07. Câu Chuyện Tấm Y Vàng

Thứ tư - 04/09/2013 16:25
07. Câu Chuyện Tấm Y Vàng

07. Câu Chuyện Tấm Y Vàng

Câu Chuyện Tấm Y Vàng.

 

Trong khi trú tại Kỳ Viên Tịnh Xá (Jetavana) trong kinh thành Xá Vệ (Sāvatthi), đức Phật giảng dạy câu số  (9) và (10) trong cuốn kinh Pháp Cú này liên quan đến Đề-bà-đạt-đa (Devadatta).

Một thuở nọ, hai vị trưởng tử của đức Thế Tôn là đại đức Xá Lợi Phất (Sāriputta) và Mục Kiền Liên (Moggallāna) từ thành phố Xá Vệ (Sāvatthi) đến kinh thành Vương Xá (Rājagaha). Ở đó, dân chúng trong kinh thành Vương Xá đã mời hai vị đại đức này và một ngàn người đệ tử của họ đến để dâng cúng thức ăn sáng. Nhân cơ hội này, có một người nào đó đã mang đến một tấm vải giá trị một trăm ngàn đồng để hùn phước với những người tổ chức trong buổi dâng cúng thức ăn sáng. Thế rồi, Đề Bà Đạt Đa (Devadatta) ra lệnh và sắp đặt tấm vải ấy sẽ cho buổi trai Tăng nếu mà ngân quỹ có bị thâm hụt, còn nếu không bị thâm hụt kinh phí thì tấm vải ấy sẽ cúng dường đến một vị tỳ kheo (bhikkhu) nào mà họ muốn và cảm thấy hợp lẽ đạo. Thế rồi kinh phí trong buổi lễ ấy không bị thâm hụt và tấm vải ấy sẽ được cúng dường đến một vị trưởng lão nào trong hội chúng Tăng già (saṅgha). Thực ra, hai vị trưởng tử của Như Lai thỉnh thoảng đến viếng thăm kinh thành Xá Vệ, vì vậy tấm vải ấy được cúng dường đến Đề Bà Đạt Đa (Devadatta), người mà thường trú tại kinh thành Vương Xá (Rājagaha).

Thế rồi, Devadatta nhờ người may thành một tấm y ngay tức khắc, sau đó choàng vào và đi lui đi tới một cách vô cùng vênh vang, tự cao, tự đại v.vv.. Rồi thì, có một vị tỳ kheo từ kinh thành Vương Xá đến thành phố Xá Vệ để đảnh lễ đức Thế Tôn và thưa với Ngài về tấm y và thái độ của Devadatta, cũng như đã dùng tấm y xứng đáng một ngàn đồng. Nhân đó, đức Phật dạy rằng đây không phải là lần đầu tiên Devadatta đã mang tấm y vô cùng giá trị mà đúng ra đạo hạnh của ông ta không xứng đáng để thọ nhận. Sau đó đức Phật mới kể lại một câu chuyện liên quan đến Devadatta trong tiền kiếp.

 Có một kiếp trong những kiếp trước, Devadatta vốn là một người thợ săn voi. Vào thời gian ấy, trong một khu rừng nào đó, có rất nhiều chú voi đang sinh sống trong khu rừng. Ngày kia, ông thợ săn này đã nhìn thấy và nhận biết rằng những chú voi này luôn luôn đảnh lễ những đức Phật Độc Giác (Paccekabuddhas). Sau khi quan sát xong, ông ta mới ăn trộm tấm y ngoại (y vai trái) để rồi che phủ đôi tay và thân thể của mình. Thế rồi, cầm một cái mác (spear) trong tay và ngồi chờ cho đến khi đàn voi kia trên tuyến đường thường ngày đi về. Cũng như bao lần trước, những chú voi đến ngay chỗ ông thợ săn đang ngồi và cứ nghĩ rằng đó là đức Phật Độc Giác (Paccekabuddha) rồi chúng qùy mọp xuống và đảnh lễ Ngài. Than ôi, những chú voi ấy đã trở thành những con mồi (preys) cho ông ta. Như vậy, ông ta lần lượt giết từ con đầu đàn cho đến con cuối đàn mỗi ngày trong nhiều ngày lập đi lập lại như vậy.

 Khi ấy, có một vị Bồ-tát - Bodhisattva (đức Phật trong tương lai) là làm chú voi đầu đàn hay voi chúa. Nhận biết rằng những chú voi trong nhóm của mình sao càng ngày càng ít lại, chú voi chúa này mới quyết định điều tra và nghiên cứu xem sự việc ra sao, ngày nọ chú voi chúa này mới cho những bằng hữu mình đi trước và chú từ từ nhẹ nhàng đi sau để mà quan sát. Chú voi này rất tỉnh, vì vậy chú mới thoát chết khỏi cây mác của ông thợ săn kia. Tuy nhiên, với sự giận dữ, chú voi chúa dùng cái vòi và ghì chặc ông thợ săn, sau đó quăng lên dập xuống trên nền đất, bất chợt chú voi thấy tấm y vàng trên thân ông ta, đã ngừng lại và tha thứ cho ông thợ săn.

Ông thợ săn kia đã bị khiển trách bởi vì lợi dụng tấm y vàng để sát hại sinh vật và được khuyên nên chuyển đổi hành động đồi bại ấy. Là ông thợ săn thì không xứng đáng để mang chiếc y vàng trên thân mình.

Sau đó đức Phật dạy hai câu Pháp Cú (9) và (10) như sau:

Số 09: Người mà chưa thoát khỏi những phiền não (kilesas) và còn mặc y vàng, người mà thiếu sự kiềm chế những giác quan và nói lời không chân thật, như vậy không xứng đáng để mang chiếc y vàng.

Số 10: Người mà gạt bỏ những phiền não (kilesas), thiết lập giới hạnh, biết kiềm chế các giác quan và nói những lời chân thật, người ấy thực sự xứng đáng để mang chiếc y vàng.

Dịch thơ:

Những ai mặt áo cà sa

Nhưng mà tâm chứa cả phà uế nhơ

Láo lường không chế lãng lơ

Làm sao xứng đáng dương cờ cà sa.

 

Những ai xa lánh uế nhơ

Hành trì giới luật chẳng mờ một li

Chân thật tự chế tinh vi

Như vậy xứng đáng mang y vàng này.KNQ1,C.9-10,Phẩm SY, T.20-21, Tg: GHSN

 

Ai mặc áo cà sa
Tâm uế nhơ cả phà
Không chế, không thật thà
Sao xứng áo cà sa.

Ai rời uế,não ly
Giới luật khéo nghiêm trì
Tự chế, sống thực thi
Cà sa xứng mang đi.Ctg

Sau khi chấm dứt bài pháp, có rất nhiều vị tỳ kheo chứng đắc Tu-đà-hoàn Quả  (Sotapatti Fruition).

Ghi chú:Đức Phật Độc Giác (Paccekabuddha) là một vị giống như đức Phật, tự mình chứng ngộ Tứ Diệu Đế (Four Noble Truths) và đoạn tận tất cả những lậu hoặc (kilesas). Tuy nhiên, Ngài không thể dạy Giáo pháp cho những người khác. Đức Phật Độc Giác chỉ xuất hiện trong khi trần gian vắng bóng Giáo lý của đức Thế Tôn (Buddha Sāsana).

Bình phẩm:

Tiền khiên tật là một căn bệnh thuộc về thói quen, nó luôn luôn canh cánh trong mỗi một chúng sanh, đặc biệt là loài người. Ngay cả những bậc thánh nhân cũng vậy. Có một lần ngài Xá Lợi Phất (Sāriputta), một vị thánh A La Hán (Arahanta) vào thời đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế và ngài Xá Lợi Phất cũng một trong những trưởng tử của Ngài, thế nhưng, trong khi đi trên một tuyến đường cùng với những bạn đồng tu, có một vũng nước mưa trên đường, ngài không từ từ và nhẹ nhàng bước đi, ngược lại ngài nhảy qua vũng nước mưa ấy, đó là một trong những tiền khiên tật mà ngay cả ngài Xá-lợi-phất là vị thánh tăng mà không thể nào tránh khỏi. Tương tợ như thế, qua câu chuyện đức Như Lai kể lại cho một đại đức nghe về tiền thân của Đề Bà Đạt Đa (Devadatta), chúng ta thấy không những hiện kiếp Đề Bà Đạt Đa nhận tấm vải vàng kia để rồi may y và mang đi lui đi tới một cách vênh vang trong hội chúng cho dù đức hạnh của mình không xứng đáng để thọ nhận và đắp lấy mà còn trong kiếp quá khứ khi đang làm một thợ săn ông ta đã bạo gan ăn trộm một chiếc y ngoại và mang vào để trá hình trục lợi cho chính mình. Than ôi! Cuộc đời sao mà đen tối quá!!! Âu cũng là do anh chàng vô minh sai sử, xui khiến, ngự trị v.vv.. mỗi khi anh chàng vô minh hay là si mê không hơn không kém đã nhúng tay vào thì chính hành giả ấy không còn sáng suốt, minh bạch, rõ ràng và lý trí…

Cây Si đen tối trong đời

Khiến tha hành động khổ người khổ ta

Cây Si phủ bám tâm mà

Khiến người suy nghĩ quá xa đạo mầu

Cây Si gốc cội rất sâu

Mê mờ phàm tục nói câu chẳng lành

Cây Si dối trá gian manh

Khiến người hành động chẳng thanh chút nào

Cây Si bám rễ lớp hào

Khiến ta quậy phá phá rào bạn thân

Cây Si bản tính đen ngầm

Khiến người tu đạo không phân chánh tà

Cây Si quá đậm sâu già

Khiến người thất niệm ác đà chảy xuôi

Cây Si ghê lắm người ơi

Làm mất nhân phẩm của đời nó vây

Cây Si cành lá không mày

Khiến người đang tỉnh chuyển ngay điên cuồng

Cây Si thân nhánh chẳng suông

Khiến ta mất bạn mất luôn thân bằng

Làm người con Phật nên chăm

Chánh niệm tỉnh thức thắng thần si mê. GHSN

 

Bài học:

Qua câu chuyện trên, chính bản thân nó đã âm thầm lặng lẽ giúp cho đàn hậu thế có một cái nhìn sáng suốt, biết tôn trọng sự thật, biết trân quý, nâng niu, đánh giá cao, và cung kính đối với những ai đáng cung kính, như trong Kinh Hạnh Phúc đức Phật dạy: “Đức cung kính khiêm nhường, là phúc lành cao thương”. Bên cạnh đó, nó còn cho độc giả một bài học nhân quả trong hiện tại, giết quá voi con và cuối cùng lại bị voi chúa dùng cái vòi của mình xiết lấy lại tấm thân và quăng lên rồi dập xuống trên mặt bằng không biết bao nhiêu lần…

Việc ác cỏn con không làm

Thiện hạnh trau chuốt ngày càng sum xuê

Tâm ý thanh tịnh hướng về

Huấn từ chư Phật không hề đổi thay. KNQ1, Ph Phật Đà, C183, Tr138,Tg:GHSN.

Chuyển ngữ & Lời bình: ĐĐ. TS. Giác Hạnh

USA, Ngày 08/30/2013

Tác giả bài viết: ĐĐ. TS. Giác Hạnh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

top

Những tin cũ hơn

top