08. Thương Thầy Nhưng Đành Bó Tay

Thứ tư - 11/09/2013 14:46
08. Thương Thầy Nhưng Đành Bó Tay

08. Thương Thầy Nhưng Đành Bó Tay

Câu chuyện "Thương Thầy Nhưng Đành Bó Tay".

 

 

Trong khi đang trú tại Trúc Lâm Tịnh Xá (Veluvana), ở kinh thành Vương Xá (Rājagaha), đức Thế Tôn giảng dạy câu (11) và (12) trong Kinh Pháp Cú này liên quan đến ông Sanjaya, người thầy cũ của hai vị trưởng tử của Như Lai, đại đức Xá Lợi Phất (Sāriputta) và Mục Kiền Liên (Moggallāna) (trước đây còn gọi là Upatissa và Kolita).

Upatissa và Kolita là hai thanh niên đến từ xứ Upatissa và Kolita, hai ngôi làng này gần kinh thành Vương Xá (Rājagaha). Trong lúc đang xem buổi trình diễn họ đã nhận thức được sự vô thường của vạn vật (insubstantiality of things) và họ quyết định đi tìm con đường giải thoát. Đầu tiên, họ đến gặp ông Sanjaya, một du sĩ tại kinh thành Vương Xá (Rājagaha), nhưng họ không hài lòng với những lời dạy của vị du sĩ này. Vì vậy, họ đã đi đến hòn đảo Jambudīpa và trở lại nơi mảnh đất đã sinh họ ra trước đây, sau khi tìm kiếm xong, họ không tìm ra chân lý (true dhamma). Tại đây, họ thề trăng hẹn biển với nhau rằng nếu một trong hai anh em mình tìm ra được chân lý thì nên báo cho người khác biết.

Ngày nọ, Upatissa vô tình gặp được đại đức Assaji và học được chân lý thực sự. Đại đức Assaji đọc bài kệ với câu đầu như sau: “Ye dhamma hetuppabhava”, có nghĩa rằng “các pháp sinh ra từ một nhân”. Trong khi đang lắng nghe câu kệ ngôn này, Upatissa đã chứng đắc Tu-đà-hoàn Đạo và Quả (Sotāpatti Magga và Phala). Sau đó, như lời thề nguyện trước đây, Upatissa đi đến gặp Kolita và giải thích với bạn mình rằng Upatissa đã chứng đắc trạng thái Bất Tử (Deathlessness) và lập lại câu kệ ngôn ấy cho bạn mình nghe. Sau khi chấm dứt câu kệ Kolita cũng chứng đắc Tu-đà-hoàn Quả (Sotāpatti Fruition). Trong lúc ấy, đôi bạn thâm tình này nhớ đến người thầy cũ và đã đi đến gặp thầy Sanjaya cũng như thuật lại rằng “Chúng con đã gặp được Bậc Minh Sư, Người đã có khả năng chỉ ra con đường Bất Tử; đức Phật đã xuất hiện trên thế gian này; Giáo pháp cũng đã có mặt và chư Tăng cũng đang hiển hiện…Xin mời thầy cùng chúng con đến gặp Bậc Minh Sư ấy”. Họ hy vọng thầy mình sẽ cùng đi đến để gặp đức Phật và lắng nghe Giáo pháp của Ngài để rồi cũng chứng đắc Đạo và Quả (Magga and Phala) như mình vậy. Thế nhưng thầy Sanjaya đã từ chối lời mời cao quý và tâm huyết ấy.

Vì vậy, Upatissa và Kolita, cùng với hai trăm năm mươi người đệ tử đã đi đến gặp đức Phật tại Trúc Lâm Tịnh Xá (Veluvana). Ở đó, họ được chấp nhận và làm lễ gia nhập vào Tăng đoàn như những vị tỳ kheo. Upatissa là con trai của bà Rūpasārī cho nên được mang cái tên Đại đức Xá Lợi Phất (Thera Sāriputta); Kolita là con trai Moggalī và được mang cái danh hiệu Đại đức Đại Mục Kiền Liên (Thera Mahā Moggallāna). Sau khi thọ giới được bảy ngày Đại đức Đại Mục Kiền Liên chứng quả A La Hán (Mahā Moggallāna attained Arahatship). Đại đức Xá Lợi Phất (Thera Sāriputta) cũng chứng quả A La Hán sau hai tuần lễ kể từ khi gia nhập Tăng đoàn. Vào ngày ấy, đức Phật công bố đây là hai vị Trưởng Tử của Ngài (Agga-Sāvaka).

Từ đó, hai vị đệ tử này mới tường thuật lại với đức Phật về cuộc đi xem lễ hội của mình (Giragga festival), gặp Đại đức Thera Assaji và đắc Tu-đà-hoàn Quả. Họ cũng thưa với đức Thế Tôn về vị thầy cũ Sanjaya, người mà đã từ chối không đi với họ đến gặp đức Thế Tôn. Thầy Sanjaya còn nói rằng, “Tôi đã trở thành một vị thầy của bao nhiều người học trò rồi, nếu tôi làm học trò của đức Phật thì chẳng khác gì cái bình trà bỏ vào trong cái tách trà. Mặc khác, chỉ có rất ít người trí và phần đông là kẻ ngu dốt; để cho những người trí đến nương tựa ông Cồ Đàm (Gotama,) còn những kẻ ngu vẫn thường đến với tôi. Hỡi những người học trò yêu quý của tôi, xin bạn cứ đi con đường của bạn đã chọn nhé”.

Vì vậy, đức Phật chỉ ra sự ngã mạn sai lầm của Sanjaya đã ngăn trở để rồi không cho ông ta thấy chân lý là chân lý; không chân lý lại là chân lý và sẽ không bao giờ đạt được chân lý.

Sau đó đức Phật dạy hai câu Pháp Cú (11) và (12) như sau:

Câu 11:Không phải chân lý họ cho là chân lý; Chân lý họ cho là không chân lý; những người như vậy không bao giờ đạt được chân lý, như thế họ nắm giữ tà kiến.

Câu 12: Chân lý họ cho là chân lý; Không chân lý họ cho là không chân lý; những người như vậy đạt được chân lý, như thế họ nắm giữ chánh kiến.

Dịch thơ:

Không chân lại tưởng là chân
Thế nhưng chân thật lại lầm dối gian
Như vậy khó đạt pháp vàng
Cũng do tà kiến lầm quàng mà thôi.

Chân thật biết chúng thật chân
Giả chân tường tận rành phân chúng liền
Đạt được chân thật thiêng liêng
Nhờ có chánh kiến tư riêng rõ ràng.
KNQ1,C.11-12,Phẩm SY, T.21-22, Tg: GHSN

 Không chân tưởng chân thật
Chân thật tưởng không thật
Chúng không
đạt chân thật
T
à kiến tư duy trật.

Chân thật biết chân thật
Không chân rõ minh phân
Chúng
đạt được thật chân
Chánh kiến tư duy thật. KNQ2, Ctg

Sau khi chấm dứt bài pháp, có rất nhiều người đã chứng đắc Tu-đà-hoàn Quả (Sotāpatti Fruition).

Bình phẩm:

Trong cuộc đời con người thường hay mắc phải lỗi lầm lớn lao nhất đó là “ngã mạn”. Chính sự ngã mạn này đã đưa đẩy biết bao nhiêu người vào hố sâu vực thẳm, bãi bể nương dâu, trầm luân sinh tử mãi hoài trong ngục tù của Tam giới. Than ôi! Đáng thương thay cho những ai đang mắc căn bệnh trầm kha này. Đức Phật dạy và chỉ cho chúng sanh nẻo chánh đường tà rất là rõ ràng, thế nhưng chúng sanh âu cũng chỉ vì cái tôi, cái ngã mạn thâm căn cố đế để rồi chôn vùi một kiếp nhân sinh vàng son hiếm hoi này. Chính cái tôi, cái ngã mạn đã đưa đẩy chúng sanh chấp thủ, bám víu và cho rằng ta hay thầy của ta là số một (number one) trong trần thế, thầy của mình là trưởng lão cao niên, thầy của tôi làm thầy của tất cả mọi người, thầy của tôi là ăn trên ngồi trước… Nhân đây, khiến tôi nhớ lại câu chuyện vào thời một trong những đức Phật quá khứ, có một vị sư tên là Potthila Thera học thông Tam Tạng (Tipiṭaka), dạy rất nhiều học tăng, chính vì lý do ấy khiến vị sư này rất ngã mạn, và do tâm trạng ấy cản trở vị này không chứng đắc được đạo quả nào cả. Ngày nọ, Potthila Thera vô tình gặp đức Phật, Ngài khiển trách Potthila Thera là ‘cái thùng bễ’, có nghĩa rằng có học nhưng không có hành. Từ câu nói tỉnh thức ấy, Potthila Thera đã hiểu được ý thâm sâu và từ bi cao cả của Ngài, cho dù do ngu si và ngã mạn cũng có giận hờn Ngài một chút nhưng bên trong thâm tâm âm thầm thán phục, chính do sự bực mình này đã khiến Potthila Thera đi đến một tu viện nhỏ trong rừng sâu cách đó một trăm hai mươi dặm (480 km) nơi mà có ba mươi vị tu sĩ đang sống với mục đích cầu thầy học đạo. Đến đây, Potthila Thera rất nóng lòng để gặp bậc thầy cao quý. Tuy nhiên, giới thiệu vị nào Potthila Thera cũng xem thường và nghĩ rằng họ là không tương xứng với vốn kiến thức mình sẵn có ngập đầu, cuối cùng Potthila Thera bị ép buộc để gặp vị sa di chỉ mới có bảy tuổi mà  thôi (the seven year old novice only), người mà đang ngồi khâu vá y phục. Với sự ngã mạn đã chìm sâu và lắng dịu, Potthila Thera nhờ chú sa di ấy chỉ cho mình một lời khuyên trên con đường trau dồi tâm linh. Để kiểm chứng tâm của Potthila Thera, chú sa di mới vẽ Potthila Thera mặc y phục như vậy và nhảy vào trong một cái hồ. Potthila Thera đã làm như ý của chú sa di hướng dẫn, chú sa di rất hài lòng với sự thành thật ấy rồi dạy Potthila Thera như sau, trong trường hợp có một con thằn lằn chui vào trong một gò kiến có sáu cái lỗ, có một người nào đó muốn bắt con thằn lằn kia thì phải đóng bớt lại năm cái lỗ mới bắt nó được như ý của mình mong muốn. Tương tự như vậy, con người thì có sáu giác quan hay sáu căn môn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý) phải đóng lại bớt năm giác quan và tập trung vào ý môn mà thôi. Sau khi bài pháp vừa chấm dứt, đức Phật xuất hiện ngay trước mặt Potthila Thera với vầng hào quang tỏa sáng rực rỡ,  Potthila Thera đã chứng thánh quả A La Hán. Thực vậy, tâm ngã mạn nguy hiểm vô cùng! Nếu thầy Sanjaya nghe lời của hai người học trò thì làm gì còn trầm luân sinh tử trong những ngày đức Phật đang xuất hiện trên dương thế…

Bài học:

Qua câu chuyện trên, chính bản thân nó đã gửi gắm đến chư độc giả một bài học vô cùng sâu sắc và thâm thúy. Phải có cái nhìn hiện thực, phải biết lắng nghe, phải biết trân trọng và nâng niu chân lý, phải biết chớp lấy cơ hội vàng son của kiếp nhân sinh, phải biết mở tung trái tim ích kỷ, nhỏ nhen và thấp kém của mình để hầu sớm hội nhập vào cánh cửa Bất Tử (Deathlessness) của đức Phật đã để lại hơn hai nghìn năm trăm năm về trước. Đức Phật đã dạy có bốn điều mà chúng ta không nên xem thường, đó là: “một chú hoàng tử nhỏ, một đóm lửa nhỏ, một con rắn độc nhỏ, và một chú tiểu nhỏ”.

Chú hoàng tử nhỏ hôm nay

Ngày mai bá chủ tuyệt thay cung vàng

Đóm lửa nho nhỏ hiện đang

Gặp cơn bão tố cháy lan khu rừng

Con rắn độc nhỏ tưng tưng

Giết ta chết lịm khi lưng quay về

Chú tiểu nho nhỏ đồng quê

Bậc thánh rạng rỡ bốn bề tương lai.

 

 

 

Tải Xuống

Thương Thầy Nhưng Đành Bó Tay

 

Chuyển ngữ & Lời bình: ĐĐ. TS. Giác Hạnh

USA, Ngày 09/07/2013

Tác giả bài viết: ĐĐ. TS. Giác Hạnh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

top

Những tin cũ hơn

top