó. Nếu những thứ nói trên thoát ra khỏi cơ thể vật chất của bạn với số lượng nhiều quá mức bình thường thì bạn cũng không thể khỏe mạnh được. Vậy thì trong những thứ cặn bã đó, có thứ nào là cốt tủy hay không ? Đức Phật đã từng nói rằng “ hãy chắt lọc cốt tủy từ thân thể vật chất bằng cách đảnh lễ Tăng Già, cha mẹ, những người lớn tuổi. Giữ Giới bằng cách cung cấp những nhu cầu thiết yếu cho Tăng Già, cha mẹ và những người lớn tuổi”. Ngày hôm nay, bạn vẫn đang còn khỏe mạnh và có khả năng thực hiện những điều đó. Tuy nhiên, ngày mai thì chưa chắc bạn còn đủ sức khỏe để thực hiện chúng. Vì vậy, Đức Phật mới nói rằng “ hãy chắt lọc cốt tủy từ thân thể vật chất”.

Tóm tắt: Thân thể vật chất luôn luôn có những thứ bệnh tật và vì vậy nó không phải là cốt tủy.

Ngày hôm nay, có thể bạn đang được mạnh khỏe nhưng ngày mai thì điều này không lấy gì làm chắc chắn. Mặc dù ngày hôm nay bạn đang có khả năng thực hành thiền. Tuy nhiên, ngày mai thì chưa chắc bạn còn khả năng đó. Hàng ngày, bạn thực hành giữ Giới, tỏ lòng tôn kính Tam Bảo ( Phật, Pháp, Tăng), cha mẹ và những người lớn tuổi, cung cấp các nhu cầu thiết yếu cho những người mà mình yêu quí. Những công việc này đều phải thực hiện bằng thân thể vật chất. Vì vậy, bạn sẽ cảm thấy sung sướng khi có thể chắt lọc được cốt tủy của việc giữ giới từ thân thể vật chất. Do đó, cung cấp các nhu cầu thiết yếu cho Tăng Già, cha mẹ và những người lớn tuổi là một cách thức giữ Giới đúng đắn.

Tóm tắt: Hãy chắt lọc cốt tủy của việc giữ Giới từ thân thể vật chất                                

 Cốt tủy của việc giữ Giới là một nhân tố ủng hộ đáng tin cậy cho việc gặt hái được Niết Bàn. Khoảnh khắc tư duy đầu tiên khi thực hành giữ Giới sẽ mang lại những lợi ích thiện lành cho kiếp sống hiện tại. Từ đó trong kiếp sống này, bạn sẽ được hạnh phúc và sung túc về mặt vật chất. Do tác động của khoảnh khắc tư duy thứ 7 khi thực hành giữ Giới, trong kiếp sống kế tiếp bạn sẽ được tái sanh vào những cảnh giới tốt hơn so với kiếp sống trong hiện tại . Những khoảnh khắc tư duy trong giai đoạn giữa sẽ mang lại kết quả thiện lành từ kiếp sống thứ 3 cho đến khi bạn đạt tới Niết Bàn. Hàng ngày, bạn hãy cố gắng chắt lọc cốt tủy của việc giữ Giới từ thân thể vật chất không phải là cốt tủy.

Cuộc sống và thiền minh sát

Con người có thể bị đau khổ do mắc phải nhiều thứ bệnh tật. Tuy vậy, bạn nên biết cách chắt lọc cốt tủy của việc giữ giới từ thân thể vật chất, bởi vì loại cốt tủy này sẽ mang lại nhiều lợi ích và trợ duyên cho việc gặt hái được Niết Bàn của chúng ta. Bạn nên hoan hỷ để thực hiện việc chắt lọc cốt tủy từ năng lực giữ Giới bởi vì bạn đã có cơ hội được sống trong thời mà Giáo Pháp của Đức Phật vẫn đang còn tồn tại. Đức Phật đã từng nói rằng “ cuộc sống cũng không phải là cốt tủy, kể từ khi nó không đáng tin cậy và không được trường cửu”. Cuộc sống là vô thường kể từ khi đời sống vật chất và tinh thần luôn luôn xảy đến và tan biến đi với một tốc độ cực kỳ nhanh chóng. Những người đã gặt hái được trí tuệ hiểu biết về trạng thái khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng ( Còn gọi là trí tuệ hiểu biết về tiến trình sanh diệt của các hiện tượng - Udayabbhaya Ñāna) sẽ lãnh hội được điều này một cách rõ ràng. Mỗi khi chú ý đến một cái gì đó, bạn sẽ thấy rằng nó đang không ngừng xảy đến và tan hoại đi. Cuộc sống này là khổ đau bởi vì nó có tính vô thường ( Anicca – Impermanence). Trong một phút hay trong một khoảnh khắc, cuộc sống đã bị hủy diệt. Nó không trường cửu và cũng không đáng tin cậy.Vì vậy, cuộc sống không phải là cốt tủy.

Tóm tắt :  Do mang tính vô thường, cuộc sống không phải là cốt tủy.

Đời sống vật chất và tinh thần của chúng ta bị dày vò và làm cho khổ đau bởi tiến trình xảy đến và tan hoại của các hiện tượng.Trong khoảnh khắc cuộc sống bị hủy diệt, nó luôn luôn tạo ra sự khổ đau cho con người qua tính vô thường của nó. Cuộc sống là không đáng tin cậy và vì vậy nó không phải là cốt tủy. Thiền minh sát đích thực là cốt tủy. Do đó, chiêm nghiệm về đức hạnh của Bồ-Tát chỉ mang ý nghĩa duy nhất là giải thoát khỏi khổ đau.

Tóm tắtChắt lọc thiền minh sát từ cốt tủy của cuộc sống

Trong thực tế, thiền minh sát ( Vipassanā bhāvanā) có nghĩa là thực hành chú ý bằng nhiều cách để nhận biết được bản chấtcủa các sự vật và hiện tượng, tức nhận biết được các hiện tượng trong tự nhiên và trong đời sống xã hội chỉ là những tính cách đặc trưng của : Vô thường ( Anicca – Impermanence), khổ ( Dukkha – Suffering) và vô ngã ( Anatta – No self or Uncontrolable). Những tính cách đặc trưng này thường xuyên xuất hiện trong chính thân tâm của chúng sanh. Đó là cách thực hành thiền minh sát nhằm mục đích gặt hái được trí tuệ hiểu biết về trạng thái đang khởi lên và tan biến đi của các sự vật và hiện tượng ( Udayabbhaya Ñāna), trí tuệ hiểu biết về trạng thái đang tan hoại của các sự vật và hiện tượng

( Bhanga Ñāna). Trong thực tế thực hành thiền minh sát, những đặc tính như vô thường, khổvô ngã chưa hiện khởi một cách rõ ràng trong tâm thức của những người mới tập sự thực hành loại thiền này. Những người mới tập sự thực thiền hành minh sát phải nổ lực tập trung sự chú ý để nhận biết được bản chất của các chuyển động, bởi vì đó chính là thực tại cùng tột

( Paramattha – Ultimate reality) hay chân lý tuyệt đối ( Paramattha – Absolute truth). Họ không cần chú ý đến hình dáng vật chất bên ngoài của các sự vật và hiện tượng, bởi vì đó chỉ là chân lý qui ước ( Paññatti – Convertional truth) hay thực tại biểu kiến ( Paññatti – Apparent reality). Nói cách khác, hình dáng vật chất bên ngoài của các hiện tượng chỉ là một khái niệm ( Paññatti – Conception). Đây là cách thực hành thiền minh sát dành cho những người mới tập sự. Họ cần phải tập trung sự chú ý một cách chính xác và liên tục trên chuyển động của mỗi hành động như : Tiến trình đang ngồi xuống, đang đi bộ, đang đứng lên, đang nằm xuống…

Khi đang thực hành sự chú ý đến những tiến trình này họ không cần phải lưu tâm đến hình dáng vật chất bên ngoài của 2 cẳng chân, 2 bàn chân, thân thể, đầu, 2 cánh tay và 2 bàn tay… Có 3 loại cốt tủy :

1. Dāna – Bố thí hay cúng dường

2. Sīla – Giữ Giới

3. Vipassanā Bhāvanā– Thiền nội quán ( tức thiền minh sát)

 Cốt tủy của việc bố thí và giữ Giới chỉ mang lại cho chúng ta một cuộc sống mãn nguyện trong cõi người, cõi Chư Thiên và Phạm Thiên. Tuy nhiên, những cốt tủy đó không thể bảo đảm cho bạn thoát được vòng sanh tử luân hồi. Chúng chỉ có thể làm cho bạn được hạnh phúc và tận hưởng những cảm giác thích ý khi du hành trong cõi luân hồi sanh tử. Bằng cách thực hành thiền định, chúng ta  sẽ được tận hưởng một cuộc sống cực kỳ trường thọ trong cảnh giới của Phạm Thiên. Tuy nhiên, điều này cũng không dẫn dắt bạn đến với việc chấm dứt sanh tử luân hồi. Chỉ có thiền minh sát là cốt tủy đáng tin cậy có thể dẫn đưa chúng ta đến với Niết Bàn hạnh phúc. Đức Phật thường nhấn mạnh rằng “ bố thí, giữ giớithiền định” không thể làm cho chúng sanh được hoàn toàn mãn nguyện. Mặc dù có thể đạt tới một cảnh giới cao nhất trong 31 cõi sống thuộc về luân hồi. Tuy nhiên vào một ngày nào đó, có thể chúng ta bị buộc phải trở lại sống trong những cảnh giới khổ đau khi hết phước. Bố thí, giữ giới và thiền định không thể giải thoát chúng sanh ra khỏi vòng luân hồi sanh tử. Những hành động thiện lành này chỉ có thể mang lại một cuộc sống hạnh phúc với những cảm giác dễ chịu. Không có ai mong muốn một cuộc sống nghèo khổ và bất hạnh khi hiện hữu trong vòng sanh tử luân hồi. Vì vậy, bố thí, giữ giới và thực hành thiền định không phải là cốt tủy đích thực.

Thiền nội quán

Thiền nội quán( Vipassanā Bhāvanā – Insight meditation) hay thiền minh sát là con đường duy nhất có thể giúp chúng ta thoát khỏi sanh tử luân hồi. Do ảnh hưởng của 4 cơ hội quí báu, tất cả mọi người đều có khả năng thực hành thiền minh sát. Đức Phật đã từng chỉ ra 4 cơ hội quí báu đó là :

1. Được làm người

2. Được sống như một con người

3. Được lắng nghe Giáo Pháp Cao Thượng

4. Được sống trong thời mà Giáo Pháp của Đức Phật vẫn còn tồn tại.

Nơi nào không có sự hiện diện của Phật Pháp thì nơi đó sẽ không có cơ hội để thực hành thiền minh sát. Thiền minh sát là con đường duy nhất có thể bảo đảm cho chúng sanh được giải thoát khỏi sanh tử luân hồi. Đức Phật đã từng nói rằng, một khi Giáo Pháp của Ngài không còn tồn tại thì cõi sanh tử luân hồi buồn tẻ này sẽ thiếu vắng ánh trăng. Mặt trời dường như cũng không thể mọc được. Thậm chí đến lúc đó, chúng ta cũng không còn nghe thấy được những khái niệm đơn giản nhất về cuộc sống, không còn nghe người ta nói đến Phật Pháp và thiền minh sát. Đến lúc đó, sẽ không còn ai nhắc đến những điều này nữa. Đến lúc đó, người ta vẫn có thể thực hành bố thí, giữ giới và thiền định. Tuy nhiên, những lối thực hành đó cũng không thể đóng lại được cánh cửa của địa ngục. Bây giờ đây, chúng ta đang có được 4 cơ hội quí báu nói trên, do đó chúng ta nên nỗ lực để thực hành thiền minh sát dưới một sự hướng dẫn đúng đắn. Thiền minh sát là đáng tin cậy nhất và nó đích thực là cốt tủy để giải thoát khỏi luân hồi sanh tử. Do đó, bạn đừng để cho thời gian trôi đi một cách lãng phí mà hãy siêng năng thực hành loại thiền này mỗi khi có thể. Lúc mới tập sự thực hành thiền minh sát, có thể bạn sẽ gặp phải những khó khăn và trở ngại. Tuy vậy, hãy cứ kiên trì và chuyên tâm tập luyện. Sau đó, chắc chắn bạn sẽ có khả năng vượt qua được những khó khăn và trở ngại này. Chắc chắn bạn sẽ kinh nghiệm được khổ thọ ( Dukkha Vedanā – Sensual suffering) trong giai đoạn đầu, giai đoạn giữa và giai đoạn cuối của quá trình tu tập thiền minh sát. Tâm tham lam, sân hậnvọng tưởng là những thứ ô nhiễm có thể khiến cho bạn trở nên bối rối và cảm thấy khó khăn trong việc gặt hái được Phật Pháp. Những thứ ô nhiễm đó có thể khiến cho tiến trình thực hành thiền của bạn không thể phát triển được. Điều quan trọng là chúng ta cần phải có một phương pháp đúng đắn để thực hành sự chú ý đến những cảm giác ( Vedanā – Sensation). Do đó, tôi sẽ thảo luận về vấn đề này một cách vắn tắt. Trong lúc đang thực hành thiền minh sát, nếu cảm thấy bị đau nhức hoặc tê cóng thì bạn hãy kiên nhẫn và đừng thay đổi tư thế hành thiền. Nếu thường xuyên thay đổi tư thế hành thiền thì năng lực tập trung tâm ý sẽ không thể phát triển mạnh mẽ. Bạn đừng nên băn khoăn lo lắng rằng mình có gặt hái được Phật Pháp hay không, mình có còn bị đau nhức hoài như vậy nữa hay không. Bản chất của tất cả các loại cảm giác nói chung đều là khổ. Bổn phận của hành giả thực hành thiền minh sát là tập trung sự chú ý đến cảm giác để hiểu được bản chất của nó. Khi bị chú ý, cường độ của cảm giác đau nhức sẽ gia tăng. Điều này sẽ làm cho thân tâm của bạn trở nên căng thẳng. Lúc này bạn nên thư giản thân tâm đôi chút, kiên trì quan sát và xem thử cảm giác đau nhức đó hiện đang ở đâu, nó đang ở trên da, trên thịt, trong xương, trong tủy hay dây thần kinh… đồng thời phải xác định được phạm vi mà khổ thọ đang chiếm hữu.Tiếp đến, bạn phải kiên quyết hội tụ sự chú ý một cách chính xác và liên tục trên khổ thọ ( tức cảm giác khó chịu như sự đau nhức, ngứa ngáy, tù túng…) để nhận biết được tiến trình khởi lên và tan biến đi của nó. Bạn cũng cần phải nhận biết được sự di chuyển của khổ thọ từ một bộ phận này sang một nơi khác trên thân thể. Trong mỗi sự chú ý, khổ thọ có thể gia tăng hoặc gia giảm cường độ. Sau đó, năng lực tập trung chú ý của bạn sẽ trở nên vững vàng và mạnh mẽ hơn. Thông thường, khi bị chú ý, khổ thọ sẽ dần dần gia tăng cường độ đến cực điểm. Sau đó, cường độ của nó có thể gia tăng trở lại hoặc có thể sẽ dần dần giảm xuống, có khi nó lại chuyển sang một phạm vi khác trong thân thể. Bây giờ năng lực chú ý của bạn đã phát triển và trở nên mạnh mẽ. Vì vậy, bạn bắt đầu nhận biết được bản chất của cảm thọ hay cảm giác. Nói cách khác, cảm giác nói chung sẽ không còn tiếp diễn trong tâm thức của bạn như trước nữa, nó luôn luôn thay đổi. Vì vậy cảm giác là vô thường. Bản chất hay thay đổi và chuyển dịch của cảm giác chính là khổ đau và không thể điều khiển được. Khi bạn tập trung chú ý đến cảm giác đang đau nhức và niệm thầm trong tâm “ đang đau nhức, đang đau nhức…”  thì tự nhiên cảm giác này sẽ dần dần biến mất. Nếu cảm giác này tái hiện khởi sau khi đã biến mất thì bạn lại tiếp tục chú ý đến nó, cho đến khi nó đã biến mất hẳn thì thôi. Tiến trình tự nhiên của bất cứ một loại cảm giác nào cũng vậy, khởi lên và rồi sẽ tan biến đi. Tiến trình khởi lên và tan biến đi của cảm giác là một đối tượng vô thường và chính yếu để chúng ta thực hành sự chú ý. Bạn cần phải kiên quyết tập trung sự chú ý đến tiến trình khởi lên và tan biến đi của cảm giác để nhận biết được bản chất của nó. Nhờ đó, năng lực chú ý đã có thể vượt qua cảm giác đau nhức, ngứa ngáy, tù túng… Khi năng lực tập trung chú ý của bạn đã trở nên mạnh mẽ và chín muồi. Đến lúc đó, tiến trình đang khởi lên của cảm giác không còn xuất hiện một cách rõ ràng trong tâm thức của bạn nữa. Tuy nhiên, tiến trình tan hoại hay tan biến đi của nó lại trở thành đối tượng chính yếu của sự chú ý. Những hành giả thực hành thiền minh sát đã gặt hái được trí tuệ hiểu biết về trạng thái tan hoại của các sự vật và hiện tượng ( Bhanga Ñāna ) sẽ trải nghiệm được tiến trình này một cách rõ ràng và sống động. Kể từ khi những hành giả đã không còn nhận thức được cảm giác một cách rõ ràng, họ nói rằng chẳng bao lâu nữa họ sẽ không còn một mục đích nào để thực hành sự chú ý. Cảm giác đau nhức đã không còn nữa, đúng là nó đã biến mất. Thực tế là điều gì sẽ tiếp tục xảy đến trong tâm thức của họ ? Chỉ còn lại ý định muốn thực hành sự chú ý thôi sao ? Cảm giác đau nhức đã thật sự không còn khởi lên trong tâm nữa, chỉ có sự chú ý của chính họ là vẫn đang hiện hữu hay sao ? Cảm giác đau nhức đã khởi lên và biến mất đi một cách ngay lập tức khi nó bị hành giả chú đến. Thế thì không còn gì để thực hành sự chú ý nữa phải không ?

Cảm giác thật sự có tính vô thường và sự chú ý của tâm trí cũng vô thường. Những người đã nói được như thế thì thật sự họ đã kinh nghiệm được bản chất của cảm giác một cách tốt hơn trước kia rất nhiều lần. Khi đã có khả năng chú ý để nhận biết được bản chất của cảm giác thì tâm trí của họ đã không còn bị lang thang vô định. Do cảm giác đau nhức đã không còn tồn tại, từ đó sân hận cũng không còn cơ hội để khởi lên. Điều này có nghĩa là sự chú ý của tâm trí đã vượt qua được cảm giác.

Tóm tắt:  Cần phải loại bỏ tính sân hận tái hiện khởi nhiều lần trong khổ thọ.

Kể từ khi năng lực tập trung tâm ý đã phát triển tốt và gặt hái trí tuệ lãnh hội ( Sammasana Ñāna) được tính vô thường, khổvô ngã, Sự chú ý của bạn sẽ trở nên nhẹ nhàng và uyển chuyển. Kể từ đó, bạn không còn trải nghiệm những cảm giác khổ nữa. Trong giai đoạn đầu chuẩn bị gặt hái trí tuệ hiểu biết về tiến trình sanh diệt của các sự vật và hiện tượng

( Udayabbaya Ñāna), bạn sẽ cảm thấy cuộc sống của mình đã không còn sôi nổi như trước. Bạn cũng sẽ cảm thấy thân tâm trở nên nhẹ nhàng, nhanh nhẹn. Lúc này, thân tâm đã trở nên dễ uốn nắn, điều khiển và xử dụng. Năng lực chú ý của bạn đã có khả năng hòa hợp được với ý chí khi quan sát các hiện tượng một cách dễ dàng và trôi chảy. Những hành giả trước đây thường có thói quen thay đổi tư thế trong lúc tọa thiền sẽ có khả năng ngồi yên trong một giờ đồng hồ, sau khi đã gặt hái được trí tuệ hiểu biết về tiến trình sanh diệt của các sự vật và hiện tượng ( Udayabbaya Ñāna). Những hành giả trước đây có khả năng ngồi yên và không thay đổi tư thế tọa thiền trong một giờ đồng hồ sẽ có khả năng duy trì thói quen tốt đẹp này trong vòng nhiều giờ, có thể là 2, 3, 4, 5 giờ … tùy theo mỗi hành giả mỗi khác. Khi đã thu được xung lượng trong lúc thực hành thiền, năng lực chú ý của bạn sẽ tiếp tục phát triển một cách hài hòa, trôi chảy và dễ dàng. Đến lúc này, bạn đã có khả năng quan sát tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng một cách dễ dàng, sống động, rõ ràng. Trong lúc đang tọa thiền, bạn cần nổ lực tinh tấn trong mọi sự chú ý, tuy nhiên cũng không nên cố gắng thái quá. Khi đã có khả năng thực hành sự chú ý đến tiến trình sanh diệt của những hiện tượng ( vật chất và tinh thần) một cách hoàn hảo thì năng lực chú ý của bạn sẽ được thực hiện một cách tự động, nghĩa là khi có bất cứ một hiện tượng nào đang khởi lên tại một vị trí nào đó trong thân tâm thì sự chú ý của bạn sẽ tự động hướng đến chỗ đó và quan sát nó. Tiếp đến, thân tâm của bạn sẽ được sự bình yên và trầm tĩnh. Một vài hành giả nói rằng trước khi gặt hái được trí tuệ hiểu biết về tiến trình sanh diệt của các sự vật và hiện tượng, họ chưa bao giờ trải nghiệm được trạng thái bình yên và trầm tĩnh như thế. Khi đã gặt hái được loại trí tuệ này rồi, thậm chí khi đang thiền tọa, thân thể của họ đã cứng đờ ra như một con búp bê, không hề cử động. Đây là những trạng thái mà bạn sẽ trải nghiệm khi gặt hái được trí tuệ hiểu biết về tiến trình sanh diệt của các sự vật hiện tượng. Đây chính là hoan hỷ minh sát ( Vipassanā Pīti) hay hạnh phúc của tham thiền. Đây là một trạng thái tâm lý tốt đẹp mà những người không thực hành thiền minh sát sẽ không bao giờ có được. Thậm chí những Chư Thiên cũng không thể có được cơ hội để tận hưởng được trạng thái hạnh phúc này. Đang khi thực hành thiền tại một nơi yên tĩnh, bạn có thể  trải nghiệm được hoan hỷ minh sát. Loại hạnh phúc này có thể làm nảy sinh trong bạn tâm bám víu và quyến luyến. Vì vậy, nó cũng cần phải được loại bỏ. Ao ước được tái trải nghiệm và xem trọng lạc thọ ( tức cảm giác dễ chịu - Sukkha vedanā) là biểu hiện của tính tham lam đối với cảm giác này. Tính tham lam muốn được tái trải nghiệm lạc thọ cần phải được loại bỏ, song không vì thế mà sự tiến bộ trong quá trình thực hành thiền của bạn bị trì hoãn, ngược lại là khác.

Tóm tắt: Khởi tâm bám víu và mong muốn được tái trải nghiệm lạc thọ nghĩa là ngăn chặn sự phát triển của nội tâm.       

Quán niệm một cách nghiêm túc và chuyên chú để biết chắc chắn rằng liệu thể xác và tinh thần có thể đem lại cho chúng ta sự thỏa mãn tuyệt đối hay không. Nếu trạng thái tinh thần bình yên và trầm tĩnh là dễ nhận thấy thì hãy niệm thầm trong tâm mình “ bình yên, bình yên”. Khi năng lực tập trung tâm ý đã trở nên sắc bén thì bạn sẽ nhận biết được một sự thật rằng, cảm giác sung sướng đã khởi lên và biến mất đi một cách nhanh chóng khi nó bị chú ý đến. Khi đã có khả năng kiểm soát được tiến trình khởi lên và biến mất đi một cách nhanh chóng của cảm giác này, bạn sẽ nhận thức được rằng, thật ra không có bất cứ một cái gì được gọi là “ sung sướng” mà toàn chỉ là cảm giác nhàm chán mà thôi. Bây giờ “ lạc thọ- Sukha Vedanā” đã được bạn hiểu như là một “ cảm giác khổ- Dukkha Vedanā”. Nhờ đó, bạn đã vượt qua được tâm bám víu vào lạc thọ ( Rāga). Qua trạng thái liên tục chú ý một cách chính xác, bạn đã loại bỏ được tâm bất thiện này. Có một sự thật rằng không có ai mong muốn sự khổ. Do đó, bạn sẽ lập tức tập trung sự chú ý tích cực đến tâm bám víu vào lạc thọ mỗi khi nó đang khởi lên.

Tóm tắt: Khi lạc thọ khởi lên, hành giả nên chú ý để nhận thức được nó chính là khổ.

Trong “ thọ vô ký tính- upekkha vedanā ”, vọng tưởng ( Moha- Delusion) sẽ hiện khởi. Do đó, bạn sẽ không có sự tiến bộ về mặt tinh thần. Khi đã gặt hái được trí tuệ thanh thản qua việc quan sát các pháp hữu vi

( Sankhārupekkha Ñāna, một loại trí tuệ rất gần với đạo quả), hành giả sẽ hiểu được một cách rõ ràng rằng, vọng tưởng chính là một chướng ngại cho sự phát triển tinh thần. Tuy nhiên đến lúc đó, còn lâu mới đắc thành Đạo Quả. Với sự chú ý mãnh liệt, năng lực tập trung tâm ý phát triển, bạn sẽ đạt tới trí tuệ thanh thản. Đây là một loại trí tuệ phát xuất từ nội quán có thể giúp bạn nhận thức được bản chất bình đẳng của vạn hữu. Trong phạm trù trí tuệ này, thọ vô ký tính là một loại cảm giác không dễ nhận thấy và đáng chú ý nhất. Thật ra, không có sự yêu ghét, bởi vì yêu hay ghét cũng đều có cùng một bản chất là vô thường, khổ và vô ngã. Đến lúc đó, bạn sẽ không còn bối rối, phân biệt giữa thế giới trần tục hay thế giới thanh cao siêu việt nữa. Bạn sẽ không còn bám víu vào bất cứ cái gì xảy đến với thân tâm. Với trí tuệ thanh thản, sự chú ý của bạn sẽ được thực hiện một cách rất dễ dàng và thích hợp. Để có khả năng thực hành thiền một cách tốt đẹp, có lẽ bạn nên nhớ kỹ những kinh nghiệm vừa nêu trên.

Tóm tắt : Thoát khỏi yêu ghét, xem khổ hay sướng cũng đều như nhau, quán niệm về những đặc tính cấu thành tạm bợ của pháp hữu vi để gặt hái được tâm thanh thản.

Khi sự chú ý bị buông lung thì bạn sẽ bị đánh lừa và có thể không nhận thức được bản chất thật sự của các đối tượng mà mình đang quan sát. Bạn có thể nhầm tưởng rằng các pháp hữu vi là thường còn và đáng tin cậy. Thật ra, các pháp này đã khởi lên và rồi cũng sẽ tan biến đi mà thôi.

Tóm tắt: Sự tái hiện của vọng tưởng trong thọ vô ký tính cần phải được loại bỏ.

Trong tiến trình đạt tới mục đích ao ước, bạn cần phải quán niệm và loại bỏ được vọng tưởng. Trong phạm trù trí tuệ thanh thản ( Sankhārūpekkha Ñāna), thọ vô ký tính ( Upekkhā Vedanā) là đáng chú ý nhất. Sự tiến bộ trong tham thiền sẽ xảy ra rất chậm khi bạn không tinh tấn quán niệm, cũng như chưa có khả năng quán niệm một cách dễ dàng. Có thể bạn sẽ nói với thiền sư của mình rằng : “Quán niệm là tốt”. Tuy nhiên, bạn chưa có khả năng giải thích được nó tốt như thế nào. Nếu như vậy thì còn rất lâu bạn mới nhận thức được thế nào là “ pháp hữu vi” hay “ vật được cấu thành bởi các điều kiện” và luôn bị vọng tưởng che mờ tâm thức. Do đó, tiến trình thực hành nội quán của bạn sẽ không có sự tiến bộ. Thọ vô ký tính cũng rất huyền ảo và khó nhận biết. Do đó, cách tốt nhất khi bắt gặp cảm giác này, bạn nên trở về với đề mục tham thiền căn bản ( tức tiến trình phồng lên và xẹp xuống của bụng), nhận biết đề mục tham thiền này một cách rõ ràng và trong sáng. Khi tiến trình thực hành thiền đã được cải thiện và tuệ minh sát đã chín muồi, bạn sẽ gặt hái được trí tuệ hiểu biết về tính tan hoại của vạn hữu

 ( Bhanga Ñāna). Loại trí tuệ này là nền tảng để bạn có thể nhận thức được những sai lầm thiếu sót và nguy hiểm khi đánh giá về pháp hữu vi. Khi năng lực tập trung tâm ý đã vững chắc và mạnh mẽ, sự chú ý, tiến trình trở thành của vạn hữu, tiến trình đang khởi lên và tan biến đi của các sự vật hiện tượng sẽ xuất hiện một cách rõ ràng hơn trong tâm thức của bạn. Vì vậy, vọng tưởng sẽ bị loại bỏ khi bạn đã nhận thức được tính vô thường của vạn hữu. Trí tuệ hiểu biết về trạng thái đang tan hoại của vạn hữu ( Bhanga Ñāna) và vọng tưởng ( Moha – tức suy nghĩ về những cái hảo huyền không có thật) là phản đề của nhau. Khi vọng tưởng đã được biểu lộ trong thọ vô ký tính thì nó phải được loại bỏ ngay lập tức. Sau khi lắng nghe bài thuyết Pháp nói về “ ba điều cốt tủy”, cầu chúc cho quí vị sẽ có khả năng thực hành theo những lời dạy của Đức Phật. Với sự siêng năng cần mẫn trong quán niệm để gặt hái được tâm thức thanh thản. Cầu chúc cho hết thảy quí vị sẽ nhanh chóng nhận thức được Niết Bàn như đã mong muốn để có thể thoát khỏi mọi thứ khổ đau. Lành thay ! Cầu chúc cho muôn loài chúng sanh trên 10 phương thế giới sẽ tránh được những điều nguy hiểm và tổn hại. Cầu chúc cho họ sẽ thoát được những thứ khổ đau đến từ thể xác và tinh thần. Cầu chúc cho họ sẽ có khả năng buông bỏ được gánh nặng của cuộc sống và được hạnh phúc trong thân tâm. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !   

 

                  Bảy điều thiện lành phải thường xuyên làm cho

                                     sinh sôi nảy nở

Hàng năm, những người mộ Đạo thường dâng Y cho các Tỳ kheo và lắng nghe thuyết Pháp về những lợi ích của hành động cao quí này. Những lợi ích đó được gọi là Nibaddha Kusala. Từ Nibaddha Kusala có nghĩa là thường xuyên làm cho những hành động thiện lành quí báu sinh sôi nảy nở để gặt hái phước báu. Bài thuyết Pháp này sẽ nói về những lợi ích của việc dâng Y. Có những người chưa trở thành Tu-Đà-Hườn ( Sotāpaññā – Stream Winner) trong kiếp sống hiện tại. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của loại phước báu được gọi là Nibaddha Kusala , trong một vài trường hợp họ cũng có thể thoát khỏi địa ngục trong kiếp sống kế tiếp giống như một Tu-Đà-Hườn. Qua việc học tập những lời dạy của các vị thầy, người ta cũng có thể lãnh hội được những niềm mong ước của Đức Giáo Chủ đối với muôn loài chúng sanh. Vì có hảo tâm đối với chúng ta, ngài Mahāsī đã làm một bài kệ nói về những điều trên. Trong bài Kệ này, Ngài đã nói rằng những người thế tục biết lắng nghe Giáo Pháp và có mong muốn thực hiện Nibaddha Kusala sẽ có thể thoát khỏi địa ngục khổ đau trong kiếp sống kế tiếp.

Tóm tắt: An trú trong 3 loại ngọc quí, giữ gìn 5 giới, dâng cúng đủ thứ, bố thí hai tuần một lần, dâng cúng y phục, dâng cúng các dụng cụ chứa nước uống và xây dựng các tu viện. Những thí chủ thực hành theo 7 loại bố thí trên cũng giống như các Tu-Đà-Hườn, họ sẽ không còn trở lại địa ngục nữa.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                          

An trú trong Ba Loại Ngọc Quí là Nibaddha Kusala

An trú trong Ba Loại Ngọc Quí ( Phật, Pháp, Tăng) một cách vĩnh viễn là Nibaddha Kusala. Những người lắng nghe Giáo pháp từ các bậc cha mẹ thiện lành và là học trò của những vị thầy đáng kính đã an trú trong Ba Loại Ngọc Quí kể từ khi họ còn thơ ấu theo lời khuyên bảo của cha mẹ và thầy cô giáo của họ. Buddho me saranam annam natthi ( đối với tôi không có gì bằng nương tựa vào Đức Phật). Dhammo me saranam annam natthi (đối với tôi không có gì bằng nương tựa vào Phật pháp). Sangho me saranam annam natthi ( đối với tôi không có gì bằng nương tựa vào Tăng già).

Mỗi khi hồi tưởng để nhớ lại những câu nói trên, bạn sẽ phải thừa nhận rằng không có gì bằng nương tựa vào Đức Phật. Đối với Phật pháp và Tăng già cũng giống như vậy, chúng ta cần phải làm cho sự nhận thức quí báu này ngày càng sinh sôi nảy nở hơn. Vì vậy, an trú trong Ba Loại Ngọc Quí là Nibaddha Kusala.

Giữ gìn 5 Giới là Nibaddha Kusala

Những người lắng nghe Giáo pháp từ các bậc cha mẹ thiện lành và là những học trò của các vị thầy đáng kính phải giữ gìn 5 Giới một cách nghiêm ngặt, tuân thủ những lời khuyên đúng đắn của cha mẹ và thầy cô giáo của họ giống như việc mặc áo quần để bảo vệ thân thể. Khi thấy ý tưởng muốn sát sanh khởi lên trong tâm thức, họ cần phải tự nhủ rằng “ Bây giờ tôi không sát sanh và sẽ không bao giờ làm điều đó”. Đó là một sự nhận thức quí báu, vì vậy họ đã làm cho Nibaddha Kusala sinh sôi nảy nở. Tương tự như vậy, mỗi khi ý tưởng trộm cắp, tà dâm, nói dối, xử dụng các chất say cũng như những nguyên nhân bất hạnh và phá hoại khác xuất hiện, bạn phải tự nhủ rằng : “ Tôi không có ý định trộm cắp, tôi không có ý định tà dâm, tôi không có ý định nói dối, tôi không có ý định xử dụng các chất say”. Bằng cách làm như vậy, bạn luôn luôn gặt hái được Nibaddha Kusala.Có một điều cực kỳ quan trọng đối với những người Phật tử là không nên nói dối. Những người lắng nghe Giáo Pháp phải cẩn thận để không bị phạm vào Giới luật nói dối. Có nhiều cách thức nói dối, dù cố ý hay không. Ngày này qua ngày khác, người nói dối tìm đủ mọi lý lẽ khác nhau để thực hiện hành vi này. Nếu không chú ý và để phạm vào giới luật này đến mức thành thói quen thì bạn sẽ không thể nào gặt hái được Nibaddha Kusala. Do đó, chắc chắn bạn phải bị đọa xuống địa ngục khổ đau. Con người ta thường có thói quen hay xử dụng lối nói phóng đại để tán dương một người nào đó, hơn là những gì người này xứng đáng được công nhận. Hoặc người ta có thể qui trách nhiệm cho một ai đó khi có một sự việc đổ vỡ, nhưng thật ra người bị qui trách nhiệm không phải là người xấu. Sự thổi phồng hay cường điệu là một cách thức nói dối. Do đó, bạn phải cẩn thận để không vi phạm Giới luật này. Do giữ gìn 5 Giới một cách hoàn hảo và liên tục gặt hái Nibaddha Kusala, trong kiếp sống kế tiếp bạn sẽ tránh được những nổi khổ đau khủng khiếp ở địa ngục.

Dâng cúng đủ thứ là Nibaddha Kusala

Vào thời Đức Phật còn tại thế, có khoảng từ 500, 1000 Tỳ kheo hay hơn nữa chung sống với nhau trong một tu viện. Với niềm tin vào Phật pháp, những người mộ đạo thường có thói quen cúng dường cho một hay nhiều vị Tỳ kheo. Do tài chánh hạn chế, người ta chỉ có thể dâng cúng được cho một vài vị Tỳ kheo mà thôi. Do đó, những thí chủ thường tìm đến với những Tỳ kheo Trưởng lão để dâng cúng nhiều thứ cho các ngài và một số đệ tử của họ khoảng từ 5 đến 10 người. Hàng tuần, những thí chủ muốn cúng dường thường đến thăm các Tỳ kheo, cung thỉnh họ về nhà của mình để dâng cúng vật thực, y phục và các nhu cầu thiết yếu khác. Những Phật tử thuần thành luôn luôn nghĩ đến việc làm cho phước báu được sinh sôi nảy nở trong họ, bất luận là vào thời điểm nào. Do đó, việc cúng dường đủ thứ cũng là Nibaddha Kusala.

Dâng cúng vật thực 2 tuần một lần là Nibaddha Kusala

Trong thời Đức Phật còn tại thế, những người thế tục có đạo đức thường dâng cúng vật thực cho các Tỳ kheo vào các ngày trăng tròn giữa tháng và trăng khuyết cuối tháng ( tức ngày 15 và 30 âm lịch hàng tháng, nếu tháng thiếu thì lấy ngày 14 và ngày 29 âm lịch – ND). Tương tự như vậy, ngày nay tại một vài nơi, hai tuần một lần, tùy theo khả năng, người ta vẫn còn thực hành tập quán cúng dường này cho hai, ba hay nhiều Tỳ kheo mà họ mong muốn. Sau khi dâng cúng vật thực vào ngày trăng tròn giữa tháng, người ta lại tiếp tục tu dưỡng thân tâm để chuẩn bị cho lần cúng dường sắp tới vào ngày trăng khuyết cuối tháng. Trong thời gian chuẩn bị đó, họ luôn hoan hỷ với tâm niệm rằng “ Chúng tôi có ý định sẽ dâng cúng vật thực vào ngày trăng khuyết cuối tháng”. Do đó, dâng cúng vật thực 2 tuần một lần là Nibaddha Kusala, nghĩa là thường xuyên sắp xếp để phát triển phước báu.

Dâng cúng y phục là Nibaddha Kusala

Lễ Dâng Y được cử hành hàng năm. Sau khi lễ này kết thúc, những người lắng nghe Giáo pháp lại tiếp tục mang tâm hoan hỷ để chuẩn bị cho lần Dâng Y trong năm tới. Do đó, họ thường xuyên phát triển được tâm thiện lành trong mọi lúc mọi nơi.Những Tỳ kheo thọ nhận y phục cúng dường của thí chủ cũng nổ lực tinh tấn tu hành hơn trước và sau mùa an cư. Những Tỳ kheo tân học cũng tận tâm nổ lực học thuộc Kinh Kệ, tối thiểu cũng là một bài Kinh hay một cuốn sách nói về Phật pháp nào đó. Bên cạnh đó, trong mùa an cư, những Tỳ kheo thường ra sức thực hành thiền một cách siêng năng cần mẫn để gặt hái Giáo pháp Cao thượng. Cho đến khi những Tỳ kheo bắt đầu mặc Y phục mới được dâng cúng thì đến lúc ấy, các thí chủ mới gặt hái được phước báu. Y phục được dâng cúng trong mùa an cư trước đã mòn rách như thế nào thì các Tỳ kheo tân học cũng phải ra sức học tập Kinh Kệ đến mức làu thông như thế ấy. Tương tự, những thiền sư mang y dâng cúng đang khi thực hành thiền minh sát cũng phải tâm niệm rằng, họ cần phải tinh tấn tu tập để các thí chủ có thể thường xuyên gặt hái được phước báu. Vì vậy, dâng cúng y phục cũng là Nibaddha Kusala.

Dâng cúng các dụng cụ chứa nước uống là Nibaddha Kusala

Những thí chủ dâng cúng các dụng cụ chứa nước uống, làm giếng phun, xây nhà máy nước, thiết kế các hồ chứa nước sinh hoạt… cũng gặt hái được phước báu khi các Tỳ kheo, khách bộ hành, những người có đạo đức cao trọng tình cờ đi ngang qua và có nước để xử dụng. Trong mọi lúc, thí chủ dâng cúng nước uống luôn luôn tâm niệm “ làm thế nào để những người khác có nước xử dụng và được hoan hỷ sau khi xử dụng nước cúng dường”. Vì vậy, bản thân các thí chủ cũng cảm thấy hoan hỷ, tâm thức của họ luôn phát khởi những ý nghĩ thiện lành. Do đó trong mọi lúc, những thí chủ dâng cúng nước uống đều gặt hái được phước báu. Đó là lý do tại sao việc dâng cúng các dụng cụ chứa nước uống, làm giếng phun, xây nhà máy nước, thiết kế các hồ chứa nước sinh hoạt… là Nibaddha Kusala.

Xây dựng các tu viện là Nibaddha Kusala

Những thí chủ dâng cúng tu viện để xử dụng vào việc truyền bá Phật pháp sẽ được hạnh phúc và gặt hái được phước báu khi các bậc Trưởng thượng thuyết Pháp, nghiên cứu Kinh Kệ… tại tu viện do họ dâng cúng. Nếu một tu viện được dâng cúng để xử dụng làm trung tâm thiền, khi các Tỳ kheo, hành giả và những người cao thượng đến thực hành thiền tại đây, phước báu trong thí chủ dâng cúng tu viện sẽ sinh sôi nảy nở rất nhiều. Dâng cúng các tu viện là Nibaddha Kusala kể từ khi phước báu trong tâm thức của thí chủ dâng cúng thường xuyên được thăng tiến. Các bậc thầy chú giải Kinh điển đã quan niệm một cách dứt khoát về những lời dạy của Đức Giáo chủ và đã giải thích rằng, những ai thực hiện 7 loại Nibaddha Kusala nói trên sẽ được hưởng phước báu giống như các Tu-Đà-Hườn. Họ sẽ được cứu vớt khỏi địa ngục ngay trong kiếp sống này mặc dù chưa phải là những Tu-Đà-Hườn.

Lời thúc dục quan trọng của ngài Mahāsī đối với chúng ta được thể hiện qua việc ngài đã soạn ra những câu Kệ có liên quan đến 7 Nibaddha Kusala nói trên. Do đó, những người lắng nghe Giáo pháp và những người thế tục khác đã có được tư tưởng rõ ràng về Nibaddha Kusala và gặt hái phước báu khi đã thực hiện chúng. Dưới đây, hãy để chúng tôi lập lại những câu Kệ này.

Tóm tắtAn trú trong Ba Loại Ngọc Quí, giữ gìn 5 giới và dâng cúng đủ thứ, bố thí 2 tuần một lần, dâng cúng y phục, dâng cúng các dụng cụ chứa nước uống và xây dựng các tu viện. Những thí chủ nào thực hiện 7 loại Nibaddha Kusala nói trên gặt hái phước báu giống như các Tu-Đà-Hườn, họ sẽ không còn quay trở lại địa ngục nữa.     

Mặc dù những người đã có Nibaddha Kusala sẽ không còn bị trở lại địa ngục trong kiếp sống thứ hai hoặc có thể là cả kiếp sống thứ ba của họ. Tuy nhiên, đối với kiếp sống thứ tư và thứ năm thì điều này không lấy gì làm chắc chắn. Đó là lý do tại sao, bạn nên thường xuyên thực hành thiền quán niệm, vì chỉ có con đường này là có thể đóng lại cánh cửa địa ngục đối với bạn mà thôi. Nếu gặp được những trường hợp thuận lợi, bạn sẽ được giải thoát khỏi địa ngục ngay trong kiếp sống này. Mặt khác, khổ đau ở địa ngục đã vĩnh viễn chấm dứt đối với bạn. Đức Phật cũng đã từng nói và bảo đảm như vậy trong phần mở đầu Kinh Đại-Niệm-Xứ ( Mahā Satipatthāna Sutta).

Có 4 Pháp quán niệm, cụ thể là quán thân, quán cảm thọ ( tức cảm giác), quán tâm ( tức ý thức đang hoạt động) và quán pháp ( tức đối tượng của tâm ý). Đức Phật đã truyền bá rằng chỉ cần thực hành theo 4 nền tảng quán niệm này thì chúng ta có thể thoát khỏi địa ngục và đồng thời cũng gặt hái được những kết quả tốt đẹp để đạt tới Con Đường Cao Thượng ( tức Bát Chánh Đạo- Ariya magga). Ngoài ra không có một cách nào khác để nhận thức được Niết Bàn và đoạn tận với khổ đau. Những người lắng nghe Giáo Pháp muốn đóng lại cánh cửa địa ngục và đạt tới con đường siêu phàm chỉ còn một cách duy nhất là thực hành sự quán niệm trên 4 lãnh vực thân, thọ, tâm, pháp. Ngoài ra họ không còn cách nào khác. Đây cũng là con đường duy nhất giúp cho họ có thể đạt tới Niết Bàn và đoạn tận với khổ đau. Bạn nên có mong muốn được thực hành thiền quán niệm để chấm dứt hết tất cả mọi sự khổ đau. Trong mọi lúc, bạn cũng nên thực hiện những hành động phước thiện. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là lý do tại sao bạn nên thực hành thiền quán niệm.

Tóm tắtNếu muốn đạt tới con đường cao thượng, bạn phải thực hành thiền Tứ Niệm Xứ ( Satipatthāna meditation).

Nếu bạn mong muốn đạt tới con đường cao thượng để có thể chấm dứt tất cả những nổi khổ đau ở địa ngục thì hãy thực hành thiền quán niệm. Một ngày nào đó, bạn sẽ đạt tới con đường đó đúng theo hạnh nguyện Ba-La-Mật và năng lực tập trung chú ý mạnh mẽ của chính mình.

Tóm tắtNếu bạn mong muốn nhận thức được Niết Bàn thì hãy thực hành thiền Tứ Niệm Xứ ( tức thiền quán niệm).

Khi còn thơ ấu, dưới sự hướng dẫn của những bậc cha mẹ thiện lành và thầy cô giáo đáng kính, mỗi khi thực hiện các hành động thiện lành, quí vị thường mong muốn đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Bốn lãnh vực quán niệm mà bây giờ quí vị đang thực hành là con đường duy nhất dẫn đến Niết Bàn, ngoài ra không còn con đường nào khác để nhận thức được cảnh giới cao thượng này. Đây là lời bảo đảm của Đấng Giác Ngộ mà trước đây ngài đã thuyết trong Kinh Đại-Niệm-Xứ ( Mahā Satipatthāna Sutta).

Các vị thầy thuốc danh tiếng đã từng loan báo khắp nơi rằng thuốc của họ là tốt và có thể chữa trị được tất cả những loại bệnh tật. Tương tự như thế, Đức Phật cũng đã bảo đảm rằng thiền Tứ-Niệm-Xứ có thể làm cho người ta đạt tới con đường cao thượng để chấm dứt những nổi khổ đau ở địa ngục, đồng thời khiến cho họ có thể nhận thức được Niết Bàn cao thượng. Đây là lời loan báo trước đây của Đấng Giáo Chủ khi ngài thuyết trong Kinh Đại-Niệm-Xứ. Hỡi những người đang lắng nghe Giáo pháp của Đức Phật ! Quí vị có tin vào điều mà tôi vừa nói không ? Tôi chắc chắn rằng quí vị sẽ thực hành thiền Tứ-Niệm-Xứ mỗi khi đã tin như vậy. Người ta không thể đạt tới con đường cao thượng và cũng không thể nhận thức được Niết Bàn hạnh phúc bằng những bài tập luyện về thân xác, cũng như không thể đọc sách rồi diễn thuyết trước công chúng để đạt được những điều đó. Thế thì phương tiện gì hay con đường nào là dẫn đến con đường cao thượng và sự nhận thức được Niết Bàn hạnh phúc ? Đối với những người bình thường và bất toàn thì thực hành sự nhận thức bằng tâm trí là một công việc không hề dễ dàng chút nào, bởi vì thiền Tứ-Niệm-Xứ rất sâu sắc và vi tế. Việc bố thí, trì Giới và thực hành thiền định tuy nằm trên lộ trình dẫn đến Niết Bàn. Tuy nhiên, liệu chúng ta có thể đạt tới Niết Bàn bằng cách bố thí, trì Giới và thực hành thiền định ? Câu trả lời là không bao giờ. Ngoài thiền quán niệm ( tức thiền Tứ-Niệm-Xứ) ra, không còn một con đường nào khác có thể giúp chúng ta đạt tới Niết Bàn. Nếu một người mang tâm chân thành muốn đạt tới Niết Bàn, thì cách thức đáng tin cậy nhất mà người này cần đến là thực hành thiền quán niệm. Thiền minh sát ( tức thiền Tứ-Niệm-Xứ) là cách thực hành để điều khiển tâm trí và nó cũng không phải là một công việc dễ dàng. Những người thực hành loại thiền này gọi là hành giả ( Yogi) đã gặp rất nhiều khó khăn khi mới khởi sự tập luyện. Khi tâm trí đã lắng dịu bởi thiền Tứ-Niệm-Xứ, nó sẽ trở nên sâu sắc và khoáng đạt. Một tâm trí lắng dịu và khoáng đạt là tài sản quí báu có thể giúp cho chúng ta đạt tới con đường cao thượng và nhận thức được Niết Bàn hạnh phúc như đã hằng mong muốn. Do đó, Đức Phật đã dạy rằng : “ Quán niệm là điều khiển sự nhận thức của tâm trí, làm cho nó trở nên hoan hỷ và không còn chểnh mãng, lang thang vô định. Đây là một công việc rất khó khăn”. Thiền quán niệm rất khó thực hành, nó sâu sắc và vi tế. Người thực hành loại thiền này trước hết cần phải vượt qua được những chướng ngại để gặt hái được một số kinh nghiệm ban đầu, lúc mới khởi sự tập luyện. Thực hành điều khiển tâm trí là một bài tập không hề dễ dàng bởi vì tâm trí luôn luôn thích kết nối với những đối tượng có thể làm cho nó cảm thấy hoan hỷ. Ngăn cản không cho tâm trí bám víu vào những đối tượng làm cho nó dễ chịu cũng là một việc khó khăn. Tâm trí chúng ta khởi lên và tan biến đi một cách gần như ngay lập tức. Ngay bây giờ nó có thể đang hạnh phúc nhưng trong khoảnh khắc kế tiếp nó đã trở nên đau khổ hay buồn chán. Ngay bây giờ nó đang có niềm tin vào Giáo pháp, tuy nhiên một phút sau đó nó đã không còn tin như vậy nữa. Do đó, tâm trí rất khó điều khiển. Phần lớn tâm trí thường thích trú ngụ đây đó trên những đối tượng bất thiện như : Tâm khao khát, bám víu, sân hận, ghét bỏ…Nó không được hoan hỷ khi trú trên các đối tượng thiện lành như Phật, Pháp, Tăng.

Do đó, hành giả sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc cố gắng làm cho tâm trí trú ngụ trên những pháp thiện lành. Nếu chúng ta không kìm chế được tâm trí, nó sẽ luôn luôn thích thú những đối tượng bất thiện mà các giác quan đã thu nhận. Những người lắng nghe Giáo pháp dưới sự hướng dẫn của các bậc cha mẹ thiện lành và thầy cô giáo đáng kính, từ lúc còn ấu thơ họ đã có thể điều khiển được tâm trí của chính mình và rồi bây giờ họ mới có thể được hoan hỷ trong Giáo pháp. Bản chất tự nhiên của tâm trí là thích trú ngụ trên những đối tượng bất thiện của giác quan và lang thang đây đó theo cách riêng của nó. Vì vậy, điều khiển tâm trí là một nhiệm vụ khó khăn. Bản chất tự nhiên của tâm trí con người là bản tính nhân loại chứ không phải của riêng ai cả. Theo lời giáo huấn của Đức Phật, khi tâm trí của một người nào đó đã được lắng dịu và có thể nhận thức một cách đúng đắn ( tức có văn hóa), nhờ vào thiền quán niệm, nó sẽ đưa người đó đến gần với Niết Bàn mong muốn. Rất nhiều bậc Trưởng lão và những Tỳ kheo đáng kính đã gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng. Bằng cách thực hành theo những lời dạy của Đức Phật, họ đã gặt hái được Đạo Quả và Niết Bàn. Tôi tin rằng đó là lý do tại sao có những người lắng nghe Giáo pháp đã thực hành thiền quán niệm một cách trung thực. Mặc dù giai đoạn mới khởi sự tập luyện thiền quán niệm là rất khó khăn. Tuy nhiên, bạn sẽ gặt hái được những kết quả tốt đẹp vào giai đoạn giữa và giai đoạn cuối trong quá trình thực hành loại thiền này. Đây là sự gặt hái có được từ một tâm trí đã lắng dịu và có thể giúp cho hành giả đạt tới Niết Bàn. Vị thầy đáng kính của chúng ta- Ngài Mahāsī đã soạn một bài Kệ nói về bản chất tự nhiên của tâm trí. Cầu chúc cho những người lắng nghe Giáo Pháp sẽ có khả năng thực hành thiền quán niệm với niềm tin và sự thành thật. Từ đó, họ có thể hiểu rõ bản chất tự nhiên của tâm trí mỗi khi nó đã được thuần hóa, để rồi tâm trí sẽ dẫn dắt họ đến với Niết Bàn.

Tóm tắt: Tâm trí rất khó làm cho lắng dịu, thường chuyển động mau lẹ và lang thang. Với sự thô ráp đó, sự nhận thức của tâm không tinh nhạy và có chiều hướng lưu động. Khi tâm trí đã được lắng dịu nhờ vào sự quan sát và quán niệm, nó sẽ trở nên dịu dàng, sâu lắng và mang lại hạnh phúc cho chúng ta.

Sau khi lắng nghe bài thuyết Pháp nói về lợi ích của việc dâng cúng y phục và 7 pháp thiện lành phải thường xuyên làm cho sinh sôi nảy nở. Cầu chúc cho quí vị có khả năng thực hành theo những lời dạy của Đức Phật. Với sự siêng năng quán niệm, cầu chúc cho quí vị nhanh chóng nhận thức được Niết Bàn mong muốn, đoạn tận với tất cả những khổ đau bằng cách thực hành thiền trong trạng thái tâm thanh thản. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !  

 

                                     Bốn điều kiện khó đạt được   

 

Tất cả những người Phật tử và những người lắng nghe Giáo pháp đều đang sở hữu 4 điều kiện khó đạt được. Do đó, tất cả quí vị là những người may mắn và đang có một chỗ đứng để thực hiện những hành động thiện lành. Bốn điều kiện khó đạt được này mang lại lợi ích cho cõi thế gian và cả cõi xuất thế gian. Con người ta làm việc một cách vất vả và tích cực để kiếm sống một cách lương thiện ( tức Chánh mạng- Wholesome livelihood).

Trên một phương diện khác, họ cũng bố thí, trì giới, thực hành thiền định và thiền minh sát khi may mắn có được 4 điều kiện khó đạt được. Bài Pháp này do Đức Phật truyền bá và có liên quan đến con rồng Erakapatta Naga.

Sau đó, 84 ngàn người thế tục đã thoát được những nổi khổ đau ở địa ngục. Trong thời Đức Phật Ca-Diếp ( Kassapa Buddha) còn tại thế. Một ngày nọ, có một vị Tỳ kheo đi thuyền trên sông Hằng ( Ganges river). Lúc bấy giờ thuyền của ông đang đi rất nhanh, bổng nhiên bánh lái của thuyền vướng phải những loại cỏ mọc trên sông làm cho thuyền vỡ tan tành. Đây là qui luật của sự tan hoại. Khi sắp chết đuối, nhà sư cảm thấy một lá cỏ lớn đang quấn quanh cổ của ông. Sự cố xảy ra quá bất ngờ khiến vị Tỳ kheo nọ không kịp trở tay. Thậm chí, lúc đó trên dòng sông cũng không có bất cứ một người nào qua lại. Vì vậy, ông đã chết trong bất hạnh. Sau khi chết đi, vị Tỳ kheo nọ tái sanh thành rồng Erakapatta Naga với thân mình to lớn như một chiếc thuyền. Đó là sự tích về rồng Erakapatta Naga. Bây giờ hãy nói về 4 điều kiện khó đạt được, bốn điều kiện đó là :

1. Được làm người

2. Được sống còn

3. Được lắng nghe Pháp Tứ-Niệm-Xứ để có thể đóng lại cánh của của địa ngục và trở thành một bậc cao thượng.

4. Được sống trong thời mà Phật Pháp vẫn đang còn tồn tại.

Có đủ 4 điều kiện nói trên là một điều cực kỳ khó khăn. Trong những kiếp sống ở quá khứ, bạn chỉ có thể có 1, 2 hay 3 điều kiện đó mà thôi. Khi đã được tái sanh làm người nhưng chưa chắc đã được sống lâu, có người mới sanh ra đã chết sớm. Một vài người đang còn tồn tại ở dạng thai bào cũng đã chết trước khi được sanh ra. Một số khác vừa lọt lòng mẹ được vài ngày hoặc chưa đến một tháng đã chết. Một số người khác được sống lâu hơn trong cõi người. Tuy nhiên, họ cũng chưa có cơ hội được lắng nghe Giáo pháp, bởi vì họ sống tại một nơi không có đạo Phật. Một số chúng sanh đã tồn tại như con người và may mắn được sống trong thời mà Giáo pháp của Đức Phật vẫn đang còn tồn tại. Tuy nhiên, họ vẫn mang trong tâm thức những quan điểm không đúng đắn như không cần lắng nghe thuyết Pháp, cũng không cần thực hiện những hành động thiện lành. Họ không tin rằng có kiếp sống kế tiếp và cũng không tin rằng khi được sanh ra làm người trong kiếp sống này là một điều may mắn. Thậm chí, có nhiều chúng sanh đã được sống trong kiếp người và may mắn được lắng nghe Giáo pháp của Đức Phật. Tuy nhiên, họ đã bị tật nguyền về thể xác hoặc tinh thần như điếc hay có trí tuệ thiểu năng, không thể hiểu được Phật pháp. Có người khi sanh ra đã bị câm, vì vậy tất nhiên người này cũng sẽ bị điếc luôn. Những con người tật nguyền đó đã phải trải qua nhiều kiếp sống khổ đau trong luân hồi và mãi cho đến bây giờ họ mới được sanh làm người. Có nhiều người khác đã hội đủ 3 điều kiện khó đạt được nói trên ( được sanh làm người, được sống còn và được lắng nghe một Giáo pháp cao thượng nào đó). Tuy nhiên họ không được sống trong thời mà Phật Pháp vẫn đang tồn tại. Chúng ta đã từng sống nhiều kiếp trong luân hồi sanh tử. Tuy nhiên, có thể vẫn chưa một lần nào chúng ta gặp được Giáo lý của Đức Phật. Do đó, bốn điều kiện nói trên là rất khó đạt được. Trong kiếp sống hiện tại, khi bạn đã có đủ 4 điều kiện vừa nêu trên, nếu ra sức và nhiệt tâm với việc thực hành thiền minh sát theo một sự hướng dẫn đúng đắn, bạn sẽ trở thành một Tu-Đà-Hườn và gặt hái được Niết Bàn. Một Tu-Đà-Hườn là một chúng sanh đã trải qua một số kiếp sống khổ đau , vị này sẽ đạt tới Niết Bàn trong kiếp sống thứ bảy của mình trong luân hồi. Thậm chí, nếu quá đam mê và gắn bó với những thú vui trần tục, quên không thực hành Giáo pháp trong suốt 6 kiếp sống ( kể từ khi khi gặt hái được đạo quả Tu-Đà-Hườn), đến kiếp sống cuối cùng trong luân hồi ( kiếp thứ bảy) thì vị này cũng sẽ cảm thấy hối hận và quay lại thực hành thiền minh sát. Do đó, sẽ đạt tới Niết Bàn hạnh phúc, không có kiếp sống nào giá trị bằng kiếp sống hiện tại, bởi vì khi được sống trong kiếp hiện tại, người ta sẽ có được cơ hội thực hành Giáo pháp và trở thành một Tu-Đà-Hườn. Vì lý do nà, ngài Mahāsī đã soạn một số câu nói tóm tắt rất dễ nhớ về tính siêng năng cần mẫn trong việc thực hành thiền minh sát với niềm tin vững chắc.

Tóm tắt: Mặc dù được sanh ra làm người là một điều kiện khó khăn, tuy nhiên hiện bây giờ bạn đã là người. Bạn đã được làm người do trong những kiếp sống ở quá khứ đã từng thực hiện những hành động thiện lành và xứng đáng.

 Tóm tắt: Được sống còn là một điều kiện khó khăn, tuy nhiên bây giờ bạn đang sống, mặc dù không phải là dễ dàng cho lắm.

Một số người đã chết trong dạ mẹ, một số khác đã chết khi vừa mới sanh ra được vài ngày hay chưa đến một tháng. Chắc chắn bạn đã nhận thức được một sự thật rằng, có rất nhiều người bằng tuổi, lớn tuổi hay trẻ tuổi hơn bạn đã chết. Để được sống còn, bạn phải có những loại vật thực thích hợp để xử dụng, các loại y phục thích hợp để bảo vệ thân mình trước những điều kiện thời tiết khác nhau. Bạn cũng phải xây dựng nhà để ở, cần có một cuộc sống tiện nghi để có thể sống lâu. Để có được những phương tiện thiết yếu phục vụ cho cuộc sống là một điều khó khăn và mệt nhọc. Tuy nhiên, nếu thất bại trong việc tìm kiếm những phương tiện thiết yếu đó, bạn cũng không thể sống lâu được.

Tóm tắt : Được lắng nghe Giáo pháp là một điều khó khăn, mặc dù vậy bây giờ bạn đang có được điều đó. Có nhiều người rất muốn có cơ hội để lắng nghe Giáo pháp nhưng vẫn chưa được mãn nguyện. Tuy nhiên, ngay bây giờ đây, bạn đã may mắn có được điều đó.

Tóm tắt : Được sống trong thời Phật Pháp vẫn đang tồn tại là một điều cực kỳ khó khăn. Tuy nhiên, bây giờ bạn cũng đang có được điều đó.

Để đạt tới Giác Ngộ Tối Thượng, Đức Phật đã phải trải qua một thời gian rất dài để hoàn thành được hạnh nguyện Ba-La-Mật của Ngài. Quãng thời gian dài khủng khiếp đó là 4 A-tăng-kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp, 8 A-tăng-kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp, 16 A-tăng-kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp. Trong quãng thời gian đó ngài đã sống rất thanh đạm, đơn sơ và giản dị. Thậm chí, quãng thời gian tồn tại của những thế giới khi Đức Phật chưa giác ngộ còn dài hơn quãng thời gian tồn tại của những thế giới sau khi ngài đạt tới chân lý tối thượng. Đó là lý do tại sao được sống trong thời Phật Pháp vẫn đang tồn tại là một điều kiện khó đạt được. Bây giờ, sở dĩ bạn đang được lắng nghe Giáo pháp của Đức Phật là do trong những kiếp sống ở quá khứ bạn đã có thực hiện những hành động thiện lành và đã gặt hái được nhiều phước báu.

Tóm tắt: Để hội đủ 4 điều kiện khó đạt được đã nêu trên là rất khó khăn, tuy nhiên ngay bây giờ bạn đã có được chúng.

Bởi đức hạnh gặt hái được từ những hạnh nguyện Ba-La-Mật đã thực hiện trong các kiếp ở quá khứ, bạn đã có đủ 4 điều kiện khó đạt được này.

Tóm tắt: Khi đã có đủ bốn điều kiện khó đạt được thì sẽ có khả năng đạt tới con đường cao thượng ( Ariya magga).

Bạn hãy thực hành bố thí, trì Giới, thực hành thiền định ( Samātha meditation) và thiền minh sát ( Vipassanā meditation) khi đã có đủ 4 điều kiện khó đạt được. Từ đó, bạn có thể trở thành những bậc cao thượng nếu thực hành thiền theo một phương pháp đúng đắn. Giữa pháp bố thí, trì Giới, thiền định và thiền minh sát, cuối cùng thế nào bạn cũng phải chọn cho mình một pháp môn thích hợp nhất có thể đưa bạn đến với Niết Bàn hạnh phúc ngay trong chính kiếp sống này. Bố thí và trì Giới chỉ có thể mang lại kết quả là bạn sẽ được tái sanh vào thế giới của loài người và cõi trời Chư Thiên. Trong khi đó, thiền định cũng chỉ có thể đưa bạn đến với cõi trời Phạm Thiên là tối đa.Vì vậy, chỉ có thiền minh sát mới có thể giúp cho bạn đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Nếu thực hành thiền minh sát, bạn cũng sẽ đạt đạt mục đích mà mình mong muốn ( ở đây bố thí và trì Giới). Với sự thành công trong thiền minh sát, bạn sẽ gặt hái được Đạo quả ( Magga phala).

 Sau khi năng lực nội quán đã phát triển thì cuối cùng bạn sẽ đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Những người lắng nghe Giáo pháp đã nhận thức rõ về 4 nền tảng quán niệm, cụ thể là quán thân, thọ ( tức cảm giác),tâm ( tức sự nhận thức) và pháp ( tức vạn hữu). Thực hành trên 4 nền tảng quán niệm là con đường duy nhất dẫn đến việc thoát khỏi địa ngục và đạt tới Niết Bàn. Thuận theo con đường này, hãy thực hành theo nó một cách nghiêm túc và nhiệt tình, chắc chắn bạn sẽ đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Có nhiều người hỏi rằng liệu có cần bố thí, trì giới và thực hành thiền định nữa hay không. Câu trả lời là, chúng ta cũng nên thực hành các Pháp môn đó để có được những hiệu quả hỗ tương. Bởi vì một người đã thực hành bố thí hoàn hảo thì người này sẽ có khả năng trì Giới rất tốt, một người trì Giới tốt sẽ có khả năng phát triển năng lực tập trung tâm ý bằng thiền định. Nếu việc trì Giới của bạn không được hoàn hảo, năng lực thiền định của bạn sẽ rất kém, thậm chí là thất bại. Sự phát triển của thiền minh sát tùy thuộc vào việc năng lực định tâm của bạn có được chín muồi hay không. Do đó, Pháp môn này sẽ trợ giúp cho Pháp môn khác phát triển. Khi bạn dâng cúng vật thực, tâm trí của bạn đang ngập tràn trong trạng thái yêu thương tử tế (tức tâm từ- Mettā) đối với người nhận của bố thí. Cho tức là nhận, người nhận sẽ sung sướng và hạnh phúc vì có được những thứ mà mình đang cần. Ngược lại, người cho sẽ nhận được phước báu và nhiều điều tốt đẹp khác. Do đó, với trạng thái yêu thương tử tế của tâm, người ta sẽ có khả năng trì Giới rất dễ dàng và không bị phạm Giới. Khi một người nào đó biết rằng anh ta sẽ cảm thấy vô cùng bất hạnh khi của cải của mình bị đánh cắp, anh ta sẽ không bao giờ thực hiện hành vi ăn trộm. Những Giới khác như sát sanh, tà dâm…cũng tương tự như vậy. Vì vậy, khi phát triển trạng thái thương yêu tử tế trong tâm thức, bạn sẽ không làm cho kẻ khác bất hạnh và khổ đau. Từ đó, năng lực trì Giới của bạn sẽ hoàn hảo. Như một hiệu quả hỗ tương, trạng thái tâm này sẽ khiến cho năng lực tập trung tâm ý của bạn được phát triển một cách dễ dàng. Cầu nguyện và lần chuỗi hạt là một phương pháp thiền định để phát triển năng lực định tâm. Từ đó, việc thực hành thiền minh sát của bạn sẽ trở nên dễ dàng hơn. Nếu không định tâm được thì tuệ minh sát sẽ không bao giờ phát triển. Nếu có khả năng chú ý một cách mạnh mẽ trên những đối tượng của giác quan, năng lực định tâm sẽ làm cho tuệ minh sát phát triển. Nhờ đó, bạn rất dễ gặt hái được Đạo quả và Niết Bàn. Đức Phật đã từng nói : “ Chỉ bố thí, chỉ trì Giới hay thực hành thiền định thì không thể thoát khỏi địa ngục khổ đau”. Mặc dù do ảnh hưởng của việc bố thí và trì Giới, người ta có thể tận hưởng được những cảm giác dễ chịu và hài lòng ở cõi trời Chư Thiên. Do đức hạnh gặt hái được từ thiền định, người ta có thể được tái sanh vào cõi trời Phạm Thiên. Tuy nhiên, nếu thực hành thiền minh sát, chắc chắn bạn sẽ thoát khỏi địa ngục. Đó là lý do tại sao thiền minh sát là cách thực hành duy nhất có thể đoạn tận được tất cả những nổi khổ đau.

Được làm người là một điều khó khăn

Khi đang trú tại tu viện Jetavana ở Xá-Vệ ( Savātthi), Đấng Giác Ngộ đã đến dự một cuộc họp mặt của những Tỳ kheo và người mộ đạo. Vì không có thời gian nhiều để thuyết Pháp, Đấng Giáo Chủ đã đặt một ít bụi đất lên trên móng của ngón tay cái Ngài và hỏi những Tỳ kheo rằng : “ Hỡi những người con trai của ta, các ông có thể so sánh bụi đất trên móng tay của ta và bụi đất trên toàn cõi địa cầu này được hay không ?” Các Tỳ kheo cung kính trả lời : “ Bạch Giáo Chủ ! Bụi đất trên móng tay của Ngài là có thể đếm được, bụi đất trên toàn cõi địa cầu này là vô số kể và không thể đếm được”. Lúc đó Đức Phật đã dạy rằng : “ Đúng như vậy. Số người sẽ thoát khỏi địa ngục có thể so sánh với bụi đất trên móng tay của ta đây. Số người sẽ bị đọa xuống địa ngục có thể so sánh với tất cả số bụi đất trên toàn cõi địa cầu này. Đó là lý do tại sao được làm người là một điều rất khó, các ông đừng có quên những điều đó”. “ Các ông đừng có quên…” là một lời khuyên của Đấng Giáo Chủ khi ngài không có thời gian nhiều để thuyết Pháp. Đa số mọi người đều đồng ý với lời khuyên này. Tuy nhiên, lời khuyên này không có nghĩa là “ đừng quên cuộc sống hạnh phúc ở cõi người, cõi Chư Thiên hay Phạm Thiên”. Mặt khác, Đức Phật cũng đã từng khuyên chúng ta nhớ thực hành thiền nội quán. Lời khuyên đó có nghĩa là đừng quên thực hành quán niệm. Khi bạn đang thấy, nghe, ngồi, đi bộ, ăn…thì hãy quán niệm về những hành động đó. Quán niệm ở đây là thực hành thiền minh sát, là con đường duy nhất có thể giúp cho bạn trút bỏ được gánh nặng khổ đau của 5 uẩn, thoát khỏi địa ngục và đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Đó là lý do tại sao Đấng Giác Ngộ đã phải hoàn thiện hạnh nguyện Ba-La-Mật của Ngài trong suốt quãng thời gian là 4 A-tăng-kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp, 8 A-tăng-kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp, 16 A-tăng-kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp. Trong những quãng thời gian dài khủng khiếp đó, Ngài không hề để ý đến thân mạng và của cải của riêng mình, cũng như những thú vui trần tục. Ngài chỉ tâm nguyện một điều duy nhất là cứu vớt muôn loài chúng sanh ra khỏi địa ngục và dẫn dắt họ đến với Niết Bàn hạnh phúc. Do đó, Đức Phật đã khuyên nhủ và nhấn mạnh với chúng ta rằng “ đừng có quên, đừng có quên”.

Tóm tắt: Bụi đất trên móng tay có thể so sánh với số người sẽ thoát khỏi địa ngục khổ đau, bụi đất trên toàn cõi địa cầu có thể so sánh với số người sẽ bị đọa xuống địa ngục. Khi đang còn làm người, bạn đừng quên những điều đó.Đừng có quên” ở đây có nghĩa là hãy nhớ thực hành thiền Tứ-Niệm-Xứ.     

Được sống còn là một điều khó khăn

 Có nhiều người đã chết sau khi vừa mới sanh ra được vài ngày hay khi chưa đầy một tháng tuổi. Có nhiều người bằng tuổi của bạn nhưng đã chết, một số khác lớn hay nhỏ tuổi hơn bạn cũng đã từ giã cõi đời. Đó là những hình ảnh minh họa mạnh mẽ nhất khi nói rằng “ được sống còn là một điều khó khăn”. Để sống còn, người ta phải đấu tranh, vật lộn với cuộc sống để tìm kiếm vật thực nuôi mạng, các loại y phục và nơi trú ẩn. Nói cách khác, bạn phải làm việc không ngừng nghỉ từ ngày này qua ngày khác, bạn cần phải có một nền tảng kinh tế tối thiểu và thiết yếu để được sống còn. Nếu không liên tục nổ lực làm việc để tìm kế sinh nhai, bạn sẽ không thể sống lâu được. Không chỉ có việc sống còn mà sức khỏe cũng là một điều quan trọng đối với cuộc sống của con người. Nếu có thể sống lâu thì chúng ta mới có thể thực hiện nhiều hành động xứng đáng để gặt hái được phước báu và trí tuệ. Đó là lý do tại sao Đức Phật đã từng giải thích về 5 nhân tố cốt tủy giúp cho người ta được sống lâu. Năm nhân tố đó là :

1. Kiếm được những loại vật thực và ăn ở một cách thích hợp. Những loại vật thực và cách ăn ở không thích hợp làm cho người ta bị đoản thọ. Ví dụ ăn phải những loại vật thực có chứa chất độc và khó tiêu hóa. Ăn ngủ bất thường trái với tự nhiên, không thích hợp được với nhiều loại thời tiết hay thay đổi…

2. Hiểu rõ lượng vật thực mà cơ thể thật sự cần đến hàng này. Nếu ăn nhiều quá mức cần thiết, bạn sẽ không thể sống thọ được. Ví dụ, nếu bạn có thói quen thích ăn đồ ngọt và ăn nhiều quá thì sẽ bị mắc bệnh tiểu đường.

3. Một điều cũng rất quan trọng là sự tiêu hóa. Chúng ta nên xử dụng những loại vật thực thích hợp với hệ thống tiêu hóa, đặc biệt là đối với những người già. Hệ tiêu hóa bị trục trặc là một điều nguy hiểm cho cuộc sống của bạn.

4. Tư cách đạo đức đứng đắn cũng là một vấn đề quan trọng khác. Chúng ta cần biết sự thật rằng, một người không có tư cách đạo đức đứng đắn có thể có những hành vi sai trái như trộm cắp, tà dâm, nói dối, xử dụng các chất say…Từ đó cuộc sống của người này sẽ gặp phải những điều nguy hiểm.  Một người có sức khỏe thể chất cường kiện sẽ sống thọ hơn những người không có. Tuy nhiên, nếu một người không có tư cách đạo đức đứng đắn và hay vi phạm tội lỗi thì không thể sống thọ được. Ngày nay, trong đời sống hàng ngày, bạn thường nghe, thấy hay bắt gặp những hành vi không đứng đắn trong xã hội đã dẫn những cái chết rất vô duyên và lố bịch.

5. Quan hệ bầu bạn tốt đẹp là một nhân tố giúp chúng ta có thể sống lâu. Sống với những người con trai và con gái thiện lành, một người vợ hay chồng dễ chịu là nhân tố dẫn đến hạnh phúc và sống lâu. Thân thể 5 uẩn của chúng ta được tạo thành bởi 4 loại vật chất, cụ thể là :

a. Kamma rūpa – Nghiệp vật chất ( Karmic Corporeality)

b. Citta rūpa – Tâm vật chất ( Mind-produced Corporeality)

c. Udaya rūpa – Thời tiết vật chất ( Weather-produced Corporeality)

d. Bhàya rūpa – Thức ăn vật chất ( Food-produced Corporeality)

Khi bốn nhân tố vật chất cụ thể này được cân bằng một cách tốt đẹp thì người ta sẽ sống rất thọ. Bởi vì con cái hư hỏng, vợ hay chồng khó chịu mà một người nào đó đã trở nên bất hạnh. Từ đó tâm vật chất không còn đóng vai trò là một nhân tố tốt đẹp trong việc duy trì cuộc sống của người đó nữa. Tiếp đến là nghiệp vật chất và thức ăn vật chất cũng đã yếu kém theo. Nếu một cái chân của một cái bàn có bốn chân bị gãy thì cái bàn đó sẽ không còn đứng vững, thậm chí phải bỏ đi và không còn xử dụng được nữa. Tương tự như vậy, nếu một trong 4 nhân tố tạo nên thân xác chúng ta bị yếu kém đi thì cả ba nhân tố còn lại sẽ bị xáo trộn. Do đó, cuộc sống của chúng ta bị đe dọa bởi vì 4 nhân tố nói trên là những nhân tố có tính trợ giúp hỗ tương và luôn luôn hài hòa với nhau. Đức Phật đã từng nhấn mạnh rằng “ đây là bốn yếu tố cốt tủy tạo nên sự trường thọ của chúng sanh”.

Tóm tắt: Thức ăn hay vật thực thích hợp, biết tiết độ trong ăn uống, tiêu hóa tốt, bầu bạn tốt đẹp và đầm ấm, tư cách đạo đức hoàn hảo là những nhân tố dẫn đến sự trường thọ.

Được lắng nghe Giáo pháp là một điều rất khó

Mặc dù đã có được cơ hội làm người, được sống còn và sống trong thời Giáo pháp của Đức Phật vẫn đang tồn tại. Tuy nhiên, có người vẫn không thể lắng nghe Giáo pháp của Đức Phật bởi vì người đó có những khiếm khuyết về thể xác hoặc tinh thần. Ví dụ như người bị điếc, thiểu năng trí tuệ nên không hiểu được Giáo pháp… Thậm chí, một số người khác cũng đã may mắn được sanh vào cõi người, được sống còn và hội đủ điều kiện để lắng nghe Giáo pháp của Đức Phật. Tuy nhiên, họ vẫn không thể lắng nghe được những lời Phật dạy bởi vì tại nơi họ đang sinh sống đạo Phật không được hưng thịnh. Cách đây rất lâu, người ta khá thỏa mãn với việc bố thí và trì Giới nhưng không có thói quen lắng nghe Giáo pháp. Những Tỳ kheo cũng chỉ truyền bá Pháp môn bố thí và trì Giới mà không truyền bá thiền minh sát. Vào thời đó, uy tín lớn nhất mà người ta có được là làm thí chủ dâng cúng cho các chùa chiền và tu viện. Người ta đã tôn kính và tin tưởng mãnh liệt vào Pháp môn này. Thậm chí, bản thân những Tỳ kheo cũng cảm thấy thỏa mãn với việc tuân thủ Giới luật. Ngày nay tất cả mọi người đều có cơ hội để lắng nghe Giáo pháp Cao thượng bởi vì quí vị đã hội đủ 4 điều kiện khó đạt được. Đức Phật đã một mình truyền bá Giáo pháp của ngài trong 21 lần tại 21 địa điểm trong tỉnh Guru. Sở dĩ như vậy là do điều kiện thời tiết thuận lợi, vật thực dâng cúng dồi dào và chất lượng, đời sống kinh tế của người dân sung túc và thịnh vượng, người ta có điều kiện đi nghe thuyết Pháp. Ngày nay Miến Điện cũng có những điều kiện thuận lợi như thế, những người mộ đạo có thể thực hành thiền minh sát với năng lực tập trung đã chín muồi và tốt đẹp cho việc phát triển trí tuệ. Thậm chí, họ cũng không gặp phải khó khăn trở ngại nào trong việc lắng nghe Giáo pháp.

Trong thời Giáo pháp của Đức Phật vẫn đang còn tồn tại, người ta có một cơ hội lớn để lắng nghe những lời dạy của ngài và thực hành thiền minh sát. Tuy nhiên, nếu khi Giáo pháp của Đức Phật không còn hiện diện nữa, người ta sẽ khó có cơ hội để lắng nghe những lời dạy của Ngài, cũng như sẽ không còn ai nhắc đến thiền minh sát nữa. Đến lúc đó, ánh sáng trí tuệ của Phật Giáo sẽ không còn xuất hiện trên thế gian này nữa, Giáo pháp sẽ không còn nữa. Từ đó sẽ không còn ai đề cập đến thiền minh sát. Đúng theo hạnh Ba-La-Mật của chính mình, bạn đã may mắn được sống vào thời mà Giáo pháp của Đức Phật đang còn tồn tại. Đức Phật đã từng nói rằng “ một ngày nào đó thế gian sẽ thiếu vắng một vị Phật khai sáng, Giáo pháp cũng sẽ không còn”. Đó là lý do tại sao khi được sống trong thời mà Giáo pháp của Đức Phật vẫn còn tồn tại là một điều kiện khó đạt được.

Được sống trong thời mà Giáo pháp của Đức Phật vẫn đang còn tồn tại

là một điều rất khó

Để đạt tới trạng thái Giác Ngộ Tối Thượng, Đức Phật đã trải qua 4 A-tăng-kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp, 8 A-tăng-kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp, 16 A-tăng-kỳ và 100 ngàn Đại-kiếp. Số thế giới tồn tại khi Đức Phật chưa xuất hiện còn nhiều hơn số thế giới tồn tại sau khi ngài đã đạt tới Giác Ngộ Tối Thượng. Do đó, thật khó để có đủ 4 điều kiện nêu trên. Bây giờ bạn đang có 4 điều kiện khó đạt được. Đó là lý do tại sao, bạn nên quyết định thực hành thiền minh sát. Bắt đầu từ kiếp sống hiện tại, nếu thực hành loại thiền này, chắc chắn bạn sẽ trở thành một Tu-Đà-Hườn, thoát khỏi địa ngục và sau đó sẽ đạt tới Niết Bàn. Những bậc thầy chú giải Kinh Điển đã nhấn mạnh rằng, được sống trong thời mà Giáo pháp của Đức Phật vẫn đang tồn tại là một cơ hội lớn lao. “ Buddhuppadha navana Khana”, “Buddhuppadha” nghĩa là giác ngộ, “navana” nghĩa là lần thứ 9 và “ Khana” nghĩa là một cơ hội. Nói cách khác, lần thứ 9 Đức Phật xuất hiện trên thế gian, Giáo pháp được hưng thịnh và đây là một cơ hội tốt để đạt tới giác ngộ đối với muôn loài chúng sanh. Khi Đức Phật xuất hiện lần thứ 9 trên thế gian, ở đó người ta sẽ có cơ hội để trở thành Tu-Đà-Hườn ( Sotāpaññā), Tư-Đà-Hàm ( Sakadāgāmi – Once returner), A-Na-Hàm ( Anāgāmi – No returner ) và A-La-Hán ( Arahant). Tám lần xuất hiện trước của ngài không phải là cơ hội tốt để mọi chúng sanh đạt tới giác ngộ. Khi sanh ra làm người trong một thời điểm trùng khớp với lần xuất hiện thứ 9 Đức Phật trên thế gian, bạn nên hoan hỷ và thực hành thiền minh sát. Trong vô số kiếp sống ở luân hồi, bạn có thể đang ở cõi địa ngục, súc sanh hay ngạ quỷ, nơi bạn không thể thực hành thiền minh sát để đạt tới Đạo quả và Niết Bàn. Những cõi sống đó là thấp kém và tồi tệ, không có Phật, Pháp,Tăng. Sanh ra làm một Phạm Thiên trong cõi trời sắc giới cũng là một kiếp sống thấp kém. Ở đó không có tinh thần ( Nāma – Spirit), bạn không thể thực hành bố thí, trì Giới và thiền minh sát. Có một sự thật rằng, khi không có tâm thức thì người ta không thể thực hành thiền minh sát và không thể gặt hái được Phật pháp. Hơn nữa trong nhiều kiếp sống, có thể bạn đã mang trong tâm mình những quan điểm sai lầm như không tin rằng có kiếp sống kế tiếp chẳng hạn. Đây cũng được xem như là những kiếp sống thấp kém. Khi Giáo pháp của Đức Phật không xuất hiện, bạn không thể lắng nghe được những lời dạy của Ngài và cũng không thể thực hành thiền minh sát. Bạn cũng khó mà thực hiện được những hành động thiện lành. Lúc đó, bạn không thể thực hành bố thí, trì Giới và thiền định.Vì vậy, đó cũng là một quãng thời gian tồi tệ. Không còn nghi ngờ gì nữa, bạn đã từng sống trong nhiều kiếp sống mà ở những nơi đó thiếu vắng Giáo pháp của Đức Phật. Thậm chí, nếu bạn được sống trong thời mà Giáo pháp của Đức Phật đang tồn tại, được thỏa mãn với việc thực hành bố thí, trì Giới và thiền định, nhưng không có thiền minh sát thì quãng thời gian sống đó cũng bị xem là thấp kém và tồi tệ. Đó là lý do tại sao bố thí, trì Giới và thiền định không thể giúp chúng ta thoát khỏi địa ngục và đoạn tận với khổ đau. Hiện bây giờ, bạn đang sống trong quãng thời gian gọi là lần xuất hiện thứ 9 của Đức Phật. Đây là một cơ hội tốt, nếu biết tận dụng để thực hành thiền minh sát thì bạn sẽ đạt tới Niết Bàn và thoát khỏi tất cả những nổi khổ đau.

Tóm tắt: Đức Phật đã 8 lần xuất hiện trên thế gian, tuy nhiên những lần đó đối với ngài là thấp kém và tồi tệ. Chỉ đến lần xuất hiện thứ 9 thì ngài mới đạt tới Giác Ngộ Tối Thượng. Bạn đang ở trong chu kỳ xuất hiện tốt đẹp này của Đức Phật. Đang khi có cơ hội để trở thành một Tu-Đà-Hườn,bạn phải cố gắng trở thành một bậc cao thượng.

Bốn nền tảng quán niệm

Nếu thực hành theo một phương pháp đúng đắn, chắc chắn bạn sẽ đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Thế nào gọi là phương pháp thực hành đúng đắn ? Phương pháp thực hành đúng đắn là phương pháp thực hành dựa trên bốn nền tảng quán niệm, bao gồm : Thân, thọ, tâmpháp.

1. Thân niệm xứ

Thân niệm xứ là phương pháp quán niệm về thân thể, cụ thể là quán niệm về những chuyển động của thân thể một cách chính xác và liên tục trong bốn tư thế : Đi, đứng, ngồi và nằm. Nếu có khả năng đặt sự chú ý của mình một cách vững vàng và chính xác trên đối tượng quan sát đang xảy đến trong hiện tại ( ở đây là bất cứ chuyển động nào của thân thể) thì bản chất của hiện tượng ấy sẽ hiển hiện một cách rõ ràng trong tâm thức của bạn. Đúng theo hạnh Ba-La-Mật ( Pāramitā – Perfection) của từng người khác nhau, người ta có thể lãnh hội được Giáo pháp một cách minh bạch, ngay khi tâm trí của họ đang trú trên một sự biểu lộ nào đó ở hiện tại. Mỗi khi bất cứ cái gì vừa mới khởi lên, nếu ngay lập tức bạn chú ý đến nó thì có thể nói rằng bạn đã quán niệm một cách chính xác. Nếu lúc ấy tâm trí đang bị lộn xộn, rối rắm và lang thang vô định, không thể gom tụ lại trên đối tượng quan sát thì có thể nói là sự chú ý của bạn chưa được chính xác. Khi tiến trình quán niệm của bạn chưa được chính xác thì bản chất của những chuyển động thuộc về thân xác sẽ không hiển lộ một cách rõ ràng. Nói cách khác, bạn sẽ không nhận thức được bản chất của những chuyển động đó một cách minh bạch. Khi có thể quán niệm và chú ý một cách chính xác trên đối tượng quan sát, bản chất của đối tượng sẽ hiển lộ một cách rõ ràng và mạnh mẽ trong tâm thức của bạn.

2. Thọ niệm xứ

Thọ niệm xứ là phương pháp quán niệm về cảm giác ( nói theo nghĩa rộng có thể bao gồm cả cảm tình). Khi có thể đặt sự chú ý một cách chính xác và liên tục trên các cảm giác như : Ngứa ngáy, tê cóng, đau nhức, co giật…thì năng lực tập trung tâm ý của bạn sẽ mạnh mẽ lên, bản chất của những cảm giác đó sẽ hiển lộ một cách rõ ràng trong tâm thức của bạn.

3. Tâm niệm xứ

Tâm niệm xứ là phương pháp quán niệm về sự nhận thức của tâm trí, còn gọi là tâm thức. Nói cách khác, bạn đang phản tỉnh và suy niệm để xem thử mình đang hạnh phúc hay buồn lo, đang vui vẻ hay tức giận… Bạn sẽ là người khám phá tâm trí của chính mình để xem thử nó đang thay đổi như thế nào. Bây giờ tâm trí của bạn đang buồn, tuy nhiên chỉ cần một khoảnh khắc tiếp theo có thể nó đã trở nên vui vẻ hơn. Ngay bây giờ tâm trí của bạn đang tức giận đùng đùng, tuy nhiên một phút sau có thể nó đã không còn ở trong trạng thái đó nữa. Bạn hãy giữ sự chú ý trên những trạng thái thay đổi nhanh chóng thuộc về tâm thức của chính mình.

4. Pháp niệm xứ

Pháp niệm xứ là phương pháp quán niệm về vạn hữu, chú ý đến trạng thái đang thấy, đang nghe, đang ngửi… và chỉ chú ý đến chúng một cách thuần túy. Nói cách khác, bạn chỉ chú ý đến những hiện tượng đó một cách trực tiếp, không xử dụng ý thức của mình để can thiệp vào tiến trình đang diễn ra của chúng ( như mong muốn chúng phải như thế này hay như thế kia…). Hãy để cho những hiện tượng xảy đến một cách tự nhiên và chỉ âm thầm quan sát để nhận biết được bản chất của chúng mà thôi. Tuyệt đối không bám víu hay chạy theo những hiện tượng, không để cho trạng thái đang thấy, đang nghe, đang ngửi… ảnh hưởng đến tâm thức của chính mình.

Ví dụ, khi đang thấy một cái gì đó, quí vị chỉ cần nhận biết là mình đang thấy mà thôi, chứ không suy nghĩ gì cả về sự thấy đó. Khi bạn đang nghe thì chỉ cần nhận biết là mình đang nghe, vậy thôi… Bốn nền tảng quán niệm này đã được chính Đức Phật khám phá và thực hành. Ngài đã trình bày và giải thích một cách dứt khoát rằng người ta có thể thực hành chúng một cách dễ dàng. Nói một cách chính xác, thực hành trên bốn nền tảng quán niệm là một điều không khó khăn cho lắm và có thể thực hiện được. Nếu thực hành chúng một cách khách quan và thành thật thì người ta có thể gặt hái được Đạo quả trong vòng 7 ngày. Bằng hạnh nguyện Ba-La-Mật, người ta cũng có thể trở thành Tu-Đà-Hườn và thoát khỏi địa ngục khổ đau ngay trong chính kiếp sống này. Ngoài ra, chắc chắn rằng họ sẽ không còn bị tái sanh vào cõi địa ngục, súc sanh và ngạ quỷ. Người ta sẽ có khả năng đi xuyên qua luân hồi sanh tử mà không một chút sợ hãi và hoài nghi.

Có thể bạn đã có tâm ao ước muốn khám phá ra chính mình hay khám phá một người đã thật sự là Tu-Đà-Hườn ( Sotāpaññā – Stream Winner). Con đường dễ nhất là bạn hãy lắng nghe một Tu-Đà-Hườn kể về những hành động xấu xa mà Ngài đã từng phạm phải thay vì che dấu những lỗi lầm đó. Một Tu-Đà-Hườn không bao giờ che dấu những hành động xấu xa của chính mình, Ngài đủ tự tin để kể cho chúng ta nghe về những hành động đó với tư cách là một con người xứng đáng và thích hợp. Đó là tính cách của một Tu-Đà-Hườn. Có rất nhiều cách khác để thẩm định hay xét đoán về một Tu-Đà-Hườn. Một Tu-Đà-Hườn chỉ còn sống trong luân hồi tối đa là 7 kiếp nữa mà thôi. Thậm chí, bằng cách này hay cách khác, trong những kiếp sống đó Ngài có thể tạm quên Giáo pháp hoặc quá thích thú với Pháp môn bố thí, trì Giới và thiền định. Tuy nhiên, vào kiếp sống cuối cùng trong luân hồi ( kiếp thứ 7 kể từ khi trở thành Tu-Đà-Hườn), Ngài sẽ cảm thấy hối hận và trở lại thực hành thiền minh sát để sau đó đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Trong 7 kiếp sống cuối cùng của một Tu-Đà-Hườn, Ngài luôn luôn được tái sanh vào những cảnh giới cao thượng, ngoại trừ Niết Bàn. Một thời khi đang trú tại tu viện Kỳ-Viên ở thành Xá-Vệ ( Savātthi), Đấng Giác Ngộ đã đặt một ít bụi đất lên móng tay của ngón tay cái ngài và so sánh nó với những khổ đau ít ỏi mà một Tu-Đà-Hườn phải chịu đựng. Đức Phật đã nói rằng số bụi đất trên toàn địa cầu này có thể so sánh với những khổ đau mà một Tu-Đà-Hườn đã loại bỏ được. Khi đã nhận thức được rằng, mình chỉ còn phải sống trong cõi luân hồi thêm 7 kiếp nữa thôi, một Tu-Đà-Hườn sẽ cảm thấy nhẹ nhỏm và phấn chấn để tập trung tâm ý trong tham thiền. Vì vậy, Đức Phật đã nói rằng Tu-Đà-Hườn là hạng người cao thượng chắc chắn sẽ đạt tới Niết Bàn hạnh phúc. Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp về “ Bốn điều kiện khó đạt được”, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành theo những lời giáo huấn của Đức Phật. Với năng lực quán niệm siêng năng cần mẫn, cầu chúc cho tất cả quí vị nhanh chóng nhận thức được Niết Bàn mong muốn, đoạn tận với khổ đau bằng cách thực hành thiền minh sát với một tâm trí thanh thản, thoát khỏi mọi sự rằng buộc. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !   

 

                                                             

                                          Bốn điều khó ngăn chặn

 

Mọi người đều sợ hãi những mối nguy hiểm và tổn hại.Họ tìm nhiều phương cách để ngăn chặn những điều ấy bằng tất cả khả năng và sự giàu có mà họ đang sở hữu. Thậm chí, khi các phương cách mà họ đã nghĩ ra không thể ngăn chặn được những mối nguy hiểm, họ sẽ tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người khác. Người ta sẽ cảm thấy rất lúng túng và bất hạnh khi những mối nguy hiểm không thể tránh được đổ xuống đầu họ. Có những mối nguy hiểm có thể ngăn chặn được. Tuy nhiên, cũng có những mối nguy hiểm không thể ngăn chặn, đó là : Trạng thái suy tàn, bệnh tật, cái chết và tác động của nghiệp xấu. Thậm chí, những phát kiến khoa học phát triển và tân tiến nhất, những nhà giả kim, những câu thần chú hay những năng lực siêu nhiên cũng không thể ngăn chặn được 4 mối nguy hiểm nói trên. Bản thân Đức Phật cũng không thể giúp được gì, khi chúng ta phải đối mặt với những mối nguy hiểm đó. Đấng Giác Ngộ đã từng nhấn mạnh rằng không có ai có thể thoát được 4 mối nguy hiểm nói trên.

Tóm tắtTrạng thái tan hoại, bệnh tật, cái chết và tác động của nghiệp xấu là 4 điều không thể ngăn chặn.

Trạng thái tan hoại

Khi tiếp cận với những loài rắn có nọc độc, người ta cần phải trang bị gậy gộc, các loại dao, các loại chĩa hai để đè đầu rắn…Tương tự như vậy, con người chúng ta ngày càng tiến lại gần với tuổi già, bệnh tật và cái chết.

Do đó, chúng ta cần phải bảo vệ chính mình bằng Phật Pháp một cách mạnh mẽ và vững chãi. Có hai cách thức già cỗi, đó là : Trạng thái già cỗi về phương diện thân xác và già cỗi về phương diện tinh thần. Khi đã về già, những chuyển động của bạn sẽ trở nên chậm chạp. Lúc đó, bạn phải cần đến sự giúp đỡ trong khi đang ngồi xuống hay đứng lên, cũng như trong những hoạt động khác. Đây là những dấu hiệu già cỗi về phương diện thể xác. Khi trí nhớ đã trở nên yếu kém, bạn không thể nhớ nổi tên của những người thân quen, bà con, bạn bè… Bạn đi vào một căn phòng nhưng quên mất là mình đã đi vào đó để làm gì. Vì vậy, bạn lại đi trở ra và tình trạng này cứ lập đi lập lại nhiều lần như thế. Đây là tính cách tiêu biểu cho trạng thái tan hoại thuộc về tinh thần. Chỉ cần suy ngẫm về một sự thật rằng, khi sống hết tuổi đời của mình thì chắc chắn thể xác và tinh thần của chúng ta sẽ trở nên già cỗi. Sống trong tuổi già với trí nhớ kém cõi, việc thực hành Phật pháp sẽ không hề dễ dàng chút nào. Khi suy ngẫm được như vậy thì tánh kiêu hãnh của tuổi trẻ trong chúng ta sẽ sụp đổ. Đến lúc đó, bạn sẽ chuẩn bị để thực hành Phật Pháp.

Tóm tắt: Suy ngẫm về mối nguy hiểm của tuổi già trước khi nó xảy đến.    

Ngay khi chúng ta đang còn trẻ thơ, trạng thái lão hóa đã được thiết lập. Trạng thái này giống như một cây nấm mọc trên đất với lớp bụi phủ lên trên nó. Quá trình lão hóa không xuất hiện một cách rõ ràng khi thân thể vật lý đang còn trẻ trung. Tuy nhiên, quá trình đó đã gắn liền với con người từ lúc họ mới sanh ra.

Tóm tắt: Thực hành Phật pháp trước khi tuổi già xảy đến là một đường lối thích hợp và thuận tiện nhất.

Theo lời chỉ dẫn của một vị thầy nào đó, nếu thực hành Phật pháp khi đang còn trẻ, bạn sẽ dễ dàng gặt hái được những thành quả tốt đẹp, bởi vì ở độ tuổi đó thân xác và tinh thần của bạn đang còn dễ uốn nắn, dễ điều khiển. Lúc đó, trí nhớ của bạn cũng còn khá tốt. Với độ tuổi từ 20 đến 40, dưới sự hướng dẫn của một vị thầy đáng kính và một phương pháp thực hành đúng đắn, người ta có thể gặt hái được Phật pháp trong vòng một tháng. Tuy nhiên, nếu ở độ tuổi gần 60 thì phải cần đến 2 tháng, bởi vì lúc đó sức khỏe của họ đã không còn tốt như trước. Với độ tuổi từ 70 đến 80, nếu không có nền tảng về Phật pháp thì sẽ rất khó thực hành được những lời dạy của Đức Phật một cách thành công.

Tóm tắtThật không thuận tiện chút nào khi thực hành Phật Pháp vào lúc tuổi đời đã quá già .

Những người con trai và con gái thiện lành sau khi đã gặt hái được Phật pháp thì cha mẹ của họ đã già. Lúc đó, họ muốn gửi cha mẹ của mình đến thực hành Phật pháp tại một trung tâm thiền. Những bậc cha mẹ đã già với trí nhớ kém cõi và không thể ngồi thiền lâu được nữa. Theo luật tự nhiên, họ cũng không còn khả năng đi bộ thẳng lưng. Do đó, họ cũng không còn khả năng tập trung tâm ý khi thực hành thiền. Sau 10 hay 15 ngày thực hành thiền, vị thầy hướng dẫn thiền đã tỏ ra không hài lòng với tật lười biếng của những người già. Ngài nghĩ rằng họ đã không quán niệm một cách chuyên chú. Do đó, cả hai bên, vị thiền sư và những người già lười biếng đều cảm thấy bất hạnh. Thật ra, những bậc cha mẹ đã già yếu muốn trở về nhà của họ, tuy nhiên bất đắc dĩ họ phải ở lại trung tâm thiền để thực hành Phật Pháp, bởi vì họ muốn làm cho con cái của mình được hài lòng qua việc thực hành thiền bất đắc dĩ này.

Tóm tắt: Khi đã già mà chưa gặt hái được Phật pháp thì đó là một điều sai lầm.

Khi ở nhà, những người già mong muốn được tham gia thảo luận công việc trong gia đình. Tuy nhiên, con cái của họ không cho họ có cơ hội để làm việc đó. Những người làm con muốn cha mẹ của họ phải dành thời gian vào việc thực hành thiền và không cần phải lo lắng gì về chuyện gia đình. Cảm thấy đau khổ vì bị bỏ rơi, những người già sẽ trở nên bất hạnh và rất dễ nổi cáu vì những chuyện phi lý. Tại sao ? Bởi vì họ đã không gặt hái được Phật pháp. Con cái của những người già có thể phải chăm sóc cha mẹ của mình trong một thời gian dài. Vì vậy, họ có thể đâm ra chán nản và cảm thấy bất hạnh. Từ đó, họ không còn chăm sóc cha mẹ của mình một cách chu đáo như trước nữa. Đến lúc đó, những người làm con sợ rằng mình có thể vi phạm những lỗi lầm nghiêm trọng vì không phụng dưỡng cha mẹ khi họ đã già yếu. Các bậc Trưởng thượng đã an ủi những người con đó bằng cách nói rằng, họ không hề phạm phải một lỗi lầm nào cả, sự việc không phải như thế. Tại sao những điều bất như ý lại xảy ra trong một gia đình ? Nếu các bậc cha mẹ đã gặt hái được Phật pháp thì cả gia đình sẽ được hạnh phúc.

Do đó, bạn nên thực hành Phật pháp trước khi tuổi già xảy đến. Nhờ đó mà khi về già, bạn đã có một nền tảng Phật pháp và vẫn còn cơ hội để thực hành những lời dạy của Đức Phật. Khi các bậc cha mẹ thực hành quán niệm và gặt hái Phật pháp, con cái của họ sẽ rất hạnh phúc và hài lòng vì cảm thấy mình đã tôn kính và phụng dưỡng cha mẹ một cách tử tế. Từ đó, cả hai phía, cha mẹ và con cái trong một gia đình đều gặt hái được phước báu. Chúng ta nên thường xuyên suy ngẫm về tính cách của tuổi già. Con người ta thường kiêu hãnh khi đang còn trẻ trung. Từ đó, họ có thể phạm phải những sai lầm. Bằng cách suy ngẫm về một sự thật rằng, một ngày nào đó mình sẽ già đi, bạn sẽ vứt bỏ tánh kiêu hãnh khi đang còn trẻ, trở nên thích thú trong việc tìm hiểu và thực hành Phật pháp trước khi tuổi già xảy đến. Nếu thường xuyên suy ngẫm về tuổi già, bạn sẽ hiểu một cách rõ ràng rằng bản thân mình đang càng ngày càng già đi.

 

Bệnh tật

Mặc dù chưa có bệnh nhưng bạn cũng nên tiên liệu trước về mối nguy hiểm của bệnh tật. Bây giờ tuy đang còn khỏe mạnh, nhưng bạn cũng nên thường xuyên nghĩ đến những trạng thái mà mình sẽ phải trải qua khi bị bệnh và nằm liệt giường.

Tóm tắt: Thực hành Phật Pháp trước khi tuổi già xảy đến là một đường lối thích hợp và thuận tiện.

Khi đang còn trẻ, thân xác và tinh thần vẫn còn đủ sức để vượt qua những cơn đau. Khi thực hành thiền, bạn sẽ không cảm thấy đau nhức bao nhiêu. Do đó, bạn có thể dễ dàng phát triển được trạng thái định tâm trong một thời gian ngắn và đặc biệt là gặt hái được Giáo pháp Cao thượng. Theo trình tự gặt hái Phật Pháp, chúng ta sẽ cần đến 5 nhân tố :

1. Niềm tin

2. Sức khỏe

3. Tính trung thực

4. Tính siêng năng cần mẫn

5. Kiến thức về sự khởi lên và tan biến đi của các sự vật và hiện tượng

Trong 5 nhân tố nói trên, sức khỏe đứng ở vị trí thứ hai. Khi đang có thể thực hành thiền với một trạng thái sức khỏe dồi dào của tuổi trẻ, bạn cũng nên suy ngẫm về trạng thái sức khỏe yếu kém của mình khi đã về già. Bạn hãy quán niệm rằng, một ngày nào đó chính bản thân mình cũng sẽ là một người bệnh nằm liệt giường. Đến lúc đó, việc thực hành thiền sẽ chẳng có một tác dụng nào cả. Do đó, bạn sẽ không gặt hái được Phật pháp. Suy ngẫm như vậy sẽ làm cho tính kiêu hãnh vì có sức khỏe tốt trong bạn sẽ giảm bớt phần nào.

Tóm tắt: Thực hành Phật Pháp khi đã lâm bệnh là một điều không mang lại ích lợi gì cả.

Đợi đến khi đã lâm bệnh nằm liệt giường và chưa biết sống chết ra sao, đến lúc đó bạn mới cảm thấy hối hận và muốn thực hành Phật pháp. Đến lúc đó, bạn làm sao có thể tập trung tâm ý trong sự hành hạ của bệnh tật ? Khi trí tuệ đã không còn xuất hiện, bạn sẽ đâm ra chán nản. Khi đã đau yếu và mất cảm hứng đối với cuộc sống, người ta sẽ không còn khả năng chịu đựng và chống chọi lại với bệnh tật một cách đúng đắn. Khi đã thất bại trong việc thực hành Phật Pháp vì đau yếu, người ta thường có xu hướng phóng đại trạng thái đau nhức trong lúc thực hành thiền mà họ sẽ bắt gặp. Từ đó, họ sẽ đánh mất chính bản thân mình. Đức Phật đã từng nói : “ Thực hành để biết rằng chỉ có thân xác của chúng ta là đau khổ còn tinh thần thì không bao giờ ”.

Nhà triệu phú 90 tuổi tên là Nakulapita bị bệnh tật hành hạ, đến giai đoạn cuối của cuộc đời ông tìm đến Đức Phật và thỉnh cầu rằng : “ Bạch Giáo Chủ ! Tôi đã quá già và bệnh tật. Có thể trong nay mai tôi sẽ không còn khả năng đến thăm Ngài nữa. Hãy làm ơn thuyết cho tôi nghe một bài Pháp thích hợp !”. Theo trình tự để làm cho Nakulapita nhận thức được bản chất thật sự của cuộc sống, Đức Phật đã nói với ông rằng không có bất cứ một người nào trên đời này là không bị bệnh tật hành hạ. Những bậc thầy chú giải Kinh Điển đã khai triển bài Pháp của Đức Phật bằng cách giải thích rằng, bất cứ cái gì được bài tiết ra từ thân thể của chúng ta cũng đều được xem như là bệnh tật, ví dụ như : Nước mắt, mồ hôi, nước bọt…Qua sự bài tiết, mồ hôi thoát ra từ thân thể một người bệnh, sự táo bón… cũng có thể làm cho người này cảm thấy bực bội. Sự thật, trước sau gì chúng ta cũng sẽ bị đau khổ vì một loại bệnh nào đó, không bị bệnh này thì mắc phải bệnh khác. Tuy nhiên, khi đang còn khỏe mạnh, có rất ít người quan tâm đến sự thật này một cách đúng đắn. Như Đức Phật đã nói : “ Thực hành để biết rằng chỉ có thân xác của chúng ta là đau khổ, còn tinh thần thì không bao giờ”. Sau khi nghe bài Pháp hoàn toàn thích hợp với bản thân mình, nhà triệu phú Nakulapita đã cảm thấy vui vẻ và thoải mái. Sau đó, ông tìm đến Tôn giả Xá-Lợi-Phất

( Ashin Sariputta) và đảnh lễ Ngài. Lúc đó, Tôn giả Xá-Lợi-Phất đã hỏi nhà triệu phú rằng : “  Đức Phật đã thuyết Pháp cho ông nghe phải không ? Sao ông trông có vẻ bình an và trầm tĩnh như thế ?”. Vì vậy, nhà triệu phú đã trả lời : “ Tại sao Đức Phật lại không thuyết Pháp cho một người như tôi nghe ?”. Nakulapita đã có được vinh dự là người quan hệ rất thân thiết với Đức Phật. Tôn giả Xá-Lợi-Phất cũng là người đã vinh dự nắm giữ danh hiệu

Trí Tuệ Bậc Nhất” trong Tăng Đoàn. Trí tuệ của Ngài chỉ đứng sau Đức Phật mà thôi. Khi vị Trưởng Lão hỏi về bài Pháp mà Đức Phật vừa thuyết, nhà triệu phú đã nói rằng bài Pháp này là cách thực hành để nhận biết rằng “ chỉ có thân xác là có thể đau khổ, còn tinh thần thì không bao giờ”.

Vị Trưởng Lão lại hỏi tiếp : “ Có bao giờ ông thỉnh cầu Đức Giáo Chủ giải thích cho ông nghe về ý nghĩa của sự đau khổ thuộc về thân xác, còn tinh thần thì không bao giờ đau khổ chưa ? Ngài có bao giờ giảng cho ông nghe vì sao cả thể xác và tinh thần cùng đau khổ một lúc chưa ?” Vì chưa được nghe những bài Pháp đó, nhà triệu phú đã thỉnh cầu Tôn giả Xá-Lợi-Phất thuyết cho ông nghe. Nakulapita nói sở dĩ ông thỉnh cầu như vậy vì ông đã quá già và bệnh tật, trong nay mai ông không thể đến thăm vị Trưởng lão nữa. Một người bị đau khổ về thân xác lẫn tinh thần là do người đó chưa gặt hái được trí tuệ phân biệt sự khác nhau giữa thể xác và tinh thần. Khi thân xác của ông ta bị đau thì tinh thần của ông ta sẽ bị đau theo. Do đó, ông ta cảm thấy bất hạnh. Vị Trưởng lão đã giải thích cho Nakulapita nghe về 20 quan điểm sai lầm về tự ngã ( bao gồm 5 uẩn và 4 quan điểm về tự ngã).

Để minh họa cho một quan điểm sai lầm về tự ngã, chúng ta có thể hiểu như sau : Có một người tên T nói rằng : “ Thân xác này là của tôi”. Vì đã nói như vậy,  đến khi thân xác kia bị đau thì ông T lại nói : “ Thân xác của tôi bị đau”. Trong trường hợp này, chúng ta hiểu rằng chính ông T tự nhận mình là người đã lãnh hội cái đau. Bản thân ông T là một điều kiện làm duyên để tạo ra cái đau. Chính ông T là người nhận biết cái đau. Một đằng khác, nếu ông T không tự nhận mình tên T và nói T không phải là tôi thì điều gì sẽ xảy ra ? Ai là người phải nhận biết và lãnh hội cái đau ? Chẳng có ai cả !

Tóm tắt: Nếu lãnh hội về thân xác và tinh thần giống như ông T thì chắc chắn bạn sẽ bị đau khổ về thể xác lẫn tinh thần.

Khi không chú ý để phân biệt được sự khác nhau giữa thể xác và tinh thần thì cả thể xác và tinh thần của bạn sẽ bị đau khi thân xác bị đau. Bởi vì thân xác là thuộc về vật chất ( Rūpa – meterial). Nó không hề có sự nhận thức. Chỉ có tinh thần ( Nāma – Spirits) của chúng ta là có sự nhận thức mà thôi. Khi thân xác bị đau, nếu tinh thần bị dính mắc vào thân xác thì nó sẽ bị đau theo. Sau khi biết được bài Pháp này, chắc chắn bạn sẽ thực hành sự chú ý đến cảm thọ ( tức cảm giác, cảm tình) để có thể phân biệt được sự khác nhau giữa vật chất và tinh thần. Khi đã duy trì được trạng thái tập trung tâm ý trên cảm giác, trí tuệ sẽ hiện khởi và bạn sẽ vượt qua được cảm giác

( Vedanā – Feeling). Thỉnh thoảng, trong quá trình thực hành thiền, dường như cảm giác đau khổ cũng đã tách rời khỏi tâm thức của hành giả. Từ đó, hành giả không còn tiếp tục chú ý đến cảm giác nữa. Lúc đó, anh ta ưu tiên chú ý đến tiến trình đang tan hoại của hiện tượng đang quan sát, cho nên mặc dù thân xác của anh ta đang đau nhưng ý thức của anh ta đã không còn bị dính mắc vào cảm giác đau nữa. Nhờ đó, tinh thần của hành giả đã được giải phóng khỏi trạng thái đau và hành giả sẽ không còn cảm thấy đau nữa. Bằng cách chú ý đến thân xác và tinh thần ngay khi chúng đang hiện khởi để phân biệt sự khác nhau của chúng, bạn sẽ nhận thức được rằng chỉ có thân xác là đau khổ, còn tinh thần thì không. Do đó, khi đang còn mạnh khỏe, bạn nên thực hành Phật Pháp, bởi vì đây là một đường lối khôn ngoan sáng suốt.

Tóm tắtBằng cách chú ý đến thân xác và tinh thần để phân biệt được sự khác nhau của chúng, tách bạch chúng ra làm 2 phần riêng biệt, bạn sẽ nhận thức được rằng, chỉ có thân xác là đau khổ, còn tinh thần thì không bao giờ.

Trong thực tế, những vị A-La-Hán chỉ còn trải nghiệm sự đau khổ về thân xác, còn tinh thần của các Ngài thì không bao giờ bị khổ đau. Ngay cả những vị Tu-Đà-Hườn cũng vẫn còn bị đau khổ về thân xác lẫn tinh thần. Nếu chú ý đến thân xác và tinh thần khi chúng đang hiện khởi để phân biệt sự khác nhau của chúng, bạn sẽ không còn bị đau khổ về tinh thần. Nếu chưa có khả năng phân biệt này, có thể bạn sẽ bị đau khổ trên cả hai phương thể xác lẫn tinh thần. Khi tiếp cận với những loài rắn có nọc độc, người ta cần phải chuẩn bị những phương tiện để ngăn chặn sự nguy hiểm. Tương tự như vậy, ngay bây giờ chúng ta nên thực hành quán niệm để có thể thoát khỏi những mối nguy hiểm của tuổi già, bệnh tật, cái chết và sự tác động của những nghiệp xấu. Bạn cần phải cố gắng để vượt qua cảm thọ. Sau 4 hay 5 ngày thực hành thiền, trạng thái đau nhức sẽ khởi lên khá mạnh mẽ trong tâm thức. Tiếp đến, bạn cần phải kiên nhẫn, giữ sự chú ý một cách chính xác và đều đặn trên đối tượng quan sát. Kiên nhẫn là cha đẻ của Niết Bàn.

Một thời có một vị Tỳ kheo nọ thực hành thiền suốt đêm, ông bị cảm lạnh và đau đớn đến mức đã lăn lộn qua lại trên những chiếc y của mình. Sau đó, vị Tỳ kheo nọ bổng nhớ lại kinh nghiệm của Ngài Thượng Tọa Pintapatika

( Pintapatika Bhante Sayadaw) đã từng dạy ông rằng : “ Hãy kiên nhẫn khi bị cảm giác hành hạ”. Vị Tỳ kheo đang bị bệnh đã nói “ lành thay” và bắt đầu chú ý đến cảm giác. Sau đó, ông đã qua đời và tái sanh thành một vị A-Na-Hàm. Đó là một trong những trường hợp điển hình cho sự vượt qua cảm thọ và gặt hái được Phật pháp bằng tâm kiên nhẫn. Sự thật, không có ai có thể hoàn toàn thoát khỏi bệnh tật. Chúng ta nên nắm lấy bài học này. Một điều quan trọng trong quá trình thực hành thiền là phải có những người bạn tốt ( ở đây là những thiện tri thức) để nhắc nhở cho bạn luôn luôn kiên nhẫn để tập trung chú ý đến cảm thọ ( tức cảm giác- Vedanā – Feeling). Khi cảm thọ xuất hiện, dù có đang ở trong trạng thái đau đớn tột cùng do bệnh tật mang lại hay không, bạn cũng phải cố gắng khám phá xem thật sự bây giờ cảm thọ đang ở đâu, nó đang ở trên da, trong thịt, trong xương hay thông qua tủy. Đau là một hiện tượng tự nhiên. Khi cảm giác đau đang khởi lên, bổn phận của hành giả là phải tập trung chú ý đến nó. Khi cảm thọ gia tăng cường độ thì toàn bộ thân tâm của hành giả sẽ trở nên rất căng thẳng. Lúc đó, hành giả nên thư giãn chút ít và đặt sự chú ý của mình một cách chính xác lên cảm thọ. Cảm giác đau có thể gia tăng hay gia giảm cường độ  trong mỗi sự chú ý của hành giả. Chúng ta rất dễ thực hành sự chú ý để nhận biết được bản chất của cảm thọ, mỗi khi đã có khả năng đặt tâm trí của mình trực tiếp lên nó. Cả hai sự cảm thọ và sự chú ý của tâm trí đều thuộc về danh uẩn ( tức tinh thần – Nāma). Cả hai đều xảy đến và biến mất đi một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, cuối cùng sự chú ý của tâm trí đã vượt qua được cảm thọ. Bằng sự chú ý liên tục, hành giả sẽ nhận biết được rằng, cảm thọ đã di chuyển từ một nơi này đến một nơi khác và nó sẽ biến mất sau khi đã đạt tới cực điểm. Như một sự thật, đến lúc này hành giả đã nhận thức được bản chất tự nhiên của cảm thọ. Khi cảm thọ đang gia tăng hay gia giảm cường độ, bạn cũng cần phải chú ý đến nó một cách chính xác và liên tục. Nhờ đó, bạn sẽ dễ dàng nhận thức được tiến trình biến mất của nó hơn. Đây là sự thật cho thấy cách mà sự chú ý của tâm trí đã vượt qua được cảm thọ. Hành giả cũng sẽ nhận thức được cảm giác đau đã biến mất, nhận biết được sự khác nhau giữa cảm giác đau và sự chú ý của tâm trí. Tiếp đến, hành giả sẽ nhận thức được tam tướng là vô thường ( Anicca-Impermanence), khổ ( Dukkha- Suffering) và vô ngã ( Anatta- Selfless) của cảm thọ. Thứ nhất, khi cảm thọ khởi lên rồi tan biến đi, đó chính là vô thường. Thứ hai, khi chú ý đến cảm thọ, hành giả sẽ nhận thức được rằng, đặc tính liên tục tan hoại của nó đã tạo ra một áp lực đè nặng lên tâm thức của chính mình, áp lực này đã làm cho hành giả cảm thấy không hài lòng, đó chính là khổ. Khi cảm thọ đang biến mất đi, chúng ta không có cách nào để ngăn chặn hay điều khiển được tiến trình tan hoại của nó. Cảm thọ luôn luôn khởi lên và biến mất theo cách riêng của nó, đó chính là vô ngã. Đến lúc này, hành giả đã dễ dàng lãnh hội được 3 tính cách nói trên. Do đó, anh ta sẽ gặt hái được Phật Pháp.

Tóm tắt: Suy niệm về tính nguy hiểm của bệnh tật để có sự chuẩn bị về mặt tinh thần. Đường lối thích hợp nhất là nên thực hành Phật Pháp trước khi bệnh tật xảy đến. Thật bất tiện khi đã lâm bệnh mới bắt đầu thực hành Phật Pháp. Điều sai lầm lớn lao là chưa gặt hái được Phật pháp khi đã thật sự lâm bệnh.

Khi chưa gặt hái được Phật pháp hoặc chưa vượt qua được cảm thọ, có thể bạn sẽ cảm thấy đau khổ và bất hạnh khi nghĩ rằng : “ Tôi sắp chết phải không ? Những vị thầy thuốc có thể chữa cho tôi lành bệnh không ?” Nếu phải chết trong trạng thái tâm lý như vậy, chắc chắn bạn sẽ bị tái sanh vào những cảnh giới thấp kém.

Cái chết

Tóm tắt: Suy niệm về mối nguy hiểm của cái chết để có sự chuẩn bị tinh thần khi đang chết.

Chúng ta không thể biết chắc rằng liệu ngày mai mình có còn sống hay không. Chúng ta không thể đoán trước rằng mình có thể sống thọ đến bao nhiêu tuổi, bệnh tật gì sẽ hành hạ chúng ta trong tương lai khi cái chết sắp xảy đến, chúng ta sẽ chết ở đâu… Tuy nhiên, có một điều chắc chắn rằng một ngày nào đó, chúng ta sẽ chết. Thân thể của con người chất chứa nhiều mối nguy hiểm do có đến 96 loại bệnh nội tại ( tức bệnh từ trong thân thể phát ra). Ngoài ra, thân thể của chúng ta còn bị đe dọa bởi những mối nguy hiểm từ bên ngoài như các loại vũ khí gây hại, các loại thuốc độc, tai nạn…đó là những mối nguy hiểm ngoại tại. Chúng ta không thể đút lót hay dàn xếp với cái chết và những sứ thần của nó. Chúng ta không thể làm bạn với cái chết. Bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể điều động quân đội để tấn công cái chết. Ngày hôm nay, mặc dù chúng ta vẫn còn sống đây, nhưng ngày mai thì không có gì làm chắc chắn về điều đó. Vì vậy, có lời khuyên rằng, bạn nên cân nhắc về một sự thật là cái chết đã không còn bao xa.

Tóm tắt: Không thể đút lót hay dàn xếp với cái chết, không đủ sức mạnh để đối mặt với cái chết, không ai biết chắc rằng liệu ngày mai mình có còn sống không. Do đó, không thể trì hoãn việc thực hành Phật Pháp, chúng ta phải thực hành ngay bây giờ và mãi mãi.

Suy niệm về mối nguy hiểm của cái chết sẽ chinh phục được tính kiêu hãnh khi đang còn sống. Bạn nên tự mình thực hiện và khuyến khích người khác thực hành điều đó trước khi cái chết xảy đến.

Tóm tắt: Tốt hơn là nên cân nhắc về mối nguy hiểm của cái chết trước khi nó đến viếng thăm chúng ta.

Ngay bây giờ, khi đang còn sống trong kiếp người, cơ hội tốt nhất cho chúng ta là thực hành Phật pháp. Bạn đang có cơ hội lắng nghe Giáo pháp Cao thượng, bạn được sanh ra vào thời mà Giáo pháp của Đức Phật vẫn đang còn tồn tại. Hãy nắm lấy cơ hội ngàn vàng này và thực hành thiền nội quán

( tức thiền minh sát). Nhờ đó, bạn sẽ nhận thức được Niết Bàn và thoát khỏi tất cả những bệnh tật.

Tóm tắtĐang còn sống trong kiếp người là cơ hội thuận lợi nhất để thực hành Phật Pháp trước khi cái chết xảy đến.

Những người không suy niệm về mối nguy hiểm của cái chết sẽ thích thú những cảm giác dễ chịu và quên không thực hiện những hành động xứng đáng, cũng như họ sẽ lơ là đối với việc thực hành thiền. Những người ít khi thực hiện những hành động phước thiện và không thực hành thiền minh sát sẽ cảm thấy rất hoảng sợ khi những cảm giác bất như ý xảy đến với họ. Những dấu hiệu sợ hãi sẽ xuất hiện trong tâm trí của những người này khi họ đang nằm trên giường chờ chết vào giây phút lâm chung. Họ sẽ chết trong nổi sợ hãi và trong những ảo giác không hề mong muốn.

Tóm tắt: Ảo giác xuất hiện vào giây phút lâm chung của một người là một điều không thích hợp.

Những người chết trong ảo giác là những người chắc chắn sẽ phải tái sanh vào những cõi sống thấp kém. Hơn nữa, họ sẽ phải chạm trán với những nổi khổ đau và tệ hại khi phải tái sanh vào những cõi sống thấp kém đó.

Tóm tắt  :  Một sai lầm lớn là khi chết đi nhưng chưa gặt hái được Phật Pháp.

Cân nhắc về mối nguy hiểm của trạng thái suy tàn, bệnh tật, cái chết khi chúng xuất hiện trong tâm thức và thực hành thiền. Sau đó, bạn sẽ đạt tới Niết Bàn và thoát khỏi những mối nguy hiểm này. Thật ra, tiến trình lão hóa đã bắt đầu xuất hiện khi người ta vừa mới sanh ra. Khi con người đang còn trẻ trung, tiến trình lão hóa là rất khó nhận thấy. Do đó người ta ít khi quan tâm đến nó. Ngày qua ngày, một em bé sơ sinh đang dần dần lớn lên. Tuy nhiên chúng ta không thể nhận thấy điều đó một cách rõ ràng. Tiến trình lão hóa này thông thường được người ta gọi là sự phát triển và trưởng thành. Tuổi già sẽ dẫn người ta đến với bệnh tật và bệnh tật sẽ dẫn đến cái chết. Người chăn bò thúc giục đàn súc vật của anh ta đi về phía đồng cỏ. Tương tự như vậy, trạng thái tan hoại và bệnh tật luôn luôn dẫn đưa chúng ta đến với cái chết. Bằng cách quán niệm về sự chết, chúng ta có thể thoát khỏi ba mối nguy hiểm này.

Tóm tắtTrạng thái tan hoại luôn luôn xảy ra và đi kèm với chúng ta. Bệnh tật ngày càng gần hơn khi trạng thái tan hoại dẫn đưa chúng ta đến với nó. Cái chết ngày càng gần hơn khi bệnh tật dẫn đưa chúng ta đi về hướng của nó. Không thể hối lộ hay mua chuộc được mối nguy hiểm của trạng thái tan hoại, bệnh tật và cái chết. Nếu quán niệm về mối nguy hiểm của những hiện tượng này, chúng ta sẽ được cứu vớt và thoát khỏi chúng.

Một người bị bao vây bởi những kẻ thù. Tuy nhiên, vẫn còn một lối thoát để đến được nơi an toàn. Trong trường hợp này, nếu người kia không cố gắng chạy thoát thì không có ai ngu xuẩn bằng anh ta nữa. Tương tự như vậy, có một “ nơi chốn” là Niết Bàn, một cảnh giới có thể giúp chúng ta thoát được những mối hiểm nguy. Niết Bàn là một “ nơi chốn” an toàn, bằng cách gặt hái được Đạo quả ( Magga phala), chúng ta sẽ đến được Niết Bàn. Người không gặt hái được Đạo quả sẽ không phát triển được Phật pháp. Những người này cũng giống như người đàn ông ngu xuẩn nói trên. Cách tốt nhất để phát triển Đạo Pháp ( Magga Dhamma) là thực hành thiền nội quán, càng sớm càng tốt.

Tóm tắt: Phải đương đầu một cách vất vả với mối nguy hiểm của trạng thái tan hoại, bệnh tật và cái chết của cha mẹ mình nếu như không có ai giúp đỡ về mặt tinh thần. Những người làm con cái chưa phát triển được Đạo pháp trong tâm thức của chính họ thì chắc chắn sẽ không thể vượt qua nổi những mối nguy hiểm này một cách dễ dàng.  

Tác động của nghiệp xấu

Mối nguy hiểm của trạng thái tan hoại, bệnh tật và cái chết là những đề tài đã được bàn luận khá nhiều trong bài thuyết Pháp này. Bây giờ hãy để chúng tôi nói về tác động của những nghiệp xấu. Trong thế giới ta-bà ( tức nơi khó chịu đựng - ND) này, không có bất cứ một con người hay loài vật nào mong muốn chạm trán với những mối hiểm nguy. Tuy nhiên, cũng không ai có khả năng tránh được những mối hiểm nguy đó. Cũng không có bất cứ một người nào ao ước gặp phải tác động của những nghiệp xấu. Tuy nhiên, con người cũng không thể ngăn chặn được những tác động bất thiện này. Chắc chắn rằng họ phải đối mặt với những mối hiểm nguy, thậm chí những vị A-La-Hán cũng không thể thoát khỏi tác động của nghiệp xấu. Có rất nhiều ví dụ về tác động của nghiệp xấu. Câu chuyện đầu tiên sẽ kể về thứ hậu Samavati của vua Brahmadat và 500 người hầu gái. Thuở xưa tại thành Bāranāsi

(đô thị của xứ Ba-La-Nại – Benares), vào một buổi chiều nọ, thứ hậu Samavati và những người hầu gái của bà đi đến một giòng sông để tắm rửa. Sau khi tắm được một lúc lâu họ cảm thấy lạnh. Do đó, họ đã nổi lửa đốt một bụi cây mọc bên bờ sông để sưởi ấm. Khi lửa đã tắt, họ đã hết sức ngạc nhiên khi trông thấy một vị Phật-Độc Giác ( Pacceka Buddha – Silent Buddha) trong đống tro tàn. Lúc đó, vị Phật Độc-Giác đang trên đường đi đến cung điện của nhà vua để khất thực, bởi vì ở đó đang có một cuộc đặt bát. Sāmavati và những người hầu gái của bà sợ rằng sẽ bị nhà vua trừng phạt. Do đó, họ đã tiếp tục chất củi và nổi lửa với ý định thiêu chết vị Phật Độc-Giác để không cho ai biết về hành động tội lỗi mà họ vừa phạm phải. Tuy nhiên, vị Phật Độc-Giác đã không chết bởi vì Ngài đã đạt tới tầng thiền Diệt thọ tưởng định  (người đã đạt tới tầng thiền này sẽ có thần thông, vào lửa không thấy nóng, xuống nước không bị ướt, có khả năng độn thổ hay đằng vân... ND). Vì hành động tội lỗi đó, thứ hậu Sāmavavi và những người hầu gái của bà đã phải chịu đau khổ hơn 100 ngàn năm ở địa ngục. Sau khi thoát khỏi địa ngục, trong 500 kiếp sống liên tiếp nhà của họ đã bị hỏa hoạn và chết cháy trong đó. Vào thời Đức Phật Cồ-Đàm ( Gotama Buddha), bằng cách lắng nghe Khujjuttarā ( một cô gái bị gù lưng đã đạt tới quả vị Tu-Đà-Hườn) thuyết Pháp, họ đã trở thành những Tu –Đà- Hườn ( Sotāpaññā- Stream Winner). Tuy nhiên, đến khi đã trở thành những Tu-Đà-Hườn mà tác động của nghiệp xấu vẫn chưa chịu buông tha cho họ. Một ngày nọ, người cậu ruột của thứ hậu Sāmavati là Magandi ( một đối thủ thường mang tâm đố kỵ với bà) đã phết thạch du ( dầu thô mới khai thác chưa qua tinh lọc – ND ) lên ngôi nhà mà bà và những người hầu gái đang ở. Sau đó, Māgandi đã đóng hết các cửa ra vào của căn nhà nói trên và châm lửa đốt. Vì vậy, thứ hậu Samavati và những người hầu gái của bà đã chết cháy.

Một ví dụ khác về tác động của nghiệp xấu là cuộc đời của Tôn giả Mục-Kiền-Liên ( Asin Moggallanā). Khi chưa trở thành một vị A-La-Hán và trở thành cánh tay trái của Đức Phật. Vào thuở xa xưa, ngài Mục-Kiền-Liên là con của 2 người mù sống tại xứ Ba-La-Nại. Người già thường cáu bẩn, khó tính nên cách cư xử của họ cũng không được tốt. Người vợ mới cưới của Ngài Mục-Kiền-Liên sau khi về nhà chồng đã không thể chịu đựng nổi tình cảnh của nhạc phụ và nhạc mẫu vì phải chăm sóc họ quá vất vả. Để trốn tránh trách nhiệm, nhiều lần bà ta đã xúi dục Ngài Mục-Kiền-Liên tìm cách tống khứ cha mẹ chồng đi. Một ngày nọ, do sự xúi dục của người vợ lươn lẹo, là một người tốt bụng, Ngài Mục-Kiền-Liên liền tin theo lời vợ và mang cha mẹ của mình vào một khu rừng. Khi đến nơi, ngài đã đánh chết cha mẹ mình, nổi lửa đốt chiếc xe bò đã chở họ đến khu rừng nọ, đồng thời la toáng lên rằng mình bị thổ phỉ chận đường để phi tang sự vụ. Do hành động cực kỳ tàn ác đó, Ngài Mục-Kiền-Liên đã bị đọa xuống địa ngục và chịu nhiều đau khổ ở đó hơn 100 ngàn năm. Sau khi thoát khỏi địa ngục, trong 500 kiếp tiếp theo đó ngài đã liên tục bị người ta đánh chết. Vào thời Đức Phật Thích-Ca còn tại thế, Ngài Mục-Kiền-Liên đã trở thành một vị A-La-Hán và sống trong một tu viện có tên là “Thời Gian- Kāla”. Do bị người khác ganh tị, ngài đã bị những tên cướp tà giáo (Tiţţhiya) đánh chết để cướp đi 500 đồng bạc. Mặc dù đã 2 lần Ngài trốn thoát khỏi vòng vây của những tên cướp tà giáo. Lần thứ nhất, ngài đã xử dụng thần thông để chui qua lỗ khóa và trốn thoát. Lần thứ hai, Ngài đã bay lên nóc nhà và đi bộ trong không trung. Tuy nhiên, đến lần thứ ba, khi bị những tên cướp nọ bao vây, Ngài đã đứng yên chịu chết mà không tìm cách chạy thoát. Sở dĩ Tôn giả Mục-Kiền-Liên đã có hành động như vậy không phải là do Ngài ươn hèn và bất tài, mà do ngài đã nhận thức được rằng mình không thể nào thoát khỏi tác động của nghiệp xấu vì đã đánh chết cha mẹ năm xưa. Những tên cướp tà giáo đã đánh vị Trưởng lão cao thượng cho đến đến chết, chúng đem bỏ ngài vào cối đá và giã cho đến khi xương của Ngài vỡ ra từng mảnh nhỏ. Tuy vậy, Tôn giả Mục-Kiền-Liên vẫn không chết, bởi vì Ngài có thần thông và có thể phục hoạt lại sự sống. Sau đó, Ngài tìm đến với Đức Phật để đảnh lễ rồi nhập vào cõi Niết Bàn Vô Dư, tức Niết Bàn vĩnh viễn ( Anupadisena Nibbāna) hay Đại-Niết-Bàn ( Parinibbāna). Trên đây là một số ví dụ minh chứng khá rõ ràng rằng, con người ta không thể thoát khỏi những tác động của nghiệp xấu mà họ đã tạo. Những người Phật tử thuần thành phải hết sức cẩn thận để đừng phạm vào những hành động bất thiện cực kỳ nghiêm trọng, còn gọi là trọng nghiệp-Garuka. Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp này, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có đủ khả năng để thực hành theo những lời dạy của Đức Phật, trong một thời gian ngắn nhất có thể đạt tới Niết Bàn hạnh phúc, thoát khỏi tuổi già, bệnh tật, cái chết và những tác động của nghiệp xấu bằng cách tinh tấn thực hành Phật Pháp. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !

 

Bốn nhân tố cấu thành Tu-Đà-Hườn và 24 kiểu Tu-Đà-Hườn

 

Vào ngày trăng khuyết đầu tiên tháng Nattaw, năm 1356 theo lịch Miến Điện ( tức ngày 29 tháng 9 năm 1994), lễ kỷ niệm 45 năm hoằng dương Chánh Pháp của Ngài Mahāsī, một bài thuyết Pháp đã được bậc Trưởng thượng thuyết ra với tựa đề “ Bốn nhân tố cấu thành Tu-Đà-Hườn và 24 kiểu Tu-Đà-Hườn”. Kể từ khi trở thành một Tu-Đà-Hườn, một người nào đó đã được bảo đảm sẽ không còn bị tái sanh vào địa ngục. Tuy nhiên, để gặt hái được quả vị tu chứng đó, người ta cần phải có đủ 4 nhân tố cấu thành một Tu-Đà-Hườn. Nếu bạn đã gặt hái được tất cả bốn nhân tố này thì đây là một điều đáng vui mừng. Nếu bạn chưa gặt hái được bốn nhân tố nói trên thì hãy cố gắng đạt cho được, bởi vì những yếu tố này có giá trị cực kỳ quan trọng đối với quá trình tu tập của chúng ta. Đức Phật đã từng nói “ Bốn nhân tố cấu thành một Tu-Đà-Hườn cần phải gặt hái được và thực hành chúng một cách thường xuyên”. Bốn nhân tố quan trọng đó là :

1. Nương tựa vào những Bậc Cao Thượng – những người sẽ giúp cho bạn gặt hái Đạo Quả.

2. Lắng nghe Giáo Pháp có thể giúp cho bạn gặt hái được Đạo quả

3. Vun trồng những quan điểm đúng đắn và thích hợp để gặt hái phước báu

4. Thực hành những gì thích ứng với Đạo quả

Chắc chắn bạn sẽ trở thành Tu-Đà-Hườn ngay trong chính kiếp sống này nếu đạt được 4 nhân tố nói trên. Nếu đã đạt được 4 nhân tố đó thì chắc chắn bạn sẽ trở nên rất thú vị với việc thực hành thiền minh sát. Vì vậy, chúng là những nhân tố nên cố gắng để đạt được.

Tóm tắt: Nương tựa vào những bậc cao thượng, lắng nghe Giáo Pháp, phát triển những quan điểm đúng đắn và hoàn thiện cách thực hành thích ứng với Đạo quả. Đây là 4 nhân tố cấu thành một Tu-Đà-Hườn.

Nương tựa vào những bậc cao thượng

Khi không được sống trong thời Đức Phật tại thế, bạn nên biết cách nương tựa vào một vị A-La-Hán. Nếu không có thể làm như vậy thì nên tìm cách nương tựa vào một vị A-Na-Hàm. Nếu không có khả năng nương tựa vào một vị A-Na-Hàm thì hãy nương tựa vào một vị Tư-Đà-Hàm. Nếu không thể nương tựa vào một vị Tư-Đà-Hàm được thì hãy cố gắng nương tựa vào một vị Tu-Đà-Hườn. Thậm chí, nếu không tìm thấy một vị Tu-Đà-Hườn để nương tựa thì hãy nương tựa vào những người đã có kinh nghiệm trong việc thực hành thiền minh sát. Tôi thành thật tin rằng bạn đã biết cách nương tựa vào những Bậc Trưởng Thượng trong các trung tâm thiền, đồng thời cũng biết lắng nghe Giáo Pháp và thực hành thiền minh sát sau khi đã phát triển được những quan điểm đúng đắn. Vì những lẽ phải này, bạn sẽ gặt hái được 4 nhân tố cấu thành một Tu-Đà-Hườn. Nếu có thể thực hành thiền minh sát một cách siêng năng cần mẫn thì không còn nghi ngờ gì nữa, bạn sẽ trở thành Tu-Đà-Hườn ngay trong chính cuộc sống này.

Lắng nghe Giáo pháp

Ngoại trừ những vị Phật Toàn Giác và những vị Phật Độc Giác, không có bất cứ một người nào có thể gặt hái được Đạo Quả nếu không biết lắng nghe Giáo Pháp. Thậm chí, Tôn giả Xá-Lợi-Phất và Tôn giả Mục-Kiền-Liên cũng phải lắng nghe Giáo Pháp mới gặt hái được Đạo quả. Vì vậy, để gặt hái được Đạo quả, bạn nên biết cách lắng nghe Giáo Pháp. Những người không lắng nghe Giáo pháp một cách nghiêm túc thì họ sẽ không bao giờ có thể trở thành Tu-Đà-Hườn.

Phát triển quan điểm đúng đắn

Nếu có ao ước được trở thành Tu-Đà-Hườn, bạn phải biết cách phát triển những quan điểm đúng đắn trong tâm thức mình. Bằng cách lắng nghe Giáo pháp, bạn có thể phát triển những quan điểm đúng đắn. Ngay lập tức, khi vừa mới thức dậy vào buổi sáng, bạn có thể tình cờ nhìn thấy hoặc nghe thấy những hình ảnh hay âm thanh dễ chịu. Thay vào đó, bạn cũng có thể thấy hoặc nghe những hình ảnh và âm thanh bất như ý. Nếu tình cờ bắt gặp những đối tượng dễ chịu mà giác quan thu nhận được, bạn thường có khuynh hướng yêu thích và cố nắm bắt cho bằng được những đối tượng đó. Thậm chí, bạn còn phát triển tam khao khát muốn có được chúng. Đó chính là tham lam ( Lobha – Greed). Khi tình cờ bắt gặp những đối tượng khó chịu hay bất như ý mà giác quan thu được, bạn cần chuẩn bị một cách thức lãnh hội những đối tượng này để chúng không thể làm cho bạn trở nên sân hận ( Dosa- Angry) và mất bình tĩnh. Không còn nghi ngờ gì nữa, nếu tâm trí của bạn bị ngập chìm trong trạng thái tham lam và sân hận, chắc chắn bạn sẽ không thể trở thành Tu-Đà-Hườn được. Do đó, bạn phải có khả năng lãnh hội những đối tượng dễ chịu lẫn khó chịu mà giác quan thu nhận được theo một cách thức có thể gặt hái được phước báu, đồng thời ngăn chặn không cho những đối tượng đó làm phát khởi trạng thái tham lam và sân hận trong tâm trí của bạn. Nếu không thực hành được như vậy, tâm trí của bạn sẽ bị ô nhiễm. Bằng cách nào bạn có thể có được khả năng vừa nói trên ?

Khi đang trải nghiệm những hình ảnh và âm thanh dễ chịu, bạn cần phải tự suy nghĩ rằng :  “ Bây giờ những đối tượng dễ chịu đang làm cho mình được hạnh phúc, bởi vì trong quá khứ mình đã từng thực hiện những hành động thiện lành. Nếu muốn trong tương lai sẽ gặp được những điều như ý và được hạnh phúc thì ngay bây giờ, mình cần phải thực hiện những hành động thiện lành. Bằng cách này, mình sẽ gặt hái được phước báu và nhận thức được Niết Bàn”. Nhờ quán niệm như vậy, bạn sẽ không còn yêu thích, bám víu và khao khát những đối tượng dễ chịu và gặt hái được phước báu.

Tóm tắt: Do những hành động thiện lành đã từng thực hiện trong quá khứ mà hiện tại xứng đáng được hưởng những kết quả tốt đẹp. Do những hành động thiện lành thực hiện trong hiện tại mà tương lai sẽ gặp được những điều như ý muốn.   

Khi tình cờ bắt gặp những đối tượng khó chịu hay bất như ý, thay vì có thái độ trách móc hay nổi giận, bạn cần suy niệm rằng : “ Bây giờ mình đang cảm thấy bối rối và bất hạnh bởi vì trong những kiếp sống ở quá khứ mình đã từng thực hiện những hành động bất thiện. Ngay bây giờ mình cần phải sống cho tốt và đừng để vi phạm vào những điều bất thiện nữa. Do đó trong tương lai, mình sẽ không còn bị bối rối và cảm thấy bất hạnh nữa”.

Nhờ quán niệm như vậy, bạn sẽ gặt hái được phước báu. Do những hành động thiện lành ở hiện tại mà trong tương lai, bạn sẽ gặp được nhiều điều may mắn khi tái sanh làm người, được làm con cái của những bậc cha mẹ thiện lành, được làm học trò của những thầy cô giáo đáng kính. Nếu có thể phát triển được những quan điểm đúng đắn, đặc biệt là thường xuyên hướng về đến và bắt tay vào thực hiện những hành động phước thiện thì chắc chắn bạn sẽ nhận thức được Niết Bàn hạnh phúc. Dù tình cờ bắt gặp những đối tượng dễ chịu hay khó chịu, nếu có khả năng lãnh hội chúng với một quan điểm đúng đắn, bạn sẽ gặt hái được phước báu thay vì làm cho trạng thái tham lam và sân hận phát triển trong tâm trí của mình. Những hành động bất thiện mà một người nào đó đã từng thực hiện chắc chắn sẽ mang lại một tác động xấu cho chính người đó. Tuy nhiên, nếu có khả năng lãnh hội tác động xấu của nghiệp mà mình đã từng thực hiện với một quan điểm đúng đắn thì tác động xấu đó sẽ bị đảo ngược. Theo trình tự để vượt qua những tác động xấu do nghiệp bất thiện mang lại, không có cách nào tốt hơn bằng cách thực hiện những hành động thiện lành và phát triển những quan điểm đúng đắn. Phát triển quan điểm đúng đắn đối với những đối tượng khó chịu hay bất như ý quan trọng hơn đối với những đối tượng dễ chịu. Nếu có thể thực hiện được như vậy thì bạn đã gặt hái được phước báu.

Thực hành những gì thích ứng với đạo quả

Khi dâng cúng vật thực, bạn đừng nên cầu nguyện cho mình được hạnh phúc và đạt tới Niết Bàn. Bố thí là một cách thực hành thích ứng với Đạo quả. Hành động đó sẽ trợ lực cho bạn trong quá trình tu tập để nhận thức được Niết Bàn. Thậm chí, khi thực hành việc giữ Giới, thiền định và thiền minh sát, bạn cũng không cần cầu nguyện gì cả. Dĩ nhiên việc thực hành thiền minh sát là cách thực hành thích ứng với Đạo quả nhất. Chắc chắn cách thực hành này sẽ mang lại kết quả tốt đẹp và bạn sẽ gặt hái được Đạo quả. Thông thường, hầu như tất cả mọi người đều có mong muốn nhận thức được Niết Bàn. Thiền nội quán ( tức thiền minh sát- Vipassanā Bhāvanā - Insight meditation) là cách thực hành đúng đắn nhất để nhận thức được Niết Bàn. Nếu chưa có cơ hội để thực hành thiền minh sát hay chưa bao giờ biết đến loại thiền này thì ngay bây giờ, bạn hãy thực hành nó theo sự hướng dẫn của Ngài Mahāsī. 

Ba phương pháp thực hành thiền minh sát

Có 3 cách thực hành thiền minh sát, cụ thể là cách thực hành thiền khi đang đang ngồi, khi đang đi bộ và bằng cách chú ý tổng hợp ( tức sự chú ý đến bất cứ một hoạt động thuộc về thân tâm ngay lúc nó đang xảy ra). Trong lúc đang ngồi, bạn hãy tập luyện sự chú ý một cách tích cực và chi tiết đến tiến trình này. Khi đang ngồi, tâm trí của bạn ít bị lang thang đây đó. Tuy nhiên khi đi bộ, tâm trí của bạn có thể bị xáo trộn, bởi vì bạn nhìn thấy nhiều người và mọi thứ chung quanh mình, đặc biệt là khi năng lực tập trung tâm ý của bạn đang còn yếu. Do đó, trạng thái tiến bộ trong Giáo Pháp sẽ diễn ra rất chậm, việc gặt hái được Đạo quả cũng vậy. Đa số các hành giả đều thích cách thực hành thiền khi đang ngồi ( tức thiền tọa- Sitting in meditation) bởi vì họ có thể tập luyện sự chú ý một cách dễ dàng hơn.

Trong cách thực hành sự chú ý tổng hợp, thay vì chỉ chú ý một cách chi tiết và cố định vào một đối tượng nào đó, bạn thường phải chú ý đến bất cứ một hành động nào mà mình đang thực hiện. Nói một cách cụ thể, bạn phải liên tục dời sự chú ý của mình từ đối tượng này sang đối tượng khác. Do đó, năng lực tập trung tâm ý của bạn có thể không được mạnh mẽ, trạng thái tiến bộ trong Giáo Pháp và quá trình gặt hái Đạo quả cũng xảy ra rất chậm chạp. Thật ra, trong quá trình phát triển kiến thức nội quán, bạn cần phải có được một năng lực tập trung tâm ý mạnh mẽ. Do đó, năng lực tập trung tâm ý là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất mà bạn cần phải đạt được trong quá trình thực hành thiền minh sát. Cần nhớ rằng, nếu không vun trồng được một năng lực tập trung tâm ý đúng đắn thì tiến trình gặt hái Đạo quả của bạn sẽ xảy ra rất chậm chạp. Nếu giữ sự chú ý và suy niệm rằng “ mình đang chú ý đến danh pháp ( tinh thần- Nāma) và sắc pháp ( vật chất- Rūpa)” thì năng lực tập trung tâm ý của bạn sẽ không bao giờ phát triển được.

Tập luyện sự chú ý trong lúc đang ngồi với 2 mắt nhắm lại có thể dễ dàng phát triển năng lực tập trung tâm ý hơn là lúc đang đi bộ. Cách tập luyện sự chú ý này cũng dễ thực hành hơn cách chú ý tổng hợp. Trong khi đang đi bộ hoặc khi đang thực hành sự chú ý tổng hợp, có thể bạn sẽ không điều khiển được 2 mắt của mình. Khi đang đi bộ hay khi đang thực hành sự chú ý tổng hợp, 2 mắt thường có khuynh hướng thu nhận những đối tượng có thể làm cho tâm thức của bạn cảm thấy khó chịu hoặc dễ chịu. Nếu chưa có khả năng kiểm soát thị giác của chính mình, tốt hơn hết bạn nên theo cách thực hành thiền với 2 mắt nhắm lại, tức thiền tọa. Tôn giả Kissāyana, một trong những người đã nắm giữ danh hiệu cao nhất trong Giáo Đoàn của Đức Phật. Tôn giả có khả năng thấu hiểu và giải thích những lời dạy của Đức Phật cho nhiều người khác, ngay sau khi nghe Đức Phật thuyết Pháp đúng theo mong muốn của Đức Bổn Sư. Tôn giả đã nói về cách phát triển năng lực tập trung tâm ý như sau : “ Mặc dù thị lực rất tốt, nhưng bạn cứ làm như thể mình là một người mù không nhìn thấy gì cả, bạn cũng có thể nhắm mắt lại khi cần thiết”. Khi đang thực hành thiền tọa hay thiền hành ( thiền lúc đang đi bộ - Walking in meditation), với thị lực tốt, thông thường bạn sẽ nhìn ngó xung quanh. Do đó, năng lực tập trung tâm ý của bạn đã bị tản mác và trạng thái tiến bộ trong Giáo pháp đã bị ngăn chặn. Tốt hơn hết, lúc ban đầu khi mới thực hành thiền, bạn nên chọn cách thực hành thiền tọa. Bạn cũng có thể thực hành thiền khi đang đi bộ hay thực hành cách chú ý tổng hợp. Tuy nhiên, khi thấy cần và thích hợp thì bạn cứ nhắm mắt lại để tập trung tâm ý.

Tóm tắt: Mặc dù thị lực rất tốt nhưng vẫn làm như thể bị mù.

 Tôn giả Kissāyana cũng đã nói rằng : “ Mặc dù thính giác rất hoàn chỉnh, nhưng bạn cứ làm như thể mình là một người điếc, không nghe thấy gì cả”. Khi thị giác đang còn tốt, bạn có thể nghe rất rõ ràng. Do đó, tâm trí của bạn chắc chắn sẽ bị xao lãng. Từ đó, bạn sẽ rất khó tập trung tâm ý, khó phát triển kiến thức nội quán và không có hy vọng gì để trở thành một Tu-Đà-Hườn. Tốt hơn hết, bạn cứ làm như thể mình là một người điếc, không nghe thấy gì cả.

Tóm tắtMặc dù thính giác rất tốt nhưng vẫn cứ làm như thể bị điếc.

 Tôn giả Kissāyana đã khuyên rằng : “  Mặc dù có thể ăn nói rất lưu loát nhưng bạn cứ làm như thể mình bị câm vậy”. Thông thường, có thể bạn là một người ăn nói rất lưu loát và có khả năng lắng nghe rất tốt. Tuy nhiên khi thực hành thiền, bạn cứ làm như thể mình là một người câm. Nếu nói chuyện trong vòng một phút thì sự quán niệm của bạn sẽ bị tản mát trong 10 phút. Do đó, tốt hơn hết là khi đang thực hành sự chú ý, bạn đừng có nói gì cả.

Tóm tắtMặc dù có thể ăn nói rất lưu loát, tuy nhiên cứ làm như thể mình là một người câm.

 Tôn giả Kassāyana đã từng nhấn mạnh rằng : “ Mặc dù đang ở trong một trạng thái sức khỏe rất tốt. Tuy nhiên, bạn cứ làm như thể mình là một người bệnh”. Theo trình tự gặt hái Đạo quả, khi thực hành thiền, bạn phải có những chuyển động như thể chuyển động của người bệnh, nghĩa là phải thực hiện những cử động của mình một cách chầm chậm và khoan thai. Khi mới tập sự thực hành thiền, nếu có những chuyển động nhanh quá thì bạn rất khó chú ý và theo dõi được những chuyển động đó. Đối với những người mới tập sự thực hành thiền, bản chất tự nhiên của danhsắc ( tức vật chất và tinh thần) sẽ xuất hiện và biến mất đi một cách rất nhanh chóng. Vì vậy, sự chú ý của họ chưa có khả năng theo kịp được những gì đang xảy đến trong thân tâm của chính họ. Nói cách khác, nếu năng lực chú ý của bạn chậm hơn tiến trình đang xảy ra của các hiện tượng thì thật ra bạn đang chú ý vào những đối tượng đã thuộc về quá khứ, thay vì phải chú ý đến những gì đang xảy ra trong hiện tại. Điều quan trọng nên nhớ là bạn đừng có đánh mất sự chú ý trên đối tượng quan sát, dù chỉ là một giây đồng hồ. Nếu chú ý đến quá khứ thì bạn sẽ không bao giờ gặt hái được Giáo Pháp, không phát triển được năng lực tập trung tâm ý và tuệ minh sát. D đó, bạn cũng sẽ không thể gặt hái được Đạo quả và dĩ nhiên bạn cũng không thể trở thành một Tu-Đà-Hườn như đã mong muốn. Tất cả những điều đã nói trên đúng là đi ngược lại sự mong đợi của những người đang sống trong thế giới trần tục – nơi người ta thường có những hoạt động vội vã, bận rộn và luôn luôn chuyển động. Muốn sống trong cõi xuất thế gian, người ta cần phải có những sự di chuyển thật nhẹ nhàng và êm ái giống như cử động của những người bệnh. Nếu bạn thành tâm mong muốn trở thành một Tu-Đà-Hườn thì trong khi thực hành thiền, bạn phải thuận theo những lời khuyên của Tôn giả Kissàyana. Nhờ đó, bạn sẽ gặt hái được đạo quả và trở thành một Tu-Đà-Hườn.

Tóm tắtMặc dù đang rất khỏe mạnh nhưng bạn cứ làm như thể mình đang bị bệnh, nghĩa là phải có những cử động nhẹ nhàng và êm ái trong lúc thực hành thiền.

Những lời khuyên của Tôn giả Kissàyana rất có ích đối với chúng ta, đồng thời chúng cũng là một sự trợ lực lớn lao trong việc đạt tới quả vị Tu-Đà-Hườn. Tôn giả Kissāyana là một vị A-La-Hán. Ngài đã nắm giữ danh hiệu cao quí nhất trong Giáo Đoàn của Đức Phật. Ngài là người chuyên giải thích và giảng rộng ra những bài thuyết Pháp tóm tắt của Đức Phật. Trong ba cách thực hành thiền minh sát nói trên, cách thực hành sự chú ý tổng hợp là khó nhất. Trong một vài ngày đầu tiên khi mới khởi sự thực hành thiền minh sát, có nhiều hành giả đã nói rằng họ không thể chú ý được những chuyển động tổng hợp. Tuy vậy, bạn vẫn có thể dễ dàng thực hiện sự chú ý một cách tổng hợp đến các chuyển động đang xảy ra của chính mình sau 4 hoặc 5 ngày thực hành thiền. Bạn vẫn có khả năng chú ý đúng theo những chỉ dẫn của vị thiền sư mà mình đang theo học. Bây giờ tôi sẽ nói một cách tóm tắt làm thế nào để chúng ta có thể thực hành sự quán niệm trên những chuyển động tổng hợp. Đức Phật đã từng giáo huấn một cách chi tiết về sự thực hành chú ý với bốn tư thế khác nhau. Khi có “ ý định muốn đứng lên” sau khi đã thực hành thiền tọa hay nghe thuyết Pháp thì bạn đừng nên đứng dậy ngay lập tức. Ngay Lúc đó, bạn nên quán niệm chính tâm trí của mình. Nếu làm như vậy, bạn sẽ nhận thức được “ ý định muốn đứng lên” hiện khởi ngay trong tâm trí. Đồng thời, bạn cũng sẽ nhận thấy rằng, nếu bạn không có “ ý định muốn đứng lên ” thì hành động đứng lên sẽ không thể xảy ra. Tiếp đến, bạn hãy niệm thầm trong tâm mình rằng “ đang muốn đứng lên, đang muốn đứng lên”…Khi đang chống tay đứng lên, bạn hãy chú ý đến yếu tố chuyển động đang đẩy toàn thân đứng lên, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang đẩy, đang đẩy”…Thân thể của bạn sẽ từ từ chuyển động để đứng lên. Tất cả tiến trình đứng lên này cần phải được nhận biết như là một “ chuyển động đang đứng lên”. Bạn chỉ cần chú ý đến “chuyển động đang đứng lên” này một cách liên tục và chính xác để nhận biết được bản chất của nó. Bạn không cần chú ý đến hình thức bên ngoài của chuyển động này ( như hình dáng của tay, chân, đầu…). Sau đó, bạn sẽ hiểu rõ rằng “ ý định muốn đứng lên” chính là nguyên nhân và “ chuyển động đang đứng lên ” chính là kết quả của ý định đó. Khi đã biết được nguyên nhânkết quả của một hành động, bạn có thể thực hiện sự chú ý một cách rất dễ dàng. Điều quan trọng ở đây là chúng ta cần phải nhận biết được “ ý định” của tâm trí muốn thực hiện một điều gì đó. Ý định muốn thực hiện một hành động thường xuất hiện ngay trước khi hành động xảy ra. Sau khi đã đứng lên thì trong tâm trí của bạn sẽ xuất hiện “ ý định muốn bước đi”. Ngay khi “ ý định muốn bước đi” xuất hiện, bạn phải lập tức chú ý đến nó. Khi đang đi bộ, bạn phải chú ý đến “ chuyển động đang bước đi” của 2 bàn chân. “ Ý định muốn bước đi” chính là nguyên nhân và “ chuyển động đang bước đi” chính là kết quả của ý định đó. Nếu có khả năng chú ý đến “ ý định của tâm trí” khi nó muốn làm một điều gì đó thì bạn có thể lựa chọn hay quyết định mình có nên làm điều đó hay không, đồng thời bạn cũng gặt hái được 2 trạng thái kiến thức nội quán. “ Ý định muốn bước đi” là có sự nhận thức bởi vì nó thuộc về danh pháp  ( tức tinh thần – Nāma), “ chuyển động đang bước đi” không hề có sự nhận thức bởi vì nó thuộc về sắc pháp  ( tức vật chất – Rūpa). Kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất được gọi là Nāma-Rūpa paricceda Ñāna. Như vậy, bạn đã trải nghiệm được loại kiến thức này. Bạn có muốn hỏi thêm điều gì nữa không ? “Ý định muốn bước đi” là nguyên nhân và “chuyển động đang bước đi” là kết quả của nguyên nhân này. Do đó, bạn đã gặt hái được kiến thức về nhân quả - Paccayapariggaha Ñāna.Nếu có thể chú ý và nhận biết được “ ý định của tâm trí” trước khi thực hiện “ một chuyển động” bất kỳ nào đó của thân thể, bạn sẽ dễ dàng lãnh hội được cả hai trạng thái kiến thức nội quán đã nói trên. Trong khi thiền hành, bạn phải chú ý đến “ chuyển động đang dở chân lên”, “ chuyển động đang bước tới” và “ chuyển động đang đặt chân xuống”. Khi đã đi hết đoạn đường xử dụng để thiền hành, bạn có thể bắt gặp một bức tường, một chậu cây hay một cánh cửa… Lúc đó bạn sẽ dừng lại, ngay khi đang dừng lại, bạn nên chú ý để nhận biết “ ý định muốn dừng lại” của tâm trí, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang có ý định dừng lại, đang có ý định dừng lại”…Ý định này thường xuất hiện khoảng từ 3 đến 4 bước trước khi bạn đi hết đoạn đường dùng để thiền hành. Tuy nhiên, cần phải tập đi tập lại nhiều lần thì bạn mới có thể nhận biết được “ ý định này”. Bạn sẽ nhận thức được yếu tố chuyển động đang thúc đẩy thân thể mình dần dần tiến về trước khi đang đi bộ.  “ Ý định muốn dừng lại” chính là sự nhận thức của tâm trí.“ Hành động dừng lại của thân thể ” không hề có sự nhận thức bởi vì nó thuần túy thuộc về vật chất. Qua thiền hành, bạn cũng có thể gặt hái “ kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chấtNāmarūpa paricceda Ñāna. “ Ý định muốn bước đi” là nguyên nhân và “ chuyển động đang bước đi của thân thể

kết quả của ý định này. Nếu không có “ ý định muốn bước đi” thì sẽ không có “ chuyển động bước đi”. Như vậy, bạn đã nhanh chóng lãnh hội được kiến thức về nhân quả - Paccayapariggaha Ñāna. Bạn sẽ hiểu rõ tất cả những loại kiến thức vừa nêu thông qua sự trải nghiệm thực tế của chính mình trong quá trình thực hành thiền minh sát.  

Có thể bạn cũng muốn biết phải mất bao lâu thì mình có thể  nhận thức được những trạng thái nội quán vừa nêu trên. Chắc chắn rằng khoảng thời gian đó là không lâu lắm, có thể trong vòng từ 5 đến 6 ngày mà thôi. Những bậc thầy chú giải Kinh điển đã từng nói rằng, bạn có thể trở thành một Tiểu-Tu-Đà-Hườn ( Sula-Sotāpaññā – Lesser Stream Winner) nếu gặt hái được 2 trạng thái kiến thức nội quán vừa nêu. Để trở thành một Tiểu-Tu-Đà-Hườn là một việc bình thường, không có gì gọi là kỳ diệu, bạn chỉ cần ngồi và chú ý một cách tích cực để nhận biết được “ ý định muốn ngồi xuống”. Đồng thời, bạn cũng phải nhận biết luôn cả yếu tố chuyển động đang thúc đẩy thân thể của mình ngồi xuống. Do có yếu tố thúc đẩy này mới có “chuyển động dần dần ngồi xuống của thân thể. Tiếp đến, bạn hãy niệm thầm trong tâm mình : “ Đang ngồi xuống, đang ngồi xuống”…Bạn không cần lưu tâm đến “hình dáng bên ngoài của cơ thể” bởi vì nó chỉ là một thực tại biểu kiến ( Paññatti – Apparent reality). Bạn chỉ cần chú ý đến “ chuyển động đang ngồi xuống của thân thể” và  “ sức trì nặng của chuyển động này” để nhận biết được bản chất của chúng, bởi vì những đối tượng này chính là thực tại cùng tột

( Paramatha – Ultimate reality). Bây giờ, bạn đang liên tục đặt sự chú ý vào những nhân tố mà mình đang trải nghiệm trong từng khoảnh khắc. Những nhân tố đó chính là trạng thái đang giãn ra và kết dính lại. Cả hai nhân tố này đều được biểu lộ qua sức trì nặng trong “ chuyển động đang ngồi xuống” của thân thể. Nếu đổ nước hay đất vào trong một cái thùng rồi xách nó lên, bạn sẽ nhận thấy điều gì ? Dĩ nhiên là sức nặng phải không ? Bằng cách chú ý đến chuyển động đang ngồi xuống, bạn sẽ gặt hái được Phật Pháp. “ Ý định muốn ngồi xuống” là có sự nhận thức, bởi vì nó thuộc về danh pháp

( Nāma – Spirit). “ chuyển động đang ngồi xuống” là không hề có sự nhận thức, bởi vì nó thuộc về sắc pháp ( Rūpa – Material). Đến đây, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất – Nāmarūpa paricceda Ñāna. Ý định muốn ngồi xuống là nguyên nhân và chuyển động đang ngồi xuống là kết quả của nguyên nhân này. Như vậy,      kiến thức nội quán về nhân quả - Paccayapariggaha Ñāna ( Insight-knowledge of cause and effect) đã được bạn lãnh hội một cách minh bạch.

Tóm tắt: Ý định muốn ngồi xuống là danh pháp ( Nāma), chuyển động ngồi xuống là sắc pháp ( Rūpa). Thật ra ở đây không có ai đang ngồi xuống cả ( dù là bạn hay tôi), chỉ có danh và sắc đang ngồi xuống mà thôi. Khi cả hai yếu tố tinh thần và vật chất ( Nāma và Rūpa) được nhận thức một cách rõ ràng thì bạn đã đạt được mục đích.

Mục đích ở đây là chú ý để nhận biết “ chuyển động đang ngồi xuống” của thân thể và đó là cách thực hành thiền minh sát. Mục đích đó đã được thành tựu khi chính bản thân bạn đã lãnh hội và phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Khi đang nằm xuống, “ ý định muốn nằm xuống” sẽ hiện khởi một cách khá rõ ràng trong tâm thức nếu năng lực tập trung tâm ý ( tức sự định tâm- Samādhi – Concentration) của bạn đủ mạnh. Ngay lúc “ ý định muốn nằm xuống” vừa hiện khởi , bạn phải chú ý đến nó một cách đều đặn và chính xác, đồng thời niệm thầm trong tâm mình “ đang có ý định nằm xuống, đang có ý định nằm xuống”…Khi thân thể đang “ chuyển động dần dần nằm xuống”, bạn cũng phải chú ý đến nó và niệm thầm trong tâm “ đang nằm xuống, đang nằm xuống”… “ ý định muốn nằm xuống” là có sự nhận thức bởi vì nó thuộc về danh pháp, “ chuyển động đang nằm xuống” của thân thể chỉ là một hiện tượng vật lý. Nó không hề có sự nhận thức bởi vì nó thuộc về sắc pháp. “ Ý định muốn nằm xuống” là nguyên nhân và “ chuyển động đang nằm xuống” là kết quả của ý định này. Do sự chú ý chính xác và liên tục để nhận biết, bạn đã gặt hái được 2 trạng thái kiến thức nội quán là Nāmarūpa paricceda ÑānaPaccayapariggha Ñāna. Tuy nhiên, không có ai nói cho bạn biết về 2 trạng thái kiến thức này, bạn đã nhận biết được chúng thông qua sự trải nghiệm của chính mình. Đây là lợi ích của việc chú ý để nhận biết “ ý định của tâm trí”. Những bậc thầy chú giải Kinh Điển ( Atthakathā masters) xác định rằng người ta đã trở thành một Tiểu-Tu-Đà-Hườn bằng cách gặt hái được 2 trạng thái kiến thức nội quán nói trên. Khi một người nào đó đã nắm chắc về nguyên lý nhân quả thì những quan điểm hay quan kiến lầm lạc thiếu căn cứ ( Ahetu diţţhi – The wrong views of rootless) đã hoàn toàn bị xua tan. Do đó, người này đã tự thiết lập được một chỗ đứng trong Giáo Pháp của Đức Phật. Tâm thức của anh ta sẽ không bao giờ còn bị giao động trước bất cứ một quan điểm thiếu căn cứ luận lý về nhân quả hay phi logic nào cả. Quan điểm hay quan kiến thiếu căn cứ luận lý về nhân quả hay phi logic được gọi là visamahetu diţţhi ( Inconsequential cause and effect view). Xa hơn nữa, người này cũng đã phát triển được một niềm tin vững chãi rằng lợi ích đúng đắn là hoàn thiện được những thói quen thiện lành thuộc về thân, khẩu, ý. Nếu làm được như vậy thì những hành động bất thiện trong hiện tại, cũng như tác động của nghiệp xấu mà anh ta đã thực hiện trong quá khứ sẽ tiêu tan và biến mất.

Sau đây là ví dụ minh họa cho một quan điểm thiếu căn cứ luận lý về nhân quả. Quan điểm này tin rằng cuộc sống của mọi chúng sanh đã được tạo ra bởi Phạm-Thiên ( Brahmas). Không còn nghi ngờ gì nữa, Đấng Tạo Hóa với ý định thiện lành đã tạo ra muôn loài chúng sanh trong sự bình đẳng.

Nói một cách khác, Ngài đã tạo ra sức khỏe, của cải, tính cách thiện lành… cho muôn loài chúng sanh. Tuy nhiên như quí vị đã biết, trong thực tế chúng ta chưa được bình đẳng về những phương diện ấy. Có một vài người khi sanh ra đã được mạnh khỏe nhưng một số khác lại bị thiểu năng, chậm phát triển về mặt thể xác hay tinh thần. Một vài người nghèo khó, trong khi đó một số khác lại rất giàu có. Một vài người khi sanh ra đã có diện mạo xinh đẹp, một số khác lại rất xấu xí đến nổi ngại ngùng khi xuất hiện trước đám đông. Đấng Tạo Hóa là nguyên nhân đầu tiên và Ngài đã tạo ra những kết quả thật vô lý. Do đó, bạn đã nhận thấy rằng nguyên nhân và kết quả vừa nêu là thiếu căn cứ luận lý hay không hợp logic. Những hành giả thực hành thiền minh sát sẽ không còn tin vào Đấng Tạo Hóa mỗi khi họ đã tự lãnh hội được rằng, không có ai khác là nguyên nhân đầu tiên, đó chính là nghiệp hay hành động ( Kamma – Action). Người ta nhất định sẽ phải gặt hái những gì mình đã gieo. Tác động xấu hay kết quả tồi tệ có nguồn gốc từ những hành động bất thiện mà chúng sanh đã thực hiện như : Trộm cắp, nói dối, nuôi dưỡng những quan kiến lầm lạc… là những hành động thuộc về thân, khẩu, ý. Ngược lại, những tác động hay kết quả tốt đã xảy đến là do ảnh hưởng của các hành động thiện lành mà chúng sanh đã thực hiện. Những kết quả xấu hay tốt này đã khởi lên theo nguyên lý nhân quả chứ không phải do sự điều khiển của bất cứ một người nào cả. Sau khi đã gặt hái kiến thức về nhân quả - Paccayapariggaha Ñāna, những hành giả sẽ không còn tin vào Đấng Tạo Hóa. Do đó, họ đã thiết lập được cho mình một chỗ đứng trong Giáo Pháp của Đức Phật. Trong thực tế, thiết lập được cho mình chỗ đứng trong Giáo Pháp của Đức Phật là một điều có thể thực hiện được. Người ta sẽ làm được điều đó sau khi đã thật sự nhận thức được Đạo quả. Hai điều vừa nói không có gì là mâu thuẫn cả. Sự nhận thức Đạo quả được đặt trên nền tảng kiến thức về nhân quả. Do đó, kiến thức về nhân quả là nguyên nhân, Đạo quả là kết quả tất yếu của nguyên nhân này.

Tuy nhiên, những bậc thầy chú giải Kinh Điển đã đề cập đến kiến thức về nhân quả thay vì đề cập đến Đạo quả. Mặt khác, họ có ý muốn nói rằng, nếu một người đã thật sự gặt hái được kiến thức về nhân quả, hăng say nhiệt tình trong việc thực hành thiền minh sát thì không còn nghi ngờ gì nữa, chắc chắn người này sẽ nhận thức được Đạo quả. Do đó có thể nói rằng, người gặt hái được kiến thức về nhân quả chính là người đã thiết lập được cho mình một chỗ đứng trong Giáo Pháp của Đức Phật. Một Tiểu-Tu-Đà-Hườn cũng đã có khả năng thoát khỏi địa ngục khổ đau trong kiếp sống kế tiếp. Tuy nhiên, điều này cũng chưa được chắc chắn lắm, trừ khi ngay trong kiếp sống hiện tại, vị ấy vẫn tiếp tục thực hành thiền minh sát. Đối với bạn, mong muốn trở thành một Đại-Tu-Đà-Hườn hay một Tu-Đà-Hườn thật thụ cũng không phải là không làm được. Do đó, nếu thực hành thiền minh sát với một niềm tin vững chãi thì chắc chắn bạn sẽ đạt tới mục đích mong muốn.

Hai mươi bốn dạng Tu-Đà-Hườn

Ở phần trên, chúng ta đã thảo luận khá rộng về cách thực hành thích ứng với Đạo quả. Bây giờ tôi sẽ nói về 24 kiểu Tu-Đà-Hườn. Bạn có thể lựa chọn và quyết định xem mình muốn thuộc vào loại Tu-Đà-Hườn nào trong tương lai. Kể từ khi may mắn được sống trong thời mà Giáo Pháp của Đức Phật đang còn tồn tại và có được 3 yếu tố khác nữa để cấu thành một Tu-Đà-Hườn, bạn đã cố gắng thực hành thiền minh sát ở mức tối đa. Từ đó, hiển nhiên rằng bạn sẽ trở thành Tu-Đà-Hườn. Có thể phân loại những kiểu Tu-Đà-Hườn theo 3 dạng mục sau đây : Sẽ trải thêm nhiều kiếp sống, có những nhân tố vượt trội và được xếp theo cách thức thực hành.

1. Dạng Tu-Đà-Hườn sẽ trải thêm nhiều kiếp sống

a. Sattakkhattuparama Sotāpañña – Dạng Tu-Đà-Hườn phải còn trải qua thêm 7 kiếp sống nữa trong luân hồi ( kể từ khi trở thành một Tu-Đà-Hườn) và sẽ nhận thức được Niết Bàn trong kiếp sống cuối cùng.

b. Kolankola Sotāpañña – Dạng Tu-Đà-Hườn phải trải qua thêm từ 2 đến 6 kiếp sống nữa trong luân hồi trước khi nhận thức được Niết Bàn.

c. Ekabiza Sotàpanna – Dạng Tu-Đà-Hườn sẽ nhận thức được Niết Bàn trong kiếp sống thứ hai, kể từ khi đạt tới quả vị tu chứng này.

2. Dạng Tu-Đà-Hườn có những nhân tố vượt trội

a. Saddhā dhura – Niềm tin vượt trội

b. Ñāna dhura – Trí tuệ vượt trội

3. Dạng Tu-Đà-Hườn được xếp theo cách thức thực hành

a. Dukkha patipadā dandhābhinnā Sotāpaññā – Dạng Tu-Đà-Hườn phải thực hành thiền trong trạng thái khó khăn và căng thẳng, lâu gặt hái được Phật Pháp.

b. Dukkha patipada Khippābhinnā Sotāpaññā- Dạng Tu-Đà-Hườn phải thực hành thiền trong trạng thái khó khăn và căng thẳng nhưng nhanh chóng gặt hái được Phật Pháp.

c. Sukha patipada dandhābhinnā Sotāpaññā – Dạng Tu-Đà-Hườn thực hành thiền trong trạng thái rất dễ dàng và thoải mái nhưng lâu gặt hái được Phật Pháp.

d. Sukha patipada khippābhinnā Sotāpaññā – Dạng Tu-Đà-Hườn thực hành thiền trong trạng thái rất dễ dàng và thoải mái, đồng thời cũng nhanh chóng gặt hái được Phật Pháp. Nếu nhân ba dạng Tu-Đà-Hườn được xếp loại trong mục 1 với hai dạng Tu-Đà-Hườn được xếp loại trong mục 2, bạn sẽ có được 6 dạng Tu-Đà-Hườn. Nếu đem 6 dạng Tu-Đà-Hườn này nhân với bốn dạng Tu-Đà-Hườn được xếp loại trong mục 3 thì bạn sẽ có được 24 dạng Tu-Đà-Hườn.

Dạng Tu-Đà-Hườn được phân loại trong mục 1 khá dễ hiểu nên không cần phải giải thích thêm. Dạng Tu-Đà-Hườn được xếp loại ở mục 2 ( khoản a) là dạng hành giả có nhân tố niềm tin vượt trội hơn những nhân tố khác nên không thể lãnh hội được Phật Pháp một cách nhanh chóng. Dạng hành giả này có thể giữ sự chú ý trên tiến trình phồng xẹp của bụng, tiến trình đang ngồi xuống, đang xúc chạm hay đang đi bộ…Tuy nhiên, hành giả không nhận thức được bản chất của những chuyển động thuộc về thân thể một cách rõ ràng. Do đó, chắc chắn anh ta  sẽ gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất trong một chừng mực nào đó mà thôi, chứ chưa được hoàn hảo. Hành giả chỉ nhận thức được khoảng thời điểm nằm giữa tiến trình phồng lên và xẹp xuống của bụng. Loại trí tuệ mà hành giả này sẽ trải nghiệm được trong tâm thức là rất yếu ớt, giống như một loại ánh sáng phát ra từ những loại côn trùng sống về đêm. Anh ta chưa có khả năng phân biệt sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất tới một mức độ có thể gọi là hoàn thiện. Tuy nhiên, những vị thiền sư cũng đã giải thích rằng, dạng hành giả này đã hiểu rõ những gì mà anh ta lãnh hội được đang khi thực hành thiền minh sát. Dạng Tu-Đà-Hườn được phân loại trong mục 2  (khoản b) là dạng hành giả có nhân tố trí tuệ vượt trội hơn những nhân tố khác và có thể phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất một cách hoàn thiện. Năng lực định tâm của dạng hành giả này cũng đã đủ mạnh để lãnh hội được rằng “ tiến trình đang phồng lên và tiến trình đang xẹp xuống của bụng” là tách biệt đối với sự chú ý của tâm trí. Tương tự như vậy, anh ta cũng nhận biết được rằng “ tiến trình đang ngồi xuống” và “ tiến trình đang xúc chạm” là tách biệt với sự chú ý của tâm trí. “ Tiến trình đang phồng lên và tiến trình đang xẹp xuống của bụng” không hề có sự nhận thức bởi vì chúng thuộc về sắc pháp ( tức vật chất- Rùpa – material). Trong khi đó, sự chú ý của tâm trí đến những tiến trình này là có sự nhận thức bởi vì nó thuộc về danh pháp ( tức tinh thần – Nāma – Spirit). Hành giả này có thể phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất một cách nhanh chóng thông qua trải nghiệm riêng của mình. Dạng hành giả này hiểu biết rằng, thật ra bản thân anh ta và những người khác đã được cấu thành bởi tinh thần và vật chất, chứ không phải là những thực thể đồng nhất như : Ông T, bà N, anh C…Hành giả này cũng nhận thấy rằng những quan điểm lầm lạc trong tâm thức của anh ta như : Quan kiến lầm lạc về 5 uẩn ( Sakkāya diţţhi – Wrong view of 5 aggregates), quan kiến lầm lạc về tự ngã

( Attadiţţhi – Wrong view of self) đã hoàn toàn biến mất. Mặc dù những tên gọi nói trên là cách xưng hô mang tính qui ước. Chúng ta xử dụng các tên gọi ông T, bà N, anh C…trong các cuộc nói chuyện với mục đích thuận tiện cho việc tạm phân biệt giữa người này và người khác. Tuy nhiên, thật ra những tên gọi này không phải là những “ cái ta” hay là những thực thể có thật, chúng không đồng nhất, không thường còn và luôn luôn biến đổi trong từng khoảnh khắc. Bằng cách xóa tan 2 quan kiến lầm lạc nói trên, cánh cửa của địa ngục khổ đau đã bị đóng lại. Vì vậy, một nền tảng chắc chắn đã được thiết lập và đó là lý do tại sao chúng ta nên thực hành thiền minh sát một cách hăng say nhiệt tình. Theo phương pháp thực hành thiền minh sát của ngài Mahàsi, bạn có thể gặt hái được Phật Pháp trong vòng từ 4 đến 5 ngày. Bằng năng lực tập trung tâm ý vững chãi và trí tuệ vượt trội, hành giả này cũng nhận thức được sự thật rằng, bởi vì có “ tiến trình chuyển động đang phồng lên của bụng” mà “sự chú ý của tâm trí” mới khởi lên. Vì vậy “ tiến trình chuyển động đang phồng lên của bụng” là nguyên nhân, sự chú ý để nhận thức đến tiến trình này” chính là kết quả. Tương tự như vậy, “ tư thế đang ngồi xuống” là nguyên nhân và “ sự chú ý để nhận thức về tư thế này” là kết quả. “ Tiến trình đang xúc chạm” là nguyên nhân và “ sự chú ý để nhận thức về tiến trình đang xúc chạm này” là kết quả. Do đó, kiến thức về nhân quả đã phát triển thông qua sự trải nghiệm riêng của hành giả. Đối với những hành giả có niềm tin vượt trội, họ chỉ có thể lãnh hội được kiến thức về nhân quả khi nghe nói và giải thích về nó bởi những người hướng dẫn cách thực hành thiền. Nhờ vậy, hành giả sẽ không nản chí khi suy nghĩ rằng có thể anh ta không gặt hái được Phật pháp. Chỉ cần theo đuổi một phương pháp thực hành thiền đúng đắn, đến khi năng lực tập trung tâm ý đã phát triển và dẫn đến tuệ minh sát thì kiến thức về nội quán của hành giả sẽ có sự tiến bộ. Dạng Tu-Đà-Hườn được phân loại trong mục 3 ( khoản a) là dạng hành giả phải thực hành thiền trong trạng thái tâm khó khăn và căng thẳng, đồng thời cũng gặt hái được Phật Pháp một cách chậm chạp. Sở dĩ dạng hành giả này bị vướng kẹt trong 2 chướng ngại nói trên là do 2 nguyên nhân, đó là :  Trong những kiếp sống ở quá khứ, có thể anh ta chưa bao giờ thực hành thiền định ( Còn gọi là thiền vắng lặng – Samātha Bhāvanā – Tranquil meditation), cũng như chưa bao giờ thực hành thiền minh sát.

Dạng Tu-Đà-Hườn được phân loại trong mục 3 ( khoản b) là dạng hành giả phải thực hành thiền trong trạng thái khó khăn và căng thẳng nhưng lại gặt hái được Phật Pháp một cách nhanh chóng. Trong những kiếp sống ở quá khứ, dạng hành giả này đã từng thực hành thiền minh sát nhưng không thực hành thiền định.Thiền minh sát sẽ dẫn đến sự phát triển trí tuệ. Trong khi đó, thiền định lại có khả năng làm cho hành giả có thể thực hành thiền một cách thoải mái và không mấy khó khăn. Dạng Tu-Đà-Hườn được phân loại trong mục 3 ( khoản c) là dạng hành giả thực hành thiền trong trạng thái rất dễ dàng và thoải mái nhưng lại gặt hái được Phật pháp một cách chậm chạp. Sở dĩ như vậy là do trong những kiếp sống ở quá khứ, dạng hành giả này đã từng thực hành thiền định nhưng không thực hành thiền minh sát. Anh ta chỉ có thể gặt hái được Phật Pháp khi trí tuệ đã phát triển trong tâm thức của chính anh ta.

Dạng Tu-Đà-Hườn được phân loại ở mục 3 ( khoản d) là dạng hành giả thực hành thiền trong trạng thái dễ dàng và thoải mái, đồng thời cũng gặt hái Phật Pháp một cách nhanh chong. Đây chính là kết quả có được từ việc thực hành cả hai loại thiền ( thiền định và thiền minh sát) trong những kiếp sống ở quá khứ của hành giả. Nếu bạn đã hội đủ bốn yếu tố để trở thành một Tu-Đà-Hườn rồi, bạn sẽ không cần phải thẩm định xem mình thuộc loại Tu-Đà-Hườn nào nữa cả. Lúc đó, chắc chắn bạn sẽ đạt tới quả vị tu chứng này. Bạn có tin vào điều này không ? Bạn sẽ thực hành thiền minh sát bởi vì có niềm tin vào Phật pháp. Việc gặp phải những khó khăn, căng thẳng và lâu gặt hái được Phật Pháp trong quá trình thực hành thiền minh sát không phải do bạn đã phạm phải nhiều lỗi lầm mà do trong những kiếp sống ở quá khứ, bạn đã không thực hành thiền định và thiền minh sát. Đấng Giác Ngộ đã từng nói rằng, một ngày nào đó bạn sẽ trở thành Tu-Đà-Hườn nếu có thực hành cả hai loại thiền vừa nói với một niềm tin vững chãi. Một điều quan trọng nên nhớ rằng, những hành giả gặt hái được Phật Pháp một cách chậm chạp không nên nản lòng thối chí trong quá trình thiền tập. Nếu mang tâm trạng đó trong quá trình thực hành thiền thì họ sẽ không bao giờ trở thành một Tu-Đà-Hườn. Họ cần phải dũng mãnh, tự động viên mình hoặc nhận được sự cổ vũ từ những người khác trong quá trình thực hành thiền. Hành giả gặp khó khăn, căng thẳng trong quá trình thực hành thiền và gặt hái Phật Pháp một cách chậm chạp, cũng như những hành giả có thể thực hành thiền dễ dàng và thoải mái nhưng gặt hái Phật Pháp một cách chậm chạp, tất cả họ cần phải có tâm dũng mãnh, tinh tấn và dĩ nhiên họ rất cần đến sự động viên của những người khác trong suốt quá trình tu tập. Khi chạm trán với những loại khổ đau, hành giả nên nhớ rằng mình cần phải chịu đựng chúng. Kiên nhẫn chịu đựng là một nhân tố quan trọng bậc nhất trong thiền nội quán. Năng lực tập trung tâm ý sẽ bị giảm sút và làm cho hành giả nhụt chí nếu anh ta thường xuyên thay đổi tư thế khi đang thực hành thiền. “ Kiên nhẫn là cha đẻ của Niết Bàn”. Đây là một câu nói thích hợp nhất đối với những người thực hành thiền. Nếu không có khả năng kiên nhẫn với nhiều loại khổ đau xảy đến trong quá trình thực hành thiền, bạn sẽ không thể chú ý một cách nghiêm túc, chính xác và đều đặn. Mặt khác, điều này sẽ dẫn đến những sai lầm trong cách thức thực hành thiền. Khả năng bị nản lòng thối chí có thể xảy đến với những hành giả gặp nhiều khó khăn trong khi thiền tập, đồng thời họ cũng gặt hái được Phật Pháp một cách rất chậm chạp. Điều này có thể xảy đến với họ bởi vì trong những kiếp sống ở quá khứ, họ đã từng thực hành thiền định nhưng không thực hành thiền minh sát. Đa số những hành giả khi đến trung tâm thiền này để trình Pháp đều nói rằng sự chú ý của họ vào buổi sáng thường rất tốt. Thế còn buổi chiều thì sao ? Câu trả lời là, năng lực chú ý của hành giả vào buổi chiều cũng có thể tốt như buổi sáng. Những câu trả lời tương tự đối với buổi chiều tối, ngày hôm sau và những ngày tiếp theo đó. Nghĩa là bất cứ khi nào sự chú ý của họ cũng có thể tốt cả. Tuy nhiên, họ chưa hiểu và chưa giải thích được năng lực chú ý của chính mình tốt như thế nào, nó tốt khi quan sát cái gì và vì sao nó lại tốt như vậy. Những người hướng dẫn thực hành thiền đã khuyên họ rằng : “ Nên chú ý một cách đều đặn, kể từ khi tiến trình chuyển động đang phồng lên của bụng bắt đầu hiện khởi cho đến khi tiến trình này đã hoàn toàn chấm dứt. Đối với tiến trình chuyển động đang xẹp xuống của bụng cũng vậy”. Ngày qua ngày cứ thực hành như thế, chắc chắn việc thực hành thiền của bạn sẽ được cải thiện. Những người hướng dẫn thực hành thiền lại tiếp tục giải thích thêm :

“ Tiến trình bắt đầu chuyển động dần dần phồng lên của bụng là sự trở thành, sự chấm dứt của tiến trình này là trạng thái tan hoại”. Bây giờ, bạn hãy tập luyện cách chú ý đều đặn và chính xác, sau đó bản chất của những tiến trình đang phồng lên và đang xẹp xuống của bụng sẽ xuất hiện một cách rõ ràng trong tâm thức của bạn. Nhờ đó, bạn sẽ lãnh hội được thời điểm tách biệt giữa tiến trình đang chuyển động phồng lên của bụng với tiến trình chuyển động đang xẹp xuống của bụng. Nói cách khác, khi bụng đang phồng lên và đã căng hết mức, bạn sẽ nhận thấy rằng nó có dừng lại một chút trước khi bắt đầu xẹp xuống. Khi bụng đã hoàn toàn xẹp xuống, trước khi bắt đầu phồng lên, nó cũng có dừng lại một chút. Khoảng thời gian dừng lại của bụng này chúng tôi gọi là “ thời điểm tách biệt” như đã nói ở trên. Đối với những người phải trải nghiệm những cảm giác đau khổ và khó khăn trong khi thực hành thiền minh sát, tốt hơn hết là họ nên tập luyện sự chú ý đến khổ thọ ( tức cảm giác khó chịu - Dukkha Vedanā – Unpleasant sensation). Có 3 cách để thực hành sự chú ý đến khổ thọ, đó là : Quán niệm về tiến trình biến mất đi của khổ thọ, quán niệm về trạng thái được giải phóng khỏi khổ thọ khi đang tọa thiền, quán niệm để nhận thức được bản chất của khổ thọ.

1. Khi đang quán niệm về tiến trình biến mất đi của khổ thọ, một số người thường có thói quen mong muốn được tận hưởng lạc thọ ( tức cảm giác dễ chịu – Sukkha – Pleasant sensation). Tâm mong muốn được tận hưởng lạc thọ đã khiến cho tham lam ( Lobha – Greed) khởi lên trong tâm thức.

Tham lam là ô nhiễm ( Kilesa – Impurity). Như vậy bạn đã thực hành sự chú ý trong một trạng thái tâm thức bị ô nhiễm. Do đó, bạn không thể phát triển được năng lực nhận thức, cũng như không gặt hái được Phật Pháp. Trước đây, đa số các hành giả đều thực hành Pháp quán niệm về tiến trình biến mất của khổ thọ. Tuy nhiên, kể từ khi cách thực hành này bị phát hiện không phải là lời giáo huấn của Đức Phật, người ta không còn thực hành nó nữa. Đức Phật đã từng khuyên chúng ta nên quán niệm để nhận thức được bản chất của khổ thọ, sự biến đổi cường độ cũng như sự thay đổi vị trí của nó trong thân tâm chúng ta.

2. Cách thực hành đúng đắn để vượt qua cảm thọ nói chung là quán niệm để nhận thức được bản chất của nó. Bạn nên nổ lực chú ý để cố gắng phát hiện ra nơi trú ẩn của khổ thọ, xem thử nó đang ở đâu, nó đang ở trên da, trong thịt, trong xương hay thông qua tủy ? Khi khổ thọ gia tăng cường độ, thân tâm của bạn thường có xu hướng bị căng thẳng. Ngay lúc đó, bạn nên thư giãn đôi chút và đừng lo lắng gì cả, cũng đừng nghĩ rằng “ mình sẽ bị đau, nhức, mỏi, ngứa…trong suốt quá trình tọa thiền”. Thay vào đó, bạn phải suy niệm rằng  “ khổ thọ là một hiện tượng tự nhiên và nhiệm vụ của mình là chú ý đến nó, mình cần phải kiên nhẫn”. Sau nhiều lần kiên nhẫn chú ý và rà soát, bạn sẽ nhận biết được một cách chính xác khổ thọ hiện đang ở đâu, phạm vi trú ngụ và bản chất thật của nó là cái gì. Sau khoảng 4 đến 5 lần chú ý đến khổ thọ, bạn sẽ nhận thấy cường độ của nó đã gia tăng đến đỉnh điểm và bắt đầu chuyển sang gia giảm. Lúc này, bạn sẽ cảm thấy bớt căng thẳng. Bây giờ bạn sẽ nhận thức được bản chất của khổ thọ. Thông thường khổ thọ sẽ không bao giờ liên tục gây ra sự khó chịu cho bạn, nó gia tăng hoặc gia giảm theo thời gian. Do đó, bạn cứ bình tĩnh thực hành sự chú ý và không nên lo lắng gì cả khi khổ thọ đang khởi lên. Bằng sự chú ý nghiêm túc, đều đặn và chính xác, bạn sẽ gặt hái được một năng lực định tâm mạnh mẽ. Trong mỗi sự chú ý đến tiến trình gia tăng hay gia giảm cường độ của khổ thọ, bạn sẽ nhận thấy rằng khổ thọ đã thay đổi vị trí từ chỗ này đến chỗ khác. Khi năng lực quán niệm đã trở nên mạnh mẽ, trạng thái định tâm của bạn đã thu được xung lượng, với sự chú ý đến tiến trình đang khởi lên và biến mất đi của khổ thọ, bạn sẽ nhận thức được rằng tiến trình khởi lên của khổ thọ là sự trở thành và tiến trình biến mất đi của nó là trạng thái tan hoại. Bây giờ, khi sự chú ý của tâm trí luôn luôn được duy trì một cách chính xác, đều đặn trên tiến trình khởi lên và tan hoại của khổ thọ thì tự nhiên nó sẽ biến mất, hành giả không còn cảm thấy đau, nhức, mỏi, tê cóng, ngứa ngáy hay chóng mặt…Như vậy, sự chú ý của tâm trí đã vượt qua được khổ thọ. Nhờ đó, bạn đã gặt hái được kiến thức về tiến trình tan hoại của các sự vật và hiện tượng – Bhanga Ñāna. Khi khổ thọ bị chú ý một cách trọn vẹn thì bạn sẽ không còn nhận thấy nó một cách rõ ràng nữa. Tuy nhiên, tiến trình đang biến mất đi của khổ thọ vẫn là đề mục chính mà bạn cần phải thực hành sự chú ý đến. Bạn sẽ không còn nhận thấy khổ thọ một cách rõ ràng khi nó bị sự chú ý của tâm trí khống chế và kiểm soát. Khi năng lực định tâm đã đủ mạnh, bạn sẽ trải nghiệm tiến trình tan hoại của đối tượng bị chú ý và ngay cả sự chú ý của tâm trí cũng sẽ tan hoại luôn. Khi năng lực định tâm ngày càng chín muồi hơn nữa, bạn sẽ trải nghiệm trạng thái biến mất hoàn toàn của khổ thọ. Sự chú ý để nhận thức của bạn về khổ thọ cũng không còn. Từ đó, bạn sẽ suy niệm rằng “ Bất cứ hiện tượng nào cũng vô thường  (Anicca – Impermanence) , chúng khởi lên và rồi sẽ biến mất đi. Tất cả mọi hiện tượng khi đã khởi lên và biến mất đi cũng đã gây ra một áp lực đè nặng lên tâm trí của chính bạn. Do đó, chúng là khổ ( Suffering – Dukkha). Bạn không thể điều khiển được tiến trình trở thành và tan hoại của các hiện tượng, bởi vì chúng luôn luôn khởi lên và biến mất đi theo cách riêng của chúng. Do đó tất cả mọi hiện tượng là vô ngã ( Anatta - No self or Uncontrol ). Bây giờ, bạn đã lãnh hội được 3 tính cách của cảm thọ nói chung là vô thường, khổvô ngã.

Đúng theo hạnh Ba-La-Mật của riêng một người nào đó, khi đã lãnh hội được 3 tính cách nói trên, người này sẽ nhận thức được Niết Bàn.

Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp về “ bốn nhân tố cấu thành Tu-Đà-Hườn và 24 dạng Tu-Đà-Hườn”, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành theo những lời giáo huấn của Đức Phật. Với sự siêng năng cần mẫn trong việc quán niệm, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ nhanh chóng nhận thức được Niết Bàn mong muốn nhất, thoát khỏi tất cả những nổi khổ đau bằng cách thực hành thiền minh sát trong một tâm thức nhẹ nhàng và thoải mái. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !       

  

   Bốn nhân tố cấu thành và những lợi ích của Tu-Đà-Hườn

 

Bài thuyết Pháp hôm nay sẽ nói về “ bốn nhân tố cấu thành và những lợi ích của Tu-Đà-Hườn”. Đức Phật đã từng chỉ ra 4 nhân tố cần phải có đối với những người thành thật mong muốn trở thành Tu-Đà-Hườn ngay trong chính kiếp sống này. Bốn nhân tố đó là :

1. Nương tựa vào những vị thầy cao thượng

2. Biết lắng nghe Giáo Pháp

3. Phát triển những quan điểm đúng đắn theo trình tự gặt hái phước báu

4. Thực hành những Pháp thích ứng với Đạo quả

Những lời khuyên của Đức Phật quả thật rất thích hợp đối với những thính giả lắng nghe thuyết Pháp ngày hôm nay. Chúng là những lời khuyên rất thiết thực. Nếu đã có được 4 nhân tố nêu trên thì chắc chắn bạn sẽ trở thành Tu-Đà-Hườn.

Tóm tắtNương tựa vào những vị thầy cao thượng, biết lắng nghe Giáo Pháp, phát triển những quan điểm đúng đắn và thực hành những Pháp thích ứng với Đạo quả.

1. Nương tựa vào những vị thầy cao thượng

 Vào thời Đức Phật còn tại thế, dĩ nhiên tất cả những người sống vào thời đó đều có thể nương tựa vào Đức Giáo Chủ nếu như họ muốn. Tuy nhiên,vào thời mà Đức Phật đã vắng bóng thì chúng ta có thể nương tựa vào những vị A-La-Hán. Nếu không tìm được một vị A-La-Hán thì bạn có thể nương tựa vào một vị A-Na-Hàm. Nếu chưa có khả năng như vậy thì bạn hãy nương tựa vào một vị Tư-Đà-Hàm. Nếu không thể nương tựa vào một vị Tư-Đà-Hàm thì bạn hãy nương tựa vào một vị Tu-Đà-Hườn. Nếu cũng không thể tìm được một vị Tu-Đà-Hườn thì bạn hãy nương tựa vào một vị thầy Tam Tạng. Nếu không tìm được một vị thầy Tam Tạng thì bạn vẫn có thể nương tựa vào một vị thầy Nhị Tạng. Nếu không thể nương tựa vào một vị thầy Nhị Tạng thì bạn hãy tìm đến với một vị thầy Nhất Tạng. Nếu cũng không tìm được một vị thầy Nhất Tạng thì bạn hãy nương tựa vào những người đã có kiến thức và kinh nghiệm trong việc thực hành thiền minh sát. Tôi tin rằng, những người đang lắng nghe bài thuyết Pháp này chắc chắn sẽ biết cách nương tựa vào những bậc Trưởng Thượng. Sau đó, bạn sẽ gặt hái được nhân tố đầu tiên cho việc cấu thành một Tu-Đà-Hườn.

2. Biết lắng nghe Giáo Pháp Cao thượng

Ngoại trừ những vị Phật Toàn Giác và Phật Độc Giác, không có ai có thể trở thành Tu-Đà-Hườn mà không cần lắng nghe Giáo Pháp Cao thượng.Việc lắng nghe Giáo pháp cũng giống như việc tưới nước cho một cây xoài non. Nếu hiện đang thực hành thiền minh sát, bạn sẽ cảm thấy khá hạnh phúc và có sự tiến bộ sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp này. Một cây xoài non phát triển tốt sẽ cho hoa và quả nếu nó được tưới nước đều đặn. Tương tự như vậy, bằng cách lắng nghe Giáo pháp, bạn sẽ gặt hái được Đạo quả.

 Nếu không biết lắng nghe Giáo Pháp, bạn sẽ thất bại trên con đường tu tập. Sự thất bại này cũng giống như một cây xoài non không được tưới nước đều đặn và trở nên bị khô héo. Khi không gặt hái được trạng thái tiến bộ trong quá trình thực hành quán niệm, có thể bạn sẽ cảm thấy nản lòng và muốn rời khỏi trung tâm thiền. Một cây xoài non sẽ chết nếu như nó không được tưới nước một cách đều đặn. Tương tự như vậy, nếu rời khỏi trung tâm thiền mà không gặt hái được lợi ích gì thì bạn sẽ chết “trong lòng một ít” vì đã thất bại trong việc phát triển kiến thức nội quán. Nếu bạn không muốn “chết” như cây xoài non khô héo kia thì hãy lắng nghe Giáo Pháp.

 

3. Phát triển những quan điểm đúng đắn

Theo trình tự gặt hái phước báu, bạn nên phát triển những quan điểm đúng đắn để có thể vượt qua được các cảm giác khó chịu lẫn những cảm giác dễ chịu, dù có mong muốn hay không. Khi những cảm giác dễ chịu khởi lên, chúng ta thường có khuynh hướng tham lam muốn được trải nghiệm chúng. Đối với trường hợp này, bằng cách nào bạn có thể phát triển được quan điểm đúng đắn về những cảm giác đó ? Thay vì phát triển tâm bám víu vào những cảm giác dễ chịu, bạn hãy suy niệm rằng “ bây giờ mình đang cảm thấy dễ chịu và hạnh phúc bởi vì trong các kiếp sống ở quá khứ mình đã từng thực hiện một số hành động xứng đáng nào đó. Để được hạnh phúc trong tương lai, ngay trong kiếp sống hiện tại này mình cần phải thực hiện những hành động thiện lành”. Sau đó, bạn hãy cố gắng thực hiện thêm nhiều hành động phước báu nữa, càng nhiều càng tốt để gặt hái được hạnh phúc, cũng như để cs khả năng thích ứng với những trạng thái dẫn đến Niết Bàn. Khi các cảm giác khó chịu khởi lên, chúng có thể làm cho bạn trở nên sân hận và dẫn đến những hành động bất thiện. Đối với những trường hợp này, bạn nên suy niệm rằng “ bây giờ mình đang cảm thấy khó chịu và bất hạnh bởi vì trong các kiếp sống ở quá khứ mình đã từng thực hiện những hành động bất thiện. Để trong tương lai sẽ không còn gặp phải những điều bất như ý, ngay trong kiếp sống hiện tại này mình cần phải thực hiện những hành động thiện lành”. Nếu suy niệm được như vậy thì chắc chắn trạng thái sân hận trong tâm thức của bạn sẽ bị xua tan. Những tác động xấu chắc chắn là kết quả của những hành động bất thiện. Tuy nhiên, nếu bạn có thể phát triển được những quan điểm đúng đắn về chúng như đã đề cập ở trên thì những tác động xấu này lại trở thành nguyên nhân dẫn đến những hành động thiện lành, mỗi khi bạn đã biết hổ thẹn về những hành động xấu ác mà mình đã từng thực hiện trong quá khứ, đồng thời mang tâm quyết từ bỏ và xa lánh chúng đi. Nhờ vậy, bạn sẽ không bao giờ còn bị đọa xuống địa ngục khổ đau nữa. Để trở thành một Tu-Đà-Hườn, bạn phải biết cách ẩn náu trong những ý nghĩ thiện lành, thay vì chứa chấp những ý nghĩ bất thiện trong tâm thức. Nếu thường xuyên có một tâm thức bất thiện thì chúng ta sẽ không bao giờ trở thành Tu-Đà-Hườn được. Tâm thức bất thiện và Niết Bàn Cao Thượng là phản đề của nhau.

4. Thực hành những Pháp thích ứng với Đạo quả

Những người lắng nghe Giáo Pháp đang thực hành thiền minh sát với tâm mong muốn đạt tới Niết Bàn. Khi đang dâng cúng vật thực, thuốc men chữa bệnh… Họ thường ước nguyện mình sẽ đạt tới cảnh giới Niết Bàn. Khi chấm dứt việc thọ Giới, họ lại ước nguyện sẽ gặt hái được Đạo quả. Do đó, hiển nhiên họ đã có khuynh hướng nghiêng về phía Niết Bàn mỗi khi thực hiện bất cứ một hành động thiện lành nào. Kể từ khi bố thí ( Dāna) và giữ Giới ( Sīla) được xem là những nhân tố trợ lực cho việc gặt hái được Niết Bàn, chúng đã được người ta quan tâm đến như là những cách thực hành thích ứng với Đạo quả. Tuy nhiên, theo đúng sự hướng dẫn của Ngài Mahāsī thì thực hành thiền minh sát là cách thực hành tốt nhất để gặt hái được Niết Bàn. Ngài Mahāsī đã từng giáo huấn một cách rõ ràng về cách thức để thực hành loại thiền này. Không những thế, vì mục đích vừa nêu, Ngài đã soạn ra những câu tóm tắt dưới đây :

Tóm tắt: Hỏi – Thực hành sự chú ý đến cái gì để phát triển tuệ minh sát ? Trả lời -   Cách thực hành đúng đắn là chú ý đến 5 nhóm bám víu.

Năm nhóm bám víu ở đây là 5 uẩn, kể từ khi các uẩn này đã trở thành những đối tượng của tâm bám víu. Chúng ta thường mang tâm bám víu vào 5 đối tượng này ( sắc, thọ, tưởng, hành, thức) với lòng khao khát, với những quan kiến lầm lạc…Do đó, bạn thường ra sức tìm kiếm 5 uẩn trong chính thân tâm của mình và những người khác. Vậy thì chúng ta sẽ chú ý đến cái gì  ? Dĩ nhiên là chú ý đến 5 uẩn. Đối với việc thực hành thiền minh sát, chấp trước 5 uẩn bằng cách nghĩ rằng chúng có thật là một cách thức không đúng đắn. Đầu tiên, bạn cần phải quán niệm về 5 uẩn tạo như là những nhân tố đã cấu thành chính mình. Tiếp đến, bạn sẽ gặt hái được Phật Pháp. Khi đã lãnh hội được bản chất của 5 uẩn như là những nhân tố cấu thành bản thân mình, bạn sẽ có khả năng nhận thức được bản chất của 5 uẩn đã tạo nên những người khác. Kể từ khi tâm không còn phát khởi trạng thái bám víu vào 5 uẩn, bạn sẽ không còn khởi tâm ham muốn và khao khát những đối tượng khác không phải là mình.

Tóm tắt: Hỏi – Tại sao và khi nào phải chú ý đến 5 uẩn  ?

 Trả lời – Chúng ta cần phải chú ý một cách đúng đắn đến 5 uẩn trong từng khoảnh khắc, khi những uẩn này đang ở trong tiến trình trở thành. Bạn cần phải chú ý đến 5 uẩn để ngăn chặn và không cho tâm bám víu vào chúng hiện khởi.

Rất nhiều người ngoại quốc đã cảm thấy rất thú vị đối với Phật Giáo, đặc biệt là thiền minh sát. Họ mong muốn biết được tại sao người ta cần phải thực hành loại thiền này. Một sinh viên trẻ tuổi đã từng hỏi một vị Trưởng Thượng rằng : “ Phải chăng người ta đã thực hành thiền minh sát bởi vì họ mong muốn có được khả năng nghe nhìn thấu suốt như là những phép thần thông, cũng như có thể tiên đoán trước những sự việc chưa xảy ra ? ”.

Vị Trưởng thượng đã trả lời : “ Thật ra thiền minh sát không phải được xử dụng cho mục đích phát triển kinh tế. Nó cũng không phải được xử dụng vào mục đích gặt hái những năng lực thần thông như khả năng nghe, nhìn thấu suốt. Thiền minh sát dùng để loại bỏ tâm khao khát và bám víu vào 5 uẩn. Nói cách khác, loại thiền này có thể giúp cho chúng ta thoát khỏi những nổi khổ đau và nhận thức được Niết Bàn. Theo trình tự phát triển tuệ minh sát, đều quan trọng là bạn cần phải có khả năng thực hành sự chú ý trong từng khoảnh khắc, nghĩa là phải chú ý đến những gì đang xảy ra trong hiện tại, không suy nghĩ về quá khứ và tương lai, bởi vì quá khứ đã qua, còn tương lai thì chưa bao giờ đến.

Tóm tắt: Không suy nghĩ về quá khứ bởi vì nó đã cũ kỹ, cũng không mong chờ vào tương bởi vì nó chưa thật sự hiện hữu. Chỉ chú ý trong từng khoảnh ở hiện tại, khi tinh thần và vật chất đang ở trong tiến trình trở thành và tan hoại.

Chúng ta nên chú ý đến những gì đang xảy ra trong từng khoảnh khắc ở hiện tại, bởi vì chỉ cần một phần nhỏ của một giây đồng hồ sau khi vừa khởi lên, vạn hữu đã trở thành quá khứ và biến mất. Do đó, nếu có những tư tưởng khác như chấp nhận các quan điểm lầm lạc, bám víu vào cảm giác…thì bạn sẽ bị trói buộc vào quá khứ chứ không phải đang thật sự sống trong hiện tại một cách đúng nghĩa. Do đó, tiến trình gặt hái Phật Pháp sẽ diễn ra rất chậm chạp. Nếu suy nghĩ về tương lai và tự nhủ rằng “ liệu mình có thể gặt hái được Phật Pháp hay không ?” Tâm trí của bạn sẽ bị lang thang vô định và do đó cũng không có cơ hội đạt tới Niết Bàn. Bạn nên nổ lực thực hành sự chú ý trong từng khoảnh khắc ở hiện tại, không nhớ nghĩ về quá khứ và cũng không trông chờ vào tương lai. Trong quá trình thực hành thiền, bạn chỉ thực hành sự chú ý đến những đối tượng hiện đang có mặt bên trong và bên ngoài thân tâm của chính mình. Khi tuệ minh sát đã chín muồi thì năng lực chú ý của bạn sẽ tốt hơn. Trong bốn nền tảng dùng để quán niệm ( thân, thọ, tâm, pháp) thì thân xác của chúng ta là một nền tảng rất dễ xử dụng cho việc thực sự chú ý nhất. Nền tảng này bao gồm tư cách đạo đức hay cung cách đối xử và các hành động như đang ngồi, đang xúc chạm, đang đứng, đang nằm, đang co duỗi tay chân, tiến trình đang phồng xẹp lên xuống của bụng…

Toàn thân chúng ta được bịt kín như một cái thùng chứa đồ mà bề mặt của nó là những cảm giác. Ngoại trừ tóc mọc trên đầu, lông, móng chân và móng tay, tất cả những bộ phận khác nằm trong thân xác của chúng ta đều là những đối tượng nội quán cần phải thực hành sự chú ý để nhận thức được bản chất thật của chúng. Khi năng lực định tâm đã chín muồi và phát triển một cách vững chãi, bạn sẽ gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại – Bhanga Ñāna và lãnh hội được bản chất của vạn hữu. Bạn có thể thực hành sự chú ý đến những đối tượng nội quán như : Tiến trình đang thấy, đang nghe, đang nếm, đang ngửi và đang tư duy. Bằng cách nào một người nào đó có thể biết được rằng mình đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu ? Với trạng thái trí tuệ đã phát triển và tiến trình tan hoại của vạn hữu đã hiện rõ trong tâm thức của một người, lúc người này đang thực hành thiền. Đến lúc đó, anh ta sẽ nhận biết được rằng mình đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu. Ở trình độ thực hành thiền này, bạn đã có khả năng chú ý một cách thuần túy ( tức chú ý một cách trực tiếp, không xử dụng ý thức để can thiệp vào tiến trình đang xảy ra của hiện tượng được quan sát) đến tiến trình đang thấy, đang nghe, đang ngửi…

Giai đoạn ban đầu lúc, khi mới gặt hái được trạng thái nội quán nói trên, những hiện tượng sẽ không còn xuất hiện một cách rõ ràng trong tâm thức của bạn. Tuy nhiên, vào giai đoạn cuối, khi tiến trình tan hoại của những hiện tượng đang xảy ra thì bạn sẽ nhận biết chúng một cách rất rõ ràng. Đến lúc đó, bạn sẽ không còn quan tâm đến những khái niệm haythực tại biểu kiến ( Paññatti – Conception or Apparent reality) nữa. Trong thực hành thiền tọa, dạng hành giả đã gặt hái được Bhanga Ñāna sẽ không còn nhận thức hình dáng bên ngoài của thân thể hay tứ chi…một cách rõ ràng nữa. Tuy nhiên, hành giả vẫn còn nhận thức được trạng thái cứng cáp khó uốn nắn của thân thể mình, khi nó đang chuyển động do ảnh hưởng của những yếu tố có tính thúc đẩy. Bất cứ lúc nào, khi hành giả chú ý đến tiến trình tan hoại của các hiện tượng, anh ta cũng sẽ phát triển được sự nhận thức của mình để nhận biết được rằng, những hiện tượng đó được sắp xếp theo từng thứ lớp rất chặt chẻ, rõ ràng và biến đổi luôn, chúng không phải là một khối đồng nhất và bất biến. Với khả năng chú ý thuần thục và đúng đắn này, hành giả sẽ lãnh hội được tiến trình biến mất đi của các hành động và thái độ ứng xử đang xảy ra trong chính thân tâm của mình.

Khi “ kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu” đã phát triển một cách tròn đủ trong tâm thức của bạn, đối tượng bị chú ý quan sát, sự chú ý và tiến trình nhận thức của bạn sẽ biến mất khi bạn đang thực hành thiền minh sát. Ví dụ, khi đang thực hành thiền tọa, bạn đang chú ý đến “tiến trình đang ngồi” thì “ hình dáng thân thể của bạn ngay lúc đó là tư thế ngồi”. Như vậy, “ Tư thế ngồi” và “ sự chú ý của tâm trí đến tư thế này” đã biến mất trong tâm thức của bạn. Lúc đó, bạn chỉ còn nhận thức được những yếu tố có tính chuyển động đang thúc đẩy thân thể của bạn mà thôi. Trong tất cả những tư thế hành thiền khác, bạn cũng sẽ nhận thức được những điều tương tự. Đây là nhân tố đầu tiên để củng cố và xây dựng năng lực vững mạnh trong việc làm chủ thân tâm của chúng ta. Nói cách khác, đây là khả năng chú ý trực tiếp để nhận biết tính vô thường của tất cả những đối tượng được tâm trí nhận thức. Một hành giả mới tập sự thực hành thiền minh sát có thể học và hiểu về nhân tố này bằng cách lắng nghe thuyết Pháp. Anh ta sẽ cảm thấy rất thú vị khi nhận thức được tiến trình đang trở thành và tan hoại của các hiện tượng. Khi chỉ mới gặt hái được kiến thức về trạng thái khởi lên và tan biến đi của các hiện tượngUdayabbaya Ñāna, năng lực tập trung tâm ý và trí tuệ của bạn chỉ mới phát triển ở một mức độ khá tốt. Vì vậy, bạn chưa thể nhận thức được “ tiến trình đang trở thành và tan hoại của các hiện tượng” một cách trọn vẹn. Bạn cần phải nổ lực thực hành sự chú ý nhiều hơn nữa, hãy chú ý một cách chính xác và đều đặn, sau đó bạn sẽ lãnh hội được “ tiến trình tan hoại của các hiện tượng ” một cách trọn vẹn, cũng như sẽ lãnh hội được “ tiến trình đang tan hoại của sự chú ý đến các hiện tượng đó”. Tiến trình đang trở thành và tan hoại đi của các hiện tượng luôn luôn diễn ra với một tốc độ cực kỳ nhanh chóng. Do đó, năng lực chú ý của hành giả khó có thể theo kịp tốc độ biến đổi này, đồng thời hành giả cũng sẽ nhận thức được rằng, những hiện tượng thuộc về tâm- vật lý là vô thường ( Anicca – Impermanence). Khi tiến trình trở thành và tan hoại đi của các hiện tượng diễn ra một cách quá nhanh, chúng đã gây ra áp lực và quấy rầy tâm trí của bạn. Do đó chúng là khổ ( Dukkha – Suffering). Tiến trình biến đổi nhanh chóng này là không điều khiển được, nó thường xuyên diễn ra theo cách của riêng nó. Vì vậy nó là vô ngã hay không thể điều khiển được ( Annatta – No self or Uncontrfolable). Với sự lãnh hội một cách rõ ràng và dứt khoát về 3 tính cách trên của vạn hữu ( vô thường, khổ và vô ngã), bạn sẽ không còn khởi tâm bám víu vào các hiện tượng, mỗi khi chúng đang khởi lên trong tâm thức của chính mình. Do đó, chắc chắn bạn sẽ được giải phóng khỏi những nổi khổ đau, không còn tâm khao khát muốn bám víu vào 5 uẩn đã cấu thành bản thân mình và những người khác. Từ đó, bạn đã có được cơ hội để tự giải phóng mình và đây là một nhân tố rất quan trọng trong quá trình thực hành thiền minh sát. Với tuệ minh sát đã chín muồi, bạn sẽ không còn sợ hãi, luôn luôn sống trong một trạng thái tâm tỉnh thức và kiên định về tính nhanh chóng tan hoại đi của các hiện tượng. Từ đó, bạn sẽ nhận thức được rằng, bởi vì có tính luôn luôn tan hoại đi một cách nhanh chóng, cho nên tinh thần và vật chất là những thứ không có gì đáng để ao ước, chiếm hữu hay trải nghiệm. Lúc này bạn đã gặt hái được sự hiểu biết về bản chất thấp kém, xấu xa của tinh thần và vật chấtAdinava Ñāna. Tiếp đến, bạn sẽ hiểu rằng với bản chất thấp kém và xấu xa, luôn luôn tan hoại đi một cách cực kỳ nhanh chóng, tinh thần và vật chất chỉ là những thứ hão huyền không có thật. Vì vậy, bạn sẽ tìm cách xa lánh chúng, dù chúng là những thứ dễ chịu hay khó chịu đi nữa cũng vậy thôi. Khi đã đạt tới trạng thái hiểu biết này, bạn đã gặt hái được một loại trí tuệ gọi là Nibbida Ñāna. Khi đã có Nibbida Ñāna, bạn sẽ tiến đến trình độ hoàn toàn từ bỏ thân tâm của chính mình để đạt tới một loại trí tuệ cao hơn gọi là Muncitu kamyata Ñāna.

Với sự nhận thức rằng thân tâm của chính mình không có giá trị gì và đáng để buông bỏ, bạn cần tiếp tục nổ lực thực hành sự chú ý để đạt tới kiến thức về trạng thái buông bỏ - Patisankha Ñāna. Thỉnh thoảng, bạn cũng sẽ không nổ lực để thực hành sự chú ý do ảnh hưởng của tâm buông bỏ. Tuy nhiên, trạng thái tâm lý chểnh mãng này chỉ là một tiến trình tự nhiên trong quá trình phát triển sự nhận thức, không hề hấn gì cả. Tiếp đến, bạn sẽ gặt hái được xung lượng chú ý, rồi lại tiếp tục thực hành sự chú ý đúng theo trình độ tu chứng mà mình đã đạt được.

Sáu lợi ích của Tu-Đà-Hườn

Chúng ta đã bàn luận khá rộng về 4 yếu tố cấu thành một Tu-Đà-Hườn.

Đức Phật đã từng giải thích rằng, có 6 lợi ích mà một Tu-Đà-Hườn sẽ được hưởng, đó là :

- Đã thiết lập được một chỗ đứng vững chắc trong Chánh Pháp

- Không bị thoái hóa trong Chánh Pháp

- Hạn chế được khổ đau trong luân hồi

- Phát triển trí tuệ cao hơn người thế tục

- Hoàn thiện được kiến thức về những nguyên nhân tạo quả

- Nhận thức được nguyên nhân tác động của nghiệp

1.Đã thiết lập được một chỗ đứng trong Chánh Pháp

Một Tu-Đà-Hườn không bao giờ vi phạm 5 Giới, 8 Giới và 9 Giới và 37 phẩm trợ đạo. Một Tu-Đà-Hườn luôn luôn giữ gìn Chánh Pháp, đặc biệt là không bao giờ có những hành động liều lĩnh để phạm vào 5 Giới luật phổ quát. Ví dụ khi đang bị một người xấu dọa giết, nếu vị này không chịu sát sanh, một Tu-Đà-Hườn sẽ nghĩ rằng thà chết còn hơn phải sát sanh. Một vị Tu-Đà-Hườn sẽ thà chết còn hơn phải trộm cắp, thà chết còn hơn tà dâm, thà chết còn hơn nói dối và thà chết còn hơn xử dụng các chất say. Một Tu-Đà-Hườn sẽ không bao giờ vi phạm 5 Giới khi bắt gặp những cơ hội thuận tiện cho việc thực hiện những hành động phạm Giới. Có một tư cách đạo đức vững chãi và không thể lay chuyển được là mốc chuẩn để xét đoán về một Tu-Đà-Hườn. Do đó, một Tu-Đà-Hườn đã thoát được những khổ đau khi trải qua các kiếp sống còn lại trong luân hồi của mình. Vị này đã thiết lập được một chỗ đứng vững chắc trong Chánh Pháp.

Tóm tắtKhi thiết lập được một chỗ đứng trong Chánh Pháp, bạn đã gặt hái được lợi ích.

2.Không bị thói hóa trong Chánh Pháp

Một Tu-Đà-Hườn sẽ không bị thoái hóa trong Chánh Pháp, có niềm tin vào tư cách đạo đức của chính mình, biết hổ thẹn và kinh tởm đối với tội lỗi, có kiến thức, nhân hậu và có trí tuệ. Không chỉ trong kiếp sống này mà trong những kiếp sống kế tiếp, những phước báu mà một Tu-Đà-Hườn đã gặt hái được nhờ việc giữ gìn Chánh Pháp sẽ không bị thoái hóa. Thậm chí, họ còn có thể làm cho những phước báu đó ngày càng sinh sôi nảy nở thêm. Niềm tin của một Tu-Đà-Hườn là mạnh mẽ và vững chãi. Không cần ai thuyết phục, một vị Tu-Đà-Hườn vẫn có thể thực hành bố thí. Tại trung tâm thiền này, những hành giả đã gặt hái được Phật Pháp thường rất nhiệt tình trong việc thực hành bố thí, song họ được thỉnh cầu hãy đợi đến lúc thuận tiện và thích hợp, bởi vì việc bố thí cũng cần phải được thực hiện một cách đúng thời. Trung tâm thiền này không cho phép bất cứ ai có hành động thuyết phục người khác hãy bố thí mà phải để cho người muốn bố thí phát tâm tự nguyện. Tâm thiện nguyện của thí chủ sẽ mang lại lợi ích cho họ nhiều hơn khi bị thuyết phục phải thực hiện hành động đó. Bố thí với niềm tin sẽ dẫn đến việc gặt hái được những Đạo quả cao hơn. Cuộc sống của những người thực hành bố thí cũng sẽ tốt đẹp hơn như là một kết quả của những hành động thiện lành mang tính tự nguyện.

Tóm tắtNgười không bị thoái hóa trong Chánh Pháp là người đã gặt hái được kết quả lợi ích và tốt đẹp.

3. Hạn chế được khổ đau trong luân hồi

Một vị Tu-Đà-Hườn chỉ còn sống trong luân hồi tối đa là 7 kiếp. Như vậy, vị này chỉ còn trải qua khổ đau trong chừng ấy kiếp sống nữa mà thôi. Một thời, tại tu viện Kỳ-Viên ở thành Xá-Vệ ( Savātthi), khi không có thời gian để thuyết Pháp, Đức Phật đã đặt một ít bụi đất lên móng của ngón tay cái Ngài và nói : “ Hỡi những người con của ta ! Bụi trên móng tay của ta và bụi trên toàn trái đất này, bụi chỗ nào nhiều hơn ?”. Các Tỳ kheo đã trả lời rằng bụi trên móng tay của Đức Phật là có thể đếm được, bụi trên toàn trái đất này là nhiều hơn bụi trên móng tay của ngài, chúng nhiều vô kể và không thể đếm được. Tiếp đến Đức Phật lại giải thích : “ Số bụi đếm được trên móng tay của ta có thể so sánh với những khổ đau mà một Tu-Đà-Hườn sẽ phải trải qua, đau khổ trong luân hồi đối với vị này là có giới hạn. Số bụi trên toàn trái đất này có thể so sánh với những khổ đau mà một Tu-Đà-Hườn đã loại bỏ được. ( Kinh Nakhasikhā)

Tóm tắt: Bụi trên móng tay của Đức Phật có thể so sánh với những khổ đau còn lại mà một Tu-Đà-Hườn sẽ phải trải qua. Bụi trên toàn trái đất có thể so sánh với những khổ đau mà một Tu-Đà-Hườn đã loại bỏ được. Như vậy, một Tu-Đà-Hườn  thật sự hạn chế được khổ đau.

4. Phát triển trí tuệ cao hơn người thế tục

Một Tu-Đà-Hườn đã phát triển trí tuệ của mình cao hơn những người thế tục. Tuy nhiên, vị này không bao giờ nói cho người khác biết về điều đó. Một hành giả sau khi gặt hái được Phật Pháp đã nói rằng : “ Trước đó tôi chưa thể nắm bắt ý nghĩa của Phật Pháp được giải thích trong sách này. Bây giờ đối với tôi, mọi thứ được trình bày trong sách đã quá rõ ràng. Tôi sẽ đọc đi đọc lại nó nhiều lần”. Khi đã trở thành một Tu-Đà-Hườn, người ta sẽ  có một trí tuệ cao hơn người thế tục và có khả năng tận hưởng Giáo Pháp một cách thích thú. Kể từ khi đã hoàn toàn loại bỏ được những quan kiến lầm lạc và hoài nghi, tâm trí của một vị Tu-Đà-Hườn đã không còn bị ô nhiễm, trí tuệ của vị này đã trở nên trong sáng và rõ ràng. Người thế tục vẫn còn nhiều hoài nghi như “ Liệu tôi có thể gặt hái được Phật Pháp chỉ bằng cách chú ý đến “ tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng”, “ tiến trình đang ngồi”, “ tiến trình đang xúc chạm”…Đây chính là một chướng ngại lớn cho sự tiến bộ trong quá trình tu tập. Những ý nghĩ có tính hoài nghi trong tâm trí cũng có thể làm cho người ta không có khả năng thoát khỏi địa ngục khổ đau. Kể từ khi đã loại bỏ được hai điều ô nhiễm này ( quan kiến lầm lạc và hoài nghi), tâm trí của một vị Tu-Đà-Hườn đã trở nên trong sáng, trí tuệ của vị này cũng đã phát triển cao hơn những người thế tục.

Tóm tắt: Lợi ích của một vị Tu-Đà-Hườn là đã gặt hái được trí tuệ cao hơn những người thế tục.

Những người thế tục ( Putthujjana – Temproral peoples)  thường chứa chấp những quan kiến lầm lạc và các mối nghi ngờ trong sự nhận thức. Tâm trí của họ thường chứa chấp hàng tá ô nhiễm như tham lam, sân hận…Một Tu-Đà-Hườn đã xua tan được những quan kiến lầm lạc và các mối hoài nghi.

Vị này không còn phát triển trong mình một tâm trí thô ráp – có thể trở thành nguyên nhân của những nổi khổ đau. Thậm chí, một Tu-Đà-Hườn cũng đã loại bỏ được tham, sân, si. Vì không còn mang tâm hoài nghi, vị này đã được giải phóng khỏi những nổi khổ đau ở địa ngục. Vô minh ( Moha – Ignorance) là tối tăm trong nhận thức, là một trong 3 pháp bất thiện làm nguyên nhân gốc dẫn đến khổ đau. Vô minh ngăn cản sự phát triển của trí tuệ và làm cho người ta không thể phân định được đúng sai.

5. Hoàn thiện kiến thức về những nguyên nhân tạo quả

Một Tu-Đà-Hườn đã hoàn thiện được sự nhận thức về những nguyên nhân dẫn đến hạnh phúc hay khổ đau. Ngay lập tức, một Tu-Đà-Hườn có thể xác định được một cách chính xác nguyên nhân nào là thiện lành và nguyên nhân nào là bất thiện. Do đó, Tu-Đà-Hườn có trí tuệ cao hơn những người thế tục. Vị này cũng nhận thức được một cách rõ ràng rằng, nguyên nhân thiện lành sẽ tạo nên những kết quả lợi ích và ngược lại. Ví dụ, tuy mong muốn đạt tới Niết Bàn Cao Thượng nhưng bạn lại thực hành theo một phương pháp thiền lầm lạc. Lúc đó, tâm trí của bạn sẽ liên tục bị xáo trộn.  Như vậy bạn có thể đạt tới Niết Bàn hay không ? Một phương pháp thực hành thiền lầm lạc đã làm nguyên nhân dẫn đến một kết quả xấu, khiến cho bạn ngày càng rời xa Niết Bàn. Trong khi đó, thiền nội quán là một phương pháp đúng đắn để nhận thức được Niết Bàn. Sau đây là một minh họa rõ ràng hơn, trong một buổi trưa trời nắng nóng (đặc biệt cái nắng ở xứ Ấn Độ là cực kỳ gay gắt), một người ngồi giữa bốn đống lửa lớn ( cách tu hành này gọi là Pāncātapa) và tin rằng tất cả những thứ ô nhiễm trong tâm trí của anh ta sẽ bị đốt cháy hết bởi sức nóng của lửa và ánh mặt trời. Dĩ nhiên người kia sẽ bị khổ sở vì cái nóng thiêu đốt và dễ trở nên sân hận. Đồng thời anh ta cũng lo âu rằng liệu mình có thể chịu đựng nổi trước cái nóng gay gắt như vậy hay không và đó chính là tâm hoài nghi. Với tâm sân hận và hoài nghi, người này có hy vọng gì đạt tới Niết Bàn hay không ? Tất cả những kết quả tệ hại đều phát xuất từ những nguyên nhân bất thiện, ở đây là cách tu hành sai lầm nói trên. Một Tu-Đà-Hườn đã hoàn toàn loại bỏ được các mối nghi ngờ và những nguyên nhân sai lầm để phát triển một trí tuệ cao hơn người thế tục. Do đó, vị này đã nhận biết được mối liên quan nhân quả giữa nguyên nhân đúng đắn và kết quả thiện lành.

Tóm tắt: Hiểu biết về những nguyên nhân tạo quả một cách đúng đắn là lợi ích của một Tu-Đà-Hườn. Kiến thức về những nguyên nhân tạo quả là rất khó lãnh hội nhưng đã được một Tu-Đà-Hườn lãnh hội.

6. Nhận thức được nguyên nhân tác động của nghiệp

Không giống như những người thế tục, Tu-Đà-Hườn có thể nhận thức được một cách rõ ràng nguyên nhân gì có thể làm nên những lợi ích gì. Những lợi ích tốt đẹp đã được tạo nên từ những hành động thiện lành thuộc về thân, khẩu, ý. “ Một người cảm thấy đau khổ và bất hạnh bởi vì những hành động thuộc về thân, khẩu, ý của anh ta là bất thiện”. Một Tu-Đà-Hườn đã có khả năng hiểu biết về định luật nhân quả tốt hơn những người thế tục. Do đó, vị này không bị đau khổ, bởi vì không bao giờ phạm Giới.

Tóm tắtSự hiểu biết về nguyên nhân tác động của nghiệp là rất khó lãnh hội. Tuy nhiên lợi ích của một Tu-Đà-Hườn là đã nhận thức được nguyên nhân của loại tác động này.

Một Tu-Đà-Hườn có thể nhận thức được một cách rõ ràng rằng, những hành động thiện lành chắc chắn sẽ mang lại những lợi ích tốt đẹp. Trong khi đó, những người thế tục lại gặp nhiều khó khăn trong việc nhận thức về vấn đề này. Các hành động bất thiện chắn chắc sẽ dẫn đến những kết quả tồi tệ.

Nói cách khác, khi một người nào đó thực hiện những hành động thiện lành thì chắc chắn người này sẽ được hạnh phúc và thoát khỏi những nổi khổ đau. Vì chưa hiểu được một sự thật rằng, những tác động xấu xa là kết quả của những hành động bất thiện, một người thế tục nào đó rất dễ mắc phải sai lầm vì thực hiện những hành động phạm Giới. Do đã có những hành động phạm Giới, chắc chắn người này sẽ bất hạnh và buồn lo. Dĩ nhiên, anh ta cũng chưa hiểu được tại sao mình lại phải đau khổ, trong khi những người khác thì không. Trên một phương diện khác, thậm chí một Tu-Đà-Hườn với một trí tuệ bình thường cũng đã có khả năng nhận thức được mối quan hệ về nhân quả một cách đúng đắn. Một vài bậc Trưởng thượng đã xác định rằng, thiền minh sát là một nhân tố trợ giúp lớn lao trong công việc hàng ngày của họ, khi họ đang đứng trước những quyết định quan trọng. Mặc dù thực hành thiền minh sát là một công việc rất tốn thời gian, các vị Trưởng thượng vẫn nhận thấy rằng loại thiền này đã làm cho tâm trí của họ trở nên trong sáng và chuẩn mực. Hàng ngày họ thường xuyên dành ra khoảng 1 giờ đồng hồ để thực hành thiền minh sát với ý chí bền bỉ. Một quyết định đúng đắn và nhanh chóng là lợi ích đến từ một tâm trí trong sáng, là kết quả của việc thực hành thiền minh sát. Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp nói về “ Bốn nhân tố cấu thành và những lợi ích của Tu-Đà-Hườn”, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành theo những lời giáo huấn của Đức Phật. Với sự quán niệm siêng năng và cần mẫn, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành Phật Pháp một cách thoải mái, nhanh chóng nhận thức được Niết Bàn như đã mong muốn và thoát khỏi tất cả những nổi khổ đau. Lành thay !  

 

                                            Năm nhân tố ủng hộ   

 

Bài thuyết Pháp hôm nay sẽ nói về Kinh Anuggahita có xuất xứ từ Inguttho Pāli.Anuggahita có nghĩa là tán dương,ca ngợi hay ủng hộ.Sutta có nghĩa là Kinh hay sự giải thích. Như vậy, Anuggahita Sutta có nghĩa là Kinh Hộ Trì. Khi thực hành thiền nội quán, bạn sẽ gặt hái được tuệ minh sát. Ý nghĩa quan trọng nhất của tuệ minh sát là hộ trì hay trợ lực cho trình tự tu tập để đạt tới Niết Bàn. Đức Phật đã từng giải thích Kinh Inguttho, cụ thể Kinh này nói về 5 nhân tố trợ lực cho việc đạt tới Niết Bàn, đó là :

1. Giới luật

2. Kiến thức

3. Luận Đạo hay Trình Pháp

4. Thiền định

5. Thiền quán

 Đức Phật đã có ý muốn so sánh việc trồng cây với tuệ minh sát. Khi trồng một cây non, người ta cần phải ủng hộ nó bằng nhiều cách như tưới nước, bón phân, làm hàng rào bảo vệ …nếu không cây sẽ chết.

Tóm tắt: Khi trồng một cây non, người ta phải tưới nước và làm hàng rào để bảo vệ , làm sạch cỏ và những rễ cây đã thối rữa, loại bỏ các loài côn trùng và những loại mạng che phủ có hại cho cây. Do đó, cây non sẽ phát triển tốt.

1. Giới luật - Sīla

Khi trồng một cây non, bạn cần phải tưới nước và làm hàng rào bảo vệ cho nó. Những rễ cây đã già cỗi và thối rữa cũng cần phải loại bỏ. Phải bắt sạch các loài côn trùng sống ký sinh trên lá và thân cây, dở bỏ những loại mạng che phủ các chồi non mới nhú. Khi bị các loại sâu ăn lá và các loại mạng che phủ, cây không thể nào phát triển tốt được. Nếu làm tốt những công việc trên thì cây sẽ xanh tươi, chóng lớn và ra hoa kết quả. Những người thực hành thiền muốn phát triển được tuệ minh sát trong tâm thức thì họ phải giữ Giới giống như việc làm hàng rào để bảo vệ cây. Nếu cây non mới trồng không có hàng rào che chắn thì các loài súc vật như trâu, bò, dê… có thể đi vào và giẫm nát cây.Tương tự như vậy, những người thực hành thiền thường hay phạm Giới thì tuệ minh sát sẽ không phát triển được trong tâm thức của họ và ngược lại. Nếu thực hiện những hành động bất thiện thì chắc chắc sẽ không gặt hái được Phật Pháp. Các Tỳ kheo cũng như những người thế tục phải giữ gìn 4 loại Giới sau đây :

a. Patimokkha samvara Sīla - Giới luật đã được liệt kê như một hệ thống đạo đức

Những người thế tục khi thực hành thiền minh sát thường giữ gìn 5 Giới, 8 Giới hay 9 Giới. Những Tỳ kheo phải tuân thủ 227 Giới. Nếu những Giới luật này không được gìn giữ thì tuệ minh sát sẽ không thể phát triển được.

b. Indriya samvara SīlaGiới luật xử dụng để làm tinh khiết các giác quan

Chúng ta cần phải thu thúc ( tức kiểm soát) và làm cho các giác quan ( bao gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) trở nên tinh khiết. Nếu bạn không kiểm soát được các giác quan, khi các đối tượng của chúng ( bao gồm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) tiếp xúc với chúng thì tham lam, sân hận và vô minh sẽ khởi lên trong tâm thức của chúng ta. Khi giác quan bắt gặp được những đối tượng dễ chịu thì tham lam sẽ xuất hiện trong tâm thức, khi giác quan tiếp xúc với những đối tượng khó chịu thì sân hận sẽ khởi lên.Ví dụ, khi mắt tiếp xúc với một hình ảnh đẹp thì tâm thức của bạn sẽ phát khởi trạng thái tham lam muốn bám víu vào hình ảnh đẹp đó. Ngược lại, nếu mắt nhìn thấy một hình ảnh xấu xí và khó chịu thì tâm sân hận sẽ khởi lên. Các giác quan khác như tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng thường hoạt động theo nguyên lý vừa đề cập. Do đó, nếu không điều khiển hay làm chủ được 6 giác quan thì bạn không thể nào phát triển được tuệ minh sát. Khi hàng rào bảo vệ cây non mới trồng không đủ mạnh thì cây có thể bị phá hủy. Tương tự như vậy, nếu người thực hành thiền không giữ Giới một cách trọn vẹn thì họ sẽ không phát triển được tuệ minh sát.

c. Ajivapāri suddha SīlaGiới luật xử dụng để duy trì Chánh mạng

Những Tỳ kheo được phép nhận tứ vật dụng cúng dường của các thí chủ như : Vật thực, y phục, thuốc men chữa bệnh và nơi cư trú. Tuy nhiên, khi đã nhận những thứ nói trên, họ phải biết xử dụng chúng theo cách tốt nhất nhằm mục đích duy trì mạng sống để tu học, giảng dạy Kinh điển Phật giáo, hướng dẫn thực hành thiền…Những người thế tục cũng phải sống theo Chánh mạng như : Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không xử dụng các chất say…

d. Paccaya sannissita SīlaGiới luật liên quan đến việc xử dụng tứ vật dụng

Các Tỳ kheo không được khởi tâm thỏa thích khi xử dụng tứ vật dụng. Họ cũng không được xử dụng tứ vật dụng với mục đích tìm kiếm một thân thể trẻ trung, cường tráng như một võ sĩ. Tuy vậy, họ có thể xử dụng tứ vật dụng nhằm mục đích có được một sức khỏe và sức mạnh thể chất vừa đủ để có thể thực hành Phật Pháp, gặt hái Đạo quả và Niết bàn. Một Tỳ kheo cần phải biết quán niệm một cách đúng đắn khi đang thọ thực. Đối với những hành giả khi đang cư trú tại một trung tâm thiền, họ phải biết tự nhủ rằng “ Đây là một nơi yên tĩnh, nó được xây dựng lên để làm chỗ thực hành thiền. Do đó, mình cần phải cố gắng thực hành thiền theo cách tốt nhất”. Khi đang thọ thực, bạn nên quán niệm rằng :  “ Mình xử dụng những loại vật thực này không nhằm mục đích làm cho thân thể trở nên xinh đẹp và cũng không phải để thưởng thức chúng một cách thỏa thích. Mình chỉ nên xử dụng những thứ vật thực này với mục đích duy trì mạng sống. Nếu như còn sống và có sức khỏe thì mình mới có khả năng nghiên cứu Pháp học và thực hiện Pháp hành của Đức Phật, mới có khả năng điều trị các loại bệnh tật đã có và ngăn chặn những loại bệnh tật chưa phát sanh, để được thuận tiện trong 4 oai nghi ( đi, đứng, ngồi, nằm)”. Nếu 4 cách giữ gìn tư cách đạo đức vừa nêu trên không bị phá vỡ thì chắc chắn bạn sẽ phát triển được tuệ minh sát trong tâm thức của chính mình. Vì vậy, Giới luật là hàng rào che chắn và bảo vệ cho tuệ minh sát phát triển.

Tóm tắt: Giới luật giống như một hàng rào bảo vệ cho cây non phát triển

2. Kiến thức

Bạn có thể gặt hái kiến thức bằng cách nghe thuyết Pháp, đọc tụng Kinh điển…Lắng nghe Giáo pháp giống như việc tưới nước cho cây. Nếu cây mới trồng được tưới nước đều đặn thì nó sẽ phát triển tốt và thịnh vượng. Tương tự, lắng nghe Giáo Pháp sẽ làm cho việc thực hành thiền của bạn có nhiều tiến bộ. Một số hành giả đã gặp chướng ngại trong lúc thực hành thiền, sau một thời gian dài thực hành thiền không gặt hái được kết quả gì, họ đã trở nên chán nản và muốn trở về nhà. Nếu những hành giả này không biết lắng nghe Giáo Pháp thì họ sẽ càng trở nên cảm thấy thất vọng hơn. Khi cây mới trồng không được tưới nước đều đặn thì nó sẽ khô héo và chết đi. Tương tự, những người không biết lắng nghe Giáo Pháp, chán nản sau một thời gian thực hành thiền không gặt hái được kết quả gì cũng giống như một cây non mới trồng đã chết vì thiếu nước.

3. Luận Đạo

Luận đạo giữa những người mới tập sự thực hành thiền với nhau là một việc làm không mang lại lợi ích gì cả, bởi vì nó chỉ làm cho họ thêm chểnh mãng và buông thả trong quán niệm. Như ngài Mahasi đã hướng dẫn, tốt hơn hết, hàng ngày những người mới tập sự thực hành thiền nên có những buổi luận Đạo hay trình Pháp với thiền sư.

Tóm tắt: Luận đạo hay trình Pháp cũng giống như việc làm sạch những rễ cây đã già cỗi và thối rữa.

Những rễ cây đã già cỗi và thối rữa cọng với các loài côn trùng sống bám trên cây phải cần được loại bỏ hoàn toàn. Nhờ đó, cây có thể phát triển tốt. Tương tự, việc luận Đạo hay trình Pháp với thiền sư sẽ giúp xóa tan những mối nghi ngờ và chướng ngại trong quá trình thực hành thiền của chúng ta. Thỉnh thoảng, các hành giả đã gặp phải một số vấn đề trong việc thực hành sự chú ý, có một vài trường hợp sự chú ý của họ chưa được đúng đắn theo sự hướng dẫn của thiền sư. Có đôi lúc họ đã thực hành sự chú ý theo một cách hoàn toàn sai lầm. Theo kiến thức về nhân quả - Paccaya parigghaha Ñāna, “ tiến trình phồng lên và xẹp xuống của bụng” là rất vi tế, có thể hành giả chưa tìm thấy được đối tượng để thực hành sự chú ý. Do đó, có khả năng hành giả đã cố gắng thở mạnh hơn hay thậm chí là nín thở. Trong việc thực hành thiền minh sát, bạn không nên tìm cách điều khiển hơi thở mà phải để cho nó vận hành một cách tự nhiên. Nếu tìm cách điều khiển hơi thở thì bạn sẽ không thể quán niệm được lâu, việc quán niệm cũng trở nên khó khăn và gây ra trạng thái mệt mỏi. Đây là một cách thực hành thiền sai lầm, chúng ta nên tránh. Trong sự thực hành chú ý đến tiến trình phồng xẹp của bụng, có thể bạn sẽ phạm phải rất nhiều sai lầm. Ví dụ, ngày trước có một trung tâm thiền tọa lạc tại một quận nọ, một số thiền sư đã dạy rằng khi “ hơi thở vào” đang ở trong tiến trình trở thành thì đó cũng là lúc mà “ hơi thở ra” đang ở trong tiến trình tan hoại. Một ngày nọ, có một hành giả đã từng học thiền tại trung tâm vừa nói tìm đến trung tâm thiền của Ngài Mahasi. Sau một vài ngày tập luyện tại trung tâm thiền mới, thiền sư bắt đầu luận Đạo với hành giả này, thay vì chờ đợi anh ta mở miệng nói trước. Hành giả này đã hỏi vị thiền sư đang hướng dẫn cho anh ta rằng “ có phải lúc hơi thở vào đang ở trong tiến trình trở thành là lúc mà hơi thở ra đang ở trong tiến trình tan hoại hay không ?” Vị thiền sư nọ đã quở trách anh ta và chấm dứt sự xáo trộn đang ngự trị trong tâm trí của hành giả này. Sau đó, Ngài đã hướng dẫn cho hành giả này một phương pháp đúng đắn để thực hành sự chú ý. Thật ra, riêng “ hơi thở vào” thôi đã có tiến trình trở thành và tiến trình tan hoại, đối với “ hơi thở ra” cũng vậy, nghĩa là nó cũng có hai tiến trình này. Nếu hành giả nói trên không có cơ hội để trình Pháp với một thiền sư nào đó, anh ta có thể không bao giờ gặt hái được Phật pháp. Vị thiền sư tại trung tâm thiền Mahasi nói trên đã chỉ ra cách thức hành thiền sai lầm mà hành giả nọ đã từng thực hành trước đó. Vì vậy, luận đạo hay trình Pháp với thiền sư có thể ví như việc loại bỏ các loài côn trùng có hại cho cây và những rễ cây già cỗi đã thối rữa. Chỉ bằng cách đó, tuệ minh sát mới phát triển được, tương tự như cây non có thể phát triển tốt và trở nên thịnh vượng.

4. Thiền định

Các loài sâu bọ hay côn trùng có thể phá hủy cây. Tương tự như vậy, tham lam, sân hận và vọng tưởng cũng có thể ngăn cản tiến trình phát triển của tuệ minh sát. Thực hành thiền định nhằm mục đích loại bỏ tham lam, sân hận và vọng tưởng.

Tóm tắt: Thực hành thiền định cũng giống việc loại bỏ các loài côn trùng hay sâu bọ phá hoại cây trồng.

Bốn cách thức bảo vệ

Thiền định là Pháp bảo vệ cho thân tâm của chúng ta. Trong một thể chế nhà nước, vị tổng thống, thủ tướng và các bộ trưởng cần phải có những người lính bảo vệ. Họ cũng cần được bảo đảm an ninh bởi cảnh sát và những người cận vệ để có thể yên tâm xây dựng và phát triển đất nước. Tương tự như vậy, thân thể của chúng ta cũng cần được bảo vệ trước sự tấn công của những kẻ thù nội tuyến và ngoại tuyến. Nếu được như thế, bằng cách quán niệm về thân tâm của chính mình, bạn mới có thể gặt hái được Phật Pháp, Đạo quả và Niết Bàn. Nếu thân tâm của bạn được bảo vệ nghiêm ngặt thì việc quán niệm về chúng mới có giá trị. Nếu không thực hành quán niệm thì thân tâm của bạn sẽ trở nên vô dụng. Thân tâm của bạn chỉ giống như một cây chuối có nhiều lớp chồng lên nhau, chúng không mang lại ích lợi gì nhiều cho bạn. Có bốn cách thức để bảo vệ thân thể, đó là :

a. Buddhanussati meditation – Quán niệm về những phẩm hạnh cao quí của Đức Phật

b. Metta meditation – Quán niệm về tâm từ, tức lòng thương yêu tử tế

c. Asubha meditation – Quán niệm về tính ô trược hay không tinh khiết của thân thể

d. Maranāsati meditation – Quán niệm về sự chết

Quán niệm về những phẩm hạnh cao quí của Đức Phật

Những kẻ thù ngoại tuyến ( tức những kẻ thù đến từ bên ngoài thân tâm chúng ta) chỉ có thể phá hủy chúng ta trong kiếp sống hiện tại. Tuy nhiên, những kẻ thù nội tuyến ( tức những kẻ thù ở ngay trong thân tâm chúng ta) có thể gây nguy hiểm cho chúng ta trong nhiều kiếp sống và thậm chí có thể đưa chúng ta xuống địa ngục khổ đau. Vì lý do đó, bạn nên chú trọng đề phòng và ngăn chặn những kẻ thù nội tuyến hơn là những kẻ thù ngoại tuyến, để có thể gặt hái được tuệ minh sát, Đạo quả và Niết Bàn. Sự giải thích này là đúng theo những gì mà Đức Phật đã từng truyền bá. Buddhanussati meditation là phương pháp quán niệm về những phẩm hạnh cao quí của Đức Phật. Những người biết lắng nghe thuyết Pháp và thực hành thiền đã nắm bắt được phương pháp quán niệm này thường hay quán niệm rằng : “Arahan,Arahan, Arahan…”, “ Buddha, Buddha, Buddha…” hay “ Sammāsam Buddha, Sammāsam Buddha…”. Đây là những cách thức quán niệm về phẩm hạnh cao quí của Đức Phật. Nhờ thực hành như vậy, bạn sẽ xua tan được vô minh ( Moha – Delusion). Nguyên nhân gốc bất thiện này có thể làm cho sự nhận thức của bạn bị lầm lạc. Vô minh là một chướng ngại lớn nhất trong các chướng ngại về tinh thần. Nó có thể ngăn chặn không cho chúng ta thực hiện những hành động thiện lành. Khi đang nhìn một cái gì, thông thường bạn chưa thể hiểu được bản chất thật sự của nó.

Với một trình độ nhận thức yếu kém như vậy, tâm trí của bạn có thể bị dính mắc vào đối tượng quan sát. Nếu đó là một đối tượng dễ chịu và như ý như một bông hoa đẹp, một khung cảnh ngoạn mục chẳng hạn… Bạn sẽ khởi tâm khao khát muốn chiếm hữu và bám víu vào chúng. Nếu đối tượng đó là một cái gì khó chịu và bất như ý thì có thể bạn sẽ phát khởi tâm sân hận, cũng như có ý muốn tống khứ nó đi. Tương tự, tham lam và sân hận có thể sẽ khởi lên trong tâm thức, khi có sự tiếp xúc giữa các giác quan ( mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) với những đối tượng của chúng ( sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Những hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, sự xúc chạm và tư duy dễ chịu mà chúng ta nhận thức được như là các đối tượng thiện lành là do ảnh hưởng của vô minh sai sử. Mặc dù trong thực tế, chúng là những thứ gây nên khổ đau. Nói cách khác, những hình ảnh, âm thanh, mùi, vị…đó là vô thường. Chúng liên tục thay hình đổi dạng và quấy rầy tâm trí của chúng ta. Tham ái hay khao khát ( Tanhā – Craving) có nguồn gốc từ vô minh đã khiến chúng ta phát khởi tâm bám víu vào những hình ảnh, âm thanh, mùi, vị…mà chúng ta cho là dễ chịu. Do đó, bạn sẽ không bao giờ có khả năng thoát khỏi luân hồi sanh tử. Bằng cách quán niệm, Đức Phật đã lãnh hội được tất cả những sự thật về cuộc sống. Vì vậy, quán niệm về những phẩm hạnh cao quí của Đức Phật cũng giống như là một phương cách bảo vệ thân thể của chính chúng ta.

Tóm tắt: Vô minh phải được loại bỏ bằng cách quán niệm những phẩm hạnh cao quí của Đức Phật.

Quán niệm về tâm từ

Theo các trạng thái nội quán mà chúng ta đã biết, trong lúc đang thực hành thiền, tâm thức của một hành giả nào đó có thể sẽ trở nên sân hận. Thỉnh thoảng, hành giả này trình Pháp với thiền sư rằng, mình chưa được mãn nguyện và thường khởi tâm sân hận vì những chuyện không đâu vào đâu cả, nghĩa là hành giả này chưa xác định được thật sự cái gì đã làm cho tâm thức của anh ta trở nên sân hận, mặc dù đã có nhiều cố gắng để nhận biết tâm này. Nếu như vậy, anh ta đã ở trong trạng thái nội quán được gọi là trí tuệ lãnh hội-Sammasana Ñāna. Lãnh hội ở đây là lãnh hội được tính vô thường, khổvô ngã của các hiện tượng. Tuy nhiên, sự nhận biết được tâm sân hận theo kiểu này được cho là một trạng thái nội quán. Đây là một dấu hiệu tiến bộ trong quá trình tu tập, mặc dù hành giả chưa hiểu được dấu hiệu này một cách rõ ràng. Do đó, hành giả có thể nhầm tưởng rằng đây là một sai sót trong quá trình thực hành thiền của chính mình. Khi sân hận đang khởi lên trong tâm thức, nếu bạn không quán niệm về nó một cách nghiêm túc, chính xác và đều đặn thì nó có thể trở thành chướng ngại ngăn chặn sự phát triển của tuệ minh sát. Sân hận cũng giống như các loài côn trùng phá hoại cây non, cần phải loại bỏ nó bằng cách thực hành thiền định

( Samātha Bhāvanā - Tranquil meditation). Ở đây là quán niệm về tâm từ.

Tóm tắt: Sân hận phải được loại bỏ bằng cách quán niệm tâm từ.  

Có hai cách để quán tâm từ ( Mettā – Loving kindness). Cách thứ nhất là rải tâm từ để phát triển phước báu và hạnh Ba-La-Mật. Cách thứ hai là rải tâm từ để gặt hái được sự định tâm. Rải tâm từ để phát triển phước báu không có gì khó, bạn hãy lắng nghe Giáo Pháp và thực hành các hạnh Ba-La-Mật mà mình đã phát nguyện. Bạn có thể rải tâm từ bằng cách cầu chúc sự tốt lành đến với tất cả những người mà mình có quan hệ với họ thông qua hình thức nhẫm thầm trong tâm ( Mental loving-kindness). Đối với cách rải tâm từ bằng lời nói ( Verbal loving-kindness) để làm cho người khác được hạnh phúc, bạn nên thực hành theo cách sau : Khi đang ở trong một trung tâm thiền, nếu một ai đó không thích lắng nghe những lời nói có tính giúp đỡ của bạn như chỉ dẫn cách thiền tọa, thiền hành… thì có thể bạn sẽ trở nên sân hận hay bực mình, bởi vì bạn đã rải tâm từ không đúng chỗ. Ngay lúc đó, tốt hơn hết là bạn đừng nên nói gì cả, cứ lẳng lặng bỏ đi. Mặt khác, bạn có thể rải tâm từ bằng lời nói bằng cách tìm đến những người dễ tính hơn và có ý muốn quan tâm đến những điều mà bạn muốn nói. Rải tâm từ bằng cách xử dụng đến thân xác ( Physical loving-kindness) có thể thực hiện được qua các hành động, cung cách đối xử thiện lành để làm cho người khác được hạnh phúc. Trong trường hợp có một hành giả trẻ tuổi không chấp nhận sự giúp đỡ của bạn thì bạn cứ giữ bình tĩnh, đừng nên tỏ thái độ bất bình hay làm một điều gì bất thiện đối với hành giả này. Để gặt hái được sự định tâm bằng cách rải tâm từ, chúng ta cần phải thực hành theo một phương pháp đúng đắn. Kẻ thù gần nhất của tâm từ là tâm tham lam ( Lobha- Greed). Kẻ thù xa hơn của nó là tâm sân hận ( Dosa-Anger) và lo lắng ( Soka-Anxieties). Khi đang rải tâm từ đến một người nào đó, bạn có thể sanh tâm bám víu vào người đó, bạn cũng có thể sanh tâm lo lắng cho người đó. Một người thực hành thiền định để gặt hái sự định tâm nên cố gắng thoát khỏi tâm tham lam và sân hận. Tâm lo lắng cũng được xem như là sân hận, bởi vì nếu lo lắng không được sẽ sanh ra sân hận.

Tóm tắt: Khi mới bắt đầu thực hành quán tâm từ, chúng ta không nên rải tâm từ lên những đối tượng sau :  Các đối tượng có liên quan đến giới tính, người chết, những kẻ thù, người xa lạ. Đầu tiên chúng ta nên rải tâm từ đến người mà mình yêu thương nhất.   

Bằng cách nào và rải tâm từ đến cho ai

Đầu tiên khi bắt đầu thực hành quán tâm từ, bạn không nên rải tâm từ đến những đối tượng sau đây : Người chết, những đối tượng có liên quan đến giới tính, người xa lạ và những kẻ thù. Như bạn đã biết, chúng ta không cần rải tâm từ lên những người đã chết bởi vì họ không còn biết gì nữa. Do đó, họ không thể nhận được thông tin thiện lành của chúng ta. Nếu rải tâm từ lên những đối tượng có liên quan đến giới tính như người tình, vợ hay chồng sẽ làm cho tâm thức của chúng ta sanh khởi tính ham muốn. Nếu rải tâm từ lên người mà mình có quan hệ giới tính sẽ khiến cho bạn gia tăng tâm bám víu vào người đó, đồng thời bạn cũng có thể sanh tâm sân hận khi những điều lo lắng của bạn cho người đó không được mãn nguyện. Khi bạn rải tâm từ lên người xa lạ thì tâm từ cũng phát triển rất chậm chạp. Rải tâm từ lên những kẻ thù thì việc này có thể khiến cho chúng ta nổi giận, bởi vì chúng ta sẽ thấy lại hình ảnh của những kẻ thù ấy trong tâm trí của chính mình. Do đó, chúng ta không nên rải tâm từ lên những đối tượng này lúc bắt đầu quán niệm. Vậy đầu tiên khi bắt đầu thực hành quán tâm từ, chúng ta nên rải tâm từ đến cho ai ? Dĩ nhiên là chính bản thân chúng ta, như Đức Phật đã chỉ rõ.

 Bản thân bạn là người mà bạn yêu thương nhất. Vì vậy, đầu tiên bạn sẽ thực hành việc rải tâm từ lên chính bản thân mình. Bạn hãy nói “ Cầu chúc cho tôi tránh được những điều tổn hại, cầu chúc cho tôi thoát khỏi những khổ đau về tinh thần và thể xác, cầu chúc cho tôi được thanh thản về mặt tinh thần và thể xác, cầu chúc cho tôi có thể chịu đựng nổi gánh nặng của cuộc sống”. Bằng cách rải tâm từ lên chính bản thân mình, từ đó tâm từ của bạn đối với những người khác chắc chắn sẽ được phát triển. Khi bạn đã gặt hái được sự định tâm bằng cách rải tâm từ lên chính mình, đến lúc đó bạn mới chuyển sang rải tâm từ lên những người mà mình có quan hệ giới tính. Tiếp đến là những người xa lạ và cuối cùng là những kẻ thù của bạn. Trạng thái định tâm có thể bị phá hủy nếu bạn không thực hành việc rải tâm từ theo trình tự đã nêu trên. Hãy nhớ rằng, sau khi rải tâm từ lên chính mình và đã gặt hái được sự định tâm thì bạn mới chuyển sang rải tâm từ lên những người khác. Đối với việc rải tâm từ đến những người khác, bạn cũng thực hiện những lời cầu chúc như đối với chính mình, chỉ khác ở chỗ là có sự thay đổi về cách xưng hô mà thôi. Cũng có một cách quán tâm từ khác, đó là rải tâm từ đến những người đang sinh sống trong 10 phương thế giới. Những người biết lắng nghe Giáo Pháp chắc hẳn đã có kiến thức vững vàng về phương pháp thực hành này. Tuy nhiên, hãy để chúng tôi nói lại cho mọi người được rõ hơn. Khi không có thời gian nhiều, bạn nên thực hành quán tâm từ như sau : “ Cầu chúc cho muôn loài chúng sanh trong 10 phương thế giới có thể tránh được những mối hiểm nguy. Cầu chúc cho họ có thể thoát khỏi những nổi khổ đau về tinh thần và thể xác. Cầu chúc cho họ được thanh thản về mặt tinh thần và thể xác. Cầu chúc cho họ có thể chịu đựng nổi gánh nặng của cuộc sống”.               

 

Quán niệm về tính ô trược của thân thể

Khi sân hận khởi lên trong tâm thức của chúng ta, nó cần phải được loại bỏ bằng cách quán niệm tâm từ. Khi tham lam nổi lên, nó phải được loại bỏ bằng cách quán niệm về tính ô trược của thân thể ( Asubha). Đây cũng là một phương pháp để bảo vệ thân tâm. Nếu có thể nhận thức được rằng, thân xác của chính mình là không được tinh khiết thì bạn sẽ hiểu được thân xác của người khác cũng giống như thế.

Tóm tắt: Tham lam phải được xóa tan bằng cách quán niệm về tính ô trược của thân xác.

Có hai cách để quán niệm về tính ô trược của thân xác ( Asubha). Thứ nhất là cách quán niệm về tính ô trược của một tử thi. Cách thứ hai là quán niệm về tính ô trược của một thân xác đang còn sống. Ngày nay, phương pháp quán tử thi không còn được người ta thực hành nữa, bởi vì các tử thi thường được chuyển đến nhà xác. Vậy làm thế nào để dễ dàng quán niệm tính ô trược của một thân xác đang còn sống một cách khá rõ ràng ? Đầu tiên, bạn hãy quán niệm tính ô trược thuộc về thân xác của chính mình. Bất kể cái gì được bài tiết ra từ mắt, mũi, miệng và thân xác đều không được tinh khiết hay ô trược. Vào buổi sáng khi thức dậy, bạn sẽ rửa mặt và tuần tự làm vệ sinh cho mắt, mũi, miệng của mình… Suốt ngày bạn phải lau sạch mồ hôi bài tiết ra từ thân xác của chính mình. Nếu có thể hiểu rằng thân xác của chính mình là dơ dáy và ghê tởm thì bạn sẽ không còn bám víu vào nó nữa. Từ đó, tính tham lam sẽ không còn khởi lên trong tâm thức của bạn nữa.

Khi bám víu vào thân xác của chính mình, bạn sẽ khởi tâm tham lam và tìm kiếm mọi cách thức, phương tiện để tạo ra sự tiện nghi cho nó. Thậm chí, bạn còn bám víu vào những người khác, bởi vì thấy họ được hạnh phúc và thành công. Nếu những phương tiện mà bạn xử dụng để truy tìm hạnh phúc là hợp pháp thì điều đó cũng không có gì đáng trách cho lắm. Tuy nhiên, nếu những phương tiện đó là phi pháp thì chắc chắn bạn sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề rắc rối. Do đó, khi đã nhận thức được tính ô trược thuộc về thân xác của chính mình thì trạng thái tâm tham lam trong bạn cũng đã bị loại bỏ một cách đồng thời.

Quán niệm về sự chết

Những sự đề cao bản thân như “ tôi là tốt nhất”, “ tôi là người thành công nhất”, “ tôi là người làm việc tốt nhất”, “ tôi cũng làm được việc đó”… cần phải được xua tan bằng cách quán niệm về sự chết ( Marana sati meditation). Để thực hành Pháp quán này, bạn nên tìm đến một nơi yên tĩnh, hẻo lánh để ẩn dật và suy niệm rằng “ Cái chết chắc chắn sẽ đến với mình, cái chết chắc chắn sẽ đến với mình”. Bạn cũng quán niệm rằng “ Chắc chắn mình sẽ được hạnh phúc nếu có thể sống trọn vẹn cho một ngày, một đêm, nữa ngày, một bữa ăn, nữa bữa ăn, cho mỗi lần tuần tự thọ dụng từ 4 đến 5 miếng vật thực, cho mỗi lần thọ dụng một miếng vật thực, cho mỗi lần hít thuốc xông vào mũi…

Tóm tắtCái chết sẽ được loại bỏ bằng cách quán niệm về nó.

Nếu bạn có thể biết chắc rằng, ngày hôm nay hay ngày mai mình sẽ chết thì tính tự phụ và kiêu hãnh ( tức tính ngã mạn - Mana – Conceit and pride) trong tâm trí của bạn sẽ bị loại bỏ. Một điều chắc chắn rằng, nếu ngày nào mà tâm trí của bạn còn chất chứa tính tự phụ và kiêu hãnh thì ngày đó bạn sẽ không bao giờ gặt hái được Phật Pháp. Có nhiều cách để quán niệm về sự chết. Bạn có thể quán niệm về sự chết khi nhìn thấy các loài côn trùng phá hoại một cây non, khi tâm tham lam, sân hận, vọng tưởng và ngã mạn ngăn cản sự phát triển của tuệ minh sát…Đó là lý do tại sao những chướng ngại tinh thần cần phải được loại bỏ bằng thiền định thông qua sự thực hành “4 Pháp bảo vệ thân tâm”.

5. Thiền minh sát ( Vipassanā Bhāvanā - Insight meditation)

Ủng hộ cho tuệ minh sát bằng cách thực hành thiền quán ( tức thiền minh sát) cũng tương tự như việc dọn sạch các loại mạng che phủ ngọn của một cây non.

Tóm tắt: Thực hành thiền minh sát cũng tương tự như việc dọn sạch các loại mạng che phủ ngọn cây non.

Khi các đối tượng của giác quan ( được ví như các loại mạng che phủ ngọn cây non) tiếp xúc với các giác quan ( mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý ) thì trạng thái ô nhiễm tiềm tàng và cố hữu sẽ khởi lên trong tâm thức của chúng ta do ảnh hưởng của những đối tượng đó ( Āramananussaya). Nói cách khác, khi có sự tiếp xúc giữa các giác quan và những đối tượng của chúng thì tham lam, sân hận và vọng tưởng đang ở trong tiềm thức của bạn sẽ phát khởi và xuất hiện ở tầng ý thức. Khi giác quan bắt gặp những đối tượng dễ chịu thì tâm tham lam sẽ khởi lên, khi giác quan bắt gặp những đối tượng khó chịu thì tâm sân hận sẽ khởi lên, đặc biệt khi hành giả chểnh mãng và buông lơi sự chú ý. Do đó, hành giả sẽ không gặt hái được Phật Pháp. Bằng sự tập trung tâm ý một cách mạnh mẽ và sự chín muồi của tuệ minh sát, những cảm giác dễ chịu hay khó chịu khởi lên sẽ đồng thời tan biến đi khi bạn quán niệm chúng. Ví dụ, khi tình cờ đang nghe thấy một âm thanh, bạn cứ nghe nó một cách thuần túy và tự nhiên, nghĩa là không xử dụng ý thức để can thiệp vào tiến trình xảy đến của âm thanh đó ( như phê bình hay, dở, dễ chịu hay khó chịu, mong muốn nó chấm dứt đi…). Khi đang chú ý lắng nghe từng âm tiết của âm thanh đó một cách thuần túy và tự nhiên, bạn hãy niệm thầm trong tâm mình “ đang nghe, đang nghe”…Nếu làm được như vậy thì tâm trí của bạn sẽ không bị ô nhiễm. Tương tự, đối với các hành động như đang ngửi, đang ăn, đang xúc chạm…bạn cũng thực hành theo kiểu như vậy, nghĩa là cứ để cho các giác quan tiếp xúc với những đối tượng của chúng một cách thuần túy và tự nhiên, không dùng ý thức để can thiệp vào tiến trình đang xảy đến của các hiện tượng, đồng thời niệm thầm trong tâm mình “ đang ngửi”, “ đang nếm”, “ đang xúc chạm”… Bạn sẽ nhận thức được trạng thái tan hoại của các hành động đang nghe, thấy, ngửi, nếm…

Bằng cách thực hành sự chú ý đến các hiện tượng một cách chính xác, đều đặn, thuần túy và tự nhiên, trạng thái ô nhiễm trong tâm trí của bạn đã bị xua tan giống như việc dọn sạch các loại mạng che phủ một ngọn cây non.  Tuy nhiên, bằng cách chú ý để loại bỏ tâm bám víu vào các mùi vị dễ chịu là một việc không phải dễ dàng. Đã có nhiều trường hợp người ta bị đọa xuống địa ngục khổ đau do ảnh hưởng của tâm bám víu vào các mùi vị. Một nữ hành giả nói rằng, bà có thể thực hành sự chú ý tổng hợp ( tức chú ý đến tất cả những hoạt động hàng ngày của mình) tại nhà riêng của bà, sau khi đã thực hành thiền tại một trung tâm. Tuy nhiên, bà chưa thể thực hành sự chú ý khi thức ăn trong nhà bếp đang bốc mùi thơm dễ chịu. Khi mùi thơm của thức ăn chưa tiếp xúc với tỷ giác của bà thì bà vẫn có thể thực hành sự chú ý, nhưng khi đã nhận biết được vị của nó rồi thì bà không còn chú ý được nữa. Đối với các loại vị mặn mà hấp dẫn của thức ăn cũng vậy, hành giả này vẫn chưa có khả năng chú ý đến chúng một cách hoàn hảo. Liệu có phải hành giả này đã thưởng thức mùi vị tuyệt vời của thức ăn khi nó tỏa ra hay không ? Trong trường hợp này, bà đã ăn trong sự tham lam và luyến ái thay vì phải vừa ăn vừa quán niệm “ đang ăn, đang ăn…” Nếu khi đang ăn, bạn có thể thực hành sự chú ý một cách đúng đắn và mạnh mẽ thì mùi vị của thức ăn sẽ biến mất, tương tự như việc dọn sạch các loại mạng che phủ ngọn của một cây non. Nói cách khác, điều quan trọng là bạn phải chú ý để nhận biết những ấn tượng mà thân xác đã ghi nhận, cũng như bạn phải nhận biết được tâm thức của chính mình có được hài lòng hay không, khi nó tiếp xúc với các hiện tượng. Do đó, quán niệm về cảm thọ hay cảm giác và tư duy của chúng ta ( tức quán niệm về thân và tâm ) cũng giống như việc dọn sạch các loại mạng che phủ ngọn cây non. Khi cây non đã được tự do phát triển vì không bị các loại mạng che phủ nữa thì nó sẽ lớn mạnh. Tương tự, tuệ minh sát sẽ phát triển khi tâm thức của bạn đã không còn chứa chấp những thứ ô nhiễm cố hữu. Nhờ vậy, bạn sẽ gặt hái được Đạo quả và Niết Bàn. Bây giờ hãy để chúng tôi tóm tắt thời thuyết Pháp này trong bài tụng sau đây :

                           Nếu trồng một cây non,

                           phải bảo vệ nó bằng nước tưới và hàng rào che chắn,

                           dọn sạch các rễ cây đã già cỗi và thối rữa,

                           loại bỏ hết các loài côn trùng phá hoại cây,

                           dở bỏ các loại mạng che phủ ngọn cây.

                           Do đó, cây non sẽ phát triển một cách mạnh mẽ.

Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp về “ năm nhân tố ủng hộ”, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành theo những lời dạy của Đức Phật. Với tâm siêng năng cần mẫn trong quán niệm, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ nhanh chóng nhận thức được Niết Bàn mong muốn, thoát khỏi mọi thứ khổ đau bằng cách thực hành Phật pháp với một tâm trí thanh thản và thoải mái. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !

 

                                            Năm điều kiện vệ sinh

 

Các bậc thầy chú giải Kinh Điển ( Atthakathā teachers) đã từng giải thích một cách đầy đủ rằng, những hành giả thực hành thiền minh sát sẽ có khả năng gặt hái Phật Pháp nếu họ đáp ứng được 5 điều kiện vệ sinh ( Pañca sappāya dhamma) dưới đây trong suốt quá trình tu tập. Năm điều kiện vệ sinh đó là :  

1. Sự tiện nghi

2. Khí hậu

3. Vật thực

4. Bầu bạn

5.  Lắng nghe Giáo Pháp

Năm điều kiện vệ sinh này là 5 nhân tố trợ lực mạnh mẽ cho việc gặt hái được Phật Pháp của những hành giả thực hành thiền minh sát. Nếu đáp ứng được 5 điều kiện vệ sinh vừa nói thì chắc chắn họ sẽ gặt hái được Phật Pháp đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính họ. Do đó, các hành giả nên nổ lực thực hành Phật Pháp khi họ đang có được 5 điều kiện nói trên.

1. Sự tiện nghi

Tiện nghi là một nhân tố trợ lực mạnh mẽ cho việc thực hành thiền minh sát của những hành giả. Khi những hành giả thực hành thiền trong một căn nhà bị dột hoặc không an toàn thì họ sẽ cảm thấy bất hạnh, lo âu và nhụt chí. Do đó, năng lực tập trung tâm ý của họ sẽ không phát triển được. Họ cũng khó có thể đạt tới Đạo quả và Niết Bàn. Nếu may mắn được thực hành thiền tại một nơi đầy đủ tiện nghi thì bạn nên suy niệm rằng “ mình cần phải thực hành thiền thật siêng năng cần mẫn, mình cần phải thực hành thiền thật siêng năng cần mẫn…” Phước báu gặt hái được bằng cách suy niệm như vậy sẽ trở thành nhân tố trợ lực mạnh mẽ cho việc thực hành thiền của bạn.

2. Khí hậu

Đức Phật đã từng nhấn mạnh rằng, khí hậu cũng là một nhân tố trợ lực mạnh mẽ khác cho việc gặt hái Phật Pháp. Khi được sống trong một nơi chốn mà khí hậu ở đó ôn hòa thì bạn đừng quên quán niệm rằng “ mình cần phải thực hành thiền thật siêng năng cần mẫn”. Mặt khác, khi sống trong một vùng khí hậu không được ôn hòa thì đó là một yếu tố khiến cho việc thực hành thiền của bạn trở nên bị xáo trộn.Thời tiết khắc nghiệt sẽ gây khó khăn trong việc gặt hái Phật Pháp và khiến cho hành giả cảm thấy khổ sở. Vì vậy, năng lực tập trung tâm ý và tuệ minh sát của hành giả sẽ không phát triển được. Chọn lựa nơi có khí hậu thích hợp để thực hành thiền là một điều quan trọng cần phải lưu ý. Giả sử bạn đã tìm được cho mình những người bạn và thầy dạy thiền tốt tại một trung tâm thiền. Tuy nhiên, ở đó đang là mùa đông lạnh giá thì cũng không thích hợp chút nào. Vào mùa đông, nếu thời tiết quá lạnh thì các trung tâm thiền sẽ đóng cửa. Vào mùa hè, nếu thời tiết quá nóng cũng vậy, các trung tâm thiền như ở Mandalay và Pakhokku sẽ đóng cửa, bởi vì với thời tiết khắc nghiệt như vậy, hành giả rất khó gặt hái được Phật Pháp. Vì vậy, như bạn đã hiểu, khí hậu ôn hòa là một yếu tố trợ lực mạnh mẽ cho việc thực hành thiền. Khi được sống trong một vùng khí hậu ôn hòa, bạn đừng quên suy niệm rằng “ mình cần phải thực hành thiền một cách siêng năng cần mẫn”.

3. Vật thực

Đức Phật đã từng nói rằng, vật thực cũng là một yếu tố trợ lực mạnh mẽ cho việc thực hành thiền. Khi được cung cấp những loại vật thực thích hợp, bạn nên tỏ lòng biết ơn và suy niệm rằng “ mình cần phải thực hành thiền một cách siêng năng cần mẫn”. Mặt khác, nếu phải thọ dụng những loại vật thực không thích hợp, những hành giả thực hành thiền sẽ cảm thấy bất mãn, năng lực tập trung tâm ý và tuệ minh sát của họ sẽ không phát triển tốt được. Do đó, họ còn lâu mới gặt hái được Đạo quả. Thậm chí, có rất nhiều vị đã trở thành A-La-Hán nhưng họ vẫn không thể vun trồng Phật Pháp được, bởi vì phải thọ dụng những loại vật thực không thích hợp. Một thời, tại tu viện Kỳ-Viên ( Jetavana Vihāra) ở thành Xá-Vệ ( Savātthi) có 60 vị Tỳ kheo nọ đang cư trú cùng với Đức Phật. Sau khi nghe Đức Phật giáo huấn về thiền, họ đi vào một ngôi làng có tên là Màtika nằm dưới chân một ngọn đồi để tìm nơi thực hành thiền. Mẹ của vị đứng đầu ngôi làng đó có tên Mātikamāta. Khi trông thấy 60 vị Tỳ kheo xếp hàng một lần lượt đi vào làng trong sự chú ý rất nghiêm trang, người mẹ này đã cảm thấy rất hài lòng. Với tấm lòng mộ Đạo, bà đã phái một người đến cung thỉnh các vị Tỳ Kheo về nhà của bà để cúng dường. Khi các vị Tỳ khe đã đến nơi, Mātikamāta đã dâng cúng tứ vật dụng cho họ và hỏi thăm về mục đích viếng thăm làng. Khi nghe những vị Tỳ kheo nói rằng, họ có ý định đi tìm một nơi thích hợp để thực hành thiền, ngay lập tức Mātikamāta hiểu rằng hiện tại họ chưa có một nơi cư trú thích hợp. Tiếp đến, bà đã thỉnh cầu những vị Tỳ kheo rằng : “ Hỡi các vị Đại Đức ! Hãy vui lòng đến cư trú tại tu viện của tôi !Bằng cách dâng cúng tứ vật dụng, lắng nghe Giáo Pháp và giữ gìn Giới luật, tôi sẽ gặt hái được rất nhiều phước báu”. Lúc đó, những vị Tỳ kheo vẫn giữ im lặng và im lặng có nghĩa là họ đã đồng ý. Sau đó, tất cả họ đã ở lại trong tu viện của Mātikamatā.

Tuy nhiên, mặc dù đã thực hành thiền một cách rất mãnh liệt nhưng họ vẫn không gặt hái được Phật Pháp. Những vị Trưởng lão cao hạ đã từng khuyên rằng : “ Sau khi đã lãnh hội được những lời giáo huấn của Đức Phật nhưng việc thực hành thiền vẫn tiến bộ một cách chậm chạp là một điều không thích hợp. Nếu gặp trường hợp như vậy, bạn nên tìm đến một khu rừng yên tĩnh, mỗi người hãy chọn cho mình một gốc cây hay một bụi cây tách biệt nào đó để  tự thực hành thiền. Nếu có điều gì khẩn cấp hay cần thiết thì bạn sẽ nghe thấy tiếng chuông phát ra từ tu viện gần đó”.  Một ngày nọ, Mātikamāta đã đến tu viện của bà để dâng cúng vật thực, thuốc men chữa bệnh và những nhu cầu thiết yếu khác cho các Tỳ kheo. Tuy nhiên khi đến nơi, bà không thấy bất cứ một vị Tỳ kheo nào cả. Bà đã thất vọng và cảm thấy bất hạnh, bà nghĩ rằng những vị Tỳ kheo đã bỏ đi nơi khác. Vì có sự hiểu biết về các qui tắc giao ước trong các tu viện, để thuận tiện, bà đã đánh chuông báo hiệu. Từ chỗ thực hành thiền trong rừng, các Tỳ kheo đã nghe thấy tiếng chuông của Mātikamāta và trở về tu viện của bà. Tiếp đến, Mātikamāta đã hỏi những Tỳ kheo rằng : “ Hỡi các vị Đại Đức kính mến ! Đã có điều gì không đúng đắn xảy ra phải không, lúc mới đến làng quí vị đã đi cùng với nhau, tạo sao bây giờ mỗi người lại ở mỗi nơi như vậy ? Các vị Tỳ kheo đã trả lời rằng theo trình tự thực hành Giáo Pháp, họ phải ở tại những nơi tách biệt nhau như thế và không có điều gì sai trái xảy ra cả.

Khi nghe nói như vậy, Mātikamāta rất hài lòng và tiếp tục hỏi những vị Tỳ kheo trong một tâm trạng rất hứng thú : “ Pháp tu hành của các vị là Pháp gì ? Có phải Pháp này chỉ dành riêng cho các Tỳ kheo không ? Tôi có thể thực hành Pháp đó không ? Sau khi giải thích về Pháp môn mà mình đang tu tập một cách cụ thể và nói rằng Pháp này là dành cho tất cả mọi người, những vị Tỳ kheo đã giáo huấn cho Mātikamāta cách quán niệm về 32 nhân tố bất tịnh cấu thành thân thể, quán niệm về vô thường, trạng thái tan hoại và cái chết…

Tiếp đến, Mātikamāta hân hoan trở về nhà. Bà đã thực hành Pháp quán niệm về sự khởi lên, tan biến đi của vật chất và tinh thần. Trong một thời gian ngắn, bà đã trở thành một A-Na-Hàm và gặt được những năng lực đặc biệt. Khi quán niệm về các điều kiện tạo nên những vị Tỳ kheo, Mātikamāta nhận thấy rằng trước đó họ đã không phát triển được sự định tâm. Thêm một đêm thực hành thiền cho đến khi bình minh ló dạng, Mātikamāta hiểu ra rằng nguyên nhân chính đã khiến cho những Tỳ kheo chưa phát triển được sự định tâm không phải là các tiện nghi như nơi cư trú, y phục hay thuốc men chữa bệnh. Nó không phải là vấn đề thời tiết hay bầu bạn mà chính là vật thực. Từ đó, mỗi khi các Tỳ kheo đến khất thực tại nhà của bà, Mātikamāta đã chuẩn bị nhiều loại vật thực thích hợp với từng vị khác nhau và dâng cúng cho họ. Một vài ngày sau, do được thọ dụng các loại vật thực thích hợp, những vị Tỳ kheo đã gặt hái được quả vị A-La-Hán. Vì vậy, rõ ràng vật thực không thích hợp là nguyên chính đã khiến cho họ không gặt hái được Đạo quả. Sự thật, nếu những hành giả thực hành thiền minh sát muốn gặt hái được Phật Pháp, họ phải có những loại vật thực thích hợp để thọ dụng. Vào cuối mùa an cư, sau khi đã nhận được sự ủng hộ đúng đắn của Mātikamāta, 60 vị Tỳ kheo trở về trình Pháp với Đức Giáo Chủ. Đức Phật đã chúc mừng họ về những gì mà họ đã gặt hái được trong mùa an cư vừa qua. Những vị Tỳ kheo đã cung kính đáp rằng : “ Bạch Giáo Chủ ! Mātikamāta đã chăm sóc chúng con rất cẩn thận bằng cách dâng cúng những loại vật thực thích hợp. Bà ấy đã dâng cúng nhiều loại vật thực thích hợp với từng người khác nhau vì bà đã có khả năng hiểu được những ý nghĩ thầm kín trong tâm trí của chúng con. Đó là lý do tại sao chúng con đã nhận thức được Giáo pháp”. Tương tự, tất cả quí vị nên tỏ lòng cám ơn khi được thọ dụng những loại vật thực thích hợp, đồng thời hãy quán niệm trong tâm rằng “ mình phải thực hành thiền một cách siêng năng cần mẫn”.

4. Bầu bạn

Khi có được một người bạn cùng phòng là một hành giả ít nói, bạn sẽ được hạnh phúc, phát triển được sự định tâm và gặt hái được Phật Pháp một cách nhanh chóng. Đức Phật đã từng nói bầu bạn là một nhân tố trợ lực mạnh mẽ cho những hành giả thực hành thiền minh sát. Vì vậy, chúng ta phải cẩn thận để không làm phiền và cản trở việc thực hành thiền của người khác trong quá trình cùng nhau tu tập. Mặt khác, điều đó cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tu tập của chính chúng ta. Bạn nên thường xuyên mang trong tâm một ý nghĩ rằng “ mình không nên cản trở sự thực hành thiền của những người khác, mình phải cẩn thận. Việc thất bại trong sự thực hành sự chú ý có thể khiến cho người ta không thể gặt hái được Chánh đạo. Trong khi đó, Chánh đạo là mục đích cao nhất của quá trình tu tập”. Do quán niệm như vậy, bạn sẽ gặt hái được phước báu. Khi đang thực hành thiền theo nhóm, có một điều quan trọng mà chúng ta nên nhớ là, không được quấy rầy sự yên tĩnh của người khác. Lúc đó, bạn không nên nói chuyện, thậm chí là thảo luận về Giáo Pháp. Trong một khóa thiền, có một vài hành giả muốn nói với bạn đồng tu của mình về những kinh nghiệm đặc biệt mà họ đã từng trải qua. Tuy nhiên, điều này là nên tránh. Bổn phận chính yếu của một hành giả thực hành thiền minh sát là tập luyện sự chú ý.Vì vậy, tốt hơn hết là không nên nói chuyện khi đang thực hành thiền tại một trung tâm. Thay vào đó là sự vun trồng tâm từ và thực hành quán niệm như đã trình bày ở trên. Nhờ đó, bạn sẽ được những hành giả khác tin tưởng và tôn trọng. Ngoài ra, bạn cần phải thực hành sự chú ý một cách nghiêm túc và chi tiết đến những hoạt động hàng ngày của mình khi đang đi bộ, đang co duỗi thân thể và tứ chi, khi đang ăn, đang ngồi xuống, đang đứng lên…Bạn cũng phải thực hành sự chú ý chính xác và đặn đến cảm giác của chính mình khi tiếp xúc với một hình ảnh đẹp, một âm thanh, một mùi, vị hay những đối tượng đặc biệt nào đó mà giác quan thu nhận nhận được…khi đang ở trong một trung tâm thiền. Hãy thực hành sự chú ý một cách miên mật và tâm niệm rằng bản thân mình có thể thực hành thiền minh sát một cách bình yên và hạnh phúc. Những điều vừa trình bày là sự bầu bạn thích hợp mà những hành giả thực hành thiền minh sát nên có được. Bầu bạn thích hợp là một nhân tố trợ lực mạnh mẽ cho nhiều người khác trong suốt quá trình tu tập.

5. Lắng nghe Giáo Pháp

Lắng nghe Giáo Pháp là một nhân tố trợ lực mạnh mẽ khác. Trong quá trình thực hành thiền minh sát, nếu nhân tố được này được phát triển một cách thích hợp thì nó sẽ khiến cho tâm thức của bạn trở nên phấn chấn. Do đó, việc thực hành thiền của bạn cũng có sự tiến bộ. Thỉnh thoảng, có thể bạn cũng nghĩ rằng Giáo Pháp được thuyết ra dường như đặc biệt dành riêng cho chính mình, bởi vì Giáo Pháp đó trùng hợp với những gì mà bạn đã lãnh hội được. Mặc dù đã lắng nghe Giáo Pháp trong nhiều năm nhưng vẫn không thấy chán, bởi vì bạn có sự tôn kính. Việc lắng nghe Giáo Pháp một cách thích thú và không biết chán chứng tỏ quá trình tu tập của hành giả đã có nhiều tiến bộ. Quan điểm đúng đắn trong thiền minh sát cũng giống như việc trồng một cây xoài non. Cây xoài non sẽ chết đi nếu nó không được tưới nước một cách đều đặn. Tương tự như vậy, một hành giả sẽ gặp phải những chướng ngại trong việc thực hành thiền minh sát, sanh tâm chán nản và muốn trở về nhà nếu anh ta không thường xuyên lắng nghe Giáo Pháp. Trường hợp của hành giả thất chí này có thể ví như việc cây xoài non đã chết. Bạn có muốn chết như cây xoài non đó không ? Chắc chắn là không.

Thường xuyên lắng nghe Giáo Pháp để phát triển sự hiểu biết là một nguyên nhân dẫn đến sự thành công trong việc thực hành quán niệm. Nhờ đó, bạn sẽ học và biết cách chú ý đến các hiện tượng đang xảy đến một cách chi tiết. Từ đó, tiến trình thực hành thiền minh sát của bạn cũng sẽ tiến bộ. Những bài Pháp được thuyết ra một cách trình tự để giải thích về những điểm quan trọng trong việc thực hành thiền minh sát, đồng thời cũng nhằm gia tăng khả năng định tâm của hành giả. Trong quá trình thực hành thiền minh sát, việc đầu tiên cần phải thực hiện là phát triển sự định tâm, tiếp đến là phát triển Giáo Pháp trong tâm thức và cuối cùng là gặt hái Giáo Pháp. Trong 24 giờ của một ngày, nếu chỉ thực hành sự chú ý trong 7 lần đứng lên ngồi xuống thì năng lực tham thiền có phát triển được không ? Thật ra trong thiền minh sát, bạn phải liên tục thực hành sự chú ý đến tất cả những hành động và chuyển động của thân thể như khi đang đi bộ, đang đứng, đang ngồi, đang nằm, thậm chí lúc đang ngủ…Lúc ban đầu khi mới tập luyện như thế, bạn sẽ cảm thấy không dễ dàng chút nào. Tuy nhiên, với sự tập luyện kiên trì thì dần dần chắc chắn bạn sẽ tiến đến chỗ thành công. Do đó, bạn nên thực hành sự chú ý đến tất cả những hành động và chuyển động của thân thể. Bạn cũng sẽ nhận thức được rằng, tự thực hành thiền một mình thì được bình yên hơn là thực hành theo nhóm. Khi thực hành thiền một mình, bạn có thể chú ý đến mọi hoạt động một cách chi tiết hơn, năng lực tập trung cũng trở nên mạnh mẽ. Do đó, việc thực hành thiền cũng sẽ sự tiến bộ hơn. Làm cách nào để thực hành sự chú ý một cách chi tiết đến các hoạt động ? Chúng ta không thực hành sự chú ý đến hình dáng bên ngoài của thân thể như đầu và tứ chi…Chúng ta chỉ chú ý đến bản chất của những chuyển động thuộc về thân thể mà thôi, bởi vì bản chất đó chính là thực tại cùng tột ( Paramattha - Ultimate reality) hay thực tại trừu tượng ( Abstract reality). Khi đang nằm xuống, bạn hãy thực hành sự chú ý đến “ chuyển động đang dần dần nằm xuống của thân thể”. Khi đang đứng lên, bạn hãy thực hành sự chú ý đến “ chuyển động đang dần dần đứng lên của thân thể”. Khi đang ngồi xuống, bạn hãy thực hành sự chú ý đến “ chuyển động đang dần dần ngồi xuống của thân thể”. Tương tự như vậy, bạn hãy thực hành sự chú ý đến “ chuyển động đang dần dần duỗi ra hay co lại của tứ chi”, “ chuyển động đang dần dần vặn mình từ trái qua phải hay ngược lại”… Hãy chú ý trong từng giây phút đến mọi chuyển động của thân thể một cách chi tiết. Khi đã lãnh hội được bản chất của những chuyển động thuộc về thân thể, bạn sẽ cảm thấy rất hài lòng. Mặc dù, bạn không thể trình bày sự hài lòng đó một cách rõ ràng bằng ngôn ngữ. Nói cách khác, bạn sẽ gặt hái được Phật Pháp khi đã lãnh hội được bản chất của mọi hiện tượng. Khi đang ngồi xuống, thân thể của bạn sẽ dần dần chuyển động về phía dưới, bạn cũng phải chú ý đến sức nặng của thân thể để nhận biết rằng nó càng lúc càng trở nên nặng nề hơn do ảnh hưởng của chuyển động ngồi xuống. Khi đang đứng lên cũng vậy, chuyển động dần dần đứng lên của thân thể sẽ càng lúc càng trở nên nhẹ nhàng hơn…

Tóm tắt: Mỗi khi đã lãnh hội được bản chất của các hiện tượng, chúng ta sẽ thấy được tiến trình trở thành và tan biến đi của chúng một cách rất rõ ràng.         

Khi hành giả chưa lãnh hội được bản chất của các hiện tượng một cách rõ ràng mà chỉ phỏng đoán thì năng lực tập trung tâm ý sẽ không phát triển một cách mạnh mẽ. Nếu chú ý một cách chính xác và liên tục trên các chuyển động của thân thể, bạn sẽ lãnh hội được sức nặng hay nhẹ, sự đẩy hay sức co kéo, độ nóng hay lạnh trong lòng các chuyển động này. Mục đích chính và đầu tiên của thiền minh sát là gặt hái được Phật Pháp, tiếp đến là phát triển tiến trình thực hành thiền. Trong cuộc sống hiện tại, Phật Pháp là cái có thể mang lại phước báu bằng cách loại bỏ những thứ ô nhiễm trong tâm thức của chúng ta. Phật Pháp là rất uyên thâm, vi tế và khó lãnh hội. Chúng ta chỉ có thể tìm thấy bản chất của các hiện tượng trong Giáo Pháp của Đức Phật. Ngài đã trải qua vô lượng kiếp để đạt tới giác ngộ tối thượng. Sự thật, chỉ trong thời mà Giáo Pháp của Đức Phật vẫn đang còn tồn tại, chúng ta mới có khả năng gặt hái được Giáo Pháp của ngài và thoát khỏi những nổi khổ đau ở địa ngục. Mỗi khi Phật Pháp đã vắng bóng trên thế gian này, chúng ta sẽ không thể tránh khỏi khổ đau trong những cảnh giới thấp kém. Khi đang đứng lên, hành giả phải nổ lực hết mình trong sự thực hành chú ý một cách chi tiết đến chuyển động của thân thể để nhận thức được nó có tính nhẹ nhàng ( tức yếu tố gió - Vāyo dhātu), cũng như cần phải nhận thức được sức nóng ( tức yếu tố lửa – Tejo dhātu ) phát ra từ chuyển động này. Khi thân thể đang chuyển động để ngồi xuống, hành giả phải chú ý để nhận biết được yếu tố giãn ra ( tức yếu tố đất – Pathavī dhātu) và yếu tố kết dính ( tức yếu tố nước – Āpo dhātu) trong chuyển động này. Do đó, hành giả sẽ cảm thấy rất hài lòng khi gặt hái được Phật Pháp và phước báu. Tâm trí của hành giả không còn lang thang vô định, năng lực tập trung tâm ý đã trở nên mạnh mẽ và việc thực hành thiền đã có sự tiến bộ. Khi năng lực tập trung tâm ý đã phát triển tốt, tiến trình trở thành và tan biến đi của các hiện tượng sẽ hiện khởi trong tâm thức của hành giả một cách rõ ràng. Ở một trình độ thực hành thiền cao hơn gọi là kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng – Udayabbhaya Ñāna, hành giả sẽ lãnh hội được tiến trình trở thành và tan biến đi của các hiện tượng một cách rõ ràng hơn nữa. Các hiện tượng khởi lên và gần như ngay lập tức tan biến đi một cách cực kỳ nhanh chóng. Sự khởi lên là tiến trình trở thành và sự biến mất đi của chúng là tiến trình tan hoại. Đến lúc này, hành giả đã nhận thức được bản chất của sự khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng một cách dễ dàng. Trạng thái nhận thức này được mô tả bằng một câu tóm tắt như sau : “ Khi đã lãnh hội được bản chất của trạng thái khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng thì các hiện tượng này đã trở nên rất dễ nhận thấy”. Muốn hiểu rõ bản chất của các hiện tượng, hành giả thực hành thiền minh sát phải nghiêm túc tu tập để trạng thái định tâm được phát triển một cách mạnh mẽ và chín muồi. Hành giả phải chuyên tâm thực hành sự chú ý một cách đều đặn và chính xác. Lúc mới khởi sự tập luyện, hành giả có thể bắt gặp một số chướng ngại.Tuy nhiên, khi năng lực định tâm đã trở nên mạnh mẽ, tiến trình trở thành và tan hoại của các hiện tượng đã được nhận thức một cách rõ ràng thì hành giả sẽ gặt hái được Phật Pháp. Đức Phật đã từng nói : “ Đành rằng người ta có thể sống hết tuổi trời và thọ hơn 100 tuổi, nhưng có thể họ vẫn chưa nhận thức được bản chất của các hiện tượng ( tức bản chất của sự khởi lên và biến mất đi của chúng). Họ cũng có thể thực hành thiền minh sát nhưng không đúng phương pháp. Trong khi đó, có một người khác chỉ mới sống một ngày với thiền minh sát nhưng đã nhận thức được bản chất của sự khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng hay đã gặt hái được Phật Pháp. Như vậy hành giả này là một người có tâm thức cao thượng hơn những người mê muội nói trên. Khi vẫn còn sống trong mê muội thì dẫu có sống thọ hơn 100 tuổi cũng chẳng có ích lợi gì cả. Một ngày nào đó, chắc chắn hành giả cao thượng này sẽ nhận thức được Niết Bàn hạnh phúc”. Quán niệm cách nào để lãnh hội được tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng ? Hãy thực hành sự chú ý một cách nghiêm túc, đều đặn và chính xác. Sau đó, bạn sẽ lãnh hội được tính nặng nhẹ, sức kéo và đẩy, sức nóng hay lạnh trong các chuyển động hàng ngày của chính mình. Nói cách khác, bạn bắt đầu nhận thức được thực tại cùng tột hay chân đế ( Paramattha – Ultimate reality). Đến lúc đó, Niết bàn đối với bạn cũng không còn bao xa nữa.  Đến lúc đó, bạn sẽ không còn cảm thấy luyến ái vào thân xác của chính mình nữa, bởi vì đã hiểu rằng thân xác đó không phải là một khối đồng nhất mà chỉ là một sự cấu thành bởi nhiều yếu tố. Đến lúc đó, bạn chỉ còn thấy bản chất của các hiện tượng là “ khởi lên và rồi cũng sẽ tan biến đi mà thôi”.

Tóm tắtBản chất của các hiện tượng chắc chắn sẽ được chúng ta lãnh hội bằng sự chú ý, ngay khi chúng vừa khởi lên.

Trong thiền hành ( tức thiền khi đang đi bộ), bạn hãy tập trung sự chú ý đến chuyển động của hai bàn chân, không cần để tâm đến hình dáng bên ngoài của chúng. Bạn chỉ chú ý và niệm thầm trong tâm mình “ bàn chân trái đang bước tới, bàn chân phải đang bước tới”…Tương tự, bạn cũng thực hành sự chú ý như vậy khi đang đứng lên hay ngồi xuống. Trong hành động đang ngồi xuống, bạn sẽ nhận thấy rằng thân xác của mình đang dần dần chuyển động về phía dưới và chuyển động này càng lúc càng trở nên nặng nề hơn. Khi chú ý đến chuyển động đang bước tới của bàn chân, bạn sẽ nhận thấy rằng chuyển động này sẽ càng lúc càng trở nên nhẹ nhàng hơn. Khi bàn chân đang dần dần chuyển động đặt xuống thì chuyển động này sẽ càng lúc càng trở nên nặng nề hơn. Bạn sẽ nhận thấy chuyển động đẩy hay sức co kéo khi co duỗi tứ chi hoặc uốn vặn thân mình. Do đó, bạn sẽ lãnh hội được chân đế ( Paramattha – Ultimate reality). Khi đang chú ý để nhận biết trạng thái nặng nhẹ trong chuyển động bước tới hay đặt xuống của bàn chân, bạn cũng nhận thấy rằng giữa hai trạng thái chuyển động này, có một khoảng thời gian trống, nghĩa là hai chuyển động này không phải xảy ra liên tiếp nhau mà bị ngắt quảng bởi khoảng thời gian trống vừa nói. Trạng thái trở thành của một hiện tượng chỉ xuất hiện sau khi trạng thái tan hoại xảy ra trước nó đã chấm dứt hẳn. Nhờ đó, bạn sẽ lãnh hội được sự trở thành và tan hoại của các hiện tượng thông qua trải nghiệm của riêng mình. Chúng ta cần phải thực hành quán niệm theo một phương pháp đúng đắn để năng lực định tâm được phát triển mạnh mẽ. Nếu muốn làm chủ năng lực định tâm ( Samādhindriya), đầu tiên bạn phải làm chủ được năng lực chú ý ( Satindriya), tức phải có được một năng lực chú ý tốt và mạnh mẽ.

 

Năm loại lợi ích

Đức Phật đã từng chỉ ra 5 lợi ích khi lắng nghe Giáo Pháp, 5 lợi ích đó là :

1. Bạn sẽ nghe được những gì mà trước đó mình chưa hề nghe thấy

2. Giáo Pháp đối với bạn sẽ trở nên rõ ràng và dễ hiểu hơn

3. Bạn sẽ vượt qua được những mối hoài nghi rằng không biết mình có gặt hái được Giáo Pháp hay không.

4. Loại bỏ được những quan kiến lầm lạc

5. Tâm trí được trong sáng

Một vài hành giả đã trình Pháp với vị thiền sư của họ rằng, chắc chắn họ đã phát triển được sự định tâm. Với sự phát triển đó, khi đang tập trung chú ý, tâm trí của họ đã trở nên thô ráp và hoang dã, có xu hướng hằn học và thô lỗ. Trước đây, họ chưa bao giờ bắt gặp những trạng thái tâm lý như vậy. Vị thiền sư phải giải thích rằng, các trạng thái tâm lý bất thiện đó đã xảy đến trong tâm thức của họ là do ảnh hưởng của những hành động mà họ đã từng thực hiện trong quá khứ. Sự xuất hiện của những trạng thái tâm lý này là điều tất yếu phải xảy đến. Khi tâm trí thô ráp đã được bình định và trở nên hòa nhã, năng lực chú ý của hành giả sẽ trở lại bình thường và chắc chắn sẽ tốt hơn trước đó. Trong một thời gian ngắn sau khi đã phát triển được năng lực định tâm, chắc chắn các trạng thái tâm lý bất thiện đó sẽ không còn gia tăng trong tâm thức của hành giả, bởi vì thiền minh sát là một vũ khí tâm lý lợi hại nhất. Bạn sẽ hiểu được tại sao khi bạn lắng nghe Giáo pháp thì những trạng thái tâm lý bất thiện đó lại xuất hiện. Bằng cách lắng nghe Giáo Pháp, bạn sẽ nhận thấy rằng những mối hoài nghi trong tâm thức của chính bạn đã dần dần bị loại bỏ. Khi thấy tâm trí bị xáo trộn, bạn nên lắng nghe Giáo Pháp qua các hình thức như đọc sách, nghe băng đĩa từ, một buổi thuyết Pháp nào đó… đặc biệt rất tốt khi được lắng nghe thuyết Pháp từ một vị thầy có khả năng truyền bá Phật Giáo giỏi và có đức hạnh. Từ đó, những trạng thái xáo trộn trong tâm sẽ bị loại bỏ, tâm trí của bạn sẽ trở nên trầm tĩnh và trong sáng. Sau đây là sự hướng dẫn cấp tốc về cách thức vượt qua những quan kiến sai lầm bằng cách lắng nghe Giáo Pháp. Một thời Đức Phật đang trú tại Jetavana Vihāra ( tu viện Kỳ-Viên), trưởng giả Cấp-Cô-Độc

 ( Anāthapindīka) đã chuẩn bị những món quà cúng dường to lớn và giao việc đó cho con gái của ông thực hiện. Một vài người trong gia đình của trưởng giả và nhiều người khác đã trở thành Tu-Đà-Hườn hay Tư-Đà-Hàm. Duy chỉ có người con trai của Cấp-Cô-Độc tên là Kāla ( Thời gian) vẫn chưa biết lễ độ và cũng chưa tỏ ra tôn kính Đức Phật. Cấp-Cô-Độc cảm thấy bất hạnh và xấu hổ về người con trai của ông. Trưởng giả mong muốn con trai của ông sẽ có sự hiểu biết giống như ông, nếu không Kāla có thể bị đọa xuống địa ngục khổ đau. Một ngày nọ, trưởng giả nói với Kāla rằng, ông sẽ cho anh ta 100 đồng tiền nếu như anh ta chịu tìm đến với Đức Phật để thọ 5 Giới và lắng nghe thuyết Pháp. Vào những ngày đó, sau khi lắng thuyết Pháp, người ta thường ở lại suốt đêm tại tu viện và chỉ trở về nhà vào sáng hôm sau. Kāla đã đến tu viện Kỳ-Viên. Khi vừa đến nơi, anh ta liền tìm cho mình một chỗ thích hợp và nằm ngủ, thay vì thọ 5 Giới và lắng nghe thuyết Pháp. Sáng ngày hôm sau, vị trưởng giả đã chuẩn bị một bữa ăn sáng tuyệt ngon tại nhà riêng của ông và ngồi đợi người con trai trở về. Khi vừa về đến nhà, Kāla ngồi ngay vào bàn ăn sáng, tuy nhiên anh ta không hề chạm đến thức ăn mà chỉ nghĩ đến món quà mà cha mình đã hứa trước đó. Cấp-Cô-Độc biết ngay rằng tối hôm qua lúc đang ở trong tu viện, con trai của ông đã không hề lắng nghe Đức Phật thuyết Pháp, bởi vì một người đã từng được nghe Đức Phật thuyết Pháp có lẽ nào lại còn tính tham lam như Kāla ?

Thêm một lần nữa, Cấp-Cô-Độc lại nói với Kāla rằng nếu anh ta chịu đến nghe Đức Phật thuyết Pháp thì ông sẽ cho 100 đồng tiền. Sau đó, Kāla lại đi đến tu viện Kỳ-Viên và ngồi lắng nghe Đức Phật thuyết Pháp. Khi Kāla vừa nhớ xong một bài Pháp thì Đức Phật đã chuyển sang thuyết một bài Pháp khác và cứ tiếp tục như thế. Do đó, Kàla phải liên tục chú ý để lắng nghe thuyết Pháp. Trong những bài Pháp đó, Đức Phật giảng về cách thức quán niệm và thực hành sự chú ý. Cuối cùng, Kāla đã trở thành một Tu-Đà-Hườn sau khi đã gặt hái được Phật Pháp. Sáng hôm sau, Đức Phật đến thăm nhà của trưởng lão Cấp-Cô-Độc, Kāla đã đi theo Ngài với dáng vẻ rất tôn kính. Vào lúc đó, Kāla đã hy vọng rằng cha của chàng đừng cho chàng số tiền như đã hứa trước mặt Đức Phật và cũng đừng nên đề cập đến nó làm gì nữa. Mặt khác, Cấp-Cô-Độc đã chuẩn bị sẵn món tiền thưởng là 100 đồng đặt ngay trên bàn và bảo Kāla hãy lấy nó đi. Kāla đã tỏ ra miễn cưỡng và xấu hổ. Cấp-Cô-Độc đã vô cùng ngạc nhiên và bạch với Đức Phật về những gì mà ông đã hứa với con trai của mình trước đó. Tiếp đến, Đức Phật đã giải thích rằng bây giờ Kāla đã là một Tu-Đà-Hườn, không còn là một người bình thường nữa. Đây chính là lợi ích của việc lắng nghe Giáo Pháp mà Kāla đã gặt hái được. Hạnh phúc cao thượng của một Tu-Đà-Hườn không chỉ vượt xa những vị Chuyển Luân Thánh Vương mà còn vượt cả những Chư Thiên và Phạm Thiên. Khi đã hưởng hết phước báu ở cõi trời, một vị Phạm Thiên vẫn có thể bị tái sanh vào những cảnh giới thấp kém.

Tóm tắt: Hào quang của cõi Phạm Thiên cũng chỉ là tiếng kêu ủn ỉn của những con lợn bẩn thỉu mà thôi.

Trên đây là một minh họa để nói lên lợi ích của việc lắng nghe Giáo Pháp, cách thức mà  Kāla đã trở thành Tu-Đà-Hườn và thoát khỏi những nổi khổ đau. Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp về “ Năm điều kiện vệ sinh”, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành theo những lời dạy của Đức Phật. Với sự siêng năng cần mẫn trong quán niệm, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ nhanh chóng nhận thức được Niết Bàn mong muốn để tận diệt mọi khổ đau bằng cách thực hành thiền với một tâm thức trí tuệ và thanh thản. Cầu chúc cho những chúng sanh trên 10 phương thế giới đều thoát khỏi tất cả những nổi khổ đau, cầu chúc cho họ thoát được trạng thái đau khổ về thể xác và tinh thần. Cầu chúc cho họ sẽ có khả năng chịu đựng nổi gánh nặng của cuộc sống, thân tâm được an lạc. Lành thay ! Lành thay !

 

                                        

                                     Bốn sự nổ lực quan trọng nhất

                                              ( Tứ Chánh Cần)

 

Trong việc thực hành thiền minh sát, nổ lực là một nhân tố cốt tủy. Bạn cần phải nổ lực đến bao nhiêu là đủ ? Một hành giả thuần thành cần phải nổ lực thực hành thiền cho đến khi đạt được mục đích là thoát khỏi địa ngục khổ đau. Nói cách khác, hành giả này phải nổ lực thực hành thiền cho đến khi trở thành một Tu-Đà-Hườn. Trong Kinh Buông Bỏ - Padhāna Sutta, Đức Phật đã truyền bá cách thức và phương pháp nổ lực để trở thành Tu-Đà-Hườn, cụ thể là Tứ Chánh Cần hay 4 sự nổ lực quan trọng nhất. Bạn cần phải nổ lực một cách tích cực suốt quá trình tu tập để trở thành Tu-Đà-Hườn ngay trong kiếp sống hiện tại. Cách thực hành Tứ Chánh Cần có liên quan mật thiết với thiền minh sát. Bốn sự nổ lực đó là :

1. Nổ lực để ngăn chặn không cho những hành động bất thiện chưa phát sanh có thể phát sanh.

2. Nổ lực để loại bỏ những hành động bất thiện đã phát sanh.

3. Nổ lực để làm cho những hành động thiện lành chưa phát sanh trở thành phát sanh.

4. Nổ lực để làm cho những hành động thiện lành đã phát sanh ngày càng sinh sôi nảy nở thêm.

Sau khi lắng nghe bài thuyết Pháp này, chúng ta cần đem bốn sự nổ lực nói trên ra thực hành trong đời sống hàng ngày.

Ngăn chặn những hành động bất thiện chưa phát sanh

Tóm tắt: Nổ lực để ngăn chặn những hành động bất thiện chưa phát sanh có thể phát sanh   

Mặt dù không vi phạm một hành động bất thiện nào, tuy nhiên bạn vẫn hiểu và biết rằng có một số người khác đã trộm cắp, nói dối và thực hiện nhiều hành động bất thiện khác. Nếu một căn bệnh truyền nhiễm đang hoành hành như dịch tả, kiết lỵ hay đậu mùa…người ta sẽ có những biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn chúng. Tương tự, khi hiểu và biết rằng có một số người khác đang phạm phải những hành động bất thiện, bạn phải nổ lực để ngăn chặn không cho bản thân mình vi phạm giống như vậy. Nếu bạn thực hành thiền minh sát thì những hành động bất thiện sẽ không bao giờ xảy đến.  

Loại bỏ những hành động bất thiện đã phát sanh

Tóm tắt: Nổ lực để loại bỏ những hành động bất thiện đã phát sanh

Một người nào đó thất bại trong việc giữ Giới, bằng cách này hay cách khác anh ta đã phạm phải những hành động bất thiện thuộc về thân xác hay lời nói. Khi những ước muốn không được thỏa mãn thì trạng thái khao khát cứ lập đi lập lại trong tâm thức của bạn như một cách thức phát triển tham ái. Bạn cũng sẽ trở nên lo lắng và băn khoăn khi phạm phải một điều sai lầm nào đó và đây chính là sân hận. Bạn có thể xử dụng thế lực để đổ tội cho người khác. Tuy nhiên, những dục vọng vừa nói không biểu hiện một cách rõ ràng giống như những hành động thuộc về thân xác và lời nói. Trong việc thực hành thiền minh sát, bạn có thể trải nghiệm những dục vọng này và có thể loại bỏ chúng bằng cách chú ý, ngay khi chúng vừa mới khởi lên. Ngoài ra không còn cách nào khác để loại bỏ những hành động bất thiện khi chúng đã phát triển và được tích lũy qua nhiều kiếp sống ở quá khứ. Có 3 loại hành động bất thiện, một là những hành động bất thiện thuộc về thân xác và lời nói, hai là sự tái hiện trạng thái khao khát nhiều lần trong tâm thức, ba là những hành động bất thiện tiềm tàng trong ký ức. Khi đã loại bỏ được các loại hành động bất thiện này thì bạn sẽ đạt tới Đạo quả Tu-Đà-Hườn. Do đó, việc loại bỏ chúng là một điều tối cần thiết.    

Cây độc

Các bậc thầy chú giải Kinh Điển xử dụng phép loại suy để nói về 3 loại hành động bất thiện đã phát sanh và xem chúng như là những cây độc. Vào thời Đức Phật còn tại thế, có nhiều giống cây độc mọc trong rừng. Người ta đã bị chúng làm cho đau đớn và mắc phải bệnh tật khi họ dừng lại để nghỉ ngơi và hít thở trong phạm vi có cây độc. Do đó, điều quan trọng là cần phải phá hủy những cây độc này. Người ta không chỉ chặt ngọn, cành nhánh và thân của cây độc mà còn đào cả gốc của chúng lên. Nếu gốc của những cây độc đó không bị đào lên thì chúng sẽ phát triển trở lại khi được cung ứng đủ nguồn nước và không khí, cũng như sẽ tiếp tục gây nguy hiểm cho con người. Những hành động bất thiện thuộc về thân xác và lời nói giống như ngọn và cành nhánh của cây độc. Trong khi đó, thân của cây độc được ví như những khao khát bất thiện trong tâm thức. Với một khoảng cách khá xa, chúng ta có thể thấy được ngọn và cành nhánh của cây độc. Tương tự, bạn có thể nhận biết được những hành động bất thiện thuộc về thân xác và lời nói mà nhiều người khác rất dễ phạm phải như :  Sát sanh, trộm cắp, nói dối, tà dâm, xử dụng chất say…Ngay chính bản thân của người phạm Giới cũng nhận biết những hành động bất thiện mà mình đã thực hiện. Chúng ta không thể quan sát thân của cây độc với một khoảng cách xa, khi tiến lại gần cây độc thì bạn mới biết được thân của nó to như thế nào. Tương tự, chúng ta không thể biết được những khao khát bất thiện chứa trong tâm thức của người khác. Bản thân của một người nào đó sẽ nhận biết được những khao khát bất thiện trong tâm thức của chính anh ta bằng cách thực hành quán niệm. Những hành động bất thiện tiềm tàng trong ký ức giống như gốc của cây độc. Chúng ta không thể thấy được gốc của một cây độc, thậm chí khi đang đứng gần nó bởi vì gốc của nó nằm dưới lòng đất và bị lớp đất bên trên che phủ. Bạn có thể thấy được gốc của một cây độc chỉ khi lớp đất bên trên và lớp đất bên dưới nó bị đào lên. Tương tự như vậy, chúng ta khó nhận biết được những hành động bất thiện tiềm tàng. Nếu gốc của cây độc chưa bị phá hủy hoàn toàn thì đến một lúc nào đó, nó sẽ phát triển trở lại, khi có đủ nguồn nước và không khí. Nếu những hành động bất thiện tiềm tàng trong ký ức không bị thiền minh sát tiêu hủy một cách hoàn toàn thì chúng sẽ tái hiện khởi lên trong tâm thức của bạn và gây ra nhiều điều phiền muộn. Do đó, thiền quán niệm hay thiền minh sát ( Vipassanā Bhāvanā – Insight Meditation) có thể phá hủy được những pháp bất thiện tiềm tàng. Nếu chỉ cắt ngọn, cành nhánh và thân của một cây độc thôi thì chừng đó cũng chưa đủ để phá hủy được nó một cách triệt để. Khi giữ Giới, chúng ta có thể loại bỏ được những hành động bất thiện thuộc về thân xác và lời nói, khi thực hành thiền định ( Samātha Bhāvanā - Insight Meditation), chúng ta có thể phá tan những khao khát bất thiện trong tâm thức. Tuy nhiên, như thế vẫn chưa chắc thoát khỏi được địa ngục. Bạn sẽ gặt hái được Đạo quả chỉ khi những ô nhiễm tiềm tàng trong ký ức của chính bạn đã bị thiền minh sát phá hủy một cách hoàn toàn. Nếu không thực hành thiền minh sát thì chúng ta có thể bị tái sanh vào địa ngục.

Phát triển phước báu

Tóm tắt: Nổ lực phát triển những hành động thiện lành chưa phát sanh

Có thể có một số người Phật tử chưa bao giờ tham gia xây dựng những tu viện, các cây cầu, dâng cúng y phục, vật thực, thuốc men chữa bệnh…Nếu một ai đó chưa có khả năng thực hiện những việc trên thì với tất cả nổ lực của bản thân, người này vẫn có thể gặt hái được phước báu bằng cách thực hành thiền minh sát. Bất cư ai cũng có thể nổ lực thực hành loại thiền này. Bên cạnh đó, bạn cũng phải nổ lực để phát triển những phước báu thiện lành đã phát sanh. Nhưng bằng cách nào để phát triển phước báu ? Chia xẻ phước báu với những người khác cũng là một cách để phát triển chính nó. Trong quá khứ đã từng có nhiều buổi lễ Kathina ( lễ dâng Y hằng năm được tổ chức ngay sau mùa an cư – ND). Khi mùa dâng Y vừa chấm dứt, những người Phật tử đã dâng cúng Tứ vật dụng xong. Tuy nhiên, họ lập tức nghĩ đến những món quà cần chuẩn bị để dâng cúng vào năm kế tiếp. Không phải những người Phật tử chỉ dâng Y một lần rồi thôi, họ dâng Y suốt đời, tùy theo khả năng và điều kiện cho phép. Từ thuở còn thơ ấu, họ đã từng dâng cúng hương hoa, nước uống, ánh sáng, vật thực…Đó là cách nhân giống những phước báu đã hình thành. Nếu phát triển Tứ Chánh Cần đúng theo lời dạy của Đức Phật thì không còn nghi ngờ gì nữa, chắc chắc bạn sẽ đạt tới Niết Bàn hạnh phúc.

Nhân giống phước báu

Tóm tắt: Nổ lực để nhân giống những phước báu đã hình thành

Loại bỏ những hành động bất thiện đã phạm phải là một nhân tố cốt tủy quan trọng nhất trong Tứ Chánh Cần. Những hành động bất thiện được chia làm 3 loại : Hành động bất thiện thuộc về thân xác và lời nói, khao khát bất thiện trong tâm trí và những pháp bất thiện tiềm tàng trong ký ức. Những hành động bất thiện thuộc về thân xác và lời nói cần phải được loại bỏ bằng cách giữ gìn Giới luật. Một người có đạo đức sẽ không bao giờ vi phạm những Giới luật như sát sanh, nói dối, trộm cắp, tà dâm, xử dụng các chất say…

Tóm tắt: Bằng cách giữ Giới, những hành động bất thiện thuộc về thân xác và lời nói sẽ bị loại bỏ.

Những hành động bất thiện thuộc về thân xác và lời nói được ví như ngọn và cành nhánh của cây độc. Do đó, giữ gìn Giới luật là phương pháp cắt đứt ngọn và cành nhánh của cây độc. Những khao khát bất thiện trong tâm có nguyên nhân từ trạng thái tâm thất vọng. Chúng được ví như thân của cây độc. Người ta có thể loại trừ được chúng bằng cách thực hành thiền định. Lập đi lập lại nhiều lần những phẩm hạnh của Đức Phật trong tâm thức sẽ khiến cho trạng thái định tâm phát triển. Từ đó, những khao khát bất thiện trong tâm thức sẽ bị loại bỏ và tâm của bạn sẽ được thanh thản. Như vậy những hành động bất thiện đã bị phá hủy.

Tóm tắt: Cần phải loại bỏ những hành động bất thiện khởi lên trong tâm thức bằng cách thực hành thiền định.

Nói lời ước nguyện, dâng cúng hương hoa, nước uống, ánh sáng…được xem như là cách thực hành thiền định. Bằng cách khống chế và làm chủ được những hành động bất thiện, trầm tĩnh trong từng phút giây của đời sống là thiền định. Do đó, thiền định là phương pháp cắt đứt thân của cây độc. Các hành động bất thiện được tích lũy trong vô số kiếp sống ở quá khứ và đã phát triển thành những pháp bất thiện tiềm tàng trong ký ức cần phải được loại bỏ bằng cách thực hành thiền minh sát.

Tóm tắtNhững pháp bất thiện tiềm tàng trong ký ức cần phải được loại bỏ bằng trí tuệ.

Những hành động bất thiện tiềm tàng trong ký ức sẽ tan biến đi chỉ khi chúng bị thiền minh sát chú ý đến. Nếu không bị chú ý đến, chúng sẽ không bao giờ tan biến đi. Đạo Tuệ ( Magga Paññā) là phương pháp có thể loại bỏ được những pháp bất thiện tiềm tàng. Xa hơn nữa, chúng ta sẽ gặt hái được Đạo Quả ( Magga Phala) chỉ khi thực hành thiền minh sát. Vì vậy, thực hành thiền minh sát là phương pháp để loại bỏ những hành động bất thiện tiềm tàng. Cây độc có thể lớn mạnh trở lại nếu như gốc của nó không bị phá hủy một cách hoàn toàn. Nếu không thực hành thiền minh sát thì những pháp bất thiện tiềm tàng trong ký ức sẽ tái khởi lên trong tâm thức của bạn mỗi khi chúng hội đủ những điều kiện xuất hiện. Do đó, thiền minh sát là phương pháp phá hủy gốc của cây độc. Nói cách khác, thực hành thiền quán niệm ( tức thiền minh sát) là dọn sạch gốc rễ của những pháp bất thiện tiềm tàng trong ký ức. Không còn nghi ngờ gì nữa, mặc dù ngọn và cành nhánh đã bị cắt đứt nhưng cây độc sẽ phát triển trở lại khi được cung ứng đủ nước và không khí. Tương tự, khi thực hành giữ Giới và thiền định nhưng không thực hành thiền minh sát ( tức không phá hủy gốc của cây độc) thì bạn chưa chắc thoát khỏi được địa ngục. Khi gốc của một cây độc đã bị phá hủy hoàn toàn thì chắc chắn cành nhánh và thân của nó sẽ chết. Khi cây độc đã chết, nó sẽ không còn tác dụng gì nữa, chỉ có thể xử dụng để làm chất đốt mà thôi. Như vậy, rõ ràng thiền minh sát là một Pháp cao thượng. Nó là một Pháp có thể phá hủy gốc của cây độc và là Pháp có thể tin cậy được. Mọi người đều mong muốn có được cái tốt nhất trong những cái tốt nhất.

Ngay bây giờ, bạn cần phải có được cái tốt nhất đó bằng cách thực hành thiền minh sát. Tuy nhiên, sau đây là một hướng dẫn quan trọng mà chúng ta cần phải ghi nhớ. Trong 3 nhiệm vụ cần phải đạt được ( cắt đứt ngọn và cành nhánh của cây độc, cắt đứt thân của cây độc và phá hủy hoàn toàn gốc của nó) thì nhiệm vụ nào là khó khăn nhất ? Dĩ nhiên, phá hủy gốc của cây độc là nhiệm vụ khó khăn nhất. Một cây độc có thể có nhiều gốc. Chúng ta cần phải phá hủy bao nhiêu gốc của nó là đủ ? Có tất cả 10 gốc cây độc đã được tích lũy trong nhiều kiếp sống ở quá khứ rất khó phá hủy, trừ khi chúng ta đã có được một phương pháp đúng đắn để làm điều đó.

Phương pháp phá hủy gốc của cây độc

Theo sự hướng dẫn của Ngài Đại Đức Tăng Thống Mahāsī thì có 3 phương pháp thực hành thiền minh sát, đó là : Thiền tọa ( tức thực hành thiền minh sát khi đang ngồi), thiền hành ( tức thực hành thiền minh sát khi đang đi bộ) và khả năng chú ý tổng hợp ( tức chú ý đến tất cả những hoạt động hàng ngày của chính mình). Khi muốn thực hành thiền tọa, bạn hãy tìm đến một nơi hẻo lành và yên tĩnh để ẩn dật, lựa chọn một tư thế hành thiền thích hợp để có thể ngồi được lâu, giữ lưng và đầu trên một đường thẳng, nhắm mắt lại và đặt tâm trí lên bụng. Khi bạn đang thở vào, bụng sẽ dần dần phồng lên, ngay lúc đó bạn cần niệm thầm trong tâm mình “ đang phồng lên, đang phồng lên…” Khi bạn đang thở ra, bụng sẽ dần dần xẹp xuống, ngay lúc đó bạn hãy niệm thầm trong tâm mình “ đang xẹp xuống, đang xẹp xuống…”. Bạn phải tập trung sự chú ý đến “ tiến trình đang phồng lên của bụng” kể từ khi nó bắt đầu phồng lên cho đến khi đã phồng lên hết mức ( tức khi tiến trình dần dần phồng lên của bụng đã hoàn toàn chấm dứt), bạn cần chú ý một cách nghiêm túc, chính xác và đều đặn, đừng để cho tâm trí bị lang thang vô định. Hình dáng bên ngoài của thân thể như đầu, hai chân và hai tay… là những bộ phận không cần chú ý đến, bởi vì chúng chỉ những khái niệm hay thực tại biểu kiến ( Paññati – Concept) . Trong thiền minh sát, chúng ta chỉ thực hành sự chú ý đến thực tại cùng tột hay chân đế

( Paramattha - Ultimate Reality), không cần chú ý đến thực tại biểu kiến.

Tóm tắt: Không cần chú ý đến khái niệm, chỉ cần chú ý đến thực tại cùng tột.

 Khi bụng đang trở nên căng ra và dần dần phồng lên, chúng ta gọi tiến trình này là thực tại cùng tột. Khi bụng đã căng hết mức thì nó sẽ dần dần xẹp xuống theo hơi thở ra, tiến trình dần dần xẹp xuống này cũng được gọi là thực tại cùng tột. Nói đúng hơn, “ tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng” là bản chất của thực tại cùng tột. Nếu trong quá trình thiền tọa, sự chú ý của hành giả chưa được sâu sắc và mạnh mẽ, nghĩa là hành giả đã chú ý một cách hời hợt thì tiến trình phồng lên và xẹp xuống của bụng sẽ không hiện khởi một cách rõ ràng trong tâm thức của anh ta. Năng lực định tâm sẽ phát triển chỉ khi hành giả thực hành sự chú ý đến đối tượng quan sát một cách nghiêm túc, chính xác và đều đặn. Những câu hỏi và những câu trả lời về phương pháp thực hành thiền minh sát do Đức Phật truyền bá ở trên sẽ xác nhận rằng quí vị thính giả đang lắng nghe Giáo pháp đã lãnh hội được phương pháp này một cách hoàn chỉnh và đúng đắn. Do chịu ảnh hưởng của yếu tố chuyển động mà bụng trở nên căng ra và phồng lên. Đây chính là sự nhận biết về “ tiến trình đang dần dần phồng lên của bụng”. Tiếp đến, cũng do yếu tố chuyển động, bụng sẽ dần dần xẹp xuống và đây là sự nhận biết về “ tiến trình đang dần dần xẹp xuống của bụng”. Bạn cần phải chú ý đến

 “ tiến trình đang dần dần phồng lên và xẹp xuống của bụng” trong từng giây từng phút một cách chính xác. Nói cách khác, bạn phải chú ý trong hiện tại khi những tiến trình này đang xảy ra. Nếu sự chú ý của bạn chưa được ổn định và bị đứt quãng khi quan sát “ tiến trình phồng lên và xẹp xuống của bụng”, bạn nên chuyển sang thực hành sự chú ý đến một trong 3 đề mục quan sát sau đây : Tiến trình đang phồng lên của bụng, tiến trình đang xẹp xuống của bụng và tiến trình đang xúc chạm của thân thể. Bạn không cần lưu tâm đến hình dáng bên ngoài của thân thể như đầu, tứ chi…Nói đúng hơn là bạn phải lờ đi như không nhận thấy sự hiện diện của chúng với khả năng có thể. Bạn hãy cố gắng chú ý để nhận biết “ hơi nóng” hay “ độ cứng” phát xuất từ trạng thái xúc chạm của thân thể với sàn tọa. “ Độ cứng” là một yếu tố có thật và “hơi nóng hay cảm giác nóng” là một yếu tố có nhiệt độ. Nếu có thể điều khiển được tâm trí bằng phương pháp thực hành sự chú ý đến một trong 3 đề mục vừa nêu ( tiến trình đang phồng lên của bụng, tiến trình đang xẹp xuống của bụng và tiến trình đang xúc chạm của thân thể) thì bạn cứ duy trì quá trình thực hành thiền theo phương pháp này. Tuy nhiên, nếu tâm trí vẫn còn lang thang vô định thì bạn có thể thực hành sự chú ý đến một trong 4 đề mục quan sát sau đây : Tiến trình đang phồng lên của bụng, tiến trình đang xẹp xuống của bụng, tiến trình đang ngồi, tiến trình đang xúc chạm của thân thể. Khi thực hành thiền với một trong 4 đề mục này, bạn cũng không cần lưu tâm đến hình dáng bên ngoài của thân thể, chỉ cần chú ý để nhận biết được độ cứng của nó khi đang ngồi. “Tiến trình đang ngồi” có nguyên nhân từ “ ý định muốn ngồi”. Lãnh hội được thực tại cùng tột và không lưu tâm đến thực tại biểu kiến ( Paññatti – Conventional Reality) là nhân tố cốt tủy trong thiền minh sát. Hành giả cần nổ lực chú ý đến những gì đang xảy ra trong hiện tại một cách chính xác và đều đặn với hết khả năng có thể để bắt kịp tốc độ chuyển động lên xuống của bụng. Trong thiền minh sát, việc chú ý đến thực tại cùng tột và chú ý một cách chính xác đến những gì đang xảy ra trong hiện tại là 2 nhân tố quan trọng. Một vài hành giả với kiến thức về Phật Pháp vẫn còn hạn chế đã nói rằng, họ mong muốn được thực hành loại thiền minh sát chính cống. Tuy nhiên, khi được hỏi thế nào là thiền minh sát chính cống thì họ không giải thích được. Trong thiền minh sát, đề tài chú ý quan trọng nhất là thực tại cùng tột và dĩ nhiên hành giả cũng không cần lưu tâm đến thực tại biểu kiến bởi vì nó chỉ là khái niệm mà thôi. Thậm chí, cốt tủy của sự chú ý trong thiền minh sát là tất cả những gì đang xảy ra trong hiện tại. Nói cách khác, hãy đặt tâm trí của bạn trong hiện tại và đây là nhân tố tiên quyết, sống còn, quan trọng và cần thiết trong thiền minh sát.

Thiền hành

Có 4 cách để thực hành sự chú ý trong thiền hành, đó là :

1. Chú ý đến một giai đoạn trong một bước chân, ví dụ như khi “ chân trái đang bước về trước” hoặc “ chân phải đang bước về trước”…

2. Chú ý liên tục đến hai giai đoạn trongmột bước chân, ví dụ như khi “ bàn chân đang từ từ dở lên” và “ đặt xuống”…

3. Chú ý liên tục đến ba giai đoạn trong một bước chân, ví dụ như khi “ bàn chân đang từ từ dở lên”, “ bước tới” và “ đặt xuống”…

4. Chú ý liên tục đến sáu giai đoạn trong một bước chân, ví dụ như khi “ bàn chân bắt đầu nhón lên”, “ dở hỏng khỏi mặt đất”, “bước tới”, “ đặt xuống”, “ chạm đất” và “ đè nặng xuống”…

Cách chú ý liên tiếp đến ba giai đoạn trong một bước chân là phương pháp quan trọng nhất trong thiền hành. Khi bàn chân đã dở hỏng khỏi mặt đất, hành giả phải chú ý một cách đều đặn và chính xác để nhận biết được tính nhẹ nhàng trong chuyển động dần dần dở lên của nó. Khi bàn chân đang chuyển động về trước, hành giả phải chú ý để nhận biết được hiện tượng chuyển động này. Khi bàn chân đang đặt xuống, hành giả cũng phải chú ý để nhận biết được chuyển động dần dần đặt xuống của nó. Từ đó, hành giả đã trở nên rất dễ nhận thấy được bản chất của hiện tượng. Tiếp đến hành giả sẽ lãnh hội được thực tại cùng tột mà không cần lưu tâm đến hình dáng bên ngoài của thân thể như đầu và tứ chi… Bạn nên nhớ rằng chú ý để nhận biết thực tại cùng tột là một nhân tố cực kỳ quan trọng trong thiền minh sát.

Thông thường trong lúc thực hành thiền, người ta hay có thói quen chú ý đến hình dáng bên ngoài của thân thể như “ hai cẳng chân của tôi”, “ hai cánh tay của tôi”, “ đầu của tôi”, “ hai cẳng chân của anh ấy”, “ cánh tay của ông ấy”, “ đầu của ông ấy”… Từ thời thượng cổ, do ảnh hưởng của quan điểm sai lầm này, chúng ta đã lầm tưởng khi xử dụng những khái niệm như “ đàn ông”, “ đàn bà”, “ ông T”, “ bà C”, “ tính dễ thương”, “ hình dáng xaaus xí”… và cho rằng những khái niệm này là có thật. Vì vậy, tâm thức của chúng ta đã phát khởi trạng thái bám víu và khao khát cuộc sống. Trạng thái bám víu và khao khát trong tâm thức đã khiến cho chúng ta phải khổ đau trong vô lượng kiếp. Từ đó, thực tại biểu kiến hay khái niệm đã trở thành nguyên nhân của những nổi khổ đau. Nó khiến cho tâm thức của người ta trở nên Vô minh ( Moha- Ignorance, tức bản tính dốt nát và thường suy nghĩ đến những điều hão huyền không có thật – ND). Thực tại cùng tột sẽ dẫn đến hạnh phúc nếu bạn có thể lãnh hội được nó một cách minh bạch.Thực tại cùng tột sẽ là nền tảng của sự tiến bộ trong Phật Pháp. Nhờ tập trung chú ý chính xác và đều đặn, năng lực định tâm của hành giả sẽ trở nên mạnh mẽ, hành giả sẽ nhận thức được “ tính nhẹ nhàng” khi đang dở chân lên, khi đang bước tới. Chú ý một cách thuần túy và khách quan, đồng thời không cần lưu tâm đến hình dáng bên ngoài của bàn chân là cách chú ý đúng đắn. Khi hành giả tập trung chú ý đến chuyển động đang đặt bàn chân xuống của chính mình, anh ta sẽ dễ dàng nhận thức được tính nặng nề trong chuyển động này. Tính nhẹ nhàng là yếu tố chuyển độngsức nóng, tính nặng nề là yếu tố giãn nởkết dính. Khi đã lãnh hội được 4 yếu tố này có nghĩa là hành giả đã có sự tiến bộ trong Phật Pháp. Khi thành công trong việc thực hành quán niệm, hành giả sẽ cảm thấy hạnh phúc, đồng thời cũng cải thiện được năng lực nội quán của chính mình. Điều quan trọng là nhận thức được Giáo Pháp. Đến lúc này, hành giả càng cảm thấy thú vị hơn với việc tham thiền. Trong mỗi sự chú ý, thiền minh sát sẽ dần dần phát triển trong tâm thức của hành giả. Từ đó, sự tiến bộ trong Phật Pháp của hành giả đã phát triển một cách dễ dàng. Để Phật Pháp được phát triển một cách dễ dàng trong tâm thức, bạn cần phải ủng hộ nó bằng những hành động thiện lành, đồng thời cũng phải nổ lực loại bỏ những hành động bất thiện. Hơn nữa, Phật Pháp là rất uyên thâm, sâu sắc và phi thường. Đức Phật đã từng nói rằng thực hành quán niệm một cách mạnh mẽ để phát triển Phật Pháp trong tâm thức sẽ dẫn đến trạng thái thoát khỏi địa ngục. Phật Pháp sẽ không phát triển nếu bạn thực hành sự chú ý một cách hời hợt. Vì lý do này mà việc tìm kiếm một phương pháp thực hành thiền minh sát đúng đắn là nhân tố cực kỳ quan trọng.

Tóm tắt : Tính nhẹ nhàng ẩn chứa trong các hành động là sự biểu hiện của yếu tố chuyển động và sức nóng. Tính nặng nề ẩn chứa trong các hành động là sự biểu hiện của yếu tố giãn nở và kết dính.                          

 Bây giờ, nét nổi bật nhất là bốn yếu tố nguyên thủy ( Màhabbhuta) đã được hành giả nhận thức một cách nhanh chóng. Trước khi thực hành thiền minh sát, bạn đã nghe nói hay tìm đọc về 4 yếu tố này nhưng chưa nhận thức được chúng. Bây giờ, bạn đã tự mình nhận thức được. Như vậy là bạn đã gặt hái được Phật Pháp.

Chú ý một cách tổng hợp

Điều cốt yếu của người thực hành thiền minh sát là nổ lực để đạt tới Đạo quả. Khi bạn thực hiện một hành động hay một chuyển động bất kỳ, ngay trước hành động này, một “ ý định muốn thực hiện” đã có mặt. Ví dụ khi bạn muốn đứng lên thì ngay trước “ chuyển động đứng lên” đã xuất hiện một “ ý định muốn đứng lên”. Nếu quan sát tâm thức của chính mình một cách chăm chú, bạn sẽ nhận thức được “ ý định này”. Ngay khi nhận biết được nó, bạn hãy niệm thầm trong tâm “ đang có ý định đứng lên, đang có ý định đứng lên”. Tiếp đến, bạn sẽ chống tay và đẩy toàn bộ thân thể của mình đứng lên. Khi thân thể đang từ từ chuyển động đứng lên, bạn hãy niệm thầm trong tâm “ đang đứng lên, đang đứng lên”. Hành động đứng lên của thân thể như chúng ta thường gọi chỉ là một hành động có tính qui ước, trạng thái chuyển động đang đứng lên mới chính là thực tại cùng tột hay paramattha. Nếu có khả năng chú ý và bắt kịp được chuyển động đang đứng lên, bạn sẽ nhận thức được tính nhẹ nhàng trong chuyển động này một cách rõ ràng. Sự chú ý đến chuyển động đang đứng lên là thuộc về tâm thức hay tinh thần ( Nāma – Spiritual), hành động đang đứng lên của thân thể không hề có sự nhận thức, vì vậy nó thuộc về vật chất  ( Rūpa- Matterial). Thật ra, sự sống chỉ là một trạng thái tồn tại của tinh thần và vật chất. Các từ ngữ như “ ông T”, “ bà C” hay “ cô X”… chỉ là những khái niệm qui ước được xử dụng nhằm mục đích thuận tiện trong việc xưng hô và tạm phân biệt người này với người khác mà thôi. Sự thật không hề có “ ông T”, “bà C” hay “ cô X”… nào cả.  Tiếp đến, quan điểm sai lầm về tự ngã hay cái tôi và sự bám víu vào 5 uẩn đã bị loại bỏ hoàn toàn. Do đó, một vài cái gốc bất thiện trong tâm thức sẽ bị phá hủy, kể từ khi bạn đạt tới kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất – Nāmarūpa pariccheda Ñāna. Ý định muốn đứng lên là “ nguyên nhân” và chuyển động đứng lên của thân thể là “ kết quả” của ý định này. Đến đây, hành giả đã dễ dàng nhận biết được kiến thức về nhân quả- Paccaya pariggaha Ñāna, cũng như có thể xác định rằng mình đã thật sự gặt hái được 2 trạng thái nội quán nói trên nhờ chú ý đến “ ý định muốn thực hiện hành động đứng lên”. Cũng xin nhắc lại rằng “ ý định muốn thực hiện một hành động bất kỳ” luôn luôn “ xuất hiện ngay trước hành động đó”.

Đối với những người mới tập sự thực hành thiền, năng lực chú ý của họ chưa được mạnh mẽ. Do đó, “ ý định muốn thực hiện một hành động nào đó” sẽ chưa hiện khởi một cách rõ ràng trong tâm thức của họ, mỗi khi họ muốn chú ý đến nó. Tuy nhiên, sau một vài ngày thực hành sự chú ý, họ có thể nhận biết được nó một cách khá dễ dàng. Tương tự, khi chú ý đến “ hành động đang ngồi xuống” một cách chính xác và đều đặn, dần dần bạn sẽ nhận thức được “ ý định muốn ngồi xuống”. Khi đang nhận biết được “ ý định muốn ngồi xuống”, bạn hãy niệm thầm trong tâm mình “ đang có ý định muốn ngồi xuống, đang có ý định muốn ngồi xuống”…Tiếp đến thân thể của bạn sẽ từ từ ngồi xuống, ngay lúc này bạn hãy niệm thầm trong tâm “ đang ngồi xuống, đang ngồi xuống”…Hành động đang ngồi xuống chỉ là một khái niệm qui ước, chuyển động đang ngồi xuống mới chính là thực tại cùng tột.  Nếu nổ lực chú ý đến tiến trình “chuyển động đang ngồi xuống” này một cách chính xác, bạn sẽ nhanh chóng nhận thức được tính nặng nề ẩn chứa trong thân thể của chính mình. “Ý định muốn ngồi xuống” là thuộc về tinh thần và “chuyển động đang ngồi xuống” là thuộc về vật chất”. Tiếp đến, bạn sẽ nhận thức được rằng, sự sống chỉ là một sự phối hợp của tinh thần và vật chất, quan điểm sai lầm về tự ngã và tâm bám víu vào 5 uẩn đã bị loại bỏ hoàn toàn.  Đây chính là kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Ý định muốn ngồi xuống là “nguyên nhân” và hành động ngồi xuống là “ kết quả” của ý định này. Đây chính là kiến thức về nhân quả . Bằng cách chú ý, bạn đã gặt hái được 2 trạng thái nội quán vừa nói. Tâm thức của bạn đã có khả năng phân biệt một cách rõ ràng thế nào là

hành động” và thế nào là “ ý định muốn thực hiện hành động đó”.

Nếu thực hành sự chú ý một cách hời hợt, tâm thức của bạn sẽ không bao giờ phân biệt được như thế. Chúng ta vẫn thường đứng lên, ngồi xuống, bước tới…nhưng chúng ta không nhận thức được bản chất của những hành động này. Do đó, phương pháp chú ý của Đức Phật là phương pháp tốt nhất để làm chủ tâm trí. Một hành giả đã gặt hái được kiến thức về nhân quả sẽ cảm thấy rất thỏa mãn khi có khả năng phân biệt được sự khác nhau giữa nguyên nhân và kết quả, đồng thời anh ta cũng đã tạo ra được cho mình một chỗ đứng vững chắc trong Giáo Pháp của Đức Phật. Bây giờ anh ta đã là một Tiểu- Tu-Đà-Hườn ( Sula Sotāpaññā – Junior Stream Winner). Tiểu-Tu-Đà-Hườn là người đã có được một niềm tin đúng đắn. Anh ta không còn quan tâm đến những niềm tin lầm lạc như :  Không có nguyên nhân thiện lành và bất thiện, sự việc tốt xấu là do ngẫu nhiên mà có, không có kiếp sau… Những bậc thầy chú giải về Kinh Điển đã nhấn mạnh rằng mỗi khi đã thoát khỏi vòng ảnh hưởng của những niềm tin lầm lạc, người ta sẽ không còn bị tái sanh vào địa ngục. Bằng hạnh làm chủ tâm trí, hành giả sẽ nhận thức được một cách rõ ràng rằng :  Nguyên nhân tốt sẽ dẫn đến kết quả tốt, nguyên nhân xấu sẽ dẫn đến kết quả xấu. Từ đó, nếu mỗi khi có những khao khát bất thiện khởi lên, tâm trí của hành giả sẽ tự động chú ý đến những khao khát này và xóa tan chúng đi. Bây giờ niềm tin lầm lạc như là một cái gốc bất thiện trong tiềm thức đã không còn khả năng gây nguy hiểm cho hành giả nữa. Tuy nhiên, hành giả còn phải tiếp tục phá hủy thêm 9 cái gốc bất thiện nữa. Bằng phương pháp chú ý của Đức Phật, bạn có thể phá hủy những cái gốc bất thiện trong tiềm thức của chính bạn. Những cái gốc bất thiện đó được ví như là gốc của những cây độc. Nếu ngọn và cành nhánh của cây độc sẽ bị cắt đứt bởi sự giữ Giới, thiền định đã cắt đứt được thân của nó. Tuy nhiên, nếu gốc của cây độc chưa bị phá hủy thì nó sẽ thịnh vượng trở lại và tạo nên nhiều mối nguy hiểm cho con người. Tương tự, nếu chưa loại bỏ được những cái gốc bất thiện trong tiềm thức bằng thiền minh sát, thì rõ ràng chúng ta sẽ không bao giờ thoát khỏi những nổi khổ đau. Một thời khi Đức Phật đang trú tại tu viện Trúc-Lâm ở thành Vương-Xá. Ngày nọ, Ngài mang bát đi khất thực, khi vừa đến cổng thành Ngài đã trông thấy một con lợn cái đang đứng ở đó. Trong nháy mắt sau đó, Đức Phật bổng nhiên mĩm cười. Tôn giả A-Nan-Đà bèn cung kính thỉnh cầu Đức Phật nói cho mình biết vì sao Ngài lại mĩm cười. Vì vậy, Đức Phật đã thuật lại câu chuyện về con lợn cái nói trên. “Trong kiếp sống quá khứ của nó, con lợn cái này là một vị Bà-La-Môn. Những Tỳ-kheo đã cảm thấy sốc và khiếp đảm khi hay rằng một vị Bà-La-Môn mà cũng bị tái sanh làm thú vật. Nhân cơ hội này, Đức Phật đã thuyết một bài Pháp. Vào thời Đức Phật Kakusan còn tại thế, con lợn cái này là một con gà mái sống gần một tu viện trong rừng. Khi đang ăn những mẫu thức ăn bị rơi vãi trên mặt đất, con gà mái này tình cờ nghe thấy tiếng tụng Kinh của các Tỳ-kheo. Mặc dù không hiểu tiếng tụng Kinh đó là gì cả. Tuy nhiên, nó vẫn cảm thấy hài lòng và hạnh phúc. Một ngày kia, khi đang lắng nghe các Tỳ-kheo tụng Kinh, con gà mái lăn ra chết và tái sanh thành công chúa Upari. Tiếp đến, công chúa Upari xuất gia và trở thành một Tu nữ có Giới hạnh. Nhờ vậy, bà đã cắt đứt được ngọn của cây độc được ví như những thứ ô nhiễm trong tâm thức. Một ngày nọ, khi trông thấy những con giòi trong nhà xí, bằng cách thiền định bà đã cắt đứt được “thân cây độc”. Do đó, Upari đã đạt tới an chỉ định ( Appanāsamādhi) và khi chết đi bà đã tái sanh vào cõi Phạm Thiên. Tiếp đến, Upari lại tái sanh làm con gái của một phú ông. Do được nuông chiều từ lúc mới sanh ra, người con gái nọ đã thực hiện nhiều hành động bất thiện. Sau khi chết đi, cô ta phải tái sanh làm con lợn cái đứng trước cổng thành Vương-Xá mà các ông đang nhìn thấy đó”. Sau khi nghe Đức Phật kể câu chuyện về con lợn cái, những vị Tỳ-kheo đã cảm thấy vô cùng khiếp đảm và xót thương. Đó là lý do tại sao một vị Bà-La-Môn cao thượng vẫn có thể bị tái sanh làm một con lợn cái. Công chúa Upari sau khi trở thành một Tu nữ, bà đã cắt đứt được ngọn và thân của cây độc bằng cách giữ Giới và thiền định. Tuy nhiên, bà chưa xử dụng thiền minh sát để phá hủy gốc của cây độc.  Kết quả cuối cùng của sự thiếu sót đó đã xảy ra như chúng ta vừa mới biết được.

Tóm tắt: Do chưa phá hủy được những thứ ô nhiễm tiềm tàng trong ký ức, công chúa Upari đã bị tái sanh làm một con lợn cái.

Đức Giáo Chủ đã thuyết một bài Pháp khác nhằm mục đích động viên, thúc giục các Tỳ-kheo hãy tinh tấn tu hành để gặt hái được Giáo Pháp. Ngài nói : “ Hỡi các con của ta ! Nếu ngọn, cành nhánh và thân của một cây độc đã bị cắt đứt nhưng gốc của nó chưa bị phá hủy, nó sẽ phát triển trở lại nếu có đủ nước và không khí. Tương tự, những hành động bất thiện thuộc về thân xác và lời nói được ví như ngọn và cành nhánh của cây độc phải được loại bỏ bằng cách giữ Giới. Những khao khát bất thiện hay lập đi lập lại trong tâm thức được ví như thân của một cây độc phải được loại bỏ bằng thiền định. Tuy nhiên, nếu những thứ ô nhiễm tiềm tàng trong ký ức được ví như gốc của cây độc chưa bị phá hủy bởi thiền minh sát và con đường trí tuệ thì trong những kiếp sống kế tiếp, nhất định chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiều loại nổi khổ đau đa dạng khác như : Tái sanh, trạng thái tan hoại của thân xác, bệnh tật, cái chết, buồn khổ, than khóc…” Sau khi lắng nghe Đức Phật thuyết Pháp, những vị Tỳ-kheo đã ra sức thực hành thiền minh sát và gặt hái được Đạo trí tuệ, hoàn toàn loại bỏ được những thứ ô nhiễm tiềm tàng trong ký ức giống như việc phá hủy được gốc của cây độc. Sau đó, những vị Tỳ-kheo nói trên đã trở thành Tu-Đà-Hườn và những bậc cao thượng. Họ đã không còn bị tái sanh vào địa ngục nữa.

Tóm tắtNếu chỉ cắt đứt ngọn, cành nhánh và thân của cây độc nhưng không phá hủy gốc của nó thì nó sẽ phát triển trở lại. Nếu không loại bỏ được những thứ ô nhiễm tiềm tàng trong ký ức thì chúng ta sẽ bị tái sanh vào những cảnh giới khổ đau. Khi những ô nhiễm tiềm tàng trong ký ức đã bị loại bỏ thì rõ ràng chúng ta sẽ được giải phóng khỏi những nổi khổ đau. Nếu muốn loại bỏ những thứ ô nhiễm tiềm tàng trong ký ức, chúng ta cần phải phát triển một năng lực chú ý đều đặn, mạnh mẽ và chính xác.

Sau khi lắng nghe thuyết Pháp về Tứ Chánh Cần, phương pháp phá hủy ngọn, cành nhánh và gốc của cây độc như đã được giải thích trong Kinh Padhāna, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành theo những lời giáo huấn của Đức Phật. Với sự siêng năng, cần mẫn trong thực hành quán niệm, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ nhanh chóng nhận thức được Niết Bàn mong muốn, đoạn tận mọi khổ đau bằng cách thực hành thiền minh sát với một tâm thức thanh thản và thoải mái. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !

                

                                          Hạnh phúc và lạc thọ

 

Bài thuyết Pháp hôm nay được trích dẫn từSukha Somanassa Sutta.

Từ sukha có nghĩa là hạnh phúc, từ somanassa có nghĩa là cảm giác dễ chịu và từ sutta có nghĩa làKinh, sự giải thích hay giảng giải. Trong Kinh này, Đức Phật đã giải thích thế nào là hạnh phúc và lạc thọ ngay trong kiếp sống hiện tại này. Nếu một Tỳ-kheo ( hay một người nào đó đang nổ lực vượt thoát khỏi khổ đau) có thể tích lũy được 6 nhân tố dưới đây thì vị ấy sẽ được hạnh phúc và vui sướng trong kiếp sống hiện tại. Nếu tiếp tục thực hành Phật Pháp thì vị ấy sẽ gặt hái được quả vị A-La-Hán, một trạng thái tâm luôn luôn trực chỉ về phía Niết-Bàn nhằm mục đích thoát khỏi mọi thứ khổ đau. Bài thuyết Pháp hôm nay rất thích hợp với quí vị đang lắng nghe Giáo Pháp. Sáu nhân tố cần phải tích lũy là :

1. Hạnh phúc trong Giáo Pháp

2. Hạnh phúc trong tham thiền

3. Hạnh phúc trong việc loại bỏ những pháp bất thiện

4. Hạnh phúc tại nơi tĩnh mịch

5.Hạnh phúc tại nơi vắng bóng những khổ đau

6. Hạnh phúc vì thoát khỏi những pháp ràng buộc trong luân hồi

Hạnh phúc trong Giáo Pháp

Có nhiều cách để gặt hái hạnh phúc như : Lập gia đình và có con cái, chơi và nghe âm nhạc, khiêu vũ, hội họa…Một vài người khác lại tìm hạnh phúc qua việc săn sóc các loài vật nuôi. Tôi đã từng gặp một người phụ nữ suốt ngày chỉ vui đùa với con chó kiểng của bà. Các vị hoàng đế thì tìm hạnh phúc trong việc sở hữu châu báu ngọc ngà, các tòa lâu đài tráng lệ, cung tần mỹ nữ, voi và ngựa quí…Tất cả những thứ hạnh phúc đó đều dẫn đến luân hồi khổ đau. Do đó, chúng là nguyên nhân của tuổi già, bệnh tật, khổ đau và cái chết. Tuy nhiên, hạnh phúc trong Giáo Pháp thì không thế, loại hạnh phúc này làm cho người ta được vui sướng trong kiếp sống hiện tại và sẽ dẫn đến Niết-Bàn trong kiếp sống kế tiếp. Trong tất cả những loại hạnh phúc, hạnh phúc trong Giáo Pháp là cao thượng nhất bởi vì nó giúp cho người ta đạt tới Niết-Bàn và vượt thoát khỏi luân hồi khổ đau. Hiển nhiên việc thực hành thiền minh sát, đọc tụng Kinh Kệ và giảng dạy Tam Tạng Kinh Điển là quan tâm đến hạnh phúc trong Giáo Pháp. Những vị Pháp sư trong Phật Giáo sẽ cảm thấy một ngày sống của họ không được trọn vẹn nếu ngày đó họ không thuyết Pháp cho người khác nghe. Những Tỳ-kheo tân học sẽ cảm thấy bất hạnh nếu họ không thể nghiên cứu Kinh Kệ. Đó là cách mà những vị Tỳ-kheo tìm kiếm hạnh phúc trong Giáo Pháp. Thậm chí, có một số người rơi cả nước mắt khi đang tụng đọc các loại Kinh Kệ. Nước mắt ở đây là thứ nước mắt mát mẻ do có được niềm  hạnh phúc trong Giáo Pháp.Một hành giả đã đạt tới trạng thái hiểu biết về tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng ( Udayabbaya Ñāna) thực hành thiền tại một nơi hẻo lánh và lãnh hội được bản chất của tiến trình khởi lên, tan biến đi của tinh thần và vật chất. Do đó, hoan hỷ minh sát ( Vipassanā Pīti) đã phát triển trong tâm thức của hành giả này và làm cho anh ta được hạnh phúc. Đức Phật đã từng nhấn mạnh rằng sống cô đơn một mình trong thế giới trần tục này là một kiểu hạnh phúc mà Chư Thiên cũng không thể tận hưởng được. Một hành giả với sự hiểu biết mạnh mẽ về tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng sẽ luôn luôn nhớ về những trải nghiệm tương tự mà anh ta đã từng kinh qua. Nói cách khác, hành giả này đã nhận thức được rằng, nói cho cùng thì tất cả những hiện tượng, sự vật trong cuộc sống này cũng đều có cùng một bản chất mà thôi, chúng đến rồi đi, chẳng có gì đáng để tranh đua, quyến luyến và bám víu…Khi trí tuệ hiểu biết về sự khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng đã chín muồi trong tâm thức của một hành giả nào đó, sau khi đã trải nghiệm được hạnh phúc, có thể anh ta sẽ la lên : “ Được làm người trong kiếp sống này là một cơ hội lớn. Tôi quả quyết như vậy, tôi sẽ đạt tới Niết-Bàn với sự nhận thức này”. Như một sự thật, hành giả nói trên đã tận hưởng được hạnh phúc vô biên trong Giáo Pháp. Đức Phật đã từng nói rằng đây là loại hạnh phúc mở đường cho việc dẫn đến Niết-Bàn. Mặc dù là nguyên nhân dẫn đến Niết-Bàn, hạnh phúc trong Giáo Pháp cũng được xem như là một kết quả gặt hái được qua quá trình tu tập. Nói cách khác, Đức Giáo Chủ có ý muốn nói rằng người đã có được hạnh phúc trong Giáo Pháp thì một ngày nào đó, chắc chắn người này sẽ đạt tới Niết Bàn.

Hạnh phúc trong tham thiền

Có hai cách tham thiền, đó là : Thiền định ( Samātha Bhāvanā – Tranquil meditation) và thiền minh sát ( Vipassanā Bhāvanā- Insight meditation). Thiền định xua tan những chướng ngại tinh thần ( Nivarana – Hindrance) và dẫn đến hạnh phúc ngay trong kiếp sống này. Trong khi đó thiền minh sát dẫn dắt chúng ta đến với Niết-Bàn và vượt thoát khỏi tất cả những nổi khổ đau. Con người ta được hạnh phúc là do những hành động phước báu mà họ đã từng thực hiện trong quá khứ. Thông thường những hành động phước báu đó được thể hiện qua việc bố thí và từ thiện, không tham lam bòn xẻn mà hào phóng và nhân hậu. Để gặt hái được phước báu và tận hưởng hạnh phúc, người ta cũng thường tham gia đóng góp và xây dựng các ngôi chùa, tu viện, dâng cúng trong các buổi lễ truyền Giới… Người ta thường thực hiện những hành động phước báu nói trên nhằm mục đích phát triển tâm từ, giữ Giới, giúp đỡ người già và những người tàn tật, hộ trì các Tỳ-kheo và những hành giả thực hành thiền minh sát…Không mang tâm sân hận tức là đã có tâm từ hay lòng thương yêu tử tế ( Mettā – Loving Kindness) đối với muôn loài. Người có tâm từ là người luôn luôn mong muốn hạnh phúc cho chính bản thân mình và những người khác, nghiêm trì Giới luật và không phá Giới.

Có một số người đã tìm được hạnh phúc trong việc giữ Giới và bố thí nhưng họ vẫn chưa được hạnh phúc trong thiền minh sát. Tuy nhiên, có một số người khác chỉ thích thú và cảm thấy hạnh phúc với việc thực hành thiền minh sát, họ nhắm đến mục đích phát triển trí tuệ và loại bỏ vô minh. Bố thí và giữ Giới là những nhân tố ủng hộ và giúp cho người ta đạt tới hạnh phúc trong cõi người cao thượng và cõi Chư Thiên. Thiền định có thể đưa người ta đến với cõi trời Phạm-Thiên. Trong khi đó, thiền minh sát là con đường duy nhất đưa chúng ta đến với cõi Niết Bàn. Ngay bây giờ đây, những người đang lắng nghe Giáo Pháp có thể tự do lựa chọn con đường và mục đích tu tập của chính mình. Mặc dù một người nào đó có thể đạt tới cõi trời Phạm- Thiên, nhưng nếu không thực hành thiền minh sát thì trong kiếp sống kế tiếp, khi đã sống hết kiếp ở cõi trời đó người này vẫn có thể bị đọa xuống địa ngục. “ Ánh sáng tại cõi trời Phạm Thiên cũng chỉ là tiếng ủn ỉn nơi chuồng lợn bẩn thỉu”. Đó là lý do tại sao thiền định cũng chưa chắc dẫn đưa chúng ta đến với cõi Niết-Bàn. Hạnh phúc ở cõi trời và cõi người không phải là thứ hạnh phúc vĩnh cửu mà chỉ là nhất thời. Duy chỉ có Niết-Bàn là có thể tận diệt được khổ đau một cách vĩnh viễn. Những người thực hành thiền cần phải hiểu rõ sự khác nhau giữa thiền định và thiền minh sát. Nhờ đó, họ sẽ hăng hái thực hành thiền minh sát. Những người mới khởi sự thực hành thiền minh sát có thể sẽ phải chạm trán với những cảm giác khổ đau. Tuy nhiên, sau đó họ sẽ được hạnh phúc nếu cứ tiếp tục kiên trì tập luyện. Lúc ban đầu khi mới khởi sự tập luyện, do bị đau, nhức, tê cóng…hành giả có thể trở nên chán nản. Do đó, các bậc Trưởng Thượng đã thường xuyên phát biểu hay thuyết Pháp về sự lợi ích của thiền minh sát. Đức Phật đã từng nói rằng “ không còn nghi ngờ gì nữa, những khoái lạc trần tục cuối cùng sẽ chấm dứt với khổ đau, nếu không phải trong kiếp sống hiện tại này thì cũng trong những kiếp sống ở tương lai. Đó chính là khổ đau ở địa ngục”.

Lợi ích cao nhất đến từ thiền định là an chỉ định ( Appanāsamādhi – Jhāna absorption). Trong khi đó, thiền minh sát có thể giúp cho chúng ta đạt tới cõi Niết-Bàn. Trong trạng thái nội quán mà tâm thức có thể phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất ( Ñāma-Rūpa pariccheda Ñāna), hành giả sẽ trải nghiệm được phạm vi của khổ thọ. Lúc đó, tối thiểu trong một giờ đồng hồ liên tiếp, hành giả cần phải giữ cho thân thể của mình yên lặng, không cử động, đồng thời cũng phải điều khiển được tâm trí để nó không bị lang thang vô định, đặc biệt khi năng lực chú ý của hành giả vẫn chưa đủ mạnh để nhận biết được bản chất của khổ thọ. Đối với trạng thái nội quán mà tâm thức nhận biết được nguyên lý nhân quả ( Paccayaparigghaha Ñāna) cũng vậy, hành giả phải điều khiển được thân tâm của mình theo cách vừa nói. Tuy nhiên, trong trạng thái tâm thức lãnh hội ( Sammasana Ñāna), tức lãnh hội được tính vô thường, khổ và vô ngã của mọi hiện tượng, hành giả sẽ trải nghiệm những cảm giác tồi tệ nhất như đau, nhức, tê cóng, chóng mặt choáng váng, trạng thái thân thể bị đong đưa qua lại như đánh võng…

Lúc đó, hành giả cũng không hiểu rõ những gì mà mình đang trải nghiệm. Tuy nhiên, khoảng 10 ngày sau thì những cảm giác tồi tệ đó sẽ biến mất.

Khi bị đau, nhức, tê cóng…như vậy, hành giả rất dễ sanh tâm chán nản và muốn trở về nhà, bởi vì nghĩ rằng mình không gặt hái được Phật Pháp. Những hành giả thực hành thiền minh sát cần phải có được những kiến thức vừa nói ở trên và chuẩn bị cho mình một tâm lý thích hợp. Khi chưa có kiến thức về Phật Pháp, hành giả sẽ không hiểu rõ sự biểu thị của khổ đau. Mặt khác, hành giả cần phải quán niệm để nhận biết được bản chất của những cảm giác khó chịu một cách rõ ràng, lấy chúng làm đối tượng để thực hành sự chú ý. Đức Phật cũng đã từng nhắc nhở chúng ta cần phải thực hành quán niệm trên cảm thọ ( tức cảm giác - Vedanā) nói chung bởi vì hiểu được bản chất của những cảm thọ tức là đã gặt hái được Phật Pháp. Nếu nghĩ rằng mình không gặt hái được Phật Pháp, hành giả sẽ thực hành thiền một cách miễn cưỡng. Khi kiến thức về sự khởi lên và tan biến đi của vạn vật

( Udayabbaya Ñāna) đã chín muồi trong tâm thức, hành giả sẽ trải nghiệm được hạnh phúc và không còn đau, nhức, tê cóng, chóng mặt…nữa. Đối với trạng thái tâm thức lãnh hội ( Sammasana Ñāna), các vị thiền sư thường khuyên những hành giả rằng : “ Quí vị sẽ ngày càng giảm bớt được những cảm giác đau đớn và cảm thấy dễ chịu trong những trạng thái nội quán kế tiếp”. Lời khuyên đó không chỉ có tính an ủi cho họ mà còn đúng với sự thật. Nếu những hành giả thực hành sự chú ý một cách nghiêm túc, chính xác và đều đặn, sau một thời gian ngắn, chắc chắn họ sẽ có sự tiến bộ trong thiền tập. Một vài hành giả phàn nàn rằng : “ Tôi thực hành thiền minh sát để gặt hái hạnh phúc, tuy nhiên tất cả toàn chỉ là đau đớn, khổ sở muốn chết”. Trong quá trình tu tập, khi một hành giả nào đó cảm thấy đau khổ bao nhiêu thì hành giả này cần phải nổ lực bấy nhiêu để thực hành sự chú ý một cách liên tục, thay vì để cho năng lực chú ý của mình bị gián đoạn và tản mác đó đây. Nhờ vậy, việc thực hành thiền của hành giả sẽ tiến bộ một cách nhanh chóng. Nếu sự chú ý của hành giả bị gián đoạn và tản mắc đó đây, hành giả hãy lập tức trở lại thực hành sự chú ý trên những đề mục căn bản, tức chú ý đến tiến trình phồng xẹp lên xuống của bụng. Lúc đang thiền tọa, tuyệt đối hành giả không nên có ý nghĩ cầu mong sự tiến bộ trong Phật Pháp, thậm chí đã thực hành thiền được hàng tháng trời. Hành giả phải thực hành thiền với quyết tâm cao nhất, thậm chí không màn đến thân xác và cuộc sống của chính mình.

Tóm tắt: Thực hành thiền với quyết tâm cao nhất, thậm chí không màn đến thân xác và cuộc sống của chính mình.

Tất nhiên bạn sẽ không thể chết được nếu thực hành thiền một cách siêng năng cần mẫn với năng lực cao nhất của thân tâm. Do đó, chắc chắn bạn sẽ đạt tới Niết-Bàn. Nếu sự chú ý của bạn có thể vượt qua được những cảm giác khó chịu một cách rõ ràng thì chắc chắn bạn sẽ gặt hái được Phật Pháp.

Tóm tắt: Khi thực hành quán niệm, bạn phải có khả năng vượt qua những sự đau đớn khó chịu.

Một thời gian không lâu sau khi thiền tọa, hành giả sẽ trải nghiệm cảm giác đau, nhức, tê cóng, chóng mặt choáng váng, thân mình bị đong đưa như đánh võng, nặng nề…Cảm giác đau nhức có thể lan tỏa tới xương tủy hay hệ thống thần kinh của hành giả. Khi năng lực tập trung tâm ý của hành giả đã phát triển thì cảm giác đau nhức sẽ càng gia tăng hơn. Đây là một sự thật chắc chắn sẽ xảy ra. Tuy nhiên, sau nhiều ngày thực hành thiền một cách kiên nhẫn và chịu đựng, cảm giác đau nhức sẽ giảm dần và hành giả sẽ gặt hái được tiến bộ trong Phật Pháp. Có một số hành giả chỉ cần thực hành thiền trong vòng một ngày một đêm là đã có thể vượt qua được những cảm giác đau nhức khó chịu nói trên. Ngược với trạng thái tâm thức lãnh hội ( Sammasana Ñāna), trong trạng thái nội quán mà tâm thức nhận biết được tiến trình khởi lên và tan biến đi của vạn hữu ( Udayabbaya Ñāna), cảm giác đau nhức đã không còn xuất hiện một cách rõ ràng. Lúc đó, hành giả sẽ cảm thấy thân tâm của chính mình đã trở nên nhẹ nhàng một cách rõ rệt. Có hành giả đã nhận biết được trạng thái khởi lên và tan biến đi của vạn hữu phát biểu rằng : “ Mặc dù thân thể của tôi bị đong đưa như đánh võng nhưng tôi cảm thấy nó nhẹ hẳn đi như thể được bơm thêm không khí, lúc đó thân thể của tôi nhẹ như chiếc lá vậy”. Trong trạng thái tâm thức lãnh hội ( tức lãnh hội được tam tướng vô thường, khổ và vô ngã của mọi hiện tượng), hành giả sẽ cảm thấy thân xác của mình rất nặng nề. Trong trạng thái tâm thức lãnh hội cũng như trạng thái tâm thức nhận biết được tiến trình khởi lên và tan biến đi của vạn hữu, thân thể của hành giả đều có hiện tượng đong đưa như đánh võng. Tuy nhiên, cảm giác trải nghiệm trong từng trạng thái nội quán này thì khác nhau. Trong trạng thái tâm thức nhận biết được tiến trình khởi lên và tan biến đi của vạn hữu, hành giả cảm thấy rất hạnh phúc khi thân thể của chính mình bổng trở nên nhẹ nhàng một cách rõ rệt. Tuy nhiên, đây chính là một chướng ngại cản trở sự phát triển Phật Pháp trong tâm hành giả.

Các vị thiền sư thường nhắc nhở các hành giả nên chú ý đến “ hiện tượng nhẹ nhàng và đong đưa như đánh võng của thân thể mình”, không nên phát triển xu hướng tâm bám víu vào hiện tượng này, bởi vì nó là một chướng ngại cản trở sự phát triển của Phật Pháp. Đến một lúc nào đó, hành giả chắc chắn sẽ trải nghiệm được hiện tượng nhẹ nhàng và huyền ảo của thân tâm. Các vị thiền sư luôn luôn lắng nghe sự trình Pháp của những hành giả để giúp họ có được cách xử lý thích hợp trong quá trình tu tập, ví dụ như các Ngài sẽ khuyên họ hãy bình tĩnh và thoải mái để tiếp tục thực hành thiền hoặc khuyên họ nên chuyển sang thiền hành một thời gian để điều hòa tâm lý… khi trải nghiệm hiện tượng nhẹ nhàng và huyền ảo của thân tâm. Nhờ đó, hành giả sẽ có khả năng cải thiện được tiến trình tu tập của chính mình, vượt qua được trạng thái tâm thức lãnh hội và trạng thái nội quán mà tâm thức nhận biết được tiến trình khởi lên và tan biến đi của vạn hữu. Tiếp đến, sau một vài ngày thực hành thiền, khi trình Pháp cho thiền sư, nếu hành giả nói rằng mình vẫn còn thấy đau nhức thì chắc chắn hành giả này chưa vượt qua được trạng thái tâm thức lãnh hội ( Sammasana Ñāna) và chưa tiến bộ thêm được chút nào cả trong tiến trình tu tập. Khi thân tâm của hành giả đã trở nên mềm mại, dễ điều khiển và uốn nắn, anh ta sẽ có khả năng trình Pháp với thiền sư một cách vi tế, chính xác và súc tích. Khi thân tâm đã trở nên dễ điều khiển, hành giả sẽ không còn có thói quen thay đổi tư thế khi thực hành thiền. Những người trước đây hay có thói quen thay đổi tư thế khi thực hành thiền từ 3 đến 4 lần trong một giờ đồng hồ nay đã không còn như thế nữa. Xa hơn nữa, họ có thể thiền tọa liên tục không nhúc nhích động đậy trong một giờ liền, thậm chí là 2, 3 hay 4 giờ liền. Ở trình độ thực hành thiền này, thân tâm của hành giả đã trở nên thông suốt và thuần thục. Khi có một đối tượng nào đó khởi lên trong tâm thức, hành giả không cần điều khiển thân tâm của mình để nhận biết đối tượng, sự chú ý của hành giả sẽ tự động hướng đến đối tượng đó theo cách riêng của nó. Ở trình độ này, hành giả sẽ cảm thấy thân tâm của chính mình rất trầm tĩnh và yên bình. Thân thể của hành giả sẽ tĩnh lặng, thẳng đứng và cứng đờ như một con búp bê. Tuy nhiên, sự nhận thức của hành giả vẫn tiếp tục hoạt động một cách tự nhiên, năng lực chú ý sẽ vận hành một cách tự động. Hành giả sẽ cảm thấy vô cùng hạnh phúc trong thân tâm, một niềm hạnh phúc vô bờ bến mà không phải ai cũng có được. Trong giai đoạn mới khởi sự thực hành thiền, hành giả phải trải qua những cảm giác đau nhức khó chịu. Tuy nhiên trong giai đoạn giữa, chắc chắn anh ta sẽ tìm thấy hạnh phúc. Vì vậy, hành giả đã có được hạnh phúc trong thiền minh sát. Hạnh phúc do thiền định mang lại chỉ tồn tại trong một kiếp sống và chưa đáng tin cho lắm. Thiền minh sát là một loại thiền đáng tin cậy, chúng ta nên tìm hạnh phúc trong loại thiền ưu việt này.

Hạnh phúc trong sự loại bỏ những pháp bất thiện

Một người có đức hạnh thường không muốn giao thiệp với những người vô đạo đức. Người này cũng không muốn nghe nói đến những hành động bất thiện. Thực hành thiền tại một trung tâm là cách thức để loại bỏ những suy nghĩ hão huyền hay tâmvọng tưởng ( Moha – Delusion), tham lam

( Lobha- Greed), sân hận ( Dosa-Anger) là những nền tảng tạo nên các pháp bất thiện. Khi có sự nhận thức bất thiện như tham lam và bám víu khởi lên, chúng phải được loại bỏ bằng cách quán niệm sự nhờm gớm của tử thi

( Asubha Kammatthāna ), tâm sân hận có thể loại bỏ bằng cách quán tâm từ ( Mettā Bhāvanā). Thực hành thiền minh sát là cách thức tốt nhất để loại bỏ vô minh.

Tóm tắt: Tâm tham lam phải được loại bỏ bằng cách quán niệm sự nhờm gớm của tử thi hay tính ô trược của thân xác ( Asuba).

Khi ham muốn khởi lên trong tâm thức, bạn cần lãnh hội được tính ô trược hay không được tinh khiết của thân xác. Trạng thái bám víu vào chính mình hay những người khác sẽ không bao giờ khởi lên trong tâm thức khi bạn thực hành quán niệm trên những đề mục không tinh khiết.

Tóm tắt: Khi sân hận khởi lên nó phải được loại bỏ bằng cách quán tâm từ.

 Tâm từ và sân hận là phản đề của nhau. Ngay khi bạn đang quán niệm tâm từ thì sân hận sẽ biến mất. Vì vậy, mỗi khi sân hận khởi lên trong tâm thức thì bạn hãy thực hành quán tâm từ.

Tóm tắt: Khi vọng tưởng khởi lên nó phải được loại bỏ bằng thiền minh sát

Khi vọng tưởng khởi lên trong tâm thức, người ta sẽ bị đánh lừa và không phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Vọng tưởng phải được loại bỏ bằng trí tuệ gặt hái được từ việc thực hành thiền minh sát. Vì vậy để loại bỏ vọng tưởng, chúng ta phải thực hành thiền minh sát.

Hạnh phúc nơi tĩnh mịch

Để tận hưởng hạnh phúc và những cảm giác dễ chịu ngay trong chính cuộc sống này, đạt tới Niết Bàn trong những kiếp sống kế tiếp, chúng ta nên trú ngụ tại những nơi tĩnh mịch. Nếu bạn muốn thoát khỏi những thứ ô nhiễm

(Āsavo dhamma hay Kilesa dhamma – Defilement) thì hãy tìm đến những nơi tĩnh mịch để thực hành thiền. Khi trú ngụ tại một trung tâm thiền yên tĩnh để tránh xa những cảm giác dễ chịu hoặc khó chịu mà giác quan thu nhận được từ các hình ảnh, tiếng động, mùi, vị, âm nhạc, khiêu vũ…liệu chúng ta có được hạnh phúc hay không ? Sống tại một trung tâm thiền yên tĩnh cũng tương tự như sống tại một nơi tĩnh mịch. Bạn có thể hiểu được một cách rõ ràng thế nào là hạnh phúc khi thực hành thiền tại một trung tâm thiền bình yên và tĩnh lặng. Có 3 loại ẩn dật (Viveka – Seclusion):  

1. Ẩn dật thân xác ( Kāya viveka – Physical seclusion)

2. Ẩn dật tinh thần ( Citta viveka – Mental seclusion)

3. Ẩn dật hoàn toàn ( Upadhi viveka – Utter seclusion)

Ẩn dật thân xác

Hành giả sẽ tìm đến một trung tâm thiền, xa rời gia đình, bà con, bạn bè và công việc làm ăn, buôn bán kinh doanh… Khi bạn không còn lo nghĩ về những việc vừa nói thì các chuyển động và cung cách cư xử của bạn sẽ trở nên hòa nhã và trầm tĩnh. Đặc biệt khi bạn thực hành thiền trong rừng, xa rời cuộc sống náo loạn, xô bồ. Khi tiếp xúc với gia đình, bà con, bạn bè… bạn phải quan tâm đến họ. Ví dụ khi nói hay làm một điều gì, bạn phải lo nghĩ rằng liệu điều ấy có làm vừa lòng những người khác hay không, điều ấy có làm cho những người khác phật ý hay không…Nếu muốn ẩn dật thân xác, bạn phải thực hành thiền ở trong rừng.

Ẩn dật tinh thần

Theo Kinh điển, sự ẩn dật tinh thần có thể giúp chúng ta đạt tới tầng thiền an chỉ định ( Appanāsamādhi – Jhāna absorption). Những người thực hành thiền định nhằm mục đích gặt hái an chỉ định bằng cách trục xuất những chướng ngại tinh thần ( Nivarana-Hindrance) như tham lam, sân hận, vọng tưởng, tính tự cao tự đại… Nhờ vậy, tâm trí của họ sẽ trở nên trầm tĩnh và trong sáng. Đó là sự ẩn dật tinh thần. Hạnh phúc đến từ sự ẩn dật tinh thần cao cấp hơn hạnh phúc đến từ sự ẩn dật thân xác. Cũng giống như quá trình thực hành thiền minh sát, trong giai đoạn đầu lúc mới khởi sự ẩn dật tinh thần trong một trung tâm thiền, chúng ta chưa gặt hái được những lợi ích đến từ cách tu tập này. Sau một vài ngày thực hành, tâm trí của hành giả sẽ không còn lang thang vô định, năng lực chú ý của tâm trí hành giả sẽ được thiết lập trên đối tượng quan sát một cách chính xác. Với năng lực tập trung tâm ý thuần thục, hành giả đã có thể chú ý một cách liên tục. Do đó, tham lam, sân hận và vọng tưởng sẽ không có cơ hội khởi lên. Trạng thái tiêu hủy của tham lam, sân hận và vọng tưởng là ẩn dật tinh thần. Với sự ẩn dật tinh thần, hành giả sẽ vượt qua trạng thái nội quán nhận biết được tiến trình khởi lên và tan biến đi của vạn hữu mà mình đã gặt hái được một cách sống động.

Những người thực hành thiền định và thiền minh sát sẽ có được sự ẩn dật thân xác khi họ rời bỏ xa đình và đến trú tại một trung tâm thiền. Những người thực hành thiền định sẽ có được sự ẩn dật tinh thần khi họ đạt tới tầng thiền an chỉ định.Trong khi đó, những người thực hành thiền minh sát sẽ có được sự ẩn dật tinh thần khi năng lực tập trung tâm ý của họ đã chín muồi, sự chú ý của họ đã trở nên chính xác, đều đặn và hiệu quả. Do đó, những chướng ngại tinh thần sẽ không có cơ hội để phát triển trong tâm thức của họ nữa.

Ẩn dật hoàn toàn

Sau khi đã gặt hái được trạng thái định tâm và cảm thấy an vui ( Jhāna sampatti – concentration absorption), những người thực hành thiền định sẽ chuyển sang thực hành thiền minh sát và đạt tới Niết-Bàn. Sự nhận thức được Niết-Bàn thông qua Đạo quả A-La-Hán được xem như là sự ẩn dật hoàn toàn. Với kiến thức về trạng thái thanh thản-Sankhārūpekkha Ñāna trong thiền minh sát, đối tượng được chú ý và sự chú ý của tâm trí càng dễ nhận biết hơn.Vì vậy, hành giả không cần nổ lực để chú ý. Kiến thức về trạng thái thanh thản được biết đến như là “ trạng thái cân bằng” giữa hạnh phúc và khổ đau. Do đó, trạng thái trầm tĩnh và bình yên của tâm trí hành giả chính là ẩn dật tinh thần. Bằng hạnh chuyên cần và nhận thức trong quán niệm, hành giả sẽ có sự tiến bộ tinh thần thông qua các giai đoạn nội quán. Trong sự chín muồi và viên mãn của tuệ minh sát ( Vipassanā Ñāna), hành giả sẽ nhận thức được Niết-Bàn sau khi gặt hái được Đạo quả Tu-Đà-Hườn. Từ đó, anh ta sẽ được giải phóng khỏi địa ngục khổ đau trong luân hồi. Đây là cách mà những người thực hành thiền minh sát tận hưởng được sự ẩn dật hoàn toàn và trở thành một Tu-Đà-Hườn. Người đã nhận thức được Niết-Bàn sau khi gặt hái được Đạo quả Tư-Đà-Hàm là người gần thoát khỏi những thứ khổ đau như tuổi già, bệnh tật, lo âu trong 6 cõi trời Chư Thiên và cõi người. Một vị Tư-Đà-Hàm chỉ còn trở lại cõi trời hay cõi người một kiếp sống nữa thôi. Người đã nhận thức được Niết-Bàn thông qua Đạo quả A-Na-Hàm đã hoàn toàn thoát khỏi những thứ khổ đau trong thế giới cảm giác như tuổi già, bệnh tật và cái chết. Do đó, vị này không còn trở lại luân hồi nữa. Người đã nhận thức được Niết-Bàn sau khi đạt tới Đạo quả A-La-Hán đã hoàn toàn thoát khỏi những thứ khổ đau trong 31 cõi ở luân hồi và trở thành một bậc cao thượng được gọi là A-La-Hán ẩn dật hoàn toàn.

Thông qua 3 loại ẩn dật, người ta sẽ có cơ hội để tận hưởng hạnh phúc.

Ẩn dật tinh thần mang lại nhiều hạnh phúc hơn ẩn dật thân xác. Ẩn dật hoàn toàn mang động lực thúc đẩy hành giả tiến lại gần Niết-Bàn hạnh phúc mạnh mẽ hơn ẩn dật tinh thần. Tuy nhiên, 3 loại ẩn dật nói trên vẫn có tác dụng hỗ tương qua lại. Bởi vì người ẩn dật thân xác có thể thiết lập cho mình sự ẩn dật tinh thần. Sự ẩn dật hoàn toàn có thể được thiết lập do ảnh hưởng của ẩn dật tinh thần. Vì những lý do này mà người ta chỉ có thể thiết lập được sự ẩn dật tinh thần sau khi đã ẩn dật thân xác. Do đó, đầu tiên người thực hành thiền minh sát cần phải có được sự ẩn dật về thân xác. Điều quan trọng nhất là hành giả cần phải thiết lập được cho mình trạng thái ẩn dật hoàn toàn.

Hạnh phúc trong trạng thái giải phóng khỏi khổ đau

Người ta sẽ được giải phóng khỏi khổ đau khi đã đạt tới Niết-Bàn hay khi đã gặt hái được Đạo quả A-La-Hán.Trong trường hợp này, vui thích trong Đạo quả A-La-Hán là sự giải thoát khỏi những nổi khổ đau. Trong kiếp sống hiện tại, hành giả cần phải có khuynh hướng quyết tâm hướng về Đạo quả A-La-Hán để có thể sống một cuộc đời hạnh phúc với những cảm giác như ý và đạt tới Niết-Bàn trong những kiếp sống kế tiếp. Nói cách khác, hành giả phải thực hành thiền tứ niệm xứ ( Satipatthana vipassanā Bhāvanā), tức thiền minh sát, bởi vì đó là con đường duy nhất dẫn đến Đạo quả A-La-Hán và đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau.

Hạnh phúc trong sự thoát khỏi những pháp ràng buộc trong luân hồi

Niết-Bàn là “ nơi chốn” duy nhất không có những pháp ràng buộc trong luân hồi. Vậy những pháp ràng buộc đó là pháp gì ? Khao khát hay tham ái

( Tanhā-Craving), kiêu hãnh ngã mạn ( Mana- Conceit or pride), chấp chặtquan kiến lầm lạc ( Micchadiţţhi- Wrong view) về vạn hữu. Một người có tính tham lam sẽ không bao giờ được mãn nguyện. Anh ta sẽ chẳng bao giờ thỏa mãn với những gì mà mình đã có và luôn luôn muốn có nhiều hơn nữa. Do ảnh hưởng của ham muốn và tham lam, người này có khả năng sẽ thực hiện những hành động bất thiện nào đó hay có thể vi phạm pháp luật. Xa hơn nữa, anh ta sẽ không bao giờ gặt hái được Phật Pháp. Người thiếu kiến thức về những hành động thiện lành và bất thiện sẽ dẫn đến trạng thái tâm tham lam vô độ. Hậu quả của sự khiếm khuyết đó là không có khả năng kiểm soát bản thân và dẫn đến một chuỗi sai lầm triền miên. Đó là cách phát triển thế giới sai lầm và chỉ tạo ra những chuỗi khổ đau. Phải chăng hạnh phúc hay khổ đau chỉ là những thứ cứ đi lòng vòng mãi mãi trong luân hồi ? Đó là lý do tại sao khao khát là nguyên nhân dẫn đến những pháp bất thiện trong luân hồi. Quan kiến lầm lạc cũng là một loại pháp ràng buộc. Do có quan kiến lầm lạc, người ta đã phát triển tâm bám víu vào những suy nghĩ và quan niệm sai lầm. Đó là lý do tại sao chúng ta cần phải gặt hái được hạnh phúc trong Niết-Bàn, hay ít ra cũng cần có được một kiếp sống hạnh phúc và dễ chịu trong hiện tại để rồi đạt tới Đạo quả A-La-Hán trong những kiếp sống kế tiếp. Một người đã phát triển được các hạnh Ba-La-Mật ( Pāramitā -Perfection) một cách vũng chãi nhưng người này cũng chưa gặt hái được Pháp Cao Thượng nếu anh ta vẫn còn ham thích những thứ rườm rà rắc rối trong thế giới này. Tôn giả Anuraddhà, người đã sở hữu được danh hiệu cao nhất về thiên nhãn thông đã nhận được lời khuyên của Tôn giả Xá-Lợi-Phất và đi vào rừng để thực hành thiền. Sau 15 ngày tích cực thực hành thiền Ngài vẫn chưa gặt hái được Phật Pháp. Bởi vì có thiên nhãn thông cho nên Tôn giả Anuroddhā đã cảm thấy vui sướng với 1000 vũ trụ mà Ngài nhìn thấy được. Do đó, Ngài trở nên thấm mệt và nghỉ lại dưới bóng mát của một lùm tre. Ở đó, Tôn giả đã khởi lên những ý tưởng. Đức Phật biết được 7 điều mà Tôn giả Anuroddhā đang nghĩ tới. Vì vậy, Ngài đã tìm đến chỗ Tôn giả đang nghỉ ngơi trong một khoảng thời gian cực ngắn, bằng khoảng thời gian mà người ta co duỗi một cánh tay. Khi đến nơi, Đức Phật liền nói : “ Ôi ! Con trai của ta ! Có phải con đang nghĩ tới 7 điều như thế này, thế này…không?” Tôn giả Anuroddhā đáp lại : “ Dạ đúng như vậy, bạch Giáo Chủ của con !” Đức Phật lại nói : “ Bảy ý tưởng này chắc chắn phải có liên quan đến các pháp. Tuy nhiên, còn có một nhân tố có thể giúp con gặt hái được Giáo Pháp của ta”. Nói đoạn Đức Phật khuyên nhủ Tôn giả rằng :

“ Hỡi con trai của ta ! Bốn Đạo, bốn Quả và Niết-Bàn, cả thảy 9 Pháp này không thích hợp với một người còn cảm thấy vui sướng với thế giới hiện tượng như con đâu ! Chín Pháp này chỉ thích hợp với người biết tìm hạnh phúc một cách giản dị. Chúng không phải dành cho người còn cảm thấy hạnh phúc trong thế giới trần tục.” Tiếp đến, Đức Phật lại chuyển sang giáo huấn cách thức tham thiền cho Tôn giả Anuroddhà. Sau đó, Tôn giả đã thực hành thiền đúng theo sự giáo huấn của Đức Phật và đạt tới quả vị A-La-Hán trong một thời gian ngắn. Sở dĩ Tôn giả Anuroddhā được như vậy là vì Ngài đã biết cách tìm hạnh phúc một cách giản dị trong thế giới trần tục.

Tóm tắt: Người còn cảm thấy hạnh phúc với những pháp rườm rà rối rắm trong thế giới trần tục thường mang tâm khao khát và kiêu hãnh. Do đó, người này chắc chắn sẽ không bao giờ gặt hái được Phật Pháp. Người biết tìm hạnh phúc một cách giản dị và chuyên cần thực hành quán niệm chắc chắn sẽ gặt hái được Phật Pháp.

Đạo quả và Niết-Bàn chỉ dành cho người biết tìm hạnh phúc một cách giản dị và chuyên cần thực hành quán niệm với một tâm trí hướng thẳng tới Niết-Bàn. Nói cách khác, để gặt hái Đạo quả và Niết-Bàn, người ta phải biết thực hành thiền quán niệm ( tức thiền minh sát) với mục đích duy nhất là Niết-Bàn. Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp nói về Kinh Sukkha Somanassa, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành theo những lời giáo huấn của Đức Phật. Với sự siêng năng cần mẫn trong quán niệm, cầu chúc cho tất cả quí vị nhanh chóng nhận thức được Niết-Bàn mong muốn, đoạn tận với tất cả những khổ đau bằng cách thực hành thiền minh sát với một tâm trí thanh thản, thoải mái. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !      

                          

                          Ba nhân tố cần phải có để đạt tới Niết Bàn

                                            ( Kinh Uddesa Vibhanga)

 

Bài thuyết Pháp hôm nay sẽ nói về Kinh Uddesa Vibhanga. Từ uddesa có nghĩa là tóm tắt hay toát yếu và từ vibhanga có nghĩa là công phu hay tỉ mỉ, chi tiết. Kinh này chỉ ra những lời khuyên tóm tắt của Đức Phật khi Ngài nói về 3 nhân tố cần phải có để đạt tới Niết Bàn và sự giải thích một cách công phu của Tôn giả Kissāyana về 3 nhân tố đó. Bài thuyết Pháp này rất thích hợp với những người đang lắng nghe Giáo Pháp và những hành giả thực hành thiền minh sát. Bạn có thể thực hành thiền minh sát bằng những bài tập về thân thể hay tụng Kinh được hay không ? Không, không có ai có thể làm được như vậy bởi vì thực hành thiền minh sát là một việc làm thuộc về sự nhận thức tâm trí .Vì lý do đó, loại thiền này là một phương pháp thực hành rất quan trọng dùng để vun trồng và bồi bổ tâm trí. Tâm trí luôn chứa đựng nhiều hiện tượng vi tế. Vì vậy, chúng ta rất khó điều khiển và uốn nắn được nó. Muốn thực hành thiền minh sát để gặt hái được Niết Bàn, bạn phải tuân thủ những qui trình cực kỳ nghiêm ngặt như các vị A-La-Hán và những người dũng cảm đã từng thực hiện. Người ta không thể gặt hái được Niết Bàn qua những cách thực hành thông thường. Đức Phật đã truyền bá Kinh Udessa Vibhanga tại tu viện Kỳ-Viên ở thành Xá-Vệ ( Savātthi). Ngài đã khuyên các Tỳ-kheo rằng : “ Hỡi những con trai của ta ! Nếu mong muốn đạt tới Niết Bàn để đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau thì các ông phải nổ lực thực hành thiền minh sát và đừng để cho tâm trí của mình bị lang thang vô định, đừng để cho nó bị tắt nghẽn từ bên trong và dính mắc vào những đối tượng của giác quan”. Sau khi đã lắng nghe lời khuyên tóm tắt của Đức Phật, các Tỳ-kheo vẫn chưa được thỏa mãn, họ muốn hiểu một cách chi tiết và đầy đủ về lời khuyên này.Tiếp đến, những Tỳ-kheo đã quyết định tìm gặp Tôn giả Kissāyana, người có thể giải thích một cách chi tiết và chính xác về ý nghĩa lời khuyên của Đức Phật. Vì vậy, họ đã thỉnh cầu với Tôn giả rằng : “ Bạch Thượng Tọa ! Đức Giáo Chủ đã truyền bá một cách tóm tắt rằng đừng để cho tâm trí bị lang thang vô định, bị tắt nghẽn từ bên trong và bị dính mắc vào những đối tượng của giác quan. Với sự tóm tắt như thế, chúng tôi vẫn chưa lãnh hội được lời khuyên của Ngài. Xin vui lòng giải thích cho chúng tôi hiểu rõ hơn về lời khuyên đó.” Ngay sau đó, Tôn giả Kissāyana đã từ chối lời thỉnh cầu của các Tỳ-kheo, Ngài nói rằng : “ Các ông là người được ví như lõi của một cây lớn với nhiều cành nhánh, thay vì giống như thân của nó. Tôi chỉ là một cành nhánh, các ông đã gặp được Đức Phật, người được ví như thân của cây lớn kia. Vì vậy, các ông nên cung kính thỉnh cầu Ngài giải thích cho các ông thì đúng hơn”. Các Tỳ-kheo lại đáp rằng : “ Bạch Thượng Tọa ! Đức Phật luôn tán dương ông là người duy nhất có thể lãnh hội được ý nghĩa của những lời giáo huấn mà Ngài đã truyền bá , cũng như có thể giải thích những điều đó một cách chi tiết và đầy đủ. Vì vậy, hãy làm ơn giải thích về lời khuyên tóm tắt của Giáo Chủ để chúng tôi được rõ”.

Sau đó, Tôn giả Kissāyana đã giải thích một cách chi tiết về 3 nhân tố cần phải có để đạt tới Niết-Bàn. Theo trình tự để tôn kính Phật Pháp, Ngài Mahasì đã để lại cho chúng ta những câu Kệ đáng ghi nhớ dưới đây.

Tóm tắt: Đừng để cho tâm trí bị lang thang vô định và tắt nghẽn từ bên trong,  loại bỏ tâm bám víu và khao khát bằng cách thực hành sự chú ý.

 Tìm cách thoát khỏi gánh nặng của những khổ đau như sanh, lão, bệnh  tử. Đó là những lời mà Đức Phật đã nói trong Kinh Udessa Vibhanga.         

 Nếu bạn thực hành theo những lời khuyên của Đức Phật thì đừng để cho tâm trí của mình bị lang thang vô định, bị tắc nghẽn từ bên trong và dính mắc vào những đối tượng của giác quan. Nếu làm được như vậy, chắc chắc bạn sẽ đạt tới Niết-Bàn. Tôn giả Kissàyana đã giải thích :

1. Thế nào là một tâm trí lang thang vô định

2. Thế nào là một tâm trí không bị lang thang vô định

3. Thế nào là một tâm trí bị tắc nghẽn từ bên trong

4. Thế nào là một tâm trí thông suốt từ bên trong

5. Thế nào là một tâm trí bị dính mắc vào các đối tượng của giác quan

6. Thế nào là một tâm trí không bị dính mắc vào các đối tượng của giác quan  

Thế nào là một tâm trí lang thang vô định

Khi các đối tượng của giác quan ( tức lục trần, bao gồm sắc, thanh, hương, vị , xúc và pháp) tiếp xúc với bề mặt của 6 giác quan ( tức lục căn, bao gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý), bạn sẽ cảm thấy thú vị và suy nghĩ đến chúng. Khi các đối tượng của giác quan tiếp xúc với bề mặt của nhãn căn, bề mặt của nhĩ căn, bề mặt của tỷ căn, bề mặt của thiệt căn…bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc và suy nghĩ đến những trải nghiệm này nếu chúng là những hiện tượng dễ chịu. Tiếp đến, tâm tham lam sẽ khởi lên. Nếu các đối tượng đó là những hiện tượng khó chịu thì bạn cũng suy nghĩ đến chúng nhưng cảm thấy khó chịu và bực mình. Từ đó, tâm sân hận sẽ khởi lên. Nếu suy nghĩ đến sự trải nghiệm của giác quan ( dù là dễ chịu hay khó chịu) thì điều này sẽ khiến cho tâm trí của chúng ta sẽ bị lang thang vô định. Với tâm tham lam và sân hận thì dĩ nhiên bạn sẽ không bao giờ gặt hái được Niết Bàn.

Tóm tắt: Khi tâm trí đang nhận biết sự tiếp xúc giữa giác quan và các hiện tượng, nếu chúng ta suy nghĩ về sự nhận biết đó thì nó sẽ bị lang thang vô định. Nếu tập trung chú ý khi tâm trí đang nhận biết sự tiếp xúc giữa giác quan và các đối tượng thì tâm trí sẽ không bị lang thang.

Chúng ta sẽ làm chủ được trạng thái lang thang vô định của tâm bằng cách nào ? Khi đang nhìn thấy một hiện tượng nào đó, thay vì nắm bắt đối tượng một cách thích thú và suy nghĩ về nó, bạn chỉ niệm thầm trong tâm mình

“ đang nhìn thấy, đang nhìn thấy”...Khi đối tượng nhận thức là một hiện tượng vi tế, chúng ta không dễ chú ý đến nó, nhất là khi nó mới bắt đầu khởi lên trong tâm thức. Tuy nhiên, khi năng lực tập trung tâm ý đã đủ mạnh, nếu chú ý đến “ trạng thái đang nhìn”, bạn sẽ nhận thức được rằng cả đối tượng quan sát lẫn sự chú ý của tâm trí đều khởi lên và rồi cũng sẽ biến mất đi.

Với sự chú ý mãnh liệt, bạn sẽ lãnh hội được rằng đối tượng quan sát, sự chú ý của tâm trí và tâm thức luôn luôn ở trong trạng thái biến đổi liên tục. Do đó, chúng là vô thường ( Anicca-Impermanent). Tiến trình liên tục trở thành và tan biến đi của các hiện tượng chính là khổ đau. Bạn không thể nào làm chủ được tiến trình này, vì vậy nó là vô ngã ( Anatta- Not-self). Nhờ đó, ba tướng vô thường, khổvô ngã đã hình thành trong nhận thức của hành giả một cách sống động. Khi đã gặt hái được những trạng thái nội quán cao hơn, hành giả sẽ dễ dàng chú ý và nhận biết được tính vô thường, khổ và vô ngã chứa đựng trong lòng các hiện tượng. Những hành giả đang thực hành thiền minh sát ở trình độ thấp chỉ nhận biết được một vài trạng thái nội quán mà thôi. Khi các đối tượng của giác quan tiếp xúc với bề mặt của nhãn căn, hành giả chỉ nên chú ý đến chúng một cách thuần túy, nghĩa là chú ý mà không suy nghĩ gì cả, không xử dụng ý thức để can thiệp vào tiến trình đang xảy ra của hiện tượng. Lúc mới khởi sự tập luyện, việc thực hành chú ý theo kiểu như vậy còn tương đối khó. Tuy nhiên, khi năng lực tập trung tâm ý đã phát triển mạnh và chín muồi, cùng với phương pháp thực hành thiền đúng đắn, bạn sẽ thành công trong việc chú ý một cách thuần túy. Khi đã thiết lập được khả năng tập trung tâm ý một cách chắc chắn, sự chú ý sẽ được cải thiện và việc chú ý thuần túy đối với hành giả sẽ không còn khó khăn như trước. Trong thiền hành, hành giả phải chú ý để nhận biết được tính nhẹ nhàng trong chuyển động đang dở chân lên và bước tới của bàn chân, đồng thời niệm thầm trong tâm mình “ nhẹ nhàng, nhẹ nhàng”…Khi đang đặt chân xuống, bạn phải nhận biết được tính nặng nề trong chuyển động này, đồng thời niệm thầm trong tâm mình “ nặng nề, nặng nề”…Khi đang thấy một ai đó đi qua trước mặt mình, bạn phải nhận biết được có người đang đi qua trước mặt mình. Tuy nhiên, bạn không nên phân biệt đó là đàn ông, đàn bà hay thiếu nữ… nhờ vậy, bạn có thể trải nghiệm được trạng thái nhìn thuần túy, bởi vì bạn đã không nắm bắt đối tượng của thị giác một cách thích thú và cũng không suy nghĩ đến nó. Sự nhìn thuần túy sẽ xảy ra khi hành giả nhắm mắt lại hoặc nhìn xuống lúc đang thiền hành để có thể chú ý một cách liên tục và chính xác. Có 3 trạng thái nhìn, đó là :

1. Nhìn với tâm khao khát

2. Cố ý nhìn

3. Nhìn một cách thuần túy

- Khi bạn tham muốn bất cứ một điều gì thì tâm khao khát sẽ khởi lên ngay lập tức. Khi bạn muốn nhìn một cái gì thì ngay trước đó “ ý định muốn nhìn” đã hiện khởi trong tâm thức. Ngay khi đó, bạn cần niệm thầm trong tâm mình “ đang muốn nhìn, đang muốn nhìn”…

- Mi mắt của hành giả hướng lên phía trên rồi chuyển xuống phía dưới và tròng mắt bắt đầu nhìn chằm chằm vào đối tượng, đó là cố ý nhìn. Tiếp đến, hành giả niệm thầm trong tâm “ đang cố ý nhìn, đang cố ý nhìn…”

- Khi đang nhìn một vật gì, bạn hãy làm như mình không thấy gì cả đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang nhìn, đang nhìn”…Đó là nhìn một cách thuần túy. Khi thực hành thiền một cách chuyên cần và mãnh liệt, nền tảng của trạng thái quán niệm sẽ được thiết lập. Nhờ đó, hành giả sẽ có khả năng nhìn một cách thuần túy. Sự chú ý đến “tâm khao khát muốn nhìn” chỉ là trạng thái quán niệm về tâm thức ( Cittanupassana – Contemplation of consciousness), sự cố ý nhìn có liên quan đến mi mắt và tròng mắt ( những bộ phận thuộc về thân thể), vì vậy nó thuộc về sự quán niệm về thân thể

( Kāyanupassana – Contemplation of body). Trong trạng thái nhìn thuần túy, thật sự bạn đang quán niệm về bản chất của hiện tượng. Đây chính là sự quán niệm về đối tượng của tâm thức, tức quán pháp ( Dhammanupassana – Contemplation of mind-object). Như vậy, bạn đã gặt hái được 3 nền tảng quán niệm, đã gặt hái được phước báu và phát triển được tuệ minh sát.

Từ đó, bạn sẽ hiểu rằng điều khiển được thị giác của mình là một điều quan trọng và cần thiết. Nếu có thể làm chủ được thị giác, sự chú ý của bạn sẽ được liên tục, kiến thức về nội quán trong bạn sẽ phát triển. Nếu không thực hành thiền một cách hời hợt và biếng nhác, sự chú ý của bạn sẽ bị đứt quãng. Bạn sẽ không gặt hái được Phật Pháp, không cải thiện được tiến trình thực hành thiền và sanh tâm chán nản. Các vị thiền sư thông thái đã từng khuyên rằng, những người thực hành thiền minh sát phải làm như thể mình bị mù, mặc dù thị lực của họ rất tốt. Khi tọa thiền, bạn nên nhắm mắt để năng lực tập trung tâm ý được mạnh mẽ. Bạn sẽ gặt hái được Phật Pháp nếu có khả năng làm chủ được thị giác của mình. Bạn sẽ thành công nếu thực hành thiền với đôi mắt nhìn xuống. Trong một vài trường hợp, bạn sẽ nhận thức được bản chất của các hiện tượng nếu có khả năng làm chủ được thị giác của chính mình.

Tỳ kheo Cittagutta

Có một vị Tỳ-kheo Trưởng Lão tên là Cittagutta trú trong một hang động tên là Kurantaka. Trên tường của hang động có 7 bức tranh vẽ về các vị Phật

( trong đó một bức là của Đức Phật Tỳ-Bà-Thi và 6 bức kia là những vị Phật khác), còn có một cây bao-Báp tọa lạc ngay trước cửa ra vào của hang động. Trong suốt thời gian sống ở đó, vị Trưởng Lão chưa bao giờ nhìn lên các bức tranh và cũng không nhìn cây bao-báp. Ngài đã 80 tuổi và đã trải qua 60 tuổi hạ. Trong suốt khoảng thời gian dài đó, vị Trưởng Lão đã làm chủ được thị giác của mình và luôn luôn thực hành Phật Pháp rất chuyên cần. Nhà vua nghe tiếng thơm về vị Trưởng Lão đức hạnh và đã 3 lần muốn cung thỉnh Ngài đến thăm cung điện của mình. Vì không muốn liên quan đến bất cứ một hoạt động tôn giáo nào cả, cho nên vị Trưởng Lão đã từ chối lời thỉnh cầu của nhà vua. Ngài không muốn tiến trình thực hành thiền của mình bị rối loạn. Sau đó, nhà vua đã nảy ra một ý tưởng nhằm thuyết phục vị Trưởng Lão. Vì vậy, ông đã cho triệu tập tất cả những bà vú nuôi sống tại ngôi làng bên cạnh đến gặp mình. Ngôi làng này có tên là Mahāgama. Khi những bà vú nuôi đã đến đông đủ, nhà vua bèn ra lệnh cho họ phải lấy tả lót của em bé quấn quanh thân thể của họ và phải để mãi như vậy, không được cởi ra. Vì vậy, những bà vú không thể nuôi các em bé của họ được. Tiếp đến, nhà vua lại đưa ra một sắc lệnh khác nói rằng những em bé không được bú nữa cho đến khi nào vị Trưởng Lão chịu đến thăm cung điện của ông mới thôi.

Sau một tuần lễ, vị Trưởng Lão hay tin và tỏ ra rất xót thương những em bé đang khát sữa. Ngài quyết định đi đến ngôi làng Mahāgama. Nhà vua vô cùng hoan hỷ và cung thỉnh vị Trưởng Lão đến thăm cung điện của ông để trai Tăng. Từ ngôi làng Mahāgama, vị Trưởng lão đã cùng những vị Tỳ-kheo khác đến thăm cung điện của nhà vua. Hàng ngày tại cung điện hoàng gia, sau khi thọ thực, vị Trưởng Lão thường có một bài thuyết Pháp. Nhà vua và hoàng hậu thường đến gặp vị Trưởng Lão, sau khi đảnh lễ Ngài, họ ngồi xuống nghe thuyết Pháp. Do đó, vị Trưởng Lão đã ban lời chúc phúc rằng

: “ Cầu chúc cho nhà vua được sức khỏe và hạnh phúc”. Ngài không phân biệt nhà vua với hoàng hậu và đoàn tùy tùng của bà. Trên đường trở về tu viện, những Tỳ-kheo đã cung kính hỏi vị Trưởng Lão rằng : “ Bạch Thượng tọa ! Tại sao Ngài chỉ chúc phúc cho một mình nhà vua thôi, trong khi đó hoàng hậu và đoàn tùy tùng của bà cũng đã thể hiện sự tôn kính đối với Ngài !”. Vị Trưởng Lão trả lời : “ Ồ ! Ta chúc rồi mà ! Ta không biết ai đã đến đảnh lễ mình, không biết liệu đó là nhà vua hay hoàng hậu và đoàn tùy tùng của bà ? Khi nhà vua mời ta đến thăm cung điện của hoàng gia, ta đã chúc phúc cho Ngài rồi”. Vì vậy, chúng ta biết rằng vị Trưởng lão đã hoàn toàn làm chủ được thị giác của Ngài. Vị Trưởng lão vẫn nhận biết những người đến đảnh lễ Ngài. Tuy nhiên, Ngài không biết rõ tất cả họ là ai, là nhà vua hay hoàng hậu và đoàn tùy tùng của bà. Vị Trưởng lão đã thực hành sự chú ý một cách thuần túy. Nhà vua nhận thức được điều gì đã động viên và thúc giục vị Trưởng Lão để Ngài có thể ở tại ngôi làng, hàng ngày lại đến khất thực tại cung điện. Thậm chí, vị Trưởng Lão đã nhận được một sự bảo vệ vĩ đại khi làm chủ được thị giác của Ngài. Do đó, vào ngày thứ bảy, nhà vua đã ra lệnh hãy để cho vị Trưởng Lão trở về hang động Kurantaka. Khi trở về tới hang động, vị Trưởng Lão đã thực hành thiền suốt đêm không ngừng nghỉ.

Sau đó, năng lực tập trung tâm ý của Ngài đã mạnh mẽ hơn trước nhiều. Nhờ đó, Ngài đã phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất, tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng cũng đã khởi lên rất rõ ràng trong tâm thức của Ngài. Vị Trưởng Lão đã lãnh hội được ba tướng vô thường, khổ và vô ngã một cách nhanh chóng. Vào canh cuối của đêm, Ngài đã đạt tới quả vị A-La-Hán. Tại sao trước khi đến thăm cung điện của nhà vua, vị Trưởng Lão đã không trở thành A-La-Hán mặc dù đã thực hành thiền trong nhiều năm ? Tại sao kể từ khi trở về từ cung điện của nhà vua Ngài mới đắc quả ? Lý do chính là vị Trưởng Lão đã làm chủ được thị giác của Ngài bằng một năng lực vĩ đại. Cung điện hoàng gia tràn ngập cảm giác dễ chịu và những quang cảnh lộng lẫy. Khi đang ở đó, vị Trưởng Lão đã tăng cường sự chú ý để tâm trí của Ngài không bị rối loạn vì những lạc thú trần tục. Do đó khi trở về hang động, năng lực tập trung tâm ý của Ngài đã trở nên mạnh mẽ một cách khác thường. Sự chú tâm của Ngài đã được thiết lập trên đối tượng quan sát một cách liên tục. Nhờ đó, Ngài đã lãnh hội được tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng một cách rõ ràng. Tiếp đến, tuệ minh sát trong tâm thức vị Trưởng lão đã phát triển ở mức độ cao và Ngài đã trở thành một A-La-Hán. Tất cả những thành quả mà Tỳ-kheo Cittagutta đã gặt hái được đều có nguyên nhân từ hạnh làm chủ được các giác quan. Từ đó đã dẫn đến sự chú tâm mạnh mẽ và chắc chắn. Đầu tiên là phát triển trạng thái định tâm và tiếp đến là làm chủ thị giác. Tạo ra một sự quyết tâm không nhìn, “ tôi nhất định không nhìn, tôi nhất định không nhìn”...Từ đó, tâm thức của bạn sẽ thông suốt và tiếp đến là năng lực làm chủ thị giác. Bạn cũng có thể trở thành A-La-Hán giống như Trưởng Lão Cittagutta và đúng theo hạnh nguyện Ba-La-Mật của chính mình. Có ai biết được liệu điều đó có xảy ra hay không ?

Khi đang nghe

Tóm tắt: Nếu nghĩ về trạng thái đang nghe, tâm trí sẽ lang thang vô định. Nếu tập trung chú ý lúc đang nghe thì tâm trí sẽ định tĩnh và không bị tản mác đó đây.

Khi tình cờ nghe thấy những âm thanh dễ chịu nào đó, bạn sẽ cảm thấy thích thú và nghĩ rằng “ những âm thanh này dễ chịu và ngọt ngào”. Tiếp đến, bạn sẽ khởi tâm bám víu vào chúng và đó chính là tham lam ( Lobha-Greeting). Ngược lại, khi tình cờ nghe thấy những âm thanh khó chịu, bạn sẽ cảm thấy tức giận và bực mình. Đó chính là sân hận ( Dosa- Anger). Với tâm tham lam và sân hận, bạn có gặt hái được Niết-Bàn không ? Không, không bao giờ. Khi năng lực định tâm còn yếu, bạn chỉ nên chú ý đến “sự nghe” một cách thuần túy và đừng nghĩ rằng “ những âm thanh này là gì? Chúng từ đâu phát ra ?”…Đừng để cho tâm trí bị khuấy động bởi bất cứ một loại âm thanh hay tiếng động nào mà bạn tình cờ nghe được, chỉ chú ý lắng nghe chúng một cách thuần túy. Điều quan trọng là chỉ chú ý đến “ sự nghe” một cách thuần túy. Sau đó, có thể quay trở lại chú ý đến “ tiến trình phồng lên và xẹp xuống của bụng” hay “ tiến trình đang ngồi và đang xúc chạm của thân thể”. Bạn cũng có thể thực hành cách chú ý tổng hợp, tức chú ý đến những hoạt động hàng ngày của mình, chú ý đến bất cứ một hoạt động nào mà tâm thức dễ nhận thấy nhất. Trong thực hành thiền tọa, thiền hành hay chú ý tổng hợp, nếu năng lực định tâm phát triển mạnh mẽ, tâm thức được thông suốt, sự chú ý được thiết lập một cách vững chãi trên đối tượng nhận thức thì bạn có thể chú ý thuần túy đến những âm thanh hay tiếng động tình cờ nghe thấy một cách dễ dàng. Đồng thời, bạn phải niệm thầm trong tâm mình “ đang nghe, đang nghe”…Ấm thanh hay tiếng động mà chúng ta có thể tình cờ nghe thấy có khi phát ra từ một khoảng cách xa, có khi lại phát ra từ một khoảng cách gần, có lúc rất yếu ớt, có lúc lại ầm ĩ, ồn ào…Lãnh hội được những trạng thái thay đổi này nghĩa là bạn đã cải thiện được tuệ minh sát trong tâm thức của chính mình. Thực hành sự chú ý khi lắng nghe các loại âm thanh hay tiếng động cũng rất thú vị. Tuy nhiên, cách thực hành này tương đối khó. Nếu có thể thực hành sự chú ý khi đang lắng nghe các loại âm thanh hay tiếng động một cách thành công, bạn sẽ gặt hái được trạng thái nội quán gọi là kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng – Bhanga Ñāna. Trong trạng thái nội quán này, nếu chú ý lắng nghe một từ ngữ nào đó được người ta nói ra, bạn sẽ nhận thấy rằng từ đó không phải là một âm thanh liên tục, nó được cấu thành bởi nhiều âm tiết. Ví dụ từ “ gentleman” chẳng hạn, khi chú ý lắng nghe nó, bạn sẽ nhận thấy rằng “ gen” là một âm tiết, “ tle” cũng là một âm tiết và “ man” là một âm tiết khác. Vì vậy, khi đang lắng nghe một từ nào đó, thật ra bạn đang lắng nghe những âm tiết chứ không phải đang lắng nghe một từ. Do đó, từ vừa được nghe cũng chẳng có ý nghĩa gì cả. Đây chính là kiến thức về Chân đế- Paramattha Ñāna. Khi trạng thái tan hoại của các hiện tượng đã phát triển một cách khá rõ ràng trong tâm thức, nếu bạn chú ý lắng nghe một âm tiết nào đó thì âm tiết này sẽ biến mất. Nếu năng lực chú ý của bạn đã phát triển tốt, thậm chí tâm thức nhận biết âm tiết đó cũng sẽ biến mất luôn. Tiếp đến, bạn hãy niệm thầm trong tâm “ đang nghe, đang nghe”. Nếu chưa có khả năng chú ý đến những âm thanh êm dịu và yếu ớt thì bạn hãy thực hành sự chú ý đến những âm thanh ồn ào, ầm ĩ. Bạn đừng nản chí nếu thất bại trong việc thực hành sự “lắng nghe thuần túy”, cứ nổ lực và nổ lực thực hành…chắc chắn sau đó bạn sẽ có sự tiến bộ.

Khi thực hành “ lắng nghe thuần túy”, bạn có thể bị chóng mặt, choáng váng hay cảm thấy nóng chung quanh đầu. Nếu những hiện tượng khó chịu này xuất hiện, bạn hãy quay lại thực hành sự chú ý đến “ tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng”. Khi năng lực định tâm đã phát triển mạnh, bạn sẽ lãnh hội được một trạng thái mà ở đó cả đối tượng nhận thức ( ở đây là âm thanh) lẫn sự chú ý của tâm trí đã hoàn toàn biến mất. Vạn hữu đều vô thường ( Anicca-Impermanent), tiến trình khởi lên và tan biến đi của chúng đã quấy rầy tâm trí của chúng ta. Bởi vì đã chú ý đến chúng cho nên chúng ta mới cảm thấy khổ ( Dukkha -  Suffering). Sự quấy rầy nói trên là không thể điều khiển được, vì vậy nó là vô ngã ( Anatta- Not self). Do suy niệm về ba tướng vô thường, khổvô ngã khi đang chú ý đến “sự nghe” một cách thuần túy, bạn sẽ gặt hái được Niết-Bàn.

Khi đang ngửi

Tóm tắt: Nếu suy nghĩ về sự ngửi, tâm trí sẽ lang thang vô định.

Nếu thưởng thức một mùi thơm dễ chịu, bạn sẽ suy nghĩ về nó và khởi tâm tham lam. Tâm sân hận thường khởi lên khi bạn bắt gặp một mùi hôi khó chịu. Lúc đó, bạn sẽ cảm thấy bực mình với mùi hôi khó chịu đó và cả với người chịu trách nhiệm về nó. Bạn có hy vọng đạt tới Niết-Bàn với tâm thức tham lam và sân hận không ? Dĩ nhiên là không.

Tóm tắt: Nếu tập trung chú ý khi đang ngửi thì tâm trí không bị lang thang vô định   

Như vậy có nghĩa là khi đang ngửi một mùi gì, bạn cần phải tập trung chú ý. Các loại mùi luôn luôn thay đổi theo nhiều cấp độ khác nhau, có lúc mạnh lúc nhẹ. Sự thay đổi này tùy thuộc vào năng lực định tâm của bạn. Khi năng lực định tâm của bạn đã phát triển mạnh mẽ, lúc đó nếu bạn tập trung chú ý thì cả mùi được quan sát lẫn sự chú ý của bạn sẽ biến mất. Tiếp đến, bạn sẽ cân nhắc rằng tiến trình đang khởi lên và biến mất đi của mùi nói chung là vô thường. Tiến trình này chính là bản chất của khổ đau. Tiến trình khởi lên và tan biến đi của mùi luôn luôn xảy ra theo cách riêng của nó và không thể điều khiển được. Vì vậy nó là vô ngã. Nhờ đó, bạn sẽ gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng. Điều quan trọng là bạn cần phải phát triển được tuệ minh sát mạnh mẽ và có được một phương pháp quán niệm đúng đắn.    

Khi đang ăn

Tóm tắt: Nếu suy nghĩ về sự ăn thì tâm trí sẽ lang thang vô định

 Nếu đang tận hưởng một món ăn, bạn sẽ suy nghĩ về nó và người đã dọn món ăn này. Do đó, khi bạn đang ăn thì tâm tham lam sẽ khởi lên. Nếu thức ăn nhạt nhẽo, bạn sẽ nghĩ rằng “ thức ăn được chuẩn bị tồi quá, ai đã dọn thức ăn này vậy ?”. Từ đó, bạn sẽ trở nên sân hận với món ăn tồi và người đã dọn nó. Với tâm sân hận như thế, dù có mong muốn gặt hái được Niết-Bàn bằng cách nào đi nữa, bạn cũng còn cách xa cảnh giới này nhiều lắm. Thậm chí, bạn có thể bị tái sanh vào địa ngục nếu trong khoảnh khắc đang chết

( tức cận tử nghiệp – Asannacitta Kamma) tâm thức của bạn chứa đầy tham lam và sân hận. Tâm khao khát mùi thơm của thức ăn là một chướng ngại vô cùng nguy hiểm cho việc thực hành thiền minh sát. Điều quan trọng cho sự sống là chúng ta cần phải biết chú ý đến những chuyển động phức tạp khi đang ăn. Khi ngồi vào bàn ăn, bạn sẽ nhìn thấy thức ăn. Lúc đó, bạn hãy niệm thầm trong tâm mình “ đang thấy, đang thấy”…Khi duỗi cánh tay ra để lấy thức ăn, bạn hãy niệm thầm “ đang duỗi cánh tay ra, đang duỗi cánh tay ra”…Khi đang tiếp xúc với cái muỗng, bạn niệm thầm “ đang tiếp xúc, đang tiếp xúc”…Khi đang lấy thức ăn, bạn niệm thầm “ đang lấy, đang lấy”…Khi đang cúi gập cổ xuống, bạn niệm thầm “ đang gập, đang gập”… Khi đang mở miệng, bạn niệm thầm “ đang mở miệng, đang mở miệng”…Khi đang đút thức ăn vào miệng, bạn niệm thầm “ đang đút vào, đang đút vào”…Khi đang ngẫng cổ lên, bạn niệm thầm “ đang ngẫng lên, đang ngẫng lên”…Khi đang nhai, bạn niệm thầm “ đang nhai, đang nhai”…Khi đang nhận biết mùi của thức ăn, bạn niệm thầm “ đang nhận biết, đang nhận biết”…Khi đang nuốt thức ăn, bạn niệm thầm “ đang nuốt, đang nuốt”…Khi đang còn trẻ và thực hành thiền minh sát, Ngài Mahāsī đã lãnh hội được Phật Pháp trong từng bước chú ý khi đang ăn. Lúc ban đầu mới khởi sự tập luyện cách ăn trong Chánh niệm, bạn sẽ chưa có khả năng chú ý hết tất cả những giai đoạn lúc đang ăn. Bạn sẽ bỏ qua nhiều giai đoạn của tiến trình ăn. Tuy nhiên, bạn không nên khởi tâm chán nản. Khi năng lực định tâm đã phát triển đủ mạnh, bạn sẽ có khả năng chú ý đến tất cả những giai đoạn trong tiến trình ăn. Dĩ nhiên đến lúc đó, bạn sẽ có khả năng chú ý một cách liên tục và chính xác. Lúc mới khởi sự tập luyện ăn trong Chánh niệm, bạn nên chú ý tới những chuyển động nào dễ nhận thấy nhất trong toàn bộ tiến trình ăn. Ví dụ, nếu bạn cho rằng trong tiến trình đang ăn, “chuyển động duỗi cánh tay ra để lấy thức ăn” là dễ nhận thấy nhất thì hãy thực hành sự chú ý với chuyển động này, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang duỗi cánh tay ra, đang duỗi cánh tay ra”. Nếu bạn nhận thấy rằng chuyển động “ gập cổ xuống” là dễ nhận thấy nhất thì hãy thực hành chú ý với chuyển động này, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang gập xuống, đang gập xuống”. Nếu nhận thấy “ chuyển động nhai” là dễ nhận thấy nhất thì hãy thực hành sự chú ý với chuyển động ấy, đồng thời niệm thầm trong tâm “đang nhai, đang nhai”… Bạn cứ khởi sự tập luyện ăn trong Chánh niệm theo cách trên… Ngài Mahāsī đã từng đặt ra một câu hỏi : “ Khi đang ăn, quai hàm nào chuyển động ?” Một số người trả lời rằng quai hàm trên chuyển động. Trong khi đó một số khác thì nói rằng cả quai hàm trên lẫn quai hàm dưới đều chuyển động cùng lúc. Bởi vì quai hàm trên dính liền với xương sọ cho nên khi chúng ta đang ăn, nó không thể chuyển động. Trong thực tế khi chúng ta đang ăn, chỉ có quai hàm dưới là chuyển động mà thôi. Nếu chưa có khả năng chú ý tốt, bạn sẽ không nhận thức được điều vừa nói mà chỉ nhận biết được sự chuyển động của quai hàm ( trên và dưới) nói chung, vậy thôi. Khi đang ăn, bạn nhận thấy rằng quai hàm chuyển động lên và xuống, nếu chưa nhận biết được rằng thực sự chỉ có quai hàm dưới là chuyển động thì bạn đừng nên nản chí và cứ tiếp tục tập luyện. Nếu không nổ lực chú ý, bạn sẽ không bao giờ nhận biết được điều vừa nói trên. Đầu tiên khi mới tập luyện ăn trong Chánh niệm, bạn cứ thực hành sự chú ý đến những gì dễ nhận biết nhất đối với mình. Nhờ vậy, khi năng lực định tâm đã phát triển, bạn sẽ dễ dàng thực hành sự chú ý hơn, cũng như sẽ gặt hái được phước báu.

Tóm tắt: Nếu chú ý lúc đang ăn, tâm trí sẽ không bị lang thang vô định.

Các bậc thầy chú giải Kinh Điển đã từng giải thích rằng, nếu chú ý lúc đang ăn, không những bạn mà những thí chủ khác cũng gặt hái được phước báu. Lợi ích đến từ việc cúng dường vật thực là một trong những lợi ích cao quí nhất, đặc biệt khi người dâng cúng là hành giả đang thực hành thiền minh sát. Vì lý do đó, trong quá trình thực hành thiền minh sát, hành giả cần phải loại bỏ được tâm tham lam và sân hận. Sự thật, dâng cúng vật thực cho các vị A-La-Hán là một trong những cách cúng dường tốt nhất, bởi vì các vị ấy là những người đã hoàn toàn loại bỏ được những thứ ô nhiễm trong tâm trí.

Nếu chưa gặp được cơ hội tốt, chúng ta có thể cúng dường vật thực cho những hành giả đang nổ lực thực hành thiền minh sát để gặt hái được Niết-Bàn. Với sự hiểu biết đó, tâm thức của những thí chủ sẽ phát khởi niềm tin trong sáng, họ sẽ tận hưởng được hạnh phúc từ những hành động phước thiện mà mình đã thực hiện. Như vậy, bằng cách thực hành sự chú ý lúc đang ăn, phước báu trong bạn sẽ thăng tiến. Không những thế, các thí chủ cúng dường vật thực cho những người đang thực hành thiền minh sát cũng gặt hái được phước báu. Trong giai đoạn đầu mới khởi sự, việc luyện tập cách ăn trong Chánh niệm ( tức chú ý lúc đang ăn) là tương đối khó. Tuy nhiên khi năng lực định tâm đã phát triển, bạn sẽ có khả năng thực hiện cách ăn đó một cách dễ dàng. Trong trạng thái nội quán mà tâm thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất, khi duỗi cánh tay ra, bạn sẽ nhận thức được rằng “chuyển động duỗi cánh tay ra” là hoàn toàn khác biệt “sự chú ý của tâm trí” đối với chuyển động này . Tương tự, bạn sẽ phân biệt được “ chuyển động xúc chạm”, “ chuyển động uốn cong thân mình”, “ chuyển động với tay lấy thức ăn”…là hoàn toàn khác với “sự chú ý của tâm trí” đối với những chuyển động này. Nếu có thể lãnh hội được rằng, “các chuyển động” và “sự chú ý của tâm trí” là hoàn toàn tách biệt nhau, bạn sẽ có được lối nhận thức sau : “ Không phải ông “T” đang ăn, “T” chỉ là một cái tên có tính qui ước. Việc ăn chỉ là những tiến trình chuyển động. Thật ra chỉ có  “sự chuyển động của thân thể” và “sự nhận thức của tâm trí” đang hoạt động mà thôi. Do đó, bạn sẽ loại bỏ được quan kiến lầm lạc về tự ngã và đối với bạn con đường dẫn tới địa ngục đã bị đóng lại. Điều đó có nghĩa là bạn đã thiết lập được một chỗ đứng vững chắc trong Giáo Pháp của Đức Phật. Với sự tiến bộ trong nội quán và năng lực định tâm đã phát triển mạnh mẽ, sự nổ lực chú ý đến những trạng thái khao khát của tâm trí và có được một phương pháp thực hành thiền đúng đắn, bạn sẽ có khả năng chú ý đến tất cả các giai đoạn trong tiến trình ăn. Đến lúc này có thể nói rằng, dường như thức ăn chỉ trôi xuống cuống họng của bạn, chứ không hề có sự khởi lên của tâm khao khát muốn nuốt thức ăn để thỏa mãn. Đến lúc này, bạn đã có khả năng nuốt thức ăn một cách tự nhiên mà không khởi lên bất cứ một ý nghĩ thèm muốn nào cả. Nếu bạn không muốn nuốt xuống thì thức ăn sẽ không trôi xuống cuống họng một cách vô ý thức. Sau khi tiếp tục thực hành sự chú ý khi đang ăn trong vòng từ 2 đến 3 ngày, có thể bạn sẽ nói rằng : “ Chính tâm khao khát đã khiến cho hành động nuốt thức ăn xảy ra, bây giờ tôi đã có thể chú ý đến nó. Bây giờ tôi không còn ăn như trẻ nhỏ nữa”.

Sau khi đã có thể nói như vậy, bạn sẽ luôn luôn có sự chú ý khi đang ăn. Tuy nhiên, nếu thức ăn không có mùi vị hấp dẫn đặc biệt thì bạn vẫn còn chú ý được. Mặt khác, đối với những loại thức ăn ngon và có mùi vị hấp dẫn thì bạn vẫn chưa chú ý được khi đang ăn. Nói như vậy có nghĩa là bạn vẫn còn muốn thưởng thức những loại thức ăn ngon. Do đó, có thể bạn sẽ tiếp tục ăn với tâm tham muốn, thay vì phải ăn trong Chánh niệm. Nếu như thế thì bạn vẫn còn cách xa Niết-Bàn lắm. Nếu có thể chú ý khi đang thọ thực, tức có thể ăn trong Chánh niệm thì chắc chắn bạn sẽ đạt tới Niết-Bàn.

Tóm tắt: Nếu có thể ăn trong Chánh niệm thì tâm trí sẽ không bị lang thang vô định

Bây giờ hãy để tôi kể cho bạn nghe một câu chuyện nói về “ việc ăn trong Chánh niệm sẽ gặt hái được Niết-Bàn”. Một thời có một vị Trưởng Lão và một Tỳ-kheo tân học ( Sāmanera - tức Giới tử trong Phật giáo) đang chung sống với nhau trong một tu viện. Vị Trưởng Lão lúc bấy giờ là cậu ruột của vị Tỳ-kheo tân học kia. Người cậu tên là Mahāsangharakkhita và người cháu tên là Sangharakkhita . Hàng ngày, vị Tỳ-kheo tân học nọ có thói quen đi khất thực vào khoảng 9 giờ sáng và trở về tu viện lúc 10 giờ 30 để thọ trai. Khi vị Tỳ-kheo tân học đang ăn, vị Trưởng Lão đến và nhắc nhở cậu ta rằng, đừng để cho cơm nóng và cà-ri làm phỏng lưỡi. Lúc đó, vị Tỳ-kheo tân học đã tự hỏi rằng : “ Cậu của ta chắc hẳn đã biết rằng thức ăn mà ta đi khất thực về đã nguội hoàn toàn, tại sao ông còn khuyên ta như vậy làm gì nữa ? Liệu cơm nóng và cà-ri có thể làm phỏng lưỡi của ta chăng ?” Với sự thông thái, vị Tỳ-kheo trẻ tuổi đã nhận thức được rằng cậu của mình có ý khuyên “ hãy ăn trong sự chú ý”. Nói cách khác là không nên ăn với tâm tham lam và sân hận. Theo đó, vị Tỳ-kheo tân học nọ đã thực hành quán niệm trong khi đang ăn và trở thành một A-La-Hán.

Khi đang xúc chạm

Tóm tắt: Nếu suy nghĩ về sự xúc chạm thì tâm trí sẽ bị lang thang vô định. Ngược lại, nếu biết thực hành sự chú ý khi đang xúc chạm thì tâm trí sẽ định tĩnh.

Tâm tham lam sẽ khởi lên khi bạn đang tận hưởng cảm giác xúc chạm dễ chịu. Sân hận sẽ khởi lên khi bạn đang xúc chạm với những loại áo quần, nệm ngủ…thô ráp và khó chịu. Chú ý đến tất những loại xúc chạm như tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng, tiến trình đang ngồi, chuyển động đang dở bàn chân lên, chuyển động bước tới của bàn chân, đặt bàn chân chạm đất và nhiều loại chú ý khác có liên quan đến thân thể là quán thân ( Kāyanupassana). Ngoại trừ tóc trên đầu, móng chân và móng tay, bề mặt tiếp xúc của những bộ phận khác thuộc về thân thể đều có thể phát sanh cảm giác khi chúng xúc chạm với những vật khác. Bề mặt cảm giác của những bộ phận nói trên có thể phân biệt được tính êm ái, mềm mại hay thô ráp khi xúc chạm với các vật khác. Hiện nay, hầu như tất cả những người thực hành thiền minh sát đều thực hành sự quán niệm trên bốn yếu tố là đất, nước, gió, lửa. Yêu cầu đặt ra cho hành giả là phải chú ý để phân biệt được đâu là chân lý qui ước ( Paññatti – Conventional truth) và đâu là chân lý cùng tột ( Paramattha- Ultimate truth). Cần phải thực hành một loại thiền minh sát chính cống là điều quan trọng nhất. Tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng thuộc về vật chất và là chân lý qui ước. Sự chuyển động chứa đựng trong tiến trình này mới chính là chân lý cùng tột. Chính sự chuyển động này đã khiến cho bụng phồng lên và xẹp xuống. Chúng ta nên nhớ rằng trong thiền minh sát, hành giả không cần lưu tâm đến chân lý qui ước, ví dụ như hình dáng bên ngoài của bụng, đầu, thân thể và tứ chi…

bởi vì những chân lý qui ước đó chỉ là những hiện tượng. Tuy nhiên, khi bạn đang thiền tọa, sức nóng và cảm giác căng thẳng phát sanh do thân thể xúc chạm với mặt sàn chính là chân lý cùng tột. Khi đã nhận biết được bản chất của các hiện tượng thì bạn sẽ lãnh hội được tiến trình khởi lên và tan biến đi của chúng.

Tóm tắt: Trong việc thực hành thiền minh sát, chúng ta không cần lưu tâm đến chân lý qui ước, chỉ chú ý để nhận biết được chân lý cùng tột.

Với sự tiến bộ trong việc thực hành nội quán, bạn sẽ gặt hái được kiến thức về tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng – Udayabbaya Ñāna. Tiếp đến là kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng- Bhanga Ñāna, nơi mà hành giả rất dễ nhận biết tính tan rã tất yếu chứa đựng trong lòng các hiện tượng, sự tan biến đi của đối tượng nhận thức và sự chú ý của tâm trí. Từ đó, tâm thức sẽ tiến đến chỗ lãnh hội được tính vô thường, khổ và vô ngã trong lòng các hiện tượng. Cuối cùng, hành giả sẽ đạt tới Niết-Bàn. Nếu niệm thầm trong tâm “ đang xúc chạm, đang xúc chạm”…khi có sự tiếp xúc giữa thân thể và các vật khác thì tâm trí của bạn sẽ không bị lang thang vô định. Bạn nên nhớ rằng, khi tiếp xúc với bất cứ cái gì và vào bất cứ lúc nào, bạn chỉ nên niệm thầm trong tâm mình

“ đang xúc chạm, đang xúc chạm”…Nhờ đó, bạn sẽ phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất, tham lam và sân hận sẽ không còn khởi lên trong tâm thức của bạn nữa. Thậm chí, khi đang niệm thầm trong tâm “ đang xúc chạm, đang xúc chạm”… Bạn sẽ nhận thức được sự thật rằng không có bất cứ một người nào đang xúc chạm cả, tiến trình xúc chạm đó chỉ là tinh thần và vật chất đang hoạt động mà thôi. Nhờ đó, bạn sẽ gặt hái được kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất – Ñāmarūpaparicheda Ñāna. Tiếp đến, quan kiến lầm lạc về tự ngã trong tâm thức của bạn sẽ bị xua tan. Tâm bám víu vào 5 uẩn phát xuất từ quan kiến lầm lạc của bạn cũng sẽ bị loại bỏ. Một khi bạn đã thiết lập được cho mình một chỗ đứng vững chắc trong Giáo Pháp của Đức Phật do ảnh hưởng của việc chú ý đến “ tiến trình xúc chạm”, thì những nguy hiểm ở địa ngục cũng không còn khả năng đe dọa bạn nữa. Xa hơn nữa, bạn sẽ nhận biết được rằng, bởi vì có tiến trình xúc chạm, sự chú ý của tâm trí mới hiện khởi. Tiến trình xúc chạm là nguyên nhân và sự chú ý của tâm trí chính là kết quả của tiến trình này. Từ đó, hành giả sẽ gặt hái được kiến thức về nhân quả - Pacayapariggaha Ñāna. Trong trạng thái nội quán mà tâm thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất ( Ñāmarāpa-pariccheda Ñāna), khả năng chú ý của bạn có thể chưa được liên tục. Tuy nhiên, bạn có thể chú ý một cách chi tiết đến đối tượng quan sát khi gặt hái được kiến thức về nhân quả. Khi đã có thể thực hành quán niệm trong tất cả 4 tư thế

( đi, đứng, ngồi, nằm) với năng lực định tâm mạnh mẽ, bạn sẽ có khả năng chú ý một cách chi tiết đến đối tượng quan sát. Trong thiền hành, khi thấy

“ ý định muốn bước đi” khởi lên một cách sống động trong tâm thức, bạn hãy niệm thầm trong tâm mình “ đang có ý định bước đi, đang có ý bước đi”…Chú ý đến trạng thái đi khi thân thể bắt đầu chuyển động do ảnh hưởng bởi sức đẩy của “ yếu tố chuyển động”. “Ý định muốn bước đi” là nguyên nhân và “chuyển động bước đi” là kết quả của ý định. Khoảng từ 2 đến 3 bước trước khi bạn đi hết đoạn đường dùng để thiền hành, “ ý định muốn dừng lại” sẽ khởi lên, lúc đó bạn hãy niệm thầm trong tâm “ đang có ý định muốn dừng lại, đang có ý định muốn dừng lại”…Do ảnh hưởng của ý định này, yếu tố chuyển động sẽ điều khiển thân thể dừng lại. Tiếp đến, bạn lại chú ý đến “ hành động dừng lại”, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang dừng lại, đang dừng lại”… Khi “ ý định muốn ngồi xuống” xuất hiện một cách rõ rệt trong tâm thức, bạn hãy niệm thầm trong tâm “ đang có ý định muốn ngồi xuống, đang có ý định muốn ngồi xuống”…Khi “ yếu tố chuyển động” thúc đẩy thân thể ngồi xuống, bạn cần chú ý đến “chuyển động dần dần ngồi xuống” của thân thể, đồng thời niệm thầm trong tâm “ đang ngồi xuống, đang ngồi xuống”…Khi bạn muốn đứng lên thì “ ý định muốn đứng lên” sẽ hiện khởi, bạn hãy niệm thầm trong tâm “ đang có ý định muốn đứng lên, đang có ý định muốn đứng lên”… Yếu tố chuyển động sẽ thúc đẩy thân thể đứng lên và chuyển động dần dần đứng lên của thân thể sẽ hiện khởi. Chuyển động dần dần đứng lên của thân thể được bạn nhận biết như là “ hành động đang đứng”, lúc chuyển động này đang xảy ra, bạn hãy niệm thầm trong tâm “ đang đứng lên, đang đứng lên”…”Ý định muốn đứng lên” là nguyên nhân và “ hành động đứng lên” là kết quả của nguyên nhân ấy.

Tóm tắt: Ý định muốn ngồi xuống thuộc về danh pháp ( tức tinh thần), hành động ngồi xuống thuộc về sắc pháp ( tức vật chất). Như vậy, không phải ông T hay quí vị đang ngồi xuống, hành động ngồi xuống được thực hiện bởi tinh thần và thể xác. Nếu lãnh hội tốt hai yếu tố tinh thần và vật chất thì hành giả sẽ nắm được bản chất của hành động ngồi này.

Trong trạng thái nội quán mà tâm thức nhận biết được định luật nhân quả, trí tuệ đã nhận biết được mối liên giữa nguyên nhân và kết quả một cách rõ ràng. Sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất đã xuất hiện rất sống động và rõ ràng trong tâm thức của bạn. Đến lúc ấy, nếu chú ý một cách liên tục và chính xác đến đối tượng quan sát, bạn đã có khả năng chú ý một cách chi tiết và khách quan. Sự chú ý sẽ bị rời rạc và tản mác nếu bạn thực hành quán niệm một cách hời hợt. Từ satipatthana bao gồm từ sati - có nghĩa làchú ý và từ appatthana có nghĩa là thiết lập một tâm trí chắc chắn và khách quan. Như vậy, bạn sẽ lãnh hội được Giáo Pháp một cách rõ ràng chỉ khi năng lực chú ý đã được thiết lập một cách chắc chắn và khách quan trên đối tượng quan sát. Từ đó, tuệ minh sát sẽ phát triển trong tâm thức của bạn. Có 3 cách ăn để gặt hái phước báu, đó là :

1. Ăn trong Giới Luật

2. Ăn trong thiền định

3. Ăn trong thiền quán

Khi đang ở nhà và không thực hành thiền, bạn có thể thực hành theo một trong 3 cách ăn nói trên. Trước khi ăn, những hành giả tại Trung tâm thiền Ánh Sáng Đạo Pháp – Saddhammaramsī Yeiktha đều suy niệm rằng

“ chúng tôi xử dụng những vật thực đa dạng này không nhằm mục đích có được một thân thể xinh đẹp, cũng không phải để tận hưởng chúng và gặt hái những cảm giác dễ chịu. Chúng tôi chỉ xử dụng những loại vật thực này nhằm mục đích duy trì mạng sống và để được thuận tiện trong 4 oai nghi

( đi, đứng, ngồi, nằm). Do có suy niệm trước khi ăn theo cách trên, bạn sẽ gặt hái được phước báu.

Tóm tắt: Thọ thực chỉ nhằm mục đích duy trì mạng sống để có thể tiếp tục thực hành thiền. Nếu suy niệm như vậy, bạn sẽ gặt hái phước báu.

Trước mọi bữa ăn, những hành giả thực hành thiền đều rãi tâm từ ( Mettā-Loving Kindness) đến tất cả Tăng già. Họ cũng rãi tâm từ đến với những Tu nữ, các hành giả đang cùng thực hành thiền với họ và những người đang thực hiện những nhiệm vụ khác tại trung tâm thiền. Đây chính là cách ăn trong thiền định.

Tóm tắt : Trước bữa ăn, các hành giả đều thực hiện việc rãi tâm từ và đây chính là cách ăn trong thiền định.

Trong mọi bữa ăn, hành giả tập trung chú ý đến từng chuyển động trong tiến trình ăn như : Lấy thức ăn, gập cổ xuống, ngẫng cổ lên, mở miệng… Sự chú ý sẽ trở nên được liên tục do ảnh hưởng của việc thực hiện quán niệm một cách nghiêm túc và chu đáo. Bạn có thể gặt hái được Đạo quả và Niết-Bàn qua cách ăn trong Chánh niệm hay chú ý trong lúc đang ăn. Đây chính là cách ăn trong thiền minh sát. Nhờ cách ăn này, tâm trí của hành giả sẽ không còn lang thang vô định. Những thiền sư có bổn phận hướng dẫn cho các hành giả thực hành cách ăn trong Chánh niệm để gặt hái được phước báu. Bổn phận của những hành giả là thực hành đúng theo sự chỉ dẫn của các thiền sư.

Tóm tắt: Khi đang đang ăn, bạn hãy thực hành sự chú ý đến các hoạt động ăn. Đây là cách ăn trong thiền minh sát.

Đức Phật đã từng khuyên rằng “ phải quan tâm đến sự cấu thành của thân thể. Không chỉ chú ý đến toàn bộ hoạt động của thân thể trong 4 tư thế ( đi, đứng, nằm, ngồi), chú ý tổng hợp ( tức chú ý đến tất cả những gì mà mình có thể chú ý trong đời sống hàng ngày) và chú ý trong lúc đang ăn, mà còn phải chú ý đến những chuyển động bài tiết của thân thể”. Ví dụ đầu tiên, chúng ta nên thực hành sự chú ý đến “ ý định muốn đi đại tiện” khởi lên trong tâm thức, đồng thời niệm thầm trong tâm mình “ đang có ý định muốn đại tiện, đang có ý định muốn đại tiện”…Khi yếu tố chuyển động thúc đẩy phân rơi xuống, chúng ta niệm thầm trong tâm “ đang đại tiện, đang đại tiện”…Nếu cảm thấy đau, bạn hãy niệm thầm trong tâm “ đau, đau”…Chú ý đến “ ý định muốn đại tiện” là quán niệm về tâm ( Cittanupassanā), chú ý đến “ động đang đại tiện” là quán niệm về thân ( Kāyanupassanā), chú ý đến sự đau là quán niệm về cảm thọ haycảm giác ( Vedananupassanā). Vì vậy, thậm chí lúc đang bài tiết các chất thải ra khỏi cơ thể, bạn cũng có thể gặt hái được phước báu. Trong thời mà Giáo Pháp của Đức Phật vẫn đang còn tồn tại, nếu thực hành đúng theo những lời giáo huấn của Ngài, bạn sẽ gặt hái được phước báu. Nếu chú ý một cách chăm chú thì tâm trí sẽ không còn bị lang thang vô định nữa. Do đó, Chánh niệm là một nhân tố ủng hộ lớn lao cho việc đạt tới Niết-Bàn của chúng ta. Nếu có mong muốn gặt hái được Niết-Bàn một cách nhanh chóng, bạn phải có được khả năng chú ý liên tục, chính xác và khách quan. Nếu sự chú ý bị rời tạc, tản mác thì chắc chắn bạn sẽ không gặt hái được Niết Bàn.                                  

Khi đang suy nghĩ

Tóm tắt: Khi những ý nghĩ khởi lên, nếu bạn  giữ vững sự chú ý trên chúng thì tâm trí sẽ không bị lang thang vô định.

Mặc dù có ý định muốn nằm ngủ trên giường với hai mắt nhắm lại, tâm trí của bạn vẫn có thể bị lang thang vô định. Khi đó, nếu bắt gặp những hiện tượng dễ chịu xảy ra trong tâm thức, bạn sẽ phát khởi tâm tham lam. Bạn sẽ mang tâm nghĩ đến những hiện tượng đã làm cho mình cảm thấy hài lòng, thay vì phải chú ý đến chúng. Nếu bắt gặp những hiện tượng khó chịu trong tâm thức, bạn sẽ khởi tâm bực bội và muốn tống khứ chúng đi, thay vì phải chú ý đến chúng. Do đó, sân hận sẽ khởi lên trong tâm thức của bạn. Điều này có nghĩa là tâm trí đã bị lang thang vô định, thay vì phải tập trung chú ý. Như vậy thì bạn vẫn còn ở cách xa Niết Bàn lắm.

Tóm tắt: Nếu bạn tập trung chú ý và quan sát thay vì suy nghĩ thì tâm trí sẽ không bị lang thang vô định.

Nếu đã có được một khả năng định tâm mạnh mẽ, khi chú ý đến một ý tưởng nào đó khởi lên trong tâm thức, năng lực chú ý của bạn sẽ trở nên nhanh nhẹn, nghĩa là sự chú ý của bạn sẽ có khả năng nắm bắt được đối tượng muốn quan sát một cách ngay lập tức. Đến lúc đó, những ý nghĩ khởi lên trong tâm thức đã không còn khả năng quấy rầy tâm trí của bạn nữa, tâm trí sẽ không còn lang thang vô định. Nói cách khác, những ý nghĩ khởi lên trong tâm thức sẽ tan biến đồng thời với sự chú ý của bạn. Từ đó, tiến trình khởi lên và tan biến đi của những ý nghĩ đã trở nên rất dễ nhận biết, đặc biệt khi bạn đã gặt hái được kiến thức về tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng- Udayabbaya Ñāna. Tiến trình biến mất của các hiện tượng lại càng dễ nhận biết hơn khi bạn đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu – Bhanga Ñāna. Lúc này sự chú ý của bạn sẽ cố định một cách chính xác trên những ý nghĩ đã khởi lên trong tâm thức. Khi năng lực định tâm của bạn đã mạnh mẽ thì tiến trình biến mất đi của những ý nghĩ và sự chú ý sẽ xảy ra một cách nhanh chóng. Do đó, bạn sẽ lãnh hội được ba tướng vô thường, khổ và vô ngã chứa đựng trong lòng các sự vật và hiện tượng. Từ lúc còn nhỏ, bạn đã từng nghe nói đến vô thường, khổvô ngã. Bây giờ, bạn sẽ tự trải nghiệm chúng qua việc thực hành sự chú ý. Nói cách khác, bạn sẽ thấy được ba đặc tính này chính là các hiện tượng xảy đến trong thân tâm của chính mình. Nếu có thể lãnh hội được bản chất thật sự của ba đặc tính đó ( tức vô thường, khổ và vô ngã) thì chắc chắn bạn sẽ đạt tới Niết Bàn hạnh phúc.

Năm vị Tỳ kheo

Trong thời Đức Phật còn tại thế, có trường hợp các vị Tỳ kheo không gặt hái được Giáo Pháp bởi vì tâm trí của họ bị lang thang vô định. Thời ấy, tại tu viện Kỳ-Viên ở thành Xá-Vệ có 5 vị Tỳ kheo đang thực hành thiền. Vị  Tỳ kheo thứ nhất tin rằng chính đôi mắt là nguyên nhân tạo ra những vấn đề chướng ngại trong tham thiền. Vì vậy, vị này đã nổ lực làm chủ đôi mắt của mình và không còn chú ý đến những cảm giác mà các giác quan còn lại ( tai, mũi, lưỡi, thân, ý) thu nhận được.Vị Tỳ kheo thứ hai nghĩ rằng chính thính giác đã tạo ra những khó khăn cho việc thực hành thiền của ông.Vì vậy, vị này chỉ ra sức thực hành sự chú ý đến trạng thái đang nghe của mình mà không cần chú ý đến những cảm giác khác.Vị Tỳ kheo thứ ba quả quyết rằng chính cảm giác về mùi là chướng ngại cho việc gặt hái Niết Bàn của ông. Vì vậy, vị này cố gắng vượt qua các loại mùi mà khứu giác của ông thu nhận được và không còn chú ý đến những loại cảm giác khác. Vị Tỳ kheo thứ tư cho rằng chính vị của các loại vật thực đã làm bế tắc tiến trình thực hành thiền của ông. Vì vậy, vị này quyết tâm làm chủ cho bằng được thiệt giác

( tức cái lưỡi) của chính mình. Vị Tỳ kheo thứ năm lại nhận thấy rằng chính trạng thái xúc chạm của thân thể là nguyên nhân làm cho tiến trình thực hành thiền của ông chậm tiến bộ. Vì vậy, vị này chỉ chuyên thực hành chú ý để làm chủ cảm giác mà thân thể của ông thu nhận được. Hàng ngày, năm vị Tỳ kheo nói trên có thói quen gặp gỡ nhau và đàm đạo. Tuy nhiên, họ thường bất đồng ý kiến với nhau và chưa đạt được bất cứ một sự thỏa thuận chung nào cả. Sau đó, họ tìm đến Đức Phật và cung kính trình lên Ngài những vấn đề tranh luận của họ. Đức Phật đã khuyên họ rằng : “  Chú ý và quan sát để làm chủ thị giác của mình là một cách tu hoàn toàn đúng đắn. Tuy nhiên, chừng đó cũng chưa đủ bởi vì mắt mới chỉ là một trong những giác quan của chúng ta mà thôi. Các ông cần phải chú ý và quan sát để hoàn toàn làm chủ hết thảy 6 loại giác quan của chính mình. Nếu làm được điều đó, các ông sẽ gặt hái được Đạo quả và Niết-Bàn. Đức Phật còn nói rằng :

“ Trong một kiếp sống ở quá khứ, do bị lạc thú cám dỗ, các ông đã bị quỷ dạ xoa ăn thịt. Vì vậy, điều quan trọng là phải làm chủ được 6 giác quan của chính mình, nếu các ông mong muốn bản thân mình sẽ trở thành một người hạnh phúc, trở thành Chư Thiên hay đạt tới Niết Bàn”.Tiếp đến, 5 vị Tỳ kheo nói trên đã cung kính thỉnh cầu Đấng Giác Ngộ thuật lại cho họ nghe những gì có liên quan đến quá khứ của họ. Trong một kiếp quá khứ của Đức Phật, lúc bấy giờ Ngài là người con thứ 1000 của vua Bramadatta. Mặc dù là người con nhỏ nhất của nhà vua nhưng Ngài là một người thông thái. Khi gặp những vị Phật-Bất-Động ( Silent Buddha), Ngài đã hỏi rằng liệu mình có thể làm vua của xứ Ba-La-Nại ngay trong kiếp sống hiện tại hay không ? Một vị Phật-Bất-Động đã nói rằng Ngài không thể làm vua tại xứ Ba-La-Nại nhưng có thể làm vua ở Takkasila thuộc tỉnh Gantara – cách Ba-La-Nại 60 do-tuần ( một do-tuần bằng 8 dặm Anh, một dặm Anh bằng 1609 mét – ND), nếu như Ngài có thể đi tới đó trong vòng 7 ngày. Cuộc hành trình từ Ba-La-Nại đến Takkasila là cực kỳ gian khổ và nhiều hiểm nguy, nếu muốn ra đi Ngài phải băng qua một khu rừng - nơi có quỷ dạ xoa ăn thịt người đang ở.Tuy nhiên, vị hoàng tử trẻ tuổi đã quyết định thực hiện chuyến hành trình đó. Ngài đã từ giã cha mẹ, anh em, bạn bè và những người hầu rồi ra đi. Có 5 người hầu tự nguyện đi theo Ngài. Trên đường đi, họ đã hết sức cẩn thận để khỏi bị quỷ dạ xoa ăn thịt. Vị Phật Bất-Động đã ban cho họ những sợi chỉ và cát hộ trì để chống lại những hiểm nguy và tổn hại. Khi đoàn người vào đến khu rừng nọ, các con quỷ dạ xoa đã dụ dỗ họ bằng cách biến bản thân chúng thành những vị thần xinh đẹp và đáng yêu. Một người trong đoàn hành trình đã không còn tự chủ được nữa và muốn đi theo những con quỷ trá hình kia.Tuy nhiên, vị hoàng tử trẻ đã nhắc nhở anh ta rằng, đó chính là những con quỷ dạ xoa chứ không phải các vị thần đáng yêu đâu. Cuối cùng, người đó đã thỉnh cầu vị hoàng tử trẻ hãy để cho anh ta được ở lại với những “ vị thần đáng yêu” kia. Ngay lập tức, sau khi vị hoàng tử và những người tùy tùng của Ngài rời đi thì người đàn ông dại khờ kia đã bị quỷ dạ xoa ăn thịt. Tiếp đến, những con quỷ dạ xoa lại trá hình và tiếp đãi họ bằng những ca khúc ngọt ngào và êm dịu. Một người nữa trong đoàn tùy tùng của vị hoàng tử trẻ đã bị quỷ dạ xoa ăn thịt vì không tin rằng những âm thanh tuyệt vời kia là do loài quỷ dạ xoa tạo ra. Mùi thơm phưng phức của đường ngào đã lôi cuốn người hầu thứ ba của vị hoàng tử trẻ và anh ta đã bị quỷ dạ xoa ăn thịt. Người hầu thứ tư đã không giữ được mình vì một loại thức ăn thơm ngon. Người hầu thứ năm đã bị cám dỗ bởi cảm giác xúc chạm mềm mại, nhẹ nhàng thuộc về thân thể và đã trở thành thức ăn của quỷ dạ xoa. Tiếp đến, một mình vị hoàng tử trẻ lại tiếp tục cuộc hành trình đến Takkasila. Trên đường đi tiếp, Ngài đã hết sức cẩn thận, quyết không để cho tâm trí mình lơ đãng và bị cám dỗ bởi những đối tượng của giác quan. Một con quỷ dạ xoa có trí tuệ không bằng sự thông thái của vị hoàng tử trẻ đã tự biến nó thành một người đàn bà xinh đẹp, một tay bồng một em bé và tay kia đeo một cái bị. Nó đã theo dõi vị hoàng tử trẻ từ xa. Con quỷ cái trơ trẽn đã nói rằng chồng nó là một người đốn củi. Sau đó, nó giả vờ chỉ trích chồng mình là kém cõi cho nên nó mới bồng con bỏ đi. Vị hoàng tử đã vạch mặt con quỷ bằng cách đáp rằng nó chính là quỷ dạ xoa chứ không phải là người và cũng không phải là vợ của người đốn củi nào cả. Quỷ dạ xoa lại nói :

“ Người ta thường gọi vợ mình là ma quỷ mỗi khi nổi giận”. Cuối cùng, vị hoàng tử trẻ và quỷ dạ xoa đã tới được Takkasila và cùng nghỉ lại một nơi gần cổng thành. Quỷ dạ xoa không thể lại gần vị hoàng tử. Vì vậy, nó đã ở lại bên ngoài ngôi nhà nghỉ dành cho khách bộ hành. Vào lúc đó, vua của xứ Takkasila đang ra ngoài cổng thành với những người tùy tùng của ông. Khi nhìn thấy người đàn bà xinh đẹp do quỷ dạ xoa hóa ra, nhà vua đã bị nó cuốn rũ đến mê mệt. Nhà vua cho một người tùy tùng của mình dò hỏi xem người đàn bà kia đã có chồng hay chưa. Lúc đó, quỷ dạ xoa đã nói với người tùy tùng này rằng người đàn ông ở trong ngôi nhà nghỉ kia chính là chồng nó. Mặc cho vị hoàng tử phản bác lời nói bịa đặt của quỷ dạ xoa, nhà vua vẫn không tin, ông cảm thấy vô cùng hạnh phúc và rước quỷ dạ xoa về cung điện của mình. Khi đêm đến, bạn bè và người thân của con quỷ dạ xoa kia đã tổ chức một buổi tiệc bằng cách ăn thịt hết tất cả những người có mặt trong hoàng cung. Đến sáng ngày hôm sau, khi mọi người phát hiện ra rằng hoàng cung không có vua, họ đã chia nhau đi tìm ông. Khi biết được vị hoàng tử trẻ thông thái đã thoát được những hiểm nguy như thế nào trong suốt cuộc hành trình của Ngài, những người dân tại Takkasila đã đưa vị hoàng tử về hoàng cung và nhận Ngài là vua của họ. Từ đó, vị hoàng tử đã trở thành vua bởi vì Ngài đã hoàn toàn làm chủ được 6 giác quan của mình, tâm trí của Ngài đã không còn lang thang vô định. Vị vua xứ Takkasila và những người tùy tùng của ông đã bị quỷ dạ xoa ăn thịt bởi vì họ đã không thể làm chủ được giác quan của họ. Đức Phật đã nói rằng : “ Không phải chỉ một người mà rất nhiều người khác đã bị quỷ dạ xoa ăn thịt bởi vì đã không làm chủ được các giác quan của mình, cụ thể là tâm tham lam và sân hận. Năm vị Tỳ kheo đã vô cùng khiếp đảm sau khi nghe Đức Phật kể hết câu chuyện. Sau đó, họ đã nổ lực thực hành thiền để làm chủ được các giác quan của chính họ đúng theo lời khuyên của Đức Phật. Họ đã đạt tới Niết-Bàn. Bây giờ, tôi tin chắc rằng tất cả những hành giả có mặt ở đây sẽ ra sức thực hành thiền để làm chủ 6 giác quan của họ, sau khi đã nghe xong câu chuyện nói trên.

Người tù và một tách dầu

Trong tác phẩm Silapattazataka có đề cập đến câu chuyện kể về một người tù bị tuyên án tử hình. Vào ngày người tù này bị đem ra hành quyết, nhà vua đã ban ra một sắc lệnh rằng, nếu anh ta không muốn chết thì phải mang một tách dầu đầy ắp và đi đến một nhà hát – nơi vũ nữ Zanapathakalyāni đang biểu diễn. Một người đàn ông với một con dao lớn cực bén sẽ đi theo sau người tù này, nếu thấy dầu rơi xuống đất, dù là một giọt nhỏ thì phải chém đầu anh ta ngay lập tức. Người tù phải đi qua một đám đông khán giả, nếu có ai đó chạm vào anh ta hay nếu anh ta liếc nhìn trộm vũ nữ thì chắc chắn dầu sẽ rơi xuống đất. Vì vậy nếu không muốn chết, người tù này phải hết sức cẩn thận và luôn luôn chú ý để không bị va chạm với những người khác, anh ta cũng không liếc nhìn vũ nữ đang biểu diễn. Đức Phật đã hỏi rằng : “ Trong trường hợp này, đối với người tù là dễ hay khó ?” Các Tỳ kheo đã trả lời là khó. Đức Phật lại nói : “ Thật ra để giữ cho dầu trong tách không bị rơi xuống đất cũng không khó lắm, nhất là đối với một người đã có khả năng duy trì sự chú ý liên tục trong lúc thực hành thiền”. Các bậc thầy chú giải Kinh Điển cũng đã đưa ra những sự so sánh như sau :

- Tách dầu đầy ắp được ví như việc quán niệm thân thể

-  Người tù được ví như những hành giả đang thực hành thiền

- Người tù phải hết sức cẩn thận chỉ vì anh ta không muốn chết trong một kiếp sống mà thôi. Tuy nhiên, những hành giả thực hành thiền cần phải tập trung sự chú ý với ý định muốn thoát khỏi cái chết trong nhiều kiếp sống. Họ cần phải gặt hái được Niết-Bàn để thoát khỏi cái chết và đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau.

- Khán giả và người vũ nữ được ví như những đối tượng của giác quan.

Nếu người tù bị đám khán giả hay người vũ nữ làm cho rối trí thì có thể anh ta sẽ làm cho dầu rơi xuống đất. Tương tự, nếu để cho các đối tượng của 6 giác quan làm cho rối trí thì hành giả sẽ không còn duy trì được sự chú ý, Giáo Pháp Cao Thượng trong họ sẽ bị gãy đổ. Điều đó có nghĩa là họ sẽ không gặt hái được Đạo quả.

-Người đàn ông với con dao lớn cực bén được ví như sự nhận thức của tâm. Tâm thức phải luôn luôn theo dõi sự chú ý giống như người đàn ông với con dao lớn cực bén luôn luôn theo dõi người tù. Tâm thức phải luôn luôn nhận biết rằng có sự chú ý hay không.

- Dầu trong tách được ví như những thứ ô nhiễm

Khi ô nhiễm khởi lên, nó phải bị Đạo Cao Thượng chém đứt đầu. Do đó, hành giả thực hành thiền phải nghiêm túc thực hành sự chú ý một cách liên tục và không để cho những thứ ô nhiễm phá rối sự chú ý của mình. Mặc dù hạnh Ba-La-Mật đã viên mãn, nhưng nếu thực hành sự chú ý một cách hời hợt, chắc chắn hành giả sẽ không thể gặt hái được Giáo Pháp Cao Thượng.

- Việc chém đầu được ví như sự đánh mất Giáo Pháp Cao Thượng hay trí tuệ. Nếu những hành giả chú ý một cách chính xác và liên tục thì Giáo Pháp trong họ sẽ không bị gãy đổ. Vì vậy, chắc chắn họ sẽ gặt hái được nó.

Những vị Tỳ kheo với sự ăn năn và khiếp đảm cực độ đã ra sức thực hành quán niệm một cách chính xác, liên tục và khách quan. Vì vậy, họ đã làm chủ được 6 giác quan và tâm trí của họ không còn bị lang thang vô định nữa. Nhờ đó, năng lực định tâm đã trở nên chín muồi và cuối cùng tất cả họ đã đạt tới Niết-Bàn.

Tắt ngẽn từ bên trong

Để thảo luận về trạng thái lang thang vô định của tâm trí và cách thức ngăn chặn trạng thái tâm đó một cách sâu xa hơn, bây giờ chúng ta cần phải biết rõ trạng thái tắt ngẽn từ bên trong là cái gì và cách thức hoạt động của nó.

Tóm tắt: Bám víu vào những cảm giác dễ chịu nghĩa là đã bị tắt ngẽn từ bên trong.

Ngày xưa, người ta thường xử dụng thiền định ( Samātha Bhāvanā – Tranquil Meditation) để thiết lập trạng thái định tâm, thay vì thực hành thiền minh sát. Những người thực hành thiền định và đạt tới an chỉ định thường có thói quen bám víu vào trạng thái thanh thản, yên bình và tỉnh táo của tâm trí. Trong khi đó, những người thực hành thiền minh sát chỉ chuyên thực hành sự chú ý đến những gì đang xảy ra trong thân tâm. Đây chính là cách thức hành thiền mà tất cả chúng ta đang xử dụng ngày nay. Theo những chỉ dẫn của Ngài Mahàsi, trước khi thiền phát triển một cách mạnh mẽ, có thể hành giả vẫn chưa có khả năng phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Do đó, khi bụng đang phồng lên phồng lên và xẹp xuống, hành giả sẽ nghĩ rằng “ bụng của tôi đang phồng lên và xẹp xuống”, “ ông T đang chú ý”, “ bà C đang ngồi”. “ cô X đang xúc chạm”…Hành giả sẽ nhận thức sai lầm rằng tinh thần và vật chất là một sự phức hợp tồn tại như một thực thể. Xa hơn nữa, họ còn xem đối tượng quan sát và tâm thức chỉ là một. Với năng lực định tâm đã chín muồi, hành giả sẽ nhận thức được rằng, tinh thần và vật chất là 2 thành phần hoàn toàn tách biệt, tiến trình phồng lên và xẹp xuống của bụng là thuộc về vật chất, sự chú ý để nhận thức của tâm là thuộc về tinh thần. Điều đó có nghĩa là hành giả đã gặt hái được trạng thái nội quán mà tâm thức có thể phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất ( Nāmarūpapariccheda Ñāna). Nói cách khác, hành giả có thể biết được rằng vật chất không hề có sự nhận thức, chỉ có tinh thần hay tâm trí là có sự nhận thức mà thôi. Đồng thời hành giả cũng nhận thức được rằng, tất cả những hoạt động của anh ta cũng chỉ là những tiến trình phối hợp, chuyển động, biến đổi của tinh thần và vật chất, thật ra hoàn toàn không có một người nào được gọi là “ ông T”, “ bà C” hay “ cô X” cả. Cách xử dụng danh xưng như “ ông T”, “ bà C” hay “ cô X”… trong đời sống hàng ngày chỉ là những từ ngữ có tính qui ước với mục đích thuận tiện trong việc phân biệt người này với người khác khi giao tiếp với nhau mà thôi. Bằng hạnh thực hành quán niệm một cách kiên định, hành giả sẽ không còn khởi tâm bám víu vào những “ thực thể giả tạm” như “ ông T”, “bà C” hay “cô X…”

Quan kiến lầm lạc về tự ngã và tâm bám víu vào 5 uẩn đã bị loại bỏ. Vì vậy đối với hành giả, cánh cửa của địa ngục khổ đau đã bị đóng lại. Trong trạng thái nội quán mà tâm thức đã nhận biết được định luật nhân quả

( Paccayapariggaha Ñāna), hành giả sẽ lãnh hội được sự thật rằng, tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng, tiến trình đang ngồi, đang xúc chạm… là nguyên nhân, sự chú ý của tâm trí chính là kết quả của những tiến trình ấy. Sẽ không có sự chú ý nào cả nếu tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng, tiến trình đang ngồi, tiến trình đang xúc chạm không xảy ra. Như một sự thật, chỉ có nguyên nhânkết quả đang hoạt động. Khi đã nhận thức được như vậy, hành giả sẽ không còn khởi tâm bám víu vào tinh thần và vật chất nữa. Trong trạng thái nội quán này, những hình ảnh như các ngôi chùa, những ngôi tu viện, màu lục, màu xanh da trời, màu vàng… có thể sẽ xuất hiện trong tâm trí của hành giả như là cảnh mộng. Tuy nhiên, chúng sẽ xuất hiện theo những cách thức không được rõ ràng cho lắm. Trong trạng thái nội quán được gọi là kiến thức lãnh hội – Sammasana Ñāna, hành giả sẽ trải nghiệm một cách rõ ràng trạng thái đau, nhức sau khi đã thiền tọa được một vài ngày. Sau khi thực hành thiền được khoảng từ 9 đến 10 ngày, hành giả sẽ bị quấy rầy bởi cảm giác khổ sở, anh ta sẽ cảm thấy chán nản và muốn quay về nhà. Hành giả cũng sẽ nghĩ rằng cảm giác đau nhức càng ngày càng gia tăng khi anh ta thực hành thiền tọa. Lúc mới khởi sự thực hành thiền thì không thấy đau gì cả, tuy nhiên bây giờ thì càng ngày càng thấy tệ hơn. Vào những lúc như vậy, thiền sư phải có bổn phận động viên hành giả bằng cách nói cho anh ta biết rằng : “ Cứ yên tâm đi ! Sau khi đã vượt qua được trạng thái nội quán này rồi, ông sẽ không còn đau nhức nữa đâu ! Vì vậy, ông không nên bám víu hay chấp chặt vào trạng thái mệt mỏi của thân tâm làm gì, cứ để mặc nó !”. Bằng cách chú ý nghiêm túc, chính xác và liên tục, tiến trình thực hành thiền của hành giả chắc chắn sẽ có sự tiến bộ và sớm đạt tới trạng thái nội quán được gọi là kiến thức về sự khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng – Udayabbaya Ñāna.

Trạng thái nội quán này đúng là trái ngược với trạng thái được gọi là kiến thức lãnh hội. Lúc ban đầu, khi hành giả vừa mới gặt hái được Udayabbaya Ñāna, tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng vẫn chưa xuất hiện một cách rõ ràng trong tâm thức. Tuy nhiên, cảm giác đau nhức đã biến mất, hành giả sẽ cảm thấy thân tâm của mình trở nên nhẹ nhàng, dễ uốn nắn và điều khiển. Do đó, hành giả đã có thể thực hành thiền một cách dễ dàng hơn trước. Vào lúc đó, hành giả sẽ cảm thấy hoan hỷ và hạnh phúc, thân tâm đã trở nên yên bình và trầm tĩnh. Bây giờ hành giả đã có khả năng thiền tọa liên tiếp từ 2 đến 3 giờ đồng hồ mà không cần phải thay đổi tư thế. Từ đó, hoan hỷ minh sát – Vipassanā Pīti đã phát triển trong tâm thức của hành giả và anh ta sẽ trải nghiệm những cảm giác dễ chịu và thích thú. Với trạng thái hoan hỷ đó, có thể hành giả sẽ nhìn thấy trong tâm mình những hình ảnh quá khứ của chính anh ta, những vị thần và Phạm Thiên. Lúc đó hành giả sẽ nghĩ rằng anh ta chính là một vị thần hay một vị Phạm Thiên. Thật ra, hành giả vẫn chưa gặt hái được Giáo Pháp. Tuy nhiên, anh ta sẽ tận hưởng được 5 loại hoan hỷ minh sát sau đây.                                        

Năm loại hoan hỷ minh sát

1. Khuddaka Pīti – Trạng thái vui sướng đến độ da thịt nổi cả gai ốc

2. Khanika Pīti – Trạng thái vui sướng chỉ thoáng qua như một ánh chớp

3. Okkantika Pīti – Trạng thái vui sướng dạt dào như sóng biển vỗ bờ

4. Ubbega Pīti – Trạng thái vui sướng khiến cho người sở đắc nó có thể nổi lên trong không trung giống như một tấm vải bay trước gió. Khi năng lực định tâm đã phát triển mạnh mẽ, hành giả thực hành thiền minh sát có thể cảm thấy thân thể của mình nhẹ hẳn lên. Bạn có thể bắt gặp một nữ hành giả đang thiền tọa với 2 cánh tay giơ lên. Lần sau khi đến thăm cô ấy, bạn cũng sẽ thấy cô ta vẫn ngồi thiền ở đó với 2 cánh tay giơ lên. Trong một cuộc trình Pháp, vị thiền sư đã hỏi rằng liệu cô có cảm thấy mệt không khi ngồi thiền theo kiểu như vậy. Cô ấy đã nói rằng mình đã không hề nhận biết được điều đó một chút nào cả, nghĩa là 2 cánh tay của cô ta đã tự động giơ lên trong lúc thiền tọa mà cô ta không biết gì cả. Thỉnh thoảng thân thể của hành giả lại trở nên mềm dẻo đến độ rất dễ uốn nắn, khi khác nó lại trở nên rất xù xì, thô ráp. Có khi lưng của hành giả có thể uốn cong như lưng ngựa nếu có ai đó đẩy tới từ phía sau lưng hoặc đứng ở phía trước mặt hành giả và kéo lui. Hành giả đã trải nghiệm trạng thái hoan hỷ này thường có khuynh hướng nghĩ rằng, đó là sự quấy rối của một thế lực siêu nhiên nào đó rồi sanh tâm lo âu và chán nản. Khi trải nghiệm những hiện tượng giống như vậy, hành giả không nên bận tâm về chúng, với thời gian thì chúng sẽ biến mất đi mà thôi. Nhờ đó, tâm trí của hành giả sẽ càng mạnh mẽ hơn và không còn suy nghĩ đến những hiện tượng giống như vậy nữa.

5. Pharana Pīti – Trạng thái vui sướng ngập tràn toàn thân thể giống như một quả bóng được bơm căng lên hay giống như nước tràn khỏi một bể chứa. Người đã trải nghiệm trạng thái này sẽ cảm thấy rất vui sướng và dễ chịu nhưng không thể giải thích được cho người khác hiểu. Những sự trải nghiệm khác thường giống như vậy có thể khiến cho hành giả nghĩ rằng mình đã gặt hái được Giáo Pháp. Với trạng thái hoan hỷ đó, bạn có thể vui sướng đến độ rơi nước mắt và khởi tâm bám víu vào nó. Vì vậy, năng lực chú ý của bạn có thể bị đứt quãng. Trong thiền tọa cũng vậy, hành giả đã trải nghiệm trạng thái hoan hỷ vừa nói sẽ không cảm thấy đau nhức gì cả, tất cả đã trở nên rất dễ dàng và thuận tiện. Hành giả này sẽ trải nghiệm những trạng thái như sự xúc chạm mềm dẻo, mùi thơm ngát và ngọt ngào hay nhìn thấy những cảnh tượng hạnh phúc trong tâm. Việc khởi tâm bám víu vào những trạng thái hoan hỷ minh sát sẽ là chướng ngại cản trở sự phát triển của Giáo Pháp trong tâm thức hành giả.

Tóm tắt: Bám víu vào những cảm giác dễ chịu nghĩa là đã bị tắt ngẽn từ bên trong.                                                     

Một hành giả không thể rời bỏ văn phòng làm việc của mình để đến thực hành thiền tại một trung tâm dưới sự hướng dẫn của thiền sư. Vì vậy, anh ta đã thực hành thiền tại nhà riêng. Mặc dù đã thực hành thiền được 10 năm, tuy nhiên hành giả này vẫn không gặt được sự tiến bộ nào cả, bởi vì anh ta đã khởi tâm bám víu vào hoan hỷ minh sát. Đây là một trường hợp tương tự như những người thực hành thiền định đã đạt tới các bậc thiền ( Jhāna).

Một vị Trưởng Lão tên là Mahānāga đã đạt tới các bậc thiền và sở đắc được nhiều phép thần thông. Do đó, ông luôn tự cho mình là một vị A-La-Hán. Ông thuộc nhiều Kinh Kệ, hướng dẫn cho những đệ tử của mình thực hành Phật Pháp và thiền định. Vị Trưởng Lão này sống tại Uccavalikha. Một trong những đệ tử của ông tên là Dhammadinna, sống tại Tarintara.

Vị này đã trở thành một A-La-Hán và có nhiều phép thần thông ( Abhiññā – Supernormal power). Một ngày nọ, Dhammadinna quán tưởng về vị thầy của mình – người đã trải qua 60 tuổi hạ. Ông đã vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng thầy của mình chưa phải là một vị A-La-Hán, Ngài vẫn còn là một người trần tục. Dhammadinna bèn tìm đến thầy của mình và được thầy hỏi rằng : “ Tại sao ông lại đến vào giờ này ? Có mục đích đặc biệt nào chăng ?” Vị Tỳ-kheo trẻ đã trả lời rằng ông muốn biết một vài điều chưa được rõ ràng về thầy của mình. Tiếp đến, Dhammadinna đã hỏi thầy của mình hơn 1000 vấn đề, tuy nhiên vị Trưởng Lão đã giải thích được tất cả những vấn đề mà Dhammadinna muốn biết. Sau đó, vị Tỳ-kheo trẻ lại hỏi thầy của mình rằng Ngài đã gặt hái được sự định tâm chưa. Vị Trưởng lão bèn cho Dhammadina biết rằng Ngài đã thực hành thiền định trong một quãng thời gian rất dài. Do đó, Dhammadinna đã thỉnh cầu vị Trưởng Lão hãy tạo ra một khu rừng hoang dã, một con voi to lớn và rất hung dữ. Vị Trưởng lão đã tạo ra một con voi màu trắng. Tiếp đến, vị Tỳ kheo trẻ lại thỉnh cầu thầy mình tạo ra một con voi hoang dã màu trắng và rất hung dữ đang đi về phía Ngài, đuôi của nó uốn cong lên, miệng của nó nằm trên thân mình chứ không phải nằm trên đầu và phát ra những tiếng kêu dữ dội như thể muốn dẫm nát vị Trưởng Lão. Con voi vừa được tạo ra đã khiến cho vị Trưởng Lão thực sự khiếp đảm và toan bỏ chạy. Vì vậy, Dhammadinna đã kéo y phục của vị Trưởng Lão và nhắc nhở ông rằng : “ Một vị A-La-Hán sẽ không bao giờ còn sợ hãi”. Ngay lập tức, Mahànàga đã nhận thức được rằng ông chưa phải là một vị A-La-Hán như ông đã tin trước đây. Vô cùng hối hận, vị Trưởng Lão đã thỉnh cầu Dhammadinna hãy nhận mình làm đệ tử và cho ông những lời khuyên. Dhammadinna lúc bấy giờ đã là một A-La-Hán thật thụ đã hướng dẫn cho vị Trưởng Lão cách thức thực hành thiền minh sát. Ngay lập tức, vị Trưởng Lão đã thực hành quán niệm và chỉ sau 3 bước đi ông đã trở thành một A-La-Hán do thông qua thiền định, ông đã đạt tới năng lực định tâm từ lâu. Trong suốt 60 năm qua, vị Trưởng Lão đã bị tắt nghẽn từ bên trong. Do đó, ông vẫn còn là một người trần tục và chưa đạt tới quả vị A-La-Hán. Nếu chưa trở thành A-La-Hán và qua đời, Màhagàna có thể được tái sanh vào cõi Phạm Thiên – nơi có tuổi thọ rất cao. Tuy nhiên, trong kiếp sống sau đó, có thể ông sẽ bị đọa vào cõi súc sanh ( khi đã mãn kiếp tịa cõi Phạm-Thiên). Đó là lý do tại sao Dhammadinna đã đến gặp thầy của mình và cứu ông thoát khỏi một kiếp sống bất hạnh trong tương lai. Thật rõ ràng, quan điểm cho rằng thiền định là phương pháp tu tập cao nhất chính là nguyên nhân gây tắc nghẽn từ bên trong của vị Trưởng Lão Mahāgāna.

Tóm tắt: Khi những cảm giác dễ chịu khởi lên trong tâm thức, chúng ta hãy xua tan chúng bằng cách thực hành quán niệm.      

Trạng thái nội quán mà tâm thức nhận biết được tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng ( Udayabbaya Ñāna) cũng tương tự như các bậc thiền hay sự đốt cháy phiền não ( Jhāna – Absorption). Udayabbaya Ñāna ở bậc thấp tương đương với nhị thiền ( Second Jhāna), Udayabbaya Ñāna ở bậc cao tương đương với tam thiền ( Third Jhāna). Trong tam thiền, đối tượng quan sát khởi lên và biến mất đi một cách rõ rệt trong tâm thức hành giả khi nó bị chú ý đến. Do đó, hành giả không cảm thấy dễ chịu và cũng không khởi tâm bám víu. Hoan hỷ minh sát ( Pīti) cũng phai dần đi. Trong khi đó, ở trình độ nhị thiền, hành giả không trải nghiệm như vậy. Hành giả chỉ gặt hái được Phật Pháp khi đã lãnh hội được một cách rõ ràng về tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng. Nói cách khác, do lãnh hội được tam tướng ( Tilakkhana – Three Characteristics) vô thường, khổ và vô ngã, hành giả đã không còn khởi tâm bám víu vào những cảm giác dễ chịu.

Kiến thức về trạng thái thanh thản – Sankhārūpekkha Ñānacũng tương tự như tứ thiền ( Fourth Jhāna). Trong trạng thái nội quán này, hành giả đã bỏ xa cảm giác khó chịu cũng như cảm giác dễ chịu. Ở trình độ tu chứng này, tâm trí của hành giả đã không còn bị quấy rầy bởi những gì xảy đến chung quanh anh ta. Một hành giả đã đạt tới tứ thiền nói rằng có 100 chiếc xe đi qua trước mặt anh ta, tuy nhiên anh ta đã không hề nghe thấy tiếng ồn ào của chúng. Sau khi đã gặt hái kiến thức về trạng thái bình thản, thiền nội quán trong hành giả sẽ tiếp tục phát triển.

Sự bám víu

Tóm tắt: Chấp chặt tinh thần và vật chất như tự ngã là nguyên nhân của tham muốn và khao khát.

Nếu tinh thần và vật chất được xem như là “ ông T”, “ bà C”, “ tôi”, “ quí vị”, “ đàn ông” hay “ đàn bà”…thì tham muốn và khao khát sẽ khởi lên trong tâm thức. Nếu những tham muốn và khao khát trong chúng ta không được thỏa mãn thì tâm sân hận sẽ khởi lên. Khi tham muốn và khao khát không được thỏa mãn, người ta sẽ cảm thấy buồn khổ, lo lắng, bất hạnh…Không những tinh thần của người ta bị thiêu đốt mà thể xác cũng bị dày vò. Khi buồn khổ kéo dài, người ta sẽ dễ mắc những chứng bệnh như đau tim, mất ngủ, huyết áp cao…Nếu nghĩ rằng bản thân mình chính là “ T” hay “ Y”… thì chắc chắn bạn sẽ xem người khác là “ bà C”, “ cô X”, “ đàn ông”, “ đàn bà”…Do đó, bạn sẽ khởi tâm bám víu vào họ, thân tâm của bạn sẽ bị thiêu đốt. Nếu không muốn thân tâm của mình bị thiêu đốt thì bạn đừng phát triển tâm bám víu hay tham muốn đối với tinh thần và vật chất.

Tóm tắt: Khi tham muốn và khao khát khởi lên trong tâm thức, chúng ta không cần thiết lập một trạng thái tấn công để xua tan chúng đi, chỉ cần chú ý đến chúng để lãnh hội được rằng tinh thần vật chất là hai thành phần hoàn toàn tách biệt.

Thiền minh sát sẽ ngăn chặn sự phát triển của tâm bám víu, tham muốn và khao khát. Qua minh họa dưới đây, chúng ta sẽ hiểu được khi bám víu vào tinh thần và vật chất, thân tâm của người ta sẽ bị thiêu đốt như thế nào.

Một thời trong quá khứ tại Bāranāsi ( đô thị của xứ Ba-La-Nại), Bồ-Tát Cồ-Đàm lúc bấy giờ là một vị Bà-La-Môn đã quá mệt mỏi với cuộc sống và muốn từ bỏ thế giới trần tục. Trong nhiều năm, ông sống tại một khu rừng và chuyên cần thực hành thiền định. Nhờ đó, ông đã định tâm và gặt hái được năng lực thần thông. Một ngày nọ, vị ẩn sĩ đi đến một ngôi làng để kiếm một ít muối và dấm. Khi nhìn thấy dáng vẻ thanh thản và trầm tĩnh của ông, nhà vua đã tỏ ra tôn kính và cung thỉnh ông về cung điện của mình để hàng ngày được cúng dường vật thực. Xa hơn nữa, nhà vua còn thỉnh cầu vị ẩn sĩ hãy ở lại nơi vườn thượng uyển trong cung điện để dạy dỗ nhà vua và những người của ông. Mười sáu năm trôi qua và một ngày nọ tại vùng đất biên giới của quốc độ có một đám phản loạn nổi lên. Trong những ngày ấy, nhà vua thường xuyên lãnh đạo quân đội chiến đấu với quân phản loạn. Sau khi đã thu xếp công việc với hoàng hậu, nhà vua đã ra khỏi hoàng cung và đi đến vùng biên giới. Ở nhà, hằng ngày hoàng hậu Mudulakkhana chăm sóc vị ẩn sĩ rất cẩn thận, chu đáo và cúng dường cho ông nhiều món vật thực. Kể từ khi nhà vua đi vắng, mỗi lần cứ đến giờ ăn là vị ẩn sĩ lại dùng thần thông bay đến cung điện của nhà vua để thọ thực. Một ngày nọ, trong lúc đang chờ vị ẩn sĩ đến khất thực, hoàng hậu ngủ gà ngủ gật và vội vã thức dậy khi nghe tiếng ông đến. Khi nhìn thấy tấm áo ngủ của hoàng hậu bị rủ xuống để lộ một phần thân thể, vị ẩn sĩ đã không còn duy trì được sự định tâm, ông khởi tâm bám víu vào sắc đẹp của hoàng hậu. Nói cách khác, Ngài đã bị thiêu đốt bởi sự ham muốn thân xác của hoàng hậu. Vị ẩn sĩ đã không ở lại để dùng bữa. Tuy nhiên, ông đã trút hết thức ăn vào bát của mình và trở về vườn thượng uyển. Lúc bấy giờ năng lực định tâm của vị ẩn sĩ đã tan biến đi bởi vì tâm bám víu và các tầng thiền là hai trạng thái tâm lý phản đề của nhau.

Khi đã trở về vườn thượng uyển, vị ẩn sĩ đã để bát khất thực đang chứa đầy thức ăn ngay dưới giường ngủ của mình. Trong sự buồn khổ tột cùng, ông đã ăn không ngon và ngủ không yên. Đã nhiều ngày tiếp sau đó, ông không đến cung điện của nhà vua để khất thực. Vào ngày thứ bảy, nhà vua trở về sau khi đã dẹp tan đám phản loạn. Việc đầu tiên và trên tất cả đối với nhà vua là đến thăm vị ẩn sĩ. Tại vườn thượng uyển, nhà vua nhìn thấy vị ẩn đang nằm trên giường và thức ăn trong bát khất thực đã hư thối. Sau khi đã cho người làm vệ sinh nơi ở của vị ẩn sĩ, nhà vua mới hỏi ông rằng : “ Bệnh gì đã khiến cho Ngài cảm thấy ưu phiền đến như vậy ?” Vị ẩn sĩ đã trả lời rằng đó là một “đối tượng của giác quan” đang ở ngay trong cung điện của nhà vua. Theo sự thỉnh cầu thống thiết của nhà vua, vị ẩn sĩ đã giải thích rằng  “đối tượng đó” chính là hoàng hậu. Nhà vua lại nói rằng : “ Đối với ta, đó không phải là một vấn đề to tát”. Sau đó, nhà vua đã đưa vị ẩn sĩ đến cung điện của mình và ban tặng hoàng hậu cho ông. Tiếp đến, nhà vua khuyên hoàng hậu rằng bà là một người phụ nữ thông thái, vì vậy hãy cố gắng giúp đỡ vị ẩn sĩ cao thượng, đừng để cho ông bị sụp đổ về mặt tinh thần. Sau đó, hoàng hậu đã nói với vị ẩn sĩ rằng, hãy hỏi xin nhà vua một ngôi nhà để hai người chung sống với nhau. Nhà vua đã cho hai người một ngôi nhà cũ và đổ nát. Khi vừa đến nơi và nhìn thấy ngôi nhà kia, hoàng hậu đã từ chối không chịu sống chung với vị ẩn sĩ, bà nói rằng sẽ chấp nhận sống với ông trừ khi ông muốn sửa sang lại và làm cho ngôi nhà kia trở nên khang trang, sạch đẹp. Tiếp đến, vị ẩn sĩ đã tìm đến nhà vua để hỏi xin thuổng đào đất, các loại rỗ rá...Nhà vua lại gửi cho ông nào là giường ngủ, các loại chậu đựng nước, chiếu ngủ và thảm lót nhà…Sau đó, hoàng hậu đến ngồi bên cạnh vị ẩn sĩ và mở lời trách cứ ông : “ Ngài không cảm thấy hối tiếc hay ăn năn hối hận sao ? Hãy nghĩ lại để thấy rằng sự khác nhau một trời một vực giữa một Bà-La-Môn và một ẩn sĩ ?” Sau khi nói như vậy, hoàng hậu kéo râu của vị ẩn sĩ thật mạnh để ông thức tỉnh lại. Ngay lập tức, vị ẩn sĩ đã  nhận thức được lỗi lầm nghiêm trọng của chính mình và trở về khu rừng cũ mà trước kia ông đã từng ở để tu tập. Kể từ đó, ông quyết định sẽ không giờ đi vào bất cứ một ngôi làng nào nữa và sống ở đó một mình cho đến cuối đời. Bạn có thể tưởng tượng rằng vị ẩn sĩ kia đã làm những điều bẩn thỉu và tầm thường như thế nào. Những điều mà chỉ có những người thế tục mới có thể phạm phải. Thậm chí, mặc dù là người thế tục nhưng nếu còn chút liêm sĩ cuối cùng, người ta cũng không bao giờ làm những việc đê tiện và nhục nhã như vậy cả. Thân tâm của vị ẩn sĩ đã bị thiêu đốt do ông đã ham muốn và bám víu vào sắc đẹp của bà hoàng hậu, thay vì phải tập trung sự chú ý và niệm thầm trong tâm “ đang thấy, đang thấy”…Vị ẩn sĩ đã thực hành thiền định nhưng không thực hành thiền minh sát. Vì vậy, thiền định là chưa đáng tin cậy cho lắm. Khi nhìn thấy một đối tượng của giác quan nào đó, ngay lúc ấy bạn phải chú ý đến nó. Nhờ đó, bạn sẽ không phát khởi tâm bám víu vào đối tượng này. Khi bạn đang tập trung chú ý đến đối tượng thì tâm thức nhận biết đối tượng ( ở đây là nhãn thức) sẽ biến mất và lúc đó bạn chỉ “ nhìn một cách thuần túy” mà thôi. Trong trạng thái nội quán được gọi là kiến thức về sự tan hoại của các hiện tượng – Bhanga Ñāna, nhãn thức sẽ biến mất và không có cái gì bám víu vào sắc trần (tức đối tượng của nhãn thức) cả. Nếu vị ẩn sĩ có thực hành thiền minh sát thì ông đã có thể “ nhìn hoàng hậu một cách thuần túy”. Thậm chí, nếu khi đã trở lại vườn thượng uyển mà tâm trí của ông vẫn còn nghĩ tới hình ảnh của hoàng hậu thì ông có thể niệm thầm trong tâm mình “ đang suy nghĩ, đang suy nghĩ”…để loại bỏ sự suy nghĩ đó đi. Khi sự ý thức về một cái gì đó đã biến mất rồi thì cũng chẳng còn cái gì bám víu vào cái đó nữa. Vì vậy, tâm tham muốn và khao khát cũng sẽ không có cơ hội để khởi lên. Khi đang nằm trên giường để nghỉ ngơi, thân thể của ông đang xúc chạm với chiếu hay thảm lót giường, nếu vị ẩn sĩ có thể niệm thầm trong tâm mình “ đang xúc chạm, đang xúc chạm”…thì ý nghĩ về hoàng hậu sẽ chẳng bao giờ xảy đến trong tâm trí của ông. Những người đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng sẽ có khả năng chú ý để trải nghiệm tiến trình đang tan rã của những đối tượng nhận thức. Do đó, tâm tham muốn, khao khát và bám víu sẽ không bao giờ khởi lên trong tâm thức của họ. Nhờ vậy, họ cũng không bao giờ phạm Giới.

Nếu bạn chưa có khả năng chú ý đến tiến trình “ đang suy nghĩ” hay tiến trình “ đang thấy” thì hãy quay trở lại chú ý đến tiến trình “ đang ngồi” và những chuyển động thuộc về thân thể khác, bất cứ người nào cũng có thể thực hành theo cách như vậy cả. Tâm tham muốn và khao khát sẽ bị xua tan bởi sự chú ý đến những chuyển động của thân thể. Bạn có thể tự thiết lập được cho mình một chỗ đứng vững chắc trong Giáo Pháp của Đức Phật mỗi khi xu hướng bám víu vào những đối tượng của giác quan tiềm tàng trong tâm trí bạn đã bị hoàn toàn bị loại bỏ. Đến lúc đó, bạn đã không còn bị tái sanh vào địa ngục nữa và có thể sẽ đạt tới Niết Bàn. Nếu khuynh hướng bám víu vào các đối tượng của giác quan vẫn còn tiềm tàng trong tâm trí, nó sẽ tiếp tục phát triển trong tiềm thức.Nói cách khác, nếu không loại bỏ được khuynh hướng bám víu nói trên thì chắc chắc bạn sẽ bị nó tấn công. Do đó, khuynh hướng bám víu này sẽ trở thành nguyên nhân của tham muốn và khao khát, dù là trong tiềm thức ( Santānanusaya – Continuity of consciousness). Không còn nghi ngờ gì nữa, khuynh hướng bám víu vào các đối tượng của giác quan ẩn chứa trong tiềm thức chính là nguyên nhân của tái sanh. Tiềm thức được ví như gốc của cây độc. Khi ngay lập tức, vị ẩn sĩ đã có thể nhận thức được lời trách cứ của hoàng hậu thì năng lực định tâm đã phát triển trở lại trong ông. Nếu vị ẩn sĩ kia là một người bình thường thì có lẽ ông đã đánh mất những gì lớn lao nhất của đời mình bởi vì trước đó ông chưa bao giờ thực hành thiền minh sát. Ngày xưa, những vị Tỳ-kheo thông thái thường hay nhắc nhở các đệ tử tân học của họ không nên xử dụng thần thông. Những ngày ấy, những người thế tục, các Tỳ-kheo và Giới tử tân học đều thực hành thiền định. Khi đã đạt tới các bậc thiền, họ thường có thói quen di chuyển từ nơi này đến nơi khác bằng cách bay trên không trung. Một ngày nọ, có vị Tỳ-kheo trẻ đang xử dụng thần thông bay ngang qua bầu trời thf tình cờ nghe được một giọng ca ngọt ngào rồi khởi tâm bám víu vào nó. Do đó, anh ta đã bị mất thần thông và rơi xuống đất. Ở đó, anh ta đã gặp một cô gái mù và kết hôn với cô gái này. Vì vậy, thực hành thiền minh sát là một cách tu tập thông thái. Trong khi đó, thiền định cũng tốt nhưng không lấy gì làm chắc chắn.

Tóm tắt: Trong Kinh Vibhan Uddesa, Đức Phật đã nói rằng nếu muốn tâm trí không bị lang thang vô định và không khởi lên những nổi khao khát, chúng ta phải thực hành sự chú ý quan sát để thoát khỏi gánh nặng của khổ đau như tái sanh, tuổi già và cái chết.

Chúng ta thực hành thiền minh sát với 2 mục đích, đó là : Thoát khỏi địa ngục và đạt tới Niết Bàn. Vì vậy, bạn nên thực hành thiền minh sát với một niềm tin mạnh mẽ và kiên định. “ Bám víu vào những cảm giác dễ chịu nghĩa là đã bị tắt ngẽn từ bên trong”. Khi tâm bám víu đã bị loại bỏ và năng lực định tâm đã phát triển, bạn sẽ thoát khỏi địa ngục và tiến lại gần Niết-Bàn hơn. Khi đã gặt hái được kiến thức về tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng ở mức độ thấp, có thể bạn sẽ được tận hưởng các trạng thái hoan hỷ minh sát và lầm tưởng đó là Pháp Cao Thượng nhất. Khi năng lực định tâm đã phát triển một cách mạnh mẽ, thỉnh thoảng trong một niệm thoáng qua nào đó, hành giả có thể ngộ nhận rằng mình đã đắc Đạo. Hành giả cũng có thể bị trói buộc bởi trạng thái tâm nhẹ nhàng và thah thản ( tức tâm khinh an – Passaddhi). Vì vậy, sự chú ý của anh ta sẽ bị cản trở. Đó là lý do tại sao bạn nên thực hành thiền minh sát một cách siêng năng và cần mẫn để có thể gặt hái được kiến thức về tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng, thực hành sự chú ý để loại bỏ những cảm giác dễ chịu mỗi khi chúng khởi lên trong tâm thức. Nhờ đó, tiến trình nội quán của bạn sẽ không bị tắt ngẽn từ bên trong. Trong trạng thái nội quán mà tâm thức nhận biết được tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng, hoan hỷ minh sát sẽ phai dần đi, hành giả chỉ còn trải nghiệm tiến trình khởi lên và tan biến đi của đối tượng được quan sát. Do đó, tâm thích thú và bám víu sẽ không phát triển. Chú ý là cách thức tốt nhất để xua tan tâm tham muốn và khao khát. Thiền định không thể phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Vì vậy, những ai thực hành thiền định sẽ không tránh được tâm bám víu vào đối tượng của giác quan. “ Bám víu vào tinh thần và thể xác rồi chấp chặt đó là tự ngã sẽ dẫn đến khao khát”. Khi hành giả đã có thể chú ý và nhận thức một cách thuần túy trong lúc “ đang thấy”, “ đang nghe”…thì vấn đề quan niệm về tự ngã như “ ông T”, “ bà C”, “ cô X” sẽ chẳng bao giờ được công nhận. Khi đã lãnh hội được rằng, tinh thần và thể xác là 2 thành phần tách biệt thì chúng ta sẽ không còn khởi tâm bám víu và khao khát chúng nữa. Những người thực hành thiền định thường có thói quen bám víu và khao khát mỗi khi họ không phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và thể xác. Trong trình tự chú ý đến “ sự nhìn thuần túy”, “ sự nghe thuần túy”…tâm thức của hành giả phải được thiết lập ngay trên những gì đang xảy đến trong hiện tại, việc chú ý đến những đối tượng thuộc về quá khứ hay tương lai sẽ tạo ra cơ hội cho tâm bám víu khởi lên. Trong trạng thái nội quán mà tâm thức nhận biết được tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng, hành giả sẽ phát triển trí tuệ và lãnh hội được tính vô thường. Vì vậy, tâm bám víu sẽ không khởi lên trong tâm thức của hành giả. Sự bám víu vào các cảm giác dễ chịu và cho rằng chúng thường còn bất biến là một hành động ngu dại. Trong trạng thái nội quán mà tâm thức nhận biết được trạng thái tan hoại của các hiện tượng – Bhanga Ñāna, hành giả chú ý và chỉ nhận biết được tiến trình tan hoại của các hiện tượng mà thôi. Tiến trình liên tục tan hoại của các hiện tượng là vô thường, sự chú ý đến tiến trình này sẽ khiến hành giả nhận biết được nó là khổ, việc không điều khiển được nó là vô ngã. Do đó, hành giả đã nhanh chóng lãnh hội được tam tướng ( Tilakkhana) trong lòng các hiện tượng và ngăn chặn được tâm bám víu, khao khát khởi lên. Vì vậy, hành giả đã có khả năng đạt tới Niết Bàn và đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau. Sau khi đã lắng nghe Kinh Uddesa Vibbhanga nói về 3 nhân tố cần có để đạt tới Niết Bàn là : Đừng để cho tâm trí bị lang thang vô định, đừng để bị tắt ngẽn từ bên trong, không bám víu vào các đối tượng của giác quan và phương pháp để gặt hái được 3 nhân tố này, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành theo những lời dạy của Đức Phật. Với sự siêng năng trong quán niệm, cầu chúc cho tất cả quí vị nhanh chóng nhận thức được Niết Bàn, đoạn tận với tất cả những khổ đau bằng cách thực hành Phật Pháp với một tâm trí thanh thản và nhẹ nhàng. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !

 

          

                                                 Ba loại cảm thọ

 

Bài thuyết Pháp ngày hôm nay sẽ nói về ba loại cảm thọ ( tức cảm giác, nếu nói theo nghĩa rộng có thể bao gồm cả cảm tình). Những hành giả thành thật nổ lực để gặt hái được Đạo quả sẽ trải nghiệm 3 loại cảm thọ ( Vedanā – Sensation or Feeling) này. Khi trải nghiệm những cảm giác dễ chịu, còn gọi là lạc thọ ( Sukha Vedanā – Pleasant Sensation), người ta thường có khuynh hướng suy nghĩ về nó và tham muốn được luôn luôn tận hưởng cảm giác dễ chịu này nhiều hơn nữa. Từ đó, tham lam ( Lobha- Greed) sẽ khởi lên trong tâm thức. Khi trải nghiệm những cảm giác khó chịu, còn gọi là khổ thọ

( Dukkha Vedanā- Unpleasant Sensation), bạn sẽ trở nên bực mình và trong mọi suy nghĩ của bạn đã chứa đầy sân hận ( Dosa-Anger). Khi trải nghiệm cảm giác không khổ không sướng, còn gọi là thọ vô ký tính ( Upekkha Vedanā – Neutral Sensation), bạn sẽ không nhận thức được bất cứ một cái gì rõ ràng cả, nghĩa là bạn sẽ có cảm giác mơ hồ, ngây ngây và trì độn. Lúc đó, vô minh ( Moha-Ignorance) sẽ khởi lên trong tâm thức của bạn. Như vậy, hành giả thực hành thiền minh sát cần phải vượt qua được tâm tham lam, sân hận và vô minh và lấp đầy chúng bằng những ước muốn cao thượng.

Theo thứ tự trong Kinh Điển, Đức Phật đã nói về lạc thọ trước, sau đó Ngài mới đề cập đến khổ thọ và thọ vô ký tính. Tuy nhiên trong thực tế hành thiền, đầu tiên hành giả sẽ trải nghiệm khổ thọ trước. Đây là một điều thực tế mà hành giả sẽ trải qua trong lộ trình thực hành thiền. Sân hận hiển nhiên là sự biểu hiện của một ý chí bệnh hoạn và ghét bỏ đối với cảm giác khó chịu. Trong khi đó, tham lam biểu hiện ý chí muốn tái thụ hưởng những cảm giác dễ chịu. Bạn không thể nào gặt hái được Đạo quả nếu thực hành thiền với tâm tham lam và sân hận. Trong thọ vô ký tính, vô minh biểu hiện thái độ mơ hồ không dứt khoát và ảo tưởng. Người thực hành thiền minh sát cần phải vượt qua tham lam, sân hận và vô minh bằng cách tập luyện sự chú ý để nhận thức.

 

Khổ thọ ( Vedanā)

Tóm tắt: Ý chí bệnh hoạn và ghét bỏ trong khổ thọ cần phải được loại bỏ.

Người mới tập sự thực hành thiền minh sát chắc chắn phải chạm trán với khổ thọ ( Dukkha Vedanā ). Theo sự giáo huấn của Ngài Mahāsī, khi có ý định thực hành thiền, bạn hãy tìm đến một nơi yên tĩnh, lựa chọn một tư thế thực hành thiền thích hợp nhất đối với chính mình, giữ lưng và đầu nằm trên một đường thẳng, đặt tâm trí trên sự phồng xẹp lên xuống của bụng. Do ảnh hưởng của hơi thở vào, bụng sẽ dần dần chuyển động theo hướng phồng lên. Ngay lúc này, hành giả cần niệm thầm trong tâm mình “ đang phồng lên, đang phồng lên”…Do ảnh hưởng của hơi thở ra, bụng sẽ dần dần chuyển động theo hướng xẹp xuống. Ngay lúc này, hành giả cần niệm thầm trong tâm “ đang xẹp xuống, đang xẹp xuống”…Bạn cần phải chú ý một cách liên tục đến những chuyển động phồng lên và xẹp xuống của bụng. Nói cách khác, bạn cần phải chú ý để nhận biết được giai đoạn đầu, giai đoạn giữa và giai đoạn cuối của những chuyển động này. Nếu nhận thấy không có hiệu quả khi thực hành sự chú ý đến 2 tiến trình là “tiến trình đang phồng lên” và “ tiến trình đang xẹp xuống” của bụng, bạn hãy chuyển sang chú ý “ một trong 3 tiến trình”. Nghĩa là có thể thực hành sự chú ý đến một trong những tiến trình sau : “ Tiến trình đang phồng lên”, “ tiến trình đang xẹp xuống” và “ tiến trình đang xúc chạm”. Tiến trình “đang xúc chạm” ở đây là sự nhận thức “độ cứng” và “ hơi nóng” phát ra khi mông của bạn chạm vào áo quần và mặt sàn tọa. Bạn cứ tiếp tục thực hành thiền theo cách chú ý đến “ một 3 tiến trình” nếu nhận thấy khả năng chú ý của mình có sự tiến bộ. Nếu tâm trí của bạn vẫn chưa được trầm tĩnh và ổn định, hãy chuyển sang chú ý đến “ một trong 4 tiến trình”, bao gồm : “ Tiến trình đang phồng lên”, “ tiến trình đang xẹp xuống”, “ tiến trình đang xúc chạm” và “ tiến trình đang ngồi”. Tiến trình “ đang ngồi” ở đây là tư thế đang ngồi của thân thể. Tuy nhiên, chúng ta không cần chú ý đến hình dáng bên ngoài của thân thể, bởi vì hình dáng này chỉ là một khái niệm ( Paññati- Conception), chứ không phải là thực tại cùng tột ( Paramattha – Ultimate Reality). Khi “ ý định muốn ngồi xuống” đang hiện khởi trong tâm thức của bạn, yếu tố chuyển động  (ở đây là yếu tố gió – Vāyo dhātu) sẽ thúc đẩy thân thể và giữ nó ở tư thế ngồi thẳng. Một cách đúng đắn, bạn cần phải giữ sự chú ý một cách chính xác và liên tục trên “ tiến trình đang phồng lên của bụng”, “ tiến trình đang xẹp xuống của bụng”, “ tiến trình đang xúc chạm” và “ tiến trình đang ngồi”.

Lúc ban đầu mới tập luyện, bạn chưa có khả năng chú ý và nhận biết đối tượng quan sát một cách rõ ràng. Tuy nhiên, với sự chú ý nghiêm túc và liên tục, bạn sẽ nhận thức được sự thật rằng “tiến trình đang phồng lên của bụng”, “ tiến trình đang xẹp xuống của bụng”, “ tiến trình đang ngồi”, “ tiến trình đang xúc chạm” là khác với “ sự chú ý của tâm trí”.

Nói cách khác, chuyển động đang phồng lên của bụng, chuyển động đang xẹp xuống của bụng, hành động đang ngồi, hành động đang xúc chạm là những tiến trình thuộc về thể xác hay vật chất. Sự chú ý của tâm trí đến những tiến trình này là thuộc về tinh thần hay tâm thức. Do đó, hành giả có thể phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần ( Nāma-Spirit) và vật chất

( Rūpa-Matter). Vật chất hay thể xác là không có sự nhận thức, chỉ có tinh thần là có sự nhận thức mà thôi. Vì vậy, hành giả đã gặt hái được kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất – Nāmarūpa pariccheda Ñāna. Trong trạng thái nội quán này, cảm giác đau nhức đã không còn xuất hiện một cách sống động trong tâm thức của hành giả nữa. Tuy nhiên, hành giả vẫn còn cảm thấy bị mệt mỏi và gò bó, thỉnh thoảng sự chú ý của hành giả cũng diễn ra một cách thuận tiện và dễ dàng. Bằng sự chú ý chuyên cần, bạn sẽ tiến tới việc gặt hái được kiến thức về nhân quả- Paccaya pariggaha Ñāna. Khi đang tập trung chú ý một đối tượng, bạn sẽ nhận thức được rằng tiến trình nhận biết của tâm trí là tùy thuộc vào đối tượng nhận thức hay khách thể. Bạn sẽ nhận ra rằng “ tiến trình đang phồng lên của bụng”, “ tiến trình đang xẹp xuống của bụng”, “ tiến trình đang ngồi”, “ tiến trình đang xúc chạm” chính là những nguyên nhân khiến cho bạn chú ý đến chúng. Nếu những tiến trình chuyển động này không khởi lên thì sự chú ý của tâm trí cũng sẽ không xuất hiện. Do đó, “ tiến trình đang phồng lên của bụng”, “ tiến trình đang xẹp xuống của bụng”, “ tiến trình đang ngồi” “ tiến trình đang xúc chạm” chính là nguyên nhân và sự chú ý của tâm trí đến những tiến trình này chính là kết quả. Đối với một vài hành giả cá biệt, “tiến trình phồng lên và xẹp xuống” có thể xảy ra ở ngực, bên cạnh sườn, trên lưng hay trên đỉnh đầu…Tuy nhiên, thông thường thì chúng xảy ra ở bụng. Khi những tiến trình này đang hiện khởi thì bạn phải chú ý đến chúng. Bạn cũng sẽ lãnh hội được rằng, những tiến trình chuyển động nói trên không xuất hiện tại một vài nơi cố định trên thân thể mà xuất hiện tại nhiều nơi khác. Đang khi thực hành sự chú ý, bạn sẽ nhận thức được một sự thật rằng “ chuyển động đang phồng lên của bụng” và “ chuyển động đang xẹp xuống của bụng” là nguyên nhân, sự chú ý của tâm trí đến những chuyển động này chính là kết quả. Một cách đồng thời, cảm giác khó chịu

( Dukkha Vedanā ) đã không còn hoạt động mạnh mẽ trong tâm thức của bạn. Vì vậy, khi cảm giác khó chịu vừa khởi lên, bạn chỉ cần tập trung chú ý đến nó thì nó sẽ lập tức biến mất đi.Tiến trình đang khởi lên của cảm giác đau nhức, ngứa ngáy, bồn chồn, tù túng, chóng mặt, buồn nôn…cũng hoạt động theo cách tương tự. Nghĩa là khi chúng đang khởi lên, bạn chỉ cần chú ý đến chúng thì tự khắc chúng sẽ biến mất đi. Khi thực hành sự chú ý một cách chính xác và liên tục theo cách đã nói ở trên, bạn sẽ không còn cảm thấy đau nhức. Thậm chí, sự chú ý của bạn cũng sẽ khởi lên và tan biến đi. Đây chính trạng thái nội quán thứ ba mà tâm đã nhận thức được bản chất của các hiện tượng. Trạng thái nội quán này được gọi là kiến thức về trạng thái lãnh hội-Sammasana Ñāna. Lãnh hội ở đây là nhận thức được tính vô thường, khổvô ngã chứa đựng trong lòng tất cả các hiện tượng. Khi đã gặt hái được kiến thức về trạng thái lãnh hội thì cảm giác khó chịu lại khởi lên trong tâm thức của hành giả. Khi hành giả đã có khả năng thiền tọa liên tục trong khoảng thời gian nữa giờ trở lên, các cảm giác đau, nhức, ngứa ngáy, chóng mặt choáng váng, đu đưa như đánh võng, nặng nề, bị áp lực…đã trở nên rất dễ nhận thấy. Đặc biệt đối với những người trong quá khứ đã từng thực hành thiền định. Trong đó, cảm giác đau sẽ xuất hiện một cách mạnh mẽ nhất. Đến lúc này, bạn sẽ cảm thấy rất buồn khổ và không thể chịu đựng nổi. Vì vậy, có thể bạn sẽ nghĩ rằng “ có lẽ tôi sẽ bị buồn khổ như thế này trong suốt quá trình thiền tọa chăng ? Ngày mai hay những ngày sau đó tôi cũng phải chịu đựng như thế này chăng ?”. Từ đó, sân hận có thể sẽ tái hiện khởi nhiều lần trong tâm thức của bạn. Đây chính là sự biểu hiện của sân hận đối với những cảm giác khó chịu ( Dukkha Vedanā). Sự thật, hành giả thực hành thiền là để xóa tan sân hận và ghét bỏ…Tuy nhiên, hiện bây giờ hành giả đang sân hận, thay vì phải chú ý đến cảm giác khó chịu này. Xua tan tham lam, sân hận và vô minh là nhân tố rất quan trọng trong thiền nội quán ( tức thiền minh sát). Đức Phật đã từng khuyên chúng ta rằng, mỗi khi sân hận khởi lên thì hãy tập trung chú ý đến nó chứ không phải nuôi dưỡng nó trong tâm thức. Ngài cũng đã nhấn mạnh rằng, chúng ta cần phải xem cảm giác khó chịu như là một cái gai trong mắt cần phải nhổ bỏ đi. Một người làm việc trong rừng bị gai chích.Anh ta cho rằng mình không thể lấy cái gai đó ra được và cứ để như vậy rồi tiếp tục làm việc. Thật ra, người kia sẽ làm việc không được bao lâu nữa, bởi vì sẽ cảm thấy đau do bị cái gai hành hạ. Do đó, Đức Phật đã chỉ ra rằng khi cảm giác khó chịu đã trở nên quá mạnh mẽ, nó phải được loại bỏ như người ta lấy cái gai ra khỏi thân mình. Mặt khác, nếu cứ để cho những cảm giác khó chịu hoành hành trong tâm thức thì việc thực hành thiền của bạn sẽ không bao giờ có sự tiến bộ.

Ba cách thức quán niệm

Tóm tắt: Khi cảm giác đau nhức khởi lên cần phải chú ý đến đến nó một cách ngay lập tức, giống như việc người ta lấy một cái gai ra khỏi thân thể.

Có 3 cách thực hành quán niệm khác nhau để trục xuất khổ thọ, đó là :

1. Quán niệm với ý định làm cho khổ thọ biến mất đi

2. Quán niệm nhằm thoát khỏi khổ thọ

3. Quán niệm để hiểu được bản chất của khổ thọ

- Khi bạn thực hành quán niệm với ý định làm cho khổ thọ biến mất đi tức là bạn đang muốn tìm kiếm những cảm giác dễ chịu. Nói cách khác, khi bạn muốn thoát khỏi khổ thọ tức là bạn đang khởi tâm tham muốn được tận hưởng những cảm giác dễ chịu. Như vậy thật ra bạn đã khởi tâm tham lam rồi. Liệu người ta có thể gặt hái được Giáo Pháp với một tâm thức đang muốn tìm kiếm những cảm giác dễ chịu ? Không bao giờ, bởi vì tham lam chính là ô nhiễm. Khi thực hành quán niệm theo cách này, ô nhiễm luôn luôn xuất hiện trong mỗi sự chú ý của bạn. Bên cạnh đó, cách thực hành này cũng không phù hợp với những lời dạy của Đức Phật. Từ đó, tiến trình thực hành thiền của bạn sẽ không có sự tiến bộ, dẫn đến việc bạn sẽ cảm thấy buồn khổ. Đức Phật đã từng khuyên chúng ta rằng, nên thực hành quán niệm để hiểu được bản chất của khổ thọ chứ không phải tìm cách làm cho nó tan biến đi.

- Khi khổ thọ khởi lên, bạn có thể suy nghĩ rằng “ tôi cần phải thoát khỏi nó”. Đây chính là tâm sân hận. Liệu người ta có thể gặt hái được Giáo Pháp với một tâm sân hận hay không ? Bạn cần phải chú ý để hiểu được bản chất sanh diệt của đối tượng quan sát. Nếu tiến trình thực hành thiền bị đình trệ thì dĩ nhiên bạn sẽ không gặt hái được Giáo Pháp. Khi tâm sân hận đang khởi lên đồng thời với sự chú ý của bạn, chúng ta có thể nói rằng ô nhiễm đã xuất hiện trong mỗi sự chú ý của bạn rồi. Do đó, sự tiến bộ trong quán niệm của bạn đã bị kìm hãm. Đây nhất định không phải là cách thực hành thiền đúng đắn. Theo những lời dạy của Đức Phật, hành giả cần phải chú ý để hiểu được khổ thọ đã khởi lên và biến mất đi như thế nào. Nhờ đó, anh ta sẽ có khả năng đi trên một lộ trình thực hành thiền đúng đắn và gặt hái được Giáo Pháp Co Thượng.

Tóm tắt: Lãnh hội được bản chất sanh diệt của đối tượng quan sát sẽ khiến cho hành giả nhận thức được tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng. 

Bạn cần phải thực hành quán niệm để lãnh hội được bản chất của khổ thọ khi nó đang khởi lên. Đức Phật không dạy chúng ta rằng hãy quán niệm để thoát khỏi khổ thọ, Ngài chỉ dạy cần phải quán niệm để hiểu được bản chất của nó. Nếu bạn thực hành thiền để ngăn chặn khổ thọ là đã đi ngược lại với lời dạy của Đức Phật. Thực hành thiền với một tâm trí sân hận muốn tìm cách thoát khỏi khổ thọ cũng tương tự như thế. Mục đích của việc thực hành sự chú ý là để hạn chế những ý chí bệnh hoạn. Trong khi đó, bạn lại thực hành sự chú ý với một tâm trí ô nhiễm, như vậy là không đúng đắn. Chúng ta nên nhớ rằng, thực hành sự chú ý để hiểu được bản chất của khổ thọ là cách thực hành thiền đúng theo lời dạy của Đức Phật. Ngoài ra, bạn không còn cách nào khác để loại trừ khổ thọ. Hành giả cần phải quán niệm khổ thọ như thế nào ? Đức Phật khuyên chúng ta nên có lòng kiên nhẫn. Không còn nghi ngờ gì nữa, “kiên nhẫn chính là cha đẻ của Niết Bàn”. Đây chính là đường lối thích hợp nhất đối với những người thực hành thiền. Không nên thay đổi tư thế thực hành thiền khi đau nhức đang khởi lên, bởi vì nếu làm như vậy thì tiến trình quán niệm liên tục của hành giả sẽ bị gãy đổ. Không kiên nhẫn nghĩa là chưa đạt được năng lực định tâm vững chắc.Nếu chưa gặt hái được sự định tâm mạnh mẽ thì trí tuệ sẽ không phát triển được. Nếu chưa có trí tuệ thì sẽ không bao giờ gặt hái được Đạo quả và Niết Bàn. Từ đó, có thể bạn sẽ trở nên băn khoăn rằng “ liệu đau nhức có biến mất đi hay không ?”, “ liệu tôi phải chịu khổ suốt ngày như thế này sao ?”. Đúng ra, bạn không nên băn khoăn như thế bởi vì khổ chính là bản chất của đau nhức. Chú ý để hiểu được bản chất của khổ thọ là nhiệm vụ của người thực hành thiền minh sát. Bạn hãy kiên nhẫn và tự nhủ trong tâm mình “ kiên nhẫn, kiên nhẫn”…Nhờ đó, bạn sẽ trở nên khoan dung hơn và có thể thực hành quán niệm một cách thấu đáo, cảm giác đau nhức sẽ dần dần giảm bớt cường độ. Nói cách khác, khi cảm giác đau nhức đang gia tăng cường độ, thân tâm của bạn sẽ ngã theo xu hướng căng thẳng. Khi nổ lực hành thiền thái quá, sự chú ý của bạn có thể không hướng được vào hiện tại một cách chính xác. Một cách đúng đắn, tiến trình đang diễn ra của đối tượng quan sát phải được bạn chú ý đến trong từng khoảnh khắc. Khi cảm thấy thân tâm đang bị căng thẳng do ảnh hưởng của khổ thọ, bạn nên thư giãn đôi chút và suy niệm rằng khổ thọ hiện đang ở đâu trên thân thể, nó đang ở trên da hay trong thịt, trong các dây thần kinh, trong xương hay trong tủy…Sự chú ý liên tục và chính xác sẽ khiến cho năng lực định tâm trở nên mạnh mẽ hơn. Bạn hãy nhớ rằng đối với khổ thọ, chúng ta cần phải chú ý đến nó như là một đối tượng quan sát duy nhất, chú ý một cách mãnh liệt và đủ thời lượng, nghĩa là phải chú ý kể từ khi nó bắt đầu khởi lên cho đến khi nó đã hoàn toàn biến mất. Khi năng lực định tâm đã được thiết lập một cách vững chãi, với sự chú ý liên tục, cảm giác đau nhức sẽ gia tăng cường độ đến đỉnh điểm và sau đó cường độ của nó sẽ giảm dần. Nếu chưa có khả năng chịu đựng khi cảm giác đau nhức khởi lên trong tâm thức, có thể bạn sẽ thay đổi tư thế thực hành thiền. Nếu bị buộc phải thay đổi tư thế khi đang thực hành thiền, hãy chú ý đến “ ý định muốn thay đổi tư thế”. Có thể đau nhức sẽ bớt đi, nếu như bạn có khả năng chú ý một cách liên tục và trôi chảy kể từ khi đau nhức bắt đầu khởi lên cho đến khi ý định muốn thay đổi tư thế xuất hiện. Khi bắt gặp hiện tượng như vậy, bạn không cần phải thay đổi tư thế và cứ tiếp tục thực hành sự chú ý. Nếu phải thay đổi tư thế, hành giả phải thay đổi theo một tuần tự chuyển động, nghĩa là thay đổi tư thế của tay trước rồi tuần tự chuyển sang thay đổi tư thế của chân…đồng thời phải chú ý đến từng chuyển động thay đổi này một cách chi tiết. Cảm thọ nói chung có thể sẽ biến mất đi khi bạn thay đổi tư thế thực hành thiền, bởi vì sự chú ý đến chúng đã bị ngắt quãng một cách đột ngột. Tốt hơn hết, bạn nên cố gắng chịu đựng cảm giác đau nhức và không thay đổi tư thế nếu có thể, để cho tiến trình thực hành thiền không bị cản trở. Khi năng lực định tâm được duy trì một cách liên tục, bạn sẽ nhận thấy rằng đau nhức đã di chuyển từ bộ phận này đến bộ phận khác của thân thể, có lúc lại gia tăng cường độ có lúc không. Đồng thời hành giả phải niệm thầm trong tâm “ cảm thọ đang di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Bản chất của nó là vô thường, cường độ của nó không phải lúc nào cũng giống nhau, có lúc gia tăng lên, có lúc lại giảm xuống”. Nếu suy niệm rằng, cảm giác đau nhức luôn luôn xuất hiện một cách liên tục trong tâm thức mỗi khi bạn thực hành thiền, điều này sẽ khiến cho bạn giảm bớt hứng thú trong việc thực hành sự chú ý. Qui luật hoạt động của khổ thọ hay cảm thọ nói chung là khi bị chú ý một cách liên tục, cường độ của chúng sẽ gia tăng đến đỉnh điểm để rồi sau đó sẽ giảm dần xuống cho đến khi biến mất hẳn. Trải nghiệm quan trọng nhất về khổ thọ hay cảm thọ nói chung mà bạn cần có được chính là qui luật vừa đề cập.Với sự chú ý liên tục và tinh tấn tỉnh thức, mỗi khi bị chú ý liên tục, cảm thọ nói chung sẽ biến mất đi sau khi đã khởi lên. Khi bị chú ý liên tục, cảm thọ cũng sẽ di chuyển từ nơi này đến nơi khác trên thân thể. Tiến trình biến đổi của cảm thọ sẽ xuất hiện một cách rõ ràng hơn khi bạn đạt tới trạng thái nội quán được gọi kiến thức về tiến trình sanh diệt của các hiện tượng, còn gọi là kiến thức về tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng – Udayabbhaya Ñāna. Tiếp đến, hành giả sẽ nhận thức được bản chất của cảm thọ nói chung là vô thường, khởi lên và tan biến đi, liên tục biến đổi. Khi đã gặt hái được xung lượng và trạng thái định tâm, bạn sẽ nhận thức được rằng sự chú ý có thể vượt qua cảm giác đau nhức. Nói cách khác, tập trung sự chú ý là cách thức tu tập đúng đắn để vượt qua khổ thọ ( Dukkha Vedanā). Khi năng định tâm đã chín muồi, bạn sẽ nhận thức được sự thật rằng, trong mỗi sự chú ý, cảm giác đau nhức đã khởi lên và tan biến đi một cách ngay lập tức. Cảm giác đau nhức đó chính là một tiến trình tự nhiên. Sau đó, bạn cũng nhận biết được tiến trình tan rã của các hiện tượng. Tiếp đến, tiến trình sanh diệt của các hiện tượng ngày càng xuất hiện một cách rõ ràng và sống động trong tâm thức của bạn. Đến lúc này, cảm giác đau nhức đã không còn khởi lên một cách rõ ràng trong mỗi sự chú ý của bạn nữa, tiến trình sanh diệt của các hiện tượng đã trở thành đối tượng chú ý của bạn. Đồng thời, bạn cũng đã lãnh hội được một cách rõ ràng rằng, sự chú ý để nhận thức đã có thể vượt qua được cảm giác đau nhức. Trong trạng thái nội quán mà tâm thức hành giả nhận biết được trạng thái tan hoại của các hiện tượng – Bhanga Ñāna, cảm giác đau nhức đã không còn hiện khởi một cách rõ ràng nữa, chỉ còn sự chú ý đến cảm giác ấy là dễ nhận biết mà thôi. Với năng lực định tâm đã được thiết lập một cách vững chãi và mạnh mẽ, khi bạn vừa khởi tâm chú ý đến cảm giác đau nhức thì ngay lập tức nó sẽ biến mất đi. Sự chú ý liên tục đến tiến trình tan hoại có thể khiến cho hành giả nghĩ rằng mình đã thực hành sai đường. Một hành giả đã có kiến thức về Phật Pháp luôn luôn biết rằng mình cần phải chú ý đến những gì đang xảy ra trong hiện tại chứ không phải những gì đã xảy ra trong quá khứ. Tuy nhiên, với kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng, sự chú ý đến cảm giác đau nhức chỉ xuất hiện sau khi cảm giác này đã biến mất. Vì vậy, có thể bạn sẽ nghĩ rằng mình đã thực hành sai. Bạn có thể trở nên băn khoăn và hỏi vị thiền sư của mình rằng : “ Tôi đã đi sai đườg phải không ? Tôi đã chú ý đến những gì đã xảy ra ở quá khứ, thay vì phải chú ý đến những gì đang xảy ra trong hiện tại. Cảm giác đau nhức đã biến mất ngay lập tức khi nó bị chú ý. Vì vậy, sự chú ý của tôi luôn luôn chậm hơn tiến trình xảy ra của cảm giác này, sự chú ý của tôi chỉ được thiết lập trên những gì đã xảy ra”. Sau đó, vị thiền sư sẽ nói với bạn rằng, trong trạng thái nội quán mà bạn gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng như đã được đề cập trong Giáo Pháp của Đức Phật, cảm giác đau nhức đã biến mất ngay lập tức khi sự chú ý của hành giả hướng về nó. Vì vậy, cảm giác đau nhức đã không còn hiện hữu để cho hành giả chú ý đến nó. Điều này chứng tỏ năng lực chú ý của hành giả đã nhanh hơn và vượt qua được cảm giác đó. Hành giả phải hiểu như vậy mới đúng. Điều quan trọng mà bạn cần phải nhớ là chỉ chú ý đến cảm giác đau nhức chứ không phải suy niệm về nó, bởi vì suy niệm về cảm thọ nói chung sẽ làm cho tiến trình quán niệm bị chậm lại. Năng lực chú ý mạnh mẽ, vững chãi và chính xác sẽ khiến cho hành giả nhận ra bản tính giả tạm của cảm thọ nói chung và tiến trình tan hoại tất yếu của nó. Sự nhận thức đó có thể vượt qua được tâm sân hận phát khởi từ cảm giác đau nhức như thể người ta loại bỏ một cái gai ra khỏi thân thể mình.

Tóm tắt: Sân hận tái hiện nhiều lần trong khổ thọ cần phải được loại bỏ. Khi cảm giác đau nhức khởi lên trong tâm thức, hành giả cần phải chú ý đến nó một cách đúng đắn như thể người ta loại bỏ một cái gai ra khỏi thân thể mình.           

Bây giờ, bạn đã vượt qua được những chướng ngại xuất hiện trong trạng thái nội quán có tên là tiến trình tan hoại của các hiện tượng, làm chủ được trạng thái nội quán này. Như vậy, bạn đã đi được nữa chặng đường dẫn đến Niết Bàn. Trạng thái nội quán thứ ba trong lộ trình phát triển trí tuệ là kiến thức về trạng thái lãnh hội- Sammassana Ñāna. Với trạng thái nội quán này, bạn lại phải chạm trán với những hiện tượng tâm lý tồi tệ khi cảm giác đau nhức đã trở nên mạnh mẽ hơn. Với kiến thức về tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng ( trạng thái nội quán thứ tư trên lộ trình phát triển trí tuệ), bạn sẽ cảm thấy dễ chịu bởi vì cảm giác đau nhức sẽ giảm bớt ngay khi nó bị chú ý đến. Tuy nhiên, đối với trạng thái nội quán được gọi là Sammassana Ñāna, có thể bạn sẽ nghĩ rằng việc thực hành thiền của mình không có sự tiến bộ. Đến lúc này, thiền sư sẽ có bổn phận giải thích cho hành giả hiểu rõ về trạng thái này. Vị thiền sư sẽ cẩn thận giúp đỡ hành giả xử lý tình huống và đường lối thực hành cho từng trạng thái nội quán. Khi hành giả đạt tới kiến thức về tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng – Udayabbaya Ñāna ở mức độ thấp, sự khởi lên và biến mất đi của đối tượng quan sát chưa xuất hiện một cách rõ ràng trong tâm thức của anh ta. Tuy nhiên, hành giả sẽ nhận thấy thân tâm của chính mình tự nhiên nhẹ nhàng hẳn lên, đồng thời đã trở nên thuần thục và dễ uốn nắn. Trước đây lúc mới tập sự thực hành thiền, hành giả thường có thói quen thay đổi tư thế. Khi đã gặt hái được Udayabbhaya Ñāna, hành giả đã có thể ngồi thiền liên tục trong một giờ đồng hồ. Trong trạng thái nội quán này, đối với những hành giả trước đây đã có khả năng thực hành thiền liên tục trong một giờ đồng hồ không thay đổi tư thế, nay họ đã có khả năng thiền tọa liên tiếp trong 2, 3, 4 hoặc 5 giờ đồng hồ. Đối với những hành giả đã gặt hái được Udayabbhaya Ñāna ở trình độ thấp, thỉnh thoảng tâm trí của họ cũng bị lang thang vô định. Tuy nhiên, ở trình độ hành thiền này, họ đã có khả năng quán niệm một cách dễ dàng và trôi chảy. Khi đã gặt hái được xung lượng

( tức sức đẩy tới trong vật lý), hay có thể nói một cách nôm na là đã có đà trong quá trình thực hành thiền, sự chú ý của hành giả lại càng trở nên thích hợp, trôi chảy và dễ dàng hơn nữa. Đến lúc đó, hành giả sẽ dễ dàng quan sát tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng, bởi vì tiến trình này đã xuất hiện một cách rất rõ ràng và trong sáng trong tâm thức của anh ta. Với trạng thái tâm thức mà trí tuệ đã khá phát triển, nhưng đang ở mức độ thấp, hành giả vẫn cần phải nổ lực chú ý. Tuy nhiên, khi trí tuệ đã phát triển ở một mức độ cao hơn, hành giả sẽ hoàn thiện được thân tâm của chính mình. Đến lúc này, sự chú ý của hành giả sẽ sự tự động phát khởi và hướng về bất cứ đối tượng nào khởi lên trong tâm thức. Do đó, thân tâm của hành giả đã trở nên thanh thản và nhẹ nhàng. Một vài hành giả đã phát triển trí tuệ ở mức độ cao nói rằng, trước đây họ chưa bao giờ trải nghiệm được một tâm thức thanh thản và nhẹ nhàng như vậy. Thậm chí, khi đang ở trong tư thế thiền tọa, thân thể của họ tự nhiên thẳng đứng và bất động như một con búp bê, tâm trí của họ đã trở nên thăng bằng tới mức không thể tin được. Đó là những trải nghiệm khá thú vị đối với những hành giả đã gặt hái được kiến thức về tiến trình đang khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng. Đó chính là hoan hỷ minh sát- Pīti Vipassanā, tức trạng thái hạnh phúc mà những người thực hành thiền minh sát có thể gặt hái được. Một trạng thái tâm lý mà những người không thực hành thiền minh sát, thậm chí là cả Chư Thiên cũng không có cơ hội để trải nghiệm được. Khi đang thực hành thiền minh sát tại một nơi tách biệt, hành giả có thể trải nghiệm hoan hỷ minh sát ( được kể như một loại lạc thọ - Sukkha Vedanā). Một cách đúng đắn, trạng thái hạnh phúc này cần phải được loại bỏ, thay vì phát triển tâm bám víu và quyến luyến vào nó. Tâm tham khát muốn được tiếp tục trải nghiệm trạng thái hạnh phúc này phải được xem như là biểu hiện của tham lam ( Lobha- Greed).

Lạc thọ ( Sukkha Vedanā)

Tóm tắt: Tâm khao khát lạc thọ tái hiện khởi phải được loại bỏ. Khởi tâm bám víu vào lạc thọ nghĩa là đã bị tắt ngẽn từ bên trong.

Quán niệm như thế nào để xua tan lạc thọ ? Đức Phật đã từng giáo huấn về cách chú ý để nhận thức được bản chất lạc thọ, đặc biệt là khi lạc thọ đang khởi lên trong trạng thái nội quán mà tâm đã nhận biết được tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng ở mức độ cao. Trong trạng thái nội quán này, sự chú ý của hành giả sẽ khởi lên và tan biến đi. Thậm chí, đối với những hành giả đã gặt hái được Udayabbhaya Ñāna ở mức độ thấp, lạc thọ cũng khởi lên trong tâm thức của họ. Khi đã gặt hái được Udayabbhaya Ñāna ở mức độ cao, hành giả cũng sẽ trải nghiệm được hiện tượng thân tâm của mình trở nên phấn chấn, dễ uốn nắn và điều khiển. Đồng thời hành giả cũng trải nghiệm được hoan hỷ minh sát ( Vipassanā Pīti). Do đó, anh ta rất dễ khởi tâm bám víu vào trạng thái hạnh phúc này. Đây chính là biểu hiện của tâm tham lam muốn tận hưởng lạc thọ ( Sukkha Vedanā). Trong trình tự loại bỏ tâm tham lam, hành giả cần phải quán niệm lạc thọ cho đến khi đã lãnh hội được bản chất của nó là khổ. Hành giả cần chú ý liên tục và chính xác để nhận biết rằng hiện tại thân hay tâm đang cảm thấy dễ chịu. Nếu tâm đang tận hưởng lạc thọ thì hành giả rất dễ nhận biết trạng thái này, đồng thời phải niệm thầm “ tâm đang thanh thản, tâm đang thanh thản”…Đối với trạng thái thanh thản của thân, hành giả cũng phải tập trung sự chú ý và niệm thầm “ thân đang thanh thản, thân đang thanh thản”…Sự thật, hành giả thường có xu hướng muốn điều khiển và hiểu biết về thân hơn là tâm. Do đó, tốt hơn hết, bạn chỉ nên chú ý liên tục đến trạng thái thanh thản và bình yên của thân. Khi năng lực định tâm đã trở nên sắc bén và cảm thấy hăng hái trong quán niệm thì hành giả sẽ nhận thức được rằng, lạc thọ đã khởi lên và biến mất đi một cách nhanh chóng khi nó bị chú ý đến. Thật ra, tiến trình khởi lên và tan biến đi quá nhanh chóng của lạc thọ hay cảm thọ nói chung đều tạo ra một áp lực trên tâm thức của hành giả. Điều này chắc chắn sẽ khiến cho hành giả cảm thấy khổ. Mỗi khi sự chú ý của hành giả không theo kịp tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng ( ở đây là lạc thọ), anh ta sẽ nhận thức được rằng, thật ra không có bất cứ một hiện tượng nào đáng vui thích cả, lạc thọ cũng chỉ là một tiến trình giả tạm và cuối cùng sẽ dẫn đến khổ mà thôi. Đức Phật đã từng dạy chúng ta rằng “hãy xem lạc thọ ( Sukkha Vedanā) cũng giống như khổ thọ ( Dukkha Vedanā)”. Do đó, tâm tham lam muốn bám víu vào lạc thọ đã bị sự chú ý liên tục của hành giả vượt qua và loại bỏ. Chúng ta không nên thèm muốn lạc thọ, mỗi khi nó khởi lên trong tâm thức thì hãy lập tức chú ý để loại bỏ nó.

Tóm tắt: Khi lạc thọ khởi lên, hành giả phải lập tức chú ý đến nó như cách chú ý đến lạc thọ. Khổ thọ và lạc thọ đều có cùng bản chất là dẫn đến sự khổ.

Thọ vô ký tính ( Upekkha Vedanā)

Với sự chú ý liên tục và năng lực định tâm đã phát triển, hành giả sẽ lần lượt vượt qua từng trạng thái nội quán. Tuy nhiên, khi đã gặt hái được kiến thức về trạng thái thanh thản-  Sankhārūpekkha Ñāna, một trạng thái nội quán mà ở đó hành giả sẽ nhận thấy rằng vạn hữu đều bình đẳng từ trong bản chất. Trong trạng thái nội quán này, tâm thức của hành giả chính là thọ vô ký tính ( Upekkhā Vedanā– Neutral Sensation). Trạng thái tâm lý này không chứa đựng sợ hãi cũng không có vui thích. Hành giả sẽ không còn mang tâm bối rối, phân biệt thế gian hay xuất thế gian, yêu hay ghét, không còn bám víu vào bất cứ cái gì xảy đến trong tâm thức của chính mình. Một nữ hành giả thực hành thiền theo phương pháp chú ý tổng hợp ( tức chú ý một cách chi tiết đến tất cả những gì xảy đến trong đời sống hàng ngày của chính mình) đã nói rằng, sở thích của bà là lắng nghe những ca khúc vào ban đêm. Bà cũng thích xem khiêu vũ và có khả năng bình luận rất sắc sảo về những vũ công, các ca khúc cũng như nhiều ca sĩ khác nhau. Sau khi đã gặt hái được Phật Pháp, bà nhận thấy rằng những ca khúc và bộ môn khiêu vũ đã không còn thú vị đối với bà nữa. Những thứ đó đã không còn ý nghĩa gì đối với bà nữa. Bà cân nhắc kỹ lưỡng và nhận thấy rằng hạnh phúc và bất hạnh cũng chẳng có gì khác nhau cả. Khi đã gặt hái được kiến thức về trạng thái thanh thản, sự chú ý của hành giả sẽ hiện khởi một cách tự động và hoạt động theo cách riêng của nó. Những hành giả thành công trong việc tham thiền có thể nhớ lại những trải nghiệm của họ trong trạng thái nội quán này. Những hành giả chưa gặt hái được trạng thái nội quán này sẽ có cơ hội trải nghiệm nó vào một ngày nào đó, nếu họ kiên nhẫn tiếp tục thực hành thiền. Những người đã đạt tới trạng thái trí tuệ này sẽ có khả năng chịu đựng được những thăng trầm trong cuộc sống. Khi năng lực định tâm đã chín muồi, việc thực hành thiền của bạn sẽ có nhiều tiến bộ.

Tóm tắt: Không còn sợ hãi và vui thích, xem hạnh phúc cũng giống như đau khổ, không cần nổ lực mà vẫn thực hành quán niệm một cách dễ dàng. Đây là 3 đặc tính chứa đựng trong trạng thái nội quán được gọi là Sankhārūpekkha Ñāna. ( Mahāsī)

Khi năng lực chú ý đã trở nên tự động, hành giả có thể bị đánh lừa và không nhận biết được bản chất của đối tượng quan sát được biểu lộ thông qua tiến trình khởi lên và tan biến đi của nó.Vô minh hay vọng tưởng sẽ được thiết lập khi năng lực chú ý của hành giả đã trở nên dễ dàng và tự hoạt động theo cách riêng của nó.

Tóm tắt: Sự tái hiện nhiều lần của vô minh trong thọ vô ký tính phải được xua tan.

Theo trình tự thực hành thiền để đạt tới mục đích mong muốn, hành giả phải thực hành quán niệm và xóa tan vô minh ( Moha- Delusion). Sự thật, trong Sankhārūpekkhā Ñāna, bạn có thể dễ dàng nhận biết được vô minh tái hiện nhiều lần trong thọ vô ký tính. Đến lúc này, bạn đã ở trong tầm đạt tới mục đích cùng tột, chỉ cần phát triển thêm 2 bậc trí tuệ nữa thôi là dẫn đến thành công. Hai bậc trí tuệ cuối cùng cần phải hoàn thiện là kiến thức về trạng thái thích nghi – Anuloma Ñānakiến thức về trạng thái chín muồi – Gotrabhu Ñāna. Hành giả sẽ gặt hái được 2 loại kiến thức này khi năng lực định tâm đã thật sự sắc bén, trạng thái thanh thản trong nội tâm đã phát triển đến mức hoàn hảo. Tuy nhiên, tiến trình gặt hái kiến thức về trạng thái thích nghikiến thức về trạng thái chín muồi xảy ra rất chậm chạp,bạn  cần phải nổ lực hết mình trong thực hành quán niệm thì mới đạt tới mục đích mong muốn. Có lúc, bạn có thể trình Pháp với thiền sư rằng tiến trình quán niệm của mình diễn ra rất tốt. Tuy nhiên, bạn không thể giải thích được là nó tốt như thế nào. Do đó, thiền sư có thể phán quyết bạn đang ở trạng thái nội quán nào và nói rằng bạn vẫn chưa vượt qua được vô minh. Liên quan đến trạng thái vô minh, Đức Phật đã giải thích rằng hành giả cần phải quán niệm về thọ vô ký tính cho đến khi nhận thức được nó chính là vô thường và hoàn toàn xua tan vô minh. Tính vô thường ( Anicca- Impermanance) và vô minh ( Moha- Delusion) là phản đề của nhau. Khi đã gặt hái được kiến thức về trạng thái thanh thản, bạn sẽ nhận thấy rằng không phải dễ thực hành sự chú ý đến thọ vô ký tính, bởi vì cảm giác này xuất hiện một cách huyền ảo và không rõ ràng, đặc biệt là trong thời đại của chúng ta – khi mà Giáo Pháp của Đức Phật đã được truyền qua nhiều đời và chưa được khám phá một cách đầy đủ. Điều này có thể khiến cho chúng ta dễ rơi vào trạng thái ngộ nhận về ý nghĩa của nó. Thời đại của chúng ta được gọi là Thời Mạt Pháp – khi mà sự suy luận về thọ vô ký tính như là những dấu chân nai đã được vẽ ra bởi những nhà nghiên cứu về Phật học. Người thợ săn chỉ có thể theo dõi một con nai bằng cách lần theo những dấu chân của nó. Dấu chân nai in hằn trên mặt đá là rất khó nhìn thấy một cách rõ ràng. Tuy nhiên thật tiếc thay, cho đến nay trên những mặt đá đó cũng không còn sót lại bất cứ một dấu chân nai nào cả. Dầu sao chăng nữa, những người thợ săn vẫn có thể tin chắc rằng con nai đã từng in dấu chân của nó trên mặt đá ngàn năm. Những dấu chân nai đó có thể dẫn đưa chúng ta đi từ khổ thọ  ( Dukkha Vedanā) đến lạc thọ ( Sukkha Vedanā). Những dấu chân nai không thể nhìn thấy được ví như là thọ vô ký tính ( Upekkha Vedanā – Neutral Sensation). Vì vậy, thọ vô ký tính rất khó chú ý để nhận biết và hầu như chưa có ai có thể thực hiện được điều đó. Khi không thể nhận biết được thọ vô ký tính, cách tốt nhất là bạn phải rời bỏ nó để chú ý đến những cái gì đang hiện khởi một cách rõ ràng và trong sáng. Khi bạn đã có sự hiểu biết hoàn hảo về thân thể của chính mình, điều lợi ích nhất là hãy chú ý đến những gì đang hiện khởi trong thân thể đó. Thay cho việc quán niệm thọ vô ký tính, bạn có thể thực hành sự chú ý đến “ tiến trình đang phồng lên” và “ tiến trình đang xẹp xuống” của bụng. Cách chú ý này có thể xua tan vô minh mỗi khi nó khởi lên và làm trì hoãn tiến trình nội quán của bạn. Với sự tiến bộ trong quá trình thực hành thiền minh sát và kiến thức nội quán đã chín muồi, hành giả nào đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của các hiện tượng – Bhanga Ñāna sẽ dễ dàng nhận ra sự nguy hiểm và những điểm sai lầm có thể mắc phải khi đạt tới trạng thái thanh thản trong nội quán. Khi năng lực định tâm đã vững chắc và mạnh mẽ, tiến trình trở thành của các hiện tượng, tiến trình chú ý, sự chấm dứt của tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng sẽ xuất hiện một cách rõ ràng hơn trong tâm thức hành giả.

Ở trình độ thực hành thiền này, khi hành giả đang chú ý đến tiến trình phồng lên của bụng, chuyển động dần dần phồng lên của bụng sẽ biến mất ngay lập tức, đồng thời tiến trình chú ý của tâm trí hành giả cũng sẽ biến mất theo cách tương tự. Từ đó, hành giả sẽ nhanh chóng nhận thức được một sự thật rằng, cả hai “tiến trình chuyển động đang dần dần phồng lên của bụng” và “ tiến trình chú ý của tâm trí” đã biến mất một cách ngay lập tức, cái này tiếp nối cái kia. Qui luật này cũng có thể áp dụng đối với “ tiến trình chuyển động đang dần dần xẹp xuống của bụng”. Tiến trình chú ý của tâm trí đến đối tượng quan sát và sự hiểu biết về trạng thái tan hoại của các hiện tượng sẽ xuất hiện một cách liên tục và nhanh chóng trong tâm thức của hành giả. Tiến trình tan hoại của đối tượng quan sát đã kéo theo trạng thái tan hoại của tâm thức. Bây giờ hành giả đã hoàn toàn lãnh hội được tính vô thường của vật chất và tinh thần ( ở đây là chuyển động phồng xẹp lên xuống của bụng và sự nhận thức của tâm trí). Vì vậy, hành giả đã phát triển trí tuệ và loại bỏ được vô minh.

Tóm tắt: Khi thọ vô ký tính khởi lên, hành giả cần chú ý để nắm bắt tính vô thường của nó.

Khi vô minh đang khởi lên, hành giả cần quán niệm cho đến khi nhận thức được nó chính là vô thường bằng cách quay trở lại chú ý đến tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng. Bằng cách nào chúng ta có thể xua tan được tâm tham lam, sân hận và vô minh ? Thọ vô ký tính không xuất hiện một cách rõ ràng. Vì vậy, cách tốt nhất là bạn phải quay lại thực hiện sự chú ý đến tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng để xua tan vô minh.

 

Bốn dạng hành giả                     

Hành giả trải nghiệm cảm giác đau khổ, hạnh phúc và ảo tưởng đúng như hạnh nguyện Ba-La-Mật của họ trước đó, mỗi người mỗi khác, không có ai giống nhau. Có 4 dạng hành giả với bốn lối nhận thức khổ thọ và lạc thọ khác nhau, đó là :

1. Hành giả trải nghiệm cảm giác đau khổ và gặp nhiều chướng ngại trong lúc thực hành thiền. Vì vậy, anh ta sẽ gặt hái Giáo Pháp rất chậm.

2. Hành giả trải nghiệm cảm giác đau khổ và gặp nhiều chướng ngại trong lúc thực hành thiền. Tuy nhiên, anh ta vẫn gặt hái được Giáo Pháp một cách nhanh chóng.

3. Trong quá trình thực hành thiền, hành giả không gặp phải cảm giác đau khổ. Tuy nhiên, anh ta gặt hái Giáo Pháp rất chậm. Dạng hành giả này thường nói rằng “ quán niệm là tốt” và anh ta có thói quen thực hành thiền suốt ngày. Tuy nhiên, anh ta không giải thích được “ thực hành quán niệm tốt như thế nào” và vì sao anh ta đã gặt hái Giáo Pháp một cách chậm chạp.

4. Trong quá trình thực hành thiền, hành giả không bắt gặp cảm giác đau khổ, cũng không chạm trán với những chướng ngại và gặt hái Giáo Pháp một cách nhanh chóng.

Trong quá khứ, những hành giả chưa từng thực hành thiền định và cũng không thực hành thiền minh sát sẽ phải đối diện với nhiều chướng ngại trong quá trình thực hành quán niệm và gặt hái Giáo Pháp một cách chậm chạp. Những hành giả không thực hành thiền định trong quá khứ mà chỉ thực hành thiền minh sát sẽ trải nghiệm nhiều chướng ngại trong lúc thực hành quán niệm. Tuy nhiên, họ sẽ nhanh chóng gặt hái được Giáo Pháp. Trong quá khứ, những hành giả đã từng thực hành thiền định nhưng không thực hành thiền minh sát sẽ không gặp phải những chướng ngại trong quá trình thực hành quán niệm. Tuy nhiên, họ sẽ gặt hái Giáo Pháp một cách chậm chạp. Những hành giả đã từng thực hành thiền định và thiền minh sát sẽ không gặp phải chướng ngại nào trong quá trình thực hành quán niệm và gặt hái Giáo Pháp một cách nhanh chóng. Bạn có thể là một trong 4 dạng hành giả vừa nói trên. Đức Phật đã từng nói rằng tất cả 4 dạng hành giả nói trên, khi thực hành thiền minh sát đều có thể gặt hái Giáo Pháp một cách nhanh chóng nếu họ thực hành theo một phương pháp đúng đắn. Khi cảm giác đau khổ xuất hiện, bạn cần phải chú ý đến nó cho đến khi nó đã hoàn toàn biến mất. Nhờ vậy, bạn sẽ cải thiện được tiến trình thực hành quán niệm của chính mình. Nếu chưa có khả năng chịu đựng được những cảm giác khó chịu, bạn không nên sanh tâm chán nản mà cứ tiếp tục kiên nhẫn tập luyện. Sự thật là, khi thân xác bị đau khổ, cách tốt nhất là bạn không nên để tâm đến nó. Bạn sẽ vượt qua được các loại cảm giác nói chung nếu có thể thực hành theo cách như vậy. Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp nói về 3 loại cảm thọ, sự tái hiện nhiều lần của sân hận trong khổ thọ và cách thức loại bỏ nó. Cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành theo những lời dạy của Đức Phật. Với sự siêng năng cần mẫn trong quán niệm, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ nhanh chóng nhận thức được Niết Bàn mong muốn, thoát khỏi tất cả những nổi khổ đau bằng cách thực hành thiền minh sát với một tâm thức thoải mái và thanh thản. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay ! Cầu chúc cho tất cả chúng sanh trên 10 phương có thể thoát khỏi nhiều loại nguy hiểm và tổn hại. Cầu chúc cho họ sẽ thoát khỏi khổ đau trên phương diện thân xác và tinh thần. Cầu chúc cho họ sẽ có khả năng chịu đựng nổi gánh nặng của cuộc sống và được hạnh phúc trong thân tâm. Lành thay ! Lành thay ! Lành thay !   

 

 

             Những nhân tố dẫn đến giác ngộ ( Thất giác chi)

 

Bài thuyết Pháp hôm nay có tựa đề là Kinh Thất Giác Chi- Bojjhanga Sutta. Từ Bojjhanga hay Bodhi có nghĩa là một người cao quí đã nhận thức được bốn chân lý cao thượng, từ anga có nghĩa là những nhân tố. Nói cách khác, Bojjhanga có nghĩa là những nhân tố dẫn đến giác ngộ. Từ sutta có nghĩa là Kinh hay sự giải thích. Những nhân tố này có thể trị được bệnh tật. Thậm chí, một người nào đó đã phát triển được những nhân tố giác ngộ trong tâm thức của chính mình thì người đó sẽ trở thành một bậc cao quí. Có tất cả 7 nhân tố dẫn đến giác ngộ, đó là :

1. Sati SambojjhanNiệm giác chi

 Niệm giác chi là năng lực chú ý đúng đắn của hành giả trong quá trình tham thiền, đặc biệt là thiền minh sát.

2. Dhammavicaya Sambojjhan – Trạch pháp giác chi

Trạch Pháp giác chi là năng lực suy luận, phân tích về vạn hữu để khám phá chân lý. Ở đây là năng lực phát triển tuệ minh sát để phân tích được tính vô thường, khổvô ngã.

3. Viriya Sambojjhan- Tinh tấn giác chi

Tinh tấn giác chi là sinh lực, đặc biệt là sinh lực phát xuất từ thiền minh sát sẽ khiến cho khả năng chú ý đến tinh thần và vật chất của hành giả gia tăng rõ rệt.

4. Pīti Sambojjhan- Hoan hỷ giác chi

Hoan hỷ giác chi khởi lên do quá trình nội quán của hành giả đã có nhiều tiến bộ.

5. Passadhi Sambojjhan – Khinh an giác chi

Khinh an giác chi là trạng thái nhẹ nhàng và yên tĩnh của thân tâm khi hành giả đã gặt hái được kiến thức về trạng thái tan hoại của vạn hữu

( Udayabbaya Ñāna).

6. Samādhi Sambojjhan – Định giác chi

Định giác chi là trạng thái định tâm của hành giả. Ở trạng thái này, trong từng khoảnh khắc khi đang thực hành thiền minh sát, hành giả đã có khả năng chú ý liên tục và chính xác đến đối tượng nhận thức. Nói cách khác, hành giả đã có thể quan sát một đối tượng nhận thức bất kỳ nào đó, kể từ khi nó bắt đầu khởi lên cho đến khi đã hoàn toàn biến mất. Theo những lời giáo huấn của ngài Mahāsī, khi hành giả đã có khả năng chú ý một cách liên tục và chính xác từ đầu đến cuối đến “ tiến trình phồng lên” và “ tiến trình xẹp xuống” của bụng thì anh ta sẽ thiết lập được trạng thái định tâm.

7. Upekkhā SambijjhanXả giác chi

Xả giác chi là trạng thái thanh thản của thân tâm. Khi hành giả đã trải nghiệm được trạng thái này ở cấp độ cao, nhất là khi đã gặt hái được kiến thức chín muồi về trạng thái tan hoại của vạn hữu và kiến thức về trạng thái thanh thản, sự chú ý của hành giả sẽ hiện khởi đồng thời với đối tượng nhận thức. Trong xả giác chi không có sự xuất hiện của những cảm giác khó chịu. Những cảm giác dễ chịu cũng đã biến mất.

Niệm giác chi

Bằng cách thực hành thiền tứ niệm xứ ( Catu Satipatthāna Bhāvanā), người ta có thể trở thành một bậc cao thượng. Bất cứ lúc nào khi bạn đang thực hành thiền tứ niệm xứ ( tức thiền minh sát) thì 7 nhân tố giác ngộ đều có cơ hội để phát triển. Trong thiền tứ niệm xứ, hành giả phải chú ý đến những đối tượng như : “ tiến trình đang ngồi”, “ tiến trình đang xúc chạm”, “ tiến trình đang phồng lên của bụng”, “ tiến trình đang xẹp xuống của bụng”. “ tiến trình đang đi bộ”, “ tiến trình đang đứng”…Nếu không tập trung chú ý tích cực thì chắc chắn quí vị sẽ bỏ qua tiến trình đang khởi lên của đối tượng nhận thức.Từ Satipatthāna được cấu thành bởi từ Sati ( sự chú ý), từ upa

( trụ lại tại một điểm ) và từ thāna ( có thật, đang tồn tại). Như vậy ở đây từ Satipatthāna có thể tạm dịch là tâm trí trụ lại trên đối tượng nhận thức. Sự thật thì sự chú ý suông không có khả năng vượt qua bất cứ cái gì cả, tự nó không nhận thức được cái gì cả. Tuy nhiên, năng lực chú ý mạnh mẽ sẽ làm cho tuệ minh sát phát khởi. Niệm giác chi sẽ ngày càng phát triển khi bạn thực hành thiền minh sát bằng cách chú ý đến “ tiến trình đang ngồi”, “ tiến trình đang đi bộ”, “ tiến trình đang đứng”… Năng lực chú ý đúng đắn là một nhân tố cực kỳ quan trọng trong quá trình thực hành thiền minh sát.

Trạch pháp giác chi

Trạch pháp giác chicó nghĩa là suy luận, phân tích để khám phá được bản chất của vạn hữu thông qua tư tưởng hay đối tượng của tâm ý ( tức pháp xứ - Dhammāyatana –ND) . Trong trạch pháp giác chi, tuệ minh sát chính là nhân tố giúp hành giả khám phá được bản chất của vạn hữu. Trong giai đoạn đầu lúc mới khởi sự thực hành thiền minh sát, trạch pháp giác chi chưa phát triển, bởi vì lúc đó hành giả chưa có khả năng phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Trong giai đoạn đó, bạn có thể suy nghĩ rằng chính mình là người đang ngồi, chính bụng của mình đang phồng lên, chính mình đang chú ý chứ không phải cái gì khác…Tương tự như vậy, trong nhiều hành động khác, bạn sẽ nhầm tưởng bản thân mình chính là người đang thực hiện. Lúc ban đầu, bạn cứ nhầm tưởng “ tiến trình đang phồng lên của bụng” và “ sự chú ý của tâm trí” chỉ là một. Đến khi năng lực định tâm đã được thiết lập thì bạn mới nhận thức được rằng “ tiến trình đang phồng lên của bụng” và “ sự chú ý của tâm trí” là 2 thành phần hoàn toàn tách biệt nhau. Xa hơn nữa, bạn còn nhận thức được rằng “ tiến trình đang phồng lên và xẹp xuống của bụng” là thuộc về vật chất, chúng không hề có sự nhận thức. Sự chú ý của tâm trí đến những tiến trình này là có nhận thức, bởi vì nó thuộc về tinh thần. Đến lúc này, bạn đã có khả năng phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất, đồng thời cũng nhận thức được rằng chính tinh thần và vật chất đã làm nên bản thân mình chứ không phải cái gì khác. Do đó, bạn đã gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất – Nāmarūpa Pariccheda Ñāna. Tiếp đến, trạch pháp giác chi  sẽ phát triển. Nói như vậy có nghĩa là tuệ minh sát đã phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Bạn cần nhận biết được trạng thái nội quán mà mình đã gặt hái được. Ở đây tuệ minh sát chính là trạch pháp giác chi. Mặc dù trạch pháp giác chi không trực tiếp khám phá ra bản chất của vạn hữu, nhưng nó là nhân tố giác ngộ đã thúc đẩy tuệ minh sát phát khởi. Trong trạng thái nội quán mà tâm của bạn nhận biết được định luật nhân quả ( Paccaya Pariggaha Ñāna), bạn sẽ lãnh hội được rằng sở dĩ mình có thể chú ý đến “ trạng thái chuyển động đang phồng lên”, “ trạng thái chuyển động đang xẹp xuống” của bụng, “ trạng thái đang ngồi”, “ trạng thái đang đứng”…là do có sự xuất  hiện của “ hành động đang phồng lên”, “ hành động đang xẹp xuống” của bụng, “ hành động đang ngồi”, “ hành động đang đứng”, “ hành động đang xúc chạm”…Do đó, sự xuất hiện của những hành động này chính là nguyên nhân, sự chú ý của tâm trí đến chúng chính là kết quả. Thậm chí, bạn còn nhận thức được rằng “ tiến trình đang phồng lên” đã luân phiên di chuyển từ bụng sang bên cạnh sườn, cánh tay, ngực, cổ và đỉnh đầu của mình. Đối với trạng thái nội quán này, hành giả sẽ trình Pháp rằng “ Tôi không còn biết cách nào để chú ý tiến trình đang phồng lên của bụng, tiến trình này đã luân phiên di chuyển từ bụng sang cánh tay và ngực”. Vị thiền sư sẽ nói với bạn rằng hãy chú ý đến “ tiến trình phồng xẹp” tại bất cứ nơi đâu mà chúng xuất hiện. Vì vậy, bạn sẽ lãnh hội được nguyên lý nhân quả. Đến lúc này, các loại màu sắc như vàng, xanh da trời hay lục cũng có thể xuất hiện trong nhãn thức của bạn. Tất cả những hiện tượng vừa nói trên có thể khởi lên là do chịu ảnh hưởng của Trạch pháp giác chiDhammavicaya Sambojjhan. Các vị thiền sư thường khuyên những hành giả rằng trong giai đoạn mới khởi sự thực hành thiền minh sát, họ nên thực hành sự chú ý một cách chi tiết đến những hành động hàng ngày của chính mình. Sau một thời gian ngắn, chắc chắc họ sẽ gặt hái được Giáo Pháp. Trong trạng thái nội quán mà tâm thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất, có thể bạn chưa cần tuân theo lời khuyên vừa nêu trên. Tuy nhiên, khi đã gặt hái được kiến thức về nhân quả- Paccayapariggaha Ñāna, bạn đã có thể thực hành sự chú ý một cách chi tiết đến các hoạt động hàng ngày của mình. Đặc biệt, bạn nên tập trung chú ý đến “ ý định muốn thực hiện hành động”. Sau khi đã thiền tọa được một giờ đồng hồ, “ ý định muốn đứng lên” sẽ hiện khởi trong tâm thức của bạn”. Ngay khi ý định này đang khởi lên, bạn cần niệm thầm trong tâm “ đang có ý định đứng lên, đang có ý định đứng lên”. Do ảnh hưởng của ý định này, yếu tố chuyển động sẽ thúc đẩy thân thể của bạn đứng lên bằng cách chống hai tay xuống mặt sàn. Khi thân thể đang dần dần chuyển động đứng lên, bạn hãy niệm thầm trong tâm “ đang đứng lên, đang đứng lên”. Việc chú ý đến khách thể và sự chú ý của chính mình sẽ khiến cho bạn nhận thức được bản chất của các hiện tượng. Trong thiền minh sát, điều cần thiết và quan trọng nhất là thực hành sự chú ý để nhận biết được bản chất của các hiện tượng. Khi tập trung chú ý đến chuyển động đang dần dần đứng lên của thân thể một cách chính xác, bạn sẽ nhận biết được tính nhẹ nhàng trong chuyển động này. Bạn không cần chú ý đến 2 cẳng chân, 2 cánh tay hay đầu…Sau khi đã hoàn toàn đứng lên, bạn nên tập trung chú ý để nhận biết “ ý định muốn bước đi”, đồng thời niệm thầm trong tâm mình “ đang có ý định bước đi, đang có ý định bước đi” khi ý định này vừa khởi lên trong tâm thức. Khi thân thể bắt đầu chuyển động bước đi, bạn cũng phải niệm thầm trong tâm mình “ đang bước đi, đang bước đi”. Tiếp đến, bạn chuyển sang chú ý đến hành động “ chân trái đang bước tới”, “ chân phải đang bước tới”. Bạn cũng cần chú ý đến chuyển động “ dở lên, bước tới và đặt xuống” của bàn chân. Khi “ ý định muốn dừng lại” hiện khởi ( ý định này thường xảy ra trước khi bạn thực sự dừng lại khoảng từ 2 đến 3 bước chân), bạn cần niệm thầm trong tâm mình “ đang có ý định muốn dừng lại, đang có ý định muốn dừng lại”…Khi thân thể đang dừng lại, bạn niệm thầm trong tâm mình “ đang dừng lại, đang dừng lại”…Khi “ ý định muốn ngồi xuống” hiện khởi, bạn niệm thầm trong tâm “ đang có ý định muốn ngồi xuống, đang có ý định muốn ngồi xuống”…Ý định muốn ngồi xuống là nguyên nhân khiến cho yếu tố chuyển động thúc đẩy thân thể ngồi xuống. Khi “ hành động ngồi xuống” đang hiện khởi, bạn niệm thầm trong tâm “ đang ngồi xuống, đang ngồi xuống”… Bạn chỉ cần chú ý để nhận biết được bản chất của tiến trình đang ngồi xuống, không cần lưu tâm đến hình dáng bên ngoài của thân thể. Nếu có thể nhận biết được tính nặng nề trong chuyển động dần dần ngồi xuống của thân thể thì bạn sẽ nhận thức được bản chất của chuyển động này. Do đó, bạn nên thực hành sự chú ý đến “ ý định muốn ngồi xuống”, “ ý định muốn xúc chạm”, “ ý định muốn đứng lên”, “ ý định muốn bước đi”…Ý định muốn thực hiện một hành động bất kỳ luôn luôn xuất hiện ngay trước hành động đó. Nhờ thực hành như vậy, bạn sẽ đạt tới trạng thái nội quán được gọi là kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất – Nāmarūpa pariccheda Ñāna. Từ đó, trạch pháp giác chi đã thật sự phát triển trong tâm thức của bạn. “ Ý định muốn đứng lên” thuộc về tinh thần ( Nāma- Spirits), hành động đứng lên là thuộc về vật chất ( Rūpa-Matterial), chúng là 2 thành phần hoàn toàn tách biệt nhau. Khi nhận thức được như vậy tức là bạn đã phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Đồng thời, bạn sẽ lãnh hội được nguyên lý nhân quả. Bây giờ, bạn đã đạt tới trạng thái nội quán gọi là Paccayapariggaha Ñāna, trạch pháp giác chi cũng đã phát triển trong tâm thức của bạn. Vì vậy,bạn đã gặt hái được 2 trạng thái nội quán. Tuy nhiên, trạch pháp giác chi vẫn không thay đổi. Điều quan trọng nhất là bạn phải nhận biết được rằng trong thực tế, “ý định muốn thực hiện một hành động bất kỳ” chính là nguyên nhân sanh ra “ trạng thái chuyển động” trong lòng hành động đó. Trong việc thực hành thiền minh sát, điều cốt tủy là bạn phải chú ý một cách chi tiết để nhận thức được bản chất của các hiện tượng thông qua sự trải nghiệm những trạng thái nội quán.

Tóm tắt: Ý định muốn ngồi là danh pháp ( tức tinh thần- Nāma), hành động ngồi xuống là sắc pháp ( tức vật chất-Rūpa). Không phải “ ông T”, “ bà C”, “ cô Y” hay bạn đang ngồi, chỉ có tinh thần và vật chất thực hiện hành động ngồi. Nếu có quan kiến đúng đắn về 2 thành phần này thì bạn đã nhận thức được bản chất của hành động ngồi. Ý định muốn đứng là thuộc tinh thần. Không phải “ tôi” hay “ bạn” đang đứng, chỉ có tinh thần và vật chất đang thực hiện hành động đứng mà thôi. Nếu có quan kiến đúng đắn về 2 thành phần này thì bạn đã nhận thức được bản chất của hành động đứng. 

Khi lãnh hội được nguyên lý nhân quả, bạn đã tự thiết lập được cho mình một nền tảng vững chắc trong Phật Pháp. Nguyên nhân ở đây là “ ý định muốn thực hiện một hành động” và kết quả chính là “ hành động đó”.

Các bậc thầy chú giải Kinh điển đã từng nhấn mạnh rằng hành giả cần phải có được một chỗ đứng vững vàng trong Phật Pháp để có thể trở thành một Tiểu –Tu-Đà-Hườn ( Sula-Sotāpaññā) và thoát khỏi địa ngục trong kiếp sống kế tiếp. Ngoài ra không có một niềm tin nào khác có thể gây ảnh hưởng đến hành giả, anh ta đã hoàn toàn xóa tan mối nghi ngờ về quan hệ nhân quả. Hành giả đã không còn chứa chấp quan điểm cho rằng không hề có nguyên nhân của hạnh phúc hay khổ đau. Đồng thời hành giả cũng đã thoát khỏi quan điểm lầm lạc về “ Đấng Sáng Tạo” không thích hợp với nguyên lý nhân quả. Quan điểm lầm lạc này cho rằng “ Đấng Sáng Tạo” chính là nguyên nhân và sự trở thành của muôn loài chúng sanh là kết quả. Như vậy, chắc chắn “ Đấng Sáng Tạo” chính là Chúa, Phạm-Thiên… Các Ngài vì lòng thương yêu tử tế đã sáng tạo ra muôn loài chúng sanh trong một ý chí bình đẳng. Tuy nhiên trong thực tế, tất cả các “ loài thụ tạo” đều không được bình đẳng từ trong bản chất. Một vài người có sức khỏe tốt, sở hữu nhiều của cải và có một nhân cách hoàn hảo. Trong khi đó, những người khác lại sở hữu một tình trạng sức khỏe yếu kém, nghèo đói, diện mạo xấu xí, nhân cách thấp hèn. Lại có một số người khác bị sanh vào những cảnh giới thấp kém, không được bình đẳng về phương diện sức khỏe và của cải. Như vậy, rõ ràng thật vô lý khi cho rằng “ Đấng Sáng Tạo” chính là nguyên nhân, sự trở thành của muôn loài chúng sanhkết quả của nguyên nhân này. Quan hệ nhân quả rất dễ nhận thấy thông qua sự trải nghiệm riêng của chính bạn. Nói cách khác, bạn có thể hiểu được một cách rõ ràng rằng, nếu một người nào đó thực hiện những hành động tội lỗi thì chắc chắn anh ta sẽ bị đau khổ. Ngược lại, nếu người này thực hiện những hành động thiện lành thì chắc chắn anh ta sẽ được tận hưởng những điều như ý muốn. Một người luôn luôn nuôi dưỡng những ý nghĩ bất thiện trong tâm thì chắc chắn người này sẽ phải đối diện với những điều bất như ý…Nguyên nhân tốt trong kiếp sống ở quá khứ sẽ dẫn đến kết quả tốt trong kiếp sống hiện tại. Một người đã tạo ra được những nguyên nhân thiện lành chắc chắn sẽ được tái sanh vào một cảnh giới tốt đẹp. Trong trạng thái nội quán được gọi là kiến thức lãnh hội- Sammāsana Ñāna, bạn sẽ trải nghiệm tất cả những loại khổ đau như chóng mặt, trạng thái thân thể bị đong đưa như đánh võng, đau, nhức, tê cóng, co giật, ngứa ngáy…Từ đó, bạn sẽ nhận thức được một cách chi tiết rằng thân thể của chính mình đơn thuần chỉ là một đống khổ đau. Đến mức như vậy, trạch pháp giác chi cũng đã phát triển trong tâm thức của bạn. Trạng thái nội quán được gọi là kiến thức lãnh hội- Sammāsana Ñāna thực chất là một trạng thái hiểu biết mang tính phân tích bản chất của các hiện tượng. Nói cách khác, là lãnh hội được tính vô thường của cảm thọ hay cảm giác nói chung. Thực hành thiền minh sát không chỉ đơn thuần là trải nghiệm cảm giác đau nhức mà còn phải nhận thức được sự khổ hiện diện trong lòng của loại cảm giác này. Kể từ khi đau nhức đã trở thành bất như ý đối với bạn, nó còn tiếp tục khởi lên và tan biến đi theo cách riêng của nó. Bạn không thể nào điều khiển hay khống chế được cảm giác đau nhức. Vì vậy nó chính là vô ngã ( Anatta- Uncontrollable). Khi 3 tướng vô thường ( Anicca), khổ ( Dukkha) và vô ngã ( Anatta) đã được nhận thức một cách rõ ràng thì trạch pháp giác chi sẽ phát triển trong tâm thức của bạn.

Bằng hạnh chú ý nghiêm túc để vượt qua các loại cảm thọ nói chung, nếu đã trải nghiệm rất nhiều loại cảm thọ thì chắc chắn bạn sẽ phải chịu nhiều áp lực và bắt đầu suy nghĩ : “ Đức Phật đã truyền bá rằng Giáo Pháp của Ngài là uyên thâm và cực kỳ vi tế. Mặc dù trong giai đoạn đầu khi mới tập sự thực hành thiền, hành giả vẫn chưa cảm thấy đau nhức gì cả, tuy nhiên sau một vài ngày tập luyện tôi đã cảm thấy đau khổ. Như vậy là trái với lời dạy của Đức Phật, liệu không biết tôi có gặt hái được Phật Pháp hay không ?”.

Vì lý do đó, vị thiền sư hướng dẫn sẽ khuyến khích bạn rằng : “ Trong trạng thái nội quán được gọi là kiến thức lãnh hội – Sammāsana Ñāna, hành giả sẽ ngày càng trải nghiệm những cảm giác đau nhức ở mức độ cao hơn. Khi đã vượt qua được trạng thái nội quán này thì anh ta sẽ cảm thấy dễ chịu hơn. Trong trạng thái nội quán này, mặc dù những cảm giác khó chịu sẽ khởi lên trong tâm thức của hành giả một cách dày đặc, nhưng đó là dấu hiệu của sự tiến bộ trong quá trình thực hành thiền minh sát. Chỉ cần một vài ngày tu tập nghiêm túc, chắc chắn bạn sẽ tìm thấy hạnh phúc. Bằng cách chú ý một cách chính xác và đều đặn để vượt qua các loại cảm thọ nói chung, bạn sẽ loại bỏ được cảm giác đau nhức và cảm thấy dễ chịu trong thân tâm. Không giống như Sammāsana Ñāna, trong trạng thái nội quán được gọi là kiến thức về tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng- Udayabbhaya Ñāna, bạn không còn cảm thấy nặng nề trong thân tâm mà cảm thấy sôi nổi và phấn chấn hẳn lên. Tuy nhiên, có thể thân thể của bạn vẫn còn ở trong trạng thái đong đưa như đánh võng. Đến lúc này, thân thể của bạn sẽ nhẹ như một chiếc lá bay trong không trung. Bạn đã đạt tới một trạng thái nội quán cao hơn gọi là Khinh an giác chi –Passaddhi Sambojjhan. Cả thân lẫn tâm của bạn sẽ trở nên cực kỳ vi tế và nhẹ nhàng một cách lạ thường. Những hoạt động của bạn lúc bấy giờ đã trở nên rất thuần thục và dễ điều khiển. Trước đây, khi mới đạt tới những trạng thái nội quán ở trình độ thấp, bạn thường có thói quen thay đổi tư thế từ 2 đến 3 lần trong một giờ thực hành thiền. Bây giờ, khi đã đạt tới Udayabbhaya Ñāna, bạn đã có khả năng thiền tọa trong một giờ liền không thay đổi tư thế. Đối với những hành giả đã có khả năng thiền tọa trong một giờ liền không thay thay đổi tư thế, khi đã đạt tới Udayabbaya Ñāna, họ sẽ có khả năng thiền tọa như vậy trong suốt 2, 3, 4, hay 5 giờ đồng hồ, bởi vì thân tâm của họ lúc bấy giờ đã trở nên thuần thục và dễ uốn nắn hơn trước rất nhiều.

Hoan hỷ giác chi

Trong hoan hỷ giác chi, khi thân tâm của bạn đã trở nên thuần thục, sự chú ý và đối tượng nhận thức sẽ xuất hiện một cách đồng thời. Do đó, sự chú ý của bạn đã trở nên dễ dàng và cứ tiếp diễn theo cách riêng của nó. Sự yên tĩnh của thân tâm đã thúc đẩy hoan hỷ minh sát phát triển. Khi đã gặt hái được hoan hỷ minh sát, bạn sẽ đạt tới trạng thái nội quán gọi là kiến thức về tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng- Udayabbhaya Ñāna. Đến lúc này hành giả sẽ trình Pháp với thiền sư rằng “ thân thể của tôi đã trở nên êm đềm và thẳng đứng như một con búp bê, sự chú ý đã tự động khởi lên mà không cần  cố gắng gì cả. Nói cách khác, khi tôi khởi tâm theo dõi bất cứ một cái gì thì tự nhiên sự chú ý sẽ khởi lên một cách tự động. Tôi không thể nhận biết một cách rõ ràng liệu cảm giác của tôi bây giờ là dễ chịu hay bình thản”. Một hành giả đang thực hành thiền tại một nơi ẩn dật, khi tuệ minh sát trong hành giả này đã chín muồi thì anh ta sẽ gặt hái được Giáo Pháp.Tiếp đến, hành giả sẽ cảm thấy rằng thân tâm của chính mình tự nhiên hoan hỷ và phấn chấn hẳn lên. Đức Phật đã nhấn mạnh rằng một người bình thường không thể nào có được trạng thái tâm lý cực kỳ dễ chịu này. Thậm chí Chư Thiên cũng không có cơ hội để trải nghiệm nó. Trạng thái dễ chịu đó chính là hoan hỷ minh sát. Trong trạng thái nội quán mà tâm nhận biết được tiến trình tan hoại của vạn hữu, bạn sẽ tận hưởng được rất nhiều hoan hỷ minh sát. Vì vậy có thể bạn sẽ tuyên bố rằng “ Đây là một cơ hội tốt đối với kiếp làm người này của tôi, chắc chắn tôi sẽ nhận thức được Niết Bàn với trạng thái tâm lý dễ chịu mà tôi đang trải nghiệm”. Do đó, hoan hỷ minh sát lại càng phát triển một cách mạnh mẽ trong tâm thức của bạn.

Năm loại hoan hỷ minh sát

1. Khuddaka Pīti – Cảm giác vui sướng đến rùng mình, nổi gai ốc trên da thịt hay trên ngực của người thực hành thiền minh sát.

2. Khanika Pīti – Cảm giác vui sướng thoáng qua như một ánh chớp, da thịt hoặc ngực của hành giả cũng thường nổi gai ốc. Lúc đang trải nghiệm cảm giác này, hành giả nên niệm thầm trong tâm mình “ đang nổi gai ốc, đang nổi gai ốc”…Thỉnh thoảng, có một vài hành giả lại muốn khóc lên khi trải nghiệm Khanika Pīti. Lúc này hành giả nên niệm thầm trong tâm mình “ đang muốn khóc, đang muốn khóc”…

3. Okkantikā Pīti – Cảm giác vui sướng dạt dào giống như sóng biển xô bờ. Cảm giác này thường xuống hiện ở phần trên của cơ thể rồi lan xuống phía dưới. Tuy nhiên, đôi lúc nó lại bắt đầu từ phần dưới của cơ thể rồi lan tràn ra khắp nơi. Hành giả sẽ cảm thấy mát mẻ như thể đang bị một luồng nước mát bắn vào người. Tuy nhiên, cảm giác này không giống như hơi lạnh hay nóng trong môi trường tự nhiên.

4. Ubbega Pīti- Cảm giác vui sướng khiến cho hành giả có thể trôi nổi bềnh bồng trong không trung giống như một tấm vải đang bay trước gió. Thỉnh thoảng tứ chi của hành giả tự động dơ lên, thân thể của anh ta như đang lơ lững trên không trung. Có thể hành giả tự nhiên lại muốn cười lớn lên, thỉnh thoảng lại muốn khóc. Hành giả cũng có thể trải nghiệm cảm giác như thể đang bị ai đó đưa đẩy qua lại. Anh ta còn nghe thấy những âm thanh hay tiếng động lạ. Tất cả những hiện tượng vừa nêu trên đều phát xuất do ảnh hưởng của hoan hỷ minh sát. Những người có bản tính nhút nhát có thể tưởng lầm những hiện tượng nói trên là ma quỷ hiện hình, bởi vì khi nhìn ra chung quanh họ không thấy có ai cả. Tiếp đến, họ có thể phao lên tin đồn rằng trung tâm thiền này hay trung tâm thiền kia có ma. Do đó, hành giả sẽ trở nên hoảng sợ. Từ đó, Phật Pháp trong họ sẽ bị đình trệ và không phát triển được. Thật ra, những hiện tượng lạ mà hành giả có thể sẽ trải nghiệm nói trên đều có nguồn gốc từ hoan hỷ minh sát. Sự hiểu biết đầy đủ về giác chi này có thể giúp cho hành giả có thể tiếp tục thực hành thiền một cách bình thường giống như trước đó đã từng thực hành. Thỉnh thoảng, hành giả lại có cảm giác bị té nhào xuống đất như thể đang bị ai đó xô ngã. Hành giả cũng có thể rơi nước mắt…Tuy nhiên đó là những giọt nước mắt vui sướng và mát mẻ do hoan hỷ minh sát mang lại. Những giọt nước mắt rơi xuống do bị đổ vỡ về kinh tế thường nóng bức và khó chịu, chúng không giống như những giọt nước mắt phát xuất từ hoan hỷ minh sát. Thông thường khi đã gặt hái được hoan hỷ minh sát, hành giả sẽ khóc hay cười phá lên và tự hỏi rằng :  “ Liệu có phải tôi đang bị mất trí hay không ? Ngay bây giờ đây tôi muốn khóc nhưng sau đó tôi lại muốn cười phá lên”. Không phải bạn đang bị mất trí đâu ! Khi đang muốn khóc, bạn hãy niệm thầm trong tâm mình “ đang muốn khóc, đang muốn khóc”…Nếu muốn cười phá lên, bạn hãy niệm thầm trong tâm mình “ đang muốn cười phá lên, đang muốn cười phá lên”…Khả năng chú ý một cách liên tục của bạn có thể vượt qua được những cảm giác này. Đối với một người bình thường, thật là lố bịch khi phải tập trung chú ý trong lúc bản thân mình đang muốn cười phá lên. Tuy nhiên, đối với người thực hành thiền minh sát thì khác. Nếu có thể tập trung chú ý đến cảm giác muốn khóc, bạn sẽ vượt qua được nó và không còn muốn khóc nữa. Nếu có thể chú ý đến cảm giác đang muốn cười phá lên thì bạn sẽ không còn muốn cười nữa. Đây chính là phương pháp mà Đức Phật đã xử dụng để làm chủ và điều khiển tâm thức của chính Ngài.

5. Pharanā Pīti – Cảm giác vui sướng tràn ngập lan tỏa ra toàn bộ thân thể của hành giả giống như một trái bóng bị bơm căng lên, nó cũng có thể giống như một dòng nước lũ đang chảy vào một cái hồ nhỏ. Với trạng thái hoan hỷ minh sát này, tất cả các giác quan của hành giả như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều cảm thấy vui sướng. Phật Pháp có thể phát triển trong tâm thức của hành giả do ảnh hưởng của hoan hỷ minh sát. Trạng thái hoan hỷ này sẽ khởi lên khi hành giả gặt hái được sự hiểu biết về tiến trình khởi lên và tan biến đi của các hiện tượng- Udayabbhaya Ñāna. Trong trạng thái nội quán này, định giác chi- Samādhi Sambojjhan cũng sẽ phát triển. Tuy nhiên, hành giả vẫn chưa trải nghiệm được trạng thái yên tĩnh của thân tâm một cách rõ ràng. Chỉ khi hành giả đã có thể ngồi thẳng như một con búp bê, thì cảm giác trầm lắng và yên tĩnh trong thân tâm mới khởi lên theo cách riêng của nó.

Định giác chi

Định giác chi( Samādhi Sambojjhan) sẽ càng dễ nhận biết hơn khi tiến trình tan hoại của các hiện tượng đã chín muồi trong tâm thức của hành giả. Sự chú ý của tâm trí đã được thiết lập một cách vững vàng trên đối tượng nhận thức ngay khi nó vừa mới khởi lên, do ảnh hưởng của năng lực định tâm mạnh mẽ. Đây chính là định giác chi. Trong giác chi này, sự chú ý của tâm trí sẽ được thiết lập một cách vững vàng trên đối tượng nhận thức

( ở đây là tiến trình phồng lên và xẹp xuống của bụng) kể từ khi nó bắt đầu khởi lên cho đến khi đã hoàn toàn biến mất. Thỉnh thoảng hành giả lại mất khả năng di chuyển tứ chi hay thân thể trong lúc đang thiền tọa. Hiện tượng này có thể xảy ra là do sự định tâm mạnh mẽ đã tràn ngập trong các hoạt động thuộc về thân thể của hành giả. Khi đã hoàn toàn định tâm, bạn sẽ đạt tới một trạng thái nội quán được gọi là an chỉ định – Appanā Samādhi. Trạng thái an chỉ định sẽ phát triển khi bạn đã có khả năng thực hành thiền trong một tư thế thích hợp và vững chãi nhất.

Xả giác chi

Xả giác chi( Upekkhā Sambojjhan) sẽ xuất hiện một cách sống động khi tiến trình tan hoại của các hiện tượng đã chín muồi trong tâm thức của hành giả. Tuy nhiên, giác chi này sẽ phát triển một cách mạnh mẽ hơn khi hành giả đã gặt hái được kiến thức về sự thanh thản – Sankhārūpekkhā Ñāna. Sự chú ý của tâm trí và tiến trình khởi lên của các đối tượng nhận thức sẽ xuất hiện một cách đồng thời. Giác chi này không có cảm giác sợ hãi hay hạnh phúc. Nó hiện hữu một cách thăng bằng giữa cảm giác khổ đau và hạnh phúc. Vì vậy, nó mới được gọi là xả giác chi.

Tóm tắt: Thoát khỏi cảm giác yêu hay ghét, có quan điểm bình đẳng về hạnh phúc và khổ đau. Trạng thái quán niệm sẽ được hành giả thực hiện một cách rất dễ dàng. Xả giác chi là đặc tính của trạng thái tâm lý thanh thản.             

Trong Bhanga ÑānaUdayabbhaya Ñāna, cảm giác sợ hãi vẫn có thể khởi lên. Tuy nhiên, với kiến thức về sự thanh thản – Sankhārūpekkhā Ñāna, các đối tượng của giác quan đến từ bên ngoài không còn là nguyên nhân gây nên cảm giác sợ hãi nữa. Trong trạng thái nội quán này, bạn cũng không còn phát triển tâm bám víu vào vạn hữu. Đến lúc này, tâm thức của bạn đã không còn phân biệt yêu ghét, cũng như đã nhận thức được bản chất khổ đau của những cảm giác dễ chịu và không còn khởi tâm bám víu vào chúng nữa. Từ đó, xả giác chi đã phát triển trong tâm thức của bạn. Bằng cách chú ý đến những cảm giác khó chịu như đau nhức, chóng mặt, buồn nôn… Bạn đã có thể loại bỏ chúng một cách dễ dàng. Ở trình độ nội quán này, bạn sẽ trải nghiệm một sự thật rằng, thân tâm của chính mình đã trở nên yên tĩnh, Giáo Pháp không chỉ có khả năng điều trị được nhiều loại bệnh tật thông thường mà còn loại bỏ được những chứng bệnh nan y. Đến lúc đó, bằng cách thực hành quán niệm, bạn sẽ có khả năng xét đoán một cách chính xác là mình đang bị bệnh gì. Nếu bạn thực hành sự chú ý một cách liên tục đến chứng bệnh mà mình đang mắc phải thì chứng bệnh đó sẽ biến mất.

Sau đây là câu chuyện kể về một nữ hành giả lớn tuổi bị mắc phải chứng bệnh cứng 2 bàn tay. Những loại thuốc thông thường không thể chữa khỏi chứng bệnh của bà. Sau đó bà đã đến trú tại một trung tâm thiền để tìm cách chữa trị chứng bệnh nói trên. Lúc ban đầu, khi mới khởi sự thực hành thiền, chứng bệnh cứng 2 bàn tay của bà ngày càng trầm trọng hơn. Trong lúc đang thực hành thiền, hành giả này cảm thấy rằng những giây thần kinh trong 2 bàn tay của bà như thể bị co lại. Lúc đó, bà có cảm giác rằng như có ai đó đang nắm tay bà và kéo đi. Tuy nhiên, vị nữ hành giả lớn tuổi vẫn vững tâm duy trì sự chú ý trên hiện tượng lạ vừa nói. Nhờ đó, bà đã gặt hái được kiến thức về trạng thái thanh thản- Sankhārūpekkhā Ñāna. Trạng thái nội quán này đã được nhiều người biết đến như một liều thuốc chữa bệnh rất hiệu quả. Chứng bệnh cứng 2 bàn tay của hành giả lớn tuổi nói trên đã lành hẳn. Thậm chí, hàng ngày hành giả không cần xử dụng đôi bàn tay để làm đề mục quán niệm mà chứng bệnh nói trên cũng đã chấm dứt hẳn. Sau đó, bà trở về nhà và nhận thấy rằng mình đã có thể cử động 2 bàn tay một cách bình thường. Tiếp đến, hành giả nói trên đã có khả năng xử dụng 2 bàn tay của mình để sờ mó đầu của bà, cũng như bà đã có thể cử động 2 bàn tay của mình qua lại một cách rất thoải mái. Với trạng thái tâm lý thanh thản, hành giả nói trên đã đạt tới sự nhận thức bình đẳng về những cảm giác dễ chịu và khó chịu.Vì vậy, xả giác chi đã phát triển trong tâm thức của bà. Sau đây là một ví dụ minh họa khác về sự thiết lập được một tâm thức thăng bằng khi đã gặt hái Sankhàrupekkhā Ñāna. Câu chuyện kể về một người phụ nữ thế tục thường có thói quen tìm kiếm cảm giác vui thích trong khiêu vũ và ca hát. Người phụ nữ này có thói quen thu âm những bài hát mà bà ưa thích và nghe chúng một cách thường xuyên. Bà cũng có thói quen hay đến dự các buổi khiêu vũ, tham gia làm vũ nữ và có đủ trình độ để phê bình những bước nhảy của nhiều người khác. Một ngày nọ, khi đến thăm một trung tâm thiền và tham gia tu tập ở đó một thời gian. Sau khi trở về nhà, bà tiếp tục thực hành thiền và gặt hái được Sankhārūpekkhā Ñāna. Hàng ngày bà vẫn giữ thói quen nghe nhạc và ca hát. Tuy nhiên, bây giờ bà không còn cảm thấy hài lòng và thú vị với sở thích trước kia của mình nữa. Sở dĩ người phụ nữ quí phái này đã không còn phân biệt sự khác nhau giữa cảm giác dễ chịu và khó chịu là bởi vì bà đã thật sự đạt tới trạng thái tâm lý thanh thản. Đến lúc này, bà đã xem cảm giác dễ chịu hay khó chịu cũng giống như nhau mà thôi. Xả giác chi đã phát triển đúng theo trạng thái nội quán mà hành giả đã đạt tới. Tiếp đến, đối tượng nhận thức và sự chú ý của tâm trí sẽ khởi lên một cách đồng thời. Để phát triển những nhân tố dẫn đến giác ngộ ( còn gọi là Thất giác chi), cách tốt nhất là thực hành thiền tứ niệm xứ ( tức thiền minh sát). Đến mức đó, “ những nhân tố giác ngộ” sẽ là những đặc tính của Bậc Cao Thượng – người đã gặt hái được “ Bốn Chân Lý Cao Thượng”. Để trở thành một Bậc Cao Thượng, người ta cần phải thực hành sự chú ý. Nếu không thực hành sự chú ý thì bạn sẽ không bao giờ trở thành những Bậc Cao Thượng được. Bạn nên hướng tất cả những gì mà mình muốn làm đến mục đích phát triển trí tuệ và làm chúng với một tinh thần mạnh mẽ. Nếu không làm như thế thì bạn không thể nào trở thành những Bậc Cao Thượng được. Bạn hãy thực hành quán niệm một cách siêng năng cẫn mẫn, luôn luôn giữ sự chú ý trên những đối tượng của giác quan.

1. Khi đang thực hành thiền minh sát, việc chú ý một cách chính xác và đều đặn đến những đối tượng của giác quan làniệm giác chi. Đây chính là nhân tố đầu tiên cấu thành sự giác ngộ.

2. Khi đang thực hành thiền minh sát, phát triển tuệ minh sát tức là trạch pháp giác chi. Đây chính là nhân tố thứ hai cấu thành sự giác ngộ.

3. Khi đang thực hành thiền minh sát, sự cố gắng nổ lực để chú ý đến những đối tượng của giác quan đang hiện khởi là tinh tấn giác chi. Đây chính là nhân tố thứ ba cấu thành sự giác ngộ.

4. Khi đang thực hành thiền minh sát, phát triển một tâm thức vui sướng và phấn chấn là hoan hỷ giác chi. Đây chính là nhân tố thứ tư cấu thành sự giác ngộ.

5. Khi đang thực hành thiền minh sát, phát triển một trạng thái yên tĩnh và nhẹ nhàng cho thân tâm là khinh an giác chi. Đây chính là nhân tố thứ năm cấu thành sự giác ngộ.

6. Khi đang thực hành thiền minh sát, phát triển trạng thái định tâm là định giác chi. Đây chính là nhân tố thứ sáu cấu thành sự giác ngộ.

7. Khi đang thực hành thiền minh sát, không mang tâm phân biệt cảm giác dễ chịu và cảm giác khó chịu là xả giác chi. Đây chính là nhân tố thứ bảy cấu thành sự giác ngộ.

 Trong tiến trình thực hành thiền minh sát, hành giả sẽ trở thành một Tu-Đà-Hườn hay một Bậc Cao Thượng chỉ khi 7 nhân tố giác ngộ nói trên đã phát triển trong tâm thức. Thậm chí, khi đã trở thành một Bậc Cao Thượng, nhiều loại bệnh tật đa dạng mà hành giả đang mắc phải cũng sẽ bị loại trừ.

Sau khi đã lắng nghe bài thuyết Pháp nói về “ 7 nhân tố cấu thành sự giác ngộ”, cầu chúc cho tất cả quí vị sẽ có khả năng thực hành theo những lời giáo huấn của Đức Phật. Với sự siêng năng cần mẫn trong quán niệm, cầu chúc cho tất cả quí vị nhanh chóng nhận thức được Niết Bàn mong muốn nhất, đoạn tận với tất cả những nổi khổ đau bằng cách thực hành thiền minh sát với một tâm thức thanh thản và thoải mái. Lành thay !                     

  

      

                                            Những loại Bảo tháp

                             ( Tháng Tansaungmone và Lễ Hội Ánh Sáng)

 

Hôm nay là ngày trăng tròn tháng Tansaungmone ( một tháng trong lịch Miến Điện, tương đương với tháng 11 dương lịch). Vì vậy rất thích hợp cho việc thuyết Pháp về tháng Tansaungmone. Đầu tiên chúng ta nên biết qua về ý nghĩa của tháng Tansaungmone, thứ hai là Lễ Hội Ánh Sáng và thứ ba là những loại Bảo tháp. Ngày xưa vào thời đại Pagan, tháng này được gọi là tháng Tansaungmone. Từ Tan có nghĩa là ánh sáng hay năng lực, từ saung có nghĩa là mang đến hay đem về, từ mhone có nghĩa là xua tan hay phá hủy. Vì vậy, Tansaungnone có nghĩa là mang ánh sáng đến để xua tan đêm tối. Vào những ngày ấy, thiên văn học rất hưng thịnh. Vì vậy, có rất nhiều người nghiên cứu về môn học này. Thậm chí, tháng đặc biệt này còn được xem là tháng của cõi trời Kyattika và tháng Lễ Hội Ánh Sáng được cử hành để vinh danh thần lửa – người cai quản cõi trời Kyattika. Với niềm tin như vậy, trong tháng này, vị thần lửa nói trên thường giáng xuống địa cầu. Theo truyền thống, nhà vua và thần dân của Ngài thường dâng cúng ánh sáng cho vị thần này. Vào những ngày xa xưa đó, những vị Chư Thiên đang cai quản nhiều cõi trời thường được thờ phụng rất tôn kính. Ngày nay, tập tục thờ cúng những vị Chư Thiên nói trên đã được thay thế bằng Lễ Hội Dâng Cúng Ánh Sáng cho những ngôi Bảo tháp tọa lạc tại cõi trời Chư Thiên, Phạm Thiên và thế giới của loài người. Lý do thay đổi cách thờ phụng nói trên là do ảnh hưởng  từ những vị Trưởng Lão thông thạo Kinh Điển Phật Giáo – những người đã chỉ ra rằng việc dâng cúng ánh sáng cho các ngôi Bảo tháp sẽ mang lại nhiều lợi ích và phước báu hơn là cho các vị Chư Thiên đang cai quản trên những cõi trời.

Bảo tháp Culàmani

Đức Phật khi còn là thái tử Sĩ-Đạt-Ta đã tận hưởng những khoái lạc trần tục trong vòng 16 năm. Có thể nói vào những ngày ấy, Ngài đã từng sống như một vị hoàng đế. Vào năm Ngài được 29 tuổi, trên đường dẫn đến công viên hoàng gia, cứ bốn tháng một lần, những vị Chư Thiên đã tạo ra 4 điềm báo cho vị thái tử biết. Cụ thể những điềm báo đó là một người già, một người bệnh, một người chết và một vị tu sĩ. Khi nhìn thấy những điềm báo này, thái tử Sĩ-Đạt-Ta đã nhận thức được những nổi khổ đau của con người. Từ đó, thái tử thường xuyên cảm thấy xót xa và cuối cùng ngài đã quyết định từ bỏ thế giới trần tục vào lúc nữa đêm để đi tìm chân lý. Bên bờ sông Anomā, Ngài đã tự cắt bỏ mái tóc bối của mình, cùng với mũ miện, Ngài đã ném chúng lên bầu trời và buộc miệng thề rằng : “ Nếu tôi có thể trở thành Phật thì cầu mong cho mũ miện và mái tóc của tôi sẽ mắc lại trên bầu trời, bằng không chúng sẽ rơi trở lại xuống đất”. Cuối cùng, mái tóc bối và mũ miện của thái tử Sĩ-Đạt-Ta đã mắc lại trên bầu trời, cách mặt đất một do-tuần

( một do-tuần bằng 8 dặm Anh, một dặm Anh bằng 1609 mét- ND). Bằng thần nhãn, Vị vua của những Chư Thiên đã trông thấy mái tóc bối và mũ miện của thái tử Sĩ-Đạt-Ta, ông bèn bỏ chúng vào một cái lẳng hoa bằng vàng và mang về. Khi về đến nơi, vị vua của cõi Chư Thiên bèn đặt mái tóc bối và mũ miện của thái tử tại cõi trời Tavatamsa  ( tầng trời thứ hai trong cõi Chư Thiên) và cất giữ chúng trong một ngôi Bảo-tháp mới xây cao 3 do-tuần. Ngôi Bảo-tháp này được tôn trí bằng 7 loại ngọc quí và được biết đến là Bảo tháp Culāmani. Chữ Culāmani Cetiya có nghĩa là Bảo-tháp có chứa tóc và mũ miện của vị Bồ-Tát. Ngày nay người ta thường có thói quen dâng cúng ánh sáng cho ngôi Bảo-tháp này, đặc biệt là vào tháng Tansaungmone, tháng có Lễ Hội Ánh Sáng được cử hành để vinh danh Bảo-tháp Culāmani.

Tóm tắt : Bảo-tháp Culàmani tại cõi trời Tavatamsa có chiều cao là 3 do-tuần.

Nếu muốn trông thấy ngôi Bảo-Tháp Culāmani bằng mắt của mình, bạn phải thực hành Phật Pháp để gặt hái được năng lực siêu nhiên hay thần thông. Tuy nhiên thông qua Kinh Điển, con người ngày nay có thể tin tưởng về sự tồn tại của ngôi Bảo-tháp này tại cõi trời Chư Thiên. Sự thật, có niềm tin và tôn kính ngôi Bảo-tháp Culāmani là ý nghĩa quan trọng nhất trong việc thờ cúng nó.

Bảo-tháp Dussa

Một ngôi Bảo-tháp khác tọa lạc tại cõi trời Ekkanittha được xây dựng bởi Phạm-Thiên Gatigāra – một người bạn của Bồ-Tát Cồ-Đàm trong thời Đức Phật Ca-Diếp ( Kassapa Buddha) còn tại thế. Theo Kinh điển ghi lại, thái tử Sĩ-Đạt-Ta đã từ bỏ thế tục với ý định trở thành một tu sĩ, lúc đó Phạm-Thiên Gatigāra đã dâng cúng cho Ngài 8 món vật dụng. Chúng ta nên có sự hiểu biết kỹ lưỡng về 8 món vật dụng mà Đức Phật luôn mang theo bên mình. Nếu như có một vài hành giả ngoại quốc nào đó quan tâm đến những món vật dụng này, bạn phải có sự chuẩn bị đầy đủ để kể ra cho họ biết. Tám món vật dụng đó là : Nội Y, ngoại Y, một chiếc Y lớn có 2 lớp thay cho áo khoát ngoài, một bát khất thực, một lưỡi dao cạo, kim chỉ, một dây thắt lưng màu vàng và một bình lọc nước. Phạm-Thiên Gatigāra đã lấy bọc áo quần cũ của Bồ-Tát và cất giữ nó trong Bảo-tháp Dussa ( Dussa Cetiya). Ngôi Bảo-tháp này có chiều cao là 12 do-tuần. Bồ-Tát Cồ-Đàm là một người đã hoàn thiện được các hạnh Ba-La-Mật, trang phục của Ngài rất chỉnh tề và đơn giản. Từ Dussa có nghĩa là nội y của một vị hoàng tử. Ekkanittha là tầng trời cao nhất trong cõi Phạm-Thiên. Mặc dù không thể nhìn thấy ngôi Bảo-Tháp vĩ đại này, tuy nhiên chúng ta vẫn có thể thờ phụng nó với niềm tin vững chắc. Nhờ đó, chúng ta sẽ gặt hái được phước báu.

Tóm tắt: Bảo-Tháp Dussa tại cõi trời Ekkanittha có chiều cao là 12 do-tuần.

Trong tháng Tansaungmone, ánh sáng sẽ được dâng cúng đến tất cả những ngôi Bảo-Tháp tọa lạc tại cõi người. Theo những bậc thầy chú giải Kinh điển thì có tất cả 3 loại Bảo-Tháp, đó là : Sanrīrika Cetiya ( loại Bảo-tháp có thờ nhục thân của Đức Phật), Paribhoga Cetiya ( loại Bảo-tháp có thờ các vật dụng thường ngày của Đức Phật) và Uddissaka Cetiya ( loại Bảo-tháp được xây dựng lên nhằm để tưởng nhớ Đức Phật).

Ba loại Bảo-tháp

Một thời khi Đức Phật đang trú tại tu viện Kỳ-Viên ở thành Xá-Vệ, hàng ngày Ngài thường đi bộ quanh những ngôi làng gần đó. Người dân sinh sống trong thành Xá-Vệ thường có thói quen dâng cúng các loại hoa, guốc gỗ và nhiều thứ khác cho tu viện Kỳ-Viên. Tuy nhiên, mỗi lần đến tu viện dâng cúng họ lại không nhìn thấy Đức Phật ở đâu cả. Lòng buồn bã, họ đành đặt những của cúng dường lại trong tu viện rồi ra về. Tôn giả A-Nan đã thuật lại chuyện đó với Đức Phật. Sau đó, Đức Phật đã cho phép thờ phụng 3 loại Bảo-Tháp ngay trong thời Ngài còn tại thế. Ba 3 loại Bảo-tháp mà Đức Phật đã cho phép thờ phụng là :

1. Sarīrika Cetiya – Loại Bảo-tháp này dùng để thờ nhục thân của Đức Phật như : Các loại bắp thịt, máu, xương…Tuy nhiên khi Đức Phật còn tại thế, người ta không được phép xây dựng loại Bảo-tháp này. Đến khi Đức Giáo Chủ đã nhập Đại-Niết-Bàn thì loại Bảo-tháp này mới xuất hiện.

2. Paribhoga Cetiya – Loại Bảo-tháp này dùng để thờ những vật dụng hàng ngày của Đức Phật như : Các loại Y, dù che, ủng đi mưa…Thậm chí cây Bồ-Đề cũng được thờ phụng trong loại Bảo-Tháp này.

3. Uddissaka Cetiya – Loại Bảo-Tháp này dùng để thờ ảnh tượng của Đức Phật được chạm khắc trên đá cẩm thạch, xương, gỗ. Tranh vẽ hình Đức Phật cũng được thờ phụng trong loại Bảo-tháp này. Trên đây là những gì mà Đức Phật đã truyền bá về cách thờ phụng các loại Bảo-tháp. Một nhóm thầy Tỳ-kheo khác lại sắp xếp các loại Bảo-tháp theo cách sau :

1. Paribhoga Cetiya – Loại Bảo-tháp dùng để thờ phụng những vật dụng hàng ngày của Đức Phật.

2. Dhātu Cetiya – Loại Bảo-tháp dùng để thờ phụng Xá-Lợi Phật như : Tóc, răng, xương…

3. Dhamma Cetiya – Loại Bảo-tháp dùng để thờ phụng Giáo Pháp của Đức Phật như : Kinh Tứ Niệm Xứ, Kinh Bốn Chân Lý Cao Thượng, Kinh Nhân Duyên…Những loại Kinh này được viết hay chạm khắc trên vàng, bạc, các loại xương quạt và sừng thú vật.

Giả sử như một người ngoại quốc nào đó có ý định muốn xây dựng một ngôi Bảo-tháp, sáng suốt nhất là chúng ta nên khuyên họ hãy xây theo lối Dhamma Cetiya. Sở dĩ chúng ta phải có lời khuyên như vậy là bởi vì ngày nay, chúng ta dễ dàng kiếm được các loại Kinh Điển Phật Giáo để thờ phụng. Trong khi đó, nhục thân của Đức Phật như tóc, răng, xương là những món cực kỳ khan hiếm. Giả sử chúng ta có thể kiếm được nhục thân của Đức Phật rồi thỉnh về để thờ phụng đi nữa thì những Xá-Lợi đó cũng chưa chắc được chính cống. Thậm chí còn có câu nói rằng “ một lời nói tôn kính có thể được xem như là một ngôi Bảo-tháp”.

Năm loại Bảo-tháp

Một vài bậc thầy chú giải Kinh Điển ( Athakathā master) khác lại xếp các ngôi Bảo-tháp thành 5 loại, đó là :

1. Paribhoga Cetiya – Loại Bảo-tháp dùng để thờ phụng các vật dụng hàng ngày của Đức Phật.

2. Dhātu Cetiya – Loại Bảo-tháp dùng để thờ phụng các loại Xá-Lợi Phật

3. Dhamma Cetiya – Loại Bảo-tháp dùng để thờ phụng Phật Pháp

4. Uddissaka Cetiya – Loại Bảo-tháp được xây để tưởng nhớ Đức Phật

5. Pāda Cetiya – Loại Bảo-tháp được xây dựng lên để thờ phụng dấu chân của Đức Phật. Dấu chân của Ngài thường được in lại trên các loại vữa hay chạm khắc trên đá, vàng, bạc…

Đa số người ta đều xây dựng Bảo-tháp theo lối Uddissaka Cetiya. Tuy nhiên, trong loại Bảo-tháp theo kiểu này họ cũng thờ các loại hình ảnh, tranh vẽ và ảnh tượng Đức Phật. Tại những địa danh có xây dựng Bảo-tháp theo lối Pāda Cetiya, người ta thờ dấu chân của Đức Phật trong Bảo-tháp với ngụ ý rằng lúc còn tại thế, ngài đã từng đặt chân tới đó. Lễ Hội Ánh Sáng được cử hành để vinh danh Bảo-tháp vào một ngày đặc biệt là một phong tục xứng đáng. Khi đang dâng cúng hoặc sau khi dâng cúng ánh sáng cho Bảo-tháp, điều cực kỳ quan trọng đối với các thí chủ là phát triển những ý nghĩ thiện lành trong tâm. Bằng cách nào họ có thể làm được điều đó ? Bằng cách thực hành thiền minh sát. Chúng ta không nên cúng bái và thờ phụng Bảo-tháp như một phong tục thuần túy hay nghĩa vụ phải thực hiện. Với niềm tin và lòng tôn kính, chúng ta nên kết hợp những nghi lễ này với sự tưởng niệm đến công đức và năng lực vô biên của Đức Phật. Bạn sẽ gặt hái thêm nhiều phước báu nếu có dâng cúng ánh sáng, vật thực, các loại hoa…đến những ngôi Bảo-tháp như thể mình đang thực hiện các công việc đó vào thời Đức Phật còn tại thế. Nếu xây dựng Bảo-tháp tại những nơi không thích hợp, người ta không thể thực hiện sự tôn kính và thờ phụng. Do đó, thay vì gặt hái được phước báu, người ta lại bị phạm giới.

Ý nghĩa quan trọng nhất khi xây dựng Bảo-tháp là phải tìm được một địa điểm thích hợp để thực thi – nơi mà dân chúng có thói quen hay thờ phụng và lễ bái Bảo-tháp.                             

Ba công việc

Có 3 công việc mà chúng ta không thể thực hiện một cách nhanh chóng và bất cẩn, đó là : Hôn nhân, xây dựng Bảo-tháp và xăm mình. Trong nền văn hóa Phật Giáo tại Miến Điện, hôn nhân là một quyết định trọng đại của đời người. Việc tan vỡ trong hôn nhân là một vấn đề khó được xã hội chấp nhận. Tuy nhiên đối những nền văn hóa khác, quan niệm về hôn nhân có thể không giống như ở Miến Điện. Dù sao chăng nữa, đối với bất cứ một xã hội nào, khả năng nhận thức yếu kém và bừa bãi về phương diện xã hội của con người cùng với những vấn đề kinh tế phải đối mặt cũng có thể khiến cho hạnh phúc gia đình tan vỡ, vợ chồng ly tán, con cái nheo nhóc. Những ngôi Bảo-tháp được xây dựng một cách nhanh chóng và bất cẩn cũng là một sai lầm khó sửa chữa, bởi vì chúng ta không thể nào phá bỏ chúng đi, ngoại trừ một vài lý do chính đáng hay bất khả kháng như bị động đất tàn phá, mưa bão xói mòn, quá cũ nát hay bị kẻ tà giáo phá hoại. Đến lúc đó, người ta mới có thể xây một ngôi Bảo-tháp mới để tiếp tục thờ phụng. Phá hủy một ngôi Bảo-tháp với lý do không chính đáng được xem là một hành động bất thiện, thậm chí có thể bị đọa xuống địa ngục. Vì lý do đó, việc phá hủy Bảo-tháp một cách vô ý thức bị xem là trọng tội, ngang bằng với tội mưu sát Đức Phật, tội bất kính và phá hủy những công đức của Ngài. Nhà nước Miến Điện rất xem trọng việc tái thiết những ngôi Bảo-tháp cũ kỹ và đổ nát đúng theo Giới luật của Phật Giáo, đồng thời hạn chế tối đa những hành động bất thiện trong quá trình xây dựng hay đại tu các ngôi Bảo-tháp này. Trong quá khứ đã có nhiều trường hợp xảy ra chết chóc, thất bại về kinh tế hay suy xụp về phương diện xã hội phát xuất từ việc phá hủy các ngôi Bảo-tháp một cách vô ý thức do những người bất kính thực hiện. Những người trẻ tuổi thường có thói quen thích xăm mình, bởi vì họ tin rằng những biểu tượng mà họ trang trí trên thân thể sẽ giúp họ ngăn chặn được những mối nguy hiểm.

Khi đã lớn tuổi, những người này nhận thấy rằng những biểu tượng mà họ đã xăm lên thân thể của mình chẳng mang lại một kết quả nào cả. Từ đó, họ không còn thích chúng nữa và muốn xóa đi. Tuy nhiên, hình xăm bằng nhiều loại mực đã ăn sâu vào thịt và không thể xóa được nữa. Những người trẻ tuổi thích thời trang trong cuộc sống hiện đại ngày nay cũng đã nhận thức được sự sai lầm trong vấn đề xăm mình và dần dần họ cũng không còn chiều theo tập tục này nữa.

Bảo-tháp và sự quán niệm

Những người dâng cúng vật thực, ánh sáng, các loại hoa…cho Bảo-tháp cần phải có niềm tin và lòng tôn kính. Vì vậy, tâm trí của họ sẽ được bình yên và ngày càng phát triển lòng tôn kính đối với Đức Phật. Cúng dường cho Bảo-tháp cũng tương tự như dâng cúng mọi thứ vào thời Đức Phật còn tại thế. Nhờ đó, bạn sẽ gặt hái được phước báu và phát tâm hoan hỷ. Cúng dường cho Bảo-tháp là một cơ hội quan trọng để bạn thực hành thiền minh sát. Khi đang cúng dường cho Bảo-tháp, bạn hãy chú ý tới bất cứ cái gì dễ nhận thấy nhất, nếu không năng lực định tâm của bạn sẽ trôi đi. Khi chú ý vào những đề mục thuộc về thân thể đã được định trước và không thể nhận biết được chúng, Giáo pháp trong bạn sẽ không phát triển. Thay vào đó, bạn nên chú ý vào bất kỳ sự biểu hiện nào mà mình có thể nhận ra trong hiện tại. Những vị thiền sư có thể hướng dẫn cho bạn nhiều cách thức hành thiền. Tuy nhiên, bạn nên chọn lựa cho mình một cách thức thích hợp nhất để thực hành. Một cách thức thực hành thiền được cho là thích hợp phải có khả năng làm cho hoan hỷ minh sát phát khởi trong tâm thức của bạn. Ngài Mahāsī cũng đã từng giáo huấn về cách quán niệm khi đang cúng dường cho Bảo-tháp. Sau đây là một bài Kệ của Ngài đề cập tới vấn đề đó.

Tóm tắt: Chúng ta phải dâng cúng cho Bảo-tháp để gặt hái phước báu. Tuy nhiên, khi đang dâng cúng cho Bảo-tháp chúng ta sẽ cảm thấy thích thú. Khi đang cảm thấy thích thú, chúng ta phải thực hành quán niệm về sự trở thành và trạng thái tan hoại của các hiện tượng. Kết quả của việc thực hành quán niệm này là chúng ta sẽ lãnh hội được tính vô thường, khổ và vô ngã. Khái niệm về vô ngã sẽ nhanh chóng đưa chúng ta đến với Niết Bàn hạnh phúc.                                     

 Khi đang quán niệm về trạng thái hân hoan trong hành động cúng dường cho Bảo-tháp, bạn sẽ gặt hái kiến thức phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất – Nāmarūpa pariccheda Ñāna. Khả năng phân biệt này cũng giống như khi bạn nhận thức được rằng, sự chú ý của tâm trí là hoàn toàn tách biệt với hành động đang ngồi của thân thể. Sự chú ý của tâm trí thuộc về danh pháp ( tức tinh thần- Nāma) và hành động đang ngồi của thân thể là thuộc về sắc pháp ( tức vật chất – Rūpa). Đến mức như thế, bạn sẽ nhận thức được rằng, hoàn toàn không có sự hiện hữu của “ cái tôi”. Thuật ngữ qui ước “ tôi” chỉ được xử dụng nhằm mục đích thuận tiện trong giao tiếp. Nhờ vậy, bạn sẽ xóa tan được quan kiến lầm lạc về tự ngã và 5 uẩn ( sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Từ đó, bạn đã tự thiết lập được cho mình một chỗ đứng vững chãi trong Giáo Pháp của Đức Phật. Những mối nguy hiểm ở địa ngục khổ đau đã không còn khả năng đe dọa được bạn nữa. Trong bao lâu thì một hành giả sẽ gặt hái được Nāmarūpa paricheda Ñāna ? Nếu thực hành thiền minh sát một cách siêng năng cần mẫn theo phương pháp của Ngài Mahāsī, bạn có thể gặt hái được Nāmarūpa pariccheda Ñāna trong vòng từ 2 đến 3 ngày. Nếu năng lực định tâm chưa đủ mạnh và khả năng quán niệm vẫn còn rời rạc, bạn có thể cần từ 4 đến 5 ngày. Sự thật, nếu năng lực định tâm không phát triển, có thể hành giả sẽ không có được sự nhận thức đúng đắn khi chú ý đến “ tiến trình đang phồng lên”, “ tiến trình đang xẹp xuống” của bụng, “ tiến trình đang ngồi”, “ tiến trình đang xúc chạm”…Khi bụng đang dần dần phồng lên, có thể hành giả sẽ nghĩ rằng :

 “ Bụng của tôi đang phồng lên”. Hành giả cũng có thể nghĩ rằng “ ông T đang ngồi”, “ bà C đang chú ý”…Bằng hạnh chuyên cần trong việc thực hành thiền minh sát, năng lực định tâm sẽ phát triển mạnh mẽ, hành giả sẽ nhận thức được rằng “ tiến trình đang phồng lên của bụng” và “ sự chú ý của tâm trí” là 2 thành phần hoàn toàn tách biệt. “ tiến trình đang xẹp xuống của bụng”, “ tiến trình đang ngồi”, “ tiến trình đang xúc chạm” là hoàn toàn tách biệt với “sự chú ý của tâm trí”. Những hành giả ngoại quốc cũng có thể phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất. Tuy nhiên, họ chưa biết cách trình Pháp một cách rõ ràng với thiền sư. Một vài người trong số họ đã nói : “ Trước đây chỉ có một người, bây giờ tôi đã nhận thức được rằng có hai người, một người có bụng đang phồng lên và người kia đang chú ý”. Những hành giả Miến Điện có thể phân biệt được sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất nhanh hơn những hành giả ngoại quốc. Do đó, họ có sự tiến bộ trong Phật Pháp nhanh hơn. Những vị thiền sư đã chỉ ra và giải thích cho các hành giả nước ngoài rằng, họ đã có sự tiến bộ trong Phật Pháp kể từ khi họ có thể phân biệt sự khác nhau giữa tinh thần và vật chất ( ở đây là sự chú ý của tâm trí và tiến trình phồng xẹp lên xuống của bụng). Một vài hành giả ngoại quốc đã thực hành thiền minh sát được gần 10 năm, tuy nhiên họ vẫn chưa nhận thức được gì cả. Họ đã cố gắng quán niệm theo nhiều phương pháp, nhưng đó là những phương pháp không đúng đắn. Với quyết tâm tìm kiếm cho được một phương pháp thực hành thiền đúng đắn, họ đã tới Miến Điện và thực hành thiền tại một trung tâm. Do đó, đối với họ, được thực hành thiền tại Miến Điện là một cơ hội vàng. Do ngôn ngữ, văn hóa và phong tục bất đồng, việc hướng dẫn cách thức thực hành thiền cho họ cần phải hết sức cẩn thận. Tôi chắc chắn rằng những thông dịch viên về thiền cho các hành giả ngoại quốc đã có một sự hiểu biết đầy đủ về vấn đề đó. Thỉnh thoảng, những hành giả ngoại quốc muốn biết tại sao họ lại gặt hái Phật Pháp một cách chập chạp. Các vị thiền sư thông thái đã trả lời, bởi vì họ không được động viên khuyến khích trong quá trình thực hành thiền.

 Khi đã hiểu được thế nào là một phương pháp thực hành thiền đúng đắn, năng lực định tâm trong họ đã được cải thiện, chỉ trong vòng một tuần thực hành thiền minh sát, họ đã gặt hái được Phật Pháp. Khi đã gặt hái được kiến thức về nhân quả - Piccaya Pariggaha Ñāna, hành giả sẽ nhận ra sự thật rằng, tâm thích thú với hoan hỷ minh sát chính là nguyên nhân, sự chú ý của tâm trí đến tâm thích thú đó là kết quả. Trong trạng thái nội quán được gọi là kiến thức lãnh hội – Sammāsana Ñāna, cảm giác hoan hỷ trong tâm hành giả có lúc rất dễ nhận thấy có lúc không. Do đó, hành giả phải suy niệm rằng “ tất cả những hiện tượng đều vô thường- Anicca”. Trong trạng thái nội quán mà tâm nhận biết được tiến trình sanh diệt của các hiện tượng – Udayabbaya Ñāna, hoan hỷ minh sát sẽ hiện khởi và tan biến đi. Với năng lực định tâm mạnh mẽ, tiến trình sanh diệt của các hiện tượng sẽ diễn ra một cách nhanh chóng rồi lại tái hiện như một cảm giác khổ đối với hành giả. Tuy vậy, hành giả không thể nào điều khiển hay làm chủ được tiến trình sanh di